Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 5, 2008

Nông thôn Việt nam: Từ thở dài đến tiếng thét !

Nông thôn Việt nam, nông dân Việt nam đang kêu cứu.

 

Sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lúa, hoa màu tăng khá, hàng năm xuất khẩu 5 triệu tấn gạo, thu về hàng tỷ đôla, thủy sản, càphê, hạt điều đều tăng khá mạnh, thế nhưng nông dân vẫn kêu khổ, khổ lắm.

Hằng ngày, hàng vạn, hằng vạn nông dân đổ vào thành thị kiếm việc, từ làm thuê gánh mướn, đi ở, làm ôxin, hoặc rủ nhau lên biên giới làm cửu vạn, gùi hàng cho bọn buôn lậu, cho bọn cường hào địa phương. Hàng vạn, hàng vạn con gái nông thôn vùng sông Cửu long thất học nhà nghèo là nạn nhân của bọn buôn người, bị đưa sang Cambốt, Mãlai, Trung hoa, Đài loan, Nam Hàn làm người ở, làm nhân công rẻ mạt, làm gái điếm, vợ hờ, nạn nhân của vô vàn công ty tuyển mộ lao động được các quan chức quyền cao chức trọng bảo kê để chia lãi trên muôn vàn thống khổ, máu và nước mắt của bà con nông dân. 

*  Thở dài và hú hồn…

Bi kịch của nông dân thời đổi mới kể ra không xiết. Các bạn hãy đọc báo trong nước, có thể nghe vọng đến từ hang cùng ngỏ hẻm nông thôn những tiếng khóc nức nở, những tiếng thở dài não nề của bà con nông dân ta. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều gắn bó với vùng Mỹ Đức sông Đáy mới được nhập vào thủ đô Hànội viết trên báo Tuổi trẻ báo động khẩn cấp về chất lượng sống của nông thôn, nơi xuất hiện một số làng ung thư, nhiều vùng phải dùng ”nguồn nước của Thần Chết”, nhiều nơi kiếm không ra một kỹ sư nông nghiệp, buộc già trẻ lớn bé nô nức bỏ quê đi tha hương kiếm sống lay lắt.

Nhà báo Lãng Quân trên Viêttimes đau lòng tả cảnh nông thôn trở thành ”thùng rác khổng lồ” cho các đô thị, vùng công nghiệp mới, nơi người lớn đến trẻ thơ vô tư tiêu thụ những thực phẩm, bánh kẹo, mứt rượu, que kem cực kỳ độc hại vì pha hóa chất rẻ hơn bèo để chuốc lấy cái chết tập thể, từ từ, chắc chắn, sau khi làm giàu cho bọn con buôn mất hết tính người từ thành thị và từ nước bạn vĩ đại đổ hàng về như nước lũ. Nhà báo Xuân Nam sâu sắc hơn thốt lên lời than về nền văn hóa làng xưa kia đậm đà thơm tho là thế, với hoa bưởi, vườn dâu, giếng nước, sân đình, tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, nay tan biến, nhường chỗ cho xì ke, đĩ điếm, xiđa, bia ôm, nhà chứa từ phố phường tràn về cùng xe gắn máy, quạt điện, tivi, nhà gạch tường cao có gắn mảnh chai…Bài báo kết luận bằng tiếng hú van gọi ”hồn vía quê hương xưa hãy trở về với làng quê thanh bình”, cứu vớt gấp bà con nông dân chìm đắm trong cảnh đổi mới oái oăm mù quáng đang tàn phá nông thôn đến tận gốc gác văn hóa sâu thẳm nhất.

 

 

 

Giáo sư Tương Lai trưởng thành từ đất kinh kỳ Huế Đẹp và Thơ cũng góp tiếng thở dài về hiện tình Nông nghiệp, Nông thôn và Nông dân; ông kéo chuông cảnh báo về nạn thất nghiệp giáng xuống hơn 10 triệu lao đông nông thôn chưa có lối thoát, về thảm trạng lao đông nông nghiệp sang thế kỷ 21 cơ bản vẫn là con trâu kéo cầy, người nông dân vẫn chân lấm tay bùn, mỗi năm nông thôn bị thiến hơn 70 ngàn héc-ta màu mỡ cho các khu công nghiệp và cả hàng chục bãi chơi gôn cho các nhà giàu và quan chức chơi sang, nông dân còn phải è cổ ra đóng góp từ 28 đến 30 khoản thuế, phụ phí, quyên góp… về an ninh, quốc phòng, giao thông, trường học, y tế, thủy lợi, bảo vệ thực vật, đê điều, môi trường, vệ sinh, tương trợ, khuyến học, văn hóa, kỷ niệm, cúng lễ . 

 

* Đền ơn trả nghĩa, bỏ rơi hay bạc đãi?

 

Đảng cộng sản luôn đề cao mối quan hệ ”máu thịt” giữa đảng với nông dân, nhấn mạnh mối ”liên minh công nông”, còn hứa hẹn xây dựng nông nghiệp hiện đại, nông thôn thịnh vượng. Vậy vì sao có những tiếng thở dài bi đát, tiếng hú gọi hồn vía nông thôn xưa hãy trở về, lời trách móc nặng nề trên đây? Đảng từng đề cao nông thôn là hậu phương vững chắc của chiến tranh, ca ngợi nông dân đóng góp biết bao người và của cho cuộc chiến, từng hứa hẹn đền đáp xứng đáng với những đóng góp ấy. Vậy mà sao đảng CS lại để nông thôn tàn lụi, nông dân đói khổ, nông nghiệp điêu tàn như hiện nay.

Mấy chục năm nay, kể từ khi đổi mới năm 1986, đảng từng ra nghị quyết về văn hóa, về đội ngũ trí thức, về giai cấp công nhân, về kinh tế biển, nhưng chưa một lần bàn bạc cho kỹ về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân. Rõ ràng Nông dân đã và đang bị bỏ rơi, còn bị bạc đãi, người dân ở làng quê ngày càng đói khổ, còn bị cường hào mới bóc lột thậm tệ, nông thôn bị thành thị bỏ xa về mọi mặt, tỷ lệ đói khổ ở nông thôn tăng nhanh, tệ nạn xã hội và rác rưởi công nghiệp đang làm ruỗng nát cuộc sống ngột ngạt ở nông thôn đang ở trong vòng tử địa. Nghịch cảnh nhà thơ Bùi Minh Quốc mô tả bà mẹ từng đào hầm nuôi dưỡng và che chở cán bộ nay đội đơn khiếu kiện hàng trăm lần vẫn bị đứa con xưa làm ngơ, hình ảnh trớ trêu ấy đang lắp đi lắp lại ngàn vạn lần, tiêu biểu cho chính sách bất nhân thất đức của đảng cộng sản vô ơn bạc nghĩa đối với vô vàn ân nhân của chính mình. Giữa Quốc hội đang họp, đã có ai là đại biểu nông dân ? nói lên tiếng nói của 75% số dân, nguyện vọng, cảnh lầm than và vô vàn bức xúc của họ ? không, không có ai cả. Nông dân là công dân loại 2, không có đại diện, không có tiếng nói, hàng vạn ”dân oan ” đến kêu cứu trước Quốc hội đã bị công an [ là bạn dân (!) ] xua đuổi xuống tận Cầu Giấy rồi! 

 

* Việc chuẩn bị sửa đổi luật đất đai năm 2008Ban bí thư và bộ chính trị trung ương đảng CS đang chuẩn bị sửa đổi Luật Đất Đai vào năm nay. Hai cuộc họp vừa được tiến hành ở Hànội và Sàigòn, do Bộ Tài nguyên và môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì. Các nhà luật học và các chuyên gia nông nghiệp đều biết ở Việt nam, suốt mấy chục năm nay, không có gì phức tạp, rối rắm, kỳ quặc đến phi lý như những bộ Luật về Đất Đai (LĐĐ). Nào là LĐĐ 1987, LĐĐ 1993, rồi LĐĐ 1998, rồi lại LĐĐ 2003. Bên cạnh 4 bộ luật vốn đã rắc rối lại thêm không biết bao nhiêu Nghị định bổ sung, sửa chữa từ Nghị định 64/CP tháng 9-1993, NĐ 88/CP tháng 8-1994, NĐ 11/CP tháng 1-1995, NĐ 09/CP tháng 2-1996 cho đến những NĐ 69/CP tháng 11-2000, NĐ 68/CP tháng 10-2001 … Sinh viên trường luật nghiên cứu luật ĐĐ cứ như chui vào đường hầm bát quái mịt mùng, sinh viên nước ngoài càng chịu chết cứng vì nó không giống với luật ĐĐ bất cứ nước nào khác. Năm nay bộ phận trù bị lại đề nghị sửa 8 nội dung luật ĐĐ về : quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất; giá đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền đất; thời hạn sử dụng đất; cổ phần hóa lên sàn giao dịch chứng khoán; thủ tục hành chính quản lý sử dụng đất; quản lý, phát triển thị trường bất động sản.

 

 

 

Từ trong nước, nhiều ý kiến vang lên nhân dịp này, mạnh dạn yêu cầu : thôi, không cải lương nữa, không sửa chữa bổ sung gì nữa, bỏ hẳn Luật ĐĐ phi lý đi vì nó hỏng từ gốc. Cả 4 bộ luật ĐĐ 1987, 1993, 1998, 2003 đều hỏng, đều sai từ gốc. Nỗi khổ nhục của nông dân, sự tàn phá vật chất và tinh thần ở nông thôn, sự lạc hậu liên miên của nông nghiệp suốt mấy chục năm nay đều bắt nguồn từ những bộ Luật phi lý ấy.

Nó bắt nguồn từ năm 1987 đảng CS ngang nhiên tuyên bố xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, quyền sở hữu được thiết lập từ xa xưa, được luật pháp thời phong kiến và cả thời thực dân tiếp nối bảo hộ nghiêm chỉnh, được chính bản Hiến pháp năm 1946 long trọng công nhận và bảo vệ.

Từ xa xưa, thời cổ đại, ở Trung quốc, Nhật bản hay ở La mã, Hy lạp, các nhà làm luật đầu tiên đều cho rằng con người nguyên thủy đã khai phá thiên nhiên hoang dã, từ rừng rú đầy rắn rết, thuồng luồng cá sấu, trăn voi hùm beo hung dữ, chuyển dần nền kinh tế săn bắt thành nền kinh tế nông nghiệp, và công nhận quyền sở hữu ruộng đất chính đáng cho những người đã có công khai phá.

Cái mưu mẹo, cái mánh khóe, cái gian xảo của đảng CS là đã bịa ra ” quyền sở hữu của toàn dân ” nhằm tước đoạt quyền tư hữu chính đáng của nông dân, rồi họ đứng ra vỗ ngực tự xưng là đại diện cho toàn dân, nắm chính quyền của nhân dân, thế là ”a-lê hấp ” từ hai bàn tay trắng họ nắm trọn ruộng đất trong cả nước, không phải tốn đến một giọt mồ hôi.  

* Những em sinh viên ”hậu sinh khả úy”:

Tháng 7 năm 2007, khi hàng ngàn nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long kéo đến trước Văn phòng Quốc hội ở Sàigòn để khiếu kiện dài ngày, nhóm sinh viên Hà Đông Xuân-Trần Hiền Thảo gửi bài báo đăng trên mạng Đối Thoại có đầu đề: ”Về chính sách Đât đai của đảng CSVN”.

Bài báo có đoạn viết: ” Một vị thuộc thế hệ ông bà chúng tôi nói mỉa mai: đảng CS xuất xứ vô sản làm gì có đất đai phân phát cho dân khi nào mà nay mỗi khi lấy đất của dân lại dám dùng từ ”thu hồi”? luật Đất Đai mang tính phản động vì nó tước đoạt quyền tư hũu đất đai của người dân, do vậy nó chống lại giai cấp nông dân đông đảo”. Các em sinh viên trẻ có suy nghĩ rất hay :” Cuộc Đổi Mới 1986 không phải do đảng đề xướng mà đúng ra là đảng đành thoát hiểm bằng cách theo đuôi những sáng kiến ”xé rào” của dân; nội dung Đổi Mới chẳng phải cái gì khác, mà chính là Sửa Sai, nghĩa là từ bỏ những nguyên lý thép về Chủ nghĩa Xã hội do các bạo chúa Stalin và Mao dày công dạy dỗ. Trong đảng luôn có giằng co miễn cưỡng khi từng bước phải từ bỏ các nguyên lý giáo điều. Những gì thuộc CNXH bị đảng từ bỏ thì đã rõ; đó là mảng cực lớn, lớn như cả cái áo so với cái nút áo. Trước tình hình này, giới bảo thủ trong đảng teo tóp lại, nhưng quyền uy vẫn còn rất lớn nên càng đi vào con đường phản động, cố thủ trong 2 cái lô cốt cuối cùng là cái đuôi XHCN trong kinh tế thị trường và coi Đất đai là sở hữu toàn dân do đảng thống nhất quản lý. Tuy nhiên 2 cái lô cốt này đã rệu rã trước cơn phong ba dân chủ hóa và toàn cầu hóa ! ”. Những nhận định sâu sắc, xác đáng, rất thực tế, của các em sinh viên trẻ thông minh .

Còn đây nữa, bài viết của em sinh viên ngành luật Đỗ Thúy Hường có đầu đề ”Tôi tìm hiểu Luật Đất Đai ” đăng trên mạng Lên Đường của Tập họp Thanh niên Dân chủ, tôi muốn mời các nhà luật học, các vị đại biểu quốc hội, các quan chức bộ Nông nghiệp và Xây dựng nông thôn, bộ Tài nguyên và Môi trường đọc kỹ để biết hôm nay tuổi trẻ, hậu sinh nước ta khả úy – và khả ái – đến mức nào!

Cô sinh viên mở đầu bài đã tỏ rõ thái độ : ” Tôi xin chia sẻ những gì tự tìm hiểu về cái bộ luật mất lòng dân này ”. Một thái độ ngay thật thẳng thắn đáng quý. Điều rất lạ, lại rất vui là em Hường có ông nội từng tham gia soạn thảo bộ Luật ĐĐ 1993. Và có vẻ như ông nội nay cũng cùng lập trường với cháu, càng thêm thú vị. Hường nhận xét : ” Đồng bào khiếu kiện triền miên, nhiều bạn nghĩ là do tổ chức đảng ở địa phương lộng hành. Nghĩ vậy không sai, nhưng chưa đủ. Cái gốc là do Luật ĐĐ đã truất quyền sở hũu đất của dân, từ đó cán bộ mới có thể hà hiếp dân”. Em Hường khẳng định : ”LĐĐ ở Việt nam đã gây đau khổ, oan khiên cho hàng chục triệu người, nhất là nông dân, kể từ khi nó ra đời (1987). Chính nó giúp tham nhũng tăng lên gấp 4 lần và mỗi năm rót 10% GDP vào túi bọn tham nhũng hoặc lãng phí. Hoàn toàn có cơ sở để đạo luật này bị gọi là sản phẩm của tư duy phản động ”.

Em sinh viên trẻ Đỗ Thúy Hường bẻ gãy hoàn toàn lập luận của đảng CS khi dựng lên Luật ĐĐ năm 1987, với đoạn luận văn chặt chẽ như sau :

     ” Đảng ta (xin châm chước và thông cảm cho em khi em còn dùng từ ”ta” này) giải thích sự tước bỏ quyền sở hũu đất đai của dân bằng lý sự như sau : đất đai là kết quả của một quá trình chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc chứ không của riêng ai. Tách khỏi những điều kiện của Nhà nước, của cộng đồng, thì không một cá nhân nào có thể khai phá và giữ gìn bất cứ mảnh đất nào để rồi sau đó nói nó hoàn toàn là của mình. Có chăng, ở đây họ chỉ có công khai phá và xử dụng nó.

Ai có công chống ngoại xâm? Đương nhiên, chúng ta phải học lịch sử đảng để hiểu rằng đảng có công chống Pháp và Mỹ. Nhưng đảng cấm chúng ta nghĩ rằng sự nghiệp chống ngoại xâm là của toàn dân và có từ thời Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… và sau khi đuổi giặc thì người dân thời xưa vẫn có quyền sở hữu đất. Quyền này vẫn được thừa nhận trong 80 năm thực dân Pháp chiếm nước ta. Ấy vậy mà sau khi đuổi được thực dân Pháp thì đảng lại lý sự rằng không cá nhân nào có quyền sở hữu đất đai. Đang là chủ sở hữu, người dân trong nháy mắt chỉ còn có ”quyền sử dụng”, trong khi đó, đảng vô sản vốn chẳng có tý đất nào ban phát cho dân bỗng nhiên trở thành người có quyền ra lệnh ”thu hồi” (!). Dùng từ ”thu hồi” trong LĐĐ chẳng lẽ không nói lên điều gì về não trạng của đảng CS ? 

* Lẽ ra… lẽ ra …

Có 2 chuyện ”lẽ ra” đựơc nhiều nhà luật học và sinh viên ngành luật trong nước nêu lên một cách xác đáng. Lẽ ra ngay từ năm 1986 khi bắt đầu Đổi Mới, đảng CS đã phải sòng phẳng trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân và giải thể các hợp tác xã, sau khi thừa nhận công cuộc hợp tác hóa do đảng CS ép buộc đã tàn phá nền sản xuất nông nghiệp đến mức nào, khi người nông dân sống lay lắt chỉ nhờ vào 5% mảnh đất riêng tư còn lại, còn nếu trông vào 95% ruộng hợp tác hóa thì chỉ có ăn cám, theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Vậy mà đảng CS vẫn ngang ngược tiếp tục chính sách tàn phá nông thôn bằng chính sách còn độc địa tệ hại hơn nữa là truất bỏ quyền sở hữu vốn có từ ngàn xưa của nông dân ta, dựng lên cái quyền sở hữu mơ hồ gọi là ”của toàn thể nhân dân”, nghĩa là không của ai cả, để đảng CS tự nhận là thay mặt nhân dân nắm hết. Không phải ngẫu nhiên mà mấy năm nay các dòng họ lớn ở đồng bằng sông Hồng và Trung bộ viết lại đầy đủ gia phả hằng 18, 19 cho đến 25, 26 đời của họ mình, kể lại trước đây mỗi  dòng họ đều có từ vài mẫu đến vài chục mẫu ”Tự điền” luôn được coi là thiêng liêng vì hoa lợi được chuyên dùng vào việc cúng bái, tế lễ, thừa tự, sửa sang mồ mả của tổ tiên và ông cha; nhiều cuộc họp dòng họ gần đây đặt vấn đề yêu cầu đảng CS trả lại những ”Tự điền” cho các dòng họ, cùng với những ”Học điền” mà các dòng họ lớn để dành cho việc khuyến khích con cháu học giỏi đậu cao thành nhân tài cho đất nước. Xưa kia, những Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Dương Lâm và Dương Khuê  đều được nuôi dưỡng và thành tài nhờ những thửa ruộng ”Học điền” quý báu như thế.

Đảng CS đến nay còn khẳng định việc tiêu diệt ”Tự điền””Học điền” như thế là chính nghĩa và hợp lẽ phải hay không?

Lẽ ra, năm 2006 khi Việt nam được nhận vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, đảng CS phải trả lại cho nông dân quyền sở hữu ruộng đất, khi Việt nam cam kết sửa đổi các điều luật không thích hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Theo luật pháp quốc tế phổ biến, làm gì có cái ”quyền sở hữu của toàn thể nhân dân”! làm gì có những chuyện rối rắm kỳ quặc về ”quyền sử dụng đơn thuần”, về ”quyền thu hồi ”, ” về đền bù ”, ” bồi thường và giải tỏa ”, chuyện thu hồi như cướp giật, giá đền bù bèo bọt, giá bán sau đó gấp 1 trăm đến 200, có khi 500 lần giá đền bù, để cho dân gọi quan chức đảng là bọn cướp đất, địa tặc, bọn cộng đớp và cộng mút của cải của nhân dân.

Điều phi lý khổng lồ đang nổi lên là công bằng xã hội, là bình đẳng xã hội giữa các tầng lớp và giai cấp. Vì sao đảng đã trả lại cho thương nhân, cho tư sản thương nghiệp và tư sản công nghiệp quyền sở hữu tư nhân về hàng hóa, cửa hàng, công ty, xưởng máy, xí nghiệp, cơ sở dịch vụ, kho hàng, mà riêng đối với nông dân vẫn một mực truất bỏ quyền sở hũu tư nhân, đày đọa nông dân phải chịu mãi mãi cuộc đời vô sản làm thuê cho đến mãn kiếp. Ruộng đất do ông cha nông dân khai phá, là đối tượng lao động bức thiết của nông dân mà không trả lại cho nông dân hiện thời quyền sở hữu, đảng CS không còn có một lý do nào có thể đứng vững .

* Năm 2008: năm đòi lại quyền sở hữu chính đáng

Tình hình đã chín cho cuộc đấu tranh dành lại quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất của bà con nông dân ta. Mong rằng nông dân cả nước tận dụng thời cơ đảng CS đề ra việc bổ sung Luật Đất Đai năm 2008 này để nói lên yêu cầu khẩn thiết chính đáng của mình. Hàng vạn, hàng vạn dân oan trong Nam, ngoài Bắc, dọc Trường Sơn, trên Việt Bắc, xuyên Trung bộ mấy năm qua là những cuộc đấu tranh dạo đầu cho cao trào năm 2008 này. Hãy từ chối dứt khóat mọi ý kiến bổ sung mang tính chất vá víu cải lương lừa mị. Hãy tập trung vào đòi hỏi cơ bản là xóa bỏ hẳn các Luật ĐĐ hiện hành phi lý và phi pháp, trái với luật pháp quốc tế, trái đạo lý, phi nhân tính, nguồn gốc của nghèo đói, của quốc nạn tham nhũng; hãy đòi một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc về quyền sở hữu ruộng đất ở nước ta; hãy đòi một cuộc thảo luận rộng rãi tại quốc hội về vấn đề hệ trọng này, tại đó phải có tiếng nói của đại diện nông dân mọi miền của đất nước. Hội nông dân VN hiện chỉ là cái bóng mờ nhạt kiểu tay sai của đảng.

Các anh chị em trí thức, các bạn trẻ sinh viên, học sinh xuất thân từ nông thôn hãy ủng hộ mạnh mẽ nông dân nước ta, giúp nông dân những công việc thiết thực, ra báo và phát hành báo viết, ra báo mạng về nông thôn, cho bà con nông dân đọc, truyền tay ở nông thôn, tổ chức thật nhiều hội nông dân đòi quyền sống, đòi quyền làm chủ ruộng đồng, tố cáo bọn cường hào mới, bọn cướp đất, cướp ruộng, cướp rừng, tổ chức hội thảo về hiện tình nông thôn, về mối quan hệ giữa đảng CS và nông dân, về người nông dân mới. Trong các hội thảo, xin hãy nói thật nói thẳng, không quanh co, rằng đảng CS đã tàn phá nông nghiệp 3 lần cực nặng nề : trong Cải cách ruộng đất (1954-1956) đã khủng bố giết hại 20 ngàn nông dân yêu nước có bản lĩnh nông nghiệp bị gán cho là cường hào ác bá theo lệnh của ”cố vấn” Tàu; trong Hợp tác hóa cưỡng bức (miền Bắc 1961 – 1986; cả nước 1975-1986) đã bần cùng hóa nông thôn đến mức tận cùng; và từ 1987 đã độc đoán truất bỏ quyền sở hữu ruộng đất vốn có từ ngàn xưa, làm cho nông dân phần lớn trắng tay biến thành vô sản, nông thôn mất linh hồn, suy đồi về văn hóa, biến thành thùng rác khổng lồ của thành thị và khu kinh tế, nhiều nơi thành vương quốc của Thần Chết. Thế là quá đủ.

Nông thôn ta không thở dài, than vãn nữa. Hãy thét vang như sấm động đòi lại quyền sống của ta, đòi lại ruộng đồng của ta.

Người Việt hải ngoại hãy nhiệt liệt, tận tình ủng hộ bà con ta giành lại quyền sở hữu ruộng đất; đặc biệt là các vị về thăm quê hương, hãy nêu ở mọi nơi vấn đề cần kíp nóng bỏng này, góp thêm ý kiến, đồng thời vận động các giới quốc tế ủng hộ bền bỉ cuộc đấu tranh của nhân dân ta đòi quyền sở hữu, các quyền tự do, đòi chấm dứt chế độ độc đoán độc đảng, xây dựng chế độ đa nguyên đa đảng như ở mọi nước dân chủ văn minh. 

Người viết xin phép được đề nghị người Việt nam yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng hãy nhân dịp này tỏ tình quý mến các bạn sinh viên trẻ Hà Đông Xuân, Trần Hiền Thảo và Đỗ Thúy Hường đã suy nghĩ già dặn đến vận nước và lòng dân, để sát cánh cùng các em mạnh bước trong cuộc hành trình lịch sử của dân tộc giành lại cuộc sống tự do và hạnh phúc.

Bùi Tín.

Paris  5-6-2008

May 26, 2008

Tôi thấy và nghe được gì ở Sài Gòn và miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cộng sản?

Filed under: Chính trị, xã hội, VN sau 1975: thành tích cs — tudo @ 10:21 am

Nguyễn Văn Trấn

Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó – mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ – ghi lại một cách trung thực.

Tôi thấy bộ mặt Sài gòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng “vĩ đại” trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm “thư giãn” sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ – 600US$ đến 1000US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con?). Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới – thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, và các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giãn”, uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US đô la đã bị phanh phui là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử, và tiểu thư con các quan chức lớn, nhảy đã rồi… “lắc” suốt đêm, vài hôm sau – đâu cũng vào đó… Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở – vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự. Ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt, nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm – phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên, lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường.

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc, và 3.000.000 chiếc Honda – phun khói mịt mù – chưa kể đến xe hơi. Và hệ thống cống rãnh lạc hậu, mỗi khi trời mưa lớn nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu, không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ… chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt… Thuốc lá và bia – bia nội, bia ngoại – có đủ… Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sài Gòn. Đảng viên, cán bộ – giai cấp thống trị – nhậu… Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói… Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị – đã lột xác – không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa – mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút – thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng, nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc, không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên tỉnh.

