Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 14, 2008

Trần Dần & Tố Hữu

http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=3079

Tất nhiên, không ai tin việc tập thơ Trần Dần bị “niêm phong” chỉ vì vài cái lỗi về thủ tục. Nhưng thôi, đó cũng là một lối ra rất đỡ mất mặt. Dù sao, Thơ Trần Dần cũng đã bán rất chạy, ngay đến cậu con trai tôi, 15 tuổi, cũng tò mò.

Thơ ông đa nghĩa quá. Chỉ riêng một bài Nhất Định Thắng, tôi nghĩ, đã có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm, vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn. Không hiểu sao, cho tới nay, chưa thấy ai làm một bộ phim truyện dựa trên bài thơ ấy. Ta ở phố Sinh Từ… Một giai đoạn lịch sử buồn đau của đất nước hiện ra mồn một trong mỗi câu thơ của ông.

Khi Trần Dần viết bài thơ ấy, đất nước đang bị phân đôi, ở miền Bắc chiến tranh kết thúc. Nhưng, cuộc sống của người dân thì không có hòa bình. Trần Dần viết: Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm? Không hiểu, hình tượng “vết chém ngang lưng” ông viết ở đây là để nói về nỗi đau chia cắt tổ quốc hay chỉ đơn giản nói về cái không khí ngột ngạt ở miền Bắc, cái không khí mà đến 30 năm sau, Hữu Loan vẫn nhớ: “Thành viên nào (trong cộng đồng) cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh”.

Theo Hiệp định Geneve, người dân có một thời gian dài để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Trong khi, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà trên đất Bắc. Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ – Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng?

Trong những ngày xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ấy, tình hình Thế giới được “quán triệt” thành hai “phe” Xô- Mỹ. Nhưng cái “phe” mà ông quan tâm cũng “căng thẳng” vô cùng: Gặp em trong mưa/Em đi tìm việc/Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/- Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ… Ông nghĩ: Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt./Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt./Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù/Chúng còn đương bày kế hại đời ta? Nhưng “cơm áo” không phải là những gì ngột ngạt nhất mà những người như ông đã từng nếm trải.

Theo tác giả của Màu Tím Hoa Sim, nhà thơ Hữu Loan: Trên thực tế, khi ấy, rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Các văn nghệ sỹ lúc ấy phải học tập những tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đưa về, rồi tự Diên An (Trung Quốc) đưa sang. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có, chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Theo ông Hữu Loan: Khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?” Ông Trường Chinh sửng sốt: “Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi. Tố Hữu là một trong những nhà lãnh đạo hăng hái đưa “hiện thực XHCN” vào văn nghệ. Trong khi Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… phản đối đường lối này. Những người phản đối sau đó, lần lượt dính vào một vụ án gọi là “Nhân Văn Gia Phẩm”.

 

Phong trào Giai phẩmNhân Văn bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Trần Dần là người phê nặng lời nhất. Tuy nhiều người tán thành với nhận xét này nhưng tập thơ vẫn giành được giải nhất đầu năm 1956. Về sau, nhóm Nhân Văn còn viết nhiều bài được coi như là những “Thất Trảm Sớ”, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước Pháp quyền. Ngày nay, nếu đọc lại những bài viết của nhóm Nhân Văn, phải công nhận là nước ta đã từng có những nhà trí thức khả kính. Đất nước ra nông nỗi hiện nay là bởi lịch sử đã không chọn họ. Trần Hữu Đang bị tù 17 năm (sau 7 năm thì được tha); Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”: 7 năm tù giam; Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha; Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm… Khi Hoàng Cầm cho in Nhất Định Thắng, Trần Dần bị mất chức và sau đó bị bắt giam. Nếu Trần Dần không dùng lưỡi lam rạch cổ, có lẽ thời gian “ở trong lao” của ông không chỉ là 3 tháng. Trong tình cảnh ấy, mấy câu thơ: Những ngày ấy bao nhiêu thương xót/Tôi bước đi/không thấy phố/không thấy nhà/Chỉ thấy mưa sa/ trên màu cờ đỏ… không hẳn là không mang ít nhiều ẩn dụ chính trị.

Cho dù phải sau khi Tố Hữu chết, các ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt… mới được “chiêu tuyết”, vụ “Nhân Văn” không đơn giản chỉ là những vấn đề giữa các cá nhân với nhau. Một nhà nghiên cứu viết, ở thời điểm ấy, thay đổi là một quy luật. Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng; hay xa lánh như Nguyên Hồng. Người không biết, thì đành phải sa hầm sẩy hố… Kể ra thì, các bác ấy sống quá tử tế, làm thơ quá thơ, tính đa nghĩa trong thơ của các bác ấy thật dễ để mà suy diễn. Nếu, 50 năm trước, các bác ấy cứ theo Tố Hữu, viết huỵch toẹt: Má thét lớn tụi bay đồ chó/Cướp nước tao, cắt cổ dân tao…; hay thật xạo: Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin rồi trơ trẽn khi nghe tin Stalin chết: Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười, thì cuộc đời các bác ấy chắc chắn đã không phải thế.

Viết như thế không chỉ giúp Tố Hữu leo dần tới BCT, đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu này lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế cho đất nước. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của ông ở góc độ “giá lương tiền”. Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tổ Hữu. Bài thi nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã tưởng đấy là thơ. Dân trí đã từng bị đặt trong cái “thênh thang 8 thước” đó. Nay thì Tố Hữu đã chết. Mới đây, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính bằng đô la cũng hơn 7 triệu.

 

Trong khi những người như Tố Hữu được ban những bổng lộc như vậy, những người như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đọa đày. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan, kể: “Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học.” Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì lý lịch của một kẻ “Nhân Văn”. Một người con thi đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ: “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”. Ông giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày”.

Đôi khi nghĩ, những người như Hữu Loan, Trần Dần dại thật. Nhưng, Những ngày ấy bao nhiêu thương xót, làm sao có thể bắt những người như các ông có thể quay lưng lại với nhân dân!

 

Wednesday March 12, 2008 – 06:05pm (ICT) Permanent Link | 49 Comments

March 7, 2008

134 người ký tên đề nghị chính phủ xem xét lại quyết định đình chỉ tập thơ Trần Dần

2008.03.06

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA

Bộ Văn Hóa Thông Tin và Truyền Thông vừa ra quyết định đình chỉ việc lưu hành tập thơ mang tên Trần Dần Thơ mặc dù tập thơ này đã có giấy phép do Cục xuất bản cấp và hiện đang bày bán rộng rãi tại nhiều thành phố trong nước.

Bía cuốn Thơ Trần Dần do Nhã Nam & NXB Đà Nẵng ấn hành. Bìa sách là hình minh họa của chính tác giả cho bài thơ “Bài hát cho người lớn”.

Hành động này đã bị các nhà Văn hóa cũng như tác giả văn học trong nước lên án và hôm nay 134 người đã ký tên vào bức thư ngỏ gửi đến Quốc Hội cùng văn phòng Thủ Tướng Chính Phủ đề nghị xem xét lại việc làm vừa nói.

Những câu thơ gây hệ lụy một thời

“Tôi đi không thấy phố không thấy nhà,
chỉ thấy mưa sa trên hàng cờ đỏ…”

Hai câu thơ của tác giả Trần Dần hầu như nằm nguyên vẹn trong trí người đọc trong hơn 50 năm qua. Giá trị câu thơ là nêu lên một cách sống động thời kỳ mà nhà thơ bị cuốn vào dòng chảy của cuộc chiến tranh mà bạo lực cách mạng được nâng lên thành chân lý cho mục tiêu cuối cùng là chiến thắng.

Hai câu thơ này đã là mối hệ lụy đớn đau cho nhà thơ trong suốt quãng đời còn lại của ông bắt đầu từ vụ Nhân Văn Giai Phẩm.

Nhà thơ Trần Dần mất năm 1997 và để kỷ niệm 10 năm ngày mất của ông gia đình và những người có lòng với thơ ông đã tập trung nhiều bài thơ của ông trong tuyển tập mang tên Trần Dần Thơ và được cơ quan văn hóa Nhã Nam phối hợp với nhà xuất bản Đà Nẵng in và phát hành tập thơ này.

Tập thơ đã được đón nhận nồng nhiệt không những từ tiếng tăm vang dội của nhà thơ mà bởi trong tập thơ này nhiều bài thơ của ông chưa bao giờ công bố.

Câu chuyện không ngừng lại ở đây khi thông tin mới nhất từ nhà xuất bản Đà Nẵng và Nhã Nam cho biết Bộ Văn Hóa Thông Tin và Truyền Thông chính thức ra lệnh phong tỏa tất cả số sách còn lại nằm trong kho của hai cơ sở này với lý do là giấy phép của Cục Xuất Bản không hợp lệ.

Giới cầm bút lên tiếng

Sau khi nguồn tin được kiểm chứng lập tức một làn sóng bất bình nổi lên khắp nơi, đặc biệt là tại thủ đô Hà Nội nơi sinh trưởng của nhà thơ và cũng là nơi tập trung nhiều nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ trong nước.

Bắt đầu là một bức thư ngỏ của 8 nhà văn, nhà thơ dự tính sẽ gửi cho các cơ quan cao nhất nước, đã nhanh chóng được sự ủng hộ nồng nhiệt của 134 người trong đó có rất nhiều nhà hoạt động văn hóa và bức thư ngỏ này sẽ được gửi trực tiếp đến Quốc Hội vào ngày mai và sau đó đến văn phòng Thủ Tướng.

Tại sao Bộ Thông Tin và Truyền Thông lại tỏ ra bất nhất đối với một nhà thơ đã chết và đã trả đủ nợ Nhân Văn Giai Phẩm với nhiều năm tù và chết trong cô đơn chỉ vì một bài thơ? Câu hỏi này chúng tôi mang ra thỉnh ý một nhà thơ cũng nổi tiếng không kém trong vụ Nhân Văn, và cũng là bạn thâm giao của Trần Dần là nhà thơ Lê Đạt, ông nói:

“Theo tôi, việc đó là việc không nên làm. Không cớ gì đối với anh Trần Dần, với bất cứ một người nào, người ta sáng tác mình không cho người ta in thì đã là không tốt rồi. Đây thì đã đồng ý cho in rồi mà phải gây khó khăn làm gì nữa. Đặc biệt về trường hợp của Trần Dần thì tôi thấy rằng trường hợp đấy rất bất nhân. Anh Trần Dần đã đau khổ cả một cuộc đời vì nền thơ ca Việt Nam, bây giờ anh đã nằm xuống đất rồi mà bây giờ xác anh cũng đã mục rã với cỏ cây rồi. Tinh thần anh ấy còn lại, thì chúng ta còn hành hạ tinh thần anh làm gì nữa!

Nhà phê bình Văn học Phạm Xuân Nguyên, một trong những người tiên phong khởi xướng viết bức thư ngỏ cho biết thêm những chi tiết tạo ra bức thư ông nói:

“Ngày 26/2 có một đoàn thanh tra liên ngành do Bộ Thông Tin Truyền Thông dẫn đầu xuống làm việc với Công Ty Văn Hóa Nhã Nam vì họ tiếp được một cái đơn của Nhà Xuất Bản Đà Nẵng cho rằng giấy phép mà ông phó giám đốc ký là không có hiệu lực, mặc dầu giấy này là từ tháng 8/2007. Vì vậy công văn thu hồi quyển sách này được gởi lên Cục Xuất Bản với con dấu ngày 23/2/2008.Đoàn kiểm tra liên ngành này xuống làm việc và kết luận, lập biên bản với công ty văn hóa Nhã Nam là đã vi phạm hành chính về công việc xuất bản, nghĩa là quy trình xuất bản không đúng.

Cái bức xúc thứ nhất thường là không nêu rõ lý do vì sao như vậy. Hoặc là lý do nó ẩn đàng sau đó nhưng lại quy về các vấn đề hành chính, chớ không chịu nói thẳng ra rằng là tác phẩn này là xấu, là vi phạm cái này cái khác. Tất cả những vụ việc thường chỉ được quy về lý do hành chính, lý do bên ngoài. Đó là một sự gây bức xúc.

Thế thì từ xuất phát tình hình đó thì nhóm nhà văn, nghệ sĩ trong đó có nhà thơ dịch giả Chân Tường, nhà văn nhà giáo dịch giả Phạm Toàn, Châu Diên, giáo sư Nguyễn Huệ Chi và tôi nghĩ rằng là ở đây dù có thể giải quyết về vụ vi phạm hành chính nhưng nó có thể không còn là tiền lệ nữa mà nó là lập lại một cái một vấn đề mà lâu nay ứng xử của các cơ quan nhà nước quản lý về tác phẩm văn học nghệ thuật như vậy thì nên có một tiếng nói của giới văn nghệ sĩ gởi đến những người có trách nhiệm để thứ nhất giải tỏa việc này. Dù bây giờ “Trần Dần: Thơ” vẫn được bày bán nhưng sợ rằng như vậy là nó vẫn đứng ở trong quy định ấy, là nó vẫn phải ngưng phát hành. Đó là cái thứ nhất như trong thư ngỏ chúng tôi viết.

Thứ hai là nhìn xem lại trong cả hệ thống về cách xử lý như vậy của những tác phẩm trước đó. Và thứ ba, kể từ nay không tiếp diễn, tái diễn lại những việc như vậy nữa”.

Trách nhiệm kẻ sĩ?

Hệ quả của việc cấm đoán, cản trở hay theo dõi văn hóa phẩm là không nhỏ khi nhìn qua lăng kính của một đất nước đang được hướng dẫn bởi những cơ quan mang tên văn hóa nhưng khi hành xử thì phần văn hóa bị xem nhẹ một cách khó hiểu.

Chữ ký và con dấu của Cục Xuất Bản trong câu chuyện này trở thành số không khi quyền lực ở cấp cao hơn tỏ ra mạnh mẽ một cách tuyệt đối.

Dấu hiệu kiêu binh văn hóa đã xuất hiện từ lâu nhưng trong hoàn cảnh mới của đất nước đáng ra cách hành xử này phải bị đào thải thì lại vẫn xuất hiện một cách công khai tạo thành một dấu hỏi lớn đến nhức nhối trong sinh hoạt văn hóa văn nghệ.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi người giữ trọng trách biên tập và gửi bức thư ngỏ, cho chúng tôi biết về nhũng suy nghĩ của ông cũng như nguyên nhân dẫn đến quyết định này ông nói:

“Chúng tôi thấy việc làm như thế là tùy tiện và hoàn toàn không có cơ sở. Đặt vấn đề thu hồi một cuốn sách, mà một cuốn sách đó chỉ có thêm giá trị văn hóa cho đất nước này thôi. Cho nên chúng tôi làm việc ấy cũng chỉ với thiện chí làm muốn tránh cho nhà nước khỏi một dư luận, mà dư luận đấy theo tôi là sẽ không hay, sẽ rất không hay cho nhà nước này.Một nhà nước đang có ý định mở cửa ra với thế giới và hiện đại hóa. Thế mà trên một việc làm rất văn hóa thì anh lại bộc lộ những ‘khiếm khuyết’ như thế, cho nên chúng tôi một số những nhà văn hóa, nhà văn, nhà khoa học quyết định là phải làm một thư ngỏ.

Bởi vì việc này từ trước không ai dám nói, đối với những cuốn sách trước nó cũng chẳng có chuyện gì cả thế mà cũng đùng đùng thu hồi. Và người ta vẫn cứ im lặng chịu đựng chuyện ấy. Bây giờ thì chúng tôi phải lên tiếng và lên tiếng một cách minh bạch và có phép tắc hẳn hoi. Chúng tôi sẽ đến gặp Quốc Hội để trình thư ngỏ này với 134 nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, văn nghệ sĩ”.

Khi chúng tôi tỏ ý lo ngại rằng rồi đây bức thư ngỏ này sẽ cùng chung số phận như những kiến nghị, những bức thư ngỏ khác trước đây vẫn nằm trong im lặng không một tiếng hồi âm, thì việc kế tiếp của những người ký tên trong bức thư phải làm là gì giáo sư Huệ Chi cho biết một cách dè dặt:

“Chúng tôi chưa lường tính được điều ấy. Nhưng thấy trách nhiệm của mình thì chúng tôi phải lên tiếng. Trước đây thì chúng tôi cũng chưa có một tiếng nói nào mà đông đảo như tiếng nói lần này. Mỗi một vụ việc thì nó khác nhau, mà lần này thì chúng tôi muốn từ đây mà khái quát thành một nguyên tắc sống, nguyên tắc làm việc nó hợp với tình thế hiện tại.”

Dù sao thì trách nhiệm kẻ sĩ trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn được xem trọng hàng đầu. 134 chữ ký không phải là nhiều nhưng ngược lại, sức mạnh trong tứng chữ ký này không phải là nhỏ. Phải chăng kẻ sĩ trong nước đã thoát ra được cái vòng kim cô mà nhiều chục năm qua đã trói chặt tâm tư của họ?

—-

Các tin, bài liên quan

March 6, 2008

RFA phỏng vấn về quyển “Trần Dần: Thơ” “xác anh cũng đã mục rã với cỏ cây rồi… thì chúng ta còn hành hạ tinh thần anh làm gì nữa!”

RFA 05.03.08

http://www.doi-thoai.com/amthanh/RFA050308_TranDan.mp3

Giới Thiệu:

Thưa quý thính giả, Bộ Văn hóa Thông tin và Truyền thông vừa ra quyết định đình chỉ việc lưu hành tập thơ mang tên “Trần Dần: Thơ” mặc dù tập thơ này đã có giấy phép do cục xuất bản cấp và từng được bán rỗng rãi nhiều thành phố trong nước. Hành động này đã bị các nhà văn hóa cũng như tác giả văn học trong nước lên án. Và hôm nay 134 người đã ký tên vào bức thư ngỏ để gởi đến quốc hội cùng văn phòng thủ tướng chính phủ đề nghị xem xét lại việc làm vừa nói.

Mặc Lâm có bài viết về vấn đề này:

Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi sử dụng.

Tôi bước đi

               không thấy phố

                          không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa

                  trên màu cờ đỏ.

Hai câu thơ của tác giả Trần Dần hầu như nằm nguyên vẹn trong trí người đọc trong hơn 50 năm qua. Giá trị câu thơ là nêu lên một cách sống động thời kỳ mà nhà thơ bị cuốn vào dòng chạy của chiến tranh mà bạo lực cách mạng được nâng lên thành chân lý cho mục tiêu cuối cùng là chiến thắng. Hai câu thơ này đã là mối hệ lụy đớn đau cho nhà thơ trong suốt quãng đời còn lại của ông, bắt đầu từ vụ Nhân Văn Giai Phẩm.

Nhà thơ Trần Dần mất năm 1997 và để kỷ niệm 10 năm ngày mất của ông, gia đình và những người có lòng với thơ ông đã tập trung nhiều bài thơ của ông trong tuyển tập mang tên “Trần Dần: Thơ” được cơ quan văn hóa Nhã Nam phối hợp với nhà xuất bản Đà Nẵng in và phát hành tập thơ này. Tập thơ đã được đón nhận nồng nhiệt không những từ tiếng tăm vang dội của nhà thơ mà bởi trong tập thơ này nhiều bài thơ chưa bao giờ công bố.

Câu chuyện không dừng ở đây, khi thông tin mới nhất từ phía nhà xuất bản Đà Nẵng và Nhã Nam cho biết Bộ Thông tin và Truyền thông chính thức ra lệnh phong tỏa tất cả số sách còn lại nằm trong kho của 2 cơ sở này với lý do là giấy phép của cục xuất bản không hợp lệ.

Sau khi nguồn tin được kiểm chứng lập tức một làn sóng bất bình nổi lên khắp nơi đặc biệt là tại thủ đô Hà Nội, nơi sinh trưởng của nhà thơ và cũng là nơi tập trung nhiều nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ trong nước. Bắt đầu là một bức thư ngỏ của 8 nhà văn, nhà thơ dự tính sẽ gởi cho các cơ quan cao nhất nước đã nhah chóng được sự ủng hộ nồng nhiệt của 134 người, trong đó có rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Và bức thư ngỏ này sẽ được gởi trực tiếp đến Quốc hội vào ngày mai sau đó đến văn phòng thủ tướng cùng các cấp.

Tại sao Bộ Thông tin và Truyền thông lại tỏ ra bất nhất đối với một nhà thơ đã chết, đã trả đủ nợ “Nhân Văn Giai Phẩm” với nhiều năm tù và chết trong cô đơn chỉ vì một bài thơ? Câu hỏi này chúng tôi mang ra thỉnh ý một nhà thơ cũng nổi tiếng không kém trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm và cũng là bạn thâm giao của Trần Dần, là nhà thơ Lê Đạt, ông nói:

Theo tôi, việc đó là việc không nên làm. Không cớ gì đối với anh Trần Dần, với bất cứ một người nào, người ta sáng tác mình không cho người ta in thì đã là không tốt rồi. Đây thì đã đồng ý cho in rồi mà phải gây khó khăn làm gì nữa. Đặc biệt về trường hợp của Trần Dần thì tôi thấy rằng trường hợp đấy rất bất nhân. Anh Trần Dần đã đau khổ cả một cuộc đời vì nền thơ ca Việt Nam, bây giờ anh đã nằm xuống đất rồi mà bây giờ xác anh cũng đã mục rã với cỏ cây rồi. Tinh thần anh ấy còn lại, thì chúng ta còn hành hạ tinh thần anh làm gì nữa!

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, một trong những người tiên phong khởi xướng viết bức thư ngỏ cho biết thêm những chi tiết tạo ra bức thư, ông nói:

Ngày 26/2 có một đoàn thanh tra liên ngành co Bộ Thông tin Truyền thông dẫn đầu xuống làm việc với công ty văn hóa Nhã Nam vì họ tiếp được một cái đơn của nhà xuất bản Đà Nẵng cho rằng giấy phép mà ông phó giám đốc ký là không có hiệu lực, mặc dầu giấy này là từ tháng 8/2007. Vì vậy công văn thu hồi quyển sách này được gởi lên cục Xuất bản với con dấu ngày 23/2/2008.

Đoàn kiểm tra liên ngành này xuống làm việc và kết luận, lập biên bản với công ty văn hóa Nhã Nam là đã vi phạm hành chính về công việc xuất bản, nghĩa là quy trình xuất bản không đúng.

Cái bức xúc thứ nhất thường là không nêu rõ lý do vì sao như vậy. Hoặc là lý do nó ẩn đàng sau đó nhưng lại quy về các vấn đề hành chính, chớ không chịu nói thẳng ra rằng là tác phẩn này là xấu, là vi phạm cái này cái khác. Tất cả những vụ việc thường chỉ được quy về lý do hành chính, lý do bên ngoài. Đó là một sự gây bức xúc.

Thế thì từ xuất phát tình hình đó thì nhóm nhà văn, nghệ sĩ trong đó có nhà thơ dịch giả Chân Tường, nhà văn nhà giáo dịch giả Phạm Toàn, giáo sư ??? và tôi nghĩ rằng là ở đây dù có thể giải quyết về vụ vi phạm hành chính nhưng nó có thể không còn là tiền lệ nữa mà nó là lập lại một cái một vấn đề mà lâu nay ứng xử của các cơ quan nhà nước quản lý về tác phẩm văn học nghệ thuật như vậy thì nên có một tiếng nói của giới văn nghệ sĩ gởi đến những người có trách nhiệm để thứ nhất giải tỏa việc này. Dù bây giờ “Trần Dần: Thơ” vẫn được bài bán nhưng sợ rằng như vậy là nó vẫn đứng ở trong quy định ấy, là nó vẫn phải ngưng phát hành. Đó là cái thứ nhất như trong thư ngỏ chúng tôi viết.

Thứ hai là nhìn xem lại trong cả hệ thống cách xử lý như vậy của những tác phẩm trước đó. Và thứ ba, kể từ nay không tiếp diễn, tái diễn lại những việc như vậy nữa.

Hệ quả của việc cấm đoán, cản trở hay theo dõi văn hóa phẩm là không nhỏ khi nhìn qua lăng kính của một đất nước đang được hướng dẫn bởi những cơ quan mang tên văn hóa nhưng khi hành xử thì phần văn hóa bị xem nhẹ một cách khó hiệu. Chữ ký và con dấu cục xuất bản trong câu chuyện này trở thành số không khi quyền lực ở cấp cao hơn tỏ ra mạnh mẽ một cách tuyệt đối. Dấu hiệu kiêu binh văn hóa đã xuất hiện từ lâu, nhưng trong hoàn cảnh mới của đất nước đáng ra cách hành xử này phải bị đào thải thì lại vẫn xuất hiện công khai tạo thành một dấu hỏi lớn đến nhức nhói trong sinh hoạt văn hóa và văn nghệ.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, người giữ trọng trách biên tập và gởi bức thư ngỏ cho chúng tôi biết những suy nghĩ của ông cũng như những nguyên nhân dẫn đến quyết định này, ông nói:

Chúng tôi thấy việc làm như thế là tùy tiện và hoàn toàn không có cơ sở. Đặc vấn đề thu hồi một cuốn sách, mà một cuốn sách đó chỉ có thêm giá trị văn hóa cho đất nước này thôi. Cho nên chúng tôi làm việc ấy cũng chỉ với thiện chí làm muốn tránh cho nhà nước khỏi một dư luận, mà luận đấy theo tôi là sẽ không hay, sẽ rất không hay cho nhà nước này. Một nhà nước đang có ý định mở cửa ra với thế giới và hiện đại hóa. Thế mà trên một việc làm rất văn hóa thì anh lại bộc lộ những ‘khiếm khuyết’ như thế, cho nên chúng tôi một số những nhà văn hóa, nhà văn, nhà khoa học quyết định là phải làm một thư ngỏ. Bởi vì việc này từ trước không ai dám nói, đối với những cuốn sách trước nó cũng chẳng có chuyện gì cả thế mà cũng đùng đùng thu hồi. Và người ta vẫn cứ im lặng chịu đựng chuyện ấy.

Bây giờ thì chúng tôi phải lên tiếng và lên tiếng một cách minh bạch và có  phép tắc hẳn hoi. Chúng tôi sẽ đến gặp quốc hội để trình thư ngỏ này với 134 nhà khoa học, và văn hóa, nhà văn, văn nghệ sĩ.

Khi chúng tôi tỏ ý lo ngại rồi đây bức thư ngỏ này cũng sẽ cùng chung số phận như những kiến nghị, những bức thư ngỏ khác trước đây vẫn còn nằm trong im lặng không một tiếng hồi âm thì việc kế tiếp của những người ký tên trong bức thư phải làm gì? Giáo sư Huệ Chi cho biết một cách dè dặt:

Chúng tôi chưa lường tính được điều ấy. Nhưng thấy trách nhiệm của mình thì chúng tôi phải lên tiếng. Trước đây thì chúng tôi cũng chưa có một tiếng nói nào mà đông đảo như tiếng nói lần này. Mỗi một vụ việc thì nó khác nhau, mà lần này thì chúng tôi muốn từ đây mà khái quát thành một nguyên tắc sống, nguyên tắc làm việc nó hợp với tình thế hiện tại.

Dù sao thì trách nhiệm kẻ sĩ trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn được xem trọng hàng đầu. 134 chữ ký không phải là nhiều, nhưng ngược lại sức mạnh trong từng chữ ký này không phải là nhỏ. Phải chăng kẻ sĩ trong nước đã thoát ra được cái vòng kim cô mà nhiều chục năm qua đã trói chặc tâm tư cùng ước ao của họ?

