Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

juillet 4, 2008

Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ VNCH

Classé dans : Chính trị, xã hội, Công giáo, Quan điểm — tudo @ 7:15

Bùi Lộc

Khi đọc bức thư mới đây của Đức Hồng Y Phạm minh Mẫn phê phán về lá cờ “Vàng Ba Sọc Đỏ” sẽ làm tắc nghẽn hiệp thông trong giới trẻ Việt nam tại Đại hội Giới trẻ thế giới được tổ chức năm nay tại Úc châu làm tôi liên tưởng đến Đức Hồng Y Giáo chủ Balan Glemp vào những năm đầu thập niên 90 khi Ban lan trong tình trạng thiết quân luật do đảng cộng sản Ba lan ban hành.

Năm 1981, khi lệnh thiêt quân luật được ban hành, Công đoàn Đoàn kết bị kiểm soát nghiêm nhặt khiến nhiều hoạt động của công đoàn bị giới hạn, nhiều người bị bắt, thì sự xuất hiện của Linh mục Jerzy Popieluszko như một vị cứu tinh đã mang lại một luồng sinh khi mới cho công đoàn, một hy vọng và chỗ dựa tinh thần cho những gia đình có thân nhàn đang bị giam giữ. Cha là một mối nguy, một đe doạ cho chế độ, một cái gai nên bằng bất cứ giá nào đảng và nhà nuớc cộng sản Ba lan cần phải nhổ cho bằng được.

Họ đã tìm cách thủ tiêu Cha, có lần nhờ bị bệnh không đi dâng Thánh lễ được mà Cha đã thoát chết vì trái bom đã phát nổ trên đường đến thánh đường.. Tất cả các ngả đường Cha đi, tất cả những nơi Cha đến đều có công an theo dõi.

Thấy tính mạng của Cha luôn bị đe doạ, rất nhiều công nhân của Công đoàn đã tình nguyện bám sát bên Cha để tìm cách bảo vệ ngài.

Cộng sản Ba lan đã liên lạc với vị Giáo chủ Giáo hội Công giáo Ba lan, Đức Hồng Y Glemp và họ đã trao cho Ngài một danh sách gồm 69 giáo sĩ có liên quan tới hoạt động dân chủ và nhân quyền, chống phá xã hội chủ nghĩa. Vị Hồng Y này quan niệm cần phải giữ đối thoại với chính quyền nên có nhiều giáo sĩ đã phải thuyên chuyển tới những nơi xa xôi hẻo lánh để cô lập các ngài. Riêng phần Cha Jerzy có tên trong danh sách chuẩn bị thuyên chuyên.

Giữa lúc tuyệt vọng thì hai văn thư do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từ Vatican gửi tời:

1/ Cho Cha Jerzy Đức Giáo Hoàng viết: “Cha Jerzy, tâm hồn ta luôn ở bên Cha.” Và Ngài tặng cha một chuỗi tràng hạt.
2/ Thư khác gửi Đức Hồng Y Giáo chủ Glemp Ngài viết: “Hãy bảo vệ Cha Jerzy Popieluszko. Nếu không, có ngày họ sẽ tìm thấy vũ khí ngay tại bàn giấy mỗi giám mũc Balan.” (1)

Là một người sinh ra và trưởng thành trong đau khổ do sự cai trị nghiệt ngã của Đức quốc xã, tiếp theo là chế độ cộng sản vô thần, Đức Giáo Hoàng đầy đủ kinh nghiệm về sự vô luân, những mánh khoé tàn độc của cả hai chế độ đó. Ngài hiểu rõ những đau khổ cùng khốn của con chiên nói riêng và của toàn dân tộc Balan của ngài và Ngài muốn chia sẻ với họ.

Nên khi hay biết những toan tính của cs Balan với sự chấp thuận của Hồng Y Giáo chủ Glemp nhằm cô lập những linh mục cùng những công nhân tranh đấu cho tự do dân chủ là Ngài có phản ứng tức thời để kịp cứu vãn Cha Jerzy cũng là cứu vãn Công đoàn Đoàn Kết. Sau cùng họ cũng giết được Cha Jerzy, nhưng những thủ đoạn bẩn thỉu trong vụ giết Cha đã được công khai hoá do người tài xế can đảm và cũng là người bảo vệ Cha trốn thoát được. Công an đã đánh nát thân xác Cha, bỏ vào bao, cột đá vào và liệng xuống nước.

Khi về thăm quê hương lần thứ hai, Đức Thánh Cha đã đến viếng và quỳ gối trước ngôi mộ của Cha Jerzy để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng Ngài luôn đứng về phía những người tranh đầu cho tự do và nhân quyền. Sau cùng Balan đã được giải phóng khỏi ách cộng sản. Ngài cũng hiểu rất rõ những nỗi bất hạnh của dân tộc Việt nam. Việt nam lúc nào cũng trong trài tim Ngài. Vì thế chính quyền cs đã từ khước lời yêu cầu của Ngái muốn sang viếng thăm Việt nam nhân dịp lễ kỷ niện 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lavang.

Chúng ta không có được cái may mắn như Balan. Việt nam không thiếu những người ưu tú, can đảm và giám hy sinh. Trường hợp Cha Lý tha thiết với tự do và quyền sống của con người. Ngài đã dấn thân tranh đấu và đã bị cs bắt, bị giam cầm, bị bịt miẽng trước toà, Đức Hồng Y Giáo chủ Phạm minh Mẫn không có một phản ứng nào, đến khi được hỏi ngài mới nói không biết đến “những nghịch lý đang xầy ra tại đó. Ngài lấy lý do không được giây vào chính trị.

Nhưng qua bức thư phê phán lá quốc kỳ VNCH nền vàng với ba sọc đỏ vừa qua, ngài không thể chối cãi được là mính đã lún quá sâu vào chính trị.. Nhưng không phải là một hành động chính trị bênh vực những người cùng khốn, những người thường xuyên bị đè nén và bóc lột, nhưng lại tiếp tay với cường quyền. Ngài không đi theo con đường của Cố Hồng Y Trinh Văn Căn, Cố Hồng Y Trịnh Như Khuê, Cố Giám Mục Nguyễn Văn Trụ, hay ngay sau 1975, là Cố Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Các ngài luôn trung thành với sứ vụ Fatima. Những ai thích mặc áo thụng, thích đứng ngoài các ngã đường chờ người ta chào kính không phải là môn đệ của Chúa Kitô, nhưng phải biết đáp lại nguyện vọng bức thiết của đàn chiên mình dầu phải hy sinh.

Sau khi bức thư phản đối lá cờ vàng ba sọc đỏ của ngài được phổ biến thì csvn là kẻ thủ lợi nhất. Những gì mà họ đã phải mất bao công sức tiền bạc và thời gian mà họ vẫn khồng có được thì ngày nay ngài đã giúp họ có được tất cả: Đó là một Giáo hội Vietnam rách nát.

Ngài tiếp tay chế độ cố tình chà đạp lên nguyện vọng chính đáng của toàn dân Việtnam, chỉ trừ những kẻ có đặc quyền đặc lợi do chế độ mà thôi.

Đối với cs như lời Cựu Tổng thống Yersin nói chỉ có đạp nó xuống chứ không có thoả hiệp. Và là Hồng Y, chắc hẳn ngài còn nhớ rõ Cách mạng vô sản xẩy ra vào tháng 10 năm 1917 tại Nga, thì cùng năm Đức Mẹ đã hiện ra tại Fatima tuyên bố “Chế độ cs sẽ phải sụp đổ, nhưng trước khi sụp đổ nó gây ra cho nhiều nguời và nhiều quốc gia phải huỷ diệt”.

Tin vào lời tuyên bố này của Đức Mẹ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolò II đã tìm đủ cách, không bỏ lỡ một cơ hội để trước nhất để cứu Balan, quê hương của ngài khỏi ách thống trị của cs. Thấy ngài là một mối nguy cho chủ nghĩa cs, Điện Cẩm lình đã phối trí tìm cách giết Ngài và tên Mlmet Ali đã được họ thuê mướn để ám sát Ngài. Tên này đã bắn Ngài trọng thương tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 13.05.1981. Ngài đã phó dâng mạng sống mình trong tay Mẹ Maria. Ngay sau khi bình phục, Ngài đã sang viếng Đức Mẹ Fatima, và đã dâng lên Mẹ viên đạn mà kẻ sát nhân bắn vào Ngài.

Lời tiên tri của Đức Mẹ tại Fatima đã ứng nghiệm, ngày hôm nay chỉ còn bốn nước cs là Trung cộng, Bắc hàn, Cuba và Việtnam, nhưng cs bây giờ cũng nửa nạc nửa mỡ: Chính trị vẫn tàn bạo, vẫn cai trị bằng nhà tù, lưỡi lê và súng đạn, người dân vẫn bị kìm kẹp bịt mồm bịt miệng; nhưng kinh tế lại phải nhờ tới tư bản vực dậy. Mọi người đều biết sớm muộn gì rồi chế độ cs cũng sẽ bị hoàn toàn đào thải và mọi người sau cùng sẽ được giải phóng.

Nhưng bất hạnh thay! Dân tộc VN chúng ta, ngày đó không đến sớm như sự mong đợi của mọi người, vì một nhóm người vì đặc quyền, đặc lợi tiếp tay cho chế độ tàn nhẫn này kéo dài thêm sự đau khổ của người dân. Đau khổ nhất là trong những kẻ cộng tác với chế độ độc ác này lại có những giáo sĩ với quyền cao chức trọng mà lời nói của họ lại có những ảnh hướng lớn lao. Những người này lẽ ra phải suy gẫm những lời tuyên bố của Đức Mẹ tai Fatima để cứu vớt dân tộc lầm than của mình ra khỏi nanh vuốt của cs thì lại đi cộng tác với kẻ thống trị để kéo dài sự đau khổ của mọi người.

Sau này khi xem lại lịch sử đấu tranh của dân tộc, người ta sẽ mang ngài ra để so sánh với từng nhân vật lịch sử cùng thời. Trong số không biết bao nhiêu nhân vật lịch sử trong giai đoạn này chắc hẳn người ta sẽ mang ngài ra so sánh với Linh mục Nguyễn văn Lý, và họ sẽ có ngay những nhận xét và kết luận không mấy khó khăn. Rồi người ta cũng không quên so sánh ngài với người nữ Luật sư bé nhỏ Lê Thị Công Nhân đầy can đảm và sáng suốt, và họ cũng sẽ có những nhận xét và đánh giá như thế nào chắc hẳn ngài biết rất rõ câu trả lời. Càng có địa vị cao, càng phải sống theo lời cổ nhân nói: “Cọp chết để da, người chết để tiếng.”

Hẳn mọi người chúng ta vẫn còn nghe những lời kinh vang vọng khi quỳ dưới chân Mẹ Hiền Maria, thì thầm trên những bước đường chạy loạn hay tỵ nạn: “Gia đình chúng con quyết không theo thuyết cộng sản vô thần” và chúng ta vẫn luôn tin tưởng: “Sau Cùng Trái Tim Mẹ Sẽ Thắng.”

Bùi Lộc
CƯỚC CHÚ:
(1) “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhàn Thời Đại” do Trần Phong Vũ, trang 441

7-2-2008 Do Phu - Tuong Thang - Dung Xa Mau - Sbtn

Classé dans : Chính trị, xã hội, Quốc tế, Việt Nam, a1 Video — tudo @ 6:58

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 3.7.2008

 

Trước nỗi âu lo chăm sóc và cầu an của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và chư Tôn giáo phẩm cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang tai qua nạn khỏi, thì Nhà cầm quyền Hà Nội lên kế hoạch bất nhân làm tang lễ - Ông Võ Văn Ái phản đối sự xâm lược chính trị vào nội bộ GHPGVNTN

PARIS, ngày 3.7.2008 (PTTPGQT) - Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Cơ quan Phát ngôn và Thông tin của Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) cực kỳ sửng sốt trước bản tin Thông tấn xã Việt Nam loan tải hôm nay, 3.7, và được báo chí nhà nước đăng tải (như Thanh Niên, Hà Nội Mới, v.v…) muốn giành quyền cho Nhà nước tổ chức tang lễ Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, 89 tuổi, ngay lúc Ngài còn sống tuy lâm trọng bệnh nằm tại Bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn từ hôm 27.7.

Bản tin mang tựa đề « Vạch trần ý đồ đen tối của Quảng Độ » nhằm vu cáo trắng trợn Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tăng từ các tỉnh Thừa thiên – Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Quảng Trị… đã tới Bình Định «“thăm” ông Huyền Quang » với « mưu tính lợi dụng (sic) việc tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang (…) để công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” ».