Tôi còn thấy Sài gòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa mãn – ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu – nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ – thì rõ.

Còn nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Sài Gòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao Đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên giám đốc công viên Tao Đàn) – mặt tiền ngó vào trong – mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) – bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim – ngon ơ! Tương tự như vậy – ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ, trước sân nhà của ông Hiệu trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 – phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương Minh Ký, đường Trần Hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ – bây giờ là Câu lạc bộ Lao Động – nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao… buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn: “… Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao?” (“Nhật ký Rồng rắn” của Trần Độ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn – đã biến mất. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, Tự Do… những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ – mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.

Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống. Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình), những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán… hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng, còn những trẻ khác – mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày – những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở “Đồi cát bay” Phan Thiết. Hỏi “sao em không đi học”? – Trả lời: “Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn”.

Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng trước tiếng quát tháo ầm ĩ vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẫy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần Trung Đạo đã mô tả. Lại nghe một bệnh nhân đứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở: “Ở đây là vậy đó ông ơi! Chữa bệnh phải có tiền – trước nhứt phải qua cửa – lọt qua cửa thì còn nhiều khâu – khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống – phải có tiền. Chết cũng phải có tiền”.

Bộ mặt Sài gòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền trang trí cây cảnh như một mảng vườn thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố… nhiều người chóa mắt, choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ quá”. Riêng phó thường dân tôi tự nghĩ: Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt: Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng… Lợi tức đầu người của Việt Nam – theo thống kê của báo The Economist – bằng: 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 2550 US $ – Phi luật Tân: 1040 US$ – Nam Dương: 1160 US$ – Tân gia Ba: 24840 US$. (The Economist World, năm 2007 – p.158, 176, 238).

Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy – nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn, vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? – thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên CSVN (tại chức hoặc giải ngũ), hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê – giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải là do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có?

Hiện Tượng Ngươi Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa Chiếm Hữu Toàn Bộ Phố Xá Thương Mại Quan Trọng Ở Sài Gòn – Khống Chế Mọi Lãnh Vực Trọng Yếu Ở Miền Nam

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỹ” – cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa – thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do trước 75) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sài gòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn và các khu phố sầm uất nhứt vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc cộng sản – từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong – cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước… hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại, nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ.

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những cô gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ – dĩ nhiên – với vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc… Cán bộ, công nhân viên trọng yếu – cũng đều là người Bắc – trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết – theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam – thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới – từ trung ương đến địa phương – từ tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần – đều do đảng viên người miền Bắc XHCN – nắm giữ. Những công ty dịch vụ có tầm cỡ, những công ty thương mãi sản xuất lớn – điển hình là một công ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất – cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp – nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức – tài sản những người thuộc diện tư sản – toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam – được đem đi đâu? – Không ai biết.

Thông thường, những của cải nầy phải được sung vào công quỹ, để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ. Thế nhưng – sự thật trước nhứt – là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ – nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết đem cho công ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy – vì lo sợ cái gì đó – bèn đem “bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu – không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại – là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là của nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên… mà người dân thường có nhà cửa phố xá cũng đều bị “giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung rồi chủ nhà chịu không nổi phải bỏ đi, đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Sài Gòn với giá gần như cho không và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam – nhưng sự thật khó chối cãi được – là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Sài Gòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi thủ đô bằng nhiều chánh sách khác nhau – để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi – những ông chủ công ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn Tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh – một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình – các ông tự gọi mình đi.

Đến thời “mở cửa” – cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương – đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế – những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ điển hình: Một bệnh viện gần chợ “ủ cua” Long Hồ – quê hương của Phạm Hùng – nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt – là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực – những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê – nhứt là miền Nam – ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn – đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

Nhà văn – bác sĩ Hoàng Chính – gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc” – “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. – Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. – Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.”

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

Bộ Mặt Thôn Quê Miền Nam

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cộng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam – những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường xá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ – chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn – còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy – dọc theo bờ sông Long Hồ – một số nhà gạch nhỏ mới cất xen kẽ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi.

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung – có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất… hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.

Dưới sông – từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế – cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi!” Tôi hỏi thêm: “Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập… các cô gái nầy không sợ sao ông? – “Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may.” Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ – số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi – trong bài: “Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy viết: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình” Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà công an đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn Tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những người đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoảng chừng 18 đến 20… đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn – có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “môi giới hôn nhân lậu” – sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau… để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả giống nhau, nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục, rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gỡ vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng). Còn lậu thì… bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại. Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu đã từng lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ tự nguyện. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào, nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẫn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ.Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75), những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ…, thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước… Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng, họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chân… Nhưng động lực chánh là nghèo.

Nghèo…

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… là để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy, nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê CS Việt Nam – thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29%. Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x.b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn).

Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều – cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát, khi trời mưa lúc ban đêm không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cộng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu được. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền, trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết: “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m vuông đất thì lấy gì mà giàu có được? ”

Kinh tế Việt Nam – trong đó có miền Nam – có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt cầm lồng đèn đỏ đi sau… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam đã biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn). Như vậy có gọi là phát triển không?

Kết Luận

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng”quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển…”Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan…

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) – bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 – có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF – LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam).

- 32 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L”expresse ngày 29-8-2002: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó”.

- 32 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam – khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản đã lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu”.

Nguyễn Văn Trấn

May 16, 2008

33 năm nhìn lại

Nguyễn Khoa Thái Anh

Trong khi những vụ đàn áp tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa – Trường Sa còn ghi trong ký ức, hôm nay 12/05/08 nhà nước khởi tố, bắt giam hai nhà báo Nguyễn văn Hải và Nguyễn Việt Chiến theo điều 281 bộ luật hình sự, chính là điều khoản trong mục A, chương XXI nói về “tội phạm tham nhũng” mà người ta hiểu là án lệnh tố tụng vụ cá độ 7 triệu Mỹ kim trong vụ PMU 18 hai năm trước đây! Vào thời nay, không kể nạn lạm phát hoành hành, dân oan khiếu kiện ruộng đất bị tước đoạt, đảng lại noi gương Lê chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mã tổ, đàn áp, đánh đập dã man các phần tử yêu nước chỉ vì họ muốn bày tỏ nỗi bất bình về tham vọng bành trướng của Bắc triều.

Tin Tức:

Có một tin trong nước chưa được kiểm chứng: ở Me Điền, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang, nơi có 800 hộ dân và 3000 nhân khẩu, dân chúng đang đứng lên đấu tranh giữ đất bị chính quyền lấy cho tư nhân Đài Loan thuê làm sân golf. Người dân ở đây đã nhiều đời làm nông nghiệp. Lấy đất của họ là đẩy họ vào con đường chết. Ngày 24/04/2008, nhân dân Me Điền từ già cho tới trẻ đã kéo đến trung tâm thị xã Bắc Giang hô vang những khẩu hiệu đả đảo bọn tham nhũng, đả đảo chính quyền thối nát, làm rung động cả thị xã.

Từ ngày 25/04/2008 nhân dân Me Điền đào đường làm hào, rào mọi con đường vào làng, lập bốt canh, khi có kẻng báo động là cả làng đổ ra quyết bảo vệ đất. Không khí trong làng như thời có chiến tranh.

Để thực hiện vụ cướp đất của nông dân, chính quyền đã huy động Đội đặc nhiệm 113 và hàng ngàn mặc áo giáp chống đạn, trang bị dùi cui, hơi cay và tiểu liên đã ập vào làng. Chúng đánh đập dã man những người dân tay không chạy ra ngăn lại, lăn ra đường để cản xe, làm nhiều người bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu, trong đó có hai phụ nữ bị đánh đến truỵ thai. Chúng bắt trên 30 người đưa đi, cho đến nay chưa có tin tức!
Nhân dân Me Điền kêu gọi đồng bào cả nước, đồng bào Việt ở nước ngoài, cùng các tổ chức nhân quyền và chính phủ các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam lên tiếng ủng hộ và bảo vệ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Me Điền!

Sau ba mươi ba năm ngự trị trên toàn quốc Việt Nam (30/04/75, không kể gần một thế kỷ trước đó, kể từ năm 1911 khi Hồ chí Minh xuống tàu thủy La Touche Tréville, bắt đầu con đường dẫn Việt Nam đến với chủ nghĩa Cộng sản) lý tưởng và chủ nghĩa Cộng sản hầu như không còn một lý do gì để biện minh cho sự tồn tại hay cứu vớt nó khỏi tử lộ. Không những phải đương đầu với sự tự hủy và phá sản của mình, đảng Cộng sản còn đèo theo hiểm họa đánh mất chủ quyền Việt Nam cho Thiên triều, chuốc một cái nhục quốc thể vì những chuyện đàn áp dân chủ vô ý thức của mình.

Đối với Hà Nội, sự củng cố và duy trì vai trò độc tôn của đảng là điều kiện tiên quyết, bất kể nguy cơ biến đất nước trở thành một chư hầu mới, lệ thuộc Bắc triều, cộng thêm chuyện đánh mất hậu thuẩn và lòng dân vì những vụ vi phạm nhân quyền trắng trợn. Thay vì nhận thức được chuyện cải tổ đường lối lãnh đạo cho trong sáng, thích hợp với đà tiến hóa dân chủ của đa phần các nước tiên tiến trên thế giới, nhà nước Việt Nam ngày càng tụt hậu, cố đi vào tăm tối. Một mặt lãnh đạo hô hào chống lạm quyền và tham nhũng, một mặt họ cố tình phủ bức màn sắt (ai dè lơ thơ tơ liễu buông mành, ‘màn tre’ bị hở!) chung quanh những vụ quan liêu biển thủ công quỹ, bao che cho những quan chính cao cấp phạm pháp, bắt bớ dân tình vô tội.

Ngày nay ý tưởng dân chủ đa nguyên là một giá trị phổ cập toàn cầu, nơi nơi con người đang cố vươn lên cho những lý tưởng nhân vị cao đẹp.

Việt Nam: Dân chủ từ khi lập quốc

Từ thời Hùng vương lập quốc, Việt Nam đã có những tinh thần dân chủ cổ đại. Khác với các bộ lạc du mục man di phương Bắc mà chuyện đánh chiếm tìm miếng ăn và đất sống là chủ trương, dòng giống Bách Việt đã tạo lập thành nhiều bộ tộc khai khẩn và trồng trọt lúa nước ở các vùng phía Nam (sông Dương Tử đến châu thổ sông Hồng chạy dài hết bán đảo Đông Dương – Malay Peninsula). Riêng tổ tiên của dòng giống Lạc Việt, mỗi nhóm bầu lên một Lạc Vương (hay là Rạc Vương, từ chữ ruộng rạc) được sự yêu quý và nể trọng của số đông trong bộ tộc. Tất cả các bộ tộc hợp quần bầu lên một Hùng Vương, một lãnh tụ anh minh dẫn dắt dân tình xây dựng bờ cõi, tạo dựng một đất nước Văn Lang sau này (18 đời vua Hùng là 18 triều đại, mỗi triều đại gồm nhiều vị vua trị vì, như một nền cộng hòa gồm nhiều tổng thống)

Khoa học đã chứng minh một nền văn minh Hoà Bình (Hoabinhian xưa hơn cả Đồng Sơn) của Việt tộc, tồn tại ít nhất 20 nghìn năm trước Công nguyên (New Light On A Forgotten Past/Soi Sáng Một Quá Khứ Bị Quên Lãng (Wilhelm G. Solheim II), không thể nào biện minh cho những hành động man rợ của an ninh Việt Nam hiện nay.

Do đó tất cả những lập luận bào chữa cho sự bất cập hay thua kém của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản – do bất cứ một lòng thành tín hay hậu ý nào – đều thiếu sự thật và óc sáng suốt. “Yêu chủ nghĩa Cộng sản là yêu nước,” “đảng cộng sản là tiền đồ duy nhất chống ngoại xâm” đều là những khẩu hiệu giả dối, không lúc nào trở thành thiết thực như hôm nay khi chính con dân Việt Nam bị bắt bớ vì muốn bày tỏ sự phẩn uất trước sự mất vẹn toàn lãnh thổ với Bắc triều.

Một blogger Sài Gòn:

“Buổi chiều 14 h, 29/4/2008,

Lượn một vòng khi tranh thủ đi điều tra thị trường thép. Bọn Trung quốc từ đâu trung niên, nhỡ nhỡ, thanh niên đang đứng tràn góc khách sạn Rex- cỡ 150-200 người. Bọn chúng giương vài chục lá cờ Trung cộng to phè hàng đàn hát hò nhún nhảy. Tất cả bọn chúng mặc áo đồng phục Olympic của chúng nó màu trắng in chữ đỏ màu máu.

Chúng nó đang nhe nanh múa vuốt giương oai với người Việt nam chúng ta, cơn giận như lửa đốt, tính lao nguyên cái xe vào cái lũ man di mọi rợ ấy, rồi gì thì gì…. Nhưng cái sợ cố hữu nó kéo ta lại, gọi điện thoại, và năm phút sau, lực lượng công an tràn ra xua chúng nó đi khỏi Rex, chúng kéo nguyên đoàn đi bộ dọc Lê lợi phất cờ hò hét, công an đi phía sau lùa bọn nó đi tiếp.

Chúng nó kéo đến công viên 23/9 kế bên chợ Bến thành và tụ lại đó tiếp tục múa may, dàn công an lại tiếp tục xua chúng nó đi tiếp về hướng Trần Hưng Đạo. Và ta phải đi tiếp không thể lòng vòng mãi đó được!!!!!”"

Suốt thời gian qua, đặc biệt là trong tháng 4.2008, nhà cầm quyền Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể làm để bảo đảm cho cuộc rước đuốc Olympic Bắc kinh 2008 sẽ diễn ra vào ngày 29.4 được thành công rực rỡ. Chẳng cần đến cam kết của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với Thiên triều “huy động toàn thể hệ thống chính trị của chúng ta để bảo vệ ngọn đuốc”, các nhân viên công quyền ở thành phố mang tên Bác kết hợp với các bạn đồng nghiệp đến từ Trung Quốc, đã thực hiện “vượt mức yêu cầu” những gì cần làm để nước bạn Trung Hoa không bị mất mặt như việc đã xảy ra tại London, Paris, San Francisco, Nagano, Seoul. (Một blogger khác)

Từ vô sản đến kinh tế thị trường

Trước khi nền kinh tế thị trường thâm nhập VN, đảng Cộng sản còn núp bóng chiêu bài vô sản, tranh đấu cho những người nghèo, những kẻ bị tư bản bóc lột, che đậy thực chất nội hàm phe đảng đặc quyền, đặc lợi của mình. Ngày nay chính những vụ chiếm đoạt ruộng đất của dân lành, khống chế tài chánh, kinh tế quốc doanh, không kể chuyện thao túng cơ cấu pháp chế, lũng đoạn quyền hành (vốn dĩ đã xảy ra từ trước ngày đổi mới) đã nói lên tính chất phi pháp của chế độ độc đảng.

Cùng với những ảo vọng đại đồng, tranh đấu cho giới thợ thuyền nông dân là hai cuộc chiến đánh Tây đánh Mỹ thần thánh, khiến nhiều người nhiệt huyết bị huyễn hoặc, chịu hy sinh cam khổ tranh đấu giúp thực hiện và tạo dựng chỗ đứng cho chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam. Ngày nay, vỡ kịch lớn đã hạ màn – ngay cả những chiến sĩ lão thành của cuộc cách mạng vô sản cũng đã thức tỉnh, kề cả bộ chính trị cũng phải dị ứng, xấu hổ với danh xưng Đảng Cộng sản Việt Nam, bàn tính cách thay tên đổi họ.

Không hiểu làm cách nào để những người cùng một huyết thống, mang những con tim và khối óc rung động cùng một giai điệu âu lo quản ngại cho Việt tộc, cho sự vẹn toàn quê hương lại có thể thừa hành pháp luật một cách chai lì bạo ngược, sai trái như vậy! Hay là bản chất của bộ máy đào luyện công an đòi hỏi người ta phải từ bỏ hết lẽ phải, đạo lý và tình người để họ có thể đối mặt với gia đình con cái, hàng xóm láng giềng, ăn ngon ngủ yên, chẳng màng lương tâm cắn rứt khi phải đàn áp chính đồng loại, bợ đỡ cho ngoại lai không? Cớ sao chỉ vì một chút bổng lộc hay một miếng đỉnh chung lại thẳng tay bắt bớ, đày đọa đồng bào mình không biết xấu hổ?

Trong nước và ngoài nước

Ngược lại, sau cuộc nồi da xáo thịt, một điều trớ trêu mà người ta có thể xem là một phần thưởng bất ngờ cho đất nước chính là con số ba (3) triệu sinh linh Việt có cơ may được bác và đảng giải thoát, đang sinh sống tại các nước hải ngoại. Bất chấp một quá khứ đau buồn, họ và con cháu đã thu thập những tinh hoa của thế giới có thể nguồn lực đóng góp lớn cho sứ xở. Vắng bóng một sự cải tiến thật sự, phần lớn họ đang chờ sự ứng xử dân chủ của Việt Nam, cụ thể và hay hơn là nghị quyết 36 chiêu dụ của nhà nước.

Trong khi đó, tàn tích của cuộc chiến Bắc – Nam đã tạo nên những điều nan giải trong cộng đồng hải ngoại. Hình như mang thân phận con Rồng cháu Tiên trong thế kỷ 21này, con dân Việt lại phải chìm đắm trong một vũng lầy do thời cuộc và chính con người họ tạo ra, không thể nào bay cao, vượt thoát khỏi cái vòng kim cô mà đảng Cộng sản đang tròng lên đầu cổ họ. Người ta có thể nguyền rủa bóng tối, oán hận đảng Cộng sản hoặc tự xét mình – rau nào sâu nấy – a) người trong nước phải tự hỏi họ đã làm gì để thoát khỏi nỗi sợ, thay đổi cục diện và phần số của mình cho xứng đáng với truyền thống của dân tộc – b) một phần tử nhỏ con sâu làm rầu nồi canh ở hải ngoại do óc độc đoán, đố kỵ, chia rẽ, giành lấy lẽ phải và chính nghĩa về mình đã làm trì hoãn thế lực liên minh trong và ngoài nước, nhìn đâu cũng thấy Cộng sản vô tình làm tay sai cho địch thủ.

Của đáng tội, hơn 30 năm lưu vong những thành phần (trẻ) này nghiễm nhiên trở thành công dân thành đạt trong các quốc gia hải ngoại, không biết, không còn và không cần gắn bó với quê cha đắt tổ; có phải họ đã quên ơn của bác và đảng đã gỉải phóng họ hoặc cha ông họ khỏi mãnh đất tù tội không? Chẳng nhẽ đánh đồng chuyện yêu nước với nặng nợ (mang nghiệp chướng) quê hương, nhà nước lại khuyến dụ họ chuốc vào thân một nỗi ám ảnh trầm trọng vì chuyện oan trái của đất nước, không thể hưởng trọn vẹn một cuộc sống thanh bình, an cư lạc nghiệp tại xứ người?

Sau ngày ba mươi tháng Tư thay vì một nước Việt Nam thật sự thống nhất, triệu tập được cả người dân trong và ngoài nước chung vai góp sức để xây dựng một tương lai sáng sủa hơn, thi đua với thế giới trên những lãnh vực văn minh văn học và công nghệ, bảo vệ tài nguyên và môi trường, đảng Cộng sản Việt Nam lại gây thêm oán thù, đào sâu hố chia rẽ giữa người dân, thiết lập một hệ thống tù cải tạo quy mô và to lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim, khiến cho những ai có thể thoát khỏi chế độ hà khắc này vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Oan khiên và nghiệp chướng cứ tiếp tục chồng chất, gia tăng theo tỉ lệ đàn áp và bắt bớ của cầm quyền.

Chống cộng cực đoan = Nối giáo cho giặc?

Không nên phân biệt nguồn gốc và quá khứ chia cắt của mình
Nguồn: teachvietnam.net

Cho đến ngày 30 tháng Tư 2008 của thế kỷ 21 này, lãnh đạo Hà Nội vẫn không thực sự từ bỏ sự độc tài và tham vọng bất chính của mình, loại bỏ sự đóng góp của các thành phần cấp tiến, có đầu óc xây dựng trong lĩnh vực chính trị, vẫn kiên trì chính sách ‘hồng hơn chuyên’ tạo nên những bất cập trong phạm trù hành chánh, hủy hoại môi sinh, thiếu vắng trầm trọng sự quán xuyến chuyên môn của người dân trong vai trò lèo lái đất nước. Trong khi những chính sách bạo ngược của bộ máy an ninh khổng lồ của nhà nước lại cứ tiếp tục bổ xuống đầu cổ những người có tinh thần cải tiến, tạo nên một hiệu chứng chống Cộng tác hại và quái ác ở hải ngoại làm trì trệ bước tiến của dân chủ. Đảng tiếp tục chủ trương chia rẽ dân tộc, gây ra một sự phân liệt, nghi kỵ trầm trọng trong hàng ngũ những tổ chức dân chủ hải ngoại.

Người ta có thể nhận thấy một cánh tay nối dài của nhà nước Cộng sản trong vụ biểu tình chống tòa báo Người Việt. Từ chuyện cô Trần Ngọc Thủy và hình ảnh một chậu nước làm móng chân được thiết kế với màu vàng ba sọc đỏ để nói lên sự làm lụng kham khổ của mẹ chồng nuôi mình ăn học cho đến hai tấm hình ông Đổ Ngọc Yến (sáng lập viên báo Người Việt đã quá cố) chụp chung với các viên chức Cộng sản như Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phong vào năm 1998. Ai đã cung cấp hai tấm ảnh này cho những người chủ chốt (Ngô Kỷ, Trần Thế Cung và Đoàn Trọng) trong vụ biểu tình? Cho đến nay họ chưa cho biết nguồn hoặc có một câu trả lời thỏa đáng.

Đúng như Lenin đã nói sự cuồng tín cộng với sự ngu xuẩn sẽ trở thành sự phá hoại, Cộng sản đã lợi dụng một số người chống Cộng cực đoan để đánh phá những thành trì kiên cố và uy tín nhất của cộng đồng hải ngoại như nhật báo Người Việt. Đây là một nguy cơ nếu cộng đồng hải ngoại để cho một thiểu số lợi dụng lá cờ vàng để nhằm đạt được một tham vọng thầm kín gì của mình. Lá cờ vàng phải giữ đúng vị trí và vai trò thích đáng của nó, không thể dùng cờ vàng làm công cụ riêng tư cho một cá nhân hay phe đảng nào đánh mất đi chính nghĩa của công cuộc đấu tranh cho dân chủ.

Hôm nay, đối với mấy triệu người Việt ở hải ngoại, ý nghĩa của sự ra đi (raison d’être) của ngày 30 tháng Tư là gì? Ba mươi ba (33) năm về trước (1975) và cả 21 năm trước đó (1954) câu trả lời của ông bà, của cha mẹ, chúng ta đã rõ ràng: “Chúng tôi không chấp nhận chế độ bạo tàn của Cộng sản”. Ngày nay, sau hơn một phần ba thế kỷ, bất chấp sự bưng bít và cố tình chia rẽ dân tộc của lãnh đạo Cộng sản, nhiều người ta đã hiểu rõ rằng cả hai miền Nam Bắc đều là nạn nhân của một chế độ không tưởng này, người Việt Nam cần có những đóng góp có tính chấp hợp quần, không nên phân biệt nguồn gốc và quá khứ chia cắt của mình.

© DCVOnline
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=5040

May 15, 2008

Thăm Chiến Hạm Tại Căn Cứ Hải Quân Den Helder Hòa Lan

Chiến Hạm F 802

BÙI VĂN ĐỖ . Việt Báo Thứ Ba, 5/13/2008 , 

(Varende Familiedag 09 mei 2008 )

Chúng tôi đến căn cứ Hải Quân Den Helder vào một buổi sáng ngày 09-05-2008. Một buổi sáng của nhiều tuần lễ, thời tiết nơi xứ hoa Uất Kim Hương ấm áp, lặng gió, với bầu trời trong xanh và sáng sủa của ngày  mùa xuân, có muôn hoa rực rỡ, thảo mộc như thi nhau đâm chồi nảy lộc; xứ  hiền hòa đất thấp nhưng không có nơi nào thiếu bông hoa, nhất là những vườn được dành để trồng bông lấy củ, thì ta trông như một thảm bông dài bất tận đến tận chân trời. Ôi! Thật là tuyệt vời, một cảnh tượng thần tiên ở hạ giới do muôn loài hoa kết lại.

Đến bãi đậu xe của căn cứ Hải Quân vào lúc 9 giờ, chúng tôi thả bộ đi vào bến cảng, và bước lên cây cầu dẫn lên Chiến Hạm F 802. Vừa bước lên thành tàu, nơi đây đã có Thuỷ thủ đoàn của Chiến Hạm đón tiếp chúng tôi, họ đưa cho mỗi người một bảng chương trình sinh hoạt trên hạm trong ngày, với những dòng chữ nơi trang đầu: Welkom aan boord Hr.Ms.De Zeven Provincien, có hình ảnh của Chiến Hạm với dòng chữ ở bên dưới: Varende Familiedag 09 mei 2008. Trên bong sau của con tàu, có một sân rộng, là bãi đáp của may bay trực thăng, đã được biến thành nơi tiếp tân cho ngày Varende Familiedag, với quầy nước trà, cà-phê, nước ngọt và bánh ngọt, cung ứng cho khách mời theo nhu cầu của mỗi người; ngoài sân bong rộng, từng nhóm theo gia đình cùng có sự hiện diện của chồng, cha hay con, em là thủy thủ hay thân hữu, đang vui  mừng trò truyện, giới thiệu bạn mới và làm quen. Không khí thân thương đúng với tinh thần ngày gia đình của Chiến Hạm (Varende Familiedag).

Chiến hạm Hr.Ms.De Zeven Provincien F 802.

Được khởi công ngày 01-09-1998.

