Hiến chương Liên Hiệp Quốc – Charte_des_Nations_unies
http://www.un.org/aboutun/charter
http://www.un.org/french/aboutun/charte/
http://fr.wikipedia.org/wiki/Charte_des_Nations_unies
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ch%C6%B0%C6%A1ng_Li%C3%AAn_Hi%E1%BB%87p_Qu%E1%BB%91c http://fr.wikipedia.org/wiki/Constitution
http://fr.wikipedia.org/wiki/Organisation_des_Nations_unies
July 9, 2008
Hiến chương Liên Hiệp Quốc
April 19, 2008
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN DỰ VÀ CHÍNH TRỊ (1966)
Lời Mở Đầu
Nhận định rằng con người có nghiã vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này.
Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây:
PHẦN I
Điều 1:
PHẦN II
Điều 2:
-
- Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được đền bù hay đòi bồi thường thỏa đáng khi những quyền tự do của họ bị vi phạm, dầu rằng người vi phạm là một viên chức chính quyền.
- Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được khiếu nại tại các cơ quan tư pháp, hành chánh hay lập pháp quốc gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền và phát triển quyền khiếu tố trước toà án.
- Bảo đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành nghiêm chỉnh những sự đền bù hay bồi thường đã tuyên
PHẦN III
Điều 6:
- Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán.
- Trong các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, toà án chỉ được tuyên án tử hình đối với những tội hình sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với những điều khoản của Công Ước này và của Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng. Hình phạt tử hình chỉ có thể được thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một tòa án có thẩm quyền.
- Điều luật này không cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này được giải trừ các nghiã vụ ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng.
- Các bị cáo bị tuyên án tử hình có quyền xin ân xá hay ân giảm hình phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm hình phạt có thể được ban hành trong mọi trường hợp.
- Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng không được thi hành đối với các phụ nữ mang thai.
- Điều luật này không thể được viện dẫn để trì hoãn hay ngăn cản việc bãi bỏ hình phạt tử hình tại các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này.
- Không ai có thể bị bắt làm nô lệ; chế độ nô lệ và mọi hình thức buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
- Không ai có thể bị bắt làm nô dịch.
-
- Không ai có thể bị cưỡng bách lao động.
- Khoản 3 (a) nói trên không được áp dụng tại các quốc gia trong đó luật pháp cho phép toà án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai.
- Trong phạm vi khoản này, không được coi là “lao động cưỡng bách“:
-
-
- Ngoài trường hợp nêu ở khoản (b) trên đây, những công tác hay dịch vụ mà các tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ chiếu theo một bản án hợp pháp của toà án, hay phải làm trong thời gian được phóng thích có điều kiện.
- Nghiã vụ quân sự, hay nghiã vụ quốc gia áp dụng cho những người được luật pháp cho miễn thi hành nghiã vụ quân sự vì lý do lương tâm.
- Nghiã vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe doạ đời sống hay sự an lạc của cộng đồng.
- Những nghiã vụ dân sự thông thường.
-
-
- Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, các bị cáo chưa được xét xử phải được giam giữ cách biệt với những người đã can án, và phải được đối xử theo quy chế của những người không can án.
- Các bị cáo thiếu nhi phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được xét xử trong thời hạn sớm nhất.
- Chế độ lao tù phải đặt trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ hội cải hoá và hội nhập vào đời sống xã hội. Các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn, và phải được đối xử tuỳ theo tuổi tác và tình trạng pháp lý của chúng.
- Mọi người đều bình đẳng trước toà án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghiã vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.
- Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.
- Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây:
-
- Được tức thì thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.
- Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị sự biện hộ và được quyền liên lạc với luật sư do mình lựa chọn.
- Được xét xử mau chóng, không diên trì quá đáng.
- Được hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ hay nhờ luật sư biện hộ do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này trong trường hợp tự biện hộ; và được quyền có luật sư biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật sư.
- Được đối chất với các nhân chứng buộc tội và được quyền đòi nhân chứng và chất vấn các nhân chứng gỡ tội cho mình, theo cùng một thủ tục.
- Được quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không hiểu ngôn ngữ của toà.
- Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.
- Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm.
- Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên toà trên theo thủ tục luật định.
- Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu huỷ hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đã bị phạt oan uổng, người bị kết án có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết, sở dĩ sự kiện mới này không được phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn tại vì bị cáo.
- Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đã được toà án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục hình sự hiện hành.
- Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
- Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.
- Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ.
-
- Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.
- Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.
- Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử quyền tự do lập hội của các giới quân nhân và cảnh sát.
- Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế.
- Không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản hay dòng dõi, các trẻ em, với tư cách vị thành niên, phải được gia đình, xã hội và quốc gia bảo vệ.
- Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi sinh, và được đặt tên họ.
- Trẻ em có quyền thủ đắc quốc tịch.
- Không bị kỳ thị (như đã quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lý, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội:
-
- Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn.
- Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri.
- Được quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
(Với sự tu chính của Uỷ Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam)
———-
http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill/phanmodau.htm
VNcs đã tham gia ký kết, cam kết tuân thủ TỪ LÂU !!
Có giá trị CAO hơn Hiến pháp QG;
Hiến pháp QG cao hơn luật pháp, nghị định, …
TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)
LỜI MỞ ĐẦU
Vì vậy,
ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.
Điều 1:
- Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.
- Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.
Điều 12:
-
Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
-
Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.
- Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
- Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
- Ai cũng có quyền có quốc tịch.
- Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.
- Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.
- Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
- Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.
- Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.
- Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.
- Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
- Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.
- Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.
- Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
- Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.
- Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.
- Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
- Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.
- Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.
- Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.
- Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.
- Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.
- Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.
- Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
- Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.
- Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
- Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.
- Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
(Phỏng theo bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền
với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền.)
———-
http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill/phanmodau.htm
VNcs đã tham gia ký kết, cam kết tuân thủ TỪ LÂU !!
Có giá trị CAO hơn Hiến pháp QG;
Hiến pháp QG cao hơn luật pháp, nghị định, …
————————— o —————————
- có nhiều điều mâu thuẫn, bất cập, vô lý, bất công
- vi phạm hiến pháp cs,
- vi phạm Hiến chương LHQ, Công ước quốc tế
- về mặt thực hành, thực tế: cs làm ngang, nói ngược, mờ ám
- Luật pháp cs nằm ở
cái miệng, luật rừng, bưng bít, bịt miệng, vu cáo, chụp mũ, lừa đảo, bạo lực khủng bố, côn đồ !
- Chính nhà nước cs vi phạm luật pháp cs, công pháp quốc tế.
- luật pháp cs là để bảo vệ độc quyền đặc lợi của đcsvn !!
- Nguyên nhân của mọi nguyên nhân :
Nước Không độc lập, dân không tự do, không hạnh phúc; (Lm NV Lý)
Chúng ta đang mất nước !!
Chiến lược ” tằm ăn dâu !!! ” của cs TQ,
Ai đã và đang thông đồng với cs TQ ? Hỏi là trả lời !
Dân tộc VN đã và đang đứng trước họa NỘI XÂM, NGOẠI XÂM !
(theo Hà Sĩ Phu, Trần Anh Kim, … và nhiều người )
February 19, 2008
MỖI BLOGGER HÃY LÀ MỘT NHÀ BÁO CÔNG DÂN
Báo chí là gì?
Báo chí xuất phát từ 2 từ báo và tạp chí, nói một cách khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ. Nhưng cũng để chỉ cả các loại hình truyền thông khác như đài phát thanh, đài truyền hình. Định nghĩa này cũng áp dụng được cho một tạp chí liên tục xuất bản trên web.
Báo chí là tên gọi chung của các thể loại thông tin đại chúng. Có những loại báo chí sau:
- Báo viết: Thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy. Ưu điểm: Tính phổ cập cao, có nội dung sâu, người đọc có thể nghiên cứu. Nhược điểm: Thông tin chậm, khả năng tương tác hai chiều (giữa người đọc và người viết) kém.
- Báo nói: Thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là radio bằng ngôn ngữ. Ra đời thế kỷ 19. Ưu điểm: thông tin nhanh. Nhược điểm: Không trình bày được các thông tin bằng hình ảnh(phóng sự ảnh) hoặc các thông tin có hình ảnh minh hoạ.
- Báo hình: Thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh qua thiết bị đầu cuối là máy phát hình (Đài truyền hình)và máy thu hình (Television). Ưu điểm: Thông tin nhanh. Khuyết điểm: Khả năng tương tác hai chiều chưa cao.