——

Nhất Định Thắng
   Trần Dần
[sáng tác năm 1955, đăng trong Giai Phẩm Mùa Xuân 1956]
Tôi ở phố Sinh Từ
Hai người
Một gian nhà chật,
Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui ?
Tổ quốc hôm nay
                          tuy gọi sống hòa bình
Nhưng mới chỉ là trang thứ nhất
Chúng ta còn muôn việc rối tinh…
Chúng ta
Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc
Vợ con đau thì rối ruột thuốc men
Khi mảng vui – khi chợt nhớ chợt quên
Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt.
Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.
Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù
Chúng còn đương bày kế hại đời ta ?
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
                               máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm ?
A ! Cái lưỡi dao cùn !
Không đứt được mà đau !
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước ! Nếu mà lưng tê lạnh
Hãy nhìn xem: có phi vết dao ?
Không đứt được mà đau !
Lưng Tổ Quốc hôm nay rớm máu
Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những cơn mưa rơi mãi tối xầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi
- Dừng lại !
                Đi đâu ?
                           Làm gì ?
Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo
Thiếu cha, thiếu Chúa, thiếu vân vân
Có cả anh nam chị nữ kêu buồn
- Ở đây
          Khát gió, thèm mây…
                                         Ô hay !
Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ ?
Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi ?
Sau đám mây kia
                          Là cả miền Nam
Sao nỡ tưởng non bồng của Mỹ !
Tôi muốn khóc giữ từng em bé
- Bỏ tôi ư ? – Từng vạt áo – gót chân
Tôi muốn kêu lên – những tiếng cộc cằn…
- Không ! Hãy ở lại !
Mảnh đất ta hôm nay dù tối
Cũng còn hơn
                    Non bồng Mỹ
                                      Triệu lần…
Mảnh đất dễ mà quên ?
                          Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư sao chẳng nói thật thà ?
Chỉ là:
           – Thiếu quả tim bộ óc !
Những lời nói sắp thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời mưa bão.
Họ vẫn ra đi.
                – Nhưng sao bước rã rời ?
Sao họ khóc ?
                Họ có gì thất vọng ?
Đất níu chân đi,
                     Gió cản áo quay về
Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống.
Tưởng như đây là phút cuối cùng
Trăng trối lại : – Mỗi lùm cây – Hốc đá
           – Mỗi căn vườn – gốc vả – cây sung
Không nói được, chỉ còn nức nở
Trắng con ngươi nhìn lại đất trời
Nhìn cơn nắng lụi, nhìn hạt mưa sa
Nhìn con đường cũ, nhìn ngôi sao mờ
Ôi đất ấy – quên làm sao được ?
Quên sao nơi ấm lạnh ngọt bùi
Hôm nay đây mưa gió dập vùi
- Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc…
Ai dẫn họ đi ?
                Ai ?
                     Dẫn đi đâu ? – Mà họ khóc mãi thôi
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi
Tôi cúi xuống – Quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
                                    – Khổ nhiều rồi !
Họ xấu số – chớ hành thêm họ nữa
Vườn tược hoang sơ – cửa nhà vắng chủ
Miền Nam muôn dặm, non nước buồn thương
Họ đã đi nhưng trút lại tâm hồn
Ơi đất Bắc ! Hãy giữ gìn cho họ !
Tôi ở phố Sinh Từ
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
                không thấy phố
                               không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                     trên màu cờ đỏ
Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ !
           Họ vẫn bảo chờ…
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư ?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
           trong mưa
                          cúi đầu
                                 nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Bóng chúng
                đè lên
                     số phận
                             từng người
Em cúi đầu đi mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
               không thấy phố
                          không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                  trên màu cờ đỏ.
Đất nước khó khăn này
                          sao không thấm được vào thơ ?
Những tủ kính tôi dừng chân dán mũi
Các thứ hàng ế ẩm đợi người mua
Nhưng mà sách – hình như khá chạy
À quyển kia của bạn này – bạn ấy
Quyển của tôi tư lự nét đăm đăm
Nó đang mơ : – Nếu thêm cả miền Nam
Số độc giả sẽ tăng dăm bảy triệu
Tôi đã biến thành người định kiến
Tôi ước ao tất cả mọi người ta
Đòi thống nhất phải đòi từ việc nhỏ
- Từ cái ăn
                cái ngủ
                        chuyện riêng tư
- Từ suy nghĩ
                   nựng con
                              và tán vợ.
Trời mưa mãi lây rây đường phố
Về Bắc Nam tôi chưa viết chút nào
Tôi vẫn quyết Thơ phải khua bão gió
Nhưng hôm nay
                     tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu ?
                     Sao những vần thơ
Chúng không chuyển, không xoay trời đất ?
Sao chúng không chắp được cõi bờ ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
                     làm việc khác
Nhưng hôm nay tôi mê mải giữa trời mưa
Chút tài mọn
                tôi làm thơ chính trị.
Tôi bước đi
              không thấy phố
                          không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                     trên màu cờ đỏ.
Em ơi ! – Ta ở phố Sinh Từ
Em đương có chuyện gì vui hử ?
À cái tin trên báo – ừ em ạ
Chúng đang phải dậm chân đấm ngực !
Vượt qua đầu chúng nó,
                               mọi thứ hàng
Những tấn gạo vẫn vượt đi
Những tấn thư, tài liệu
Vẫn xéo qua đầu chúng, giới danh gì ?
Ý muốn dân ta
                     là lực sĩ khổng lồ
Đè cổ chúng mà xóa nhòa giới tuyến
Dân ta muốn trời kia cũng chuyển
Nhưng
Trời mưa to lụt cả gian nhà :
Em tất tả che mưa cản gió
Con chó mực nghe mưa là rú
Tiếng nó lâu nay như khản em à
Thương nó nhỉ – Nó gầy – Lông xấu quá
Nó thiếu ăn – Hay là giết đi ư ?
Nó đỡ khổ – Cả em đỡ khổ.
Em thương nó – Ừ thôi chuyện đó
Nhưng hôm nay em mới nghĩ ra
Anh đã biến thành người định kiến
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
              không thấy phố
                          không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                trên màu cờ đỏ.
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm
Tiếng người nói xen tiếng đời ầm ã
- Chúng phá hiệp thương
- Liệu có hiệp thương
- Liệu có tuyển cử
- Liệu tổng hay chẳng tổng ?
- Liệu đúng kì hay chậm vài năm ?
Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng.
Ôi xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn thường kinh hoảng trước Tương lai
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy.
Người vẫn vội – Người chưa kiên nhẫn mấy
Gan người ta chưa phải đúng công nông
Người chửa có dạ lim trí sắt
Người mở to đôi mắt mà trông !
A tiếng kèn vang
                quân đội anh hùng
Biển súng
           rừng lê
                   bạt ngàn con mắt
Quân ta đi tập trận về qua
Bóng cờ bay đỏ phố đỏ nhà…
Lá cờ ấy lá cờ bách thắng
Đoàn quân kia muôn trận chẳng sờn gan
Bao tháng năm đói rét nhọc nhằn
Từ đất dấy lên
                là quân vô sản
Mỗi bước đi lại một bước trưởng thành
Thắng được chiến tranh
                     giữ được hòa bình
Giặc cũ chết – Lại lo giặc mới
Đoàn quân ấy kẻ thù sợ hãi
Chưa bao giờ làm mất bụng dân yêu
Dân ta ơi ! chiêm nghiệm đã nhiều
Ai có Lý ? Và ai có Lực ?
Tôi biết rõ đoàn quân sung sức ấy
Biết nhân dân
              Biết Tổ Quốc Việt Nam này
Những con người từ ức triệu năm nay
              Không biết nhục
              Không biết thua
              Không biết sợ !
Hôm nay
Cả nước chỉ có một lời hô
                            THỐNG NHẤT
Chúng ta tin khẩu hiệu ta đòi
- Giả miền Nam !
              Tôi ngửa mặt lên trời
Kêu một tiếng – Bỗng máu trời rơi xuống
Vài ba tia máu đỏ rớt vào tôi
Dân ta ơi !
Những tiếng ta hô
Có sức đâm trời chảy máu.
Không địch nào cưỡng nổi ý ta
Chúng ta đi – Như quả đất khổng lồ
Hiền hậu lắm – Nhưng mà đi quả quyết…
Hôm nay
Những vần thơ tôi viết
Đã giống lưỡi lê : Đâm
                  Giống viên đạn : Xé
                  Giống bão mưa : Gào
                  Giống tình yêu : Thắm
Tôi thường tin ở cuộc đấu tranh đây
Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu
Tôi là người vô địch của lòng tin
Sao bỗng hôm nay,
                  tôi cúi mặt trước đèn ?
Gian nhà vắng chuột đêm nó rúc.
Biết bao nhiêu lo lắng hiện hình ra.
Hừ ! Chúng đã biến thành tảng đá
                                          chặn đường ta !
Em ơi thế ra
Người tin tưởng nhất như anh
                              vẫn có phút giây ngờ vực
Ai có lý ? Và ai có lực ?
Ai người tin ? Ai kẻ ngã lòng tin ?
Em ơi
Cuộc đấu tranh đây
                        Cả nước
                              Cả hoàn cầu
Cả mỗi người đêm ngủ vẫn lo âu
Có lẫn máu, có xót thương lao lực
Anh gạch xóa trang thơ hằn nét mực
Bỗng mặt anh nhìn thấy ! lạ lùng thay !
Tảng đá chặn đường này !
Muôn triệu con người
                        Muôn triệu bàn tay
Bật cả máu ẩy đá lăn xuống vực !
Anh đã nghĩ: Không có đường nào khác
Đem ngã lòng ra
                   Mà thống nhất Bắc Nam ư ?
Không không !
Đem sức gân ra !
Em ơi em !
Cái này đỏ lắm, gọi là TIM
Anh dành cho cuộc đấu tranh giành Thống Nhất

February 15, 2008

Sấm Trạng Trình

Filed under: Tài liệu, Thơ văn — Tags: , — tudo @ 11:38 pm

Phạm Hồng Đức.

Sau khi lấy lý học chiêm tinh thời thế các nhà du ngôn (tức là Sấm ký) Tầu như Khổng Minh, Lưu Bá Ôn hoặc Trạng Trình của ta đã đem bát quái ra thông vào thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên chia ra bao nhiêu kỷ. Trên linh từ lúc khai thiên lập địa, dưới đời sau. Xưa là các thời đại vua chúa, xét vào quẻ hưng suy, bĩ, loạn đều ứng với nhau nên lấy quẻ ra mà chiêm nghiệm việc đời cũng đoán theo quẻ mà thôi, chứ không phải biết trước hẳn sau sẽ thế nào. Vậy cho nên đời sau cũng cứ phải đợi xẩy ra mới biết câu tiên tri là đúng. Xem sấm phải biết như thế, ai cũng hay có ý đoán riêng của mình.

Sấm Trạng Tình

Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đảo sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy
Truyền hậu thế ai nấy xem cho
Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người
Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên
Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân
(1) Lê Hoàn kế vị xa gần âu ca
Truyền đã được mười ba rằm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng
(2) Ngôi trời truyền đến Lý nay
Long thành bát diệp đến ngày dực phân
Chiều Hoàng là ả nữ quân
(3) Mê về nhan sắc trào trần thái tôn
………………………………………………..
Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền
Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam
Thái ngu được mười bốn năm
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
Suy ra mới biết sự trời
(4) Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia
Mười đời ngồi ngự ngai vàng
(5) Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh thư
Xưa làm lực sỹ đồ du
Trời cho nên trị làm vua một đời
Sáu mươi năm bất tái hồi
Tống Sơn chốn ấy có đời thạch công
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
(6) Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia
(7) Tây Sơn sừng sực kéo ra
Nghiệm xem thế tục gọi là hiệu chi ?

Chú thích:


(1) Vua Lê Đại Hành, sinh ở xã Bảo Thái, Thanh Liêm
(2) Tên gọi Công Uẩn sinh ở chùa tháp Bắc Ninh khi đẻ có báo điềm rất lạ
(3) Trần Thái Tôn tên là Cảnh, quê ở Tức Mạc, huyện Thiên Trường – Nam Định nhờ có chú là Trần Thủ Độ mà được thiên hạ.
(4) Ý nói Lê Thái Tổ tên gọi là Lê Lợi quê ở núi Lam Sơn thuộc Thanh Hoá có Thanh kiếm thần mà giết được giặc Liễu Thăng, Hoàng Phúc.
(5) Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời của Mạc Đinh Chi
(6) Trịnh Kiểm
(7) Nguyễn Huệ hiệu là Quang Trung phò nhà Lê diệt nhà Trịnh

Lại có Ngạn Bằng:

Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Chú thích:

 Nguyễn Huệ ra đời cả cha cả con cầm quyền được 14 năm thì hết

Có thơ rằng:

Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nọ nào ngang dọc trong huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi

Ngạn lại có câu rằng:

Già bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no un ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại diệt dê
Tới khi thực tận kinh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Giốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư dôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…

Chú thích:

Đoạn này theo tôi Sấm nói về Nguyễn Huệ. Cha con Nguyễn Huệ ra đời được 14 năm thì hết. Nguyễn Huệ chết như gà mẹ bỏ con. Sau đó Nguyễn ánh lấy lại được giang sơn.

Có thơ rằng:

Dần Mão chư dương giai vị cập
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ điện trường ức vạn xuân

Chú thích:

Đoạn này nói về nhà Nguyễn và thực tế cung đình nhà Nguyễn hiện nay đã được thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới (rất đúng) nên tồn tại đến muôn đời.

Có thơ rằng:

Hậu đáo Kê lai khởi chiến qua
Thuỳ Tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất
Tráng sỹ tảo sơn hà
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình

Chú thích:

 Năm thân (khỉ) Năm dậu (gà) gây sự đánh nhau. Ai hay thiên hạ xoay chuyển như cát bụi, anh hùng chôn ở bụi cỏ, da ngựa bọc thây, vở ruộng thì vua ra, đuôi dài quét núi sông. Theo tôi đây là nói đến thời đại cộng sản vua là Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:

Hoành Sơn phân giải
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh (1)

Chú thích:

(1) Đây nói về Hồ Chí Minh ra đời

Thơ rằng:

(1) Hầu nguyệt thỏ đầu xuất
Chấn đoài cương bất chấn
Quần Vương giai đạo tặc
(2) Bách tính khổ tai ương
Ma vương sát quỷ tướng
Hoàng thiên chu ma vương
Thuỷ trung tàng bảo cái
Thử thi thánh nhân hương

Chú thích:
(1) Đoạn này nói năm hầu (thân) là 1944 – 1945 thì thánh nhân (tức Hồ Chí Minh) xuất hiện ra
(2) Thánh nhân ra làm cho bách tính khổ về những tai ương. Đến cung chấn cung đoài thì không giữ được nữa. Thuỷ Trung là làng Sen quê ông Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:

Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bách Sỷ mới ra đời
Thầy tăng mở nước trời không bảo.
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu an thân
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi

Chú thích:
- Đảng Cộng Sản Việt Nam sau nay chia ra ba phái rồi thì ba phái gây ra sự đánh nhau. Thiên hạ mười phần còn chỉ lưa một phần là còn tin Đảng mà thôi. Lúc này ông Bạch Sỉ ra đời. Thầy tăng (là thằng tây) chỉ nước Mỹ giúp đỡ Việt Nam thì những kẻ tham của, tham giàu (chỉ các quan tham của cộng sản phải tìm nơi tam hiểm mới an thân được)
- Đăng giang là sông Bạch Đằng, Kim Ngưu là Hồ Tây.

Thơ rằng:

Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi Trú đình
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.

Chú thích:

Đoạn này nói chỗ cư trú của ông Bạch Sỉ. Bốn bụt nghĩa là bốn ông thánh đều theo Đạo phật. (Nghiêu, Thuấn) là hai vua hiền ở Trung Quốc (ý nói ông Lý Đông A như Nghiêu Thuấn)

Thơ rằng:

Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn
Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lo phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi
Suy cho thấu biết sự đời
Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa

Chú thích:

Đất nước Việt Nam loạn lạc, thiên sầu, địa thảm lòng người bất an, ai cũng mong thời thế thay đổi cuối cùng thì ông thánh xuất ở khảm phương ra cứu muôn dân. Đó là ông Lý Đông A có hiệu là Trần Kha

Thơ rằng:

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thuyền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A

Chú thích:
1- Đương lang là con bò ngựa, thuyền là con ve sầu.
2- Nên biết rằng là con chim sẻ ở bên cạnh mình xót thời thế thì cả ba con đều bị mất mồi ăn.
3- Chim sẻ bị người ta săn bắn
4- Đi săn phải hổ đuổi
5- Năm Thìn, năm Tỵ có sao chổi ra điềm lạ (2000- 2001)
6- Thần ra điềm chẳng lành chín chín nhà.
7- Sửu Ngọ niên thiên hạ giao động (1985 và 1990)
8- Dưới chữ đinh biến ra chữ trần. Nghĩa là ông thánh có hiệu là “Trần Kha”

Thơ rằng:

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào ?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề

Chú thích:

Theo tôi thì Đảng cộng sản bấy lâu cậy mình tài giỏi nhưng đến lúc “Thầy tăng” là thằng tây mở nước thì Đảng không còn những (phép mầu nữa) mà đã trở thành quỷ sứ cuối cùng đảng tan thì có những kẻ chạy qua Trung Quốc chứng tỏ đảng cộng sản Trung Quốc mất sau cùng.

Thơ rằng:

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng
6- Thiên hạ thái bình

Chú thích:


1- Đức di lặc phật giáng thế
2- Có các bùa phép để trừ
3- Sáu bảy năm mới thành
4- Dựng kinh đô ở trên hang con Rồng (Hà Nội)
5- Trên cung điện có mặt trời chiếu xuống
6- Lúc này thiên hạ được thái bình

Thơ rằng:

Giang Nam nổi trận mạt thù
72 tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận kể người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem
Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thuỷ binh cờ xí vừng hồng
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
(1)Bắc kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
(2) Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng dục dân cày bừa
Đã ngu dại Hoàn linh đời Hán
(3) Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sáu tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho
Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh giấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…

Chú thích:

1- Quân Trung Quốc sang
2- Lịch sử nước Việt Nam chưa có sự lạ lùng nào hơn là đảng đã luôn vu vạ cho dân (như vu khống các đảng viên đảng cộng sản, vu khống cho các nhà đấu tranh cho dân chủ)
3- Quan chức đảng cộng sản đều dùng tiền mua cả.
4- Lúc này có lẽ nhân dân nổi dậy.
Đoạn này ý nói có 72 tướng giỏi phò ông Lý Đông A và các tướng cộng sản sau này khi gặp quân ông Lý Đông A thì đều đầu hàng và theo ông Lý Đông A cả. Quân đội ông Lý có bộ binh, thuỷ binh. Sau rước ông Lý Đông A về Hà Nội.

Sau đó Trung Quốc sang nhưng không làm được gì, đành phải về.
Còn đoạn này nói những người cộng sản đã ngu dại như Hoàn Linh đời Hán nên họ đã nhờ và dựa vào Trung Quốc và Trung Quốc đã dấy binh ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhưng rồi thời thế đã không làm gì được đành phải chịu về chắc lúc này có nước Mỹ (thầy tăng) can thiệp chăng?

Thơ rằng:

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhân giãn giục dĩ chu nhi tống
4- Phong nhĩ tung hoàng thị mạc vi

Chú thích:


1- Năm thân, năm dậu cũng chưa thành
2- Dân bị hãm hại, quân lại di đi nơi khác
3- Nước nhà đa sự thì nhà Chu thay lên làm nhà Tống cũng thế (ý nói đảng cộng sản thì ai lên nắm quyền thì cũng đều thế cả)
4- Ong kiến đã tung hoành làm lấy các việc lớn (Ong kiến chỉ bọn tiểu nhân thực tế là chỉ Triều đinh đảng cộng sản)

Thơ rằng

(1) Hạ huyên thượng đảo quân vô chủ
(2) Tài tận dân hao thế lực suy
(3) Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
(4) Kham tiếu không huyền tiếm thất ky
Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu dòng hải người tàn bắc lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông
Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
(5) (*) Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, Hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông
(6) (*) Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
Bõ khi kẻ việt người Hồ
Bõ khi kẻ sở người ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi
Tinh thái ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thập gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
(7) (*) Thấy đâu bò đái thất thanh
ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì

Chú thích:


1- Chính quyền đảng cộng sản trên dưới đảo ngược như không có chủ
2- Tài hết, thế lực hết nên nước suy
3- Dân ra đánh nhau máu chảy thành sông
4- Chính quyền chẳng khác gì cái đàn không có d
ây
5- Chiến trường dân nổi loạn khắp nơi. Ông Lý Đông A ra đời kẻ cầm quân của đảng cộng sản chả có tài cán gì như đứa trẻ con nên đã dễ đầu hàng.
6- Ở Thái Nguyễn cận phía Bắc có ba người giỏi gặp ông Lý Đông A. Sau họ đều là những người nắm quyền trong chính phủ mới của ông Lý Đông A
7- Ở Bắc cạn có cái suối chảy, nước như là con bò đái cả ngày, lúc nào ngừng chảy thì ông thánh ra đời.

Thờ rằng:

Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời
(1) Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vẫn nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa

Chú thích:


(1) ông Thánh Lý Đông A ra đời thì thuận lòng trời và đẹp lòng dân. Nhân dân ai cũng theo ông Lý Đông A cả, kể cả đảng viên đảng cộng sản.

Thơ rằng:

Quân hùng binh kéo đầy khe
Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời
Bấy giờ càng khốn ai ơi
Quỷ ma chật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau, ăn muối.
Gặp nước buông con cái ẩn đâu ?
Báo thù ấy chẳng sai đâu
Đạo trời chẳng trước thì sau chẳng nhầm
Kia những kẻ hai lòng sự chủ
Thấy đâu hơn thì phụ sở ân
Cho nên phải kiếp trầm luân
Ai khôn mới giữ được thân đời này
Nói cho hay khảm cung ong dậy
Chí anh hùng chiếm lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt đan
Ai mà nghĩ được mới nên anh tài
Hễ nhân kiến là đời đất cũ
Thì phụ nguyên mới trổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quân hùng nổi dậy điều hoà làm tôi
Bấy giờ ruộng mở quy khôi
(1) Thần trâu thu cả mọi nơi vẹn toàn
Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Hoàng phúc kia đã định tay phong
Lồng lộng thế giới rạng trong
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương
Giời sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Giốc sinh hiền điều chỉnh hộ mai
Trên trời thấy những vì sao lạ
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sỷ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật tượng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
Đời này thánh kế vi vương
Thu cả đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác thường
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ sẻ mới ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
Xem sắc mây vẽ rõ vẻ rồng
Thánh nhân cư có thuỷ cung
Quân thần đã định gia lòng chớ tham
Lại dặn đừng tú man chi cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết nhẽ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
(2) Bất kỳ nhi ngô tưởng gì đợi mong
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tý đều không
Ví dù có gặp Ngư Ông
Lưới chăng đầu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đứng trời trung quân tử
Lòng trung nghĩa hãy chứa cho tinh
Âm dương cơ ngẫu ngộ sinh
Thái nhâm, thái ất trong mình cho hay
Văn thi huyện nghiên bài quyết thắng
Học tử phòng cùng với Khổng Minh
Võ thông yên thuỷ thần kinh
Được vào chiến trận mới lành biết cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết trao tay miệng tiếng nói không
Ngộ may gặp hội mây rồng
Công danh rực rỡ chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí tài
Lọ là đâu phải ngược xuôi nhọc mình
Vương lương thực có vĩ kinh
Cao tay mới biết ngẫm tình năm nao
Trên trời có mấy vì sao
Đủ cả hiền tướng anh hào đòi nơi
Nước Nam thường có thánh tài
Ai khôn học lấy hôm mai mới tường
So mấy lề để tàng kim quỹ
Chờ sau này có chí mới nên
Trước là biết nẻo tôn phù
Sau là cao trí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung thiên thời bất tạo
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham tước, tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
Đôi phen ong dấy rầm rầm
Muông sinh ba góc kéo quân dấy loàn
Man mác một lĩnh hoành sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
ấy là quân phục thù thai thải
Lòng trời xui ai lại biết chi
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Tài binh mọi giống thập thò liền sang
Nọ chẳng thương trong nam khôn xiết
Vả lại thêm hung kiết mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Sang thu chín huyết hồng tứ giã
Nối đàn dê tranh phá đòi nơi
Đua nhau quân thán đồ lê
Bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải lửa hung hoang
Kẻ thì binh lửa chiến tràng chết oan
Kẻ thì bận của bông toan khốn mình
Muông sinh giông tố cạnh tranh
Điêu thì làm tước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh hành
(3) Ra đâu đánh đấy xuất binh sớm ngày
Bể thành cá phải ẩn cây
Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn ru
Thuỷ chiến bộ chiến mặc dầu đòi cơn
Cây bay lá cháy đôi ngàn
Một làng còn nhấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết nơi hoà bảo thân
Đoài phương thật có chân nhân
Quần tiên dĩ nghĩa chẳng phân hại người
Hễ đông nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa keo mắc đạo binh
Bắc kinh mới thật đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
Cấy cày tu dãi thời mùa
Bây giờ cấy ruộng lo chờ mướn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng phiền lương thêm
Xem tượng trời biết đường đời trị
Ngẫm về sau họ lý xưa nên
Dòng nhà đã thấy dấu truyền
Ngẫm xem thế giới còn in đời đời
Thần quy có nó ở trời
Để làm thần khí sửa nơi trị trường

Chú thích:


Đoạn này nói tài đức của ông Trần Kha (Lý Đông A) cuối cùng sấm kết luận chỉ có họ Lý là trường tồn mãi mãi và ông Lý Đông A không làm hại đến ai cả. Là người nhân đức tài giỏi thật sự. Khi ông thánh ra thì không ai ngờ được cả, Sấm còn khuyên ai đi theo ông thánh mà có tài thì như gặp hội mây rồng người đó sẽ có công danh.
1- Ông Lý Đông A ra đời thì ông Lý đã thu lại được giang sơn đất nước đã bị đảng cộng sản Việt Nam nhường cho Trung Quốc
2- Ông Lý Đông A ra đời rất đột ngột và không ai biết trước được cả

3- Quân ông Lý Đông A ra đâu đánh đấy, giống như quân của Hán Tín thời nhà Hán vậy.