Hạ thủy ngày 08-04-2000.

Chiều dài 144,20 mét.

Chiều ngang  17,50 mét.

Nặng 6050 ton (beladen).

Vận tốc tối đa là 30 meile/45 km một giờ.

9 giờ 30, vị phụ tá của hạm trưởng hướng dẫn khách tham dự ngày Varende Familiedag, về cách xử dụng những phao cứu cấp cá nhân, khi gặp hữu sự trên tàu trong ngày tham quan. Chỉ dẫn các bảng hiệu, đường đi, cửa thoát hiểm trên hạm. Sau đó, Đại Tá Hạm Trưởng R.J.A.M. Ramaekers (Kapitein ter zee), thay mặt toàn bộ thủy thủ đoàn của Chiến Hạm, ngỏ lời chào mừng khách của ngày Varende Familiedag, và hy vọng quý vị sẽ có một ngày thật thoải mái và vui với các thuỷ thủy nam, nữ ở trên tàu. Hôm nay ngoài Chiến Hạm Hr.Ms.De Zeven Provincien F 802 còn có Chiến Hạm Hr.Ms. De Ruyter F 804 là chị em cùng chung một ngày Varende Familiedag. Được biết số khách tham dự ngày gia đình của chiến hạm của F 802 là 628 người, và chiến hạm chị em bên cạnh cũng tương tự.

Sau lời chào mừng của Đại Tá Hạm Trưởng,  con tàu từ từ rời bến cảng ra khơi, khoảng 30 phút sau, khách được xem biểu diễn, trực thăng thả người qua hệ thống dây cáp xuống những con thuyền nhỏ, có người lâm nạn, đưa nạn nhân lên trực thăng để đem đi cứu cấp. Tiếp đến là việc cứu cấp những nạn nhân đang bơi trên biển, để đưa lên trực thăng. Rồi những màn đu dây từ trực thăng để sà xuống gần mặt nước biển của các biểu diễn viên là thủy thủ nữ rất ngoạn mục. Sau màn biểu diễn cứu người lâm nạn trên biển khơi, Chiến Hạm cho con tày chạy từ vận tốc chậm, đến vận tốc tối đa trên biển cho khách thưởng thức, độ nhanh, sức gió cản của biển khơi với con tàu.

11 giờ 15 đến 13 giờ, con tàu chạy thật chậm, để mọi người ăn trưa với thực đơn Indonesische Rijsttafel; mỗi người theo thứ tự, tự lấy phần ăn của mình, tìm một bàn trống trên bong tàu để vừa ăn, vừa trò truyện, thưởng thức món ăn, nhìn bầu trời trong xanh, hưởng cái nắng ấm áp, dịu dàng giữa biển khơi. Thật tuyệt vời cho những khách tham dự ngày Varende Familiedag.

Sau 13 giờ là những màn biểu diễn của hai phản lực cơ 2L-39 Albatros vliegtuigen, và hệ thống phòng không được thiết bị trên chiến hạm, hai phản lực cơ đã bay lượn nhiều vòng trên hai chiến hạm, có những lần bay rất sát mặt nước.

Xen kẽ vào những lần biểu diễn, thủy thủ đưa, dẫn chính thân nhân đi tham quan chiến hạm như:  men theo một hành lang dài chúng tôi đi ra phía trước, đầu tàu, có một khẩu đại bắc, lòng súng chĩa ra biển khơi về phía trước. Sau vị trí của khẩu đại bác là nhiều hàng ô vuông có đậy nắp, nơi đây là hệ thống hỏa tiễn phòng không được gắn chìm ở trong lòng tàu, được phóng đi khi phát hiện có phi cơ địch tấn công từ xa; leo qua cầu thang để lên đài chỉ huy, nơi đại bộ phận điều khiển chiến hạm, với nhiều màn hình, nhiều computer và thiết bị. Rồi tham quan phòng họp tham mưu cuả chiến hạm, văn phòng làm việc của Hạm Trưởng, nơi ở, và những tiện nghi dành cho vị Hạm Trưởng ở trên tàu. Sau đó chúng tôi đi xuống tầng thứ hai và thứ ba để tham quan nơi làm việc và nghỉ ngơi của các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, nhà bếp, phòng ăn, nơi sinh hoạt . . . Thăm đến phòng nơi làm việc của y sĩ, gồm có một phòng cho bệnh nhân nằm điều trị gồm có bốn ngường bệnh, một phòng khám bệnh của bác sĩ, một phòng khám răng cho nha sĩ. Thật ngăn nắp, sạch sẽ.

Vào buổi chiều, Chiến Hạm quay đầu trở về điểm khởi hành ban sáng, là căn cứ Hải Quân Den Helder. Trước khi chiến hạm cập bến, vị Hạm Trưởng lại một lần nữa cám ơn các gia đình đã đến tham dự ngày Varende Familiedag, sau đó khách lần lượt bước xuống khỏi tàu. Chúng tôi ra về sau một ngày được du hành trên biển khơi bằng Chiến Hạm, chính Chiến Hạm này sẽ đưa đoàn Thủy Thủ, trong có người con thân thương của chúng tôi, đi đến những vùng có chiến tranh hay bất ổn, để làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, theo sứ mạng của tổ quốc Hòa Lan đã trao cho họ.

Thấy người mà chạnh lòng nghĩ đến Việt Nam.

Là người Việt Nam, đã phải sống giữa hai ý thức hệ.  Nên từ ngày chào đời, tôi ôm ấp cả tuổi thơ bằng đêm thì nghe súng đạn nổ, ngày thì chứng kiến những cuộc hành quân của quân đội Pháp và Quân đội Quốc Gia; cắp sách đến trường làng phải men theo các bờ ruộng lúa, trên đầu có máy bay thám thính của quân đội Quốc Gia lượn tới, lượn lui, vì nghi là du kích quân Cộng Sản, đơn vị hành quân của phe Quốc Gia gần đó thì nã những tràng đại liên bay xì xèo bên tai. Làng quê hiền hòa, dân quê chất phác, muốn sống yên lành, nhưng do lòng dạ và ham muốn của con người đã gây ra bao cảnh điêu linh, đất nước loạn ly, dân lành khốn khổ. Hiệp Định Paris ra đời năm 1954, nhiều gia đình ở quê tôi đã cuốn gói chạy vào Nam, vì không muốn sống chung dưới chế độ Cộng Sản.

Tôi phải rời bỏ quê hương miền Bắc lúc vừa tròn 10 tuổi, đi theo cha mẹ và các em của tôi, hành trang chính vẫn là con người, vì các em tôi con nhỏ, phải bồng, bế và cõng trên lưng vì đi đường bộ, chỉ mang theo được vài túi cói nhỏ quần áo và vật dụng cần thiết. Chắc là thảm thiết hơn những người tỵ nạn Somany, Afganistan mà chúng ta nhìn thấy trên tin tức của truyền hình trong thời gian gần đây, vì  họ còn biết dùng, lừa, bò, ngựa để đem theo những vật dụng. Người tỵ nạn miền Bắc 1954 từ nhiều ngõ ngách làng quê tìm đường về Hà Nội bằng đủ mọi phương tiện: đi bộ, đi thuyền, đi xe đò, xe lửa. Rồi từ Hà Nội mới đi xe lửa đến Hải Phòng. Vì Hải Phòng mới là thành phố cảng, nơi đó còn căn cứ hải Quân của quân đội Quốc Gia, còn có các phương tiện chuyên chở của các nước tư bản, muốn cứu giúp những người dân của miền Bắc tránh nạn Cộng Sản đi vào miền Nam. Nên cảng Hải Phòng là điểm hẹn của đoàn người di cư.

Khi bước chân xuống cảng Sài Gòn của miền Nam Tự Do, người di cư tỵ nạn được đưa đến các trại tạm cư, được giúp đỡ về vật chất như lương thực, săn sóc sức khoẻ, phương tiện để tạo dựng cuộc sống mới như : cây, ván, tôn để dựng nhà, dựng Chùa, dựng nhà Thờ, dựng trường học. Hai mươi năm ở miền Nam Tự Do, 9 năm đầu tiên dưới thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm được xem là vàng son và lý tưởng; dân không nghèo, đói và còn sung túc, có tự do dân chủ, nhưng không hoàn hảo như các nước phương tây, vì mới độc lập, còn lệ thuộc nước ngoài về tài chánh, dân trí còn thấp. 11 năm còn lại của hai mươi năm miền Nam có tự do, nhưng đời sống kinh tế bấp bênh, chính trị không ổn định vì tình hình Cộng Sản miền Bắc muốn gia tăng áp lực xâm lăng miền Nam.

Khi hai ý thức hệ tìm cách hòa bình và sống chung.

Tình hình thế giới đã biến đổi, sau khi Mỹ bắt tay với Trung Cộng và bỏ Nam Việt Nam. Miền Bắc được Trung Cộng và Nga Xô trợ giúp, tiến quân gọi là giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước. Lý thuyết xem ra thật tuyệt vời, thật đẹp vì đã chấm dứt được chiến tranh, tuy không còn cảnh tang tóc diễn ra hàng ngày do pháo nổ, đạn rơi. Nhưng cảnh thanh trừng ly biệt, cải tạo, kinh tế mới, vượt biên, vượt biển lại là một thảm trạng mới, gieo nhiều đau thương và tang tóc, hận thù, còn phải trải qua nhiều thế hệ mới hàn gắn được.

Khuyết điểm lớn lao trong các chế độ độc tài.

Với thời gian Đảng Cộng Sản Việt Nam từ từ biến chất, thủa đầu với đôi dép râu, chiếc nón cối, khẩu AK,  tiến vào giải phóng miền Nam, biến miền Nam đang trù phú, trở thành nghèo đói xác sơ ngang bằng với miền Bắc. Sau đó từ từ tiến lên không phải là Chủ Nghĩa Xã Hội, mà là Chủ Nghĩa Tư Bản Đỏ, dép râu nón cối một hình ảnh thân thương với người dân lao động nghèo khó, nay được thay bằng giầy bóng, dép da, đầu bóng láng với những bộ Complê cà vạt phẳng phưu; chủ nhân những ngôi biệt thự sang trọng nhất thành phố, trong khi lớp bình dân lao động vẫn sống âm thầm trong những căn nhà vách ván cũ rích với mái tôn rỉ xét; cơm độ nhật qua ngày thiếu ăn, vì vật giá leo thang phi mã, áo che thân thiếu mặc. Thì việc ăn xài phung phí, ăn cắp của công, tham nhũng, mua quan bán tước của các quan chức nhà nước XHCN, tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm, từ thành thị đến thôn quê. Chuyện đuổi nhà chiếm đất để bán cho nước ngoài dựng công xưởng, làm sân gôn để khai thác lao động rẻ mạt ở Việt Nam, đã tạo ra lớp Dân Oan khiếu kiện có mặt la liệt ở các cơ quan công quyền, và ở các đô thị quan trọng của Việt Nam.

33 năm sau, đất nước được hoàn toàn giải phóng và thống nhất, đáng ra phải được phát triển và trở nên giầu có, ít ra cũng chạy đuổi theo kịp các nước ở trong Vùng như Thái Lan, Phi Luật Tân,  không dám so sánh với Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore. Đàng này từ ngày thống nhất được đất nước, đất nước ta đã phải bán sức lao động của hàng triệu người trẻ ra nước ngoài, để làm thuê, làm mướn, ở đợ, thậm chí còn đi làm điếm ở các nước trong vùng, sang mãi tận đến Âu Châu. Trong lịch sử nước Việt, chưa có thời nào đen tối như thời Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo đất nước. Miệng lưỡi  lừa đảo của ĐCSVN đã thay đen đổi trắng với người Việt ở hải ngoại, từ những cụm từ: “ Phản bội tổ quốc, tụi đĩ điếm cặn bã của xã hội cũ, lười lao động nên đã trốn đi vượt biên theo Mỹ”. Lớp người từng bị theo dõi ngày đêm, bị bắt bớ và cầm tù khi bỏ nước trốn đi, nay đổi ngược chiều cách xưng hô với những người Việt Nam ở hải ngoại: “ Những người con thân yêu của tổ quốc, khúc ruột ngàn dặm” và thật hôi hám, dơ dáy, trơ trẽn hơn nữa khi đưa ra nghị quyết số  36/NQ-TW ngày 26-03-2004 của Bộ Chíng Trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Là người Việt vượt biên sống ở nước ngoài, tôi cảm thấy thật tủi hổ cho dân tộc tôi, mỗi khi nghe tin, đọc báo trên các phương tiện truyền thông.

Các chính sách như: giáo dục thì chắp vá, nhồi nhét, bắt học sinh, sinh viên phải học  những tư tưởng thời thượng về Chủ Nghĩa Xã Hội hoang tưởng của Mác-Lê, mà chính cái nôi sản sinh ra chủ nghiã ấy đã ném nó vào sọt rác từ những năm 1989-1990. Cái thảm trạng của nền giáo dục Việt Nam là nổi tiếng học vẹt, bằng cấp thì giả, tiến sĩ giấy thì đông, nhân tài thật thì ít; giáo dục cho thế hệ trẻ không tự chủ, phải dựa vào mô hình của nhà nước đề ra cho mình, giết chết óc sáng tạo, không có quyền và không được độc lập về các tư tưởng và sáng tạo của mình. Nhất là quyền Tự Do Tư Tưởng, tiếp nhận và loan truyền những tư tưởng mới lạ của người khác, của dân tộc khác. Đáng lẽ đất nước ta phải tiến lên nhanh lắm, sau khi đã có hòa bình thống nhất. Nhưng vì do một chính quyền độc đảng, lại là Đảng CSVN lãnh đạo đất nước, nên đất nước ta cái gì cũng băng họai và trì trệ, cái gì cũng nhất theo lối tính ngược. Tham nhũng nhất thế giới, nghèo khó gần nhất thế giới, chỉ hơn Phi Châu.

Y tế thì thật tồi tệ, vào bệnh viện, thủ tục đầu tiên vẫn là “ Tiền Đâu”, chứ không phải bệnh tình thế nào để kịp thời cứu cấp, nghèo khó không tiền thì nằm lăn lóc chờ chết, hai người một gường hay ba người hai gường, kể cả những sản phụ khi sinh con. Y tế của công quyền đã vậy. Y dược ngoài thị trường thì thuốc thật, thuốc giả khó mà nhận ra, người thua thiệt vẫn là những bệnh nhân nghèo khó. Kinh tế thì hàng giả, hàng thật khó mà kiểm soát được vì nạn tham nhũng từ trên thượng tầng cho đến người cảnh sát viên khu vực. Heo, gà bệnh dịch mà chết, thú y ra lệnh chôn ban ngày, ban đêm đào lên làm thịt, đem cung cấp cho các cửa hàng biến chế thành thực phẩm, rồi cung cấp ra thị trường cho công chúng dùng. Phần lớn dân nghèo không đủ tiền mua thực phẩm đắt đỏ, phải tìm những thứ rẻ để mua, và người nghèo trong chế độ Cộng Sản là người thua thiệt nhất, nghịch với chủ thuyết họ chủ trương.

Ưu điểm của các nước Tự Do Dân Chủ.

Người tỵ nạn thủa đầu đến định cư ở một quốc gia, chúng tôi được giúp đỡ thật nhiều thứ. Trước hết là phương tiện và lương thực, được vớt lên từ biển khơi, hay nhận nhân đạo từ các trại tỵ nạn ở vùng Đông Nam Á, các quốc gia đã chấp nhận cho định cư, họ phải cung cấp phương tiện di chuyển, chỗ ở, tài chánh. Sau đó được lo về sức khỏe, khám tổng quát, nếu có những bệnh nan y thì khẩn cấp được đưa đi điều trị cẩn thận; chụp hình phổi, khám răng; thiết lập hồ sơ về bảo hiểm sức khoẻ, riêng một số quốc gia ở Âu Châu thì mỗi người đều có Bảo Hiểm Sức Khoẻ, mọi sự khám bệnh, chữa trị đều được miễn phí. Sau đó trẻ em và người lớn đều được cắp sách đến trường, để học ngôn ngữ và học phổng thông tùy theo tuổi tác và trình độ, còn được đào tạo về nghề chuyên môn cho những ai muốn và có khả năng học. Mỗi gia đình hay những người trên 18 tuổi còn độc thân thì được lo liệu cho một căn hộ để cư ngụ. Phần đông các cá nhân hay những gia đình người tỵ nạn đều có những người bản xứ đứng ra lo giúp đỡ buổi ban đầu, họ là những người làm việc thiện nguyện còn gọi là Bạn của gia đình mới đến. Trong cơ cấu làm việc của người bản xứ họ có các Cán Sự Xã Hội để lo cho người dân của họ, cũng như cho người mới nhập cư, về nhiều vấn đề xã hội như: nhà ở, tiền trợ cấp, việc làm, việc đến trường của con. . .  .

Được hội họp và biểu tình.

Ở các xứ tư bản, hội họp trong nhà là một chuyện bình thường, không cần xin phép chính quyền; hội bao nhiêu người, bao nhiêu ngày tùy ý, đừng làm ồn ào phiền lụy đến hàng xóm. Nhưng nếu muốn biểu dương đoàn thể, tổ chức, tiếng nói của cá nhân hay của tập thể ở bên ngoài thì phải xin phép, để cơ quan công lực của nhà cầm quyền giữ gìn an ninh trật tự, điều hành lưu thông và đảm bao an ninh cho người đi biểu tình. Chỉ khi nào cuộc biểu tình có xẩy ra bạo động thì cảnh sát mới can thiệp. Thường những cuộc biểu tình, ban tổ chức phải thông báo cho các cơ quan truyền thông, để nhờ họ loan báo trên các phương tiện truyền thông của họ, khác với lối lừa đảo về tự do theo kiểu của Cộng Sản ở Việt Nam cấm chụp hình đưa tin, chỉ có báo của Đảng và nhà nước là được loan báo điều gì thì loan. Cái quái gở của chủ nghĩa Cộng Sản ở nước ta là không có báo của tư nhân, chỉ có báo của nhà nước, hoặc của những đoàn thể, tổ chức của nhà nước. Đoàn thể, tổ chức  tư nhân không được ra báo.

Được hưởng một nền giáo dục nhân bản.

Được tự do học tập, giáo dục là một ngành quan trọng ở các nước tư bản, giáo dục bắt buộc ở bậc tiểu học và phổng thông cấp I , không phải trả học phí, không phải học thêm và cũng không có nạn thầy, cô dậy kèm. Em nào thông minh, chăm học thì cứ từ từ tiến lên, học xong cấp ba là vào đại học, không bị kỳ thị khi phải chọn trường, chọn ngành. Học chuyên nghiệp, cao đẳng hay đại học thì có học bổng, với điều kiện người đi học phải học xong chương trình, trong một thời gian do bộ giáo dục ấn định. (Theo đúng như điều 26 của Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc ban hành ngày 10-12-1948).

Phải đóng thuế, căn cứ vào lợi tức của cá nhân.

Khi đi làm, việc ấn định lương bổng căn cứ vào mảnh bằng người đi làm có. Là người công dân thì mọi người có bổn phận phải đóng thuế, nếu đóng qúa mức có quyền xin lại hàng năm. Và người nào khi được chính thức cư ngụ tại đất nước của họ cũng có một mã số để khai thuế riêng, không thể trốn tránh vì rất hiếm nhân viên của nhà nước tham nhũng.

Được thừa hưởng nền Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền ở các nước Châu Âu, tôi muốn viết ra để người trong nước đọc, nhất là giới trẻ. Không có ý nói xấu đất nước mình, mà chỉ muốn nói lên vì nguyên do nào tạo ra cho đất nước ta nhiều tệ nạn, nghèo đói và chậm tiến. Từ 70 năm qua, dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ trẻ, hết thế hệ này sang thế hệ khác, chúng ta đã bị Đảng lừa gạt. Đất nước ta chỉ có tự do dân chủ và Nhân Quyền trên giấy tờ, trên môi miệng các nhà lãnh đạo, đề lừa dân, và qua mặt thế giới bên ngoài. Chỉ khi nào Việt Nam có bầu cử Tự Do ( không còn cái nạn Đảng cử dân bầu), thì lúc đó dân ta mới thực sự có quyền chọn mặt gởi vàng, cử ra những người tài năng và đức độ, họp thành một Quốc Hội, làm ra Hiến Pháp, luật lệ để cai trị dân, khi đó đất nước mới tiến lên.

Bao lâu còn một đảng độc tài, các người ứng cử viên được chọn vào tòa nhà Lập Pháp do Đảng đề cử ra, rồi sau đó người dân chỉ việc đi bầu chọn, thì khi đó chưa có dân chủ. Vì Đảng sẽ chọn những người của Đảng, yêu Đảng, chứ không phải là người yêu dân, yêu nước Việt Nam. Những người yêu Đảng, thì họ phải vào phe cánh với nhau để duy trì Đảng, tham ô hối lộ và vơ vét tài nguyên của tổ quốc làm giầu cho cá nhân, gia đình và Đảng của họ. Mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay hải ngoại, đều có một tâm tình yêu Quê Hương, yêu đất nước Việt Nam chứ không phải yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngược thời gian 25 năm trước, khi chuyến hải hành sinh tử tìm Tự Do, muốn ngó thấy con thuyền vượt biên  từ đàng xa, đã là khó khăn và nguy hiểm. Nhưng khi đến được một mất nước có Tự Do, 25 năm sau, khi người vượt biên ngày đó bé tý, nay đã trưởng thành, và là bác sĩ cho một đơn vị Hải Quân, thì ngày chuẩn bị ra đi công tác, thân nhân được đến tham quan con tàu, được đi thử, được xem biểu diễn cách cứu người trên biển khi lâm nguy của lực lượng hải hành. Thật như một giấc mơ. Đây đúng là hoa trái của của các chế độ Tự Do và Dân Chủ. Phần thưởng cao qúy trả cho những ngày lận đận vượt biên thủa trước./-

 BÙI VĂN ĐỖ

 

May 7, 2008

Chúng Ta Thử Rút Được Bài Học Gì Từ Biến Cố 30/4/1975?

STEPHEN B. YOUNG . Việt Báo Thứ Hai, 4/28/2008, 12:02:00 AM

Tôi  thấy có hai loại bài học về biến cố 30 tháng 4,1975, một loại giúp cho mình hiểu về nguồn gốc của vụ đó, và một loại khác giúp mình suy đoán về tương lai của Việt Nam và Hoa Kỳ.

Bài Học Thứ Nhứt:

Có lẽ sau 33 năm  Cộng Sản thống trị đưọc cả nước Việt Nam, phần lớn người ở trong nước thấy không có ích lợi gì để nghiên cứu các nguyên nhân gây sự bại trận của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa  .

Theo tôi có hai người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với sự thất bại của một chế độ như Việt Nam Cộng hòa, có một quân đội lớn và mạnh .

Người đóng góp cho sự thất bại ấy nhiều nhứt là Henry Kissinger. Hồi tháng 5 / 1971, Kissinger đã đề nghị rằng sau khi quân đội Mỹ rút về Hoa Kỳ, thì Chánh phủ Hà Nội sẽ được phép giữ lại quân đội của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.  Kissinger thỏa thuận với Hà Nội  nhưng khi về, ông dấu diếm những điều này với Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và với các viên chức lớn trong Chánh phủ Nixon, như Đai Sứ Ellsworth Bunker.

Như vậy, trong Hiệp Định Paris 1973, Hà Nội không có một điều kiện nào phải rút quân về Bắc. Hà Nội có lợi thế chờ đợi người Mỹ hoàn toàn mệt mỏi và không còn ý chí chiến đấu, hy sinh bảo vệ ông Thiệu nữa. Sau vụ Watergate, thì Hà Nội gặp được thời cơ thuận lợi hơn nữa. Chính sự may mắn bất ngờ này đã giúp Hà Nội thực hiện được tham vọng chiếm cả nưóc, đặt nền cai trị theo chế độ cộng sản độc tài mà ngày nay chúng ta biết .

Người thứ hai phải chịu trách nhiệm là Nguyễn văn Thiệu. Việt Nam Cộng Hòa bị ép ký kết Hiệp Định Paris, thì không khác gì bị ép phải đầu hàng Hà Nội. Cái ý nghĩa thật sự khi Mỹ đến để bảo vệ độc lập tự do cho Miền Nam là sự yêu thương, sự thông cảm của nhân dân Hoa Kỳ đối với dân tộc này. Nếu có nhiều người Mỹ nói chúng tôi không thích ủng hộ Chính Phủ Sài gòn nữa, thì Chánh phủ Mỹ bắt buộc phải ngưng mọi sự yểm trợ quân sự và kinh tế. Lúc bấy giờ, có đông đảo người Mỹ chạy theo phong trào phản chiến đang ồn ào khắp nước Mỹ. Họ cho lập luận chống chiến tranh Việt Nam của phong trào này là đúng .

Người phản chiến không thích ông Thiệu. Họ nói rằng ông Thiệu là độc tài, không thật tình biết thương dân miển Nam  Nếu ông Thiệu lúc 10-73 từ chức, không làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa nữa, thì mấy  phong trào phản chiến Mỹ sẽ giảm bớt sự chống đối Chánh phủ Miền Nam.

Hơn nữa, lúc 1972 ông Thiệu đã lập ra Đảng Dân Chủ để chuẩn bị thế tranh cử và thắng cử giúp ông tiếp tục cầm quyền lâu dài ở Miền Nam. Sau đó ông Thiệu phải giao các chức vụ lớn cho mấy người thân tín, thời đó dư luận ở Sài Gòn gọi là “gia nô”, mặc dầu họ không có khả năng . Tiêu chuẩn chọn lựa : trung thành với ông là trên hết.

Như vậy, năm 1975 lúc Hà Nội đánh Phước Long và Ban Mê Thuộc, ông Thiệu không có đủ sĩ quan có đầy đủ ý chí chiến đấu, can đảm, để đánh lại quân cộng sản . Tướng Tá trung thành với ông Thiệu, đa số không có đủ uy tín và khả năng quân sự chỉ huy binh sĩ chiến đấu một cách nhiệt tình và hùng mạnh.