- Báo điện tử: Sử dụng giao diện Website trên internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh(video clip). Ưu điểm: Thông tin cập nhật nhanh, tính tương tác hai chiều cao. Khuyết điểm: Tính phổ cập yếu.
Có một công thức chung cho báo chí: Báo điện tử, phát thanh đưa tin, truyền hình phản ánh, báo viết bình luận. (Theo Wikipedia (Bách Khoa Toàn Thư Mở)).
Tin tức là gì?
Không phải lúc nào cũng định nghĩa được tin tức. Theo Tạp chí Nghề Báo, “tin tức cũng là những gì ảnh hưởng đến nhiều người. Có thể một trận lụt lớn phá hoại nhà cửa và mùa màng. Có thể giá dầu mỏ tăng, có nghĩa là chạy xe gắn máy sẽ tốn kém nhiều hơn. Thông thường những tin lớn nhất là những gì ảnh hưởng đến một số người đông đảo nhất.
Đôi khi, tin tức chỉ là những gì những người quan trọng, những người nổi tiếng nói hoặc làm. Đây là các nhân vật quyền thế vì vậy các ý kiến của họ được tường thuật rộng rãi hơn ý kiến của người dân thường.
Tin tức có tính cách nhất thời. Thông thường, tin tức là những gì xẩy ra hôm nay, không phải từ tháng trước. Độc giả muốn biết về những gì cập nhật nhất, và họ muốn biết càng sớm càng tốt. Nếu có đám cháy lớn xẩy ra trong thành phố, một phóng viên truyền hình phải lập tức tường thuật trong bản tin ngày hôm đó. Một phóng viên báo in phải viết bài cho ấn bản ra sáng hôm sau.
Tin tức là về những cuộc xung đột. Xung đột gây xáo trộn cho cuộc sống hàng ngày. Người ta xung đột với nhau để tranh dành đất đai. Các chính đảng ganh đua với nhau để nắm chính quyền. Các quốc gia xung đột với nhau trong chiến tranh. Tin tức cũng là về các khía cạnh địa phương. Ngừơi đọc muốn biết về các diễn biến xẩy ra ngay tại chỗ hoặc nơi gần chỗ họ sống.
Ví dụ: Một nhật báo tại Viên Chăn (Lào) chú trọng đến một trận lụt gần Viên Chăn. Báo này không chú ý đến lụt ở Bắc Kinh. Người đọc cũng muốn biết về các diễn biến ảnh hưởng đến những người giống họ. Người Lào để ý đến những gì xẩy ra cho những người Lào khác. Một chiếc máy bay bị rơi ở Trung Quốc có thể không được báo chí Lào tường thuật nhiều. Nhưng nếu có ba người Lào trên máy bay thì đó sẽ là một tin lớn.
Đôi khi tin tức là những gì hữu ích. Có thể là tin về cách kiếm việc làm mới. Hoặc tin về cách tập thể dục để giữ gìn sức khỏe. Rồi còn có các tin chỉ để giải trí. Các tin này gồm có các mẩu chuyện về súc vật, những hành động buồn cười của người này hay người kia, tiến triển của việc quay một cuốn phim mới, và cứ thế.v.v….”
Có thể nói, tin tức là những dữ kiện quan trọng hay đáng để ý, được một số đông người quan tâm. Những tin này khác với những điều thông thường xẩy ra hàng ngày. Tin tức cũng là những gì khác thường. Một định nghĩa lừng danh về tin tức là: “Một con chó cắn người không phải là tin, nhưng nếu một người cắn chó thì đó là tin”. Một tin trên trang nhất của nhật báo Bangkok Post kể lại rằng một người đàn ông bị bắt vì ông đã cắn vào cổ con chó của ông ta. Người này muốn chứng tỏ ông là chủ của con chó.
…
Mọi công dân đều có quyền thông tin
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin không phải là đặc quyền đặc lợi riêng của những người đang được công nhận là nhà báo, phòng viên của một tờ báo, tạp chí, đài phát thanh truyền hình hay một cơ quan ngôn luận nào đó.
Điều 69 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định:
“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Nền tảng của những chuẩn mực quốc tế về truyền thông là Điều 19 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Mọi người đều có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm quyền tự do bày tỏ quan điểm mà không bị can thiệp và quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, truyền đạt thông tin và ý tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn”.
Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1977, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi và luật hóa những điều khoản của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền, cũng như Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà chính quyền Việt Nam đã ký kết ngày 24/9/1982. Hiện nay Việt Nam lại là thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nên Nhà nước Việt Nam phải thực hiện Hiến chương Liên Hiệp Quốc cũng là điều tất nhiên, và điều này cũng phù hợp với Hiến pháp Việt Nam.
Theo Bách Khoa Toàn Thư mở, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là tuyên ngôn đưa ra một quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm,…
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.
Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết “Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này”.
Nguyên tắc cơ bản của báo chí văn minh: Thông tin nhanh, nhạy, chính xác, khách quan, trung thực.
Khi thông tin một sự kiện, vụ việc nào đó công khai cho nhiều người biết, bạn phải có trách nhiệm với thông tin do mình đưa ra. Người xưa có câu: “Danh chính, ngôn thuận”, “Danh bất chính, ngôn bất thuận”. Nếu bạn dùng họ tên, địa chỉ thật của mình để thông tin, điều đó có nghĩa là: Tôi, một con người thực, hiện diện ở một thế giới thực, một công dân lương thiện, tôi thông tin đúng sự thật và tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều tôi viết. Qua đó, sẽ tăng độ tin cậy của thông tin đối với người đọc. Về lâu dài, chính tên (hoặc bút danh) của bạn sẽ là “thương hiệu uy tín” đảm bảo cho sức nặng lời nói của bạn với công chúng.
Thông tin bạn đưa ra cần phải đảm bảo trả lời đầy đủ những câu hỏi: Ai? Việc gì? Ở đâu? Thời gian nào? Nguyên nhân? Kết quả (hoặc hậu quả)? Có ai biết? Nhận xét hoặc bình luận của bạn (có thể có hoặc không có ý này). Kèm theo bài viết là hình ảnh, video, ghi âm… để đảm bảo nguồn cung cấp thông tin là có thật, tránh mọi trường hợp khiếu kiện về sau. Bạn có thể đưa kèm những hình ảnh, video, ghi âm… này kèm bài viết hoặc cứ giữ riêng, khi cần thiết mới cung cấp cho cơ quan chức năng.
Năm 2008: Thời của bùng nổ, công khai, minh bạch hóa thông tin
Khi chính sách đẩy mạnh sự phát triển của hệ thống mạng Internet thâm nhập vào đời sống xã hội Việt Nam để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, đồng thời Nhà nước Việt Nam cũng phải chấp nhận sự bùng nổ thông tin trong đời sống xã hội khi mà mọi thông tin, sự việc, sự kiện ai cũng có thể tìm thấy hàng loạt trên mạng Internet.
Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, dấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước.
Riêng trong năm 2007, qua mạng Internet, người dân Việt Nam đã được biết sự kiện hồi tháng Bảy, các cuộc biểu tình của nông dân khiếu kiện từ các tỉnh lên TP Hồ Chí Minh đã làm dư luận phải để ý đến số phận của tầng lớp bị thua thiệt trong cuộc cải cách kinh tế. Sau nông dân đến trí thức và thanh thiếu niên thành thị xuống đường dồn dập trong hai đợt ngày 9 và 16.12.2007 để bảo vệ Hoàng Sa-Trường Sa, kéo theo sự ủng hộ rộng khắp của người Việt ở nước ngoài, phản đối Trung Quốc lập thành phố Tam Sa.
Hay sự việc hơn 4.000 giáo dân cầu nguyện đòi Nhà nước trả lại Tòa Khâm sứ Hà Nội là tài sản của Giáo hội khiến ngày 30/12/2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải đích thân đến gặp gỡ trao đổi với Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.
Đây là những thông tin tiêu biểu mà hơn 700 tờ báo trong nước không hề nhắc đến dù chỉ một dòng.
Cơ quan truyền thông quốc tế BBC (Anh Quốc) nhận xét:
“Chính sự có mặt của nông dân khiếu kiện tại các đô thị đã đánh thức trí thức và giới trẻ ở những thành phố lớn về các vấn đề của cả nước.
Phản đối Tam Sa tuy khác khiếu kiện đất đai nhưng đều là kết quả của sự bùng nổ thông tin.