Trước sự âu lo chăm sóc ngày đêm và tụng niệm cầu an của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tôn đức thuộc hai Viện Tăng thống và Viện Hoá Đạo có mặt tại Tu viện Nguyên Thiều từ hôm 28.7 cho đến nay, thì Thông tấn xã Việt Nam vu khoát như trên. Nhưng lại đề cao những giọt nước mắt cá sấu, đó là « các cấp chính quyền và ban, ngành, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) đã có nhiều việc làm thể hiện sự quan tâm, ưu ái với một Cao tăng Phật giáo mà không có sự phân biệt đối xử ». Mục tiêu của những âm mưu và hậu ý này hiện rõ qua dòng viết của bản tin :

« Tuy HT Huyền Quang không phải là thành viên của GHPGVN (Giáo hội Nhà nước), nhưng với tình đồng đạo đối với một vị Cao tăng, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định đã quan tâm, chủ động bàn bạc với Thượng tọa Thích Minh Tuấn và số đệ tử Tu viện Nguyên Thiều để chuẩn bị cho việc tổ chức tang lễ trang trọng theo các nghi thức của Phật giáo trong trường hợp Hòa thượng Huyền Quang viên tịch…; theo đó các chùa trong tỉnh Bình Định cũng sẽ giúp đỡ Tu viện Nguyên Thiều làm lễ cầu an cho HT Huyền Quang ».

Ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo và Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, vừa tuyên bố với các hãng thông tấn và báo chí tại Paris hôm nay về sự bất bình của Phật giáo đồ Việt Nam trước « sự bất nhân trắng trợn » của bản tin Thông tấn xã Việt Nam mà qua đó « mánh khoé chính trị vô nhân của nhà cầm quyền Hà Nội phơi lộ ».

« Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng phái đoàn Viện Hoá Đạo đã tức khắc lên đường ra Bình Định khi hay tin Đức Tăng thống Thích Huyền Quang nhập viện để âu lo chăm sóc, cầu an cho Đức Tăng thống tai qua nạn khỏi. Trái lại nhà cầm quyền Hà Nội đã xem như Ngài viên tịch, chỉ lo giành giật cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tổ chức tang lễ nhằm phục vụ chính trị cho Đảng. Một tính toán bất nhân như thế làm cho khách bàng quan kinh hoảng, đặt biệt đối với một Nhà nước vừa đánh trống rùm beng tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ xưng tụng hoà bình và từ bi. Chứng cớ càng rõ về cuộc đàn áp Phật giáo vẫn tiếp diễn như mọi khi »

Ông Ái cũng tố cáo rằng « Đây là sự xâm lược chính trị vào nội bộ sinh hoạt của GHPGVNTN. Hiến pháp bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Thế thì các nhà lãnh đạo Cộng sản không quyền gì xâm phạm vào nội bộ của GHPGVNTN, cũng như không quyền gì áp đặt các tiêu chuẩn chính trị cho tôn giáo. Trong trường hợp Đức Tăng thống Thích Huyền Quang có mệnh hệ gì, thì việc hậu sự là chuyện của GHPGVNTN theo đúng nghi lễ truyền thống Phật giáo ».

Hiện nay nhà cầm quyền Bình Định đã truyền lệnh chùa nào ở chùa đó, không được tụ tập về Tu viện Nguyên Thiều, là trú xứ của Đức Tăng thống, nhằm ngăn chặn mọi sự biểu lộ tôn kính và nguyện cầu với bậc Cao tăng. Nhất thời chưa biết sao, nhưng công luận của bia miệng lịch sử sẽ ghi nhớ nghìn đời công đức đại hùng, đại lực, đại từ bi của Đức đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang, mà chắc chắn Môn đồ hiếu quyến của Ngài đang gìn giữ, bảo vệ trước mọi âm mưu hay khủng bố.

Ông Võ Văn Ái bác bỏ sự vu cáo của bản tin nói rằng Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ « mưu tính lợi dụng tang lễ để công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ». Bởi vì GHPGVNTN truyền thừa lịch sử hai nghìn năm tại Việt Nam « Phật giáo thống nhất thành giáo hội từ thời Đinh (năm 986 Tây lịch). Thời cận đại thì trước khi đất nước bị Hiệp định Genève chia cắt, đại hội thống nhất Phật giáo ba miền Bắc Nam Trung đã kết hợp tại chùa Từ Đàm, Huế, năm 1951 với sáu tập đoàn Tăng sĩ và Cư sĩ toàn quốc ».

Trên thế giới, GHPGVNTN được cộng đồng quốc tế tán dương và hậu thuẫn, ông Ái nhấn mạnh, điển hình là các Quyết nghị của Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Châu Âu từng lên tiếng yêu sách Hà Nội phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN và trả tự do cho hai ngài Tăng thống Thích Huyền Quang và Viện trưởng Viện Hoá Đạo Thích Quảng Độ. Ông Ái còn cho biết rằng « từ ngày Đức Tăng thống Thích Huyền Quang nhập viện, không những hàng triệu Phật tử trong và ngoài nước cầu an cho Ngài, mà Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế còn nhận được hàng nghìn thư biểu tỏ sự lo lắng, cầu nguyện của các nhân sĩ, trí thức, dân biểu, thượng nghị sĩ các quốc hội trên hoàn vũ, như điện thư của Bà Mairead Maguire, Giải Nobel Hoà bình, là một ».

« Sự can dự chính trị vào sinh hoạt tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội là điều không thề chấp nhận, nhất là đối với một quốc gia vừa vào chức Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo An LHQ » là kết luận lời tuyên bố của ông Võ Văn Ái. Ông cũng cho biết đã viết thư gửi ông Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-Moon, Tổng thống Pháp Sarkozy vừa đảm lãnh chức Chủ tịch luân phiên Quốc hội Châu Âu, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, các vị đại biểu Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Châu Âu yêu cầu gây sức ép lên nhà cầm quyền Hà Nội chấm dứt chính sách đàn áp Phật giáo.

**************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com

Web : http://www.queme.net

*******************************************************************************

Tại sao một số người lại hăng hái trước sức khỏe nguy kịch của hòa thượng Thích Huyền Quang?

01:03:00, 03/07/2008

N.Nguyễn

http://www.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/7/3/248387.tno

Gần đây, trước tình hình sức khỏe ngày càng xấu đi của hòa thượng Thích Huyền Quang, một số nhóm người đã lợi dụng việc này để có ý đồ công khai hợp pháp cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” (GHPGVNTN).

Hòa thượng (HT) Thích Huyền Quang, sinh năm 1919, trú tại Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định). Quá trình chăm sóc phát hiện thấy HT Huyền Quang có dấu hiệu sức khỏe suy giảm và nguy kịch đến tính mạng, nên Thượng tọa Thích Minh Tuấn (Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều) cùng một số vị trong môn đồ, đệ tử của HT Huyền Quang đã đưa ông đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Bình Định ngày 27.5.2008. Sau hơn 1 tháng được các bác sĩ và môn đồ đệ tử tận tình chăm sóc chu đáo, HT Huyền Quang đã qua cơn nguy kịch: đã cử động được tay chân, nhận biết được những người đến thăm hỏi.

Do sức khỏe còn yếu và theo nguyện vọng của môn đồ đệ tử, nên HT Huyền Quang được Bệnh viện Đa khoa Bình Định tiếp tục lưu giữ để điều trị tại bệnh viện, chưa thể xuất viện trong tình trạng sức khỏe hiện nay với bất cứ lý do gì.

Ý đồ của ông Quảng Độ và nhóm tay chân trong tổ chức “GHPGVNTN”

Ngay sau khi nghe tin HT Huyền Quang nhập viện buổi sáng, thì buổi chiều cùng ngày, các ông Quảng Độ, Viên Định, Không Tánh (TP.HCM) đã vội vã đáp tàu hỏa ra Bình Định; đồng thời, các ông Thiện Hạnh, Như Đạt, Lê Công Cầu (Thừa Thiên - Huế), Thanh Quang (Quảng Nam), Như Tấn (Lâm Đồng), Từ Giáo (Quảng Trị)… mỗi người từ một nơi khác nhau đi bằng ô tô và ngày 29.5.2008 tất cả họ cùng tới Bình Định, với lý do “thăm” HT Huyền Quang.

Tuy nhiên, họ ra Bình Định không chỉ để thăm HT Huyền Quang mà còn nhằm thực hiện ý đồ lợi dụng việc HT Huyền Quang trong lúc chữa bệnh cũng như nếu viên tịch để công khai hóa tổ chức bất hợp pháp “GHPGVNTN”. Lấy lý do HT Huyền Quang là “Đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN”, nên các ông Quảng Độ, Viên Định đã thúc ép ông Minh Tuấn và số môn đồ, đệ tử phải đưa HT Huyền Quang vào TP.HCM hoặc ra Huế để chữa bệnh, kể cả khi HT  Huyền Quang hấp hối, lấy lý do là điều kiện thuốc men và phương pháp điều trị tốt hơn… nhằm quản lý, khống chế HT Huyền Quang và môn đồ, đệ tử làm theo ý đồ của nhóm Quảng Độ. Nếu HT Huyền Quang viên tịch thì “GHPGVNTN” sẽ giành quyền đứng ra tổ chức tang lễ bất chấp có sự tham gia hay không của môn đồ, đệ tử và tăng, ni, phật tử ở Bình Định; sẽ tiến hành hỏa táng nhục thân của HT Huyền Quang để lấy xá lợi làm kỷ vật cho “GHPGVNTN”.

Ông Quảng Độ và nhóm tay chân ra Bình Định đến nay đã hơn 1 tháng. Dù thời tiết nóng bức nhưng họ vẫn kiên trì bám lại Bình Định, một số thì ở Tu viện Nguyên Thiều, số khác thì ở chùa Thập Tháp với mục đích chỉ để theo dõi diễn biến sức khỏe của HT Huyền Quang, chờ thời cơ HT Huyền Quang viên tịch là thực hiện ý đồ: ông Quảng Độ sẽ tự nhận thay thế vị trí HT Huyền Quang, tuyên bố làm “Đệ ngũ Tăng thống”; ông Viên Định làm “Viện trưởng Viện Hóa đạo”; còn ông Thiện Hạnh giữ vị trí “Chánh Thư ký Viện Tăng thống”.

Nếu HT Huyền Quang chưa viên tịch, sẽ tìm mọi cách cách ly HT Huyền Quang khỏi Bình Định, là nơi mà ông Quảng Độ khó thực hiện ý đồ cá nhân của mình. Hiện nay, việc đưa HT Huyền Quang vào TP.HCM với lý do chữa bệnh không thực hiện được, ông Quảng Độ đang tính cách đưa ra Huế, là nơi có lực lượng “GHPGVNTN” có thể làm chỗ dựa để khi HT Huyền Quang viên tịch sẽ đứng ra tổ chức tang lễ và công khai hóa tổ chức “GHPGVNTN” bất hợp pháp.

Phản ứng của môn đồ, đệ tử HT Huyền Quang và nhóm “GHPGVNTN”

Trước những việc làm trái đạo lý nói trên của ông Quảng Độ và nhóm tay chân, ông Minh Tuấn và số môn đồ, đệ tử của HT Huyền Quang đã phản ứng kiên quyết: từ chối việc đưa HT Huyền Quang vào TP.HCM, với lý do HT Huyền Quang còn rất yếu không thể xuất viện đi vào TP.HCM; nếu đưa đi mà HT có mệnh hệ gì thì họ sẽ bị tiếng xấu với tăng ni, phật tử suốt đời; từ chối việc HT Quảng Độ và nhóm tay chân đứng ra tổ chức tang lễ khi HT Huyền Quang viên tịch, với lý do HT Huyền Quang là cao tăng của Phật giáo Bình Định, là thành viên sáng lập ra Tu viện Nguyên Thiều, vì vậy nếu ngài viên tịch thì môn đồ, đệ tử và ban sáng lập Tu viện Nguyên Thiều, cùng đông đảo tăng, ni, phật tử Phật giáo Bình Định sẽ đủ sức đứng ra lo liệu hậu sự, chứ không phải để các ông Quảng Độ, Viên Định và một số người ở các địa phương phải “vất vả” chạy đến Bình Định để lo tổ chức tang lễ. Nếu ai có thiện chí thì tất cả cùng chung tay, giúp sức lo liệu lễ tang cho HT Huyền Quang, xứng tầm là bậc Trưởng thượng của cao tăng Phật giáo Việt Nam.

Số đệ tử của HT Huyền Quang ở bên ngoài cũng đã cử người về trực tiếp gặp và yêu cầu ông Quảng Độ không can thiệp làm rối thêm tình hình, để cho môn đồ đệ tử cùng tăng, ni, phật tử Phật giáo Bình Định tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang một khi ngài viên tịch.

Ý đồ của nhóm Quảng Độ không những gây bức xúc trong môn đồ, đệ tử của HT Huyền Quang mà còn gây sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ “GHPGVNTN”: nhiều người đã thấy rõ “tim đen” của các ông Quảng Độ, Viên Định muốn thông qua việc HT Huyền Quang ốm yếu, qua đời để đầu cơ, trục lợi, tạo vốn chính trị cá nhân. Riêng ông Quảng Độ, cùng với những hoạt động chống đối khác trước đây, đang thông qua Võ Văn Ái để tiếp tục vận động dư luận bên ngoài ủng hộ trao giải Nobel Hòa bình 2008 cho ông ta.