Vì biết rõ thực tế như vậy, ông Thiệu phải rút bỏ Quân Khu  Một và Hai, bỏ một nửa miền Nam. Cho đến bây giờ, hình như không có ai biết thật sự tại sao ông Thiệu quyết định bỏ Vùng Một và Vùng Hai Chiến Lược. Có người nói rằng ông Thiệu biết chỉ có mấy chiếc B-52 của Mỹ mới có thể cứu được miền Nam, nên ông phải vừa bè nheo, vừa gài Mỹ ở cái thế phải chịu giúp ông .

Nếu quả thật ông Thiệu đã suy nghĩ như vậy thì ông không phải là người lãnh đạo có bản lãnh, bởi kết quả là mất nước vào tay cộng sản, những người đã sát hại không biết bao nhiêu sinh mạng của người Việt Nam ..

Ông Thiệu thường trách ông Kissinger phản bội Đồng minh Việt Nam . Ông Thiệu nghĩ như vậy và nói như vậy là có lý. Nhưng sự thật đó lại không cứu được một người Việt Nam nào. Ông Thiệu vẫn là Tổng Thống Việt Nam. Ông có trách nhiệm làm cái gì có ích lợi cho dân ông, cho đất nước ông, trong tình hình rất bi đát lúc ấy .

Bài Học Thứ Hai

Một bài học quan trọng là Miền Nam mất không phải vì dân Việt Nam muốn có một chính quyền Cộng sản. Ngược lại, đến năm 1975 thì hơn 95% dân Miền Nam hiểu được hiểm họa cộng sản và chống Cộng sản vì họ muốn sống tự do theo chế độ dân chủ.  Miền Nam mất vì sự phản bội của Kissinger và sự bất tài của Nguyễn Văn Thiệu.

Như vậy, lòng dân Việt Nam không phục, không thương, không đồng tình với đảng cộng sản. Dân chỉ vâng lời đảng khi đảng còn  khả năng dùng bạo lực đàn áp . Khi nào đảng mất thế, thì sẽ mất lòng dân và sẽ bị một phong trào nhân dân hay một cuộc đảo chánh quân nhân làm cho chế độ sụp đổ ngay .

Nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và cả phong trào cộng sản thế giới, đảng cộng sản Việt Nam bi lâm vào thế chẳng đặng đừng lần lần phải để cho dân chúng được tự do phần nào, tức họ không thể áp dụng Chủ Nghĩa Xã Hội theo đúng chủ trương của họ nữa. Nhờ đó mà bây giờ dân có tự do tôn giáo khá nhiều . Nhà nước không đàn áp quá thô bạo như trước đối với các đạo Công Giáo, Hòa Hảo, Phật Giáo, Cao Đài . Kinh tế theo thị trưòng tự do làm cho một bộ phận dân chúng trở nên giàu và một phần dân chúng khác có đời sống khá hơn nhiều. Người dân không đụng tới quyền hành và quyền lợi của đảng thì có thể tạm sống yên ổn được và nói chuyện khá tự do. Nếu biết cấu kết với công an, người dân có thể làm giàu. Thành phần này hiện nay xuất hiện khá nhiều ở Việt nam . Ngoài ra, Công An không còn tha hồ bắt bớ người này người kia như thời gian trước đây .

Nếu Việt Nam có dân chủ thì tốt hơn nhưng đảng cộng sản vẫn cố tình kéo dài sự cai trị của họ từ năm này qua năm kia.

Nên nhớ sự cố tình ù lỳ này không có lợi gì bao nhiêu cho sự sống còn của đảng.

Một bài học khác  nữa là người Mỹ vẫn bị chia rẽ làm hai phe – một phe có người chạy theo  phong trào phản chiến còn phe kia thì bực tức đã thua Cộng Sản . Phe phản chiến trở thành Đảng Dân Chủ bây giờ và phe thua trở thành Đảng Cộng Hòa ngày nay .

Đảng Dân Chủ cho mình có lý trong cách giải quyết chiến tranh Việt nam là đem Việt nam giao cho Hà nội . Lấy được Miền Nam, Hà Nội có chính nghĩa . Hoa Kỳ và chế độ miền Nam phải bị lên án là quân xăm lược và bọn bán nước . Như vậy, Đảng Dân Chủ có thái độ hướng về mọi sự đòi hỏi của Hà nội từ 1975 đến giờ. Đối với các nước khác – Trung Quốc, Bắc Hàn,  thái độ của Đảng Dân Chủ là hay hòa huởn hay nhượng bộ cho những đòi hỏi của họ . Đảng Dân Chủ nói nhiều về nhân quyền ở các nước nhỏ nhưng mà làm rất ít – thí dụ ông Clinton đối với Rwanda hay Bosnia.

Đảng Cộng Hòa lo sợ sự suy yếu của Hoa Kỳ, thành ra khi có vụ 11 Tháng 9 xảy ra, thì họ cảm thấy Hoa Kỳ phải biểu dương sức mạnh, tức phải đánh . Mà đánh ai đây? Họ đánh Taliban ở A phú Hãn, rồi thấy chưa đủ thỏa mảng nhu cầu tâm lý nên họ đánh thêm Saddam Hussein.

Chủ trương đánh phe Al-Queda và ở Irak một cách vụng về, thiếu tính toán kỹ, nên đã tạo ra nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ kéo dài đến ngày nay . Cái khó khăn này đã không tránh khỏi làm cho người dân Hoa Kỳ còn bị ám ảnh bỡi cuộc chiến Việt Nam phản đối Chánh phủ, yêu cầu rút quân về, và đồng hóa với chiến tranh Việt Nam trước kia .

S.B. Young

(LTS: Bài trên thể hiện quan điểm của tác giả S.B. Young, một học giả giỏi Việt Ngữ và chuyên nghiên cứu về sử học VN, nhưng không phản ánh quan điểm của Việt Báo. Tòa soạn VB trân trọng cảm ơn nhà nghiên cứu S.B. Young đã gửi bài tới VB.)

1 GS Sử Học Hoa Kỳ Nhìn Lại: Quân Đội VNCH Can Trường…

GIÁO SƯ SỬ HỌC ANDREW WIEST . Việt Báo Thứ Ba, 4/29/2008, 12:02:00 AM

(LTS: Giaó sư Andrew Wiest đọc bài diễn văn sau trong buổi họp mặt của Cộng Đồng Người Việt Vùng Dallas, Fort Worth, phân tích rằng quân đội VNCH đã có sức mạnh kỳ diệu nhưng đã gặp quá nhiều bất công… Bài viết do Giáo Sư Trần Thủy Tiên dịch như sau.)

BÀI DIỄN VĂN Gửi Đến CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT DALLAS, FORT WORTH, Và CÁC VÙNG PHỤ CẬN

Nhân Ngày 26.4.2008

Trước hết, xin cho phép tôi được cám ơn Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt ở Dallas, Fort Worth và Các Vùng Phụ Cận, và ông Cung Nhật Thành, đã mời tôi đến đây để trình bầy trước một tập thể khán giả tuyệt vời như hôm nay.

*

Tôi chỉ có 14 tuổi khi Saigon thất thủ vào năm 1975, và vì vậy, tôi còn quá nhỏ nên đã không thể tham dự vào Cuộc Chiến Việt Nam của nước Mỹ.

Tuy nhiên, tôi đã nhìn thấy cuộc chiến qua ti vi, và những người anh lớn tuổi của các bạn tôi, đã thực sự chiến đấu trong cuộc chiến. Mặc dù lúc đó còn quá nhỏ, Chiến Tranh Việt Nam đã là cuộc chiến của thế hệ tôi về nhiều phương diện.

Sau bậc trung học, tôi đã lên đại học để nghiên cứu về lịch sử quân đội, nhưng lúc đó, không có ai giảng dạy các lớp học về Cuộc Chiến Việt Nam. Hậu quả là, tôi đã trở thành người viết lịch sử về Cuộc Thế Chiến Thứ I – nhưng việc tìm hiểu về Cuộc Chiến Việt Nam vẫn là niềm khát vọng sâu kín trong lòng tôi.

Năm 1997, tôi đã bắt đầu dạy các lớp ở trường đại học nơi tôi cư ngụ, Đại Học Miền Nam Mississippi, về Chiến Tranh Việt Nam. Trong khi chuẩn bị dạy lớp, tôi đã đọc rất nhiều về cuộc chiến, và cố gắng hết sức để quán triệt đề tài nầy, nhưng dường như vẫn còn điều gì đó thiếu sót về Cuộc Chiến Việt Nam. Để tiếp tục tìm kiếm giải đáp, tôi đã quyết định mang một nhóm sinh viên của tôi và các cựu chiến binh Hoa Kỳ, tới Việt Nam, để hiểu biết về Cuộc Chiến.

Chúng tôi đã đi từ Saigon tới Cần Thơ và Hà Nội, tôi đã học được rất nhiều, nhưng vẫn cảm thấy có cái gì đó thiếu sót.

Rồi chúng tôi đi đến Huế, nơi đó, tôi đã gặp ông Phạm văn Đính (PVĐ), người  đã làm được nhiều việc rất tài giỏi, với vị trí của một chỉ huy trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tuy nhiên, tôi lại biết được rằng PVĐ đã mang nguyên cả Trung Đoàn của ông đến gia nhập quân đội của kẻ thù trong Trận Đánh vào Lễ  Phục Sinh Tháng Tư 1972.

(* Người Miền Nam Việt Nam gọi là Trận Đánh Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.)

Khi trở về Hoa Kỳ, tôi gặp ông Trần Ngọc Huế, người đã từng là bạn và chiến hữu của Đính, và cũng đã thực hiện được nhiều chiến công đáng kể với vị trí chỉ huy trong quân đội VNCH. Nhưng khác với Đính, ông Huệ đã chiến đấu cho đến phút cuối cùng, dù lúc đó ông đang bị thương trầm trọng và bị bắt trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào của Quân Đội VNCH vào năm 1971, và đã bị tù 13 năm trong các ngục tù của quân Cộng Sản Bắc Việt.

Các câu chuyện về Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế đã thu hút và chiếm trọn tâm hồn tôi; tôi muốn những câu chuyện nầy cần phải được kể ra cho mọi người biết.

Tôi đã đi tới Việt Nam để cố ý tìm hiểu về Cuộc Chiến Của Người Mỹ. Nhưng điều mà tôi đã tìm thấy được, lại là Cuộc Chiến Của Người Việt Nam.

Tôi đã lập tức khởi sự nghiên cứu tất cả mọi thứ mọi việc mà tôi có thể tìm được về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Thật là ngạc nhiên, tôi tìm thấy quá ít. Cũng thật là nhanh chóng để cho tôi thấy rõ ràng là, Miền Nam Việt Nam và quân đội Miền Nam chỉ được kể đến trong những phần ghi chú ở cuối trang sách của các sách lịch sử của phương tây và người Mỹ khi viết về Chiến Tranh Việt Nam.

Lúc đó, tôi đã nhận thấy rằng; viết một quyển sách về Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế

không những sẽ là một niềm vui thích thú mãnh liệt cho cá nhân tôi, mà ngoài ra, khi xử dụng nghề nghiệp chuyên môn của họ như một bối cảnh văn chương cho việc mô tả, thì sau cùng, tôi có thể viết về Miền Nam Việt Nam và Quân Đội VNCH, vào trong phần lịch sử của Chiến Tranh Việt Nam.

Các quan điểm duy nhất về quân đội Việt Nam mà tôi đã tìm thấy trong văn chương Hoa Kỳ khi viết về quân đội Miền Nam Việt Nam, là một quân đội đầy khuyết điểm và đã bị tiền định cho sự thất bại vào tay quân cộng sản. Tuy nhiên, những sự kiện có thật mà tôi khai phá được, đã bác bỏ cái lối nhìn cổ điển nầy về Quân Đội VNCH.

Tôi đã khám phá được là, Quân Đội VNCH đã tranh đấu can trường, vật vã trong gian – khổ, chống lại quân cộng sản trong 25 năm, và đã tử trận trên 200,000 người. Để làm sáng tỏ sự kiện nầy, hai trọng tâm chính trong công việc nghiên cứu của tôi là Phạm văn Đính và Trần Ngọc Huế, mỗi người đã chiến đấu trong một thập niên để phục vụ xứ sở của họ, trước khi binh nghiệp của mỗi người dẫn họ đến hai điểm kết thúc hoàn toàn khác nhau.

Thật quá hiển nhiên là, đã đến lúc câu chuyện về Quân Lực VNCH phải được viết lại cho đúng. Cuốn sách của tôi, Quân Đội Việt Nam Bị Lãng Quên: Tính Cách Anh Hùng và Sự Phản Bội Trong Quân Đội VNCH, tập trung vào hai cuộc đời của hai người đàn ông trong khu vực Quân Đoàn I & Quân Khu I của Miền Nam Việt Nam.

Vì vậy, cuốn sách không thể trình bầy toàn thể lịch sử của một cơ cấu phức tạp như Quân Đội VNCH. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng, cuốn sách là một sự khởi đầu tốt đẹp, một bước tiến đến gần để giải thoát Quân Đội VNCH ra khỏi vị trí vô hình vô tâm của lịch sử.

Trong vài phút tới đây, tôi sẽ cố gắng phác họa đại cương những kết luận cơ bản của công việc nghiên cứu của tôi. Tôi muốn bầy tỏ ý kiến của tôi, là Quân Đội VNCH đã bị chiến đấu trong một cơ cấu có kế hoạch sai trái, lỗi lầm. Kế đó, giống như nhiều người khác ngày hôm nay, nhiều người Mỹ đã xem Chiến Tranh Việt Nam như là một sự tập luyện quân đội với một giải pháp quân sự của người Mỹ.

Thay vì đoàn kết làm việc chung với Quân Đội VNCH, các lực lượng mạnh mẽ của người Mỹ đã có khuynh hướng xô Quân Đội VNCH sang một bên, với ý muốn dành phần thắng trận về một phía cho người Mỹ mà thôi. Do đó, nỗ lực quân sự của người Mỹ, dù có ý định tốt, đã gây hậu quả áp đặt, làm mất sự độc lập của Quân Đội VNCH và trói buộc Miền Nam Việt Nam vào cái kiểu tác chiến của người Mỹ, không phải của người Miền Nam Việt Nam. 

Có thể nói, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, vị chỉ huy nổi tiếng và đáng kính của Sư Đoàn I, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã diễn tả đúng nhất, khi ông nhận định như sau: 

Bước vào cuộc chiến tranh nầy với vị thế và cách bố trí dàn quân của một đội lính cứu hỏa, người Mỹ đã hối hả chạy đến để cứu giúp căn nhà Việt Nam khỏi bị tàn phá, nhưng lại ít quan tâm tới việc chăm sóc cho các nạn nhân đang bị cháy ở trong nhà. Chỉ sau khi người Mỹ nhận biết rằng các nạn nhân cũng cần được chữa trị và tập luyện trở thành những người  lính chữa lửa để tự cứu lấy những căn nhà của chính họ, thì đến lúc đó, người Mỹ mới bắt đầu thực sự quan tâm chăm sóc cho họ. Nhưng thời gian quý báu đã trôi qua mất rồi, đợi đến lúc các nạn nhân cố gắng đứng lên và vừa mới bắt đầu đi được vài bước sau khi hồi phục, thì đội lính cứu hỏa lại nhận được mệnh lệnh phải trở về trụ sở cứu hỏa.                      

Bên trong cái cơ cấu sai lầm toàn diện nầy, Quân Đội VNCH đã chiến đấu lâu dài và can trường — đã hoàn thành được rất nhiều chiến công hơn cả những gì mà các sách lịch sử Mỹ ghi nhận về cuộc chiến nầy.

Từ các năm 1965 – 1969, các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH đã tham dự nhiều trận chiến nổi tiếng và vài trận mang tiếng xấu, trong Chiến Tranh Việt Nam.

Từ cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 của Việt Cộng, tới các cuộc đụng độ trong thung lũng A Shau (gần Quảng Trị), những trận đánh nầy được nổi tiếng trong lịch sử Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các sách lịch sử của người Mỹ đã sai lầm qua cách nhìn của họ, vì trong những sách nầy, Quân Đội VNCH thường xuyên bị bỏ quên trong các trận đánh.

Như vậy tôi tin rằng, để có một sự hiểu biết đầy đủ hơn về cuộc chiến nầy, lịch sử phải bắt đầu tường thuật về Quân Đội VNCH.

Công việc nghiên cứu của tôi đã mở rộng ra để mô tả toàn thể cuộc chiến. Tuy nhiên, tôi sẽ đưa ra hai thí dụ vững chắc làm đại diện cho lý do tại sao Quân Đội VNCH phải được viết vào lịch sử của Chiến Tranh Việt Nam.

Thử cầm lên bất cứ cuốn sách nào về cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng quân từ Miền Bắc tràn vào Miền Nam, các bạn sẽ đọc thấy rằng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã nắm giữ vai trò chính trong việc chiếm lại Thành Nội Huế nổi tiếng (ở Miền Trung) vào năm 1968. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu rộng hơn, sẽ thấy, mặc dù Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã chiến đấu rất gan dạ, nhưng thực ra chính những người lính của Quân Đội VNCH thuộc Sư Đoàn I, dẫn đầu bởi Đại Đội Hắc Báo, được chỉ huy bởi Trần Ngọc Huế, đã bảo vệ và chiến đấu mãnh liệt nhất để chiếm lại Cố Đô Huế.

Trong một thí dụ khác, đa số người tây phương đã nghe về Ngọn Đồi Hamburger, một trận đánh trong đó lực lượng Nhẩy Dù Hoa Kỳ đã chiếm giữ được một ngọn đồi hẻo lánh trong rừng từ sự chống trả ác liệt của quân Việt Cộng. Tuy nhiên, điều mà nhiều người không biết là chính Phạm Văn Đính và Tiểu Đoàn Bộ Binh VNCH của ông ta mới là những người đầu tiên đã tiến lên tới đỉnh Ngọn Đồi Hamburger trong trận đánh then chốt đó.

Do vậy, ý tôi muốn nói là, ngay trong những vấn đề nhỏ về chiến thuật như trên, chỉ bằng cách viết về Quân Đội VNCH vào trong lịch sử của Chiến Tranh Việt Nam, chúng ta sẽ thực sự hiểu được cách thức diễn tiến của cuộc chiến ra sao.

Một sự kiện đáng chú ý khác nữa là đa số sách vở tây phương viết về Chiến Tranh Việt Nam chỉ viết sơ sài vắn tắt về bất cứ những gì xẩy ra sau năm 1968. Lúc đó, sau năm 1968, mối quan tâm quyền lợi của người Mỹ trong cuộc chiến đã suy giảm, và phương sách tách rời khỏi Việt Nam đã bắt đầu.

Thật là một khuyết điểm trầm trọng trong việc tường thuật về lịch sử của chiến tranh Việt Nam, vì trong khi tấn bi kịch quốc gia của nước Mỹ lúc đó đang tiến đến hồi kết thúc, thì bi kịch quốc gia của Miền Nam Việt Nam đã chỉ mới bắt đầu.

Trong khi được huấn luyện và trang bị để sinh tồn là một phần quan trọng trong cuộc chiến của người Mỹ ở Việt Nam, thì Quân Đội VNCH bất thình lình thấy hầu như chỉ còn một mình lẻ loi trong những trận đánh quan trọng nhất của toàn thể cuộc chiến, nhưng lại không được thông báo trước.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào năm 1971 giữ vị trí khá quan trọng trong cuốn sách của tôi. Đó là một trận chiến chứng minh rằng Quân Đội VNCH đã có những sức mạnh kỳ diệu. Quân Đội VNCH đã chiến đấu can đảm trên các vùng đất của kẻ thù với các lực lượng đông hơn và mạnh hơn nhiều.

Tuy nhiên, đó cũng là một trận đánh đã chứng minh rằng Quân Đội VNCH vẫn cần sự ủng hộ của người Mỹ trong một thời gian nào đó, trước khi trở nên độc lập hoàn toàn.

Nhưng thay vì tạm ngưng để học hỏi từ các bài học của cuộc hành quân Lam Sơn 719 rồi tiếp tục, người Mỹ chỉ muốn rút lui ra khỏi chiến tranh Việt Nam cho nhanh.

Kế đến là Trận Chiến Mùa Hè Đỏ Lửa (Tháng Tư, 1972), một cuộc công kích ồ ạt và bất thình lình của quân Cộng Sản Bắc Việt, đã chờ đợi để tấn công, sau khi tất cả các lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ đã thực sự rời khỏi Việt Nam.

Trong các giai đoạn đầu của trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa nầy, một vài đơn vị của Quân Đội VNCH đã tỏ ra yếu ớt không vững mạnh, đáng kể là đơn vị đầu hàng của Phạm văn Đính ở Trại Carroll.

Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của không lực Hoa Kỳ, Quân Đội VNCH đã trấn giữ vững chắc  trong những trận tranh hùng ác liệt tại chỗ như Cổ Thành Quảng Trị và An Lộc – những trận quyết chiến can đảm như trong các bài anh hùng ca, hầu như đã bị bỏ quên trong nhiều sách lịch sử tây phương viết về Chiến Tranh Việt Nam.

Lịch sử của cuộc chiến nầy, một khi Quân Đội VNCH được lưu tâm chú ý, phải tạo lập nên một câu chuyện khác hẳn với những gì đã tìm thấy trong nhiều sách.

Quân Đội VNCH, mặc dù có khuyết điểm, đã chiến đấu dai dẳng và can trường, đã có thể thắng trận và xứng đáng với sự chiến thắng. Tuy nhiên, Quân Đội VNCH đã bị hiện hữu quá lâu như một thành phần phụ thuộc bổ túc do một định nghĩa sai lầm của người Mỹ về Chiến Tranh Việt Nam.

Bên trong cái cơ cấu của cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Việt Nam, Quân Đội VNCH đã hoạt động hữu hiệu trong các trận đánh, nhưng lại bị bỏ quên quá thường xuyên bởi lịch sử, từ Trận Tết Mậu Thân đến Đồi Hamburger.

Tuy nhiên, các cuộc giao tranh với quân Việt Cộng ở Hạ Lào và Mùa Hè Đỏ Lửa Tháng Tư, đã xác định rằng Quân Đội VNCH vẫn cần có thờì gian để xem lại cuộc chiến của mình và để trở nên tự lập — điều mà Quân Đội VNCH xứng đáng được hưởng.

Nhưng, buồn thay, sự kiên nhẫn của nước Mỹ đối với Chiến Tranh Việt Nam đã suy giảm, và sự rút lui của người Mỹ ra khỏi cuộc chiến đã diễn ra quá nhanh và quá ồ ạt nên Quân Đội VNCH đã không thể tồn tại một cách độc lập kịp thời.

***

Đã đến lúc phải viết lịch sử của Quân Đội VNCH vào lịch sử của Chiến Tranh Việt Nam.

Chỉ bằng cách tìm hiểu Quân Đội VNCH, chúng ta mới có thể hiểu được lịch sử thật sự của chiến tranh Việt Nam, và có thể học hỏi được từ kinh nghiệm nầy.

Một điều tôi hy vọng nơi cuốn sách của tôi là nó phải chứng minh được rằng, Quân Đội VNCH đã quyết chiến lâu dài và quả cảm vì lý tưởng Tự Do, và Quân Đội VNCH xứng đáng có một sinh mệnh tốt đẹp hơn.

Một lần nữa, tôi xin được cám ơn quý vị đã cho tôi cơ hội nói chuyện hôm nay, và tôi xin kết thúc bằng cách cúi chào những cựu chiến binh của các Lực Lượng Quân Đội VNCH.

Quý vị, các bạn của tôi đây, là những anh hùng. Và tôi vinh dự được làm người thông tin tường thuật cho quý vị.

Gs TRẦN THỦY TIÊN dịch thuật sang Tiếng Việt

Bài Viết của Giáo Sư ANDREW WIEST

Đại Học Miền Nam Mississippi

Buổi Nói Chuyện vào ngày 26.4.2008,

Tại thành phố Grand Prairie, Texas

Cho Ngày Quốc Hận 30.4.2008

Do Hai CDNVQG Dallas & Fort Worth tổ chức.

Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hoà: Tháng Ba Đen! Tháng Tư Đen!

TÔN THẤT SANG . Việt Báo Thứ Hai, 4/28/2008, 12:02:00 AM

BS Tôn Thất Sang

 

LTS. Bác sĩ Tôn Thất Sang, hiện là cư dân Sacramento,  là tác giả bài viết “Đi Nhận Xác Thầy”, kể lại việc ông và các đồng môn đi nhận thi hài những giáo sư người Đức tại Đại Học Y Khoa Huế bị Cộng Sản tàn sát. Cuối tháng Ba vừa qua, ông là đã đại diện Hội Ái Hữu Y Khoa Huế phát biểu trong  hai ngày Tưởng Niệm Tết Mậu Thân do Việt Báo tổ chức. 

“Đà Nẵng mất vào ngày 29-3-75… Saigon và toàn miền Nam có tháng Tư đen, riêng miền Trung có tháng Ba đen.” Đó là nội dung bài viết sống động và xúc động của Bác sĩ Tôn Thất Sang. Việt Báo trân trọng giới thiệu với bạn đọc. 

*

Tuấn xem lại ổ đạn, cẩn thận đóng chốt an toàn của cây colt 45, xóc lại chiếc áo giáp nặng nề, kiểm soát mọi người, và sau đó chàng mới dìu vợ lên chiếc xe jeep nhà binh bây giờ đã quá đầy người. Vợ chàng đang mang thai đứa con đầu lòng được gần 6 tháng. Nhìn nàng bụng mang dạ chửa mà đất nước đang hồi dầu sôi lửa bỏng, bất giác Tuấn thở dài thương cảm!