Dân bị khổ chiến trong 10 năm

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Sông bảo giang thiên định ai hay ?
Lục thất cho biết ngày rầy
(1) Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
Có thầy nhân thập đi về
(2) Tả hữu phù trì cây cỏ là quân
Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai
Bấy giờ mới biết rằng tài an dân
Nọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân đi về

Chú thích:


1- Họ Nguyễn (Chữ phụ bên chữ Nguyên)
2- Bên tả, bên hữu của ông họ Nguyễn (Cây cỏ là quân) ý nói bên tả bên hữu ông họ Nguyễn đều là bọn tiểu nhân cả. Nguyễn là Hồ Chí Minh và dân bị khổ chiến trong 10 năm (rất đúng)

Những câu sấm ngắn

(1) Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nhà Nguyễn thất thế nhà Lê trị vì

(2) Bao giờ giặc đánh trên mây
Ăn chia công điểm dân cày khổ ghê

(3) Bao giờ đá nổi lông chìm
Đồng khô hồ cạn búa liềm đánh nhau

(4) Mười phần chết bảy còn ba
Lưa hai phần rưỡi mới ra thái bình

(5) Bao giờ giấy bạc thành tro
Cua đồng đổi cọng chữ nho lại về

(6) Khi nào O mụ cầm quyền
Thì dân trăm họ đeo phiền lắm ru

(7) Trực đáo dương đầu mã vị
Hồ công bát vạn nhập tràng an
Phong công hầu bách vạn dư thiên
Khinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc

(8) Trắng đầu làm tội chưa qua
Đỏ đầu làm tội bằng ba trắng đầu

(9) Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm

(10) Khôn chết, dại chết, biết sống

Chú thích:


1) Nguyễn ái Quốc đi ra nước ngoài, sau Nguyễn về. Sau đó thì Nguyễn Thất thế bị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tiếm quyền (rất đúng thực tế) và đến năm 1965 thì Cụ Hồ không còn quyền hành gì nữa.
2) Đến thời đại có máy bay đánh trên không thì cũng là Đảng Cọng Sản lùa dân vào hợp tác xã nên đã ăn chia công điểm và thời ấy dân rất khổ.
3) Đá là Tưởng Giới Thạch, lông là Mao Trạch Đông, đồng là Phạm Văn Đồng, Hồ là Hồ Chí Minh. Nghĩa là Sấm muốn nói sự nghiệp họ Tưởng thì càng ngày càng thịnh, còn Mao, Đồng, Hồ đều như là ruộng hồ cạn mà thôi, nghĩa là rồi mất dần. Rồi các Đảng Cọng Sản tự đánh lại nhau.
4) Trong thế giới cộng sản có khoảng 15 nước dến khi thế giới cộng sản mất gần hết chỉ còn lại Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào thì nước Việt Nam Đảng cộng sản mới đi theo xu thế hoà bình coi tất cả các nước là bạn (rất đúng thực tế).
5) Năm 1985 đổi tiền nên phải đốt tiền, sau đó cua đồng đổi cọng thì Đảng cộng Sản lại đề cao “Văn hoá dân tộc” và tư tưởng nho giáo đã trở lại với dân tộc Việt Nam.
6) Khi chính quyền Đảng Cộng sản có bà Bình, bà Trương Mỹ Hoa cùng nắm quyền (làm phó chủ tịch nước) thì dân trăm Họ luôn phải đeo phiền và bị oan trái.
7) Đến đầu năm Mùi cuối năm ngọ (1945) 8 vạn binh của họ Hồ đến Hà Nội, ông Hồ đã phong tước công, tước hầu dư ra hàng vạn, hàng nghìn người. Ông Hồ đã dùng toàn những kẻ tiểu nhân sau đó xẩy đến mất nước (rất đúng thực tế hiện nay)
8 ) Pháp cai trị chưa qua, cộng sản cai trị ác gấp ba lần pháp.
9) Ý nói sống trong thời đại cộng sản thì phải dối trá, chứ thật thà là chết.
10) Người tài thì bị đảng giết, người dại thì bị đảng lừa; người nào sống xu thời nịnh bợ thì sống yên được.

Những bài sấm ngắn

Trời sinh thiên tử ở hoả thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
(1) Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử bảo giang môn
Canh tân tàn phá (2)
Tuất hợi phục sinh (3)
Nhị ngũ dư bình (4)
Nhân sinh ngọ tuế vi sư (5)
Tị nhân vị tướng (6)
Thìn tuất vị tôn sư (7)

Chú thích:

Đoạn này nói về Hồ Chí Minh
1- Hồ Chí Minh trước khi sinh ra cha và mẹ đã xa nhau mỗi người ở một nơi (rất đúng thực tế)
2- Năm 1930 – 1931 tàn phá (Xô Viết Nghệ Tĩnh)
3- 1946 – 1947 thì đảng cộng sản mới khôi phục lại được phong trào.
4- Đảng cộng sản ra đời 1930 đến năm 1954 là 25 năm mới có chính quyền thật sự (mới bình định được)
5- Ai sinh năm ngọ được làm thầy
6- Người sinh năm tị được làm tướng
7- Người sinh năm thìn năm tuất thì được làm thầy chính tông (ý nói phong nhiều quan lại quá).

Thơ rằng

1- Thánh nhân hương
2- Thuỷ chung tàng bảo cái
3- Thánh nhân chu xứ
4- Tử bích hoàn nhiễu, long hổ chầu vào
5- Chỗ thánh nhân sinh ra
6- Cận bảo giang thuỷ
7- Thuỷ nhiễu chu toàn
8- Thánh nhân danh
9- Mộc hạ liên đinh khẩu
10- Thánh nhân diện bộ đạo đức
11- Nghi quảng tầm chương trích cú
12- Thánh nhân dĩ hữu niên
13- Thuỳ năng thức đắc yên
14- Dãn nhân bất chúc nhĩ
15- Nhập ba thục xuất thái nguyên
16- Thánh nhân sinh ư bách sỉ tự tối linh
17- Thử nhật thiên giáng ngũ sắc vân xích quang màn tự
18- Tự trung dị hương, tam nhật bất tán
19- Thầy tăng tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị
20- Toại chưởng dưỡng chi
21- Thánh mẫu diện xú như lam
22- Niên tam thập lục sinh thánh nhân
23- Hoài nhâm chi nhật
24- Tam nhật thực nhất lý ngư
25- Cư ư giang thượng
26- Quần ngư tranh được
27- Mối trạch kỳ, mỗi tiểu chữ thục thực chi
28- Hậu thường tầm thực chi vu bạch sỉ
30- Nhược ấu thời, cư tại nam nhi thuỷ huyện
31- Cận gia quan thời cư ư thái nguyên viên sơn
32- Thất thập nhị hiền diệc tại thử yên

Chú thích:


1- Nơi sinh ra ông Thánh nhân
2- Trong làn nước biếc chứa tàn lọng quý
3- Chỗ trú ngụ của Thánh nhân
4- Long hổ bốn bên chầu cả vào
5- Nơi sinh ra Thánh nhân
6- Gần sông Bảo giang
7- Xung quanh đều có nước
8- Tên hiệu của Thánh nhân
9- Chữ mộc ở dưới chữ đinh là quẻ ly
10- Ông thánh nhân diện mão rất có đạo đức
11- Nên tìm rộng từng bài chọn từng câu
12- Thánh nhân sinh ra đã lâu năm
13- Ai đã dễ biết được
14- Vì người ta chẳng biết vậy
15- Vào Ba Thục, ra Thái Nguyên
16- Thánh nhân sinh ở chùa Bạch sỉ rất thiêng
17- Ngày ấy sinh ra ông thánh nhân trời có năm sắc mây
18- Đỏ sáng khắp cả chùa
19- Chùa trong có mùi thơm ba ngày không hết
20- Lúc bấy giờ có ông sư tu cho điềm lạ có thánh nhân.
21- Sư bản tự nuôi lớn cho đến trưởng thành
22- Mẹ ông thánh nhân mặt xấu như đổ chàm
23- Bà mẹ 36 tuổi sinh ông thánh nhân
24- Tính từ ngày có thai
25- Trong ba ngày lại ăn một con cá chép
26- Trú ở bên sông
27- Lũ cá tranh nhau nhảy vào
28- Chọn xem con nào bé thì nấu ăn
29- Sau thường đi kiếm ăn quanh chùa Bạch Sỉ
30- Rồi sinh ra ông thánh nhân
31- Lúc nhỏ sinh ở Nam nhị thuỷ huyện
32- Lúc lớn ở Thái Nguyên núi Viên Sơn

72 người hiền đều ở cả đây
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh nhân ở Bạch Sỉ tên là Lý Đông A. Ông Lý Đông A là con của bà ăn mày có diện mạo rất xấu

Thơ vận niên bằng tên các con súc vật

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn sà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho hả dạ
Lợn kia làm quá phải xoay đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh chạy về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về chốn cũ bắt vào tầu
(1) Lợn nằm cũng thấy tên thù
(2) Đại binh đã động phục thù nghênh ngang
Thánh chúa đang ở hang vàng
(3) Khi nào chuột bắc cầu sang mới về

Chú thích:


1- Theo tôi qua năm hợi 2007 thì nhân dân Việt Nam thấy được kẻ thù của nhân dân là ai.
2- Lòng quân dân đã giao động rất nhiều và họ muốn phục thù (hoặc là đại binh của ông Lý Đông A đang chuẩn bị ra đánh)
3- Qua năm chuột (2008) thì có lẽ ông thánh về

1- Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tân
2- Trực đáo dương đầu mã vĩ
3- Hồ công bát vạn nhập Tràng An
4- Phong công hầu bách vạn dư thiên
5- Kinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc
6- Thực vị lai tại thực vi lai
7- Nam môn vị toả, bắc môn khai
Phong suy ngọc diện lai lai vãng
8- Nghĩ tụ kim thành khứ khứ hồi
9- Bách tính âu ca thiền vũ dạ
10- Cửu châu hoa thảo mả liên đôi
11- Thử hồi nhị ngũ thiên chu tống
12- Hảo bá sơn đầu tửu nhất bôi
13- Thiên địa tuần hoàn âm phục dương
14- Tứ phương binh khởi tứ phương cường
15- Tây dương cảnh giới tây dương chủ
16- Nam quốc sơn hà, nam quốc vương
17- Lý đỉnh tương huyền, hiềm đỉnh trọng
18- Mạc thành dục chúc, khủng thành trường
19- Hoành sơn lộc tẩu nhân dân cộng
20- Thái lĩnh long phi thục cảm đương

Chú thích:


1- Chín chín càn khôn trời đã định trước
2- Đến đầu năm mùi cuối năm ngọ (1954)
3- Tám vạn binh của họ Hồ đến đất tràng an
4- Họ Hồ phong tước công, tước hầu dư
Ra hàng vạn, hàng nghìn người
5- Họ Hồ dung bọn tiểu nhân sau xẩy đến mất nước
6- Ai chưa lại vậy hay chưa lại
7- Chưa khoá cửa nam, đã mở cửa bắc
8- Lũ kiến ở thành vàng đi rồi lại về
9- Trăm họ xướng ca mà âu sầu về đêm
10- Khắp nơi mả chôn như cỏ mọc
11- Hồi bấy giờ dân chúng nhường ngôi cho nhà Chu không phải đánh nhau.
13- Trời đất xoay vẫn âm suy dương thịnh
14- Bốn phương quân khởi bốn phương mạnh
15- Đất phương tây thì chủ tây
16- Sông núi Nước Nam thì Vua Nam
17- Cái đỉnh của nhà Lý muốn treo hiếm đỉnh nặng
18- Thành nhà Mạc muốn đắp sơ thành dài
19- Con hươu ở núi Hoành Sơn chạy đi với nhân dân rồi lại chạy về (Câu này ý nói đầu cụ Hồ đi con đường dân tộc độc lập, nhân dân tự do nhưng sau lại trở lại học thuyết Mác Lê Nin)
20- Ở trong núi Thái Lĩnh có con Rồng bay ra, ai dám địch.
Đoạn này sấm nói đến sự ra đời của đảng cộng sản và ông HCM mà nhân dân ta đã phải chịu cảnh đau khổ mồ mả chôn nhiều như cỏ mọc.

Có thơ rằng

1- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
2- Can qua xứ xứ khởi đao binh
3- Mã đầu dương cước anh hùng tận
4- Thân dậu niên lai kiến thái bình

Chú thích:


1- Cuối năm thìn đầu năm tỵ gây ra đánh nhau
2- Khắp nơi khí giới gây ra sự đánh nhau
3- Từ năm ngọ đến năm mùi các vị anh hùng đều chết dần hết

4- Năm thân năm dậu mới có thái bình
Theo tôi đây là sấm nói về cuộc chiến tranh thế thới lần thứ hai, chống phát xít Đức, ý, Nhật.

Thơ rằng

1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành
3- Lê dân đào bảo noãn
4- Tứ hải lạc âu ca
5- Dục thức thánh nhân hương
6- Quá kiều cư bắc phương
7- Danh vị Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh Ngưu lang
8- Bắc hữu kim thành tráng
9- Nam tạc ngọc bích thành
10- Hoả thôn đa khuyển phệ
11- Mục giã dục nhân canh
12- Phú quý hồng trần mộng
13- Bần cùng bạch phát sinh
14- Anh hùng vương kiếm kích
15- Minh cổ đổ thái bình

Chú thích:


1- Sông Bảo giang có vị Thiên tử giáng
2- Chẳng đánh mà tự nhiên thành (rất đúng nhờ Nhật Pháp đánh nhau nên đến ngày 2-9-1945. Cụ Hồ không cần đánh mà vẫn đọc được bản “Tuyên ngôn độc lập” ở Ba Đình – Hà Nội)
3- Nhân dân chạy trốn trở về được no ấm
4- Bốn phương vui mừng đều hát xướng (Chứng tỏ lúc đầu nhân dân rất tin vào Hồ Chí Minh)
5- Muốn biết làng ông Thánh nhân
6- Qua cầu đi về phương bắc
7- Tên dòng dõi nhà họ Nguyễn
8- Bắc phương có thành vàng bền chặt
9- Phương nam có một viên ngọc biếc
10- Ở xóm lửa nhiều chó cắn
11- Bỏ súc vật để người canh
12- Giầu sang giấc mộng hồng trần
13- Nghèo đói quá sinh tóc bạc
14- Vua ban cho người anh hùng một thanh kiếm
15- Người mù loà cũng mong được thái bình (Đất nước nghèo khổ chiến tranh ai cũng mong thái bình cả)

Thơ rằng:

1- Việt Nam hữu Ngưu tinh
2- Quá thất thân thuỷ sinh
3- Địa giới sỉ vị bạch
4- Thuỷ trầm nhĩ bất kinh
5- Kỵ mã khu dương tẩu
6- Phù kê thắng đại minh
7- Trư thử giai phong khởi
8- Thìn mão xuất thái bình
9- Thuỷ chung tàng bảo cái
10- Hứa cập thánh nhân hương
11- Mộc hạ trâm trâm khẩu
12- Danh thế xuất nan lường
13- Danh vị nguyễn gia tử
14- Tinh bản tại ngưu lang
15- Mại dữ liên viên dưỡng
16- Khởi nguyệt hộ đại giang
17- Hoặc kiều tam lộng ngạn
18- Hoặc ngụ kim lăng cương
19- Thiên dữ thần thực thuỵ
20- Thuỵ trình ngũ sắc vân
21- Kim kê khai lực diệp
22- Hoàng cái xuất quý phương
23- Nhân nghĩa thuỳ vi địch
24- Đạo đức thục dữ đương
25- Tô truyền nhĩ thập ngũ
26- Vận khải ngũ duyên trường
27- Vận đáo dương hầu cách
28- Chấn đoài cương bất chấn
29- Quần gian đạo danh tự
30- Bách tính khổ tai ương
31- Can qua tranh đấu khởi
32- Phạm địch thán hung hăng
33- Ma vương sát đại quỷ
34- Hoàng thiên chu ma vương
35- Kiến khôn phú tải khôn lường
36- Đào viên đỉnh phú quân dương tranh hùng
37- Cơ nhĩ ngũ thư hùng vị quyết
38- Nẻo Hoành sơn tam liệt ngũ phân
39- Ta hồ vô chủ vô quân
40- Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
41- Đoài phương phúc địa giáng linh
42- Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
43- Phá điền thiên tử giáng trần
44- Dũng sỹ như hai mưu thần nhược lâm
45- Trần công nãi thị phúc tâm
46- Đào, tiềm, sử sỹ giang hồ xuất du
47- Tướng thần hệ xuất y chu
48- Chư cơ phục kiến, đường ngu thị thành
49- Hiệu xứng thiên hạ thái bình
50- Đông tây vô sự nam thành quốc gia
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành
Tên treo ba mối phục thù
55- Khen thay khắc dụng bày trò cho con
Ngọn cờ nhô nhấp đầu non
56- Thạch thành mèo lại bon bon chạy về
Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngã trắng ba quê cuộc tàn
Trời nam giở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng giao đã có câu rằng
57- Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Xin ai nhớ lấy sâm ghi kẻo lầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu giám chống thư sinh
58- Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Nực cười những lũ bàng quan
59- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

Chú thích:


1- Việt nam có sao ngưu tinh
2- Mới sinh ra sự nhầm lỗi
3- Răng trắng khác địa giới
4- Đáy nước ta chẳng sợ
5- Cưỡi ngựa đuổi dê chạy
6- Phù gà thắng đại minh (câu này ý nói là đảng cộng sản thắng chính quyền miền nam. Dù chính quyền miền nam có đường lối chính trị, kinh tế đúng với thời đại)
7- Năm hợi năm tý đều dấy lên là những năm 1971 – 1972
8- Năm thìn năm mão thì thái bình nghĩa là đến năm 1975 – 1976 thì thái bình (thống nhất hai miền nam bắc)
9- Lòng chung thuỷ được che bằng lọng vàng quý (Đạo đức giả)
10- Sẽ được về đến quê ông thánh nhân
11- Bao nhiêu miệng khen ngợi dưới bóng cây
12- Tên ở đời ra khó mà lường được (Hồ Chí Minh rất nhiều tên giả)
13- Tên ở con nhà họ Nguyễn
14- Căn bản ở làng ngưu lang (hay là anh chăn trâu)
15- Bán cho anh Liên Viên nuôi
16- Khởi lên từ sông đại giang
17- Hoặc ở bờ sông tam động
18- Hoặc trú ở núi kim lăng
19-Trời đã cho các thần báo điềm lạ
20- Ứng hiện ra năm sắc mây
21- Gà vàng mở ra lá mạnh
22- Lọng vàng ra ở phương quý
23- Người nhân nghĩa không ai địch được
24- Người có đạo đức không ai bì được
25- Truyền được 25 năm (HCM ra đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945 đến năm 1969 thì chết đúng 25 năm)
26- Vận dài lâu được năm duyên (Sau ông Hồ thì còn được 5 người là Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh)
27- Vận đến năm mùi, năm thân thì có tai ách là các năm 2003 – 2004 thì đảng đã thật sự bị chia ra nhiều phe phái và nhân dân cũng như các nhà đấu tranh cho dân chủ bắt đầu nổi dậy.
28- Đến cung chấn cung đoài thì đảng hoàn toàn suy thoái đảng không còn giữ được nữa
29- Quân gian đọc trộm các pho sách quý (ý nói các đảng viên đảng cộng đọc những bài viết rất hay rất chí lý của các nhà đấu tranh cho dân chủ)
30- Trăm họ khổ về tai nạn đánh nhau
31- Khí giới đánh nhau càng mạnh liệt
32- Bị quân địch cướp khóc than về ức hiếp
33- Ma vương giết tướng quỷ
34- Hoàng thiên hại ma vương
35- Trời đất che đậy không đoán được
36- Trên núi kết nghĩa, quân tướng tranh ngôi nhau (Đoàn viên là kết nghĩa vườn đào của bái công, Quan công và Trương phi). Đây nói tình đồng chí của đảng cộng sản bị tan vỡ
37- Cơ trời định chưa xong
38- Nẻo Hoàng Sơn chia ra năm bè bảy mối (nẻo Hoàng sơn là nói về HCM) tức đảng cộng sản hoàn toàn bị tê liệt (Tinh thần ý chí liệt, tài đức liệt, niềm tin liệt), (Ngũ phân) là nói đảng cộng sản chia ra nhiều phe phái.
39- (Ta Hồ là Hồ ta) ý nói đảng cộng sản không có chủ như nước không có Vua, nhà không có nóc. Đảng cộng sản tan tác trên bảo dưới không nghe.
40- Ý nói đảng cộng sản tan tác, tranh nhau giết nhau; dân chỉ sống biết mình mà thôi
41- Năm sửu thì Vua ra (có thể năm 2009)
44- Tướng mạnh nhiều như bể, mưu hay lắm như rừng (*)
45- Ông Trần Chính thức là người lòng đầy phúc đức
46- Nhiều nhân sỹ ra nước ngoài học hỏi
47- Tướng giỏi đi rồi lại về giúp nước
48- Nhà Đường nhà Chu quyền hành (Nhà Đường nhà Chu là các thời thịnh trị ở bên Trung Quốc ý nói ông Trần Kha ra nắm quyền thì đất nước thịnh trị thật sự)
49- Khắp cả thiên hạ thái bình
50- Không đâu còn đánh nhau, nam thành được độc lập
51- Phương bắc khởi binh khắp nơi
52- Xuất quân đánh phá thành đông
53- Vua ở sông Bảo Giang ra mặt
54- Không cần đánh nhau mà cũng thành nghiệp (Nghĩa là khi quân ông Lý Đông A đi đến đâu thì quân đội đảng cộng sản đầu hàng và theo đến đấy)

55- Khắc Dũng bên tàu giao cho con ba cái tên để làm ba việc lớn.
56- Ở tỉnh Thanh Hoá là chỗ phát nhà Nguyễn
57- (Non xanh) là nước Việt Nam; Trắng răng là chỉ người phương tây chắc đây chỉ nước Mỹ.
58- Như đời nhà Tần bạo ngược đến cực điểm rồi cũng phải mất về tay ông bái công (Hán Cao Tổ)
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh (Hồ Chí Minh) ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã nhầm lẫn nên cuối cùng lại có ông thánh là Lý Đông A ra đời và đồng thời sấm cũng nói những người cộng sản như lũ thằng hề rất bạo ngược.
59- Chứng tỏ đảng cộng sản có một nhóm ngoan cố đến cùng, nhưng vì thời thế mà phải mất về tay ông Lý Đông A.

Bia đổ:
Mộ cụ Trạng Trình có chôn bia một hôm dân làng thấy bia ở mộ cụ đổ, xem bia thấy có mấy câu:

“Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Phải đền tam quán”

Bố con tên Khả chỉ có nghề đào chuột để sinh nhai. Hôm đó ra đào chuột ở mộ cụ, đánh đổ bia, dân làng bắt đền quan tám. thế mới hiểu (tam quán) là quan tám.

Bia cổ am
Khi làng Cổ Am bị bom tàn phá trong nhà thờ cụ Trạng Trình có thấy một cái bia, có hai câu dưới đây.

“Giữa năm hay hai bẩy mười ba
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây”

Chú thích:

 Năm ấy nhuần hai tháng bảy ông bát kê (Pierre Pasquier) làm chức toàn quyền đi máy bay về Pháp bị cháy. Do thế mới biết tám gà đốt ở trên mây thì tám gà là bát kê, dịch âm ngữ (pasquier) .

Thơ rằng

Kia cơn gió thổi lá rung cây
Rung bắc, rung nam, đông với tây
1- Tan tác kiến kiều an đất nước
2- Xác xơ cổ thụ sạch am mây
3- Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
4- Hưng địa tràn dâng hoá nước đầy
5- Một ngựa một yên ai sùng bái
6- Nhắn con nhà Vĩnh Bảo cho hay

Chú thích:
1- Quốc quân đánh tỉnh kiến an
2- Làng cổ Am bị ném bom hồi ấy là năm 1930
3- Lâm thao phủ bị quốc quân đánh
4- Hưng hoá tỉnh cũng bị Quốc quân nổi dậy đánh
5- Tỉnh yên bái bị quốc quân đánh rối loạn
6- Ông Hoàng Gia Mô làm tri huyện ở Vĩnh bảo bị quốc quân giết chết năm 1931

Ngoài cuốn sấm tôi còn biết câu cảo của tàu nói về Hồ Chí Minh như sau:

Nhất kiếm, nhất mã
Anh hùng trong thiên hạ nhất thời

(ý nói sự nghiệp HCM chỉ được một thời là hết). Rất đúng

Lời kết

Cuốn sấm trước đấy thì các nhà nho thường ai cũng có. Nhưng nay thì đã bị cộng sản đốt hầu hết vậy tôi xin dịch và chú thích những đoạn có liên quan đến thời thế bấy giờ để mọi người đọc biết và tự thức tỉnh và cũng như khuyên bảo cho người thân tỉnh thức vậy.

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2006


Phạm Hồng Đức
Nghệ An , VN

Phạm Hồng Đức: Gia đình Cụ Bá, 2

Gia đình Cụ Bá
Truyện thơ của Phạm Hồng Đức
1 2 3 4

“… Đảng là tảng đá ngàn cân, Đè lên sức sống nhân dân giống nòi. Đặc quyền, đặc lợi độc tài, Cưỡi trên đầu cổ những người lương dân …”
Chiếc xe lăn bánh tít quay
Hồng nhìn non nước lòng đầy hờn căm
Con người lý trí lương tâm
Những người cộng sản sai nhầm bởi đâu
Cơ khí chính xác đứng đầu
Bản năng chính xác kế sau thứ nhì
Chủ quan tư tưởng tư duy
1590- Trừu tượng phân tích xét suy dễ nhầm
Việt Nam đã bốn nghìn năm
Triết gia chưa có khôn tầm đâu ra
Đều là vay mượn người ta
Đạo phật quốc giáo thời xưa tôn thờ
Nhà Trần thì lại Nho gia
đến thời cộng sản lại là Mác – Lê
Con gà họ bảo con kê
Con hươu họ nói con dê cũng ừ
Nên bao thời đại hồ đồ
1600- Những đầu bảo thủ tối mù sáp ong
đường dù thẳng họ nói cong
Chuyên quyền gây hoạ vô cùng khổ đau
Chắc là qua thế kỷ sau
Tự do dân chủ, đua nhau thi tài
Mai sau phúc nước thái lai
Con đường chân lý đúng ai rõ ràng
Đường đi tư tưởng đa phương
Nhân quyền dân chủ thị trường tự do
Khác xa cộng sản bây giờ
1610- Độc tôn lừa dối tự ca ngợi mình
Trần Dân Tiên chính là Minh
Họ “Hồ tự viết về mình đó thôi
Sự thật đâu dấu được ai
Sự thật lịch sử lòi đuôi cáo già
Cục đất dù tắm nước hoa
Bôi son trát phấn vẫn là đất thôi
Có tài có giỏi ở đời
Ngọc vùi trong cát có người tìm ra
Tiểu nhân mồm mép ba hoa
1620- Thực thì tăm tối chẳng ra cái gì
Chân ngay quân tử khiêm thì
Mai danh ẩn tích đâu vì lợi danh
Chiếc xe lúc chậm lúc nhanh
Bước dồn đến cổng đêm thanh ngỡ ngàng
Vắng tanh đầu xóm cuối làng
Riêng Hương vẫn cứ đèn chong đợi chồng
Con thì đã mải giấc nồng
Hồng tắm vợ giặt rồi cùng vợ ăn
Hương rằng: “Em cứ băn khoăn
1630- Cứ lo, cứ sợ nghĩ gần nghĩ xa
Sống trong thời đại quỷ ma
Cuộc đời khôn tính đâu ngờ chuyện đâu
Trăng vàng thức dõi đêm thâu
Lời tâm Hồng kể khổ đau cảnh tù

Thoi đưa hè vút sang thu
Cuồng duy ý chí bạn thù biết ai
Tin đâu sét đánh ngang tai
Pôn Pốt cộng sản giết người dã man
Mác- Lê Nin thuyết vô thần
1640- Thực hành triệt để lùa dân khoanh vùng
Moi gan mổ bụng dìm sông
Chặt đầu, bóp cổ chôn chung đủ trò
Ăn thì chúng phát ban cho
Làm thì cắt cử rõ là Mác- Lê
Xô, Trung, Bắc việt khác gì
Đều là thế cả ngu sy nắm quyền
Việt Nam đảng lại dấy lên
Hô hào chống lại nguỵ quyền Nông Pênh
Rõ là anh chống lại anh
1650- Rõ là tự chửi lấy mình đó sao
Cùng là đồng chí với nhau
Cùng chung học thuyết một đầu sinh ra
Việt Nam dân nghủ cọng đồ
Ngủ hoài, ngủ mãi sao mà ngủ lâu
Thế thời lại phải đánh nhau
Dã tâm đảng lại thọc sâu đánh vào
Máu xương dân nước đồng bào
Thành sông, thành vũng, thành ao đất người
Chiến trường đạn lạc bom rơi
1660- Mấy ai mà được chôn vùi xác đâu
Sợ lo, lo mải đánh nhau
Đạn mưa khôn biết được đâu số trời
Thanh niên trai trẻ than ôi !
Lào cùng Căm pốt muôn người khó kê
Treo đầu bò, bán thịt dê
“Tuyên truyền chiến thắng” lũ hề nói hay
Rõ là tay chống đi tay
Chân cao dơ ngược quỷ bày trò ma
Rồi sau đảng đã dựng ra
1670- Hun Xen lãnh tụ cũng là quỷ thôi
Kẻ từng say máu giết người
Tay chân Pôn Pốt một thời dã man
Việt Nam đánh chiếm, chiếm luôn
Mưu bày cướp nước đóng quân lâu dài
Thình lình 17 tháng hai
Một chín bảy chín sự đời lạ thay
Biên cương đạn xéo bom cày
Ông thầy cộng sản, ông thầy Trung Hoa
Miệng từng đồng chí lu loa
1680- “Nào là hữu nghị, nào là anh em”
Đem quân đánh chiếm vùng biên
Dân nghèo lại phải trận tiền đạn mưa
Hình chí mô đã ở mô
Suối vàng có biết Trung Hoa mâý đời
Triệu Đà đồ bá sử soi
Bốn ngàn năm đủ các thời Vua lên
Máu xương Hồng Lạc bao phen
Vì nền độc lập vùng lên đánh Tàu
“Anh em” sao lại giết nhau
1690- Rõ là” đồng chí” ở đầu chót môi
Con Hồng, cháu lạc xương phơi
Dốt ngu của đảng lạc loài rồng tiên
Biên cương máu chảy triền miên
Sáu năm bao cuộc bao phen đạn cày