Nhiều vị cao tăng, huynh trưởng gia đình Phật tử gốc GHPGVNTN đã bộc lộ sự bất bình, cho rằng việc chăm sóc sức khỏe và tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang khi viên tịch nên để cho môn đồ và Phật giáo Bình Định đứng ra lo liệu, sắp xếp. Nếu nhóm Quảng Độ, Viên Định đứng ra tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang thì họ sẽ không đi dự, để tránh bị lôi kéo vào các hoạt động dính líu đến chống đối chính trị do nhóm Quảng Độ khởi xướng.

Chính quyền, Giáo hội Phật giáo VN với HT Huyền Quang

Ngay sau khi nhận được tin HT Huyền Quang phải vào bệnh viện điều trị, các cấp chính quyền và các ban, ngành, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã có nhiều việc làm thể hiện sự quan tâm, ưu ái với một cao tăng Phật giáo mà không có sự phân biệt đối xử: đại diện chính quyền địa phương đã chỉ đạo bệnh viện dành sự ưu tiên phương tiện, thuốc men tốt nhất để điều trị, chăm sóc sức khỏe cho HT Huyền Quang; giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho số môn đồ, đệ tử được túc trực tại bệnh viện để theo dõi, chăm sóc sức khỏe HT  Huyền Quang, đề phòng sơ sẩy. Đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ và GHPGVN, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hòa… đã trực tiếp đến bên giường bệnh thăm, động viên HT Huyền Quang điều trị, sớm lành bệnh.

Tuy HT Huyền Quang không phải là thành viên của GHPGVN, nhưng với tình đồng đạo đối với một vị cao tăng Phật giáo, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định đã quan tâm, chủ động bàn bạc với ông Minh Tuấn và số đệ tử Tu viện Nguyên Thiều để lo đám tang cho HT Huyền Quang trong trường hợp sau này HT viên tịch, thực hiện các lễ nghi Phật giáo một cách trang trọng, xứng đáng với vị thế của HT Huyền Quang… giao trách nhiệm cho các chùa trong tỉnh giúp đỡ Tu viện Nguyên Thiều làm lễ cầu an cho HT Huyền Quang.

N.Nguyễn

Vạch trần âm mưu đen tối của Thích Quảng Độ

03/07/2008 — 7:38 PM

http://www.vnagency.com.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/256861/Default.aspx

Hà Nội (TTXVN) — Một số phần tử quá khích đang âm mưu lợi dụng tình trạng sức khỏe của một hòa thượng tại Bình Định để giành quyền tổ chức lễ tang khi ông viên tịch nhằm công khai hóa tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.” 

Hòa thượng Thích Huyền Quang, 89 tuổi, trú tại Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), do lâm bệnh nặng, đã được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Quy Nhơn từ tháng 5/2008. 

Ngay sau khi nhận được tin Hòa thượng Huyền Quang phải vào nhập viện, đại diện chính quyền địa phương đã chỉ đạo bệnh viện ưu tiên phương tiện và thuốc men tốt nhất để điều trị, chăm sóc sức khỏe cho ông; giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho số môn đồ, đệ tử của hòa thượng được túc trực tại bệnh viện.

Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định đã chủ động bàn bạc với Thượng tọa Thích Minh Tuấn và số đệ tử Tu viện Nguyên Thiều để chuẩn bị cho việc tổ chức tang lễ trang trọng theo các nghi thức của Phật giáo trong trường hợp ông viên tịch. Các chùa trong tỉnh Bình Định cũng sẽ giúp đỡ Tu viện Nguyên Thiều làm lễ cầu an cho Hòa thượng Huyền Quang.

Tuy nhiên, những kẻ đội lốt tu hành lâu nay luôn tìm cách chống phá chế độ, đi ngược lại lợi ích của dân tộc như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh, Viên Định, cùng một số đối tượng khác từ các tỉnh Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Quảng Trị như Thiện Hạnh, Như Đạt, Thanh Quang, đang mưu tính lợi dụng việc tổ chức tang lễ cho Hòa thượng Huyền Quang trong trường hợp ông không qua khỏi.

Viện cớ ông Huyền Quang là “Đệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,” Quảng Độ, Viên Định đã thúc ép ông Minh Tuấn và một số môn đồ, đệ tử đưa ông Huyền Quang vào Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ra Huế để chữa bệnh, kể cả khi ông hấp hối, nhằm quản lý, khống chế ông và môn đồ, đệ tử làm theo ý đồ của nhóm này.

Thích Quảng Độ còn âm mưu thay thế vị trí ông Huyền Quang, tự xưng làm “Đệ ngũ Tăng thống,” đồng thời cho Viên Định thay Quảng Độ làm “Viện trưởng Viện hóa đạo,” còn Thiện Hạnh giữ vị trí “Chánh Thư ký Viện Tăng thống” của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”

Trước việc làm trái đạo lý của Thích Quảng Độ và nhóm tay chân, Thượng tọa Thích Minh Tuấn và số môn đồ, đệ tử của ông Huyền Quang ở Bình Định đã phản ứng kiên quyết, không đồng ý đưa ông Huyền Quang vào Tp. Hồ Chí Minh với lý do HT Huyền Quang còn rất yếu. Họ cũng từ chối việc để Thích Quảng Độ và nhóm tay chân đứng ra tổ chức tang lễ khi ông Huyền Quang viên tịch với lý do Hòa thượng Huyền Quang là một cao tăng, là thành viên sáng lập ra Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định, môn đồ và đệ tử của ông cùng tăng, ni, Phật tử Bình Định có khả năng lo liệu hậu sự.

Ý đồ của nhóm Quảng Độ không những gây bức xúc trong môn đồ, đệ tử của ông Huyền Quang mà trong cả nội bộ của chính cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”

Nhiều vị cao tăng, huynh trưởng gia đình phật tử gốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất xưa kia đã bày tỏ sự bất bình, nói rằng nếu nhóm Quảng Độ, Viên Định đứng ra tổ chức tang lễ cho Hòa thượng Huyền Quang thì họ sẽ không đi dự để tránh bị lôi kéo vào các hoạt động chống đối chính trị do nhóm Quảng Độ chủ xướng.

Thích Quảng Độ, với những “thành tích” trong hoạt động chống đối Nhà nước Việt Nam lâu nay, vẫn mưu mô gây thêm thanh thế để thông qua Võ Văn Ái từ Pháp tiếp tục vận động dư luận bên ngoài ủng hộ hòng được đề cử trao giải Nobel Hòa Bình năm 2008. Bản thân Viên Định chỉ muốn lợi dụng việc ông Huyền Quang ốm yếu, qua đời để đầu cơ, trục lợi, tạo vị thế cho cá nhân mình./

juillet 3, 2008

Chuyển hoá một số quốc gia

Classé dans : Chính trị, xã hội, Quốc tế — tudo @ 2:24

Peter D. Sutherland, Trần Ngọc Cư dịch

Tóm tắt: Tổ chức Thương mại Thế giới đã làm thay đổi thế giới trong thập niên qua bằng cách đón mời sự gia nhập của Trung Quốc và biến đổi vận mạng quốc gia tại Căm-pu-chia và Ả-rập Xê-út. Tổ chức này cung ứng lực xúc tác mà các lãnh đạo chính trị cần đến để cải tổ đất nước.

Peter D. Sutherland là Chủ tịch của tập đoàn dầu khí BP đồng thời cũng là Chủ tịch của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs International. Ông từng là Tổng giám đốc của cơ cấu GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại) từ 1993 đến 1995 và cũng là Giám đốc Sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). [1]
Không một du khách nào đặt chân đến Phnom Penh, Bắc Kinh hay Rihadh vào lúc này mà không cảm nhận sự đổi thay, tinh thần lạc quan và tính năng động mới mẻ trong sinh hoạt kinh tế. Căm-pu-chia, Trung Quốc và Ả-rập Xê-út đang chuyển động và chủ yếu chuyển động theo một hướng tốt đẹp hơn. Tại sao? Vì một lý do là, cả ba quốc gia – cùng với Croatia, Georgia, Đài Loan, Việt Nam và nhiều nước khác - vừa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong vòng mấy năm qua.

Người ta thường dễ quên lãng sức mạnh của WTO trong việc trợ giúp một quốc gia đổi mới. Chuyện thường xảy ra là, nhiều nước đang phát triển đo lường sự thành công của mình ở Vòng đàm phám Doha [2] của WTO bằng mức độ họ có thể tránh né nghĩa vụ mở cửa kinh tế. Do đó, theo cách nói lễ độ ở Geneva, tiềm năng dùng đến biện pháp kỷ luật của WTO để thúc đẩy việc cải tổ thị trường, cải tổ định chế và các cơ quan điều tiết, một cách triệt để, bị coi là một đề tài thiếu nghiêm chỉnh chính trị (politically incorrect). Nhưng chính các nước vừa gia nhập WTO trong thập niên qua mới là những thành viên được hưởng nhiều lợi ích nhất từ việc tuân thủ các luật lệ thương mại toàn cầu. Những thành viên WTO kỳ cựu, vì khỏi cần đàm phán tiến trình gia nhập, nên ít thu hoạch lợi lạc nhất.

WTO đã thay đổi thế giới trong thập niên qua bằng cách đón tiếp sự gia nhập của Trung Quốc. Và nếu tổ chức này có thay đổi vận mạng các quốc gia chăng, chẳng hạn tại Căm-pu-chia và Ả-rập Xê-út, thì âu cũng nhờ vào chính những thủ tục gia nhập tổ chức này. Nếu đem so sánh những điều kiện của khu vực tự do mậu dịch song phương, thì những điều kiện để làm thành viên của WTO có thể ví như một cuộc cách mạng. Tiến trình gia nhập hiên nay đòi hỏi một thời gian lâu dài hơn bao giờ cả. Trung Quốc nộp đơn gia nhập với tiền thân của WTO (tức cơ cấu Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, hay GATT) vào năm 1986 và thực sự gia nhập WTO năm 2001, Căm-pu-chia nộp đơn năm 1994 và gia nhập năm 2003, còn Ả-rập Xê-út thì gia nhập năm 2005 sau 12 năm chuẩn bị và đàm phán.

Tại sao các chính phủ lại chịu tự đặt mình qua những thử thách như thế để vào cho bằng được một tổ chức có thời bị gán nhãn hiệu là “hội nhà giàu”? Câu trả lời có thể chỉ vỏn vẹn là để làm giàu. Nhưng trả lời như thế hoá ra lại quá tầm thường, vì không lí giải được những nỗ lực của Trung Quốc hay Ả-rập Xê-út, là những nơi cơ hội làm giàu tồn tại từ lâu. Thật vậy, lối giải thích hợp lí hơn cả phải là: đến một thời điểm nào đó, các lãnh đạo chính trị nhận thức rằng thay đổi từ cơ bản là điều cần thiết hoặc không thể tránh né được nữa, và họ cũng hiểu được rằng nếu không có hậu thuẫn từ bên ngoài thì không thể thực hiện những cải tổ cơ bản đó. Họ cần một chất xúc tác; và WTO có khả năng cung ứng lực tác động này. Đổi mới có nghĩa là phải đụng chạm đến những quyền lợi do một số người thủ đắc, có nghĩa là phải giảm thiểu vai trò của nhà nước, có nghĩa là phải cải tổ các định chế, và chống tham nhũng. Đổi mới cũng có nghĩa là tác động khu vực tư bằng cách khuyến khích cạnh tranh, giải phóng doanh nhân ra khỏi vòng kềm kẹp của nhà nước, và đảm bảo các dịch vụ vừa kiến hiệu vừa hợp với khả năng chi trả của người tiêu thụ. Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá sâu rộng này, những nền kinh tế nhỏ bé hay còn phải phấn đấu chật vật chỉ có thể vươn lên trong một môi trường có thể sản sinh ra cơ hội làm ăn và hậu thuẫn giới kinh doanh. Trong thực tế, công tác chủ yếu của WTO là hỗ trợ các thành viên cải thiện việc điều hành quốc gia.

Không nơi nào mà sức mạnh chuyển hoá các quốc gia của WTO được biểu hiện rõ nét bằng trong tiến trình gia nhập của một hội viên. Vào những năm đầu của GATT (Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại), cơ cấu này không đòi hỏi gì nhiều ở các thành viên mới gia nhập; và ngay cả những thành viên sáng lập GATT lúc bấy giờ vẫn còn lún lầy trong hàng rào thuế quan cao ngất và hạng ngạch (quotas) khắt khe. Những thành viên này và các nước hội viên công nghiệp khác đã đàm phám để hạ thấp thuế quan, bãi bỏ chế độ đãi ngộ mậu dịch, và kí thêm nhiều hiệp định về những biện pháp ngoài lãnh vực thuế quan. Nhưng hầu hết các nước đang phát triển lúc bấy giờ chỉ việc khoanh tay đứng nhìn. Kể từ thập niên 1960 trở đi, những nước này mới được hưởng quyền “đãi ngộ đặc biệt và chênh lệch” (special and differential treatment). Mãi đến thập niên 1980s nhiều điều khoản khắt khe hơn của GATT mới bắt đầu được áp dụng cho các hội viên mới.