Đà Nẵng đang ở vào cảnh hỗn loạn cùng cực của một bầy cá đủ loại đang bị lúng túng trong chiếc rọ khổng lồ. Ngoài đường, binh lính thuộc mọi quân binh chủng như rắn không đầu vì không có cấp chỉ huy, lang thang, hỗn loạn, vô trật tự. Có nơi đã xảy ra một vài vụ cướp! Bây giờ là ngày 29-3-75, ngày cuối cùng của thành phố lớn thứ hai của miền Nam trước khi lọt vào tay CS! Đêm qua VC đã pháo kích phi trường Đà Nẵng, căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Đã có nhiều trái đạn lạc vào nhà dân ở Phước Tường và bãi biển Nam Thọ gây tử thương cho nhiều gia đình. Quân CS đang, vượt qua đèo Hải Vân trên đường tiến quân vào Đà Nẵng. Tuấn biết điều đó, nhưng lúc nào chàng cũng trọng trách nhiệm và muốn liên lạc chặt chẽ với đơn vị nên chàng vội vàng mang vợ và gia đình lên Liên đoàn Công Binh Chiến Đấu đồn trú tại Hòa Khánh gần vùng biển Nam ô. Chàng đã cho tài xế nghỉ sáng nay để anh ta thu xếp gia đình.

Tuấn lái xa cẩn thận dọc đường Thống Nhất, gần đến ngã ba Cây Lan, chàng nghe tiếng đạn nổ giòn xen lẫn với nhiều tiếng la hét quát tháo. Nhìn về phía kho gạo ở phía trái, gần ngã ba vào Tổng Y Viện Duy Tân, Tuấn thấy dân chúng và lính tráng đông như kiến đang chen lấn giành nhau vào kho gạo mà cửa đã bị phá ra thật lớn. Thỉnh thoảng những tràng đạn chỉ thiên lại vang lên từng nhịp làm mái tôn như rung lên với những lỗ vở ra toang hoác ở mái. Cũng may là lính tráng chỉ bắn chỉ thiên để hù dọa nên không có ai bị thương! Tuấn thở dài, nhìn dân chúng và lính tráng đẩy từng xe cải tiến đầy gạo được chuyển từ kho ra. Chợt Tuấn cảm thấy chua xót khi thấy anh em binh sĩ, mới ngày nào đây là những chiến binh gan dạ, xông pha trận mạc, giữ gìn từng tất đất, không hề lùi bước trước quân thù. Nay, vì sự phản phúc bội ước của ngoại bang.. vì sự bất tài của chóp bu và do sự ngã giá theo điệu con buôn của tập đoàn tư bản và tập đoàn CS quốc tế, đồng minh với Việt cọng,  mà miền Nam Việt Nam phải chịu muôn vàn đắng cay tủi nhục, hy sinh cả một quân đội hùng mạnh đứng hàng thứ tư trên thế giới! Tuấn chua xót nhìn anh em trong cảnh sẩy đàn tan nghe,Ô đang tan ra  từng mãn nhỏ, đang tự hủy dần vì cái ngu dốt của cấp lãnh đạo với quân lệnh “Di tản chiến thuật” cũng gần đồng nghĩa với ” Chưa đánh đã chạy”! Giờ đây, cấp chỉ huy không còn, vợ con ly tán, nhà cửa thất lạc nên anh em rất dễ bức xúc làm càng!

Giao thông như tắc nghẽn, vì hầu như dân chúng đều đỗ ra đường, lao xao như gà mất mẹ, kẻ xuôi, người ngược gọi nhau inh ỏi, hoang mang cùng cực. Dòng xe ngược chiều từ Hòa Khánh đổ về như khựng lại, trên trần xe, thúng mủng, nồi niêu xoong chảo, con nít, người lớn đeo la liệt. Họ nói trong vẻ hốt hoảng là CS đã vượt đèo Hải Vân, gần đến ngã ba Hòa Mỹ rồi, họ kêu gào, khóc lóc, tất cả đều mang vẻ hốt hoảng, hoang mang của ngày tận thế!

Đang miên man suy nghĩ, chợt Tuấn như chợt tỉnh vì tiếng ai gọi lớn:

-Bác sĩ, bác sĩ đi dâu đó?

Định thần nhìn lại, chàng thấy Trung Úy Thủy, phó ban Tài chánh Liên Đoàn, đang nhảy vội xuống xe lam đến bên Tuấn.

-Chào anh Thủy, đang định lên Liên Đoàn đây, Tuấn trả lời.

Thủy cười như mếu, trách nhẹ:

-Cái ông này, Liên Đoàn di tản lúc 2 giờ sáng hồi hôm rồi. Đại tá Liên Đoàn trưởng cùng đi với các đại đội trưởng Cầu Nổi, Cầu Ghép, Công Sự Nhẹ, Chỉ huy công vụ và Khai Quang rồi.

-Bằng phương tiện gì?-Tuấn hỏi.

-Lên phà do Đại đội Cầu nổi và Cầu Ghép thiết kế. Tất cả lên pha,ợ ra tàu lớn đậu ngoài vùng biển khơi Nam ô. Thôi BS trở lại Đà Nẵng đi, VC về đến Nam Ô rồi. Tuấn cảm ỏn Trung Úy Thủy và chúc anh bình an. Thủy chào chàng và vội vàng chạy đeo lại chiếc xe lam hồi nãy vẫn còn nhích tường bước như rùa bò.

Tuấn tìm cách trở xe lại. Chàng đi ngược lại phía đường Nguyễn Hoàng vì lối này tương đối ít người hơn. Nhìn sân Ga vắng ngắt chợt Tuấn có cảm giác rờn rợn. Một toán TQLC không có cấp chỉ huy đang từ sân ga tràn ra đường. Để ý Tuấn an lòng vì thấy họ không có vũ khí, tuy nhiên thấy anh nào cũng thủ tay trong áo trận, không biết trong ấy có lựu đạn hay không! Hai ba anh tiến đến xe Tuấn với thái độ hung hãn, toan chận lại, nhưng chàng bình tĩnh ứng xử nên không có gì đáng tiếc xảy ra. Nhìn các anh lính đằng đằng sát khí, chàng thở dài tiên đoán rồi thành phố sẽ có những cảnh cướp giật xảy ra trong cảnh hỗn quan hỗn quân này!

Tuấn nhớ lai ba ngày trước: 26-3-75, cố đô Huế thân yêu của chàng cũng đã lọt vào tay Cọng quân, cũng do lệnh Di tản chiến thuật của từ chóp bu đưa xuống, lại thêm có vài chỉ huy trưởng thiếu trách nhiệm tìm cách chạy lấy thân, đem con bỏ chợ làm  cho nhiều binh đoàn bộ binh không có kế hoạch rút quân hoàn chỉnh đến nỗi tất cả các đơn vị hầu như đều rút về cửa Tư Hiền, kể cả các Tiểu Đoàn TQLC 3, 4, 5, 7 , Tất cả đều tập trung quân ở một vị trí mà phía sau là mé biển Đông,, có lẽ các chỉ huy trưởng muốn bắt chước Hàn Tín lập “Bối Thủy Trận”để quân sĩ hết đường thoát mà chiến đấu đến cùng chăng?! Tuy nhiên cũng vì phơi mình ra khơi khơi không có vị trí che chở phòng vệ nên anh em binh sĩ đã bị thiệt mạng rất nhiều dưới những tràng đạn đại liên cũng như súng cối của CS! Tuấn cũng nghe những binh sĩ đã thoát được từ vùng biển chết ở cửa Tư Hiền từ Huế vào kể cho nghe những vụ bắn giết nhau trên chiếc hạm to lớn 801 giữa TQLC và bộ binh mà phần thiệt hại cho bộ binh rất nhiều.(Sau nầy khi đến Mỹ, đọc lại hồi ký ” Tháng ba gãy súng” của  Đại Đội phó đại đội 4, tiểu Đoàn 4 TQLC – Cao Xuân Huy – kể lại những cảnh kinh hoàng trên bãi biển cửa Tư Hiền của những toán quân không còn cấp chỉ huy, cùng những cảnh  TQLC bắn người trên vận tải hạm 801 và những cảnh tự sát tập thể đầy oai hùng của anh em binh sĩ thề không quyết sa vào tay giặc, Tuấn không khỏi bùi ngùi thương cảm cho số phận những quân nhân của giờ thứ  25! )

Trở về nhà, ở tòa Đặc Ủy Giám Sát vùng I ở  góc đường Độc Lập và Thống Nhất, Tuấn thay vội bộ quân phục. Nhìn Khu Giám Sát Viện với người đi kẽ ở vội vã,, nét hooang mang hiện trên nét mặt mọi người,, Tuấn thấy lòng như trùng xuống, hoang mang trước cảnh đổi thay của đất nước!. Nhìn ra phía bờ sông Hàn, phía tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, chàng thấy những cuộn khói đen mịt mù bay lên xen lẫn với những tiếng nổ nhỏ, chàng biết các nhân viên sở Mỹ đang hủy hồ sơ. Trên không hai chiếc trực thăng HU1B đang vần vũ tìm cách di tản những người Mỹ còn sót lại. Tự nhiên Tuấn cảm thấy một nỗi tức giận không kiềm chế được mà chàng ước gì có trong tay một khẩu đại liên thì -chàng cũng không ngại bắn vào một trong hai chiếc đó, rồi ra sao thì ra! Đó là nổi tức giận đầy cảm tính của những người trong cuộc chơi bị kẻ đồng hành phản bội,  cuộc cờ chưa tàn mà đã vội hy sinh sĩ tốt, xe pháo của mình để chạy lấy thân, sống chết mặc bây! (Sau nầy khi ở tù trại Kỳ Sơn, Tuấn cũng đã nhiều lần hỏi cảm tưởng của các bạn tù từng phục vụ ở các đơn vị tác chiến. Chàng còn nhờ Đại Úy Giản, đại Đội trưởng đại đội dù đóng ở cầu Phan Thanh Giản cũng đã tức giận trả lời là anh suýt ra lệnh xạ thủ đại liên bắn vào các trực thăng Mỹ đang tìm cách di tản những người Mỹ và những ông to bà lớn trên các cao ốc gần đó, tuy nhiên anh đã kìm hàm kịp thời nên cuối cũng không có việc gì đáng tiết xảy ra. Sau nầy chàng hiểu ra rằng kết quả của cuộc chiến Việt Nam chỉ là hệ quả của cuộc mua bán đổi chác vì quyền lợi của tập đoàn Tư Bản và của tập đoàn phù thủy Cọng Sản quốc tế mà CS Việt Nam cũng chỉ là một thành viên, một con cờ mà thôi!

Tuấn chua xót, nhìn vơ,ỳ bụng mang dạ chửa đang loay hoay lôi hết những bộ quân phục của chàng đem ra đốt, nàng cũng cẩn thận đem luôn tất cả giấy tờ, hình ảnh kỷ niệm trong thời quân ngũ! Chàng chợt nực cười khi thấy nàng loay hoay cố đốt cháy cho hết những hình Playboy hấp dẫn mà chàng đã có công cất giấu trong hộc tủ tử bấy lâu nay. Vừa đốt, nàng vừa phì cười đay nghiến:

-Bọn VC vào mà thấy những hình yêu quỉ nầy thì chúng cho ở tù mút mùa!

Tuấn chợt vui vẻ bảo vợ:

-Em đừng lo, bọn VC mà thấy những của nợ nầy thì chúng sẽ thu dấu để đêm tối đem ra xem cho sướng mắt mà trầm trồ : “sao cái món gì của Tư Bản cũng to và thơm thế!”

Vợ chàng lại cằn nhằn:

-Anh còn cất những thư từ gì nữa không? anh có những chỗ bí mật mà buổi nay em mới biết!

Trong khoảng khắc chàng chợt khám phá ra rằng lòng ghen tuông của đàn bà nhiều khi lại đáng sợ hơn Việt Cọng nữa! và chàng cảm thấy may mấn là trước đó đã đốt kịp những bức thư tình của những người “tình lỡ” trước khi nàng lục đến, nên vô tình tránh được những màng vấn đáp đến “nhức xương”!

Nhìn ngọn lửa tàn lụi dần, Tuấn có cảm giác chua xót như cuộc đời bình yên của chàng, gia đình chàng, Tổ Quốc chàng rồi cũng phôi pha dần theo năm tháng dưới chế độ hà khắc của CS và quãng đường tiếp theo, chỉ là những cơn bão tố phũ phàng…

Chàng nhớ lại, mới vài tháng trước đây, chàng và vợ đã xem phim Docteur Jivago ở rạp Kim Châu ở đường Độc Lập. Chàng cảm thương cho số phận người Bác Sĩ không may, đã sinh ra trong thời nhiễu nhương bị Cọng Sản cướp chính quyền, ăn không đủ no, lạnh không đủ cũi để sưởi ấm đến nỗi phải đi tìm, đánh cắp những khung cửa sổ để làm cũi, nhóm lửa. Chàng đã ghê sợ những trại tập trung lao động khổ sai dưới cái lạnh cắt người của vùng Tây Bá Lợi Á…Chàng cũng thương cho mối tình lãng mạng của Lara và Jivago và nhất là bài tình ca bất hủ ” Chanson de Lara” mà cũng là bản nhạc nền cho phim…  Chàng nhớ sau khi xem cuốn phim xong, có nhiều người đã khóc, chàng nhìn lên đôi mắt vợ, thấy long lanh. Tuấn xúc động, hỏi nhỏ:

-Nếu lở mai sau miền Nam cũng chịu cảnh VC xâm chiếm thì em có sợ không?

-Nàng rùng  mình nắm chặt tay chàng nói nhỏ hơn:

-Đừng nói gở anh, em sợ lắm!

Trong mơ hồ, chàng chợt có linh cảm rồi cuộc đời mình sau nầy cũng sẽ có những nỗi khổ tương đồng với Jivago!

Tiếng kêu của con mèo Luna làm Tuấn trở về thực tại. Vợ chàng vội vàng trộn đồ ăn cho cả bầy bảy con mèo của chàng. Nhìn nàng đang trìu mến vuốt ve từng con vừa khóc vừa nói nhỏ với chúng những lời từ giã, lòng Tuấn như se thắt lại. Chàng biết rồi đây vợ chàng và chàng sẽ vĩnh biệt bầy mèo cưng yêu quí này, vì ngay cả số phận của cả hai người cũng chưa biết trôi dạt nơi nao trong khi từng binh đoàn VC đang ồ ạt tiến vào thành phố!

Bầy mèo là niềm yêu thương của cả hai người., Vợ chàng  đặt cho mỗi đứa một tên: Luna -con mèo mẹ dịu hiền hai màu đen trắng, lông mướt như nhung- là thủy tổ của bầy mèo mà nàng đang nuôi-, mang trên cỗ chiếc ribbon màu đỏ. Kế đó là Nu, Ni,Bi, Bốp, Lu, La. Sáu con sau nầy đực cái đều có và đủ màu kể cả tam thể. Theo thứ tự đẻ trước sau, nàng đeo ribbon có các màu cam. vàng, xanh, lam, chàm, tím theo hiện tượng tán sắc bảy màu của mống trời, tượng trưng cho niềm vui và hạnh phúc. Bầy mèo là niềm thương nổi nhớ, là niềm kiêu hãnh là nguồn vui của cả hai người; thế mà giờ đây nàng sắp phải xa lìa chúng; còn nỗi khổ nào hơn!! Không dừng được, Tuấn cũng vội ôm lấy con Bốp, con mèo đực to nhất, hai màu đen trắng mà chàng thương mến nhất vì nó có đôi nét giống chàng là có rất nhiều đào! Nó vội dụi đầu vào má chàng cất tiếng rù nho nhỏ nũng nịu, tự nhiên Tuấn thấy mình muốn khóc…

Những nhà trong khu Giám sát viện cũng đã trống vắng nhiều. Nhìn những đống tro tàn còn ngún lửa, chàng thấy tuồng như trong những sợi khói mỏng manh đó còn vấn vương ấm áp tâm sự của những kỷ niệm vàng son  mới ngày nào, những kỷ niệm mà chàng biết sau nầy khó có thể mà gặp lại  một khi đã bị cai trị dưới chế độ CS!

Khoảng quá trưa thì VC xuất hiện ở dường Thống Nhất, họ di chuyển bằng xe Molotova còn mang cả cành lá ngụy trang đã khô héo. Dòng xe di chuyển chậm, những cán binh còn quá nhỏ ngồi hai bên thành xe ôm súng ở tư thế chiến đấu. Đoàn xe đi chậm như diễn hành . Nét mặt họ còn mang nặng nỗi nhọc mệt và hoang mang ngạc nhiên trước cảnh bỏ ngõ và sự thịnh vượng giàu sang của thành phố. Chính họ cũng không tưởng cái chiến thắng không ngờ của họ thật ra đã được dàn xếp từ những tập đoàn tư bản chóp bu, những tay lái buôn súng đạn, đã phản bội ngay cả thân xác của những đồng đội mình để cuốn theo vòng quỹ đạo của tập đoàn CS quốc te,ả chuyên môn buôn thân xác của các đồng chí ngây thơ – sinh Bắc tử Nam – kích thích chuyên chính vô sản bằng bạo lực,  hủy diệt nhân mạng cả mấy triệu đồng bào cả hai miền và ngay cả sinh mạng các cán binh còn vương nét ngây thơ. Chúng quyết tâm củng cố cho được quyền lực của đảng và của chính mình bằng cái triết thuyết Cọng Sản tàn bạo, phi quốc gia và không tưởng của chúng!

*

Tháng Ba 75 là tháng thọ đại nạn của miền Trung!! Khởi đấu là sự thất thủ Ban Mươi Thuộc kể từ sáng ngày 11-3-75 do sự đánh giá quờ quạng của viên tư lệnh chiến trường không biết đâu là điểm, đâu là diện, cuối cùng đã trúng kế dương đông kích tây của địch!

Quyết định Cam Ranh đơn phương của Nguyễn văn Thiệu vào ngày 14-3-75 cho cuộc triệt thoái Cao nguyên, rút bỏ Quân Đoàn II và mặc cho số phận của hơn 100.000 dân hai tỉnh Pleiku, Kontum và gia đình binh sĩ, là một ván bài thấu cáy với chính quyền Mỹ để mong vớt lại viện trợ . Than ôi ván bài xả láng đã thua hết vốn! Lệnh bỏ Quân Đoàn II đã gây nên hậu quả dây chuyền , rối loạn quân tình và làm sụp đổ theo cả những Quân Đoàn còn lại  và cuối cùng toàn miền Nam  đã rơi vào tay CS!

Ngày 17-3-75 rút bỏ Quân Đoàn II cũng là ngày Trung Đoàn 53 Bộ Binh bị tràn ngập vị trí phòng thủ ở Phước An sau hơn một tuần chiến đấu cô đơn! Họ đóng chốt tử thủ và đã hy sinh đến người lính cuối cùng – chữ Tử Thủ đúng nghĩa của những Anh Hùng, da ngựa bọc thây- chứ không phải từ miệng của những viên tướng điếm đàng, miệng hô tử thủ trong khi một chân đã ở trên sàn máy bay!!

 Ngày 26-3-75, lệnh “Di tản chiến thuật” tiếp theo làm mất tiêu xứ Huế ngàn năm văn vật và cũng đã làm thiệt mạng không biết bao nhiêu quân và dân trên đoạn đường vượt thoát bằng đường biển từ Thuận An, Tư Hiền (nhất là Tư Hiền ) vào Đà Nẵng!

Đà Nẵng mất vào ngày 29-3-75, cái thế môi hở răng lạnh đương nhiên khi Huế đã không còn nữa!

Saigon và toàn miền Nam có tháng Tư đen, riêng miền Trung có tháng Ba đen. Ba đen, Tư đen hay Năm đen nói chung là nỗi nhục mất nước của con dân chúng ta. Chúng ta không cần ai giải phóng, chúng ta chỉ muốn có Hòa Bình, Độc Lập và nhất là phải có Tự Do trên mọi lãnh vực.

Hôm nay, ngoảnh nhìn lại cũng đã qua hơn 30 rồi tháng Ba đen, Tư đen!

CS nói quê hương đổi mới đã nhiều. Thế nhưng chỉ đổi mới cái võ bên ngoài của một vài thành phố, có cao ốc hào nhoáng hơn, có khách sạn lộng lẫy hơn, có khiêu vũ trường rộn rịp hơn…

Tuy nhiên “xét vấn đề đừng nên xét hiện tượng mà phải xét bản chất”.Khách sạn, vũ trường chỉ là những “hiện tượng” dễ làm mọi người võ đoán!, “bản chất” là ở đoàn hành khất phải lìa bỏ xứ lên Saigon và các thành phố lớn kiếm ăn, bản chất là ở dân chúng giàu nghèo càng ngày càng cách biệt; tư bản đỏ sống như đế vương, trong lúc đám dân đen còn quá lầm than khổ cực, cơm độn ăn không đủ no! Nạn buông hương bán phấn lan tràn khắp mơi nơi, bản chất là xuất cảng các em gái ngây thơ qua các nước làm nô lệ tình dục để kiếm ngoại tệ, bản chất là đem giang sơn hoa gấm dâng cho tàu cọng để mua bả vinh hoa, củng cố thế lực đảng để cai trị được trường tồn… vân vân và vân vân..

 Đó mới là bản chất, mới là “cốt lõi” của vấn đề..!

Cầu xin ơn trên gia hộ cho Dân tộc Việt Nam chóng hưởng được

Việt Nam: Mặt Trái Của 30-4

PHẠM TRẦN . Việt Báo Thứ Sáu, 5/2/2008, 12:02:00 AM

Hoa Thịnh Đốn.- Mỗi lần kỷ niệm 30 tháng Tư là thêm một lần phải nghe người Cộng sản Việt Nam nói phét để che đi những cái xấu của chế độ.

Năm nay, 2008, cũng không ngoại lệ mà họ còn huyênh hoang hơn.

Chẳng hạn như Vũ Duy đã hào sảng trong báo Điện tử của Trung ương Đảng : “Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi tuyệt đối, thắng lợi trọn vẹn của cả dân tộc ta trong kỷ nguyên Hồ Chí Minh. Sự kiện vĩ đại này không phải là kết thúc một cuộc nội chiến như một số kẻ rêu rao mà là kết thúc thắng lợi một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, kẻ thua trận là lực lượng ngoại xâm và tay sai của chúng và mọi người Việt Nam yêu nước là người chiến thắng.”

Trước hết cả thế giới biết người Mỹ không xâm lược chiếm lãnh thổ của Việt Nam như người Pháp nên không làm gì có “chiến tranh chống ngoại xâm”. Và cả thế giới cũng biết Quân đội miền Nam không hề xâm lăng miền Bắc mà chỉ thấy lực lượng Bộ đội miền Bắc, được cả khối Cộng sản thế giới do Nga-Tầu lãnh đạo, cung cấp vũ khí đã đi chiếm đất, dành dân của người miền Nam.

Với tình huống như thế, một mình 20 triệu dân miền Nam không có sức và lực để chống lại khối Cộng sản nên đã phải cầu viện từ bên ngoài. Hoa Kỳ và các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa trong vùng Á Châu (Phi Luật Tân, Thái Lan, Nam Hàn) và Thái Bình Dương (Úc và Tân Tây Lan) đã đem quân giúp nhân dân miền Nam chống cuộc xâm lăng của miền Bắc.

Cuộc chiến tranh như thế thì do ai chủ động? Miền Bắc hay miền Nam mà bảo không phải là cuộc “nội chiến” ?

Hơn nữa nếu miền Bắc không để lại trong Nam trên 30 ngàn quân du kích sau Hiệp định Geneve 1954 và Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam không quyết định xâm chiếm miền Nam từ năm 1960 thì làm gì có chiến tranh Nam-Bắc ?

KẺ NÀO TAY SAI ?

Còn “kẻ thua trận là lực lượng ngoại xâm và tay sai của chúng” là ngôn ngữ của kẻ ngông cuồng vô ý thức.

Chính quyền miền Nam là “tay sai” Mỹ ư ? Vũ Duy hãy đọc lại Tập Sách Trắng của Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành tháng 3/1979, sau Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Tàu, để biết Cộng sản Tầu đã đối xử “chủ-tớ” ra sao với đảng Cộng sản Việt Nam trong vấn đề biên giới giữa hai nước.

Hành động “bầy tôi” của CSVN còn tiếp tục diễn ra trong hai năm 1999 và năm 2000 khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ký Hiệp Định Biên Giới và Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ với Bắc Kinh.

Nhưng bằng chứng dâng đất, dâng biển cho Tầu của Cộng sản Việt Nam đã có từ thời Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng khi Đồng xác nhận bằng văn thư năm 1958 đồng ý nhượng chủ quyền các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam cho Bắc Kinh.

Thái độ bạc nhược của cả chế độ trước sức ép của Tầu còn được chứng minh không những trước 83 triệu người dân mà cả thế giới khi nhà nước ngăn chặn, khủng bố và đàn áp thanh niên, sinh viên và người dân yêu nước xuống đường biểu tình trong hai ngày 9 và 16 tháng 12-2007 đòi Tầu trả lại Hoàng Sa và từ bỏ âm mưu chiếm Trường Sa.

Hành động sợ Tầu trả đũa của chính quyền đã đẩy người dân yêu nước đứng sang hàng ngũ đối lập với đảng CSVN như khi nhân dân miền Nam phải tự vệ chống cuộc xâm lăng của miền Bắc trong 20 năm chiến tranh. Vì vậy, chiến thắng quân sự của Bộ đội miền Bắc và đảng CSVN ở trong Nam ngày 30-4-1975 không thể được coi là chiến thắng của “mọi người Việt Nam yêu nước.”

Bằng chứng “mở mắt” của người lính Cộng sản và nhân dân miền Bắc khi nhìn thấy cuộc sống và sự phát triển kinh tế của miền Nam sau cuộc chiến 33 năm trước đây đã khiến nhiều người Cộng sản phải đau lòng, nhưng đã qúa muộn để hối hận vì đã nhẹ dạ để cho đảng đánh lừa đi theo cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”.

Do đó, càng ngược ngạo khi Vũ Duy đã sai trái nói rằng chiến thắng 30-4 của đảng CSVN có thể : “ Sánh ngang tầm với chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, nhà Lý thắng quân Tống, nhà Trần thắng quân Nguyên, nhà Hậu Lê thắng quân Minh, nhà Tây Sơn thắng quân Thanh, Điện Biên phủ thắng quân Pháp… Nó là niềm tự hào chung của mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay ở ngoài nước, dù đang sống hay sẽ ra đời.”