Thế thời bắt buộc bắt tay
Linh, Đồng, Mười đã gặp thầy Trung Hoa
Rõ là quỷ đã cùng ma
Đưa tay cùng bắt nhưng mà hằn nhau
Cột mốc biên giới Việt – Tàu
1700- Lính Trung Quốc đã dời sâu rất nhiều
Gió xuôi nay bão ngược chiều
Tự Quyên Duẩn đã đánh liều bỏ thân
Linh lên đảng đã dần dần
Sau đại hội sáu tinh thần đổi thay
Nông dân trả ruộng dân cày
Con đường tư hữu từ đây bắt đầu
Mác Lê tư tưởng chìm sâu
Đi vào tư bản sắc màu Á Đông
Quanh co vẫn cứ đi vòng
1710- Nới từng khúc một nhùng nhằng mãi thôi
Lòng lang dạ sói độc tài
Vấn đề cao Mác hết lời ngợi ca
Mấy năm tóc vướng chân gà
Đầu bò nên chúng mãi bò như sên
Đường đi lối bước tất nhiên
Học đòi Trung quốc ưu tiên hàng đầu
Ngoạm ăn từng tảng hổ Tàu
Bởi con lợn béo cúi đầu cho xơi
Tớ nên đành phải vâng lời
1720- Việt Nam quân đội chịu rời Căm Bô
Than ôi ! nước Việt oan gia
Thanh niên mấy triệu thành ma cô hồn
Có bà chồng, rể, cháu, con
Mười một người đã thành hồn ma cô
Tuổi tiên thượng thọ trời cho
Một mình đơn độc cảnh già cố hương
Đảng yêu đảng quý đảng thương
Đảng treo lên ngực huy chương anh hùng
1730- Cháu con cùng rể cùng chồng
Suối vàng có được có trông thấy bà
Hay là lại chốn phương xa
Cửu tuyền hờn oán hồn ma một mình

Thế thời gió đổi chuyển nhanh
Qua năm kỷ tỵ thình lình Đông âu
Nhân dân vùng dậy cùng nhau
Đạp đổ cọng sản khởi đầu đa nguyên
Chính quyền dân đã bầu lên
Con đường dân chủ nhân quyền tự do
Tiếp mau rường cột Liên Xô
1740- Vòng quay lịch sử theo đà đi toi
Nước Nga trước đã tái hồi
Liên bang tan rã rạch ròi phân chia
Liên Xô lịch sử bóng ma
Ông Lê Nin rõ đã là người ngu
Con người tình cảm tâm tư
Tín ngưỡng tư hữu tự do gia đình
Bản năng trời phú nhân sinh
Sao ông chống lại rõ anh hồ đồ
Nước non là nước non nhà
1750- Nhờ đảng đổi mới bội mùa lúa ngô
Nhân dân kinh tế tự do
Tự làm tự liệu tự lo lấy mình
Nguy cơ dứng trước sự tình
Thế giới cọng sản tan tành tả tơi
Buộc lòng đảng xả nút hơi
Văn sỹ cởi trói nhất thời đề ra
Chớp thời lợi dụng thời cơ
Biết bao tác phẩm theo đà in ngay
Tự do chế độ lung lay
1760- Độc tài đảng lại xiết dây trói vào
Cốc nước đựng nước đầy cao
Chỉ thêm giọt nữa nước trào chảy ra
Tội đồ từng phái phe chia
Ba bè, bảy mảng giằng co tranh quyền
Giáp, Linh trước đã bao phen
Duẩn, Thọ mưu giết lũ quen giết người
Hoàng, Lê hai tướng đi đời
Cùng Đinh Đức Thiện mệnh trời nghiệt oan
Rõ là một đảng du côn
1770- Giết nhau như ngoé ác hơn sói hùm
Thâm cung bí sử âm thầm
Nhân dân đui điếc lại câm biết gì
Thế rồi Linh rút ra đi
Đỗ Mười thống soái trị vì lại lên
Hạc nông chẳng biết sách đèn
Chỉ quen gậy gộc chỉ quen chiến trường
Tham tàn dốt nát vô thường
Nhân dân, trí thức rõ ràng chúng khinh
Chỉ lo vơ vét cho mình
1780- Những người yêu nước đấu tranh bị tù
Chủ tịch, thủ tướng, bí thư
Chích cùng Chích đạo tham ô vét nhiều
Nhân dân xơ xác tiêu điều
Bởi trăm thứ thuế bởi nhiều quan tham
Con đường tư bản Việt Nam
Nửa vời lắm khúc hố hầm chông gai
Dù nay đảng đã thức thời
Thị trường mở rộng tìm người đầu tư
Mong nhiều tư bản đổ vô
1790- Buộc lòng luật pháp theo đà đổi thay
Thời cơ, cơ hội quan thầy
Chính sách kẽ hở, lỗ đầy hở ra
Trung ương nóc đỉnh quan to
Địa phương quan nhỏ đều thò tay vơ
Nhân dân nhờ chút tự do
Áo cơm cuộc sống cũng đà hơn xưa

Chân trời non nước xa xa
Gió vờn chim lượn lững lờ mây bay
Gian hàng Hồng bán giờ đây
1800- Có thêm nhiều thứ Tàu tây đổ vào
Thị trường muôn loại thêm nhiều
Có tiền mua dễ bày treo cả ngày
Khác xa bao cấp trước đây
Họp làng tranh cãi trình bày cực thân
Có lúc chỉ một chiếc quần
Đảng bắt dân họp ba lần bảy đêm
Chăn nuôi gà lợn nhiều thêm
Xe thì đủ loại ngày đêm chạy hoài
Kiếm ăn tất bật tả tơi
1810- Kẻ thì chạy ngược người xuôi trở về
Khác xa hợp tác trước kia
Đêm thường đội họp dân nghe đảng truyền
Tự do dân liệu tự nhiên
Những ai cần kiệm có tiền xung xinh
Thị trường quy luật cạnh tranh
Ai tài, ai giỏi giàu nhanh thêm giàu
Buộc ai cũng phải động đầu
Tính kê lo nghĩ trước sau làm gì
Sau rồi hội nhập A Xi
1820- Con đường tư bản đảng đi dần vào
Mác – Lê thực sự đổ nhào
Tuyên truyền đảng lại đề cao vẽ trò
Bản sắc văn hoá tung hô
Rõ là cái bọn dối lừa quen thân

Bỗng đâu có kẻ đến gần
Nhìn Hồng ngơ ngác phân vân ngỡ ngàng
Hồng liền đưa mắt nhìn sang
Nhận ra bạn cũ vội vàng chạy ra
Hồng rằng: “Thật sự khôn ngờ
1830- Hôm nay còn có bây giờ gặp nhau”
Vinh rằng: “Thật chả biết đâu
Rõ là duyên nợ cùng nhau trước rồi”
Tương tầm gặp bạn mừng vui
Vội vàng cửa đóng then cài về luôn
Xa cách thương nhớ chiều buồn
Tình người tri kỷ tâm hồn cảm vương
Lòng luôn kính trọng nhớ thương
Gặp nhau cởi hết vấn vương bạn bầu
Vinh rằng: “Qua cuộc bể dâu
1840- Lòng người mới tỏ tình sâu nghĩa tình
Ra tù may gặp chị Lành
Tình thương con Chúa tận tình chữa cho
Chị nuôi tôi ở trong nhà
Một năm chạy chữa may mà còn đây
Nhớ anh tôi nhớ đêm ngày
Bây giờ hồi khoẻ về đây tìm người”
Hồng rằng: “đã mấy năm trời
Mong anh ở lại vui chơi thoả lòng
Nửa đời đói khổ tù gông
1850 – Lúc nay ta cứ thong dong kệ đời
Cuộc đời ngữa vút đưa thoi
Ở đời nhiều bạn mấy ai hiểu mình”
Hương về biết bạn thâm tình
Nàng liền đi chợ một mình lo toan
Gần trưa thì lại cháu Ân
Làm về biết đó bạn thân bố liền
Con người trực cảm tự nhiên
Tự nhiên cảm thấy tự nhiên biết rồi
Bữa trưa bày cỗ Hương lời
1860- Anh Hồng anh cứ nhắc hoài nhớ anh
“Bọt bèo chìm nổi lênh đênh”
“May mà có Chúa ơn lành Chúa thương”
“Thời nay nhiều cảnh ngoài đường
Con căm thù bố xem thường thầy ba
Vợ giết chồng, con giết cha
Nước nhà nay bị quỷ ma lối đày
Hồng rằng: “Ta uống cho say
Mác Lê đừng nói, nói đây thêm buồn
Tôi và anh hãy đang còn
1870- Sau này ta dạy cháu con minh tường
Mác Lê học thuyết vô thường
Chống lại sự sống tình thương loài người
Dốt ngu chúng mãi ngu thôi
Độc tài chúng vẫn luôn loài bất nhân
Chuyên quyền quen nết tham quan
Lưu manh mưu vét của dân muôn trò”
Hương nghe lời Ngọc xen vô:
“Bây giờ tham nhũng đảng hô chống nhiều” !
Vinh rằng: “Chúng lũ tiêu yêu
1880- Chỉ lừa được đám dân nghèo điếc đui
Nếu mà đảng chống, chống ai ?
Chống người của đảng đảng thời chết luôn
Trung ương, tỉnh, huyện, xã thôn
Chúng đều một giuộc đều quan tham tàn
Hô hào là để lừa dân
Thực thì chúng lại càng ăn thêm nhiều
Xét suy thực tế có điều
Tranh nhau bè phái âm mưu bày trò
Chiếu trên xuống lệnh điều tra
1890- Thế là con quỷ bắt ma vào tù
Hoặc là tha thải về nhà
Hoặc là bí mật rồi cho chầu trời
Phúc trời may mắn được ai
Hiền nay liêm chính lên ngồi ghế trên
Thì muôn thủ đoạn đương nhiên
Một mình ma quỷ chúng liền gạt ra
Vu oan nói xấu đủ trò
Buộc người muốn sống thành ma mới còn
Tiền tài, danh vọng chức quyền
1900- Chúng là một cục gắn liền với nhau
Nhân gian trên quả địa cầu
Đều là thế cả khác nhau chi nhiều
Văn minh hơn hẳn có điều
Pháp luật, luật buộc phải theo thi hành
Dân quyền dân chủ cạnh tranh
Quyền luôn phân rõ các ngành chuyên môn
Buộc ai cũng phải luôn luôn
Làm theo luật pháp suy tôn pháp quyền
Nhân dân lựa chọn bầu lên
1910- Buộc anh phải giỏi đương nhiên phải tài.
Không như cộng sản ngược đời
Bán mua chia chác xếp ai tuỳ mình
Vậy nên đã có nhiều anh
Lớp 3, lớp 4 cùng thành quan to.
Hồng cười: Rõ đó Bác Hồ
Lớp trường đâu có trường mô đâu nào
Nước Nga mấy tháng vùi đầu
Đạo chích cuồng vội theo tàu Liên Xô
Rước về chủ nghĩa tam vô
1920- Làm cho nát cửa mất nhà nước tan”
Hồng nhìn nhà cửa xoay vần
Vinh thì cũng đã nằm lăn ra bàn
Tương tri tình nghĩa chưa chan
Mừng vui lời phúc ruột gan tỏ lòng
Say say cảm giác mơ màng
Hồng như lên tới Chị Hằng Tiên Nga
Hồng rằng: “Chị thật thua xa
Vợ tôi đẹp nhất, nhất là vợ tôi”
Hương nghe chẳng hiểu đầu đuôi
1930- Nàng nhìn chồng mãi ửng đôi má hồng
Chiều buông nắng trải ánh vàng
Hồng bừng tỉnh giấc nhìn sang bạn mình
Bồng lai mê mải giấc lành
Hồng đi tắm giặt mây xanh lửng lờ
Trước thềm hoa nở hương đưa
Lúc sau Vinh dậy đi ra chàng đà
“Thế thời kẻ thắng người thua
Chiến tranh quy luật từ xưa muôn đời
Đổi thay thời thế theo thời
1940- Thắng mà nguy đấy thắng rồi lại thua
Miền Bắc có thắng mới là
Dân Miền Nam tỏ hiểu ra chính tà
Họ đem thời Thiệu tự do
Thời nay độc đoán họ so sánh thì
Lương tâm ý thức suy bì
Thế là dân biết có gì khó đâu”
Hồng rằng: “Rõ quá thương đau
Dân Miền Nam nếu cùng nhau kết đoàn
Quyết tâm chống cộng trừ gian
1950- Việt Nam chắc giống nước Hàn, bắc, Nam
Bắc Triều cọng sản chú Sam
Nhân dân chết đói quan tham ác tà
Nam triều tư bản tự do
Nhân dân hạnh phúc ấm no dư thừa
Dân cùng một nước chia ra
Rõ là chính sách rõ là chủ trương
Đúng thì dân sướng giàu sang
Sai thì dân khổ hoạ mang suốt đời”
Hương nghe chồng nói nàng cười
1960- Nàng đã vui góp mấy lời ý hay:
“Nếu mà giàu có như tây
Chỉ làm cọng sản một ngày khốn nguy
Việt Nam mấy chục năm thì
Muôn vàn tai hoạ còn gì nữa đâu
Thiên tai thì hoạ qua mau
Nhân tai thì hoạ kéo lâu kéo dài
Cổ kim thế giới loài người
Bao thời tàn bạo nhiều đời sử ghi
Nhưng mà vô nhị nhất thì
1970- Trong thời cọng sản ngu si nắm quyền
Những kẻ ngu, những thằng điên
Giai cấp chia rẽ gào lên hận thù
Cướp mất quyền sống tự do
Là điều vô giá cần cho mọi người
Việt Nam đeo đẳng dẳng dai
Quỷ ma đưa lối độc tài dối gian”
Vinh rằng: “Chắc sẽ dần dần
Với đà mở cửa tự thân giết mình
Dân ta rồi sẽ văn minh
1980- Thế thời xoay chuyển tình hình chuyển mau
Những người cọng sản bắt dầu
Nhìn ra sự thật tìm sâu vấn đề
Một thời dù đã u mê
Hết say lại tỉnh biết Lê – Mác tà
Lạc Hồng tâm huyết thiết tha
Thương dân yêu nước dương cờ tự do
Bên ngoài tác động trở vô
Bên trong chống đối thế là đảng tan”
Hương rằng: “Quân đội công an
1990- Bạo cường vô lối hại dân nước mình
Thanh niên tuấn tú các anh
Biết chăng sự thật cảnh tình này không ?
Chợt vang tiếng trống thùng thùng
Tiếng khóc dậy đất như chừng đâu đây
Bây giờ người ấy hôm nay
Chắc ta rồi cũng đến ngày không xa
Trăm năm bóng buổi chiều tà
Làm sao tàn ác, ác mà làm chi
Cuộc đời mây bóng khuất thì
2000- Trở về bụi cát còn gì nữa đâu
Chân ngay cuộc sống thương nhau
Bình an hạnh phúc sống lâu với đời
Chiều tan bóng nguyệt chân trời
đêm về đi lễ đoàn người cùng đi
Lễ tan Hồng đã cúi quỳ
Cầu xin Thiên Chúa chàng thì xin cho
Việt Nam dân nước tự do
Cuộc đời hạnh phúc ấm no hoà bình
Nhân dân một nước nghĩa tình
2010- Lỗi lầm tha thứ chân thành cùng nhau
Anh em bốn bể năm châu
Đều con của Chúa ban đầu tạo ra
Cho dù có khác màu da
Nghĩa tình đồng loại đều là thiêng liêng
Đầu tuần trăng bóng nghiêng nghiêng
Lễ về bè bạn láng giềng đến chơi
Chén trà xanh thắm tình người
Rượu nồng cay ngọt tình đời thiết tha
Đông vui làng xóm gần xa
2020- Yêu thương đầm ấm chan hoà đùa vui
Vui thích Vinh kể chuyện đời
Kể nhiều chuyện ở Lào Cai cảnh tù
Trong làng cũng có thằng Cu
Năm nay lên chín bị mồ côi cha
Chuyện ông đâu có chi mô
Ông thường hay nói quan giờ ác gian
Dưới thời phong kiến vua quan
Bổ làm phụ mẫu cử nhân ông nghè
Thời nay quan chẳng học gì
2030- Bổ túc biết chữ đảng thì giao cho
Âm a mấy chữ i tờ
Đường đi nhẩm đọc thế mà làm quan
Hồng cười: “Dùng bọn ngu đần”
Đảng hành dân được tiểu nhân ác tà
Trí thức nhân sỹ nhận ra
Việc đời suy nghĩ sao mà họ nghe
Tiếng bay sang sảng ông Tuê
Ông rằng: “Cọng sản quen lề dối gian”
Bạc tiền xương máu muôn dân
2040- Đảng đem gây chiến khốc tàn chiến tranh
Với phe cọng sản hình thành
Đảng hòng định cướp hành tinh loài người
Cuối cùng ngu phải sửa sai
Lại hô đổi mới khen tài đảng ta
Thực là ngu dốt quỷ ma
Chống lại tư bản nay đà hùa theo
Máu xương tiền của dân nghèo
Chết mất vô nghĩa bọt bèo đảng quên
Độc tôn đảng trị chuyên quyền
2050- Nhân dân vẫn mãi phận hèn ngựa trâu
Tiền rồng, Âu lạc nơi đâu?
Vàng thau ai tỏ, thương đau Lạc hồng
Đổi dòng nước ngược xoay dòng
Con đường tư bản đảng đang vận hành
Chông gai lắm thác nhiều ghềnh
Bởi người của đảng học hành gì đâu
Muốn giàu phát triển tiến mau
Chuyên môn phân rõ đi sâu các ngành
Tự do bình đẳng đua tranh
2060- Quan hệ thế giới tạo thành hộ tương
Pháp luật ổn định rõ ràng
Bộ máy nhà nước hiệu năng đủ vừa
Dân quyền dân chủ tự do
Tư nhân phát triển mở ra mọi ngành
Đa nguyên chế độ pháp hành
Động lực thúc đẩy tiến nhanh vững bền
Còn như cọng sản đảng quyền
Quan tham độc đoán rút tiền của dân
Chính sách hé mở bước lần
2070- Quan hệ thì chẳng thân gần được ai
Chồng chất ngành bộ thừa người
Lại thêm cái bệnh độc tài chống nhau
Chiến tranh dân khổ oan sầu
Hoà bình dân lại nỗi đau hoà bình
Hoà bình như thể chiến tranh
Hạ tầng lạc hậu lỗ trình ngược nhau
Hoạ tai dân đội lên đầu
Tang thương tai nạn xe tàu ngược xuôi
Chết oan, tàn phế muôn người
2080- Rõ là hậu quả đảng thời để cho
Pháp luật, luật đã đề ra
Nhưng rồi cán bộ, Bác Hồ quý thương
Việc sai dù đã rõ ràng
Quan tham nhiều bác dễ dàng lưới chui
Nhân dân kiện tố nơi nơi
Bình chân như vại quan thời kệ bay
Văn nghệ sỹ, báo chí đầy
Nhưng mà ai dám phơi bày nói ra
Bởi vì biết đảng không tha
2090- Độc tài biết đảng sẽ cho vào tù
“Dân ta ơn đảng, Bác Hồ”
đảng đang ngấp ngoảy Bác đà đi đâu ?
Nhân dânlời Bác khắc sâu
Tuyên ngôn độc lập mấy câu trộm người
Lời Bác nói, nói không sai
Tự do dân chủ, dân thời mới an
Mọt sâu những kẻ tham quan
Sợ dân, sợ luật phải hoàn phục tâm
Dân nghèo thân phận tối tăm
2100- Con trâu đi trước phải cầm chắc seo
Chức quyền giàu có tiền nhiều
Chọn nghề chọn nghiệp quan điều dễ thôi
Leo cây, dây rễ vươn dài
Con quan thì lại cuộc đời lên quan
“Công nông liềm búa tượng thần”
Cuộc đời đói khổ cù lần đảng quên
Dân nghèo phạm chút đảng truyền
Công an vây bắt đưa lên tù liền
Quan tham tội lớn bình yên
2110- Công an run sợ uy quyền dám mô
Thời nay tư bản bước vô
Tham quan của đảng muôn trò kiếm ăn
Đô la hàng triệu hàng ngàn
Xa hoa truỵ lạc chơi tàn bạo thôi
Gái trai cờ bạc đủ bài
Của dân quan cướp, quan xài quan chơi
Quỷ ma rõ quá ngược đời
Một thời đảng chống nay thời đảng tham
Lạc Hồng dân Việt Việt Nam
2120- Thân rùa rụt cổ đành cam phận đời
Muôn người dân tộc nhầm sai
Mắc lừa cọng sản đức tài Hồ Công
Nói ra thực quá đau lòng
Bởi đâu đói khổ rõ ràng ở dân
Hay đâu Chích đạo ác gian
Học trò gương Bác tham quan lũ bầy
Nghĩ suy nhận xét thì hay
Đảng tên cọng sản đường nay ngược đường
Danh một nẻo, bước một đàng
2130- Bởi vì đảng vẫn khinh thường nhân dân
Điên rồ ngu dốt bất nhân
Lỗi lầm không sửa lại vần lại xoay
Giở trò nguỵ biện ta đây
Lừa dân hại nước quan thầy cùng nhau
Tay viết ngược đầu để đâu
Mắt thì nhìn ngó chỗ nào dễ rinh
Gào la chiêng trống xập xình
Những thằng hề đỏ biến thành quỷ ma
Hồ đồ khôn dễ nhận ra
2140- Việt Nam cọng sản dân đà mất đau
Kiến thức kinh tế làm giàu
Văn minh tư bản, Tây âu tân thời
Chính sách cọng sản chôn vùi
Nhân dân mở trí tìm tòi văn minh
Làm giàu, cơ hội học hành
“Nhờ đảng, ơn Bác” dân thành ngựa trâu
Mơ hồ dân chả thấy đâu
Độc tài tàn bạo, đối đầu tự do
Lợi quyền chia chác, bán mua
2150- Đậy che bưng bít đủ trò dối gian
Làm cho dân khổ muôn vàn
Luật rừng bắt bớ tù oan muôn người
Những ai yêu nước thương nòi
Những người nhân nghĩa, nhân tài vì dân
Vì lẽ phải vì thiện chân
Gan bày sự thật thì thân bị tù
Muôn dân tai điếc mắt mù
Luôn hô ca ngợi Bác Hồ đảng thôi
Người xưa Tuân tử nhân tài
2160- Là nhà pháp trị có lời sách ghi
“Luật pháp mà của riêng thì
Loạn hơn không có luật gì còn hơn”
Độc tài cọng sản luôn luôn
Đảng quyền, đảng trị bạo tàn quỷ ma
“Thiên tài, vĩ đại, cha già”
Suối vàng tỉnh dậy chắc là khiếp thay