Kể từ khi WTO được thành lập năm 1995, mọi việc hoàn toàn đổi khác. Các điều kiện gia nhập trở nên khắt khe đến nỗi bị phe chỉ trích gọi là các điều khoản bất công. Những cải tổ cần thiết nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của WTO phải sâu rộng đến nỗi một số quốc gia không có khả năng thực hiện - còn đối với hầu hết những quốc gia chịu đổi mới, những cuộc đàm phán trong tiến trình xin gia nhập chí ít cũng kéo dài cả một thập niên. Ngày nay, nhiều nước đang phát triển (developing countries) trong tổ chức WTO đã chấp nhận những cam kết có thực chất và sâu rộng hơn cả một số thành viên sáng lập của tổ chức này, nhất là trong khu vực nông nghiệp. Điều này có vẻ như là các nước này phải trả một giá khá đắt, nhưng có thật đây là một điều xấu không? Phải chăng những thành viên mới gia nhập không hưởng được lợi ích? Phải chăng cứ triền miên tạo ra biệt lệ cho các nước nghèo lại không phản tác dụng hay không có hại? Hàng chục nền kinh tế có mức thu nhập bậc trung (middle-income economies) trong WTO tiếp tục bỏ mất cơ hội vì có não trạng tự cho mình là thành công khi không chịu khoan nhượng bất cứ điều gì thực sự quan trọng trong lãnh vực mậu dịch. Trong khi đó, Căm-pu-chia, Trung Quốc, và Ả-rập Xê-út đã có nhiều thay đổi bất ngờ - chủ yếu theo chiều hướng tốt đẹp hơn – trong bối cảnh các nước này xúc tiến việc xin gia nhập WTO.

Giá trị cơ bản của việc làm thành viên WTO – và của các cuộc đàm phán diễn ra trước đó – chính là cơ hội để các quốc gia ứng viên lập ra một chương trình nghị sự và xác định các ưu tiên. Các bộ trưởng, quan chức chính phủ, và doanh nhân ở những quốc gia này bị buộc phải xét đến vấn đề tuân thủ luật lệ của WTO, mỗi khi họ bị cám dỗ quay về với lề thói cũ. Nói rộng ra, những kềm toả do WTO áp đặt đã thúc đẩy một số nước hội viên cải thiện chính sách điều hành quốc gia. Nhưng trước hết, các luật lệ mậu dịch toàn cầu cung cấp một lá chắn cần thiết cho phe đổi mới. Mặc dù các nhà hoạch định chính sách này có thể lớn tiếng chỉ trích luật lệ mậu dịch toàn cầu khi việc này có lợi cho họ về mặt chính trị đối nội, nhưng chính hệ thống luật lệ toàn cầu này lại cung ứng hậu thuẫn cho họ làm việc ích quốc lợi dân nếu họ có đủ ý chí chính trị để làm việc đó.

Kinh nghiệm của Căm-pu-chia, Trung Quốc, Ả-rập Xê-út chắc chắn cho chúng ta một bài học. Trong mỗi nước đều có các thành phần chỉ trích việc gia nhập WTO, và trong một số phương diện nào đó những người này có thể đúng. Nhưng cả ba nước đều đã thực hiện những đổi mới ngoạn mục trong bối cảnh họ xin gia nhập WTO. Vì thế chúng ta cũng nên điều tra phương cách, lý do và hệ quả của sự thay đổi này. Trên hết và trước hết, cả ba nước Căm-pu-chia, Trung Quốc và Ả-rập Xê-út đều có lợi điểm là có được những nhà lãnh đạo xuất sắc vào thời điểm những quốc gia này đi tìm một chỗ đứng trong cộng đồng mậu dịch toàn cầu. Trong mỗi một trường hợp, viễn kiến về sự tiến bộ cho quốc gia và quyết tâm mở cửa ra thế giới trong đấu trường kinh tế đã thắng lướt những bản năng yếu kém và lề thói tồi dỡ–mặc dù không phải mọi chuyện đều diễn tiến tuyệt vời. Hun Sen, Đặng Tiểu Bình, và Vua Abdullah lại càng không phải là những người cỗ xuý lí tưởng dân chủ phương Tây hay thị trường tự do, nhưng họ nhận chân rằng việc gia nhập WTO là tối cần cho việc đưa đất nước đi tới.

Không một cá nhân lãnh đạo nào có thể tự mình theo đuổi hết mọi đòi hỏi chi tiết khúc mắc của việc gia nhập WTO. Hunsen, Đặng và Abdullah được các bộ truởng và viên chức thuộc cấp tài giỏi trợ tá, những vị này làm việc trên thực địa tại Geneva và, quan trọng hơn cả, họ làm việc với các cấp chính quyền quốc gia và địa phương ở trong nước. Nhưng chính sự hiện diện có tính chỉ đạo, sự quyết tâm và quyền lực của các nguyên thủ quốc gia đã thúc đẩy Căm-pu-chia, Trung Quốc, và Á-rập Xê-út vượt qua được quán tính của các nhóm quyền lợi trong nước. Sức thuyết phục của các lãnh đạo này thậm chí thắng lướt cả sức nặng trì kéo của tiền lệ và ý thức hệ. Hầu như trước khi bắt tay vào việc đổi mới Trung Quốc, họ Đặng không có một chút lí lịch nào mang khuynh hướng tân tự do, khả dĩ dẫn đến một chương trình cải tổ như thế: Đặng Tiểu Bình từng giữ chức tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung quốc từ 1956 đến 1967 và chủ tịch Quân uỷ Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc từ 1981 đến 1989 - một lí lịch khó tưởng tượng là phù hợp với một nhân vật sắp chuyển hoá một thành trì kinh tế do nhà nước chỉ huy lớn nhất trong lịch sử thành một thị trường có tiềm năng lớn nhất thế giới. Tương tự như thế, vua Abdullah, vị tư lệnh Vệ binh Quốc gia của Ả-rập Xê-út từ năm 1962, không có gì chứng tỏ là một ứng viên nổi bật nhất có khả năng mở cửa một trong những quốc gia khép kín và hướng nội nhất trên thế giới, chí ít là vào thời điểm ông ta bắt đầu lèo lái vận mạng của Ả-rập Xê-út năm 1995 khi vua Fahd bị bại liệt vì tai biến mạch máu não. Rồi còn phải kể đến thủ tướng của Căm-pu-chia là ông Hun Sen, một cựu tư lệnh chiến trường của Khờ-me Đỏ đã bỏ ngũ sang với Việt Nam vào thời điểm những cảnh khủng khiếp do chế độ Pol Pot gây ra ngày một gia tăng. Khi đưa quân xâm lăng Căm-pu-chia năm 1979, người Việt Nam dựng nên chính quyền bù nhìn của họ, trong đó có Hun Sen. Năm 1993, khi nước này trở lại chế độ đa đảng, Hun Sen trở thành đồng-thủ-tướng của Căm-pu-chia. [3] Năm 1998, ông nắm trọn quyền hành của một vị thủ tướng duy nhất, và tiếp tục lãnh đạo một tiến trình chính trị không mấy gương mẫu. Nhưng cũng như Đặng Tiểu Bình và Abdullah, Hun Sen đã triển khai, trong mức độ tình hình và văn hoá cho phép, một viễn kiến tiến bộ cho tương lai, với chủ trương mở cửa ra cùng thế giới, gia tăng ổn định kinh tế, và dần dần xoá đói giảm nghèo xuyên qua việc hội nhập với kinh tế toàn cầu.

Công ty Căm-pu-chia

Vào đầu thập niên 1990, mặc dù quân Khmer Đỏ vẫn còn hoạt động dọc theo biên giới Thái Lan, nhưng Căm-pu-chia đã để lại đằng sau thảm kịch diệt chủng và bắt đầu lao vào một tiến trình cải tổ kinh tế. Trong vòng vài năm sau đó, một thí nghiệm đặc biệt dưới dạng thức đối thoại công-tư bắt đầu tiến hành, dưới thẩm quyền trực tiếp của Hun Sen. Thí nghiệm này hiện đang diễn tiến sinh động. Được Tập đoàn Tài chánh Quốc tế của Ngân hàng Thế giới hướng dẫn, cuộc đối thoại này đã đảm bảo khả năng ảnh hưởng của khu vực tư doanh lên việc hoạch định chính sách, một triển khai làm chỗ dựa cho tương lai của quốc gia này. Và nếu thiếu sự triển khai này thì không thể nói đến khả năng xoá đói giảm nghèo dài hạn của Căm-pu-chia.

Căm-pu-chia nộp đơn xin gia nhập WTO năm 1994, nhưng hồ sơ phải nằm chờ ở Geneva đến 5 năm. Trong thời gian này, người Căm-pu-chia ra sức chuẩn bị cho những cuộc đàm phán gia nhập sẽ xảy ra. Chính phủ Hun Sen giản lược cấu trúc thuế nhập cảng thành vỏn vẹn bốn bậc và giảm mức thuế trung bình từ 35 phần trăm xuống dưới 20 phần trăm là tối đa. Trong khi các cuộc đàm phán đang tiến hành, Căm-pu-chia còn đưa ra một loạt những cam kết có thực chất và đầy viễn kiến trong khu vực kinh tế dịch vụ nhằm đảm bảo tạo ra những dịch vụ hữu hiệu, có tính cạnh tranh để hỗ trợ cho sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Giáo dục bậc đại học và dịch vụ y tế, hai lãnh vực mà trước đó khu vực nhà nước bất lực trong việc cung ứng phương tiện vững chắc và đầy đủ, nay được mở ra cho tư nhân vào đầu tư. Chính phủ cũng chấp nhận thêm nhiều nhượng bộ quan trọng bằng cách mở cửa đón mời tư doanh vào các khu vực như ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, dịch vụ chuyên môn, và viễn thông.

Hầu hết những động thái này được thiết kế để thu hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh cho các công ty cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ bản địa, và đưa ra thị trường nhiều sản phẩm vừa có chất lượng vừa hợp túi tiền hơn. Nhưng chỉ mở cửa thị trường quốc gia thôi cũng chưa đủ, đó là điều hiển nhiên. Các định chế chính phủ, thủ tục hành chánh, và cả môi trường điều tiết kinh tế cũng cần phải được tăng cường và củng cố. Điều này có nghĩa là, phải lập ra một chương trình nghị sự cho ngành lập pháp và các cơ quan điều tiết. Chương trình này bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau như là: luật đầu tư, tư hữu hoá, luật khế ước, các loại toà án, luật hình sự và dân sự, và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ… Những cải thiện luật pháp này được hỗ trợ bằng nỗ lực thực thi các định chế tư pháp và tài chánh hiện hành và bằng nỗ lực gia tăng tính chuyên nghiệp trong các bộ ngành nhà nước. Cho đến nay Căm-pu-chia vẫn chưa thực hiện hết mọi cam kết đúng hạn kỳ hay trong cách thế mà các thành viên WTO khác mong muốn. Nhưng quốc gia này đã và đang từng bước chuyển động đúng phương hướng, và việc này diễn tiến bất chấp cả những xáo trộn chính trị xảy ra sau cuộc tuyển cử năm 2003. Những điều Căm-pu-chia cam kết với WTO đang mang lại lợi ích; mà kết quả cụ thể, dù chưa đồng bộ, sẽ biểu hiện rõ nét nay mai.

Sự thiếu tự tin lâu đời của Căm-pu-chia vì nằm dưới bóng của các nước lân bang giàu mạnh hơn như Trung Quốc, Việt Nam, và Thái Lan cũng bắt đầu tan biến. Hàng hoá xuất khẩu tăng mạnh, dẫn đầu là khu vực hàng may mặc có sức cạnh tranh cao (một khu vực người ta cho rằng đã bị sự cạnh tranh của Trung Quốc xoá bỏ kể từ năm 2005, thời điểm những hạn ngạch quốc tế áp đặt lên hàng may mặc của Trung Quốc được tháo gỡ). Lượng hàng xuất khẩu gia tăng từ 284 triệu Mĩ kim năm 1993 lên 1,4 tỉ Mĩ kim năm 2000, rồi gia tăng xấp xỉ gấp ba lần trong thời gian từ năm 2000 đến 2006. Lương công nhân vẫn còn thấp trong các xưởng may, nhưng nhân dân Căm-pu-chia đang làm ra của cải, và sự kiện này biểu hiện trên đường phố.

Các ngành dịch vụ đã phát triển mạnh, và ngành du lịch đang cất cánh; lợi tức của ngành giao thông và du lịch tăng gần gấp ba kể từ năm 2000. Ngân hàng nước ngoài hoặc đang thiết lập chi nhánh địa phương tại Căm-pu-chia, hoặc bày tỏ ý định làm điều này - đảo ngược hẳn khuynh hướng của các công ty muốn rút ra khỏi quốc gia này, vốn đã manh nha từ trước khi Căm-pu-chia gia nhập WTO. Thị trường nhà đất đã cất cánh trên lưng của ngành xây dựng đầy sinh lực. Các cam kết mà Căm-pu-chia đưa ra khi gia nhập WTO, trong đó có việc cho đóng băng trần thuế hải quan, đã tạo nên sự tin tưởng của giới đầu tư. Làm kinh doanh ở Căm-pu-chia, mặc dù còn nhiều vấn đề, nhưng ngày càng dễ dàng hơn trước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bắt đầu thực sự từ số không vào đầu thập niên 1990 đã lên đến 180 triệu Mĩ kim vào năm 2000, rồi lên đến khoảng 500 triệu Mĩ kim năm 2006. Chưa bao giờ quốc gia này có khả năng mua hàng hoá từ các đối tác quốc tế nhiều như hiện nay; lượng hàng nhập khẩu năm 2006 nhiều gấp mười lần năm 1993 và vượt quá số lượng gấp đôi hàng nhập khẩu năm 2000.