So sánh như thế là vô lễ, xúc phạm đến tiền nhân. Các anh hùng dân tộc đã đánh thắng quân xâm lược, bảo tòan bờ cõi vì có nhân dân dốc lòng một dạ đoàn kết đứng sau lưng các Ngài.

Cuộc chiến thắng quân sự của đảng CSVN ngày 30-4-1975 ở miền Nam là kết qủa của một cuộc đánh lừa nhân dân vĩ đại của thế hệ tự phong thuộc thời đại Hồ Chí Minh.

Những kẻ chiến thắng đã che dấu không biết bao nhiêu tội ác mà họ đã gây ra cho dân tộc từ sau cuộc chiến. Từ nhiều chục ngàn người dân vô tội bị chết chìm trên biển Đông cho đến những thảm cảnh bị chia lìa, gia đình tan hoang, chết mất xác trong các trại tù lao động từ Nam ra Bắc, và sau này, hàng ngàn phụ nữ phải đem thân xác ra nước ngoài đổi lấy đồng tiền nuôi thân và phụ giúp gia đình trong nhiều hòan cảnh trái ngang vẫn còn sờ sờ ra đấy.

Ngay trong nước, tuy tình trạng kinh tế và đời sống người dân được cải thiện nhưng mức chênh lệch giầu-nghèo, bất công xã hội, không có tự do, dân chủ, mất đạo đức, xâm phạm thuần phong mỹ tục đang chất cao như núi làm băng hoại xã hội.

Nổi nhất trong số tệ nạn này là nạn tham nhũng trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên và những kẻ có chức, có quyền trong guồng máy lãnh đạo.

Bằng chứng đã được Giáo Sư Trần Nhâm viết trong Tạp chí Xây dựng Đảng ngày 3/4/2008 : “Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng liên quan đến sự tồn vong của Đảng và Nhà nước ta. Nạn tham nhũng đã có từ lâu, nhưng chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta mới xác định rõ là một nguy cơ lớn gây tác hại về nhiều mặt. Tuy là một nguy cơ nghiêm trọng, nhưng nó lại được bao che, bọc lót khá vững chắc khiến cho ta khó chống trả và khó tiêu diệt tận gốc. Vì là một tệ nạn tồn tại trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước, trong cán bộ đảng viên và trong cả một số cán bộ cao cấp, nên việc tiến công không có trận tuyến, khó bố trí lực lượng. Bọn tham nhũng như một thế lực vô hình chui lủi khắp nơi, chúng cấu kết với nhau, không dễ công phá.”

Nạn tham nhũng biểu hiện như thế nào? Trần Nhâm trả lời : “Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cách thức bòn rút, đục khoét tài sản công của bọn tham nhũng đa dạng, tinh vi….Tham nhũng về kinh tế dẫn đến tha hóa về lối sống, tha hóa về lối sống kích thích mạnh mẽ tham nhũng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo tha hóa, xuống cấp về đạo đức, có kẻ thậm chí biển thủ công quỹ để bao nhân tình, ăn chơi trác táng, đánh bạc, hút xách… làm tổn hại thanh danh của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân…”

“…Bọn tham nhũng lợi dụng chức, quyền biến quan hệ công tác thành quan hệ hàng hóa để trao đổi, hai bên cùng có lợi. Hiện tượng dùng người theo cánh hẩu, kết bè kết cánh không ít. Bố trí cán bộ không căn cứ vào tiêu chuẩn, không đủ tiêu chuẩn là một hiện tượng tham nhũng chính trị có ảnh hưởng xấu và vô cùng nguy hiểm.“

Bùi Công Tường viết trên Tạp chí Xây Dựng Đảng ngày 9-1-2008 cũng đã chua chát : “Ở nước ta, lâu nay thủ trưởng nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương… kiêm luôn trưởng ban chống tham nhũng. Nếu trong cơ quan, đơn vị, địa phương xảy ra tham nhũng thì trước hết thủ trưởng phải chịu trách nhiệm. Vậy là “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Đó là những hình ảnh “huy hòang” mà đảng CSVN đã tạo ra cho đất nước sau ngày 30-4-1975. Người Cộng sản không cần phải tranh cãi hay biện bạch vì sự thật đã rõ như ban ngày. -/-

Phạm Trần

(05/2008 )

May 6, 2008

Tháng 4, 1865 – Tháng 4, 1975

Phan Quang Tuệ & Đỗ Thái Nhiên

“… Văn hoá là quốc hồn. Văn hoá đi vắng. Quốc hồn bay xa. Lòng yêu nước của người dân mờ phai. Hiện nay, đa số người dân Việt gần như không nghĩ đến nghĩa vụ bảo vệ non sông. Trong khi đó …”

1
Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Đại tướng Robert Lee, thống lãnh quân đội miền Nam, cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appomattox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge, nơi tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appomattox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về… Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của tướng Grant, thống lãnh quân đội miển Bắc, bước vào phòng riêng của tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của tướng Grant. Sau cùng tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hoà”, tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Đại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của tướng Grant chưa kịp đến tay tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.

5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appomattox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng chủ nhật 9/Apr/1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phiá bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, cuả hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và “chém vè” cũng không được.

Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, tướng Lee được tin khấp báo của tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Đại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”. Lập tức tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước tướng Grant”.

Nơi được chọn để nghị hoà là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appomattox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.

Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và tướng Grant bước vào. Khác hẳn với tướng Lee, tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.

Theo lời yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau đó tự tay trao cho tướng Lee xem lại.

Chậm rãi, từ tốn, tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.

“….Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.

Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.

Tướng Lee nói, “Thưa Đại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam cuả tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.

Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

Trận đánh quyết định tại Five Forks (Tháng Tư 1865)

Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam.

Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”

Thưa, quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.

Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của tướng Grant, bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.

Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hoà. Khi ngựa tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.

Tin đồn đầu hàng của tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Súng ống các loại, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.

4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.

Cách đó không bao xa, tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, tướng Lee hướng về họ và nói: ”Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng tôi nặng chĩu và không thể nói gì hơn”.

Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các anh em hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.

Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.

Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.

Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.

Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: ” Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.

Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.

Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.

Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…
2
Bây giờ, xin tạm gọi ngày 09 tháng 04 năm 1865 tại Mỹ là tháng 04/1865, và 30/04/1975 tại Việt Nam là tháng 04/1975. Một số người cho rằng Mỹ là quê hương của “Cow Boy”. Mỹ là xã hội sống theo phương châm “Bắn nhanh thì sống, bắn chậm thì chết”. Mỹ là nơi “mắt đổi mắt, răng đổi răng”. Tại sao giữa những tin đồn hung hiểm như vậy, người Mỹ lại có được tháng 04/1865 tuyệt vời như thế kia? Tuyệt vời bởi lẽ sau nhiều năm quần thảo với nhau trên núi xương, sông máu, người Mỹ đã nhanh chóng làm hoà với nhau, lấy tình tự dân tộc làm gốc. Tuyệt vời bởi lẽ biến cố Tháng 04/1865 đã nêu bật tình cảm rằng cả người thắng lẩn kẻ bại đều thiết tha và chân thành tôn kính lẩn nhau. Tuyệt đối không có cảnh “nhảy múa trên đau khổ của kẻ bại”. Người đích thực là kẻ chiến thắng trong 04/1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ.

Mang tháng 04/1865 đặt cạnh tháng 04/1975, mọi người, kể cả những người khác biệt chính kiến, đều có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt lớn lao sau đây:

- Chiến bai trong 04/1865 là chiến bại thật. Chiến bại trong 04/1975 là chiến bại biểu kiến (thấy vậy mà không phải vậy). Chiến bại trong 04/1975 là chiến bại của một quân đội bị “Đồng Minh” đâm sau lưng.

- Sau 04/1865, quân Bắc Mỹ không hề trả thù quân Nam Mỹ. Tất cả hình thức ăn mừng chiến thắng đều bị ngăn cấm. Chẳng những không bị ngược đãi, quân Nam Mỹ còn được Bắc quân trao tặng hơn hai mươi lăm ngàn 25000 phần ăn như một lời chúc thượng lộ bình an trên con đường trở về quê hương gốc. Sau 04/1975, CSVN ra lệnh mang ra chợ xử bắn những quân cán chính nào của VNCH mà Hà Nội gán cho danh hiệu “ác ôn”. Mặt khác, tất cả thương bệnh binh của VNCH lập tức bị đuổi ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện của Miền Nam Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao những ngày đầu tháng 05/1975 vô số thương binh VNCH, kể cả những thương binh vết thương còn mới nguyên, lê lết khắp phố chợ làng quê…

- Không một người lính nào trong quân đội Nam Mỹ bị bắt giam như những tù binh. Ngược lại, tại Việt Nam 04/1975, CSVN bắt giam nhiều trăm ngàn quân nhân từ tướng đến binh (an ninh tình báo) của VNCH. Hành động bắt giam này được thực hiện bằng lời kêu gọi mang theo mười ngày lương thực nhằm tạo cho “nạn nhân” hiểu lầm là họ chỉ đi “học tập cải tạo” mười ngày. Trong thực tế 10 ngày có nghĩa là một hai thập niên tù khổ sai.

Khi mùa dứt chiến chinh trên quê hương tôi (Tháng Tư 1975)

- Tháng 04/1865 quân Bắc Mỹ chỉ tịch thu vũ khí cộng đồng, họ cho phép quan,quân miền Nam giữ lấy ngựa và vũ khí cá nhân như những tài sản riêng. Tháng 04/1975 nhà cửa, xe cộ của sĩ quan cao cấp của VNCH bị tịch thu, vợ con của quân nhân các cấp bị mất việc làm, bị đuổi đi kinh tế mới. Đặc biệt, không chỉ riêng gia đình quân cán chính VNCH mà ngay cả người dân bị goi là “dân vùng ngụy” cũng bị CSVN đánh đòn rất cẩn thận: đánh tư sản mại bản, đánh công thương kỹ nghệ gia, đánh tiểu thương, đánh văn nghệ sĩ, đánh tu sĩ các tôn giáo. Nói chung, tháng 04/1975 là ngày ghi dấu toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian.

Cùng là CON NGƯỜI, tai sao người Mỹ đối xử với người Mỹ khác hẳn CSVN đối xử với người Việt Nam? Phải chăng văn hoá Mỹ khác với văn hoá Cộng Sản? Đúng rồi, văn hoá CS hoàn toàn phản lại văn hoá của loài người. Nhóm chữ “văn hoá CS” chỉ là kiểu dùng chữ tạm thời, giúp cho sự diễn đạt được nhanh chóng. Văn hoá là sự thăng hoa của văn minh, là cao diểm của văn minh NGƯỜI. Xuất phát từ tiền đề triết học duy vật( kim chỉ nam của đấu tranh giai cấp), trong tim óc của môn đồ Cộng Sản không có chỗ dành cho Con Người. Thoạt tiên Karl Marx dạy người CS hãy nhóm lên ngọn lửa đấu tranh giai cấp để thống tri xã hội. Thế nhưng trong thực tế ý niệm giai cấp rất mơ hồ. Ghét ai thì gọi người đó là phú nông, địa chủ. Thương ai thi goi người đó là “tư sản dân tộc”. Mặt khác, theo đà phát triển của văn minh loài người, triết học Marx đã hiện nguyên hình là một quái tượng tư tưởng vô cùng to lớn . Từ đó, người Cộng Sản, đặc biệt là CSVN, hoàn toàn mất hướng suy nghĩ. Tuy nhiên, trong cuộc đời mất hướng kia, thói quen đấu tranh giai cấp đã hằn sâu trên tim óc của người CS ba phương châm sống gọi là “ba ác” mà người CS cho là cực kỳ khôn ngoan:

(1). Ác một là: Sống tức là đấu tranh chống những người chung quanh (kể cả đồng chí) để vươn mình lên, để cai trị mọi người, để tước đoạt tài sản của người khác càng nhiều càng tốt.

(2). Ác hai là: Sẵn sàng thực hiện bất kỳ điều ác nào, kể cả giết cá nhân hay tập thể người, nhằm hoàn tất cho bằng được mục tiêu số (1)

(3). Ác ba là: Phương châm (1) và (2) phải được dấu tuyệt đối kín. Sống để bụng, chết mang theo. Nhằm tăng cường cho công việc dấu kín kia, người CS phải lòe bịp người đời bằng cách thường xuyên đề cao Trời Phật, tình Người, tình yêu tổ quốc, yêu nhân loại.

Muốn tìm ra lý do tại sao có sự khác biệt lớn lao giữa tháng 04/1865 và 04/1975 chúng ta hãy căn cứ vào “ba ác” kể trên để theo dõi hành động của đảng CSVN từ 1954 đến ngày nay, 2008.

1955 và các năm kế tiếp, CSVN nhân danh giai cấp bần cố nông đánh các mặt trận: Cải cách ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án xét lại chống đảng… Mục đích: cướp tài sản của quần chúng nhân dân và củng cố quyền thống trị của đảng.

1968 CSVN nhân danh giai cấp vô sản tàn sát nhiều vạn đồng bào cố đô Huế. Mục đích: khủng bố quần chúng Huế để cưởng bách Huế phải tuân phục Hà Nội.

1975, tháng 04, CSVN vẫn nhân danh giai cấp vô sản một mặt tống giam hàng trăm ngàn quân nhân và nhiều thành phần quần chúng khác nhau, mặt khác đánh tư sản, công thương gia , cưởng đoạt tài nguyên quốc gia, biến tài nguyên này thành tài sản riêng của đảng CS, xuất cảng thuyền nhân, phụ nữ, trẻ em, công nhân lao động… Tất cả những việc làm kia chỉ vì mục đích cướp tài sản của toàn dân và củng cố quyền thống trị.

1985 đến 2008, kinh tế quốc doanh của CS bắt buộc phải đầu hàng kinh tế thị trường, giai cấp tư bản đỏ ra đời ngay càng đông, càng giàu có một cách bất lương. CSVN bắt đầu đổi giọng, không còn nhắc đến giai cấp vô sản nữa, mặc dầu giai cấp nay ngày càng phình to. CSVN công khai phục vụ Trung Quốc, phục vụ doanh nhân quốc tế. CSVN không ngần ngại thẳng tay đàn áp sinh hoạt tôn giáo, những tổ chức yêu chuộng tự do dân chủ, công nhân, dân oan, thanh niên sinh viên biểu tình chống Trung Quôc xâm lược, chống Olympic Trung Quốc….

Quá trình hoạt động của CSVN trong các thập niên qua để lộ ra rằng CSVN cai trị đất nước dưới nhiều lớp áo khác nhau: bần cố nông, vô sản, tư bản đỏ, người bạn thân thiết của doanh gia ngoại quốc, kẻ tôi tớ trung thành của quân xâm lược Trung Quốc…Trong nhiều lớp áo khác nhau kia CSVN bao giờ cũng “đề cao” tình người, tình tổ quốc, tính nhân loại. Hẳn nhiên những đề cao như vậy đều là những đề cao gian dối, những đề cao nằm trong kế hoạch thực hiện “ba ác” của người-CS-biến-thái-sau-khi-chủ-nghĩa-Marx- thất-bại. Nói đúng hơn, sau thất bại của Marx, con người Cộng Sản trở thành con người Mafia. Thế rồi, đảng CSVN với bản chất Mafia đã “Mafia hoá” xã hội Việt Nam qua ba cội nguồn sau đây:

1)
Quan hệ giữa nhà cầm quyền CSVN với quần chúng Việt Nam là quan hệ giữa cá lớn với cá bé, giữa động vật khỏe với động vật yếu. Lâu dần, do ảnh hưởng cách ứng xử của nhà cầm quyền, người dân quay ra đối xử với nhau theo luật mạnh được, yếu thua. Luật này là luật hàng đầu của xã hội Mafia.

2) Nhà cầm quyền CSVN ra lệnh cho báo chí, truyền thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác phải truyền thông theo kiểu cắt đầu, cắt đuôi, bóp méo sự thực. Bằng lề thói truyền thông kia nhà cầm quyền đã dạy dỗ và đào tao người dân thành những kẻ ăn gian nói dối. Ngay thẳng là khờ khạo, gian manh là khôn ngoan. Không gian dối, không phải là Mafia.

3) Biết rõ thế giới kinh tởm bộ mặt Mafia, CSVN thường xuyên nỗ lực che đậy bộ mặt Mafia của họ. Muốn vậy CSVN phải ẩn nấp đàng sau tấm bảng hiệu Karl Marx. Ẩn nấp như vừa kể, CSVN muốn nói với thế giới rằng CSVN không là một đảng trộm cướp Mafia, và rằng CSVN đích thực là một đảng chính trị lấy tư tưởng Marx làm kim chỉ nam. Nhằm giúp cho việc ẩn nấp được chu đáo hơn, “giống thật” hơn, CSVN cưởng bách toàn bộ hệ thống giáo dục của xã hội Việt Nam phải đều đặn học tập chủ nghĩa Marx. Sự thể này đã dẫn đến một sự thực rằng: Trước kia ông Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông ấy đã từng học Marx, theo Marx, đã từng trở thành những người CS biến thái sau khi chủ nghĩa Marx thất bại, đã từng sống theo “ba ác”, đã từng là Mafia. Ngày nay CSVN lôi kéo toàn bộ xã hội Việt Nam đi vào con đường có đầy đủ cái “đã từng” kia.

Cùng là con người tại sao tháng 4, 1865 là thiên đàng, tháng 4,1975 lại là hỏa ngục? Thưa rằng tại vì tháng 4, 1865 người Mỹ đối xử với nhau bằng văn hoá con người so với tháng 4, 1975 CSVN “đãi ngộ” quân dân miền Nam Việt Nam bằng “văn hoá” ba ác, “văn hoá” Mafia. Điều nguy hại hơn nữa là từ sau tháng 4, 1975 cho đến nay, CSVN không ngừng thủ tiêu văn hoá Việt Nam, thay vào đó là “văn hoá” Mafia.

Văn hoá là quốc hồn. Văn hoá đi vắng. Quốc hồn bay xa. Lòng yêu nước của người dân mờ phai. Hiện nay, đa số người dân Việt gần như không nghĩ đến nghĩa vụ bảo vệ non sông. Trong khi đó, tin tức thời sự cho biết dân Tàu đang ồ ạt kéo vào lãnh thổ Ai Lao với lý do kinh doanh, thực tế là lục tìm lương thực. Trong khi đó tin từ Việt Nam cho biết nương vào sự việc từ lâu, CSVN đã cho phép Tàu vào Việt Nam như đi chợ không cần giấy tờ nhập cảnh, nương vào lý do “bảo vệ ngọn đuốc Olympic” nhiều đạo quân Tàu mặc thường phục đang tràn ngập Việt Nam từ Bắc vào Nam. Phải chăng đây là một cuộc đại xâm lăng không bằng súng đạn mà bằng chiến thuật lấy thịt đè người? Đây là dấu hỏi gây nhức nhối tim óc dành cho người Việt Nam trong cũng như ngoài nước vào dịp 30/04/2008 vậy.

Phan Quang Tuệ & Đỗ Thái Nhiên

May 1, 2008

Việt-Nam Đổi Mới & Hòa Hợp Hòa Giải

Đinh Lâm Thanh


VIỆT NAM ĐỔI MỚI

Nhiều người đi du lịch về thường nói rằng Việt Nam lúc nầy hoàn toàn đổi mới, đôi lúc còn hết lời ca tụng thành quả của nhà cầm quyền Cộng sản đã thực hiện trong những năm vừa qua. Nghe một cách khách quan thì có phần đúng nhưng thiết nghĩ chúng ta cần phải nhìn một vài khía cạnh khác của những gì gọi là đổi mới do tập đoàn Cộng sản đã thực hiện để có một kết luận vui hay buồn ?

Chúng ta không thể căn cứ vào hạ tầng cơ sở đã xây cất trong các thành phố lớn cũng như xem những cuốn phim vidéo thương mãi, trong đó giới thiệu nào là khách sạn cao từng, khu nhà ở sang trọng, 1001 kiểu ăn chơi, những nơi du dịch vừa khai trương đến những món ăn quyến rũ đặc sản ba miền để mời gọi Việt kiều về thăm quê hương, rồi kết luận một cách vội vàng và hời hợt rằng nhờ chế độ Cộng sản, Việt Nam ngày nay đã trở thành thiên đường hạ giới.

Chúng tôi đã tiếp xúc khá nhiều khách du lịch về từ Việt Nam, trong đó đa số là Việt kiều và một ít người ngoại quốc. Khi được hỏi về nếp sống hiện tại ở quê nhà, câu trả lời của những người nước ngoài đều giống nhau : Họ không trở lại lần thứ hai và giải thích rằng, mục đích đến Việt Nam du lịch với dụng ý tìm lại những dấu tích kỷ niệm những nơi mà con, chồng, cha, ông họ đã chiến đấu, tù tội hoặc bỏ mình trong các cuộc chiến vừa qua. Họ đến đây một lần như để chia sẻ những nỗi đau buồn tủi nhục của người đã góp mồ hôi xương máu bảo vệ tự do cho một đồng minh.

Nhưng họ hoàn toàn thất vọng. Lý do rõ ràng nhất, chính quyền Việt Nam ở đây không có tình người và thiếu hẵn sự tôn trọng tối thiểu đối với khách du lịch, hơn nữa còn lợi dụng xương máu những người chết để làm tiền kẻ sống. Trên các chặng đường tham quan, cán bộ tuyên truyền chế độ thường nhân cơ hội để lồng vào những thành tích vẻ vang đấu tranh, chiến thắng thần thánh và đôi lúc huênh hoan khoe khoang tới độ thiếu liêm sỉ bằng cách dẫn khách du lịch, bà con thân nhân của nạn nhân thăm viếng các bảo tàng viện trưng bày những cái gọi là tội ác do con chồng cha ông họ đã gây ra !

Ngoài ra khách du lịch còn được dẫn đi xem các hố bom, bãi mìn còn sót lại trong thời kỳ chiến tranh cũng như các hậu quả do Mỹ và VNCH để lại với những lời giải thích còn sặc mùi máu căm thù. Tiếp đến du khách còn bị đưa đến các hang ổ, địa đạo do chúng dựng lên rồi khiêu hãnh và trắng trợn cho biết rằng nơi đây đã giết được hàng trăm hàng ngàn tên ‘giặc’! Đứng trước những dấu tích ngày xưa, thân nhân của những người đã nằm xuống tại đây không được một lời an ủi chia buồn mà còn bị những con người không có trái tim, huênh hoan trên xương máu người chết để hưởng lợi, thì thử hỏi, có ai chịu bỏ tiền đến đây để nghe xỉ vả người thân mình ! Trên địa cầu nầy không có nơi nào ngu si tàn nhẫn và vô nhân đạo hơn chế độ Cọng sản Hà Nội, dù là những bộ lạc trong các rừng rậm còn ăn lông ở lổ nhưng họ cũng còn biết xử sự một chút tình người khi đối diện với những kẻ đang đau khổ trong lúc họ đến thăm xứ mình.

Theo thống kê, mỗi năm có hàng triệu người du lịch đến Việt Nam và tỷ lệ Việt kiều về thăm gia đình chiếm đại đa số, có thể đến chín mươi phần trăm. Nếu tính lượng Việt kiều về thăm thân nhân để nâng tổng số khách gọi là du lịch lên thật cao thì không đúng. Nếu không còn bà con tại Việt Nam, chắc chắn chẳng bao giờ thấy cảnh Việt kiều sắp hàng mua visa về thăm bà con trong các dịp hè hoặc Tết âm lịch. Việt kiều trở lại quê hương hàng năm không hẵn là đi du lịch mà mục đích kết chặt thân tình với gia đình bà con bạn bè và nhân cơ hội giúp đở một ít tài chánh cho họ hàng ruột thịt.

Hơn một triệu người đã mang trực tiếp về một số ngoại tệ khổng lồ nhưng trước sau gì cũng chui vào túi nhà nước. Mặc dù sau đó tiền sẽ chạy ngược ra xứ ngoài, biết vậy, nhưng phải chấp nhận vì thân nhân trong nước cần phương tiện để sống. Bất cứ ai về thăm quê hương cũng là một điều tốt, chỉ đáng tiếc, một số đông sau những chuyến về Việt Nam đều nức nở khen rằng, quê hương bây giờ đã đổi mới, vui lắm, khá lắm. Đôi lúc còn khuyên tất cả nên về thiên đường để tận hưởng những thú ăn chơi do Cọng sản kinh doanh. Đi đến đâu cũng thấy lầu đài, khách sạn, nhà hàng, quán ăn, vũ trường, tắm hơi, bia ôm, động đĩ…

Chỉ cần lon bia là tự do ôm gái thả giàn, một tô phở dư sức ngủ bất cứ với ai, vào quán vào tiệm là máy lạnh chạy suốt ngày, làm vua một đêm trong khách sạn chỉ bằng lương một buổi. Tấm tắt khen rồi kết luận, dưới chế độ Cọng sản bây giờ đã đổi mới rất nhiều chứ không còn quê mùa buồn tẻ như ngày trước ! Mới nghe qua tưởng chừng đúng với những gì đang xảy ra tại thủ đô, các thành phố cũng như quận lỵ, nhưng nghĩ lại thì thấy trái tim quặn đau và đôi lúc tưởng chừng như có một cái gì xuyên qua lồng ngực. Việt kiều trở lại du lịch trên quê hương mình để có dịp thăm viếng và giúp đở gia đình là việc cần khuyên khích, nhưng với lối nhìn một chiều, vô tình và hời hợt như một người nước ngoài thì đáng buồn thật.