Xuân về én lượn vờn mây
Hoa xuân tươi thắm hương bay ngạt ngào
Thế thời thay đổi đã lâu
2170- Lòng Hương nghĩ đến nỗi đau gia đình
Nghĩ tình cha mẹ dưỡng sinh
Tình thương trỗi dậy nghĩa tình trào dâng
Nước non còn giẫn trong lòng
Đắn đo nàng đã xin chồng về thăm
Hồng rằng: “Việc ở tại tâm
Lương tâm sao phải tuỳ em thôi mà
Dù sao thì cũng mẹ cha
Dù sao khúc ruột đứt ra mới thành
Yêu thương tha thứ hiền lành
2180- Mới thành người được, mới thành chiên ngoan”
Phân vân tơ rối tinh thần
Thiêng liêng giọt máu bước chân ngãi ngùng
Sợ cha nổi giận đùng đùng
Ruột gan nàng biết lập trường của cha
Lần lừa cổng bước chân vô
Cửa trông trăng ngóng bất ngờ bà Vương
Thấy con bà đã vội vàng
Chạy ra ôm lấy hai hàng châu sa
Ngậm ngùi đôi ngọc thấm nhoà
2190- Hương ôm lấy mẹ hỏi “Cha đâu rồi” ?
Ông Biên nằm nghỉ gác hai
Đưa mắt nhìn xuống thấy thời chạy ra
Ông rằng: “Mấy chục năm qua
Con đà lưu lạc ở mô không về ?”
Hương rằng: “Ơn Chúa chở che
Con đà được sống con về tới đây
Cuộc đời trăm đắng ngàn cay
Chúa thương ban phúc giờ đây an bài”
Ông rằng: “Cha mẹ đã sai
2200- Nhưng vì theo đảng thế thời thế thôi
Mẹ cha ai cũng như ai
Sinh con thương quý dưỡng nuôi học hành
Bỏ con lòng nỡ đâu đành
Sợ tù lại sợ công danh nên đà
Mong con tha thứ bỏ qua
Để cha mẹ được tuổi già thảnh thơi”
Hương rằng: “Chuyện cũ qua rồi
Làm con chữ hiếu đạo trời xưa nay”
Ông rằng: “Đất nước đổi thay
2210- Đảng ta giờ đã bắt tay kẻ thù”
Bà rằng: “Ông mãi mơ hồ
Ở đây ta nói chuyện nhà của ta
Bác hồ, đảng ở mô mô
Nói làm chi lắm, nói mà làm chi
Con ông, ông chẳng thương gì
Để cho nó phải ra đi đứng đường
Vì ông tôi đã cam lòng
Ruột đứt mấy chục năm ròng nhớ thương
Mơ hồ lý tưởng lập trường
2220- Ông tham danh lợi xem thường đạo Thiên
Thật là quá đã rồ điên
Chức quyền danh lợi bạc tiền làm chi
Tuổi ông nay cũng sắp đi
Tuổi tôi nay cũng còn gì nữa đâu
Đô la vàng bạc nhà lầu
Lúc về chín suối ông đâu mang gì
Chiều hôm khuất bóng con thì
Xót đau tội lỗi lương tri làm người”
Hương rằng: “Xin mẹ bớt lời
2230- Của cha của mẹ con thời chả mong
Con còn con lại còn chồng
Cuộc đời vất vả chắt từng đồng vô
Cho dù bữa đói bữa no
Nhân tâm giữ đạo thuận hoà an vui”
Ông rằng: “May có còn người
Dù sao thì chuyện qua rồi con ơi
Bây giờ chín bỏ làm mười
Gương tan chung gắn cuộc đời dựng xây”
Phòng thu đêm ngủ qua ngày
2240- Sáng mai xe chở đưa ngay về nhà
Đi cùng có mẹ cùng cha
Đến nhà thấy cảnh ông bà ngờ đâu
Cháu Ân tuấn tú to cao
Mẹ về thấy mẹ vội trào chạy ra
Hương rằng: “đây cả nhà ta
Đây là bà ngoại, đây là ông con”
Trí tâm gió cuốn đưa hồn
Cháu Ân bỡ ngợ ngọn nguồn thế nao
Bà Vương lễ ứa dâng trào
2250- Bà rằng: “Cháu chả mừng sao cháu bà” ?
Ân rằng: “Từ trước đến giờ
Cháu đâu được biết ông bà còn đâu
Tưởng rằng khuất bóng đã lâu
Bây giờ sao lại ở đâu trở về ?”
Ông Biên lòng dạ tái tê
Không ngờ con nhỏ lời nghe vô tình
Nửa đời lửa thét lửa xanh
Làm ông Bộ trưởng uy danh lẫy lừng
Dưới tay người sợ cây rừng
2260- Hoàng hôn con cháu bỗng dưng lại là…
Hương rằng: “Cha mẹ vào nhà
Cháu rồi cháu cũng dần dà hiểu thôi”
Căn phòng khách nhỏ xinh tươi
Gọn gàng sạch sẽ toả mùi hương đưa
Tường cao treo ảnh Chúa Cha
Cùng tượng Đức mẹ sáng loà chói chang
Ngờ đâu tai hoạ đoạn tràng
Rể con cháu đã người Công giáo rồi
Cháu Ân pha nước chè tươi
2270- Hương thì ra chợ để lai chồng về
Luôn tay công việc bộn bề
Khách mua người nhập đang kê kiểm hàng
Nghe vợ nói chàng tay dừng
Chốc lòng suy nghĩ rồi cùng về luôn
Dù sao cũng nghĩa cha con
Dù sao thì cũng Lạc Tiên một nhà
Mác- lê học thuyết nguỵ tà
Chuyện gì chả có xẩy ra là thường
Lối cong ngõ hẻm khuất tường
2280- Ông bà cổng đón rõ ràng khác xưa
Tình thâm hơi ấm chan hoà
Tình thương lan toả khác xa trước rồi
Hồng mừng đưa đón chào mời
Ông bà vui sướng chung vui mở lòng
Hoà chung con cháu bà ông
Tiếng cười lời nói ấm nồng chung vui
Hồng rằng: “nay khác trước rồi
Hận thù giai cấp đã lùi đi xa
Trước đây đảng đánh người ta
2290- Bây giờ đảng lại mời vô làm giàu
Thanh niên trai gái đua nhau
Đi làm đầy tớ con hầu nơi nơi
Các nhà tư bản nước ngoài
Nhiều người bỏ vốn thuê người Việt luôn
Nhân công giá rẻ như bùn
Ngày mười mấy tiếng héo mòn từng ca
Hạnh phúc vẫn cứ hơn xưa
Ngày hai lượng lúa đảng đà công cho
“Nhờ ơn đảng với Bác Hồ
2300- Nhân dân nay đã ấm no hơn nhiều
Những người chạy trốn Việt Kiều
Đảng ta nay cũng “quý yêu” gọi mời
Khôn ngoan hiểu rõ thế thời
Hạnh phúc cuộc sống nước ngoài sướng hơn
Nhân tâm Hồng Lạc cháu con
Hướng lòng tổ quốc giang sơn nước nhà
Máu xương đánh đổi tự do
Họ đâu có dại chui vô đó lờ”
Ông Biên nghe dạ ngẩn ngơ
2310- Nghĩ rằng dân nước nay đà khác xưa
Nhiều người trong đảng vừa qua
Đấu tranh bất khuất thiết tha nước nhà
Ông Trần Đỗ với ông Hà
Ông Hoàng Minh Chính hay là ông Giang
Thu Hương đại tá Quế Dương
Biết bao người đã lập trường đổi thay
Họ đâu có sợ tù đày
Thương dân, yêu nước quyết bày tỏ ra
Con đường dân chủ tự do
2320- Con đường pháp trị cọng hoà đa nguyên
Biệt phân tách rõ tam quyền
Nhân dân lựa chọn bầu lên chính quyền
Những người ấy tỉnh hay điên ?
Rồi đây lịch sử ai hiền, ai ngu ?
Bởi đâu rường cột Liên Xô ?
Đông âu tan rã lý do thế nào ?
Trời cho Thượng thọ cây cao
Biết đâu xoá sổ Nam tào nhân gian
Thôi đành mặc kệ cháu con
2330- Muốn bàn muốn chửi oán hờn gió bay
Yên thân an phận già này
Kệ trời mặc đất thân nay sức cùng
Cuộc đời mấy chục năm ròng
Quả chanh kiệt nước quăng thùng xác lăn
Hương rằng: “Cha mẹ ở gần
Bạo tàn cọng sản phải ngăn cách vời
May sao thời thế đổi dời
Tình người trổi dậy sự đời tự nhiên
Bản năng tín ngưỡng vùng lên
2340- Nhà thờ dòng họ, miếu đền chùa xây
Mả mồ bỏ vắng trước đây
Nay thì con cháu góp xây cúng thờ
Có không, không có mơ hồ
Nhưng mà có cúng, có thờ mới nên
Con người đạo lý đức tin
Có gốc có ngọn nối truyền cháu con
Cúng thờ tưởng nhớ biết ơn
Những người đi trước nguồn cơn của mình
Họ hàng làng xóm nghĩa tình
2350- Anh em tết, giổ lòng thành khói hương
Cúng thờ tâm lý rõ ràng
Nhân sơ bản thiện phúc càng thiện hơn
Vô thần chính rõ là nguồn
Gây ra muôn hoạ chán buồn ác tâm”
Bà rằng: “đã biết bao năm
Xa cách thương nhớ ăn nằm khó yên
Trời cho phúc được đoàn viên
Giờ đây mẹ muốn hai bên một nhà
Cây cao tuổi hạc bóng tà
2360- Có con có cháu mới là an vui
Cửa nhà xe cộ tiền tài
Mẹ cha rồi khuất tiếp rồi nối ai ?
Đắng cay đau khổ cả đời
Bây giờ mẹ muốn đền bồi cho con”
Hồng rằng: “Con thật cảm ơn
Nhà con nay cũng có hơn trước nhiều
Nơi đây đầm ấm thương yêu
Xóm làng bè bạn luôn đều quý thương
Chúng con tự lực tự cường
2370- Dù không có được giàu sang hơn người
Nhưng lòng an lạc thảnh thơi
Vợ chồng hạnh phúc chung vui yên lành
Mẹ cha là nghĩa sinh thành
Đạo con chín chữ nghĩa tình đầy vơi
Tiền là xương máu mồ hôi
Ở đời cũng phải chính thời mới nên
Trước đây cha mẹ đã quên
Thì nay con cũng chả phiền làm chi
Sông tình bến nghĩa thuyền đi
2380- Nhưng về tiền bạc con thì quyết không”
Hương rằng: “Trước hận vô cùng
Nay vui an lạc cõi lòng nguôi quên
Chúng con đâu thiết bạc tiền
Chúng con chỉ ước bình yên thuận hoà
Làm con hiếu thảo truyền gia
Yêu thương quý trọng mẹ cha là đầu
Thế mà cha mẹ do đâu
Con đường mậu tử ngăn rào cách sông
Sinh con ai nỡ sinh lòng
2390- Dù cho phải chết cũng không bỏ rời
Vì danh quyền lợi tiền tài
Mẹ cha nay đã đủ rồi còn chi”
Bà rằng: “Thôi nói làm gì
Bởi do thời đại, bởi vì sợ thôi”
Hương rằng: “May có còn người
Nếu nay đã khuất còn ai bây giờ
Con người tình cảm tâm ta
Cho không ai lấy nhưng mà hơn kim
Khôn mua khôn bán khôn tìm
2400- Tấm lòng nhân nghĩa trái tim ngọt ngào
Ở đâu, đâu cũng dạt dào
Cuộc đời đầm ấm tình sâu nghĩa tình
Dù không máu mủ với mình
Tình người quan hệ nặng tình ơn sâu
Anh em dù đạp đầu nhau
Nếu mà ác bạc thì đâu còn tình
Mẹ cha dòng máu ruột mình
Lòng luôn yêu quý tâm thành mới nên
Tình khôn mua được bằng tiền
2410- Con người tình cảm tự nhiên tính trời
Lắng nghe tâm ý Bác Tài
Trước sau bác đã đầu đuôi ngọn ngành
Bác rằng: “Trước hãy xét mình”
Sau rồi lại xét sự tình bởi đâu ?
Trước mà ôm chặt lấy nhau
Ông Biên đâu có còn đâu nữa rồi
Nguyễn Hữu Đang một nhân tài
đã từng theo đảng một thời quan to
Trí thức công đảng thưởng cho
2420- Hơn mười tám hạ trong nhà lao chơi
Tính ra có mấy trăm người
kẻ thì đảng bắt kẻ thời trốn xa
Biết bao người chạy sang Nga
Hơn trăm đảng quý đảng cho vào tù
Trần Dần đại tá nhà thơ
Trần Đức Thảo một triết gia vô thần
Trần Hưng ông Nguyễn Minh Cần
Nhân tài, học giả đa phần tinh hoa
Hoạ bay gió cuốn bất ngờ
2430- Người thì đảng nhốt, người đà phải đi
Ông Hồ đâu cũng ra chi
Di chúc đảng sửa vậy thì trọng ai
Họ Lê chuyên chế độc tài
Ông Thanh chúng giết có ai nói gì
Mậu thân Hồ cũng chi nguy
Chúng bày mưu hại nhưng vì số cao
Thế thời phải thế làm sao
Cha con nên thuận cùng nhau thuận hoà
Gốc xuân cành gãy lá thưa
2440- Thương con thương cháu nghĩ xa nghĩ gần
Làm sao yên lạc tinh thần
Tưởng vui mà lại bội phần khổ hơn”
Hương rằng: “Con vẫn là con
Chuyện này chồng vợ tính bàn dần hay”
Bà Vương nghe nói mừng thay
Bà rằng: “Vui cháu chăm cây thế nào” ?
Hồng rằng: “Không dễ thế đâu
Nơi đây cháu đã từ lâu quen rồi
Chắc đâu cháu đã nhận lời
2450- Lại qua tình nối nghĩa bồi đắp xây
Mưa lâu sao cũng giếng đầy
Nghĩa tình rồi lại vui vầy như xưa”
Sáng ngày sau trở về nhà
Cháu Ân cùng với Hồng đà cùng đi
Rõ là thời đại chí nguy
Ngăn sông cấm chợ tàn suy nước nhà
Hơn năm ngày tháng trôi qua
Ân đi học tiếp ở Hà Nội luôn
Sau rồi lấy vợ sinh con
2460- Ông bà trông chắt lạc an đồng hoà
Ông Biên đức Phật tôn thờ
Bà Vương theo cháu tin cha trên trời
Nước non vật đổi sao dời
Nhân dân nay đã an vui phần nào
Sinh thời tên đảng “Lộng đao”
Cõi huyền nay đã dân nhào tìm vô
Ngựa phi mải chạy quá đà
Dừng quay trở lại đó là tự nhiên
Cõi huyền, huyền bí, bí huyền
2470- Càng tìm càng lạ càng tin mê vào
Nhiều ông cọng sản chức cao
Tuổi hưu nhàn rỗi cúi đầu “Nam mô”
Miệng nay đức Phật “Di Đà”
Rõ là trai trẻ, tuổi già khác nhau
Đảng viên tầng lớp xanh đầu
Thuê thầy giải hạn khấn cầu chức lên
Miếu đền, mồ mả, chùa chiền
Họ thường đi đến cầu xin độ trì
Mấy chục năm hiện còn gì ?
2480- Vô thần học thuyết đảng thì đã theo
Năm châu còn ở nước Tàu
Bắc triều, Nam việt, nước Lào, Cu Ba
Mác- Lê nay đã đi xa
Rêu rao đảng chỉ để lừa nhân dân
Chích quyền quen thói bất nhân
Tham quyền danh lợi quân thần dối gian
Đảng là tảng đá ngàn cân
Đè lên sức sống nhân dân giống nòi
Đặc quyền, đặc lợi độc tài
2490- Cưỡi trên đầu cổ những người lương dân.
(còn tiếp)

“… Mai đây đất nước đổi dời, Cháu con đọc, biết một thời nước Nam …”
Thoi đưa ngựa vút thời gian
Năm qua tháng đến lại tuần ngày sang
Bỗng đâu Hồng được tin mừng
Vinh sắp cưới vợ phải lòng cô Thương
Tuần nay đã biết tuổi vàng
Tuần nay kết tóc tơ hồng duyên xe
Nửa chiều Hương chợ trở về
Hồng đà tin biết, Hương nghe sướng mừng
Hương rằng đời khổ đã từng
2500- Ngũ tuần mới được bóng hồng tựa nương”
Sáng mai Hồng vội lên đường
Va li Hương sắm Hồng mang làm quà
Hương rằng: “Tình nghĩa khôn mua
Những quà mọn đó chẳng là đáng bao
Anh vào xem bạn thế nào
Tương đồng tri kỷ thâm giao mấy người
Nhà ta nay đủ no rồi
Anh Vinh nếu thiếu em thời giúp cho”
Đường đồi xe chạy quanh co
2510- Quá chiều Hồng đã đến nhà của Vinh
Đồng quê chim hót chuyền cành
Xóm làng bè bạn nghĩa tình đông vui
Người giết lợn, người hông xôi
Người thì làm rạp, người chơi đánh cờ
Thấy Hồng Vinh vội chạy ra
Ôm chầm lấy bạn lễ nhoà mừng vui
Ngày vui vui lại càng vui
Hồng vào vui chuyện chung vui cộng đồng
Niềm vui vui đã vui chung
2520- Người người nô nức cởi lòng cùng nhau
Ông Đương trước ở Tây âu
Sau qua Thái ở rồi sau lại về
Ông rằng: “Tôi quá u mê
Nghe tin đảng nói đã về Việt Nam
Về đến nước mới biết nhầm
Thực là lầm lỗi lỗi lầm quá to
Cuộc đời đang hưởng tự do
Cuồng tin lợi Cuội chạy vô đó lờ
Mẻ đầu trợt vảy tróc da
2530- Cuộc đời vật lộn may mà còn đây”
Vinh rằng: “Bác một dân cày
Hồ đồ nhầm lỗi sự này thường thôi
Nhiều người học rộng hơn người
Thế mà cũng đã nhầm sai tin cuồng
Lạc Hồng dòng máu Văn Lang
Hy sinh vì nước đâu màng gì hơn
Nguyễn Khắc Viện ông Ba Son
Đấu tranh theo đảng tâm hồn thanh cao
Biết sai sau ngọn cờ đầu
2540- Con đường dân chủ hô hào tự do
Thật là ảo tưởng mơ hồ
Trẻ mê già chống hồ đồ ước mong
Rõ là mơ mộng cuồng ngông
Rõ là những kẻ áo bông ngày hè”
Chung vui vui cảnh đồng quê
đêm về già trẻ áo khoe muôn màu
Người mời thuốc kẻ mời trầu
Gái trai nhảy múa cùng nhau hát hò
Trẻ em đông nhộn vui đùa
2550- Người về kẻ tới vào ra từng đoàn
Lời phúc lòng mở hân hoan
Đồng chúc hạnh phúc lạc an thuận hoà
Ngày vui thức trọn trông chờ
Giờ lành ngày tốt cùng đưa dâu về
Câu thơ tiếng sáo lời vè
Tiếng đàn tiếng hát tình quê dạt dào
Hạnh phúc Vinh lễ ứ trào
Cảm xúc vui sướng ngờ đâu cuộc đời
Vinh rằng: “Bể ải thái lai
2560- Cảm ơn Chúa đã kết đôi vợ chồng
Cuộc đời có bạn tương phùng
Gió mưa vợ thảo lạnh nồng chung vai
Bể dâu loạn lạc mấy ai
Tình riêng tình bạn tình người quý thương”
Chung vui cùng có cha Khương
Cha rằng: “Đời mộng hoàng lương mịt mờ
Trăm năm gió vút giấc mơ
Trở về với Chúa mới là hằng sinh
Tự ta ta tự hỏi mình
2570- Bởi đâu ta có ta sinh làm gì ?
Nếu ta tự vấn xét suy
Sinh ra rồi lại sẻ đi thế nào
Tự nhiên trực cảm nhiễm mầu
Tin trời thần thánh kiếp sau đời đời
Triết học học luận con người
Khoa học vật chất tìm tòi thiên nhiên
Bản năng tín ngưỡng tâm huyền
Đội trời đạp đất nhìn lên thấy trời
Cá nhân cuộc sống con người
2580- Vươn lên vươn mãi nhờ trời phú cho
Gia đình, tư hữu, tự do
Người người tự biết chăm lo lấy mình
Biết tự trọng, biết trọng khinh
Biết yêu biết ghét nhục vinh sang hèn
Đua tranh nhân loại tiến lên
Vốn đà quy luật tự nhiên cửu trường
Nhận thức lối mở muôn đường
Con người tham vọng lẽ thường nhân sinh
Chủ quan luôn ý của mình
2590- Loài người tranh đấu thường tình nhân gian
Đấu tranh vì sự thiện chân
Công bằng lẽ phải vì dân nước nhà
Đấu tranh nhưng vẫn chung hoà
Bởi là lẽ sống bởi là quyền anh
Giai cấp chia trị đảng hành
Luôn gây tội ác, chiến tranh căm thù
Cuồng mê tâm trí hồ đồ
Rõ là triết học con đò bến xa
Nhân sơ bản thiện lòng ta
2600- Hồn nhiên cuộc sống chung hoà là hơn”
Ác vàng chiều đậu đỉnh non
Thông gia hai họ liên hoan vui vầy
Rượu nồng tình nghĩa men say
Lòng người chung hợp ngất ngây hương đời
Gái trai già trẻ vui cười
Chén mừng chén chúc chung vui thuận hoà
Vinh rằng: “Thực dụng đảng ta
Con đường hội nhập áp ta xin vào
đường đi tư bản dấn sâu
2610- Luật tư hữu hoá tiến mau thị trường
Giằng co phe phái rõ ràng
Độc tài đảng trị cản đường đảng đi
Những đầu bảo thủ ngu si
Tham quyền độc đoán duy trì mãi thôi
Quan tham mưu mánh đủ bài
Chia bè chia phái luồn chui muôn trò
Cải cách hành chính đảng hô
Nhưng mà chẳng bớt lại là còn thêm
Sợ Trung Quốc phải đi đêm
2620- Mong nhờ Mỹ giúp mở thêm thị trường
Cầu sao quan hệ bình thường
Hòng làm đối trọng nước Trung bá quyền
Tự do nước Mỹ đầu tiên
Chính sách đòi hỏi nhân quyền dân sinh
Việt Nam cọng sản đảng đành
Dựa vào Trung Quốc cúi mình hổ ăn
Biên cương bờ biển mất dần
Chủ đè ép tớ luôn dồn ép anh
Hoàng Sa Trung quốc đã tranh
2630- Trường Sa sáu nước đang giành giật nhau
“Anh hùng” quân đội ở đâu ?
Giặc đà cướp đất lấn sâu biển rồi
Cúi đầu rụt cổ tôi đòi
Đảng làm đất nước tả tơi tan tành
Tham ô lan rộng mọi ngành
Những người của đảng lộng hành hiếp dân
Hải quan, thuế vụ, công an
Lạm quyền hách dịch kiếm ăn đủ trò
Quan toà quan lại tham ô
2640- Nhiều tiền luồn lọt chui qua dễ dàng
Loạn ly Khổng Tử lời rằng:
“Chính quyền trộm cướp cùng chung một bè”
Suy tàn thời hậu Mác – Lê
Đạo đức kinh tế đầu dê thịt cầy
Chiến tranh dân chịu đắng cay
Hoà bình dân khổ hoạ đầy khổ đau
Đặc quyền quan cướp chia nhau
Xa hoa truỵ lạc nhà lầu xe hơi
Một tay che cả mặt trời
2650- Chuyên quyền đảng trị nhân tài có đâu
Nhân dân thân phận ngựa trâu
đảng cày đảng cưỡi đảng đâu thương gì
Vong suy đất nước khốn nguy
Bởi vì đảng mãi duy trì độc tôn”
Hồng rằng: “Thật quá đau buồn
Việt Nam cọng sản đảng còn lâu không
Vinh rằng: “Soi sử lạc Hồng
Năm châu nhìn thấu những dòng sử qua
Bão tàn gây bão phong ba
2660- Nhân dân vùng dậy đạp xô nhấn chìm
Lòng tôi tâm khảm trái tim
Trạng trình câu sấm ý tìm dạ ghi
Hồ công sách sấm lời thi
Tô truyền nhĩ thập ngũ thì hai lăm
Ngũ duyên vận khải là năm
Tai ương vận đáo qua nhâm thân mùi
Đảng tan năm sửu cung đoài
Rõ là tuổi Bác đảng thời bằng nhau
Cơ trời huyền bí nhiễm mầu
2670- Có ông Bạch Sỷ về sau ra đời
Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi trú đình
Non cao núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
2680- Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân
Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Trời Nam giở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng giao đã có câu rằng:
“Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ”
Bây giờ quét sạch sử ly
Xin ai nhớ lấy sấm ghi kẻo nhầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
2690- Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu giám chống thư sinh
Sông Ô chớp cả mấy anh Thuỷ Hoàng
Nực cười những lũ bang quan
Cờ tàn lại muốn mưu bàn đấm xe
Thôi ! Thôi! mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây
“Thầy tăng” mở nước “Thằng tây”
Rõ là thời thế vần xoay chưa từng
Kiền khôn phú tải khôn lường
2700- Đào viên đỉnh phú quần dương tranh hùng
Cơ nhĩ ngũ thi hùng vĩ quyết
Nẻo Hoành Sơn tạm liệt ngũ phân
Ta Hồ vô phụ vô quân
Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
Đoài phương phúc địa giáng linh
Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
Phá điền thiên tử giáng trần
Dũng sỹ như hải mưu thần nhược lâm
Trần Công nãi thị phúc tâm
2710- Giang hồ sử sỹ Đào tiềm xuất du
Tướng thần hễ xuất Y Chu
Chư cơ phục kiến đường ngu thi hành
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Đông tây vô sự nam thành quốc gia’
Hồng rằng: “Hiện tại nước nhà
Đảng khôn đảng mở tự do phúc trời
Nhân dân sẽ được đổi đời
Châu âu, Nhật Mỹ tiền tài giúp cho
Hộ tương quan hệ mở ra
2720- Liên minh với Mỹ thì là tiến mau
Việt Kiều các nước Mỹ âu
Trở về góp sức cùng nhau chung lòng
Việt Nam chắc sẽ hoá rồng
Muôn dân hạnh phúc sống trong hoà bình
Tự lột xác, tự sửa mình
Tự do đảng vẫn cạnh tranh bình quyền
Mọi người chung sống hoà yên
Dần dần nước sẽ đi lên mạnh giàu”
Vinh rằng: “Chuyện ấy có đâu
2730- Những người cọng sản ngu lâu dốt dài
Tham quyền đảng trị độc tài
Nhân dân còn khổ hoạ tai còn nhiều”
Tình người quý trọng thương yêu
Gặp nhau tâm sự bao điều mở ra.

Tuần sau Hồng trở về nhà
Tin mừng lại đến bất ngờ tin vui
Hương rằng: “Bác viết thư dài
Mời anh qua Mỹ tiền tài Bác lo
Bác nay tuổi hạc bóng tà
2740- Chắc là bác muốn cả nhà gặp nhau”
Hồng rằng: “Đâu dễ thế đâu
Những người cọng sản ấm đầu hay lo
Chắc là chúng sẻ không cho
Dù nay cửa hé tự do hơn rồi
Những người ngoại quốc sang chơi
Hoặc sang làm việc giúp người Việt ta
Côn đồ rình dõi điều tra
Mắt người cọng sản nhìn mô cũng thù
Hồ đồ chủ nghĩa tam vô
2750- Mác – Lê – Mao với Bác Hồ đúng thôi
Mắt nhìn ngược, chân bước xuôi
Độc tài đảng sợ lòng người đổi thay”
Hương rằng: ” Tìm cách xở xoay
Nhiều xanh, nhiều đỏ lót tay chắc thành
Lạc loài, con cháu cu Minh
Tôn thờ yêu bác, bác thành thần tiên
Bác đã giúp chắc được liền
Để em dò hỏi ông Điền xem sao
Ông ta ở bộ ngoại giao
2760- Chân tơ kẽ tóc chỗ nào chả quen”
Sáng sau Hương vội đi liền
Lâu ngày gặp lại hỏi han chuyện trò
Lúc rồi Hương lựa lời thưa:
Ông Điền nghe biết đắn đo một hồi
Điền rằng: “Đâu phải chuyện chơi
chính sách của đảng tôi người tường hay
Đi qua các nước âu tây
Người thường đi dễ ở đây không thường
Anh Hồng tội phạm rõ ràng
2770- Tù nhân chính trị lại càng khó hơn”.
Hương rằng: “Bác rõ nguồn cơn
Anh Hồng vô tội bị oan thôi mà
Bác Chương nay tuổi đã già
Bác mong lần cuối cả nhà gặp nhau
Năm mươi năm đã quá lâu
Trăm năm khôn biết về sau thế nào?
Bác không giúp được hay sao?
Công ơn cháu trả bác nào phải lo !
Khó khăn các ải phải qua
2780- Dù sao thì cũng chỉ tờ giấy thôi”
Điền rằng: “Đâu phải trò chơi
Việc đời giây phút đi toi nghiệp mình
Hiện nay trong đảng tranh giành
Bới lông tìm vết chúng phanh phui liền
Thế là mất cả chức quyền
Thực là người có rồ điên mới làm”
Hương rằng: “Cháu sẽ vào Nam
Tìm gặp bác viết bác làm giúp cho
Quan tham đục nước béo cò
2790- Bán quyền điền dã mưu mô trò bày
Điền rằng: “Mai cháu qua đây
Bác tìm người giúp vận may mới thành
Chiều nay bác gặp ông Đình
Nói qua bàn bạc sự tình xem sao
Nếu mà ông ấy gật đầu
Thì coi như chuyện ở đâu đó rồi
Đường về xe chạy đường dài
Hương cười tưởng khó hoá chơi trò hề
Cửa quan Hương kể Hồng nghe
2800- Hồng rằng: “Thời đại làm hề cả thôi
Em lo chuẩn bị tiền tài
Chắc là cũng tốn đến vài ngàn đô”
Thìn qua ngày mới đến nhà
Ông Điền mở cặp lấy ra giấy tờ
Điền rằng: “Khai lại hồ sơ
Về huyện về xã đều do tôi làm
Mỗi nơi đô Mỹ dăm trăm
Được thì cũng phải đến trăm triệu đồng
Nếu mà chị quyết bằng lòng
2810- Thì là tôi liệu việc xong thôi mà
Trước tiên đưa trước mươi tờ
Sau rồi lấy được vi da nộp tiền”
Hương rằng: “Phận cháu nghèo hèn
Làm gì có được nhiều tiền thế đâu
Ông Điền sắc mặt biến màu
Nhà cô không có nhưng đâu thiếu gì
Cha cô bộ trưởng mấy kỳ
Đô la vàng bạc dấu đi chỗ nào
Thời nay chức trọng quyền cao
2820- Quan đều thế cả đều đào khoét dân
Công tâm dù có không ăn
Của trời đưa đến tay chân cũng thừa
Hương đành phải rút tiền ra
Điền rằng: “Cháu thật biết lo cho chồng
Có chi từng ấy mấy đồng
Ông Chương ở Mỹ chắc ông sẽ bù”