Nhưng thử thách tối hậu về sự thành công kinh tế của một nước như Căm-pu-chia là cuộc chiến chống nghèo đói. Cho đến nay, kết quả của nỗ lực này vẫn chưa đồng bộ, có nhiều lí do để lạc quan nhưng vẫn còn nhiều lí do để bi quan. Theo Chỉ số Phát triển Nhân sự do Liên hiệp quốc đưa ra, Căm-pu-chia đang ở hướng đi lên. Tổng sản lượng quốc nội (GDP) tính theo đầu người đang gia tăng. Theo tài liệu Chỉ số Phát triển Thế giới Năm 2007 của Ngân hàng Thế giới, Căm-pu-chia phát triển nhanh gấp đôi các quốc gia khác có khởi điểm ở một mức GDP tương tự trên mỗi đầu người. Còn Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kết luận rằng “những chính sách kinh tế vĩ mô bền vững đã cho phép Căm-pu-chia đạt được mức phát triển rất ấn tượng và bắt đầu đẩy lùi nạn nghèo đói”. Nhưng mặt khác và mới đây thôi, IMF lại nhận xét rằng nạn tham nhũng tại Căm-pu-chia vẫn còn tràn lan.

Những người thợ lặn trong sa mạc

Theo Ngân hàng Thế giới, hiện giờ Á-rập Xê-út là quốc gia đứng thứ 23 trên toàn thế giới và đứng đầu trong thế giới Ả-rập về mức độ thuận lợi cho doanh nghiệp. Sự tập trung chú ý gần đây vào giá dầu leo thang không ngừng đã làm cho người ta quên mất những thay đổi kinh tế to lớn đang diễn tiến trên đất nước này, một quốc gia sản xuất dầu hoả nhiều đứng thứ hai và là quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới.

Lại thêm một trường hợp nữa, WTO có nhiều can dự vào những biến chuyển này. Mối lo ngại mà người Xê-út canh cánh bên lòng suốt thời gian giá dầu xuống thấp là nền kinh tế của họ rất thiếu tính đa dạng. Và đây là một yếu tố chính thúc đẩy chính quyền Riyadh đi theo đường lối của WTO trong việc mở rộng nền kinh tế quốc gia. Kể từ đầu thập niên 1990, nhiều bộ phận đông đảo trong giới trẻ có trình độ giáo dục cao càng ngày càng trở nên bất mãn vì thiếu cơ hội để kiếm công ăn việc làm. Do đó, việc đa dạng hoá nền kinh tế là điều tất yếu. Nhất là khi nước Nga nhanh chóng đóng một vai trò rất quan trọng trong lãnh vực dầu khí và các sản phẩm liên hệ, thì bản thân ngành dầu hoả của Xê-út rất cần phải đa dạng hoá và để thực hiện điều này nó cần đến một số điều kiện mậu dịch ổn cố và khả dĩ tiên liệu. Việc Ả-rập Xê-út gia nhập WTO cũng hỗ trợ cho những mục tiêu khác của chính quyền Thái tử Abdullah lúc bấy giờ, đó là: đạt được mức phát triển quân bình khắp vương quốc, tăng cường khu vực tư doanh, phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, nhờ đó thu hút thêm đầu tư nước ngoài, đạt mục tiêu hội nhập xã hội và kinh tế giữa các nước trong tổ chức Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council), đồng thời hỗ trợ sự hợp tác kinh tế với các nước khác.

Chương trình tư hữu hoá của chính phủ Xê-út được ghi lại sau cùng trong những điều lệ kí kết với WTO là một chương trình đầy tham vọng. Trong những khu vực mà chính phủ dự trù tư hữu hoá có cả các ngành như cung cấp nước sạch, xử lý chất thải, khử muối; viễn thông và bưu điện; đường sắt, đường bộ, hải cảng và hàng không dân dụng; các tiện ích công cộng tại các thành phố công nghiệp; các công ty, khách sạn và câu lạc bộ thể thao hiện do nhà nước làm chủ; các ngành giáo dục, y tế, và nông nghiệp. Cam kết của chính phủ Xê-út có một chiều sâu và nó vẫn tồn tại đến sau năm 2002, thời điểm khi giá dầu bắt đầu lên lại.

Tuy vậy, việc Ả-rập Xê-út gia nhập WTO không xảy ra dễ dàng. Qua vài năm đầu trong quá trình đàm pháp, chính quyền Riyadh gặp khó khăn trong việc nắm bắt và chấp nhận những nguyên tắc nền tảng của hệ thống pháp lí đa phương. Trong khi ở thế giới Ả-rập châm ngôn “Lời nói của tôi là một tờ trái phiếu” là phong cách truyền thống của giới kinh doanh, thì chủ nghĩa đa phương mà một quốc gia xin gia nhập WTO phải thực hành lại đòi hỏi luật pháp rõ ràng, đòi hỏi các quy tắc điều tiết, các nghĩa vụ và các thoả ước. Ngoài ra, chủ nghĩa đa phương còn đòi hỏi sự cam kết sau đây: các điều khoản do một thành viên kí kết khi gia nhập có thể bị tất cả các thành viên khác trong tổ chức đem ra áp dụng với chính thành viên mới ấy. Lập trường của Ả-rập Xê-út về các dịch vụ ngân hàng theo tín lí Hồi giáo, việc cấm nhập khẩu một số mặt hàng vì lí do tôn giáo và việc Ả-rập tẩy chay Do Thái, tất cả đều có tiềm năng làm hỏng việc trong các giai đoạn đầu của quá trình Ả-rập Xê-út đàm phán xin gia nhập WTO. Nhưng rốt cuộc các yếu tố này đã không trở thành chướng ngại nghiêm trọng, vì các cuộc đàm phán chỉ tập trung vào tính minh bạch, vào việc mở cửa thị trường, vào chính sách không phân biệt đối xử và vào các điều kiện mậu dịch công bằng.

Tiến độ đàm phán giữa Ả-rập Xê-út và WTO tăng tốc sau năm 2000. Việc chuẩn bị để gia nhập WTO đã mang lại những cải tổ căn bản trong cấu trúc thuế quan dành cho hàng nhập khẩu. Thuế suất trung bình dành cho “tối huệ quốc”, một dạng thuế đơn giản đánh lên các sản phẩm không thuộc khu vực nông nghiệp và dầu khí, được giảm từ 12,2 phần trăm (1994) xuống 6,1 phần trăm (2004). Ả-rập Xê-út đưa ra nhiều cam kết với WTO như bất cứ thành viên nào của tổ chức mậu dịch này, trong đó có nhiều cam kết còn khắt khe hơn cả những điều khoản áp dụng cho Trung Quốc. Ngành dịch vụ của Ả-rập Xê-út được mở ra cho các công ti cung cấp vật liệu cũng như giới đầu tư nước ngoài; luật bảo vệ sở hữu trí tuệ và việc thực thi luật này ở Ả-rập Xê-út đã trở thành mẫu mực. Quốc gia này đã đa dạng hoá hàng xuất khẩu của mình: khối lượng hàng xuất khẩu không thuộc ngành dầu khí và hầm mỏ đã tăng trị giá gấp đôi trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2000 và tăng gấp mười trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, là lúc khối lượng này đạt gần 70 tỉ Mĩ kim. Hiện nay hàng nhập khẩu của Xê-út đã tăng quá mức gấp đôi, so với năm 2000. Ngoài ra, dịch vụ thương mại cũng đang tăng trưởng mạnh, với các phương tiện vận chuyển từ ngoài vào - tức các hoạt động của tàu bè do người nước ngoài làm chủ và các máy bay dân dụng nước ngoài bay vào bay ra Ả-rập Xê-út - tăng gấp đôi trong vòng tám năm qua.

Ả-rập Xê-út ngày càng thu hút sự chú ý của thế giới như là một nơi để đầu tư vào những ngành không liên hệ đến dầu khí. Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc cho biết rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Ả-rập Xê-út đã gia tăng từ 312 triệu Mĩ kim năm 1993 lên đến 4,6 tỉ Mĩ kim năm 2005. Theo tài liệu của IMF (Quĩ Tiền tệ Quốc tế), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (được tính trên một cơ sở khác hẳn) tại Ả-rập Xê-út gia tăng hơn 50 phần trăm từ năm 2005 đến 2006, đạt được 18,3 tỉ Mĩ kim. Dựa trên chỉ số “dễ dãi với doanh nghiệp” (ease of doing business) của Ngân hàng Thế giới, Ả-rập Xê-út đã tiến bộ thêm 10 bậc, từ thứ 33 năm 2007 lên thứ 23 vào năm 2008. Đây là một biểu hiện rất tốt nếu đem so với hầu hết các quốc gia đã phát triển. Trong khi đó, nền kinh tế nước này càng ngày càng trở nên đa dạng; tháng Mười năm 2007, IMF cho biết rằng mặc dù mức tăng trưởng GDP (tổng sản lượng quốc nội) của Ả-rập Xê-út chỉ còn 4,3 phần trăm, nhưng mức tăng trưởng GDP của những khu vực ngoài ngành dầu khí lại lên tới 6,3 phần trăm vào năm đó.

Hiển nhiên là phương Tây vẫn còn chỉ trích nhiều phương diện trong hệ thống xã hội, chính trị và pháp lý của Ả-rập Xê-út. Nhưng những lãnh vực này đang được cải tổ, một phần cũng nhờ chính những cam kết với WTO. Ý niệm về Ả-rập Xê-út như một vương quốc khép kín, đóng cửa với thế giới bên ngoài, là hình ảnh đã chìm vào dĩ vãng. Liệu những đổi thay do việc Ả-rập Xê-út xin gia nhập WTO tạo ra cuối cùng có thật sự thay đổi xã hội nước này không thì chưa ai biết được. Nhưng có một điều không thể tranh cãi là, Ả-rập Xê-út đang trở thành một quốc gia khác trước rất nhiều.

Cuộc chạy đường trường của Trung Quốc

Chắc chúng ta không cần kể lại nơi đây gương thành công kinh tế của Trung Quốc; thành tích thương mại của nước này vẫn còn giữ được mức cao ngất. Mọi người đều ý thức được sự gia tăng không ngừng lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc, và một số quốc gia thậm chí đang cố gắng chống trả khuynh hướng này của Trung Quốc bằng những biện pháp bảo hộ mậu dịch. Tuy thế, thành tích nhập khẩu của Trung Quốc lại ít khi được bàn đến. Lượng hàng Trung Quốc mua từ các nước khác đã tăng mạnh và tăng đều, song hành với mức độ gia tăng của hàng xuất khẩu - Trung Quốc đã nhập khẩu một lượng hàng từ 53 tỉ Mĩ kim vào năm 1990 lên tới 800 tỉ Mĩ kim năm 2006. Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2006, mức tăng trưởng hằng năm của lượng hàng nhập khẩu là 23 phần trăm; còn mức tăng trưởng hằng năm của lượng hàng xuất khẩu là 25 phần trăm. Mặc dù các nền kinh tế chính của thế giới đang chịu những khoản thâm thủng mậu dịch to lớn có tính cơ cấu với Trung Quốc, nhưng không phải quốc gia vĩ đại này xuất khẩu bất chấp cả sự thua thiệt của mọi nước khác đâu. Thành tích thu nhận đầu tư từ ngoài vào cuả Trung Quốc không kém phần ấn tượng. Trong khoảng từ năm 1986 và 1991, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trung bình hàng năm ở Trung Quốc là vào khoảng 3 tỉ Mĩ kim; nhưng vào năm 2006 vốn đó lên đến 70 tỉ Mĩ kim. Dần dần, việc kinh doanh ở Trung Quốc trở nên ít tốn kém hơn và dễ dàng hơn trước.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng đạt nhiều tiến bộ trong việc xoá đói giảm nghèo. Theo Ngân hàng Thế giới, lợi tức bình quân đầu người của Trung Quốc tăng trưởng hơn năm lần kể từ năm 1990 đến năm 2006, tức là từ 320 Mĩ kim đến 1.740 Mĩ kim một năm. Mặc dù một phần cực lớn của cải tăng trưởng này đi vào túi của một thiểu số, nhưng mức độ nghèo đói trong cả nước đang xuống thấp. Tỉ lệ bách phân của số người Trung Hoa sống đắp đỗi với số tiền chưa được 1 Mĩ kim một ngày đã rơi từ 33 phần trăm vào năm 1990 xuống dưới mười phần trăm vào năm 2005. Mức suy dinh dưỡng trong trẻ em đã xuống rất thấp. Nhiều người vẫn còn sống chật vật, nhất là ở vùng quê, nhưng một giai cấp trung lưu to lớn và ngày một phình ra thì đang làm ăn phát đạt. Số người sử dụng điện thoại di động gia tăng từ 11 phần trăm năm 2001 lên đến 30 phần trăm năm 2005.