Du lịch đến một xứ nào du khách có thể thấy ngay trình độ văn minh giàu sang của dân địa phương qua các phượng tiện sinh sống cũng như những cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống từ lớp người giàu có tại các thành phố đến tận giai cấp nghèo khó ở thôn quê. Nhưng đối với Việt Nam, nếu dựa vào các phương tiện căn bản hạ tầng để đánh giá sự giàu sang của trên tám chục triệu dân chúng thì đó là một điều lầm lẫm. Sự giàu sang tại đây chỉ dành cho giới thống trị của tập đoàn Cọng sản nắm quyền và một số người xu thời cấu kết với giới lãnh đạo để tận tình bóc lột dân nghèo. Không vơ đũa cả nắm, trong số người giàu có hiện tại cũng phải kể đến những người đã bỏ công sức làm ăn góp gió thành bão, những người có nguồn thu nhập lương thiện hay những thân nhân của một số Việt kiều, nhưng tính cho kỹ số người nầy chỉ là một lượng thật khiêm nhượng trong tổng số tỷ phú ‘đỏ’ đang tràn ngập từ hang cùng ngõ hẻm đến trung tâm thủ đô Hà Nội.

Chúng tôi nghe có người khen rằng, Việt Nam ngày nay, điện đã kéo đến tận các làng xã xa xôi, truyền thanh truyền hình về tới từng thôn xóm. Nhưng họ quên rằng các phương tiện nầy đã có từ trước năm 1975. Thật vậy những phương tiện phục vụ quần chúng nông thôn dưới thời Việt Nam Cọng Hòa vừa đưa đến đâu thì Việt cọng phá hoại liền sau đó. Ra khỏi khu vực chung quanh thành phố quận lỵ vài ba cây số, các trạm biến điện bị đặt chất nổ, cột trụ thì cắt dây. Cầu cống đường sá vừa đắp trong ngày, tối đến chúng đặt mìn giật sập.

Nếu so sánh những gì có được ngày hôm nay với hoàn cảnh Việt Nam sau thời kỳ chấm dứt chiến tranh 1975 thì thấy có nhiều thay đổi. Hoặc không nói đâu xa, so với Việt Nam Cộng sản năm mười năm về trước với thực tại ngày hôm nay thì thật đúng. Nhưng phải nhớ điều nầy, không thể đem tình trạng đất nước giữa hai thời điểm, trước năm 1975 và ngày nay để so sánh với nhau. Một miền Nam trong chiến tranh loạn lạc, kẻ thù phá hoại quanh năm từ thành thị đến thôn quê, tất cả nguồn nhân lực vật tài lực quốc gia đều phải tập trung để chống nội thù thì không thể so sánh với một miền Nam ngày nay, sau hơn ba mươi năm chấm dứt chiến tranh hoà bình được vãn hồi. Tiền rừng bạc biển của miền Nam cọng thêm hàng trăm tỷ dollars từ ngoài đổ vào thì những gì đổi mới của Cộng sản ngày hôm nay chỉ là hạt cát nhỏ xíu trên sa mạc.

Thử tính nhẩm xem, trên ba mươi năm hòa bình, nếu Cộng sản không tham nhũng, không vơ vét đưa về Bắc, không trả nợ Nga Tàu, không chuyển ra nước ngoài mà nhà nước chỉ cần xử dụng một phần nhỏ để kiến thiết đất nước phục vụ dân chúng thì quê hương Việt nam ngày nay đã trở nên giàu mạnh gấp bao nhiêu lần so với các quốc gia lân cận. Phi luật Tân, Thái lan, Mã Lai thường ước mơ có được mười lăm tỷ dollars để phát triển xứ họ thành một quốc gia tân tiến hiện đại nhưng không đào đâu ra, trong lúc Việt nam có sẵn trong tay gần một trăm tỷ do vay mượn quốc tế và Việt kiều gởi về từ 30 năm nay (dưới hình thức chui cũng như chính thức) trở thành mây khói. Trong khi đó hạ tầng cơ sở xây dựng được tại Việt Nam đều do tiền viện trợ từ các quốc gia trong khối tự do!

Người giàu ở Việt Nam

Không ai phủ nhận tại thủ đô cũng như các thành phố lớn trong thời gian sau nầy đã mọc lên hàng trăm, hàng ngàn biệt thự đắt giá, những cao ốc chục từng lầu, những khách sạn bốn năm sao, những quán ăn hàng ngàn chỗ ngồi, vũ trường đúng tiêu chuẩn quốc tế, những đại công ty với vốn hàng chục triệu dollars… nhưng chủ nhân là ai ? Xin thưa ngay, chính là các cán bộ đảng viên của đảng Cộng sản từ cấp làng xã cho đến những tên bí thư trung ương, chủ tịch trong bộ máy quyền hành nhà nước. Còn lại một số nhỏ thì nằm trong tay những tay kinh tài của đảng, các tên mua gian bán lận và cuối cùng, một số rất nhỏ, là của Việt kiều hay thân nhân của họ. Tóm lại giới giàu có tại Việt nam hiện nay không ai ngoài cán bộ đảng viên Cộng sản. Cứ tính trung bình, dù ở ngành nghề hay chức vụ nào, khi đã lọt vào đảng dù thuộc hạng chí mén, trong tay cũng có năm ba mẫu đất, một hai ngôi nhà là ít.

Ngay từ lúc vừa kéo quân vào cai trị, bọn Cộng sản đã dùng súng đạn, quyền thế chia nhau xẽ thịt đất đai của miền Nam. Từ những lô đất vàng trong thành phố, các bất động sản của dân chúng vùng ngoại ô đến những đồng ruộng vườn tược tại thôn quê, nơi nào có lợi chúng không bao giờ bỏ qua. Với quyền lực trong tay chúng làm giầu không phải mất một giọt mồ hôi hay đồng bạc nào. Chúng trưng dụng, tịch thu rồi bán lại hoặc ăn chia với các nhà thầu để xây những căn phố lầu, khu nhà ở, các cửa tiệm. Từ tên bần cố nông khố rách áo ôm nhưng vừa chiếm xong miền Nam chúng đã trở thành triệu phú một cách thần thánh trong một sáng một chiều. Hàng trăm hàng ngàn cây vàng vào túi một cách dễ dàng trong lúc đồng bào miền Nam bị đẩy vào tình trạng đói khát rách nát, người chế độ cũ phải bỏ tài sản bồng bế nhau ra biển hay lên vùng kinh tế.

Điều nầy không những xảy ra chung quanh Tân Sơn Nhất Sàigòn mà ngay trên toàn lãnh thổ miền Nam, từ trung ương xuống tận làng xã quận huyện. Nhất là thời gian sau nầy, trong chương trình nới rộng thành phố, tỉnh, quận lỵ, các cán bộ từ nhỏ đến lớn đua nhau chiếm đất cho chính bản thân mình, phần bán, phần cho vợ lớn vợ bé, con cháu bà con đứng tên hoặc giao móc nối các công ty xây cất nước ngoài. Dễ thấy nhất là các khu vực chung quanh thành phố Sàigòn cũng như hàng trăm ngàn mẫu đất trên toàn quốc nằm trong dự án phát triển, các cán bộ tự động ăn cắp tài nguyên quốc gia để cấp phát cho mình hoặc lên kế hoạch mua rẻ của dân.

Gọi là mua nhưng lại quỵt sau đó, để thành lập những khu đô thị mới hay những trung tâm du lịch. Mối lợi đầu tiên, chúng hưởng ngay tiền đút lót của các công ty xây cất nước ngoài khi tổ chức đấu giá, sau đó hưởng trọn nguồn lợi mà không mất một đồng bạc. Tóm lại, đất đai thì cướp của miền Nam, chất xám tiền bạc do nước ngoài chu cấp, sức lực lao động thì bắt dân đóng góp. Xây xong, các cán bộ lấy sáu, bảy mươi phần trăm công trình rồi bán lại cho dân chúng, trong đó một số là Việt kiều, thu hàng ngàn hàng chục ngàn lượng vàng. Gom hết vào túi, chúng tìm cách chuyển dần ra nước ngoài, mua lâu đài đất đai cơ sở thương mãi phòng thân khi bí đường trốn chạy.

Trong việc chiếm đất làm của riêng một cách công khai, xin ghi ra nguyên văn đây một bản tin đầy đủ chi tiết để dẫn chứng (theo tài liệu của Effet, Paris 3/2006) : Bé Nguyễn trọng Bằng đứng tên hai lô đất với diện tích 38.000 m2 lúc mới lên mười. Cậu Huỳnh tấn Trạng cũng đứng tên làm chủ 24.780 m2 khi vừa đúng mười hai tuổi. Cả hai đều là con (1 đứa con vợ lớn, 1 dứa con vợ nhỏ, đứa sau lấy họ mẹ) của cán bộ Nguyễn Thanh Liêm (!!!) chủ tịch ủy ban nhân dân quận Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho). Đảng viên ‘thanh liêm’ nầy đã công khai đổi quyền sở hữu 146.000 m2 đất của miền Nam thành của riêng cá nhân mình. Trong đó ông trực tiếp đứng tên khoảng 42.700 m2, vợ ông là Huỳnh thị Thanh Hồng đứng tên hơn 65.000 m2 còn lại do hai đứa con đứng tên như đã nói ở trên.

Chỉ là một chủ tịch huyện mà đã dùng quyền thế ngang nhiên cướp đất của miền Nam tới 146.000 m2 làm của riêng thì cứ tưởng tượng những tên cán bộ từ tỉnh trở lên cho đến các cấp đứng đầu các sở, bộ, chính phủ cho đến bọn trung ương đảng thì trong tay chúng của chìm của nổi bao nhiêu giấy tờ cho đủ để ghi chép.

Người ta còn nhớ, sau khi Cộng sản chiếm được miền Bắc, phong trào ‘Cải cách ruộng đất’ do Hà Nội phát động, chúng đã quy tội những ai có quá hai mẫu đất sẽ bị khép vào thành phần phú hào địa chủ bị đem ra xử bắn khiến cho hàng trăm ngàn người phải chết oan. Người ta cũng chưa quên sau năm 1975, cũng chính luật lệ của chúng đem ra áp dụng cho người miền Nam, những ai có trên 5 mẫu đất sẽ bị kết án là thành phần tư sản, bị tịch thu ruộng đất và đưa đi vùng kinh tế mới, làm cho hàng triệu người miền Nam sống trong cảnh lầm than khốn khổ.

Ngày từ rừng chui ra, chân dép râu đầu nón cối, trên hàm răng dưới quần xà lỏn, nhờ tài ăn cướp nay trở thành tỷ tỷ phú, trong tay tên nào cũng vài ba ngôi nhà vài chục mẫu đất và hàng triệu dollars nằm ở nước ngoài. Thử đi một vòng từ Nam chí Bắc, đừng bỏ sót hang cùng ngõ hẻm nào, nếu thấy bất cứ nơi đâu nhà cao cửa rộng sang trọng quý phái, cứ vào hỏi thử xem thì biết ai là chủ nhân ! Thấy những khu du lịch đắt tiền từ trên đỉnh núi xuống tận đáy biển, cứ nghiên cứu để biết người nào đứng tên ! Chính là những tên Cộng sản lớn nhỏ, dân nghèo chẳng một người nào có phước lọt được vào đây.

Dưới chế độ đảng trị, cá nhân nào muốn làm giàu nhanh chóng và an toàn thì phải làm tay sai để được lọt vào đảng. Chúng nó có đến trên hai triệu đảng viên, thử làm một bài tính, trung bình mỗi người có vài ba căn nhà và một hai mẫu đất thì bao nhiêu diện tích đất đai của quê hương đã nằm trong tay gia đình chúng nó, bao nhiêu ngôi nhà từ thành thị đến thôn quê đứng dưới tên vợ lớn vợ bé mèo chuột con ruột con rơi ?.

Người dân lương thiện chắt chiu từ đời ông đời cha chưa xây được căn nhà trú mưa tránh nắng, nhưng với bọn cướp có cầu chứng chỉ cần dí súng vào lưng người dân vô tội là trở ngay thành triệu phú tỷ phú. Danh từ ‘người bóc lột người’ ngày trước Cọng sản gán cho chế độ miền Nam nghe ra thật buồn cười và sau nầy dân chúng đổi lại thành câu ‘đảng bóc lột người’ thì thật chính xác trăm phần trăm. Chỉ có đảng mới đủ quyền lực ra lệnh, tổ chức và bao che các hành động cướp bóc một cách trắng trợn nhân miền Nam. Hành vi tham nhũng, cướp bóc có lúc man ri mọi rợ, cũng có khi khôn ngoan xảo quyệt, nhưng tựu chung vẫn chưa bao giờ thấy xảy ra từ một xứ thiếu văn minh cho đến những quốc gia độc tài quân phiệt. Cảnh ‘đảng bóc lột người’ chỉ còn ở các xứ Cộng sản. Nhưng Việt Nam còn nổi tiếng hơn nữa vì đây là nơi mà Cộng sản thường vỗ ngực khoe khoang là ‘cái nôi nhân loại’, ‘đỉnh cao trí tuệ’ của loài người và là tấm gương soi sáng để cho toàn thể nhân loại noi theo !

Việt Nam đã đổi mới được gì ?

Những tòa lâu đài cao, những con lộ rộng lớn, những chiếc cầu với 4, 6 lối đi hai chiều những khu vực giải trí, những nhà hàng khách sạn nguy nga, Hà Nội dàn dựng mục đích đánh bóng chế độ. Những phương tiện thiết thực nâng cao đời sống dân chúng không nằm trong chủ trương của đảng. Đường lối Cộng sản trước sau như một : Dùng bao tử sai khiến con người, bần cùng hóa để cai trị dân chúng. Dân có nghèo đói có ngu dốt thì mới ngoan ngoãn nghe lời Cộng sản.

Từ ba chục năm qua, ngoại trừ vài ba bệnh viện lớn do nước ngoài xây cất, Việt nam đã làm gì cho dân nghèo trong các chương trình y tế công cọng ? Có tăng thêm các trường trung tiểu học cho các thành phố, quận lỵ hay thôn xã ? Có dùng tiền của Việt kiều gởi về để nâng cấp trình sinh sức khỏe quần chúng hay chỉ chăm chú vào việc phát triển cơ sở du lịch ăn chơi để quảng cáo chế độ, móc túi giới giàu có, khách nước ngoài và ru ngủ lớp trẻ ? Ngay tại thủ đô và các vùng phụ cận Hà Nội cũng như thành phố Sàigon vấn đề nước và điện là hai nhu cầu thiết yếu hằng ngày của dân chúng nhưng hiện nay vẫn còn ô nhiễm và thiếu hụt, có nơi còn bị hạn chế xử dụng.

Quan chức lớn hay những người có tiền được ưu đãi vào những bệnh viện của người nước ngoài. Đối với dân nghèo nhà cầm quyền Hà Nội có chú trọng xây cất thêm bệnh viện, đào tạo và giáo dục nhân viên y tế, trang bị dụng cụ để tiếp đón mọi người mỗi khi đau ốm cần nơi săn sóc chửa trình độ giáo viên và miễn phí cho học sinh không ? Có nghĩ đến môi trường ô nhiễm, chương trình y khoa phục vụ dân nghèo không ? Tự xưng là một nước tiên tiến nhưng còn thua một xứ chậm tiến của Phi Châu, bệnh nhân bị xem như những người ăn mày đến xin huệ của đảng.

Chuyện xảy ra hằng ngày trong tất cả nhà thương dưới chế độ Cộng sản Hà Nội, từ bác sĩ y tá nhân viên phục dịch xuống đến các tay gác cổng hay làm vệ sinh nhà cầu đều xem bệnh nhân như con chó không hơn không kém. Nếu bệnh nhân và gia đình nào không biết ‘thủ tục đầu tiên’ áp dụng ngay từ lúc vào cổng, lấy số thứ tự, khám bệnh, chích thuốc cho đến lúc xin toa ra về thì đừng hòng lết tới bệnh viện. Trường hợp bệnh nặng phải nằm điều trị, ngoài các thủ tục kể trên còn phải thông suốt tiền giường, chăn, gối, thử nghiệm chụp hình hoặc để được chích một chút thuốc mê trước khi lên bàn mổ. Thậm chí bệnh nhân khi vào quan tài cũng phải tuân theo quy định tiền bạc rõ ràng bằng không thì nằm tạm góc nào đó đợi thân nhân đem tiền chuộc về chôn cất. Chính chế độ Cọng sản Hà Nội đã biến nhà thương thành nhà ghét, thành nơi mua bán từng tờ giấy, miếng vải, viên thuốc, chỗ nằm đến cách săn sóc chữa trị bệnh nhân và mặc cả ra giá luôn với xác chết.

Các người trách nhiệm trong chính phủ trung ương hay những tay đầu sỏ trong bộ y tế có dám trừng trị những tên bác sĩ, y tá vô lương tâm trong các cơ quan y tế nhà nước ? Hay sợ dồn chó vào chân tường thì chúng sẽ quay trở lại cắn, gây trở ngại đường giây tham nhũng ?

Dân nghèo đâu cần những nơi ăn chơi trác táng, sòng bạc trường đua, trung tâm nghỉ mát. Họ cần được chữa trị mỗi khi đau ốm, được khám bệnh miển phí, cần được ngày hai bữa, cần chỗ cho con em đi học, cần một việc làm trả công xứng đáng…Những gì đổi mới từ hạ tầng cơ sở đến chương trình mở cửa của Cọng sản đã đem cho họ được gì ? Hoàn toàn không, đã nghèo thì lại càng nghèo thêm.

Một chính phủ biết thương dân thì phải nghĩ đến ba vấn đề căn bản : Lo cho dân ăn no mặc ấm, săn sóc bệnh tật và mở mang trí tuệ, nhất là cho lớp trẻ. Cả ba điều trên không được tập đoàn Cộng sản thực hiện, vì sau ba mươi năm chiếm xong miền Nam, một nửa dân số vẫn thiếu ăn thiếu mặc trong đó hàng chục triệu người trên người chỉ một bộ áo, ngày bữa cơm độn ngô khoai, bệnh không có thuốc, trẻ con thất học đi bụi đời. Chế độ Cộng sản Việt Nam ngày nay chủ trương ưu đãi đảng viên cán bộ, người nước ngoài và lớp nhà giàu mới nổi lên không ai hơn là gia đình con cháu của họ.

Ngoài ra, Việt kiều du lịch thường diễn tả cảnh ăn uống tấp nập ngày đêm từ các nhà hàng sang trọng đến những khách sạn tầm cỡ quốc tế. Người ta chi hàng triệu cho bữa ăn hoặc trả một đêm tiền phòng bằng hai tháng lương của một công nhân, rồi kết luận rằng dân chúng Việt Nam lúc nầy giàu có tột bực, Việt kiều không còn có giá như trước kia. Điều họ nói đúng, bây giờ bên quê nhà người ta chỉ nói đến tiền triệu, tiền tỷ, nhưng thật ra đó là những số tiền lừa bịp, ăn cắp, quỵt nợ, cướp giật chứ không phải đồng tiền do mồ hôi nước mắt làm ra một cách lương thiện. Ngay cả cán bộ cao cấp đồng lương thật sự cũng không đủ để bao gái một đêm lấy gì để ăn chơi ba mươi ngày một tháng !

Đọc các tin của Việt Nam, ngay trên các nhật, tuần báo cũng như các mạng internet của chế độ, người ta biết được những chuyện liên quan đến hàng tỷ đồng và cũng bên cạnh đó, cũng có những bản tin thật đau lòng : Người ta giết nhau vì vài ba ngàn đồng bạc. Hàng đêm mẹ phải làm điếm kiếm tiền sữa cho con. Em học sinh bị đuổi vì không đóng nổi học phí. Nợ chừng trăm ngàn đồng bạc, gái quê bán mình xuất khẩu làm vợ…

Lương công nhân không nghề nghiệp chưa tới bốn trăm ngàn một tháng trong lúc gia đình năm bảy miệng ăn. Muốn sống còn, ngày làm việc tối về chồng đạp xe, vợ nhắm mắt ‘nhảy dù’, con đi bới thùng rác. Những hình ảnh nầy không ở đâu xa mà đầy dẫy ngay trong lòng thủ đô Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố lớn. Nói đến Việt Nam người ta chỉ nghe tiền triệu tiền tỷ ăn chơi của cán bộ đảng viên nhà nước mà ít ai nghĩ đến ba bốn trăm ngàn đồng của một gia đình đông con. Xã hội nào cũng có người giàu kẻ nghèo, nhưng sự cách biệt quá chênh lệch về phẩm cũng như lượng giữa hai thành phần tại Việt Nam là một hiện trạng không thể chấp nhận vì vấn đề tham nhũng quá độ của giới cầm quyền.

Những người đang ở trong các biệt thự sang trọng, đi xe đời mới, sáng trưa cao lầu chiều phòng trà ca nhạc, tối ôm gái trong khách sạn…chính là bản thân và thân nhân gia đình đảng viên cán bộ nhà nước và những tên sống bám vào đáy quần của Cộng sản. Không phải chỉ một vài tên mà đồng loạt từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, từ chủ tịch nhà nước đến tên quét cầu tiêu trong bệnh viện. Trung ương thì miệng lúc nào cũng hô hào diệt tham nhũng nhưng chỉ là trò hề để bịp trẻ con.

Tham nhũng là căn bệnh có thể chữa trị một cách dễ dàng nếu các cấp lãnh đạo trong sạch và nghiêm chính. Nhưng ở Việt Nam thì ngược lại. Không thế ngăn chận một anh công an đút túi lộ phí vài chục ngàn, cấm một viên chức xin vài trăm ngàn tiền trà nước trong khi những tay đầu sỏ ăn cắp hàng chục tỷ dollars để ở các ngân hàng nước ngoài. Cá mè một lứa thì làm sao có thể trở mặt trị tội lẫn nhau. Lâu lâu trung ương đưa ra một vài tên cán bộ cỡ trung ra tế thần sau khi đã vắt hết nuớc hết cái hoặc đổ bể vì ăn chia không đồng đều. Cả thế giới phải bịt mũi khi thấy chúng đánh trống thổi kèn trình diễn lấy lệ mấy vở hài kịch vừa qua.

Chính cán bộ, thân nhân và thuộc hạ của chúng đã đưa đời sống của nhân dân VN từ nghèo khó đến bần cùng đói rách. Hãy nghĩ xem, những bà mẹ buôn thúng bán bưng ngày kiếm vài ba ngàn đồng bạc, công nhân viên mỗi tháng lãnh chừng vài ba trăm ngàn, tính ra trung bình hơn ngàn bạc mỗi ngày, làm sao giới nghèo khó có thể đua chen trong cái xã hội nhiểu thương bên cạnh những tỷ phú đỏ. Cấp nhỏ thì tiền vào ngã sau trung bình cả triệu mỗi sáng, cao hơn thì vàng lượng vàng cây người ta dâng tận cửa ban đêm. Tiền bạc tiêu xài năm nầy tháng nọ cũng không ăn nhằm so với những số tiền tham nhũng bất chính. Đất đai nhà cửa xe cộ đầy đủ, tiền bạc đã nằm yên xứ ngoài, bây giờ họ chỉ việc tranh thủ thời gian để hưởng thụ. Do đó không lạ gì các quán đấm bóp, nhà hàng, khách sạn hạng sang nay đã trở thành phòng tắm, nhà bếp và phòng ngủ thường trực của cán bộ đảng viên cũng như gia đình.

Theo tài liệu gần đây của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế thì Việt Nam đứng hàng đầu thế giới về tham nhũng. Tính sơ sơ một số hồ sơ do tổ chức nầy có trong tay là 217.571 vụ tham nhũng từ cấp nhỏ đến cấp lớn. Hồ sơ tham nhũng nhỏ nhất ghi nhận tối thiểu 10.000 dollars và lớn có nhiều hồ sơ lên đến hàng trăm triệu dollars (ví dụ chỉ tính 217.571 hồ sơ nhỏ nhất, mỗi hồ sơ chỉ 10.000 dollars thì con số cũng lên đến 2.175.710.000 dollars). Ngoài ra tập đoàn Cộng sản đã vơ vét đục khoét, tẩu tán và làm thất thoát tài sản quốc gia trung bình mỗi năm 130 tỷ dollars (tài liệu Effet tháng 3/2006).

Tham nhũng dưới hai chế độ VNCH và CS

Cách đây vài tháng, cò mồi Nguyễn cao Kỳ trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng miền Nam trước kia cũng tham nhũng, ngoại trừ một mình ông ta mà thôi ! (Thật không ông Kỳ ? Nếu có một chút liêm sĩ thì đừng nói câu nầy), rồi hô hào quên đi tất cả, tha thứ cho bọn Cộng sản tội tham nhũng đồng thời xóa bỏ những gì chúng đã vơ vét để tỏ thiện chí cùng nhau tiến tới việc hòa hợp hòa giải. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã nhổ nước bọt vào bộ mặt lì lợm ông ta nhiều lần, thiết tưởng không cần đối thoại với một cá nhân đã mất nhân cách và liêm sĩ.

Nói đến tham nhũng dưới chế độ cũ, chúng tôi xin phép trở lại vấn đề nầy để trình bày với thế hệ trẻ hải ngoại và tất cả những ai sinh ra và lớn lên dưới sự nhồi sọ của chế độ Cộng sản ngay từ lúc mới lọt lòng để tất cả có một chút nhận định về chế độ cũ mà Cộng sản đã bôi bác bóp méo sự thật.

Vẫn biết rằng vấn đề tham nhũng dưới chế độ nào cũng có, (ngoại trừ một số quốc gia ở Bắc Âu) không nhiều thì ít, nhất là đối với những nước đang phát triển. Nhưng đem vấn đề tham nhũng của miền Nam trước kia so sánh ngang hàng với việc tham nhũng của Cộng sản ngày nay thì thật là một sỉ nhục đối với chế độ cũ và những người có trách nhiệm trong guồng máy chính quyền cũng như quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước kia.