Chuyện mau chuyện đến khôn ngờ
Hai tuần sau đã giấy tờ làm xong
Máy bay bay đến Hồng Kông
2830- Sau rồi chuyển tiếp nửa vòng trời cao
Thành Niu Oóc thật đẹp sao
Tấp nập xe chạy toà cao nối dài
Muôn nhà muôn sắc chọc trời
Nhà hàng, khách sạn đoàn người vào ra
Ngỡ ngàng Hồng tưởng đang mơ
Nữ thần, thần tượng tự do cao vời
Lòng đang bỡ ngỡ bồi hồi
Ông Chương chạy tới niềm vui dâng trào
Anh em ôm chặt lấy nhau
2840- Bâng khuâng vui sướng hạt châu ngẹn ngào
Chương rằng: “May mắn làm sao”
Nhớ thương mong ngóng khát khao đợi chờ”
Tưởng rằng: “Trăm tuổi đi xa
Anh em cũng chẳng bao giờ gặp nhau”
Hồng rằng: “Nay đã bạc đầu
Cuộc đời đâu tính được đâu chuyện gì
Biết bao sóng gió bất kỳ
Bọt bèo trôi nổi phận tuỳ dòng trôi
May nhờ Thiên Chúa an bài
2850- May mà còn sống còn người hôm nay”
Lên xe Chương chở về ngay
Hồng nhìn non nước trời Tây đẹp giàu
Nhà Chương toà rộng cao lầu
Cửa sắt đóng mở xe vào tận sân
Bà Hoa đứng tựa lan can
Vội vàng chạy xuống hân hoan đón chào
Bà rằng: “Cháu thím thế nào ?
Việt Nam nghèo khổ đứng đầu Á châu
Chắc là vất vả nuôi nhau
2860- Bữa no bữa đói cháo rau suốt đời
Giờ đây chú ở đây rồi
Để tôi lo liệu thành người Mỹ luôn
Dần dà đưa cả vợ con
Một ngày ở Mỹ sướng hơn nửa đời
Già thì chính phủ chăm nuôi
Thất nghiệp tiền tháng đủ xài chẳng lo
Ốm đau bệnh viện chữa cho
Cuộc đời đâu phải tính lo chuyện gì
Ở đây bơ sữa bánh mỳ
2870- Thịt cá tôm mực muốn gì có ngay
Rượu bia nước ngọt nước cay
Thích gì cứ nói ở đây dư thừa
Người Mỹ quen sống tự do
Muốn gì bày tỏ nói ra thực tình
Chả ai động chạm đến mình
Cuộc đời tuỳ thích tự mình thích thôi
Anh muốn phản đối chưởi ai
Biểu tình cũng được mọi người tự do
Hồng rằng: “Hai cháu đi mô
2880- Ở nhà chỉ có anh và chị sao “?
Chương rằng: Các nước Mỹ âu
Việc làm tuỳ thích ở đâu ý mình
Miễn sao thi họ nhận anh
Pa Ri Niu Oóc, Béch lanh đều tuỳ
Đức, Trang chúng học ngành y
Có bằng “Tiến sỹ” Pa ri hành nghề
Quan san cách trở sơn khê
đêm đêm thường vẫn tin về thường xuyên
Chiều nay tôi báo cô Tiên
2890- Ngày mai các cháu về liền đó thôi
Cô Trinh đang ở Ha Oai
Để tôi điện báo tối thời về ngay”
Trưa ngày sau đã đủ đầy
Cả nhà xum họp vui vầy chung vui
Cô Tiên nhìn ngắm anh hoài
Thương anh đời khổ sụt sùi thương anh
Ngồi bên cùng có Cô Trinh
Lễ nhoà vui sướng thắm tình chị em
Một nhà đoàn tụ ấm êm
2900- Anh em, các cháu, chị em chuyện trò
đức rằng: “Nếu có tự do
Cháu sẽ về nước giúp cho nước nhà
Bên đây cuộc sống dư thừa
Nhưng sao cháu vẫn ước mơ trở về
Cây đa, bến nước, bạn bè
Muốn về xứ Nghệ thăm quê nội mình”
Cháu con cụ Bá trưởng thành
Rồng tiên nối dõi thông minh đức tài
Cô Trinh hai gái ba trai
2910- Cô Tiên lòn nếp đều hai bốn người
Hồng rằng: “May được sang chơi
Rõ là nước Mỹ bầu trời tự do
Con Hồng cháu Lạc chạy xa
Nhân tài liều bỏ nước nhà ra đi”
Chương rằng: “Ở lại chi nguy
“Bác Hồ vĩ đại” mời đi hoả lò
Ông Tường tiến sỹ luật gia
Ông Canh vật lý rất là nổi danh
Giai cấp tính đảng đấu tranh
2920- Công an đuôi dõi theo Canh cả ngày
Nếu mà dân chủ như Tây
Thì tôi sẽ kiện chính ngay ông Hồ
Quỷ ma một đảng côn đồ
Giết người cướp của đủ trò bày ra
Nước Mỹ là nước tự do
Tiền tài, trí tuệ dư thừa trong dân
Siêu cường vũ khí hạt nhân
Công dân tổng thống như dân bình thường
Pháp luật ràng buộc rõ ràng
2930- Mọi người bình đẳng hoà đồng chung vui
Tự do ai cũng như ai
Không ai hà hiếp được ai bao giờ
Trọng trách chính phủ giao cho
Công dân ai cũng chăm lo hoàn thành
Đua nhau phát triển cạnh tranh
Thiên tài nhiều vị công danh lẫy lừng
Thành công kết quả hưởng chung
Nước thêm giàu mạnh dân càng sướng hơn
Mọi văn hoá được bảo tồn
2940- Tôn trọng nhân vị cá nhân từng người
Đâu như Lê – Mác độc tài
Đoạn tuyệt triệt để bắt người ta theo”
Anh em máu mủ sơn keo
Mỗi người một ngả rẽ theo hai đường
Chương đời thức tỉnh giàu sang
Hồng thì lạc lối đoạn tràng trầm luân
Nửa vòng thế kỷ cách ngăn
Bởi đâu một nước hai phần chia đôi
Cảm thương Chương lễ sụt sùi
2950- Nhớ thương những bạn sóng vùi biển khơi
Chương rằng: “Nay giải phóng rồi
Miền Nam ách đảng dân thời phải mang
Chính sách cọng sản rõ ràng
Của dân chúng cướp tiền hàng chúng thu
Trí thức đảng lại giam tù
Những người lính của cọng hoà bắt giam
Tự do rơi cảnh giam cầm
Nhân dân bỏ nước quyết tâm bỏ nhà
Đi tìm cuộc sống tự do
2960- Hơn triệu người đã vượt qua Hoa Kỳ
Dù phải chết dù hiểm nguy
Miền Nam dân chạy bỏ đi từng đoàn
Lạc Tiên chạy loạn cháu con
Biển đông nuốt chửng trăm ngàn sinh linh
Đảng hô “Giải phóng hoà bình”
Nhân dân sợ hãi liều mình bỏ đi
Thế thì “giải phóng” cái chi ?
Rõ là “Giải phóng” bắt đi ở tù !
Vinh rồi nay phải khổ lo
2970- Thiên đường “Cọng sản” điếm chia định phần
Tự do thời Thiệu đủ ăn
Đến thời cọng sản nhân dân chết mòn
Cải cách dù có đỡ hơn
Nhưng luôn mãi khổ bởi quan tham tàn”
Trinh rằng: “còn đảng mãi còn
Đói nghèo lạc hậu, trái oan giống nòi
Văn minh dân chủ xa vời
Thân rùa dân chịu phận tôi tớ rồi
Hồng rằng: “Chị nói thế sai
2980- Thời nay thời đại loài người văn minh
Thông tin các hãng truyền hình
Tạp chí báo chí các ngành đều ra
In tơ nét, ra đi ô
Thế giới tin biết luôn đưa hàng ngày
Sinh viên du học biết tây
Việt kiều về nước tỏ bày tâm tư
Mưa lâu dần thấm từ từ
Nhân dân rồi tỏ ông Hồ, đảng thôi
Lòng dân khi đã tỉnh sôi
2990- Theo đà thế giới họ đòi tự do
Đông âu cùng với Liên Xô
Cường quyền đạp đổ nay đà giàu hơn
Gà cùng mọt mẹ nở con
Bệnh nhiều đảng chết thời gian thôi mà
Việt Nam, Lào với Căm Bô
Bắc triều trung quốc, Cu ba chết dần
Bão tàn đàn áp nhân dân
Nhưng rồi thời thế xoay vần biết đâu
Nắng lâu ắt có mưa rào
3000- Cổ kim quy luật đã bao đời rồi
Nước non thế sự đổi dời
Hội nhập thuyền đảng biển khơi vô bờ
Thị trường kinh tế tự do
Độc tài đảng trị sao mà sống chung
Buộc lòng gạn đục khơi trong
Chân trời đã rạng ánh hồng ban mai”
Tiên rằng: “Anh đã qua chơi
Ở chơi vui thoả cuộc đời mấy khi
Nhà ai anh cũng phải đi
3010- Luân đôn Niu Oóc, Pa ri đẹp giàu
Văn minh nước Mỹ, Châu âu
Tự do đi lại chứ đâu khó gì
Anh đi em sẽ đưa đi
Bên này phương tiện thích tuỳ mình thôi
Anh đừng lo nghĩ tiền tài
Mọi người đều hưởng cuộc đời giàu sang
Riêng anh đời phải trái ngang
Quý thương ai cũng sẵn sàng vì anh”
Mừng vui chén rượu vây quanh
3020- Cả nhà chung uống sâm banh rượu nồng
Men say bốc lửa Trần Hồng
Sáng trưng vũ trụ cả vừng thái dương
Ngày vui vui cảnh giàu sang
Hạnh phúc nước Mỹ cộng đồng lạc vinh
Láng giềng kết nghĩa thâm tình
Bà Hoa mời đón ông Huỳnh sang chơi
Ông Huỳnh là một nhân tài
Đông tây kim cổ chín sôi ngọn ngành
Ông rằng: “Châu á chúng mình
3030- Hồng Kông thuộc địa của anh sang giàu
Bây giờ Trung quốc biết đâu
Độc tài đảng trị bắt đầu cấm dân
Đau thương mưa bão gió ngàn
Người dân rồi lại trái oan tù đày
Văn minh tư tưởng âu tây
Nhật, Đài, hàn, Thái giờ đây mạnh giàu
Á Đông đâu có gì đâu
Lão Trang, Khổng, Mạnh qua lâu cả rồi
Mác- Lê học thuyết ngược đời
3040- Chống lại tư hữu loài người hoạ tai
Hai mươi thế kỷ hai mươi
Cuồng điên tham vọng độc tài sinh ra
Hai lần thế giới can qua
Làm cho muôn triệu phải sa chiến hào
Mỹ, Nga sau lại đối đầu
Cọng sản nhiều nước khổ đau bạo tàn
Nông Pênh, Hà Nội, Viên Chăn
Máu sông xương núi chết oan muôn vàn
Đói nghèo, chết đói nhân dân
3050- Hơn ba triệu ở Bắc Hàn đau thương
“Thiên tài vĩ đại” Mao ông
Hơn ba mươi triệu chết không có gì
Loài người thực sự khốn nguy
Chủ quan lầm lạc đường đi lối nhầm
Nhân tâm ai cũng từ tâm
Tôn trọng nhân vị không tham của người
Tự do bình đẳng đua tài
Hoà bình thế giới loài người bình an
Ngày vui trôi vút qua tuần
3060- Nước Mỹ Hồng đã đi gần đi xa
Đâu đâu dân cũng ấm no
Nơi đâu cũng đẹp những toà lầu cao
Có đâu cảnh khổ đua nhau
Trâu bò đi trước theo sau là người
Chổng mông ngoảnh đít lên trời
Việt Nam tình cảnh của thời thống Vương
Cuộc đời một nắng hai sương
Nhưng luôn đói khổ trăm đường tính lo
“Nước non vĩ đại Bác Hồ” !
3070- “Con đường của Bác tiền đồ quang vinh” !
Bờm đâu có mấy học hành
Ba câu cắp vặt thật anh côn đồ
Nửa vòng nguyệt chóng trôi qua
Tiên về Hồng lại du hà châu âu
Tự do dân chủ đâu đâu
Muôn dân vui sướng dân giàu văn minh
Việt kiều con cháu học hành
Giáo sư, tiến sỹ nổi danh rất nhiều
Đi xa biết được bao điều
3080- Mở mang tầm mắt thêm yêu cuộc đời
Chúa cho ta được làm người
Thực là vinh hạnh cuộc đời men say
Con đường hoà nhập giờ đây
Á, Âu, Phi, Mỹ bắt tay hoà đồng
Bốn phương quan hệ thông thương
Rõ là thế giới đang ràng buộc nhau
Làm cho những kẻ cứng đầu
Độc tài gian ác phải mau sửa mình
Nếu không sóng bão lan nhanh
3090- Thế thời thay đổi dân tình văn minh
Kết đoàn vùng dậy đấu tranh
Đạp anh xuống hố dìm anh xuống bùn
Thức thời biết đổi khôn ngoan
Không thì rồi lại cha con chạy dài
Có đâu thoát được lưới trời
Quy luật nhân quả hoạ tai khôn lường
Ác thâm như đế Thuỷ Hoàng
Cha chết, con bị, người mang chém đầu
Mao ông bạo chúa nước Tàu
3100- Vợ con bị Đặng cho chầu Diêm Vương
Rõ là lịch sử công bằng
Rõ là ác sẽ tiêu vong chẳng còn
Châu âu du ngoạn tháng tròn
Chương qua lại đón cùng con bay về
Ngày sau qua nhởi Bác Tuê
Bác rằng: “Thiện ác u mê lòng người
Hai ngàn năm chửa có ai
Phân tích nói rõ đúng ai rõ ràng
Nhà nho Khổng Mạnh đầu hàng
3110- Đối lập Tuân tử ngược dòng lại ra
Trung tâm chính luận nho gia
“Con người tính thiện hay là ác đây” ?
Hồng rằng: “Ta với ta đây
Lòng người phân tích giải bày khó ghê
Chúng ta thử đặt vấn đề
Đi từng chi tiết bình nghe thế nào”
Chương rằng: “Khổng Mạnh từ lâu
Nhân sơ bản thiện đề cao con người
Chủ quan chắc đã nhầm sai
3120- Bởi vì cái ác nhiều nơi đanh hành
Con người bản ác nhân sinh
Hàn Phi Tuân tử đã trình rõ cho
Vậy thì thiện ở đâu ra ?
Loài người nhân nghĩa ở mô cũng đầy
Chắc là có lẽ đúng đây
Thiện và ác đã cùng hai song tồn
Ngược dòng mâu thuẫn luôn luôn
Luôn gây xung khắc tâm hồn sao yên
Hay là theo lẽ tự nhiên
3130- Vô thiện vô ác lớn lên trưởng thành
Vô tâm ai quyết hy sinh
Giám vì điều thiện quyên mình đấu tranh
Yêu lẽ phải trọng nghĩa tình
Ghét thằng trộm cướp ghét anh dối lừa
Làm sao lẽ phải nhận ra
Làm sao phân biệt ác và thiện đây
Men nồng tỉnh tỉnh say say
Thật là khôn giải ai bày tỏ cho
Ở đâu chợt ghé thăm qua
3140- Ông Huỳnh thông tỏ mở ra minh tường
“Con người bản thiện rõ ràng
Thiện căn tính thiện cõi lòng trời cho
Nhưng rồi ác đã sinh ra
Bởi do nhận thức hồ đồ lệch sai
Sinh con cha mẹ chăm nuôi
Thương con nhưng vẫn cho roi cho đòn
Mục đích là họ dạy con
Mong con tài đức chu toàn mai sau
Những người trộm cướp do đâu ?
3150- Cá nhân tính thiện làm giàu mà thôi
Hoặc do đói khổ hoạ tai
Hoàn cảnh bắt buộc phải nuôi gia đình
Hoặc là thương chính thân mình
Cuộc đời phóng đãng đã thành quen thôi
Những người độc ác giết người
Cũng không vô cớ mà rồi sinh ra
Nguyên nhân hàng vạn lý do
Nhiều khi thời đại sinh ra chán chường
Nhân sinh tính thiện rõ ràng
3160- Ác qua tâm lại bình thường thiện thôi
Những ông cọng sản một thời
Cuồng tin tưởng đúng giết người máu say
Tính thiện như chén nước đầy
Thiện mà vơi bớt thì gây ác liền”
Hồng rằng: “Bác thật người hiền
Thật là chí lý thật tiên giáng trần
Khổng, Mạnh hai vị Thánh nhân
Dò tìm đánh chịu muôn phần khó thay”
Chương rằng: “Thế giới ngày nay
3170- Hiện sinh thực dụng theo Tây cả rồi
Mác- Lê nhân loại chôn vùi
Có ai thèm đọc phí hoài công ra”

Vui say trong cảnh phồn hoa
Nhưng Hồng luôn nhớ đến nhà vợ con
Tính ra ba tháng đã tròn
Xa quê lòng cảm thấy buồn nhớ quê
Hồng đành xin phép trở về
Hai cô, các cháu tin nghe ngỡ ngàng
Ngày sau liền đã vội vàng
3180- Bay về cùng với Bác Chương ngăn Hồng
Hồng rằng: “Con, vợ chờ mong
Nghĩa tình son sắt khắc lòng tạc xương
Ở thì tình bạc phũ phàng
Về thì lại khổ đôi đường phân vân
Khổ nhưng an lạc tinh thần
Cuộc đời tình nghĩa chu toàn phụ phu
Con người tình cảm tâm tư
Vợ chồng Chúa kết ai bù được đâu
Cho dù trong cảnh bể dâu
3190- Nghĩa tình cũng chẳng rời nhau được mà”
Chương rằng: “Giờ có bây giờ
Cuộc đời đâu biết rồi là thế nao
Mây rồi khuất bóng trăng sao
Sớm còn tối mất chiêm bao cuộc đời”
Hồng rằng: “Có Chúa an bài
Đời là số phận mọi người phải lo
Thời gian ai cũng đi qua
Sinh khổ Lão Tử ngàn xưa đời đời”
Nghẹn ngào dòng lễ tuôn rơi
3200- Nước non tình nghĩa ngày mai trở về
Tiễn đưa năm sáu chiếc xe
Máy bay cất cánh Hồng về Việt Nam

Việt Nam ! đất nước Việt nam!
Dân nghèo lạc hậu quan tham đầy đường
Đó đây nai nịt màu vàng
Chặn xe quen thói cướp đường moi ngân
Công an hà hiếp nhân dân
Người dân thấy gặp tinh thần sợ lo
Xe đi qua chợ, đến nhà
3210- Thấy Hương Hồng gọi Hương ra đón mừng
Then cài tâm rộn tưng bừng
Xóm làng bè bạn biết cùng đến chơi
Tâm thành kể chuyện đất người
Mở lòng ai cũng có lời hỏi thăm
Hồng rằng: “Tây khác Việt Nam
Người tâyvạm vỡ béo tầm cao to
Đi đâu xe đón xe đưa
Ở thì thoáng rộng dư thừa xa hoa
Chó Tây thịt cá ăn no
3220- Đâu như người Việt cơm cà cơm rau
Mọi người nghe nói kháo nhau
Hỏi sao Tây sướng, vì đâu Tây giàu?
Hồng rằng: “Đâu có gì đâu
Bên Tây dân chủ quyền đầu là dân
Nhân dân lựa chọn bầu lên
Tất nhiên người giỏi tất nhiên người tài
Đúng như Khổng Tử có lời
“Ý dân là ý của trời” Thánh minh
“Dân vi trọng, Quân vi khinh”
3230- Ý thầy Mạnh Tử xưa trình tỏ cho
Đau thương hiện tại nước ta
Độc tài đảng trị dân là ngựa trâu
Làm sao có được mạnh giàu
Nước nhà ruồi nhặng mọt sâu thói đời
Chỉ quen hà hiếp, giết người
Chỉ quen lừa dối độc tài mà thôi

Đang vui điện thoại réo dài
Hương liền chạy tới xem ai gọi mình
Nghe tin hồn đảm thất kinh
3240- Ông Biên đột ngột bệnh tình hiểm nguy
Vợ chồng liền vội ra đi
Đến nơi đâu có còn gì nữa đâu
Bà Vương thảm thiết khóc sầu
Nghĩa Ân các cháu thương đau lễ trào
Thương cha Hương thét khóc gào
Cuộc đời thực rõ chiêm bao mấy hồi
Ngày kia Mai Dịch chôn vùi
Nơi toàn quan lớn lạc loài quỷ thôi

Ngồi buồn viết chuyện mua vui
3250- Viết ra kể lại cho người mai sau
Nôm na bộc bạch mấy câu
Hồi ức chuyện thực từ đầu đến đuôi
Mai đây đất nước đổi dời
3254- Cháu con đọc, biết một thời nước Nam.

Nghệ An, ngày 22/8 đến 30/10/2000
Phạm Hồng Đức

Phạm Hồng Đức: Gia đình Cụ Bá, 1

Gia đình Cụ Bá
Truyện thơ của Phạm Hồng Đức
1 2 3 4

“… Truyện gói ghém ít nhiều tâm sự riêng chung của người cán bộ đảng đã tỉnh giấc kê vàng của thời đại mới …”

Phạm Đỉnh: Đầu năm mới Mậu Tý 2008, Thông Luận hân hạnh chuyển đến bạn đọc một truyện thơ dài: Gia đình Cụ Bá của Phạm Hồng Đức.

Tác phẩm được lưu truyền trong dân gian tại Nghệ An, được hoàn tất đã lâu (năm 2000). Đây là một công trình truyện bằng thơ rất dài hơi (dài 3254 câu thơ lục bát, bằng đúng độ dài Truyện Kiều), làm theo truyền thống truyện thơ cổ điển mà xứ Nghệ là nơi ghi dấu rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về thể loại này. Chỉ xin kê ra đây hai tác phẩm thuộc hàng bất hủ: Truyện Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện), Truyện Kiều (Nguyễn Du).

Truyện thơ, hay vắn gọn hơn thì gọi là truyện là một thể loại sáng tác đặc thù của văn học cổ điển Việt Nam. Truyện là một tiểu thuyết viết bằng thể thơ lục bát, kể lại một câu chuyện, thường là những chuyện tình của những tài tử và giai nhân, thoạt đầu bén duyên tình, nhưng rồi bị những thử thách gian truân làm phân rẽ đôi lứa; cuối cùng thì người ngay gặp lành, kẻ ác phải trả nghiệp, tài tử và giai nhân lại được nối duyên tình. Thể truyện thơ Việt Nam được phôi thai từ cuối thế kỉ XVII, và bắt đầu có những tác phẩm lớn từ đầu thế kỉ XVIII. Trong tình hình văn bản hiện nay, có thể xem Song Tinh Bất Dạ truyện (1703) là một trong những thành tựu ban sơ của thể loại này mà ta còn biết đích xác.

Những tưởng thể loại truyện thơ đã lùi về quá khứ cùng với nền văn học cổ điển cáo chung ở cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX; nhưng không, thể loại này vẫn âm thầm sống. Phan Châu Trinh còn để lại bản cảo truyện thơ Giai Nhân Kỳ Ngộ (phỏng theo một tiểu thuyết của Nhật (tạm xong khoảng 1916-1920). Hôm nay, chúng ta được xem truyện thơ Gia đình Cụ Bá của Phạm Hồng Đức.

Phạm Hồng Đức kể chuyện một gia đình điển hình trong xã hội Việt Nam vào buổi đầu thế kỉ trước: một gia đình trí thức nho gia gặp buổi quốc phá gia vong, người cha liên lạc với các phong trào cần vương rồi đến các phong trào trí thức mới thời đó (Đông Du, Duy Tân). Mấy người con về sau cũng nối chí cha, nhưng mỗi người mỗi chí hướng, người thì gia nhập Quốc Dân Đảng, người theo Tân Việt, người thì theo đảng cộng sản. Gia đình cụ bá cũng nổi trôi theo vận nước, chia xa mỗi ngườ icon một ngã rẽ của số phận: người thì du họ bên trời Tây, người sang Mĩ, kẻ ở lại thì bị dập vùi thân thế, bảy nổi ba chìm. Người ấy là Trần Hồng, người con đã đi theo đảng cộng sản từ những ngày phôi thai, rồi bị truy cứu lí lịch mà phải hết nạn nọ đến tai ách kia. Trần Hồng chỉ được thanh thản, vượt thoát được những phiền não vô cùng của đời riêng, khi ông đến với tôn giáo.

Câu chuyện chỉ đơn sơ chứ không cầu kì rắc rối, cũng không nhờ dựa vào yếu tố thần kì, mầu nhiệm chi nhiều. Mạch kể chuyện cứ xuôi theo mạch cảm nghĩ của tác giả. Ông nghĩ những gì? Ông nghĩ về đảng cộng sản Việt Nam và những tai ách của nó giáng xuống số phận dân tộc trong hơn nửa thế kỉ nay. Những đoạn phê phán sự tàn độc của đảng cộng sản và chủ nghĩa Mác-Lê là những đoạn văn hùng hồn, hứng khởi nhất. Kế đó là những câu thơ nói về đạo, về con đường tâm linh mà nhân vật truyện tìm thấy được để rũ bỏ những oan khiên phiền trọc do đảng cộng sản gây nên.

Một thú vị khác nữa là người đọc chúng ta được theo bước chân tác giả rảo qua từng chặng lịch sử cận-hiện đại, kể từ khi “đời ta có đảng”. Mỗi chặng lại ghi dấu một núi tội ác của đảng, do hành động khủng bố man rợ, hay do lừa dối xảo trá để được việc, hoặc nữa là hành động xuẩn ngốc vì dốt nát mà gây hoạ cho dân cho nước. Đọc Gia đình Cụ Bá chính là đọc bản “thu hoạch” về thành tựu to lớn và vinh quang của đảng trong sứ mệnh tàn phá đất nước do chính một người đã đi suốt đường đời cùng với đảng viết ra!

Phạm Hồng Đức là một tác giả quen thuộc của báo Tổ QuốcThông Luận. Ông là dân xứ Nghệ, cái nôi của truyện thơ thời trước. Từng là đảng viên lâu năm, giữ vai trò cán bộ tuyên huấn, ông đã quen với lí luận Mác Lê, và đã nhận ra những kẽ hở chết người của nó. Truyện Gia đình Cụ Bá gói ghém ít nhiều tâm sự riêng chung của người cán bộ đảng đã tỉnh giấc kê vàng của thời đại mới.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc khắp nơi truyện thơ Gia đình Cụ Bá của Phạm Hồng Đức.