Rõ ràng là, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã kích thích khiến những thay đổi ngoạn mục xảy ra trên nước này. Vào tháng Chín năm 1982, bốn năm trước khi Bắc Kinh xin gia nhập WTO, Đặng Tiểu Bình đã nói trước Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng đất nước này “phải tự khai mở một lối đi riêng, xây dựng chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Hoa. Hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa là đường lối cơ bản của chúng ta. Muốn thực hiện đường lối này và mang lại phồn vinh cho Trung Quốc, chúng ta phải thực thi những chính sách cải tổ và mở cửa ra thế giới bên ngoài”.

Nhưng hoá ra, con đường canh tân đất nước là một tiến trình khó khăn và lâu dài. Vốn là hội viên thành lập cơ cấu GATT (nhưng đã từ bỏ tổ chức này năm 1950), Trung Quốc không cho rằng mình bị đòi hỏi phải xin gia nhập WTO như một thành viên mới; nói đúng ra, Trung Quốc chỉ xin “tiếp tục lại tư thế cũ của mình”. Nhưng, dù nói gì đi nữa, ý định thực tiễn của Trung Quốc luôn luôn rõ ràng. Ngay cả những khi việc cải tổ kinh tế có thay đổi chiều hướng và cường độ qua nhiều năm tháng, Trung Quốc vẫn liên tục xích gần đến việc gia nhập WTO và mở cửa kinh tế. Nghị định thư mà Trung Quốc gửi đến các thành phần tham gia cơ cấu GATT năm 1987 đã công khai nhìn nhận: “Việc hoạch định chính sách kinh tế quá tập trung ở cấp Trung ương và công tác điều tiết kinh tế bằng kế hoạch cưỡng bách của nhà nước đã bỏ qua vai trò của những kỹ xảo trong thị trường (market mechanisms). Do đó, các xí nghiệp đạt hiệu năng kinh tế rất thấp vì thiếu sức sống và nền kinh tế hàng hoá không được triển khai đúng mức.”

Vào thời điểm năm 1987, Trung Quốc vẫn còn tự coi mình là một nước đang phát triển có lợi tức thấp (lúc bấy giờ ở thôn quê mức thu nhập bình quân mỗi năm trên đầu người là 136 Mĩ kim và, cũng theo nghị định thư, “mức chi tiêu bình quân một năm trên mỗi đâu người ở thành thị là 256 Mĩ kim), mặc dù trước đó nhiều cải tổ đã bắt đầu diễn ra ở vùng quê từ năm 1979 và được khởi động trong nền kinh tế tại các thành thị sau năm 1984. Nghị định thư giải thích rõ một số thay đổi căn bản: “Hiện nay hệ thống phân phối bình quân ‘mọi người ăn chung từ một nồi lớn’ đang bị dẹp qua một bên. Trong các tổ chức và định chế nhà nước, hệ thống thang lương đang được thay thế bằng hệ thống lương có cấu trúc, nghĩa là nhân viên được hưởng lương tương xứng với chức vụ mà họ nắm giữ. Việc tái lập chế độ tiền thưởng và thử nghiệm liên kết toàn bộ tiền lương-tiền thưởng với năng suất đã gia tăng mức sản xuất của xí nghiệp và sự hăng hái làm việc của công nhân viên rất nhiều”. Nghị định thư còn nói thêm: “Nhiều cải tổ đã được thực hiện trong hệ thống giá cả vốn rất phi lí và trong việc quản lí giá cả vốn quá nặng nề”. Tuy vậy, việc dứt bỏ quá khứ vẫn chưa dứt khoát: mặc dù việc kế hoạch hoá ở trung ương có thể đã bị bãi bỏ, nhưng theo nghị định thư, hệ thống kinh tế mới bắt buộc phải là một “nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch”.

Rõ ràng là chế độ mậu dịch của Trung Quốc cần phải được phát triển. Bắc Kinh đã hợp lí hoá những thủ tục vốn quá cứng rắn trong các định chế nhà nước và trong các cơ quan điều tiết kinh tế, nhưng cần phải thay đổi nhiều hơn nữa để đáp ứng ngay cả những đòi hỏi tương đối lỏng lẻo của cơ cấu GATT lúc bấy giờ. Nổi cộm nhất là cơ cấu thuế quan kỳ quặc của Trung Quốc, với thuế xuất-nhập khẩu “tối thiểu” và “tổng quát” dàn trải từ 3 phần trăm đến 160 phần trăm, một hệ thống không thể nào thoả mãn đòi hỏi của các thành viên chính trong cơ cấu GATT. Ngoài ra, Trung Quốc còn có một số vấn đề khác, như là: chế độ cấp giấy phép xuất-nhập khẩu kềnh càng, những kiểm soát hối suất rất o-ép, các chức năng bảo vệ sở hữu trí tuệ chỉ hiện hữu ở mức tối thiểu, luật đầu tư thiếu hấp dẫn, các thủ tục kiểm tra kỹ thuật và y tế của hàng nhập khẩu không đáng tin cậy.

Mặc dù có nhiều khiếm khuyết nghiêm trọng về tính trong sáng trong một số nhượng bộ của Trung Quốc, thoả ước gia nhập sau cùng mà Trung Quốc kí kết được với WTO là một thành công xuất sắc. Đây là một thoả ước có chiều sâu và mức độ phức tạp chưa hề thấy. Ngày nay, cơ cấu thuế quan mà Trung Quốc dành cho các nước bạn hàng trong WTO được định ở mức trung bình là 10 phần trăm. Mức thuế trung bình tính theo hệ số mậu dịch (trade-weighted) thực sự áp dụng cho hàng nhập khẩu hiện nay là chưa được 5 phần trăm. Những dàn xếp trong giai đoạn quá độ đã cho phép Trung Quốc có đủ thì giờ để thích nghi thêm với luật lệ của WTO, trong khi đó các thị trường lớn nhất của Trung Quốc cũng chứng tỏ họ đã biết tự chế trong việc bảo hộ các công nghiệp đang gặp phải khó khăn. Giới tiêu thụ khắp thế giới nhờ vậy mà được hưởng lợi. Nhu cầu của một nền kinh tế Trung Quốc đang lên đã tạo ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho các nước đang phát triển, tức các nước cung cấp thương phẩm nông nghiệp và nguyên vật liệu. Nhờ có những cam kết mà Trung Quốc kí với WTO, nhiều công ti chế tạo và công ti cung cấp dịch vụ nước ngoài đã và đang lũ lượt vào kinh doanh ở nước này. Ít có quốc gia nào có thể tưởng tượng mình không cần đi vào thị trường của Trung Quốc trong những thập niên sắp tới.

Vào năm 1986 [thời điểm Trung Quốc xin gia nhập WTO] đố ai có thể tưởng tượng trong vòng 20 năm sau sẽ có hai công ty Đức kí hợp đồng xây cất và điều hành một bệnh viện trị giá 145 triệu Mĩ kim tại Thượng Hải? Hay tưởng tượng được rằng tới năm 2007 sẽ có đến 1200 cơ xưởng chế tạo đồ phụ tùng xe hơi với vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc - chiếm đến 50 phần trăm của thị trường này? Hay tưởng tượng rằng hãng Volkswagen sẽ xuất khẩu xe do người Trung Quốc chế tạo sang 80 quốc gia. Mặc dù vấn đề hàng giả hàng nhái vẫn còn tồn tại, lượng hàng bán ra của công ty châu Âu LVMH, một công ty sản xuất hàng xa xỉ tại Trung Quốc, trong thời gian qua vẫn tăng lên 50 phần trăm một năm. Hãng chế tạo máy bay Boeing [của Mĩ] dự kiến các hãng hàng không dân dụng của Trung Quốc sẽ chi tiêu 183 tỉ Mỹ kim để mua máy bay mới trong vòng hai thập niên tới; cho đến nay Boeing đã nhận của Trung Quốc chí ít 50 đơn đặt mua 787 Dreamliner (hàng trăm máy bay Boeing thuộc các kiễu trước đó hiện đang được Trung Quốc sử dụng). Theo thống kê chính thức của Trung Quốc, trong năm 2006 có 34 triệu du khách Trung Quốc đi ra nước ngoài (kể cả Hồng Kông và Macao). Nội trong nửa năm đầu của 2007 đã có hơn 38 triệu du khách Trung Quốc đi ra nước ngoài.

Đây chỉ là vài ví dụ về một chuyện tự nó đã không thể xảy ra, nếu không có những nỗ lực gay cấn của nhiều nhà lãnh đạo và viên chức kế tiếp nhau của Trung Quốc trong việc chuẩn bị đường dài cho nước này gia nhập WTO. Ở Trung Quốc, cũng như ở Căm-pu-chia và Ả-rập Xê-út, WTO đã có ảnh hưởng rất to lớn trong việc biến viễn kiến của các nhà lãnh đạo đất nước thành hiện thực. Bất chấp chuyện gì có thể xảy ra ở Vòng đàm phán Doha, các lãnh đạo chính trị cũng nên vận dụng tốt sức tác động của WTO.
——————————————————————————–
[1]GATT (dịch giả sẽ giữ nguyên dạng viết tắt này trong toàn bài): The General Agreement of Tariff and Trade (Hiệp ước Chung về Thuế quan và Thương mại), tiền thân của WTO. Sau Thế chiến II, song song với nỗ lực đàm phán với mục đích thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), 23 quốc gia tham dự hội nghị đã kí Hiệp ước Chung về Thuế quan và Thương mại, hay GATT, vào ngày 1-1-1948 với mục đích hạ thấp các rào cản thuế quan. Vì Hoa Kỳ rút lui, Tổ chức Thương mại Quốc tế bất thành, nhưng GATT là thành quả còn lại để tiếp tục chi phối các hoạt động mậu dịch giữa các nước kí kết (trong đó có Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc).
[2]Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) điều hành các cuộc đàm phán xuyên qua cái gọi là các vòng đàm phán. Vòng đàm phán Doha bắt đầu bằng cuộc họp cấp bộ trưởng, tổ chức tại thủ đô Doha, Quốc gia Qatar, và vẫn còn tiếp diễn. Mục đích của Vòng đàm phán Doha là hạ thấp những rào cản thuế quan khắp thế giới, mở rộng tự do mậu dịch giữa các quốc gia có trình độ kinh tế khác nhau. Các cuộc họp cấp bộ trưởng tiếp theo đã diễn ra tại Cancun, Mê-hi-cô (2003) và Hồng Kông, Trung Quốc (2005). Còn các cuộc đàm phán liên hệ thì diễn ra ở Geneva, Thuỵ Sĩ; Pa-ri, Pháp; rồi trở lại Geneva.
[3]Từ năm 1993 đến năm 1998, Hun Sen là đồng-thủ-tướng với Hoàng tử Norodom Ranariddh. Lấy lí do Ranariddh liên minh với tàn dư của Khmer Đỏ, Hun Sen tung ra một cuộc đảo chánh đẫm máu và sau đó nắm trọn quyền bính của một vị thủ tướng duy nhất kể từ năm 1998.

Nguồn: Foreign Affairs, tháng Ba/tháng Tư 2008

Thủ đoạn vu cáo của csvn về HT TQ Độ

CSVN rất sợ sự phục hoạt của GHPGVNTN như bóng tối sợ ánh sáng, tà sợ chánh !
Ngậm máu phun người của cs !

Còn đâu tình đồng đạo?
8:31, 03/07/2008
Trong lúc hoà thượng Huyền Quang lâm trọng bệnh, lẽ ra phải theo dõi tình trạng sức khoẻ nhưng ông Quảng Độ lại vào Bình Định và ngồi chờ ông Quang viên tịch để giành quyền đứng ra tổ chức tang lễ. Ông ta chờ đợi cái ngày đó để “thị uy”, chờ cơ hội và tuyên bố sẽ hỏa táng hòa thượng Huyền Quang để “lấy xá lợi làm kỷ vật”.
>> “Mặc áo” tu hành, nhận tiền phản động
>> Sự thật về những việc làm sai trái của ông Quảng Độ
Những ngày này, ai có dịp vào Bình Định chứng kiến cảnh một số người mặc áo nhà Phật ra vào bệnh viện “thăm nom” hòa thượng (HT) Thích Huyền Quang đang lâm bệnh nặng, hiểu ra ắt ngán ngẩm.

Ông Quảng Độ, Viên Định, Không Tánh, rồi Thiện Hạnh, Như Đạt, Lê Công Cầu, Như Tấn, Thanh Quang, Từ Giáo… mỗi người một ngả, nườm nượp kéo về thành phố biển xem ra “động lòng” từ bi trước cảnh ông Huyền Quang nằm mê man trong viện.

Kỳ thực, thăm thú chỉ là cái cớ. Lấy lý do HT Huyền Quang là Đệ tứ Tăng thống cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, ông Độ thúc ép ông Minh đưa HT Huyền Quang vào TP Hồ Chí Minh hoặc ra Huế trị bệnh.