Nông dân đi kiện ý thức được việc trả lời đài báo và kêu gọi dân thành thị ủng hộ, còn cuộc biểu tình chống Tam Sa được tổ chức hoàn toàn qua mạng Internet, các blog và điện thoại di động.
Giống như cải tổ kinh tế ở Việt Nam giữa thập niên 1980, nay người dân đang tự “phá rào” để đòi các quyền như biểu tình và phát biểu chính kiến”.
“Dù chất lượng không đồng đều, từ chuyện nhảm nhí cho đến nghiêm túc nhưng kênh thông tin vừa riêng tư, vừa công khai này đã bổ sung nhiều cho truyền thông chính ngạch. Blog cũng là nơi kết nối người Việt trong và ngoài nước. Xu hướng dùng blog gia tăng đã thách thức các nhà kiểm duyệt và sẽ còn tiếp tục trong năm 2008”.
Xây dựng xã hội dân sự: Mỗi blogger hãy là một nhà báo công dân
Wikipedia định nghĩa: Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung. Xã hội dân sự là một xã hội mà ở đó người dân biết tự lo lấy cho mình rất nhiều chuyện, biết tự tổ chức lại để phát huy năng lực sáng tạo, hiện thực hóa các ý tưởng và để tương tác với nhà nước nhằm đạt tới một nền quản trị quốc gia minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm.
Khát vọng về dân chủ và công bằng vốn nung nấu từ lâu trong lịch sử loài người. Có dân chủ mới thực hiện được công bằng, đồng thời công bằng là thước đo của dân chủ và tiến bộ xã hội. Điểm quy chiếu để kiểm nhận về công bằng và dân chủ mà một xã hội đạt được thường tìm thấy dễ dàng trong pháp luật. Cũng qua sự hiểu biết của người dân về pháp luật và việc thực hiện pháp luật, người ta có thể kiểm định về trình độ văn minh của một xã hội. Khi chúng ta đang phấn đấu cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì cần phải tường minh về những vấn đề đó.
Vấn đề cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở trên nhà nước. Trong Nhà nước của pháp quyền đó, phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau, cơ quan nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm, và để đảm bảo dân uỷ quyền mà không mất quyền thì công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…
… Xã hội dân sự là đối tác bình đẳng của nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước, về thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện chính sách và giám sát nhà nước, thực hiện phản biện xã hội đối với Nhà nước, kể cả đối với phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội… vai trò của cá nhân ngày càng được nổi bật, ngày càng được tôn trọng. Theo đó, vai trò của xã hội dân sự càng được xác lập, đặc biệt là từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi. Xã hội dân sự nổi bật lên với nhiều tác dụng nhưng tóm tắt lại, điều quan trọng nhất cần hiểu rõ, thì đó chính là đối tác bình đẳng của Nhà nước không phải là cái đuôi của Nhà nước. Nó giữ vai trò là đối quyền của quyền lực Nhà nước mà về thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối Nhà nước, kể cả phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước. Chỉ riêng với nét tóm tắt ấy cũng thấy là, để thực hiện vai trò làm chủ của người dân, thì tổ chức tốt xã hội dân sự sẽ là một đảm bảo quan trọng và thiết thực cho hoạt động ấy.
Khi mà chúng ta đang chứng kiến nhiều tổ chức, đoàn thể quần chúng đã không phát huy được vai trò vì gần như bị “Nhà nước hoá” tất cả thì đã đến lúc vấn đề “xã hội dân sự”, một đặc điểm của xã hội hiện đại và văn minh, cần được đặt ra một cách nghiêm túc cùng với việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Trước mắt, công việc này chắc sẽ có tác dụng trực tiếp và lâu dài đến việc việc chống “quốc nạn” tham nhũng đang là bức xúc của mọi người dân.
Xã hội công bằng, dân chủ và văn minh mà chúng ta đang hướng tới cần phải xây dựng trên nền tảng vững vàng của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự”. (Theo Gs. Tương Lai – Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp).
.
Nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” thoạt nghe rất hay, rất có lý, nhưng nếu thông tin không được công khai, minh bạch, sự việc cứ bị bưng bít, dấu nhẹm, không ai được biết, không biết thì lấy gì mà bàn, lấy gì để kiểm tra. Vì vậy, quyền được biết là quyền cơ bản đầu tiên của công dân khi tiến tới một xã hội dân sự.
Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.
Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.