Từ nền Cộng hòa đệ nhất đến đệ nhị, miền Nam đã trải qua nhiều thời tổng thống, bộ trưởng và các quan chức điều hành guồng máy hành chánh cũng như hàng trăm tướng lãnh đã phục vụ dưới cờ. Chúng tôi không khẳng định các nhà lãnh đạo, các tổng bộ truởng cũng như các tướng lãnh hoàn toàn trong sạch trăm phần trăm, nhưng nếu một vài cá nhân nào đó có tham nhũng thì cũng chỉ là những chuyện nhỏ nhặt, chút tiền để vui chơi qua ngày chứ không đủ tích lũy nuôi gia đình giòng họ từ đời nầy qua đời khác hay chuyển ra nước ngoài những số tiền lớn của Cọng sản ngày nay. Một tài liệu đã vạch trần cho thấy gởi hàng chục tỷ dollars của các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng sản nằm rải rác trong các ngân hàng trên thế giới (32 tỷ dollars, con số có được vào năm 2004)

Tôi chưa thấy một vị lãnh đạo, quan chức hay tướng lãnh nào làm chủ, đừng nói gì nhiều, một dinh thự, lâu đài, cao ốc hay một đại công ty nào trong nước cũng như ở ngoại quốc. Cộng sản là bọn to mồm nhưng chưa nghe chúng rêu rao tịch thu tài sản của vị nầy ông kia thuộc chế độ cũ bao giờ. Trong lúc cò mồi Kỳ, ngày trước đã bị xếp vào loại lem nhem lại lên tiếng nhập nhằng vấn đế tham những cũ và mới thì không ai tin lời một tiểu nhân vô liêm sĩ. Một bằng chứng cho thấy, sau ngày mất nước, các bộ trưởng, dân biểu, quan chức cũng như các tướng lãnh lên đường đi tù ra Bắc, vợ trong Nam phải buôn thúng bán bưng nuôi con, có người phải bán ngay cả đồ đạc trong nhà để đủ tiền đi thăm nuôi chồng một vài chuyến.

Hơn nữa, sau ngày mất nước các lãnh tụ cũng như hàng ngàn cựu quan chức, tướng lãnh ra định cư nước ngoài, đến xứ người họ cũng sắp hàng đi lãnh trợ cấp. Trong số nầy không biết có cò mồi Kỳ hay không ! Chúng ta còn nhớ, một thời gian người ta bàn tán đến mười sáu tấn vàng do cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu mang đi làm của riêng vào phút chót trước khi Cộng sản tiến chiếm miền Nam. Lúc còn sống không nghe cựu tổng thống Thiệu thanh minh đính chính. Nhưng dưới bầu trời tự do không có gì có thể bưng bít sau một thời gian dài, chuyện gì cũng được phơi bày ra ánh sáng. Cựu tổng thống Thiệu không thể tay xách vai mang số vàng một mình mà, nếu có thật, thì phải cần một đoàn người tiền hô hậu ủng để hộ tống vàng bằng một chiếc máy bay lớn. Chuyện ăn lén đã qua tay hàng chục người trước sau gì cũng đổ bể, đám đàn em của cựu tổng thổng Thiệu vì lòng tham và ganh ghét mà tố giác lẫn nhau, nhất là cò mồi Kỳ là người có nhiều ân oán với ông Thiệu, nếu không được chia chác thì tên cò mồi nầy đã nhảy đỏng lên tố cáo từ lâu.

Nhưng chuyện vàng vẫn chìm xuồng cho đến lúc cựu tổng thổng Thiệu qua đời thì đùng một cái, báo chí đăng tin cho biết chính ông Bùi Tín xác nhận, bộ chính trị trung ương đảng Cộng sản đã cho nhiều chuyến bay chở cấp tốc toàn bộ số hiện vật dự trữ trong ngân khố chính phủ miền Nam ra Bắc ngay trong những ngày đầu tháng 6 năm 1975, trong đó gồm số vàng nói trên, và những tay trong bộ chính trị trung ương đảng cấu kết chia nhau bỏ túi. Bây giờ chúng tôi đưa ra yêu cầu : Hãy trả lại số vàng trong ngân khố của VNCH cho dân chúng miền Nam bằng cách xây bệnh viện trường học cho miền Nam từ quận huyện đến thủ đô Sàigòn.

Trở lại vấn đề đổi mới và mở cửa của Cộng sản, nếu xét về khía cạnh nhân bản thì ít ra một số người dân bình thường thấp cổ bé miệng nhân cơ hội nầy cũng kiếm được miếng cơm manh áo. Trong số này là đồng bào miền Bắc đáng thương, họ qua được kiếp nghèo khó sau hơn hai chục năm đói rách dưới bàn tay sắt máu của Cộng sản. Tiếp đến, gia đình thân nhân của Việt kiều trở thành ‘gà đẻ trứng vàng’ có phương tiện sống nhờ những liên hệ ruột thịt từ nước ngoài, và sau cùng, một số ít người thành thị có cơ may ăn nên làm ra tránh được cảnh nghèo đói. Nhưng mỗi lần nghĩ đến quê hương đau thương, đến đại đa số người dân hiền lành chất phác còn đói khổ, những người thua trận, anh em thương phế binh, kẻ sa cơ thất thế, những người bị kềm kẹp trong vòng tù tội thì những ai còn nặng lòng với đất nước cũng không thể nào tránh khỏi những giây phút xao xuyến suy tư.

Tóm lại tám mươi phần trăm dân chúng Việt Nam đâu cần nhà lầu hai ba chục từng, khách sạn năm sao, cửa hàng sang trọng, vũ trường quốc tế, trường đua tân tiến…mà họ chỉ ao ước những chuyện rất tầm thường : Ngày hai bữa no bụng, đau ốm có nơi chăm sóc chữa trị miễn phí và trẻ em đến trường không phải đóng tiền học. Ba vấn đề căn bản và cần thiết để phục vụ con người sao không thấy đổi mới mà đời sống dân chúng càng ngày càng đi vào lạc hậu. Thật ra những hạ từng cơ sở đổi mới hiện nay chỉ là những cơ quan kinh tài của chế độ và mục đích phục vụ cho giới tư bản đỏ. Nếu những ai ca tụng những gì tại Việt Nam hiện nay tức là vô tình trở thành những người tuyên truyền không công cho Cọng sản.

HÒA GIẢI HÒA HỢP

Hòa giải hòa hợp là chiến dịch được Cộng sản Hà Nội và những tay cò mồi trong cũng như ngoài nước, những tên năm vùng và một số chính trị gà mờ ở Mỹ tung ra để mưu đồ một giải pháp chính trị hầu cứu vãn chế độ

Cộng sản đang trên đà tuột dốc. Từ chiêu bài ‘kiềng ba chân’ Hà Nội đã chuẩn bị giải pháp nầy từ năm 1995 để đánh lừa cụ Hoàng Minh Chính, (một người thiết tha tự do, nhưng rất tiếc đã mất niềm tin của một số người ái mộ sau chuyến đi Mỹ của cụ) đưa qua bày hàng tại Mỹ trong năm vừa qua, đến ‘thế hai cẳng’ do cò mồi Nguyễn Cao Kỳ sau hai năm học tập trong khách sạn, về Mỹ vội vàng đưa ra họp báo thăm dò dư luận. Nhưng cộng đồng người Việt tự do đâu ngu xuẩn như cò mồi Kỳ đã ám chỉ trong bài phỏng vấn. Dù ở phe cánh hay đảng phái nào cuối cùng cũng sáng suốt vứt ngay hai lá bài ‘kiềng ba chân’ và ‘thế hai cẳng’ vào ngay sọt rác.

Cộng sản Hà Nội đã tính, mưu đồ chính trị hai lá bài ‘Ba chân’ hay ‘Hai Cẳng’ kết qủa trước sau gì cũng quy về nằm gọn trong tay của bọn chúng. Hà Nội lộ ra bộ mặt khôn lỏi khi đưa ra giải pháp ‘ba chân’, gồm chính chúng nó và hai nhóm trí thức trong và ngoài nước. Trí thức trong nước thì gồm đa số đang cúi đầu hưởng lộc, bám sát đáy quần Cọng sản sẽ là chân thứ hai. Giới trí thức chống đối trong nước thì bị cô lập, tù đày, cơm không có ăn áo không đủ mặc, miệng bị khóa, còn ai để đại diện cho người dân thấp cổ bé miệng. Trí thức nước ngoài thì chúng biết rằng không thể bịp bợm qua mặt một cách dễ dàng, Hà Nội chỉ còn nhắm vào mấy tên đón gió, núp bóng cò mồi, chính trị gà mờ sẽ ‘hồ hởi’ sẽ chạy theo. Chúng tính toán kỹ, đường nào giải pháp ba chân do cụ Hoàng Minh Chính hô hào cổ võ cũng quy tụ được tay sai của chúng nhằm chống đở cho quyền lực và tạo cơ hội huênh hoang với thế giới bên ngoài bằng giải pháp hòa giải hòa hợp dân tộc.

Sau khi thất bại thế ba chân, Hà Nội quay qua dùng cò mồi Kỳ, đánh bóng thành nhân vật chính trị quan trọng và phong cho Kỳ nhiệm vụ ‘đại diện nhân dân miền Nam’ để chiêu dụ dân trong nước và thăm dò phản ứng Mỹ cũng như cộng đồng người Việt. Cò mồi Kỳ được cấp đầy đủ phương tiện du hí và hưởng lạc, được đặc ân ‘học tập’ trong khách sạn năm sao. Sau hai năm thông suốt thế ‘Hai Cẳng’ cò mồi Kỳ được lệnh trở về Mỹ họp báo ra chiêu, nhưng chẳng làm nên trò trống gì khi kêu gọi một chế độ lưỡng đảng cho Việt Nam.

Trong đó một đảng là Cộng sản, một đảng sẽ do Kỳ lãnh đạo trong bóng tối (Kỳ xác nhận nhiều lần vì sức khởe không ra mặt). Kỳ sẽ tuyển chọn, cân nhắc và giới thiệu đàn em với Hà Nội, bước đầu từ dân biểu quốc hội tiến đến việc thành lập chính phủ lưỡng đảng. Thì ra ‘ba chân’ hay ‘hai cẳng’ đều là giải pháp để chống đở cho đảng Cộng sản trước ngày xuống lỗ. Cộng sản Hà Nội, theo cò mồi Kỳ, (có lúc nổi máu cao bồi lên Kỳ không kiểm soát được lời nói của mình) đang chết đói, cần phải hợp tác đưa tiền đưa của và chất xám về giúp đảng. Đúng là cao bồi ngây thơ khi vô ý phóng ra câu nầy, đảng Cộng sản đâu chết đói, chúng đã quá no nhưng lòng tham vô đáy, vẫn kêu gào tiền của Việt kiều để vơ vét chuyến chót trước khi đâm đầu tháo chạy.

Thù hận, chống đối quá khích

Nhiều người trong đó có một vài nhà trí thức, những tay chính trị đón gió, bọn cò mồi và những tên nằm vùng thường lặp lại luận điệu của Hà Nội cho rằng, một số người Việt trong cộng đồng hải ngoại vẫn còn mang thù hận trong lòng và thường quá khích chống đối Việt Nam. Tôi mượn trang giấy nầy để trả lời rõ ràng và dứt khoát như sau :

Đừng bóp méo sự thật, người Việt tự do hải ngoại không thù hận Việt Nam, hay nói thật chính xác và rõ ràng hơn, không thù hận Đất Nước, không thù hận bất cứ người Việt Nam nào dù là Bắc hay Nam, mà mục đích chính là hô hào cổ võ để đánh đổ cho bằng được những tay đầu sỏ trung ương đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội. Bọn chúng chỉ là một tập đoàn nhỏ, số lượng đếm trên đầu ngón tay nhưng từ mấy chục năm qua đã luân phiên cai trị, đàn áp bóc lột tám chục triệu người vô tội. Những đảng viên cấp nhỏ, sĩ quan quân lính trong quân đội chính quy, trong đạo quân công an kềm kẹp, anh chị em công nhân viên nhà nước đều là những người đáng thương, chẳng qua vì sinh kế và mạng sống buộc họ phải phục tùng. Đối tượng của người Việt tự do chính là những tay đầu nảo Cộng sản cần phải đạp đổ để dành lại tự do hạnh phúc cho toàn dân chứ không phải là người Việt gốc miền Bắc, miền Nam hoặc cán bộ công nhân viên cấp nhỏ của nhà nước.

Ai căm thù ai ? Ai vẫn xử dụng trò đểu giả để lừa bịp dư luận ? Hà Nội thường rêu rao rằng một số người Việt nước ngoài vẫn còn căm thù đồng thời nhóm người nằm vùng, đón gió trở cờ lợi dụng diễn đàn tự do kêu gọi hãy tha thứ quên đi quá khứ để bắt tay hòa giải. Tôi thấy làm lạ khi Hà Nội vẫn còn dùng những nơi trưng bày tội ác Mỹ-Ngụy để rêu rao bôi xấu chế độ tự do và luôn luôn lợi dụng các dịp lễ lộc để khơi lại căm thù…Chiến tranh nào không tàn bạo, không đổ máu không chết chóc. Tội ác do Cộng sản gây ra tại miền Nam hàng hà sa số gấp ngàn gấp vạn lần những gì do Đồng minh và Việt Nam Cộng Hòa gây ra vì nhầm lẫn hoặc vì tình thế bắt buộc khi đối đầu với chiến thuật dã man mỗi khi Cộng sản Hà Nội lùa dân làm bia đở đạn cho chúng.

Chỉ một vài bức hình như cảnh một bé gái chạy giặc trong vụ Mỹ đánh vào một khu xôi đậu ở miền Trung hoặc tên đặc công bị vị chỉ huy Cảnh sát bắn bỏ ngay giữa đường phố, Cộng sản Hà Nội và tay sai cũng như các phần tử phản chiến thường đưa lên các cơ quan truyền thông quốc tế. Hình ảnh nầy đâu có thể so sánh cảnh hàng ngàn người dân vô tội bị chúng chôn sống tập thể trong Tết Mậu Thân 1968, những cảnh hàng trăm thường dân bị pháo giết hại hoặc cảnh những tên đặc công ném mìn lựu đạn vào giữa chợ búa lúc đông người. Cũng chưa đủ, Hà Nội dùng đủ phương tiện để vận động Mã Lai đập bỏ bia tưởng niệm thuyền nhân tại quốc gia nầy là một hình thức gây hấn, chà đạp lên sự đau khổ của những người đã trốn chạy chế độ khát máu lúc chúng vừa kéo vào ngự trị miền Nam.

Bề mặt vuốt ve Việt kiều nhưng Hà Nội vẫn đểu giả huấn luyện hàng ngàn người, gởi ra xứ ngoài để tuyên truyền gây chia rẻ và phá hoại. Chúng dùng tiền của Việt kiều để gầy dựng cơ sở, nuôi dưỡng và yểm trợ bọn nằm vùng để phá lại cộng đồng người Việt tại các xứ tự do.

Thù hận chất hứa trong lòng, ai hơn ai ? Đối với người tỵ nạn xứ ngoài, giòng giống con cháu Lạc Hồng từ Bắc chí Nam đều là anh em máu mủ kể cả chị nông dân, anh bộ đội, cán bộ, công an nhà nước. Tất cả đều là nạn nhân bị tập đoàn Cọng sản mượn danh rồi bóc lột lại chính họ đến tận xương tủy. Chúng tôi không hận thù, không quá khích mà dùng phương tiện báo chí truyền thông để lột mặt nạ và dùng ngòi bút vạch trần những xảo quyệt của tập đoàn Cộng sản đồng thời tiếp tay với những người yêu nước đánh cho bằng được đám người thiểu số cầm quyền. Chúng chỉ vỏn vẹn vài ba trăm trong bộ chính trị trung ương và guồng máy hành chánh, nhưng chúng đã thay phiên nhau trị vì trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân Việt Nam từ hơn năm chục năm nay (1954-2005, tính đến lúc viết bài nầy).

Bỏ qua, hợp tác và xây dựng

Trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo weeklly, cò mồi Nguyễn Cao Kỳ đã nhắc đi nhắc lại rằng chúng ta nên bỏ qua qua khứ để hàn gắn vết thương dân tộc sau ba mươi năm đau thương. Chúng tôi đồng ý hận thù nào cũng phải biến dần theo thời gian nếu hai đối tượng đều có thiện chí để nối lại vòng tay, đau buồn nào cũng phai nhạt theo ngày tháng nếu được vỗ về an ủi. Điều quan trọng và cần thiết để mở đầu trang sử mới là kẻ gây ra tội ác phải biết nhận trách nhiệm và phần lỗi về mình, cụ thể bằng những lời xin lỗi chính thức, bồi thường chiến tranh hay bày tỏ thiện chí dưới những hình thức nào đó. Chuyện nầy đâu mới lạ gì, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta ngay từ thời trung thượng cổ đến hai trận đại chiến hay những cuộc chiến tranh trong thời gian vừa qua mà cuộc Nam-Bắc phân tranh của Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình. Đàng nầy Cộng sản cứ lên tiếng kêu gọi bỏ quá khứ để hợp tác trong lúc họ vẫn ngang nhiên xem những thành phần chế độ cũ là thù địch, vẫn ngang nhiên đàn áp bốc lột tận xương tủy của nhân dân miền Nam, vẫn ngày đêm tuyên truyền bôi nhọ phá rối Cộng đồng người Việt nước ngoài, thì thử hỏi Hà Nội còn chút liêm sĩ gì khi đề nghị xóa bỏ bất đồng trong quá khứ ?

Sở dĩ Cộng sản và cò mồi đàn em chịu xuống nước van xin tất cả hãy bỏ qua quá khứ cùng nhau hợp tác và xây dựng đất nước vì chúng cần giải quyết ba vấn đề :

1. Chế độ Hà Nội đang trên bờ vực thẳm :

Thuyết Cộng sản đã bị đào thải từ khuya, Liên sô và khối Đông Âu đã liệng vào sọt rác không thương tiếc. Thế giới chỉ còn bốn xứ lì lợm trong đó có Việt Nam, vẫn ngoan cố dùng bao tử con người, hàng rào kẽm gai và vũ lực súng đạn làm phương tiện đàn áp, bám lấy danh lợi, ngự trị ngai vàng từ đời cha đến đời con cháu. Một chủ thuyết không nhân bản, không tình người, đi ngược với trào lưu văn minh tiến bộ và phát triển khoa học kỹ thuật nhưng Cộng sản Hà Nội vẫn hy vọng giải pháp hòa giải hòa hợp với đồng ngườiViệt tự do để cứu vớt đảng Cộng sản và giúp chúng vững chắc trên ngai vàng. Hơn nữa tình hình chính trị trong nước đã bắt đầu biến chuyển mạnh mẽ, nội bộ chia thành nhiều nhóm, dân chúng đã tỉnh thức bất chấp súng đạn xuống đường đòi quyền sống và nhất là thành phần trẻ nòng cốt tương lai của chế độ đã đặt vấn đề với chính phủ qua nhiều truyền đơn, đình công xuống đường.

2. Áp lực quốc tế về kinh tế và nhân quyền. Quốc tế

áp lực mạnh trên các vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo qua các quan hệ giao dịch trao đổi thương mãi. Cộng sản Hà Nội bị dồn vào giữa chân tường buộc lòng phải kiếm một lối thoát : Đó là lấy Cộng đồng người Việt tự do hải ngoại làm chân chống đở dưới hình thức hòa giải hòa hợp với các thành phần của chế độ cũ Việt Nam Cọng Hòa đồng thời dùng làm ô dù để bao che và hợp thức hóa số tài ản quốc gia và tiền của của nhân d ân Việt Nam đã cướp được.

3. Hợp thức hoá tham nhũng và tiếp tục rút ruột

Việt kiều : Vay mượn tiền quốc tế dưới danh nghĩa cứu đói giảm nghèo và xây dựng đất nước và tham nhũng không cần để ý đến hậu quả, Cộng sản vơ vét tài nguyên của cải như một đám ăn mày lọt vào nhà phú hộ, lớn nhỏ gì nhắm mắt cũng nhét đầy túi. Hơn ba mươi năm qua chiếm đất, chiếm nhà, xem tài sản của dân chúng và đất nước là của riêng, ngang nhiên phân phối cho gia đình, bán cho ngoại quốc và cất giấu ở nước ngoài. Đến nay thì dân chúng đã bừng tỉnh, xem thường súng đạn và bắt đầu đứng lên để chất vấn đòi lại. Tức nước vỡ bờ, một ngày nào đó, những thành phần mà Cộng sản thường đề cao là nòng cốt của chế độ sẽ gậy gộc xâm vào phủ bí thư, phủ chủ tịch để hỏi tội.

Hà Nội đã thấy trước ngày nầy đành xuống nước hô hào tiếp tay giúp sức bao che của chế độ cũ mà nòng cốt là cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Một điều cần khẳng định, nếu trong nước không còn một thân nhân nào của những người đã ra đi thì chắc chắn Hà Nội không kiến được một đồng xu của Việt kiều. Phải nói thẳng ra rằng bốn tỷ dollars của Việt kiều gởi về hằng năm không phải mục đích để xây dựng đất nước hay tiếp tay cho Hà Nội, mà vì mạng sống, cơm ăn áo mặc cho gia đình thân nhân còn kẹt lại. Hà Nội biết rõ điều nầy nên vẫn bày những trò đểu giả gọi Việt kiều là ‘khúc ruột ngàn dặm’ và xem thân trong nhân trong nước là ‘gà đẻ trứng vàng’.

Một ngày nào đó Việt kiều đồng loạt ngưng gởi tiền về thì Việt Kiều sẽ được Cộng sản Hà Nội đổi tên thành bọn ‘Việt kiều phản loạn’ và thân nhân trong nước biến thành ‘sâu bọ ăn bám’, và dĩ nhiên sẽ bị gậy lên đường đi kinh tế mới. Tiền tham nhũng gởi ra nước hàng chục tỷ dollars nhưng Cộng sản Hà Nội vẫn tìm mọi cách kích động lòng nhân đạo thế giới, nhân danh xây dựng tái thiết đất nước, cứu đói giảm nghèo, chận đứng bệnh tật, mở mang trí tuệ để vay mượn vô tội vạ hàng chục tỷ dollars. Nợ cũ chưa trả đồng nào đã chồng thêm nợ mới khác, mai kia bị hạ bệ, những tay lãnh đạo bôi mặt đổi tên chui rúc xứ ngoài, ai là kẻ phải gánh chịu hậu quả nầy ? Xin thưa, đó là con cháu của chúng ta !

Khi đưa ra lời kêu gọi tha thứ và hợp tác, người Việt tự do nước ngoài đã thấy ngay thâm ý Cộng sản muốn mượn chiếc dù để xí xóa bỏ qua việc tham nhũng đồng thời hợp thức hóa việc ăn cắp vĩ đại của chúng. Chúng biết rằng một khi bị đá xuống ngựa nhân dân miền Nam sẽ hỏi tội và yêu cầu quốc tế niêm phong những số tiền bất chánh trong các trương mục ngân hàng. Thứ khôn lỏi nầy chỉ bịp được những tay chính trị gà mờ như cở cò mồi Nguyễn cao Kỳ và vài ba trí thức trốn quân dịch trước đây hoặc thứ mất gốc sau nầy mà thôi.

Tóm lại, người Việt tự do hải ngoại không thể nối giáo cho giặc. Chúng là những con rắn độc, người có lương tri và biết suy nghĩ thì không thể đối thoại với chúng chứ đừng nói đến bắt
tay hòa giải cọng tác. Không thể giúp chúng hợp tức hóa những gì đã vơ vét của nhân dân của đất nước mà phải bắt chúng trả lại những gì của miền Nam cho miền Nam. Cũng không thể bắt tay phục hồi sức lực để chúng tiếp tục đặt ‘búa rìu’ lên đầu lên cổ người dân cũng như trên mảnh đất thân yêu của chúng ta.

Muốn nói chuyện về hòa giải hoà hợp dân tộc, Cộng sản Hà Nội phải tỏ thiện chí trước bằng cách trả lại toàn bộ những gì đã vơ vét của dân chúng cũng như tài nguyên của đất nước để chuộc lỗi lầm của mình bằng cách : Thu hồi những số tiền khổng lồ trong các trương mục để xây cho dân nghèo vài trăm bệnh xá nhà thương, vài ngàn trường trung tiểu học rải đều trên toàn lãnh thổ từ Bắc chí Nam, đồng thời miễn phí hoàn toàn cho dân nghèo có phương tiện săn sóc chữa trị mỗi khi đau ốm và trẻ em có nơi học hành miển phí, lập quỹ trợ cấp cho nhà nghèo đông con, cho người già bệnh tật cô đơn. Những dự án tôi đề nghị ra đây trông thì lớn nhưng chẳng thấm vàođâu so với những số tiền mà đảng đã ăn cắp của quốc gia và móc túi dân chúng, chỉ nói riêng về khoảng tiền Hà Nội rút ruột Việt kiều mấy chục năm qua thì cũng chưa đáng gọi là muối bỏ biển.

Kết luận

Nhiều người trông chờ một vài thay đổi sau Đại Hội thứ X của Cộng sản nhưng cá nhân tôi chắc chắn không có gì mới lạ. Chỉ là chuyện xoay vần nội bộ của tập đoàn Cộng sản, thay đổi nhân sự luân phiên nắm quyền cai trị. Trước sau gì cũng những bộ mặt quen thuộc trong bộ chính trị, phe nầy đã no đủ rồi thì nhường chỗ cho phái kia đến phiên nhảy lên vơ vét. Đàng nào cũng những bộ mặt thiếu khả năng, tham lam vô độ trong đảng Cọng sản lên nắm bộ máy độc tài tham nhũng, như vậy trước sau gì đảng Cộng sản cũng đưa dân tộc Việt Nam vào con đường đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại.

Họa chăng sẽ có một vài thay đổi nho nhỏ, vá víu hầu tìm con đường sống, nhưng cốt lỏi Cộng Sản vẫn là Cộng Sản. Mà đã là Cộng Sản thì không bao giờ có thể hòa giải hòa hợp, chung vai sát cánh với Tự Do. Giữa hai đối thủ chỉ có con đường độc nhất là ‘Một Mất Một Còn’, đó là điều khẳng định như đinh đóng cột. Điều mong ước ngày đêm của tôi là áp lực của các đảng phái, phong trào chống đối càng ngày càng lớn của từng lớp dân chúng trong nước sẽ tạo một khí thế mạnh mẽ, là môi trươờng thuận lợi cho một cuộc thanh toán nội bộ, không ồn ào, không đổ máu, nhanh chóng và hiệu quả như một cuộc cách mạng xanh mà Liên sô cũng như các xứ Đông Âu cũ đã làm./.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.