Người ta đặt câu hỏi, HT Huyền Quang muốn được điều trị tại Bình Định, và ông đã được các bác sĩ chăm sóc chu đáo, tận tình, nay sức cùng lực kiệt còn bắt ông đi đâu? Vả lại, cái ý đưa vào TP Hồ Chí Minh hay ra Huế mang danh “chữa bệnh” cho ông Quang, kỳ thực nhằm làm theo ý đồ của ông Quảng Độ.

Nhiều tăng ni, phật tử biết rõ ông Độ, họ rất bất bình. Trong lúc này, lẽ ra phải theo dõi tình trạng sức khoẻ, giúp được chút gì đó cho HT Huyền Quang, nhưng ông Độ lại vào Bình Định và ngồi chờ ông Quang viên tịch để giành quyền đứng ra tổ chức tang lễ, bất chấp có sự đồng ý hay không của các môn đồ tăng ni, phật tử. Ông ta chờ đợi cái ngày đó để “thị uy”, chờ cơ hội và tuyên bố sẽ hỏa táng HT Huyền Quang để “lấy xá lợi làm kỷ vật”.

Để có nguồn hỗ trợ mạnh hơn, nhóm này liên lạc và nhận tiền của Võ Văn Ái từ Pháp chuyển vào, ráo riết hô hào tay chân sẵn sàng về Bình Định để dự tang lễ HT Huyền Quang.

Nhóm Quảng Độ, Viên Tịch còn tìm cách gây sức ép ông Minh Tuấn, Quảng Bửu bằng việc bắt kê khai các khoản thu chi, quà cáp. Bởi thế đã có cả ban bệ đứng ra ghi chép các khoản chi phí, từ tiền đường sữa đến tiền xe ôm, cả mấy cốc trà đá ông Độ cũng bắt ghi vào, tiền mua áo mưa giấy, bút bi, thuốc lá…

Chưa biết có chuyện kê khai gian lận kinh phí hay không nhưng đã thấy bất đồng, cãi vã thường xuyên, và cuốn sổ ghi chép kinh phí cũng liên tục dày ra, thêm bớt. Nhóm ông Độ đã ở Bình Định hơn một tháng, ban bệ, sổ sách, tiền chia chác người bao nhiêu mỗi ngày đã được cộng trừ cả.

Ảo tưởng hơn, ông Độ đã ra rả tuyên bố rằng khi HT Huyền Quang viên tịch, ông Độ sẽ làm “Đệ ngũ Tăng thống”, ông Viên Định làm “Viện trưởng Viện hóa đạo” còn ông Thiện Hạnh thì giữ “chức” “Chánh Thư ký Viện Tăng thống”.

Có điều, sau hơn tháng ở lại Bình Định, nhờ sự tận tình chăm sóc của các y, bác sĩ Bệnh viện đa khoa tỉnh, sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, sức khỏe HT Huyền Quang tạm qua cơn nguy kịch.

Dường như điều đó càng làm ông Độ sốt sắng cứ như ngồi trên đống lửa. Thế nên không khỏi ngạc nhiên khi nhiều lần ông Độ và thuộc hạ xin vào Bệnh viện đa khoa, nói là thăm nom nhưng lại gây khó dễ. Tất nhiên, những y, bác sĩ có tâm, có tài ở bệnh viện, quán triệt phương châm “còn nước còn tát”, cứu người là trên hết, dù khó khăn đến mức nào. Đại diện chính quyền địa phương đã chỉ đạo bệnh viện dành sự ưu tiên phương tiện, thuốc men tốt nhất để điều trị, chăm sóc sức khoẻ cho HT Huyền Quang, giúp đỡ những môn đồ, đệ tử trực tại bệnh viện.

Đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định, các tỉnh lân cận cũng đến tận nơi thăm hỏi. Tuy HT Huyền Quang không phải thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhưng với tình đồng đạo đối với một vị cao tăng, Ban Trị sự Phật giáo Bình Định đã quan tâm và tạo các điều kiện thuận lợi nhất. Những việc đó được nhiều bệnh nhân, thân nhân gia đình bệnh nhân ở Bình Định ghi nhận.

Ông Độ cũng mặc áo nhà tu như ông Quang, cũng gọi là Hòa thượng, có lẽ ông nên nghĩ ít nhất giữa hai người có tình đồng đạo thì mọi việc sẽ tốt hơn

Đăng Trường
http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2008/7/94385.cand

Phục Hồi Thể Chế VNCH: Sẽ Đặt Lại Vấn Đề Với LHQ…

Classé dans : Chính trị, xã hội, Hoàng Sa Trường Sa — tudo @ 1:25

Từ trái: LS Thọ, GS Lai thế Hùng, Tướng Lý Tòng Bá

Việt Báo Thứ Tư, 7/2/2008, 12:02:00 AM

Westminster (Cổ Ngưu)– Nhiều dân biểu nghị sĩ, đại diện các đoàn thể và hội đoàn quân dân cán chính Việt Nam Cộng hoà từ các tiểu bang đã về dự cuộc họp tại hội trường Civic Center thành phố Westminster, Little Saigon, từ 12 giờ đến 4 giò ngày 28 thang 6 năm 2007, với sự có mặt của hầu hết các cơ quan truyền thông trong vùng.
Sau nghi lễ chào quốc kỳ VN Cộng Hoà và tưởng niệm chiến sĩ đã vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá tuyên bố lý do khai mạc Đại Hội VNCH, Ông nhấn mạnh “thời cơ, đia lợi nhân hoà đã đến sau 33 năm VNCH bị Mỹ bỏ rơi và CS Hà nội cưỡng chiếm bằng võ lực bất chấp hiệp định Geneve 20/7/1954, hiệp định Paris 27/1/1973 và nguyên tắc công pháp quốc tế mà hậu quả là chính quyền Việt Nam Cộng Hoà lâm vào thế bị động.. Các cơ cấu chánh quyền từ Quốc Hội Lưỡng Viện, hành chánh, tài chánh đến quân đội đều tạm ngưng hoạt động, và Quân, Dân, Cán, Chính VNCH đều bị cầm tù đày ải sát hại bởi Cộng Sản Bắc Việt, trừ một số đã phải di tản ra ngoài lãnh thổ”.

Tiếp theo là phần thuyết trình về những khía cạnh pháp lý do Luật sư Lâm chấn Thọ đến từ Montreal, Canada, chiếu điều 42 và 56 hiến pháp của Việt Nam Cộng Hịa, sự trao quyền giữa Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại Tướng Dương Văn Minh là hoàn toàn vi hiến vì từ chức là trách nhiệm của quốc hội lập pháp, túc số của biểu quyết, và sự kế nhiệm hiến định. . .

Sau khi Cựu Dân biểu Nguyễn Hữu Thời, Gs Lai Thế Hùng, Cựu DB Bùi văn Nhân và một số nhân sĩ phát biểu, hội trường thảo luận biểu quyết với đa số tuyệt tuyệt đối, thông qua bản tuyên cáo chính thể VNCH vẫn còn tồn tại. Lưỡng Viện Quốc Hội còn hiện hữu và có trách nhiệm với quốc dân. Đồng thời kêu gọi Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và nội các chính phủ tiếp tục nhiệm vụ vì sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải[ ý muốn nói đặt vần đề với quốc tế về hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa bị Trung Cộng lấn chiếm và sáp nhập]. Và đặt vấn đề với “Liên Hiệp Quốc và Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát, chiếu điều 19 triệu tập một Hội Nghị khẩn cấp các Thành viên liên hệ để xét lại tiến trình thực thi Hiệp Định Paris đã ký ngày 27/1/1973.”

Được biết một Ban Điều Họp Phục Hồi Thể Chế VNCH gồm 5 người cũng được đại hội biểu quyết giao nhiêm vụ trong đó có Cựu Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, Ls Lâm chấn Thọ, v.v.

——-

ĐIỀU 42

1- Quốc Hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chánh phủ với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ

2- Nếu Tổng Thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực

3- Trong trường hợp Tổng Thống khước từ, Quốc Hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc Hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết

ĐIỀU 56

1- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp :

a- Mệnh chung

b- Từ chức

c- Bị truất quyền

d- Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa

2- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ

Tổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới

3- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền

4- Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống

http://www.doi-thoai.com/hienphap_VNCH.html
http://www.vietnamconghoa.com/

Một giải pháp cho Việt Nam để đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa

Classé dans : Chính trị, xã hội, Hoàng Sa Trường Sa — tudo @ 1:24

download here : Quý vị bấm vào mũi tên (Play) để nghe Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, nhà báo Vi Anh và Luật Sư Lâm Chấn Thọ nói về một giải pháp cho Việt Nam để đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa

download here : Luat Su Lam Chan Tho (Canada) noi ve giai phap cho VN


03/07/2008

Thử tìm một giải pháp cho Việt Nam

Lâm Chấn Thọ

Bài toán ở Việt Nam sẽ có thể được giải quyết bằng một trong hai phương thức sau đây:

1.- Thứ nhất: Tình trạng độc tài tại Việt Nam sẽ tiếp tục cho đến khi lực lượng dân chủ quốc nội đủ mạnh, lợi dụng một biến động nào đó (ví dụ một vụ đàn áp tôn giáo hoặc một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. . .), nổi dậy lật đổ chính quyền cộng sản, giải tán quốc hội và thiết lập một chính phủ lâm thời, mà nhiệm vụ tiên quyết là tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến.

Vấn đề nan giải lúc ấy là chỗ đứng của cộng sản Việt Nam. Ðảng cộng sản Việt Nam có còn được tiếp tục hoạt động hợp pháp hay không?. Nếu được thì với những điều kiện nào, ví dụ về tiền bạc (mà đảng đã tiêu lòn ra hải ngoại), vũ khí. . .

Phương thức này khó tránh khỏi những xáo trộn xã hội. Ðồng thời những thế lực quốc tế sẽ lợi dụng cơ hội ấy để nhảy vào trục lợi.

2.- Thứ hai: Nhóm cộng sản tiến bộ thức tỉnh nắm lấy quyền lợi trong đảng, bằng lòng cho các khuynh hướng chính trị khác trong xã hội được tham gia.

Lúc đó có hai giải pháp để giải quyết:

a.) Giải pháp thứ nhất:

Bỏ điều 4 hiến pháp hiện hành của CSVN, cho phép các thành phần không cộng sản được tham gia bầu cử.

- Nhưng khi tham gia bầu cử, các thành phần này vô tình mặc nhiên công nhận hiến pháp cộng sản. Những người quốc gia có chấp nhận giải pháp ấy không?

- Một vấn đề cần soi sáng là luật bầu cử do ai soạn?

Luật bầu cử do quốc hội của CSVN hiện nay soạn.

Ðiều này không thể chấp nhận được, vì những kinh nghiệm đau thương mà những thành phần không cộng sản đã gánh chịu do những trò gian trá xảo quyệt của cộng sản, không cho phép họ phiêu lưu một lần nữa.

- Vậy cơ quan nào có đủ tín nhiệm của các thành phần trong xã hội đảm nhận việc này?

Ðó là bế tắc khó vượt qua của giải pháp thứ nhất.

b.) Giải pháp thứ nhì:

Ðể giải quyết bế tắc của giải pháp thứ nhất nêu trên, chúng tôi nhận thấy chúng ta có một cách hay nhất là trở về với hiệp định Paris, bằng cách thành lập một chính phủ lưu vong của miền Nam Việt Nam, hậu thân của Việt nam Cộng Hòa. Chính phủ ấy sẽ thảo luận với chính quyền cộng sản hiện nay và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đi đến việc soạn thảo luật bầu cử dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc

- Tại sao phải thành lập chính phủ lưu vong?

Xin thưa vì VNCH là một trong những thành phần đã ký hiệp định Ba Lê. Không có VNCH thì khó mà áp dụng hiệp định ấy được. Vì không có một tổ chức nào ở hải ngoại hoặc quốc nội có đủ tầm vóc để được các thành phần không cộng sản tín nhiệm. Chính phủ lưu vong là chất keo kết nạp tất cả các tổ chức không cộng sản lại. Chúng ta nên nhớ miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm chứ nền đệ nhị cộng hòa không bị giải thể (Xin xem bài Exposé de Mr Vũ Quốc Thúc, Président du Comité des Juristes Vietnamiens pour la remise en vigueur des Accords de Paris de 1973)

Ta vẫn còn quốc hội mặc dầu các thành viên, một số bị tù đày, một số di tản, một số đã qua đời, nhưng quốc hội miền Nam Việt Nam chưa bị giải tán. Thế thì nếu không có gì trở ngại, quốc hội của chúng ta vẫn có thể họp lại để thành lập chính phủ lưu vong với sự tham dự của các tổ chức chính trị ở hải ngoại cũng như quốc nội.

- Sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh có ảnh hưởng gì đến giải pháp thứ hai này không?