Sinh nhầm thế kỷ hai mươi
Bể dâu bao cuộc đất trời nhân tai
Một đảng chuyên chế độc tài
Gây bao oan trái muôn người chết oan
Chia giai cấp đảng trị dân
Triệt tiêu tư tưởng cá nhân mọi người
Chính sách cộng sản ngược đời
Của dân của nước đảng thời vét vơ

Việt nam đất nước chúng ta
10- Con Hồng, cháu Lạc vốn nhà Rồng Tiên
Xã Hưng Bình, huyện Hưng Nguyên
Họ Trần cụ Bá danh truyền tiếng bay
Anh hùng bốn bể đều hay
Nhiều nhà cách mạng tỏ bày thâm giao
Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu
Cụ Trinh, cụ Thận, anh hào trước đây
Nho gia trung hiếu xưa nay
Đức tài, phúc lộc đời này mấy ai
Cây xuân cành lá cao vời
20- Liễu, tùng một nửa chia hai bốn chồi
Tài đức nối dõi tính trời
Cậu Nghè, cậu Cử, tú tài nhị nương
Anh em bè bạn đều dòng
Trúc mai quyết chí tâm lòng hy sinh
Gió cồn dòng nước Lam xanh
Thuyền ai tơi tả đơn mình cô liêu
Việt Nam đất nước tiêu điều
Giặc tây dày xéo dân nghèo xác xơ
Tôi đòi thân phận quan vua
30- Anh hùng nổi dậy nhưng chưa gặp thời
Lòng hận thù, chí sục sôi
Anh Chương con cả theo đòi Quốc Dân
Chị Trinh Tân Việt dấn thân
Trần Hồng thờ thuyết vô thần đảng viên
Rốt lòng riêng ả Thuý Tiên
Cây cao bóng cả con hiền dưỡng chăm
Nhất gia cha mẹ đồng tâm
Quyết đem sức vóc hờn căm giặc thù

Canh tân xô viết giương cờ
40- Nghệ An, Hà Tĩnh dân đà vùng lên
Cướp kho thóc lập chính quyền
Công nông vùng dậy dấy lên cao trào
Đảng cộng sản đã đề cao
Tinh thần dân tộc hô hào đánh tây
Thị Thành, làng tổng đó đây
Các chi, đảng bộ tháng ngày lớn nhanh
Nâu màu đâu mấy học hành
Vì nền độc lập đấu tranh đến cùng
Thế thời đã định hoá công
50- Ngày 2 tháng 9 Thăng Long ra đời
Hồ công sấm đã nói rồi
Thật là thiên định ông trời vẫn xoay
Điện Biên sau Pháp dựng xây
Bốt đồn kiên cố hòng vây tuyến đầu
Âm mưu chiếm đóng dài lâu
Thực dân chúng muốn cưỡi đầu dân ta
Can qua thời thế khôn ngờ
Tháng mười kỷ sửu Trung Hoa đổi dời
Họ Mao đảng trị lên ngôi
60- Chuyên quyền ảo tưởng độc tài bất công
Chung thuyền trên một dòng sông
Trút giúp vũ khí người công gạo tiền
Đồng thanh tương khí kết liên
Thế giới cộng sản ở trên địa cầu
Liên Xô là nước đứng đầu
Đồng minh cộng sản cùng nhau giúp vào
Giúp quân sự, giúp ngoại giao
Việt Nam cộng sản phong trào toàn dân
Thanh niên say máu thiêu thân
70- Xung phong chiến địa cùng dân công nhiều
Him Lam mở trận tiền tiêu
Bất ngờ giặc Pháp tiêu điều thua to
Thiên thời một chín năm tư
Tướng Đờ Cát đã kéo cờ trắng thua
Theo hiệp định GiơNeVơ
Vĩ tuyến mười bảy tạm chia hai miền
Thực thi dân chủ, nhân quyền
Sau hai năm sẻ bầu lên chính quyền
Miền bắc đảng Mác – LêNin
80- Đấu tranh giai cấp đương nhiên thi hành
Đánh vào tư sản thị thành
Cướp nhà cướp của sạch sanh thu hồi
Vị về thu đến than ôi
Già Hồ lệnh xuống sự đời lạ thay
Cải cách lương thiện dân cày
Tập trung học tập đảng bày đặt ra
Vợ đấu chồng, con bắn cha
Anh em bè bạn trăm nhà giết nhau
Bạo tàn muôn vạn thương đau
90- Bắn oan chín vạn oán sầu thác oan
Hàng vạn người sợ liên quan
Quyên mình bỏ vợ bỏ con bỏ nhà
Cải cách câu đội đảng hô
“Bắn mười nhầm chết hơn tha một tồn”
“Nhân dân ta quyết sống còn”
“Quyết tâm diệt hết đập tan giặc thù”
Dân nghèo lạc hậu tâm tư
Biết đâu cộng sản chia thù địch ta
Làm cho tan nát muôn nhà
100- Chết người mất của phải ra đứng đường
Miền Nam Pháp đã vội vàng
Trả lại độc lập đánh lòng rút lui
Quân vương thế sự đổi ngôi
Chế độ tổng thống quyền thời họ Ngô
Con đường dân chủ, tự do
Theo nền tư bản cộng hoà dựng xây
Việt Nam hai nước từ đây
Cụ Ngô thân Mỹ , Hồ thầy Xô – Trung
Giao thời giáp ngọ ngăn sông
110- Miền Nam tập kết nhiều dòng người ra
Miền Bắc dân giáo chạy vô
Gần triệu người đã cả nhà đi xa
Cuồng phong bão tố can qua
Tân Việt giải tán, Quốc đà cũng tan
Hoe hoe ngọn cỏ thu tàn
Heo heo gió rít từng cơn mưa phùn
Đường quê lai láng bùn trơn
Anh Hồng công tác ghé luôn thăm nhà
Tang thương sự thế khôn ngờ
120- Cha thì bị bắn mẹ đà quy tiên
Ruộng vườn nhà cửa tịch biên
Đảng chia cho những tá điền ngày xưa
Thuý tiên thân xác, xác xơ
Non trèo củi bán ruột vò đau thương
Anh em châu cạn đôi dòng
Từng cơn sùi sụt lại từng cơn đau
Hồng rằng: “Đâu biết được đâu”
Tưởng làm cách mạng về sau được nhờ
Tấm lòng băng tuyết ai ngờ
130- Mẹ cha oan uổng cả nhà nát tan
Hôn quân thời đại ác gian
Thật là ma quỷ thật quân nguỵ tề
Tiên rằng: “Anh đã trở về
Anh có hay biết tin gì chị, anh”
Hồng rằng: “Trời thẳm cao xanh,
Dặm trường cách bóng như hình đi xa
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ
Có người bạn nói đã qua Pháp rồi
Thuý Tiên mắt máu hoen sôi
140- Tiên rằng: “Anh tính cuộc đời giờ sao”?
Hồng tuôn nước mắt tuôn trào
Rằng: “Đời số phận trời cao đất dày
Thế thời biết tính sao đây
Thôi thì nước chảy vần xoay ông trời
Tính chi thì sự đã rồi
Biết làm sao được ếch ngồi giếng sâu
Anh em đùm bọc lấy nhau
Sự đời xoay chuyển biết sau thế nào
Đất bằng nổi trận ba đào
150- Thời gian chắc cũng phần nào lặng yên
Ở nhà em cứ thuận trên
Bão qua gió lặng bình yên dần dà
Đau thường đành lại chia sa
Hàn huyên vội vã lễ nhoà cách ly
“Mặt trời cộng sản” Hồng đi
Mơ hồ khôn biết chuyện gì rồi đây
Chiều thu lạnh giá heo may
Con đường làng vắng lá bay rụng vàng
Sầu đeo gió vút cây tùng
160- Ngán ngao sự thế, Lạc Hồng thương đau

Đất Hà cờ đỏ một màu
Gió bay phơi phới đua nhau tung trời
Mịt mù bao tố hoạ tai
Mậu tuất tôn giáo đến đài chùa tan
Linh mục phật tử một phen
Đảng bắt tù tội , đảng liền xét tra
“Nhân văn” “Giai phẩm” văn gia
Gió mưa số phận bị tra vào còng
Nhân viên văn hoá trần Hồng
170- Cúi đầu nhắm mắt phục tùng lệnh trên
Lòng mong gió gặp diều lên
Tôn thờ Đảng Bác được quyền chức cao
Ngày đêm phát động hô hào:
“Thiên đường cộng sản nước Tàu – Liên Xô”
Công nông liềm búa dương cờ:
“Bác Hồ là vị cha già của dân”
“Bác là tiên phật giáng trần”
“Cuộc đời cứu nước thánh nhân thiên tài”
“Nhân dân con cháu của người”
180- “Con đường cộng sản cuộc đời thần tiên”
Xu thời an phận gió yên
Hương nhà trở lại Thuý tiên đi cùng
Cậy trên chạy các ban phòng
Trường y tiên đã tờ hồng có danh
Kỷ về bão gió hoành hành
Chủ trương hợp tác thị thành nông thôn
Cấm họp chợ, cấm bán buôn
Đi làm công điểm phát ban từng nhà
Đường đi theo bước Trung, Xô
190- Canh niên xí nghiệp lập ra các vùng
Ưu tiên người đảng tiên phong
Bí thư, giám đốc các ông các bà
Đều do đảng cử đặt ra
Họ người của đảng đều là đảng viên
Tháng ngày bàn họp triền miên
Kế hoạch sản xuất được trên định rồi
Hàng thì đã có các nơi
Định mức tiêu thụ đảng thời giao cho
Giám đốc nhưng chẳng phải lo
200- Miễn là tư tưởng tam vô tinh thần
Nhiều người vừa biết đánh vần
Cải cách đấu tố thành phần được lên
Thu về Lê Duẩn ghế trên
Bí thư đệ nhất uy quyền non sông
Trạng trình lời sấm Hồ Công
Có ghi thời đại những dòng đúng ghê:
“Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nhà Nguyễn thất thế nhà Lê trị vì”
Cuồng mê mà sắm quyền uy
210- Quan liêu độc đoán danh thì càng tham
Hô hào giải phóng Miền Nam
Gây nên nội chiến hờn căm hai miền
Trần Hồng theo đảng tuyên truyền
Ngày đêm phát động dấy lên cao trào
Việt Nam một nước đồng bào
Nồi da nấu thịt bắt đầu từ đây
Thơ ca đài báo đêm ngày
Tỉnh thành huyện xã đó đây hô hào
Dân nghèo lạc hậu biết đâu
220- Chiến tranh dân chết thương đau càng nhiều
Tan hoang muôn cảnh tiêu điều
Cửa nhà tan nát chết treo ngay mình
Chồng cha con phải hy sinh
Chiến trường đạn lạc bỏ mình như chơi
Mây che khôn biết thế thời
Rồ điên thống trị hại người lừa dân
Mác Lê Nin thuyết vô thần
Chống lại tư hữu cá nhân mọi người
Cộng sản học thuyết cuồng sai
230- Sinh sôi bành trướng những nơi đói nghèo
Mơ hồ cuồng vọng cuồng theo
Phân chia giai cấp muôn điều ác gian
Tuyên truyền lừa dối thánh thần
Miền nam cộng sản nhân dân theo nhiều
Rú rừng những huyện dân nghèo
Chi bộ, đảng bộ, đảng đều lập ra
Thừa cơ dân chủ tự do
Sinh viên, phật tử bị lừa đấu tranh
Lại thêm các đảng tranh giành
240- Làm cho cụ Diệm sự tình lung lay
Nước non mù mịt trời mây
Nhân dân đâu thấy nào hay bạn thù
Thương dân thánh thiện cụ Ngô
Bảo toàn sông núi mong cho hoà bình
Chống ngoại bang, chống chiến tranh
Đạn bom Hà nội phát binh đánh vào
Than ôi! Dân Việt máu trào
Bởi đâu binh lửa đồng bào lầm than
Miền Nam tình thế bất an
250- Chính sách chống cộng dồn dân khoanh vùng
Bạo tàn bắt bớ tù gông
Nước nhà loạn lạc tiên rồng nội xâm
Năm Quý Mão bọn gian tham
Bất thần đảo chính Miền Nam thay người
Họ Ngô công nghiệp chôn vùi
Đồng minh quân Mỹ sau rồi nhảy vô
Vì nền dân chủ tự do
Nước Mỹ mất của lại cho người vào
Con hồng, cháu lạc đồng bào
260- Nguy cơ chiến trận dâng cao máu trào
Miền bắc quân đội đưa vào
Vũ khí, đạn dược, xe tàu chuyển vô
Đạn bom cày xéo nước nhà
Máu sông xương núi rõ là tang thương

Bâng khuâng ly biệt sân trường
Tiên đà vào đảng mơ màng tuổi xuân
Tiên phong Nam tiến tòng quân
Gian lao chẳng quản tinh thần máu sôi
Hậu phương tiền trạm đông người
270- Thương binh chuyển tới tanh hôi hãi hùng
Chiến trường thiếu thuốc băng bông
Nhiều người oan chết do không kịp thời
Thế cùng bắt buộc tính bài
Lệnh trên ban xuống cho người thuốc mua
Thuý Tiên được đảng phân cho
Đi vào thành thị tìm mua thuốc về
Ngạc nhiên trước cảnh bộn bề
Thị thành sầm uất đồng quê xanh rờn
Các nhà hàng, các hiệu buôn
280- Khoe màu đủ loại giang sơn đẹp giàu
Khác xa bắc việt thương đau
Hàng thì phân phối cháo rau qua ngày
Suy tư tư tưởng đổi thay
Tìm đồn khai báo tỏ bày thiết tha
Tạm giam một tháng điều tra
Sau rồi được thả, cho vô Sài Gòn
Dần dà tìm rõ nguồn cơn
Chị Trinh, anh Cả đang còn sống đây
Anh Chương trường mở làm thầy
290- Chị Trinh nghề báo tháng ngày lùng tin
Cơ trời phúc được đoàn viên
Anh em giọt lệ mừng rên bồi hồi
Chương rằng: “Đây thật phúc trời
Trong này anh nghĩ ở ngoài nhà ta
Các em cùng mẹ và cha
Giai cấp đảng bắn cả nhà cũng nên
Bây giờ em phải đổi tên
Sài Gòn cộng sản chúng quen côn đồ
Truy tìm chúng sẽ điều tra
300- Nếu chúng lùng biết chắc là thủ tiêu”
Tính lo sự thế lo nhiều
Thuý Tiên sau đã được điều sang tây
Chuyên tu nghề nghiệp vững tay
Thành công dân Pháp thật may mắn đời

Miền Bắc đảng trị độc tài
Được tin em gái thay ngôi đổi dòng
Trần Hồng lo sợ vô cùng
Biết rồi mình sẽ chắc rằng luỵ liên
Chước lòng cơ tính bài chuồn
310- Nghĩa tình sâu nặng vợ con khó lòng
Ruột gan bời rối bong bong
Nghĩ rằng tù tội chắc không thoát rồi
Đêm ngày mưu tính tìm lời
May chi thoát được hoạ tai sau này
Đùng đùng đảng đã ra tay
Gọi lên xét hỏi đem ngay vào tù
Hà thành chúng giữ Hoả lò
Hoả lò giam giữ nhiều nhà khác nhau
Nhiều ông đâu ở Châu âu
320- Cử nhân, tiến sỹ đều hầu nằm đây
Thương gia, tư sản nhiều tay
Chính sách cộng sản hoạ bay bất ngờ
Nhiều người của đảng trước kia
Cải cách chống lại cũng đà vào đây
Hoành hành ma quỷ ác thay
Bao người lý tưởng nghiệp đầy chông gai
Con thì mới chút con trai
Vợ thì son trẻ xinh tươi dậy thì
Cha tù, con vợ khốn nguy
330- Thu nhà, đuổi việc phải đi đứng đường
Họ hàng đâu giám cưu thương
Tư tưởng giai cấp lập trường địch ta
Có chăng nhờ được mẹ cha
Tình thương mậu tử may ra vẫn còn
Nếu không hoa bán phấn son
Chân tường gió bụi hương tàn cũng nên
Trần hồng tơ rối đảo điên
Than ôi! số phận sao nên thế này
Tuần qua tháng đến năm chầy
340- Trần Hồng đâu biết nào hay được gì
Thương con thương vợ nghĩ suy
Tinh thần rối loạn nhiều khi vấn lòng
“Hay là ta chết cho xong
Vợ con chắc chả còn trông cậy gì
Chết mà con, vợ yên thì
Chết còn nhắm mắt, chết đi xong đời

Bỗng đâu sắt động cửa ngoài
Căn phòng chật hẹp có người bước vô
Xanh gầy một cụ khọm già
350- Tóc phơi bạc trắng chừng đà bảy mươi
Hồng khúc ruột xé bời bời
Cụ già nhìn kỵ bỗng cười mỉa mai
Cụ rằng: “Anh chả biết tôi
Tôi thì hiểu rõ con người của anh
Bao lần khẩu hiệu ảnh tranh
Hung hăng anh đã phát thanh hô hào
Rõ là đã có trời cao
Anh là thằng cuội làm sao chốn này
Đường mật anh rót lời hay
360- Thiên đường cộng sản thế này phải không?
Ông Hồ dù có chí công
Lạc đường đi đến đường cùng mà thôi
Bởi đâu sự thế lạc loài
Ngọc vàng khẩu hiệu đảng tài lừa dân
Các dân lạc hậu bần hàn
Lời phật nghe tưởng tin lăn xả vào
Lãnh tụ đảng, đảng đề cao
Đảng thần thánh hoá dân nào có hay
Nhân dân nhắm mắt theo thầy
370- Thầy luôn dối trá lòng đầy gian tham
Bạo tàn, cuồng tín vô tâm
Dân vốn nghèo khổ nay thêm tiêu điều
Đạo chích nhầm tưởng Thuấn Nghiêu”
Lời tâm Hồng nghĩ bao điều càng lo
Rằng: “Tôi theo đảng, Bác Hồ
Năm mươi sáu tuổi nay đà ba lăm
Sinh ra lòng đã hờn căm
Giặc tây giày xéo trí tâm giận hờn
Tấm lòng vì nước vì non
380- Mơ màng đâu biết nguồn cơn thế này”
Cụ rằng: “Tôi học bên tây
Ông Ba tôi vốn trước đây gặp rồi
Thông minh dáng vẻ bề ngoài
Nhìn cho thật kỹ biết người dối gian
Nửa đời hai vợ, ba con
Trăng hoa quen thói phấn son bụi hồng
Minh Khai vợ của Hồng Phong
Những năm chung học họ cùng ở Nga
Cao Bằng về nước sa đà
390- Cô Ngát ông hiếp sinh ra một người
Cô Xuân hoa núi hăm hai
Đất Hà phục vụ sinh trai đầu lòng
Bất lương bản tính gió giăng
Bợm già mười một đoá hồng bẻ ngang
Dối lừa đảng mãi huyênh hoang
Trọn đời vì nước chẳng màng vợ con
Lừa trời, lừa nước, lừa dân
Nhân dân sùng bái như thần cuồng theo
Chia giai cấp, chia giàu nghèo
400- Giai cấp tranh đấu muôn điều ác gian
Nước non lãnh tụ vì dân
Chính sách đường lối nguyên căn lẽ đời
Tự do, tư hữu tính trời
Gia đình tín ngưỡng con người bản năng
Vô thần cộng sản rồ ngông
Ngược dòng đạo lý ngược lòng tâm ta
Sinh ra ỷ lại trông chờ
Sinh ra lười nhác sinh ra bất bình
Đao binh quan mải chiến tranh
410- Hoà bình bao cấp trở thành quan chơi
Tự do, dân chủ đua tài
Luôn nguồn độnglực mọi người đua tranh
Chăm lo cuộc sống gia đình
Công bằng luật pháp giữ bình an vui
Đảng cộng sản đảng độc tài
Giết người cướp của nhất thời hại dân
Sống trên luật pháp bất nhân
Đạo Chích cuồng tín vô thần hoạ tai
Cha ông xưa đã nói rồi
420- “Cha chung ai khóc sự đời vô tâm”
Hai người chung ở được năm
Một chín sáu sáu cụ Nhâm về trời

Nắng mưa gió bão dập vùi
Cảnh tù đói rét đủ mùi hôi tanh
Đêm nằm suy nghĩ quẩn quanh
Vợ con khôn biết sự tình thế nao
Miền bắc đảng mãi kêu gào
“Đánh cho Mỹ cút nguỵ nhào thì thôi”
Sức dân tiền của con người
430- Của dân đảng cứ chôn vùi vô tâm
Lòng dân sôi sục hờn căm
Bởi tin lời đảng đã nhầm địch ta
Côn đồ một đảng quỷ ma
Bạo tàn hại nước hại nhà hại dân.
Mưa phùn điểm hạt lăn tăn
Đêm đông giá lạnh không chăn chiếu màn
Hồng nằm co quoắp thân tàn
Sự đời ngao ngán nghĩ gần nghĩ xa
Giờ đây biết đến bao giờ
440- Đảng thương đảng thả tha cho trở về
Sao mình đã quá u mê,
Sao không biết chạy lại nghe ý người
Phận đời khôn biết trách ai
Rõ tiên trách kỷ rõ thời thương đau.
Miên man suy nghĩ đâu đâu
Cửa phòng bống mở trước sau hai người
Một anh tuổi trạc năm mươi
Một ông lụ khụ râu dài gầy nhom
Giá đông rét khẩy rung cằm
450- Bước vào họ đã vội nằm co ro
Cửa phòng sắt lạnh khép vô
Hồng liền ngồi dậy chuyện trò hỏi han
Cụ già họ Nguyễn tên Tuân
Anh Cung quê ở Nghệ An Cầu Bùng
Hồng rằng: “Nay bước đường cùng
Ở đây ta cứ cởi lòng cho nhau
Tâm tư đỡ bớt u sầu
Lại thêm hiểu thấu do đâu thế này”.
Nguyễn rằng: “Đâu lạ chi mày
460- Thôi đừng nói nữa ở đây biết rồi
Trước đây mày đã hết lời.
Ngợi ca đảng bác sao ngồi tù đây”
Trần Hồng nhăn mặt, chau mày
Bống và khóc lớn tỏ bày tâm tư
Rằng: “Tôi đã quá hồ đồ
Cuộc đời nông nổi dại khờ quá đi
Ông đừng nhắc lại làm chi
Nói ra thì có ích gì hôm nay”
Nguyễn rằng: “Anh có nào hay
470- Muôn người lương thiện bị đày tù gông
Trí thức bao vị tinh thông
Những người công giáo tấm lòng hiền lương
Nho gia, phật tử, gia thương
Địa chủ, tư sản những chàng khố xanh
Cuồng phong cộng sản tan tành
Bống nhiên đảng bắt tội tình gì đâu
Rồng tiên tình nghĩa thâm sâu
Nhân dân một nước thương nhau hai miền
Tại sao đảng cứ rồ điên
480- Kêu gào kháng chiến dấy lên hận thù
Đem quân gây chiến đánh vô
Bắt miền Nam phải một nhà giết nhau
Gây ra muôn vạn thương đau
Chết vô nghĩa lý chết sầu thảm thương
Thật là muôn nỗi đoạn trường
Cộng sản sinh sự tang thương đất trời
Cung rằng: “Đảng trị độc tài
Mọi quyền nằm ở một vài người thôi
Mao ông Trung Quốc đương thời
490- Cải cách văn hoá biển người máu trôi
Xít ta lin gã “Thiên Tài”
Hai mươi triệu đã chôn vùi uổng oan
Đông Đức, Hung, Tiệp, Ba Lan
Dân đồng cảnh ngộ đều quân giết người
Biết bao, bao triệu oan sai
Lý tưởng theo đuổi lại rồi chết oan
Việt Nam hai vạn đảng viên
Cải cách đảng bắn rõ điên ác tà
Chúng ta nay phải ở tù
500- Ơn trời được sống cho dù khổ đau
Nguyễn rằng: “Anh có hay đâu”
Sấm Trạng Trình đã những câu rõ là
“Trắng đầu làm tội chưa qua
Đỏ đầu làm tội bằng ba trắng đầu”
Đông tàn năm mới xuân sau
Cụ Tuân cảm nặng về chầu cõi tiên
Anh Cung theo lệnh của trên
Chuyển đi nơi khác đôi bên ly sầu.

Tường tôi nhem nhuốc hoen màu
510- Song sắt trăng dõi đêm thâu bao điều
Đơn sầu khắc khoải dế kêu
Nghĩ đời vô nghĩa, trớ trêu cuộc đời
Trăm năm thực chả mấy hồi
Vậy thì cuộc sống lẽ đời là chi?
Sinh ra rồi lại ra đi
Trở về cát bụi còn gì nữa không?
Ngược tìm tư tưởng Á đông
Trang sinh giấc điệp theo dòng tu tiên
Đạo sinh chuyển hoá bí huyền
520- Âm dương chuyển động tạo nên muôn loài
Tu tiên cách biệt lánh đời
Tĩnh tâm, tĩnh tại luôn hồi tưởng suy
Tâm hồn trực giác siêu vi
Trời cao cảm nhận về đi cõi huyền
Không thì chắc đã chẳng tin
Cuộc đời theo đuổi tu tiên làm gì
Cũng như đức Phật từ bi
Bỏ nhà con vợ quyền uy triều đình
Ra đi quyết chí tu hành
530- Tìm ra căn cỗi khổ sinh ở đời
Nhân duyên thập nhị nguyên tai
Sinh ra đau khổ, sinh đời khổ đau
Âu lo mưa gió trăng sầu
Chợt ông Tây lớn ở đâu bước vào
Thấy Hồng ông vội tiếng chào
Hồng liền đứng dậy cúi đầu đáp ngay
Ông rằng “Ta đã ở đây
Coi nhau là bạn tù đày cảnh chung”
Băn khoăn thành ý Hồng rằng:
540- “Tôi bị oan uổng nay không còn đường
Bao đêm khắc khoải đêm trường
Tâm thần bất định hoang mang lẽ đời
Các ông là những con người
Quan san ngàn dặm sao ngồi tù đây
Phải chăng nghe lũ quan thầy
Dã tâm cướp nước mưu bày ác gian
Chiêu bài lừa dối nhân dân
Tôi mong ông hãy ân cần tôi hay
Hiểu ra mong có sau này
550- Cuộc đời biết được tỉnh say rõ ràng”
Ông Tây nghe đã cười rằng:
“Các ông thật đã thật không hiểu gì
Con đường nước Mỹ đang đi
Là nền công lý luôn vì nhân dân
Tự do, dân chủ nhân quyền
Chống lại chế độ độc tôn độc tài
Chúng tôi mất của, mất người
Bởi nền dân chủ giống nòi Nước Nam
Mơ hồ Bắc Việt hiểu nhầm
560- Gây ra thù hận hờn căm lỗi lầm
Giá như đất nước Việt Nam
Ông Hồ tỉnh ngộ quang tâm đức hiền
Chắc là các đảng vẫn còn
Nhân dân bầu cử bảo toàn núi sông
Nước Mỹ giúp của, giúp công
Nhà nhà hạnh phúc sống trong hoà bình
Giúp nền công nghiệp văn minh
Đầu tư khoa học tiến nhanh mạnh giàu”
Hồng rằng: “Nghe mới hiểu nhau
570- Trời cao non thẳm, biển sâu sông dài”
Phong ba sóng dập gió dồi
Trần Hồng đảng chuyển tít vời Lào cai

Lào cai mù mịt cổng trời
Nơi rừng bao phủ núi đồi lượn quanh
Cây rừng luôn lá tươi xanh
Chim kêu vượn hú chuyền cành gió đưa
Tiếng khe róc rách ngân nga
Chiều chiều thường vọng tiếng gà chen nhau
Nhân dân cuộc sống trồng màu
580- Những vườn ngô, sắn vườn rau xanh rờn
Phòng đơn ngồi đã hơn tuần
Đoạ đày lệnh đảng sau phân đi làm
Lâu ngày thoát cảnh tối tăm
Ngắm nhìn non nước vươn tầm mắt xa
Lòng thêm nhớ vợ con nhà
Bỗng nhiên nức nở, bỗng oà khóc kêu
Giờ đâu con vợ thương yêu
Còn đâu đầm ấm sớm chiều bên nhau
Còn không hay đã chết sầu
590- Nghĩa tình tơ vướng hay hầu đã quên
Non cao tiếng kẻng vang rền
Người tù từng tốp nối liền đi ra
Lên rừng cây phá trồng ngô
Tốp thì trồng sắn, tốp tra hạt vừng
Hè trưa trời cháy bỏng lưng
Người tù vắt ruột rú rừng ngồi ăn
Khoai ngô đảng đã định phần
Giở lưng sét đá có ăn gọi là
Qua loa muối chấm dưa cà
600- “Thiên đường cộng sản thật là vinh thay” !
Công an to béo, tù gầy
Đánh tù thịt nát chán tay mới ngừng
Ở nơi hang thẳm rú rừng
Phạm nhân cỏ rác còng lưng cả ngày
Có ai chạy trốn liền ngay
Công an tìm kiếm ra tay truy lùng
Bắt về lệnh đảng bắt còng
Chiếc còng bản rộng có chừng gang tay
Nặng to hai mét chiều dài
610- Lỗ thì nham nhở cắm ngay chân người
Lúc đà máu ứ đen thui
Chân tê dần chết chuột thời gặm da
Cùm từ Trung Quốc gửi qua
Rõ là cộng sản rõ là anh em
Có người cùm ở xà lim
Chết mùi hôi khắm sau tìm mới ra
“Việt Nam dân chủ cộng hoà”
Chính sách cộng sản điên rồ ác thay
Nhân dân trọng cảnh tù đày
620- Tư tưởng đảng bắt theo thầy Mác- Lê
Áo cơm thì đảng phát chia
Đủ cầm hơi sống sắn ngô qua ngày
Những nhà trí thức thời nay
Đảng tù, đảng giết, đảng đày chết luôn
Miền Bắc dân nước đâu còn
Sỹ phu, trí lữ tâm hồn thanh cao
Nhân dân nghe đảng hô hào
“Thiên đường cộng sản đề cao Bác Hồ”