Sự trao quyền của Tổng Thống Trần văn Hương cho tướng Dương Văn Minh là vi hiến vì trong hiến pháp đệ nhị cộng hòa không có điều khoản nào cho phép Tổng Thống Trần Văn Hương làm như thế. Trái lại, điều 56.4 của hiến pháp đã chỉ định người thay thế Tổng Thống Trần Văn Hương, đó là Chủ Tịch Thượng Viện

- Nhưng sự trao quyền của Tổng Thống Trần Văn Hương cho tướng Dương Văn Minh đã được quốc hội lưỡng viện chấp thuận rồi kia mà?

Quốc hội lưỡng viện lúc ấy không thể nào sửa đổi hiến pháp. Hơn nữa chúng ta nên nhớ Tổng Thống Trần Văn Hương bị Dương Văn Minh và Ðại sứ Pháp Mérillon dối gạt là nếu tướng Dương Văn Minh thay thế Tổng Thống Trần Văn Hương thì cộng sản sẽ thương thuyết, tránh cho Saigon một cuộc tắm máu. Quốc hội lưỡng viện đã quyết định dựa trên tin tức sai lạc ấy. Mặt khác, trong lúc hỗn quan hỗn quân ấy, quốc hội không được triệu tập theo thể thức hiến định, không cần túc số. . .

Sự phê chuẩn của quốc hội qua một cuộc họp bất hợp hiến, không thể nào làm cho cuộc trao quyền vi hiến trở thành hợp hiến được.

- Giải pháp này có phát động hoặc kéo dài cuộc chiến tranh Việt Nam không?

Xin thưa là không, vì đó là cách duy nhất để thật sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Không thể nào kêu gọi người không cộng sản hòa hợp hòa giải với CS khi mà họ cảm thấy bị lừa gạt và hiếp đáp vì hòa ước Paris bị vi phạm vả lãnh thổ của họ bị xâm chiếm bằng bạo lực. Không thể nào yêu cầu nạn nhân tha cho hung thủ của một vụ xâm nhập gia cư bất hợp pháp khi hung thủ đó vẫn còn ở trong nhà và đang uy hiếp chủ nhà. Hung thủ cần phải rời khỏi nhà nạn nhân, đó là điều kiện tiên quyết cho mọi giải pháp hàn gắn cần phải có.

- Thời gian 25 năm có ảnh hưởng gì đến giải pháp này không?

25 năm tuy dài nhưng rất cần thiết để cho mọi sự lắng động xuống. Thời gian này đã làm dịu xuống các tình cảm quá khích như hận thù, phẫn nộ của bên thua cũng như kiêu căng, tự mãn của bên thắng. Bây giờ là lúc chúng ta phải dùng sự suy luận để giải quyết vấn đề VN.

25 năm tuy dài nhưng dư luận quốc tế không lúc nào thuận tiện hơn lúc này. Có nhiều biện pháp và thủ thuật để quốc tế không quên vấn đề VNCH, nhưng không tiện bàn nơi đây.

Ðã có nước bị chiếm đóng trong một thời gian rất dài - hơn 60 năm – đã “phục hồi” ví dụ Lettonie, Lithuanie, l’Estonie

Xin nhắc lại trong công pháp quốc tế không có vấn đề thời tiêu (prescription).

- Giải pháp này có ích lợi gì?

Một cái lợi không nhỏ là giải pháp này giúp chúng ta đặt vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa ra trước tòa án quốc tế. Việc này chính quyền CS hiện nay không làm được vì lý do sau đây:

Xin nhắc lại là ngày 4/9/58 Trung quốc tuyên bố nới rộng hải phận ra 12 hải lý chung quanh các đảo mà Trung quốc cho là của mình như Hoàng Sa và Trường Sa. Ðể trả lời, Thủ tướng cộng sản Phạm Văn Ðồng (1) đã tuyên bố ngày 14/9/1958 như sau:

“Nous tenons à vous informer solennellement que le gouvernement de la Republique Democratique du VN reconnait et approuve la déclaration faite le 4/9/1958 par le Gouvernement de la Republique Populaire de Chine sur sa decision prise au sujet de la mer territoriale de la Chine. Le Gouvernement de la Republique Democratique du Viet Nam respecte cette decision et donnera des instructions à ses organismes d’état responsables pour qu’ils respectent scrupuleusement en cas de contact en mer avec la Republique Populaire de Chine, la stipulation sur la largeur de la mer territoriale chinoise de 12 milles marins”

(Tạm dịch: Chúng tôi xin thông báo là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận và đồng ý tán thành lời tuyên bố ngày 4/9/1958 của chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về việc nới rộng hải phận của mình. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xin tuân theo lời tuyên bố ấy và sẽ ra lệnh cho các cơ quan chính quyền trách nhiệm tôn trọng tuyệt đối giới hạn 12 hải lý chung quanh hải phận của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trong những cuộc gặp gỡ trên biển)

Tệ hơn nữa, trong chiến tranh Việt Nam, Bắc Việt đã tuyên bố ngày 9/5/1965 chỉ trích Mỹ oanh tạc “một phần hải phận Trung Quốc chung quanh các đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa)” (Une partie des eaux territoriales chinoises contigues aux iles Xisha de la Republique Populaire de Chine)

Và liên tục nhật báo Nhân Dân năm 1969 và năm 1970 luôn luôn đề cập đến không phận Trung Quốc trên đảo Hoàng Sa.

Vì những lý do nêu trên, chính phủ CS hiện thời không đủ căn bản luật pháp để đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế, và nhất là không đủ phương tiện để phát động một cuộc hải chiến để dành lại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trớ trêu thay, đó là bế tắc mà chỉ có VNCH ta mới có thể gỡ rối vì VNCH luôn luôn chống đối chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo ấy. Ngày nào mà chính phủ VN không phải là một chính phủ hậu thân của VNCH thì ngày đó khó có thể tranh đấu trên căn bản luật pháp chủ quyền VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tác giả Frederic Lassere (2) đã viết: “Il est ironique de constater que, pour defendre ses revendications sur les Paracels et les Spratleys et prouver la continuité de l’occupation Vietnamienne, la RDV (Republique Democratique du VN) ait du prendre à son compte l’occupation de ces archipels par les garnisons Sud Vietnamiennes et les actes de revendication et d’annexion emis par Saigon, un gouvernement qu’elle ne reconnaissait pas et dont elle combattait l’armée”

Lời dịch: “Trớ trêu thay, để chứng minh chủ quyền của mình trên 2 quần đảo, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (chính quyền CS) phải nhờ đến những hành động của VNCH, một chính quyền mà họ không công nhận và đã chống đối bằng vũ lực”.

Tác giả Monique CHEMILLIER – GENDREAU (3) đã viết:

“Il n’en demeure pas moins que ce moment particulier dans l’histoire de la division du VN brouille la position Vietnamienne. Le Vietnam aujourd’hui réunifié (par la victoire du Nord) doit choisir à qui il succède sur ce point. La logique territoriale renforce une succession aux droits et actions du Sud Vietnam, seul competent d’une point de vue géographique”

Tạm dịch: “Nói cho cùng vì sự chia đôi Việt Nam đã làm lu mờ đi cái thế của VN. Việt Nam ngày nay thống nhất bởi sự thắng trận của miền Bắc phải chọn lựa coi mình là hậu thân của ai trên điểm này. Theo lô-gích thì phải là hậu thân của VNCH, chính phủ duy nhất có thẩm quyền chiếu về mặt địa dư”.

Vì vậy muốn tranh đấu hữu hiệu trên mặt pháp lý cho chủ quyền VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chính quyền VN phải có sự hiện diện của hậu thân VNCH. Sự có mặt ấy chỉ có thể có sau khi hiệp định Paris được thực thi một cách đứng đắn tức là sau một cuộc tổng tuyển cử dưới sự giám sát của quốc tế như đã được định trong hiệp dịnh Paris.

Muốn được như thế, người không cộng sản cũng như chính quyền CS hiện giờ cần đến sự có mặt của chính phủ lưu vong hậu thân VNCH.

PS:

(a) Chỉ cần một phần lãnh thổ cũ, chính phủ VNCH sẽ không còn là một chính phủ lưu vong không lãnh thổ.

(b) Chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa có khoảng 196 tỷ thùng dầu thô trị giá 5880 tỷ USD tính theo giá 30 USD mỗi thùng (4) (5)

(1) Beijing Review, 1980 : 21; Chang Teh-Kuang, 1991 : 417

Cộng sản VN có cố gắng bào chữa nói rằng lời tuyên bố của Phạm Văn Ðồng chỉ nhắm vào việc nới rộng hải phận ra 12 hải lý mà thôi. Theo Viet Nam Courrier “The Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes (Paracels and Spratly)” Ha Noi 9/1981: 46

(2) “Le dragon et la mer”, Stratégies geopolitiques chinoises en mer de Chine du Sud, Frederic Lasserre, Editon l’Harmattan inc, p.101

(3) “La souveraineté sur les archipels Paracels et Spartleys”, Monique CHEMILLIER – GENDREAU edition l’Harmattan, p. 123

(4) “China’s Push through the South China Sea. The interaction of bureaucratic and national interests” Garver John W. The China quartely 1992 p.999 sq

(5) “China’s Position towards territorial disputes. The case of the South China Sea Islands”, Chi Kim Lo, London Rontledge, 1989, p 125 sq.

==========================================================

XIN BAM VAO DAY DE KY TEN DOI PHUC HOI VNCH DE DOI LAI DAT, BIEN VA HAI DAO CHO VIET NAM
http://anhduong.info/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=1675&Itemid=1
————
Ý kiến:
Giải pháp này cũng nằm trong chiến lược Dân chủ hóa VN từng bước, từ Nam ra Bắc, khá vững chắc, dựa trên sự thật lịch sử, công pháp quốc tế, thời & thế & lòng dân đã đến và dành lại Hoàng Trường Sa từ tay TQ vì csvn ở thế “ngậm bồ hòn” Không thể nào lấy lại HS TS, cs đã âm thầm dâng bán cho TQ rồi !!!
Hãy cảnh giác : chúng ta đã và đang mất nước vào tay TQ, mà csvn đóng vai thái thú, cai thầu !!

The Daily: Chứng khoán VN đi xuống, giới đầu tư mua bán bằng những đồng bạc khiêm tốn

Bill Bonner, The Daily Reckoning Australia, 30/6/08, Khánh Ðăng lược dịch.

“Tôi, Franklin D. Roosevelt, Tổng thống Hoa Kỳ, tuyên bố rằng tình trạng khẩn cấp được đề cập vẫn tiếp tục tồn tại và theo đúng như đã đề cập …”

Với những lời bạo dạn như trên, vị tổng thống của thời kỳ kinh tế suy thoái của Hoa Kỳ đã mạo hiểm từ kém may mắn đến phản bội. Sắc lệnh do ông ta ban hành vào ngày 5/4/1933 để tịch biên vàng, tài sản hợp pháp của tư nhân, lúc đó được định giá là 20.67 Mỹ kim một ounce. Rồi vào tháng 1/1934, vị Tổng thống Hoa Kỳ lại sửa giá vàng lại ở mức 35 đô la. Ðột nhiên, đồng đô la Mỹ bị mất giá đến 69.3 phần trăm.

Không biết cái hành động ăn cắp trên toàn quốc này làm cho nền kinh tế được tốt hơn hay xấu đi thì chúng ta không thể nói được. Mãi cho đến sau Thế chiến thứ II thì nền kinh tế mới hoàn toàn hồi phục lại bước chân muà xuân. Và giá cổ phần chứng khoán Hoa Kỳ đã không quay trở lại tầm cao của năm 1929, cho đến năm 1950.

Nhưng khó mà có một hành động nào của chính phủ quá dại dột hoặc vụng về để các chính trị gia sau đó phải trình bày lại lần thứ hai. Tuần này, chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã bước vào một vị trí quan trọng. Việt Nam mới đây đã trở thành nước nhập cảng vàng thoi lớn nhất thế giới. Giới đầu tư và các gia đình mua thứ kim loại màu vàng này cho cùng một lý do giống nhau mà mọi người luôn luôn làm – như một cách để tự bảo vệ khỏi những tờ giấy lộn. Giấy lộn đề cập ở đây được gọi là “đồng”, đơn vị tiền tệ chính thức của nước CHXHCN Việt Nam. Mới gần đây, đồng bạc Việt Nam đã bị mất giá trị đối với giá tiêu dùng ở tỷ lệ 25 phần trăm một năm.

Cách đây một năm, một người đầu tư điển hình của Việt Nam có thể đến với thị trường chứng khoán vì sự an toàn … và tăng trưởng. Nhưng thị trường chứng khoán của Việt Nam sụt từng ngày vào tháng Năm và xuống đến gần 60% kể từ tháng Giêng. Hoặc có thể người đó đã mua bất động sản. Quỷ thần ơi, sự suy sụp kinh tế mới đây đụng vào thị trường bất động sản Hà Nội giống như những pháo đài bay B-52 của Richard Nixon. Giá các căn hộ (apartment) ở các trung tâm thương mãi, theo ngân hàng đầu tư Morgan Stanley thì cho đến nay đã rơi xuống còn phân nửa. Còn đồng đô la, một nơi ẩn náu chung của những