Leo thang binh lửa can qua
630- Chiếc tàu bay cháy dân đà chạy ra
Tù binh người Việt chúng ta
Anh thanh niên trẻ nước da trắng hồng
Tay thì bị trói trật lưng
Mặt mũi bầm tím từng vùng thâm to
Nửa chiều dân đã giải vô
Tối về Hồng thấy hiểu ra sự tình
Động viên, an ủi chân thành
Cuộc đời kể lại cảnh tình nắng mưa.
Anh kia ngồi dậy liền thưa:
640- “Lúc đầu tôi nghĩ đã là vào đây
Bị người ghét bỏ đánh ngay
Không ngờ còn có anh đây thương tình
Tôi là người Huế tên Bình
Năm nay hai bảy học ngành phi công”
Hồng rằng: “Tôi thật cảm thông
Dù sao đi nữa cũng dòng Lạc Tiên
Chắc anh biết rõ hai miền
Hình như đánh lớn trận tiền đạn mưa”
Bình rằng: Cái tết vừa qua
650- Cộng sản bí mật bất ngờ đánh vô
Tết về tất cả mọi nhà
Nhân dân ở Huế bàn thờ dâng hương
Bỗng đâu súng nổ bốn phương
Người dân hoảng loạn vội vàng chạy vô
Những trẻ em, những người già
Cộng sản chặn bắt đánh tra mấy ngày
Rồi sau chúng đã thẳng tay
Đào hố chôn sống phanh thây nhiều người
Gần ba nghìn bị chôn vùi
660- Cụ già, em nhỏ hoạ tai đâu ngờ
Sau rồi quân đội quốc gia
Cùng binh lính Mỹ đánh ra thu hồi
Hồng rằng: “Ghê gớm sự đời
Thật là tàn ác thật trời không dung
Qua ngày sau đảng chuyển phòng
Anh Bình lệnh nhốt bị còng xà lim
Trần Hồng buồn thảm suốt đêm
Rõ là dân Việt anh em một nhà
Rõ là nồi thịt xáo da
670- Rõ là bất hạnh rõ là tang thương.
(còn tiếp)

Phạm Hồng Đức

“… Biết bao thảm cảnh oan sai, Dân kêu đảng cứ im hơi kệ mày. Khinh dân hơn cả chó cầy, Tuyên truyền đảng lại nói hay vô cùng …”
Việt Bắc thu đến đông sang
Núi rừng mây nghịt mù sương phủ dày
Chiều đêm gió lạnh heo may
Người tù áo rách gió bay phập phồng
Cắt da xé thịt nát lòng
Đêm về chăn chiếu, gối mùng đều không
Vậy nên chết đói nhiều ông
Người thì chết rét vô cùng thảm thương
Mác- Lê nin thật rõ ràng
680- Duy vật nên đã coi thường nhân sinh
Con người phủ nhận tâm linh
Tức là phủ nhận chính mình mà thôi
Cũng như xã hội loài người
Phủ nhận tư hữu thì đời còn đâu
Nếu như muốn có mạnh giàu
Tự do, dân chủ khởi đầu căn nguyên
Nhân sinh bình đẳng, bình quyền
Công bằng là lẽ tự nhiên ở đời
Rõ là cọng sản suy đồi
690- Rõ là đảng trị độc tài dốt ngu
Trần Hồng lòng những ưu tư
Đời bị oan uổng ở tù cũng hay
Trong cái rủi có cái may
Lẽ đời hiểu rõ tỉnh say rõ ràng
Nếu không đời mãi mơ màng
Làm ông cộng sản rồ càng rồ thêm
Cuộc đời dù được ấm êm
Phản dân hại nước biết điềm đau thương
Sử soi gương Nguyễn Tri Phương
700- Giữ thành thất thủ quyết đường tự quyên
Cùng bao nhiêu vị trung hiền
Dưới thời phong kiến danh truyền gần xa
Họ đâu có tội nhưng mà…
Cá nhân danh dự nước nhà Lạc Tiên
Trời sinh bản tính tự nhiên
Biết vinh, biết nhục, giận, hiền, ghét, yêu.

Mờ sương tiếng kẻng vang kêu
Người tù được đảng lệnh điều động ra
Trên bàn bình cắm đầy hoa
710- Tượng thần dân đảng ông Hồ bán thân
Lá cờ rũ gió đưa vần
Từng đoàn từng tốp công an xếp hàng
Vẻ trông thật đã nghiêm trang
Rồi sau đảng báo đau thương nước nhà
Ngày 3 tháng 9 hôm qua
Bác Hồ vĩnh biệt đi xa cõi trần
Bác đà từ giã nhân dân
Đi gặp Các Mác, Lê Nin của người
Tù nhân vài kẻ lễ rơi
720- Công an nhiều ả kêu trời khóc than
Hồng cười: “Đồ kẻ bất nhân
Nếu my chết yểu muôn dân phúc trời !

Xuân về cây lá đâm chồi
Muôn hoa khoe sắc đất trời hương bay
Gió đưa rung lá chuyển cây
Trời xanh xanh ngắt mây bay xanh trời
Bỗng đâu lại có thêm người
Ông ta dáng vẻ bề ngoài thản nhiên
Trán cao da sáng mắt huyền
730- Trông như Đức phật, như tiên giáng trần
Lạ thay sớm tối bữa ăn
Ông cầu lẩm nhẩm tinh thần an vui
Ngạc nhiên Hồng đón đưa lời
Rằng: “Ông sao cứ mãi ngồi cầu chi’ ?
Ông rằng: “Người có lương tri
Bản năng trời phú từ khi tạo thành
Tự do, tín ngưỡng, gia đình
Công bằng, tư hữu bẩm sinh lẽ đời
Thiên năng trời phú làm người
740- Loài người phát triển đất trời bình an
Con người yêu mỹ, thiện, chân.
Nhưng do lý trí chủ quan sai lầm
Tư duy nhận thức dễ nhầm
Sự đời xẩy đến tối tăm bất bình
Nhân sinh ơn có tâm linh
Nếu duy bộ óc có tình gì đâu
Thiếu áo cơm cũng khổ đau
Tâm thần rối loạn lo âu tiêu điều
Ông Hồ tôi cũng kính yêu
750- Cuộc đời vì nước lòng yêu nước nhà
Mơ hồ nhầm lỗi theo đà
Ông làm cộng sản sinh ra độc tài
Đường đi chống lại con người
Dân sao mà có được đời ấm no”
Hồng rằng: “Tôi đã hiểu ra
Thế thời nay bọn quỷ ma nắm quyền
Chúng là những lũ rồ điên
Thực dân ngu trị chuyên quyền tà ma
Mong ông tâm tỏ lời đưa
760- Ở đây ta có tự do cởi lòng
Sự thật chân quý vô cùng
Bạc tiền sách vở chắc rằng có chưa ?”
Rằng: “Tôi linh mục tên A
Cuộc đời trong chúa cậy thờ tin yêu
Linh hồn sau sẽ thoát siêu
Thiên thần đón rước về theo chúa trời
Hồng nghe cha nói liền cười
Chúa đâu có thầy chúa trời ở đâu? “
Cha rằng: Ý Chúa cao sâu
770- Loài người đâu dễ biết đâu chúa trời
Từ không chúa đã phán lời
Tạo thành vũ trụ muôn loài chúng ta
Ông A Dong, bà E Va
Hai người thuỷ tổ tạo ra lúc đầu
Con người chúa nặng tình sâu
Thường thường hiện tới cùng nhau chuyện trò
Yêu thương chúa đã dặn dò”
“Quả đào tiên cấm chớ mà có ăn”
Dối lừa con quỷ Sa Tăng
780- Xúi dục cám dỗ vô cùng xảo gian
E Va sau chút phân vân
Sau rồi đã hái đã ăn cùng chồng
Ăn xong họ biết trần truồng
Tự mình xấu hổ vội vàng đậy che
Con người từ đấy u mê
Sinh ra tội lỗi không nghe chúa trời “
Hồng rằng: “Chuyện ấy đúng sai
Cũng là chuyện của muôn đời cách xa”
Cha rằng: Trí tại ý ta
790- Những người tin chúa đâu ngờ thế đâu
Loài người bốn bể năm châu
Những người da trắng, da màu khác nhau
Cậy trông tin chúa nhiễm mầu
Triết gia, khoa học năm châu muôn người”
Hồng rằng: “Tôi đã biết rồi
Niềm tin chính ở lòng tôi mới là…
Chủ quan luôn ý tâm ta
Nếu không dù có nhưng mà là không”
Cha rằng: “Chúa trước vô cùng
800- Bây giờ hằng có vĩnh hằng chúa thôi
Yêu thương chúa xuống làm người
Đầu thai thánh nữ mẹ trời trinh nguyên
Bà không mắc tội tông truyền
Thiên thần cựu ước báo tin trước rồi
Ngôi hai xuống thế làm người
Mẹ sinh chăm dưỡng nuôi ngài lớn lên
Chúa đà rao giảng truyền tin
Cùng với các thánh đầu tiên tông đồ
Sinh ra chúa giống người ta
810- Cũng hồn cũng xác cũng da thịt người
Toàn năng chúa vẫn chúa trời
Tình thương cứu chuộc ngôi lời truyền tin
Toả lan lời chúa lan truyền
Đặt giao ước mới đức tin ở lòng
Ba ngày sau phút lâm chung
Chúa đà sống lại về trong nước trời
Bốn mươi ngày ở nhiều nơi
Phục sinh sau đã chúa trời hiện ra
Giáo dân bao thánh tông đồ
820- Đã nhìn gặp chúa đã sờ đã nghe
Nước trời sau chúa trở về
Thần học lịch sử chứng nghe thấy ngài
Những người chuyện trước qua rồi
Lưu còn vang mãi giáo lời truyền cho
Gió bay bao chuyện thời xưa
Ngàn sau lưu mãi sách đà sử trao
Hồng rằng: “Tôi thấy thế nào
Vì sao Thiên chúa nguyên sao làm người? “
Cha rằng: “Chúa có ba ngôi
830- Ngôi hai xuống thế làm người căn do
Con người tội lỗi xấu xa
Chúa thương chúa lại chuộc cho loài người”
Hồng rằng: ” Lịch sử ngàn đời
Các tôn giáo đã các thời đại ra
Có người tin có quỷ ma
Có người họ chẳng tôn thờ cái chi
Cha rằng: “Người có tư duy
Bí mật vũ trụ như thì trời đêm
Tư duy muôn nẻo kiếm tìm
840- Mịt mù đêm vẫn là đêm muôn đời
Một phát minh, một đề tài
Chỉ là ngọn đuốc giữa trời đêm đen
Tâm linh trời phú tự nhiên
Nhân sơ bản thiện niềm tin ở trời
Trần ai nhân loại muôn đời
Tôn giáo đưa lại cho người bình yên
Các tôn giáo ở các miền
Loài người tạo dựng xây nên thánh thần
Bản năng tín ngưỡng tự nhiên
850- Người xưa nghe tưởng dễ tin ngay liền
Tục xưa cha nối con truyền
Ở đời mấy kẻ căn nguyên truy cùng
Hồng rằng “mờ mịt biển sông
Nhưng tôi tin tưởng biết ông người hiền”
Cha rằng “Tất cả con chiên
Những người con chúa luôn tin yêu ngài
Mười điều răn của chúa trời
Đức tin giữ đạo luôn người hiền lương
Bản năng tín ngưỡng cậy trông
860- Niềm tin tôn giáo giữ lòng thẳng ngay
Tư duy mới được đủ đầy
Tin yêu cuộc sống hiền ngay chân tình
Thiện căn hoà thuận an bình
Cuộc đời chăm dưỡng tâm linh tinh thần
Cũng như thể xác cần ăn
Hàng ngày ta phải đủ phần mới an
Sống trong thế giới vô thần
Áo cơm đã đói tinh thần đói hơn
Sinh ra đau khổ lo buồn
870- Rõ là tai hoạ rõ nguồn thương đau”
Hồng rằng: “Cao thẳm biết đâu”
Lòng tôi xơ cứng như hầu chưa tin
Cha rằng: “Phúc được ơn trên
Chúa trời soi sáng tự nhiên cậy thờ
Biết bao văn sỹ triết gia
Học thông biết rộng nhưng mà tin đâu”
Dế kêu tiếng thảm đêm sầu
Canh dài trằn trọc đêm thâu ngọn ngành
Bao đêm khắc khoải sầu canh
880- Héo hon tiếng vượn âm thanh não lòng
Cuộc đời đôi lẽ có, không
Trăm năm mấy chốc cuối cùng là chi ?
Nhận thức từng bước tư duy
Ngọn đèn đêm tối biết đi đường nào
Hay là từ thấp lên cao
Quy luật tiến hoá nhiệm mầu thời gian
Khởi nguyên hạt bụi cỏn con
Hay là các hạt nơ ron ban đầu
Ba là vũ nổ từ đâu
890- Từ nguyên tử lớn khởi đầu chuyển sinh
Tế bào sau đã tạo thành
Dần dà vũ trụ thành hình có sao
Vật chất tự có có đâu
Con người cũng chẳng trước sau tự mình
Sinh ra cha mẹ dưỡng sinh
Dần dà khôn lớn trưởng thành lớn lên
Sắc màu muôn vẻ thiên nhiên
Tư duy nhận thức bí huyền nhiễm sâu
Lô gích khái niệm từ đâu
900- Thiên nhiên quy luật đi sâu kiếm tìm
Vậy thì ai trước đã đem
Đặt cho vũ trụ đầu tiên trước rồi
Tư duy duy chỉ con người
Loài vật cuộc sống muôn đời bản năng
Chị Hằng có ở cung trăng ?
Hay đây huyền thoại thực không có người
Khoa học mãi tiến xa rồi
Chị Hằng lên tới ra ngoài không trung
In tơ nét sự truyền thông
910- Cách xa ngàn dặm như cùng ngồi bên
Thế mà nhân loại đảo điên
Phải chăng nguồn gốc căn nguyên chưa tường
Tinh thần thiếu sự yêu thương
Thiếu thần khí sống khiêm nhường cậy trông
Ngắm nhìn đi ngược dòng sông
Có gốc có ngọn có dòng chảy ra
Mơ hồ ta chẳng biết ta
Cuộc đời hư thực, tìm dò biển sâu
Hồng càng suy nghĩ càng đau
920- Thôi thì nước chảy về đâu thì về
Hay đành kệ bến u mê
Tử sinh quy luật thấy nghe thường ngày
Gió đưa thì lá rung cây
Trời mưa thì lại giếng đầy đó thôi
Đau thương trăn trở đêm dài
Cha Điềm đảng đã chuyển dời xà lim
Suy tư chân thiện kiếm tìm
Rõ là đáy bể mò kim lẽ trời
Tư duy muôn nẻo đất trời
930- Khái niệm mâu thuẩn con người đặt ra
Ý thức nhỏ phải có to
Nếu không mờ mịt biết ra thế nào ?
Ngược xuôi, trên dưới, thấp cao
Nhận thức cần có không sao rõ ràng
Chủ quan chân bước lạc đường
Rõ là muôn lối mơ màng nhân gian
Con người dù kẻ tiểu nhân
Trăm lần mở miệng có lần nói hay
Thánh Nhân bụng chữ có đầy
940- Trăm lần truyền nói cũng sai ít lần
Cuộc đời gió bão nát tan
Thôi thì thôi kệ thế gian thế nhiều
Thân nay đã phận bọt bèo
Kệ thôi dòng nước trôi theo tháng ngày
Bỗng đâu xuất hiện đám mây
Có rồi lại mất sự này thế nao
Thân ta nay cũng to cao
Sau còn nắm đất tan vào nơi đâu ?
Pát Can luận đã có câu
950- Thật là chí lý rõ hầu tâm ta:
“Trái tim có những lý do
Bộ óc tiếp nhận óc ta chịu rồi”
Đức Khổng Tử vị thánh tài
Tư tưởng ông vẫn ông trời tôn suy
Cổ kim Âu, Á, Mỹ, Phi
Triết gia bao thuyết tư duy dò tìm
Duy vật rồi lại duy tâm
Đường đi muôn ngả dễ nhầm đúng sai
Khoa học thực nghiệm trả lời
960- Còn như triết học mọi người chủ quan
Rõ là trên cõi nhân gian
Hàng trăm tôn giáo trường tồn mãi thôi
Phật giáo, Công giáo, Đạo hồi
Tin lành, Chính thống, Cao đài, Hin đu
Thần tiên cũng lắm vị thờ
Việt Nam đời đã ông cha cổ truyền
Cúng thờ cha mẹ, Tổ tiên
Rõ là truyền thống đã tin có hồn
Chết về cát bụi mất luôn
970- Thật đời vô nghĩa đau buồn làm sao
Bỗng đâu Hồng lễ dâng trào
Cuộc đời đau khổ, gian lao được gì ?
Tiền tài danh vọng quyền uy
Hoàng lương giấc mộng nay thì về đâu ?
Đời là kẻ trước người sau
Có ai thoát được cái cầu thời gian
Làm sao có được bình an ?
Làm sao biết thực linh hồn trong ta?
đức tin kinh nghiệm khôn mua
980- Con người bản tính sinh ra tính trời
Bụi hồng duyên số nước trôi
Nhục vinh nhân quả luân hồi dương âm
Quả tim bằng nắm tay cầm
Cảm xúc, tức giận, âm thầm ghét yêu
Thường ngày bao việc, bao điều
Lòng ta xúc cảm hiện theo ngay mình
Giận tức đỏ mặt lôi đình
Yêu thích vui sướng sắc lành hiền vui
Nếu mà duy chỉ óc thôi
990- Làm sao có được tình người ghét yêu
Tiểu nhân tự đại, tự kiêu
Quân tử khiêm tốn quý yêu mọi người
Bộ óc là thịt thì ai
Chắc cùng bản tính, chắc tôi giống mình
Nhận thức khao khát ngọn ngành
Phân tích, tổng hợp cãi tranh luận bàn
Đi tìm chân lý khách quan
Bóng mờ nhân ảnh vẫn còn trong mơ
Vẽ chia hình chiếc bản đồ
1000- Chỉ là tương ứng người ta tạo thành
Nhà bác học Anh Xít Tanh
Với thuyết tương đối chứng minh đã rành
Châu Âu, Đức, Ý, Pháp, Anh
Nhiều nhà bác học trở thành triết gia
Lòng yêu tin chúa cậy thờ
Con người thân xác hồn là tâm linh
Nếu ta có một cái bình
Đựng con cá lượn vòng quanh vậy thì
Con cá sinh nước bình kia
1010- Hay là nước đã sinh ra cá bình
Ba là bình đã tự sinh
Cá và nước ở trong bình phải chăng ?
Bốn là chúng đã từ không
Thình lình tự có ở trong ngôi nhà ?
Rốt là chúng bởi người ta
Mua bình đổ nước rồi cho cá vào ?
Túi tôi không có một hào
Lấy đâu trăm bạc đút vào túi anh
Vậy thì thế giới vô sinh
1020- Lấy đâu sự sống tạo thành con voi
Rõ là Lê Mác nhầm sai
Triết học, kinh tế đều thời mu mơ
“Công nông biểu tượng đảng thờ”
Độc tài đàn áp thân cò u mê
Đặc quyền đặc lợi bao che
Những người của đảng đủ bề thối tha
Nhân dân đâu biết được mô
Bởi vì đảng cấm nói ra đảng tù
Báo đài, tạp chí văn thơ
1030- Đảng đều kiểm duyệt đều là đảng trao
Đảng, Bác đảng mãi đề cao
Dối lừa nói dối từ đầu đến đuôi
Làm cho muôn triệu con người
Tin đi theo đảng bởi lời phật ru
Canh sầu khắc khoải ưu tư
Jê Su đức chúa Jê Su thế nào
Cây đưa gió vút lao xao
Hồng nhìn non nước trời cao mây vần
Giá như tư tưởng canh tân
1040- Của Nguyễn Trường Tộ đại thần cùng Vua
Dưới thời Tự Đức đã qua
Vua Tôi thấu hiểu thì là giờ đây
Muôn dân sung sướng đủ đầy
Hai miền thống nhất tháng ngày chung vui
Tự do dân chủ đua tài
Dân giàu nước mạnh cuộc đời bình an
Lễ đâu bống lại chứa chan
Lòng Hồng nhớ vợ, nhớ con, nhớ nhà
Bởi đâu hoạ đến bất ngờ
1050- Cánh bèo nước chảy bây giờ nơi nao ?
Anh em cùng chị ra sao ?
Mẹ cha hương khói bấy lâu ai thờ ?
Ruột đau khúc xé tơ vò
Sự này ngày trước ai ngờ được đâu.

Phạm đà phòng chét chen nhau
Mấy ngày xe sắt từ đâu chở về
Có chừng vài chục xuống xe
Công an áp giải đưa về các lao
Có ông đến sổ Nam Tào
1060- Bước đi khập khiểng kêu gào khóc than
Có em mới độ trăng tròn
Vừa đi vừa khóc than van kêu trời
Phòng đơn lại chét thêm người
Một anh chừng tuổi ba mươi cao gầy
Thấy Hồng cất tiếng giơ tay
Hồng chào đáp lại nở ngay nụ cười
Anh ta trên áo khuy cài
Có treo bức tượng chúa trời Jê Su
Hồng rằng: “Anh phải ở tù”
1070- Chắc là cũng chẳng căn do cớ gì ?
Anh rằng: “Sự đến bất kỳ”
Tôi đang đọc sách tức thì chúng vô
Dương cao súng đã lên cò
Chúng đọc lệnh bắt thế là đưa đi
Đời tôi đâu có tội chi
Chăm sách dưỡng đạo nghề thì thợ xây
Thường ngày đi đó đi đây
Mọi người yêu mến tính hay vui đùa
Chủ nhật đi lễ nhà thờ
1080- Giáo dân nhiều xứ nay đà quen thân ?
Hồng rằng: “Tôi mãi phân vân
Chúa từ đâu đến khí thần là sao ?”
Vinh rằng: “Chúa chả từ đâu
Tự chúa chúa có trước sau có rồi
Tư duy lý luận con người
Làm sao hiểu được chúa trời ba ngôi
Tôi anh đồng loại con người
Hiểu nhau chưa dễ sự đời khó thay
Loài vật nuôi sống hàng ngày
1090- Gà mèo, chó lợn, trâu cày thường xuyên
Con người chúng chẳng biết tên
Cũng không biết được ta chuyên làm gì
Còn như tư tưởng nghĩ suy
Chúng càng đâu biết tý gì chúng ta
Người thì chỉ biết qua loa
Dáng hình màu sắc gọi là thế thôi
Biết đâu cảm giác vị mùi
Chúng thích, chúng ghét tanh hôi thế nào
Yêu thương tình chúa dạt dào
1100- Con người chúa mãi mời chào chúng ta
Lỗi lầm chúa sẽ thứ tha
Tin yêu mến chúa cậy thờ hiền ngay
Kẻ thù con chúa giang tay
Yêu thương chào đón luôn đầy thương yêu
Tôi dù là kẻ đói nghèo
Từ ngày học đạo đi theo chúa trời
Bình an trong Chúa an vui
Được làm con Chúa nước trời công dân”
Muôn hoa hương ngát mùa xuân
1110- Lòng vui Hồng thấy như xuân đã về
Tái sinh từ cõi u mê
Duyên trời chân đạo vâng nghe Chúa Trời
Chân tâm may mắn phúc đời
Nếu không cát bụi lại rồi bụi dơ
Tình người chung ý lòng ta
Đồng thanh tương khí chan hoà tin yêu
Vinh rằng: “Thế sự trớ trêu
Chu Mao nay đã gọi kêu mời chào
Những người thi đấu thể thao
1120- Thanh niên nước Mỹ đi vào Trung Hoa
Liền sau chuyện tiếp xẩy ra
Ních Xơn cùng Kít Xin Giơ qua Tàu
Thâm cung cùng nắm tay nhau
Không còn đối địch, đối đầu nữa đâu
Bắt tay Mỹ Trung bắt đầu
Dồn sức chống lại con tàu Liên Xô”
Hồng rằng: ” Nếu thế xẩy ra
Miền Nam người Mỹ cuốn cờ cho coi
Nước Mỹ bắt được con voi
1130- Tất nhiên họ nhả miếng mồi nhỏ hơn
Miền Nam thời thế bị dồn
Mất nguồn viện trợ mất nguồn ngoại giao
Miền Bắc chắc sẽ đánh vào
Việt Nam cộng sản trời trao cho quyền
Rồi đây thống nhất hai miền
Nhưng rồi thế cuộc tất nhiên rõ là
Việt Nam như ả đàn bà
Hai chồng lòng phải đắn đo khó chiều
Theo Trung Quốc chẳng dám theo
1140- Theo Liên Xô cũng trớ trêu sự đời
Bạn thù khôn biết chọn ai
Việt Nam cộng sản nước trôi khôn lường
“Tình đồng chí nghĩa máu xương”
Ngờ đâu thời cuộc chuyển sang thành thù
Rõ là cuồng vọng chí ngu
Biết mình chẳng biết bạn thù cũng không”
Cảnh tù vui bạn tương phùng
Hai người tâm trí đồng lòng cùng nhau
Lúc thì đảng cử trồng rau
1150- Lúc thì khe lội chăn trâu nuôi bò
Lúc thì chăm cá chăn gà
Lúc thì chặt củi chuyện trò thêm vui
Vinh rằng: “Khổng Tử thật sai
Kinh thư nho đạo con người trung nhân
“Vua quan phụ mậu chi dân”
Nguồn gốc tai hoạ chia phân loài người
Quan liêu tự ý độc tài
Vương thần chuyên chế hoạ tai dân nghèo”
Hồng rằng: “Thôi nói chi nhiều
1160- Việt Nam lịch sử muôn điều đắng cay
Ngoại xâm đã đủ tàu tây
Chiến tranh nội chiến hoen đầy máu oan
Cường hưng nhất đại nhà Trần
Nước nhà hạnh phúc nhân dân đồng lòng
Anh hùng đại thắng giặc Mông
Giang sơn độc lập núi sông vẹn toàn
Muôn dân cuộc sống bình an
Vua hiền Tôi giỏi tâm hồn Lạc Long
Trần Hưng Đạo đại anh hùng
1170- Vua TRần tài đức tấm lòng hiền lương
Trần Quang Khải tấm lòng vàng
Rõ là lịch sử một trang lẫy lừng
Nước non muôn vị anh hùng
Mọi người vì nước chung lòng vì dân”

Hoá công thời cuộc xoay vần
Quý Sửu nước Mỹ rút quân trở về
Tù binh người Mỹ hả hê
Từ đây thoát cảnh bốn bề tường vây
Miền nam chế độ lung lay
1180- Nhiều người biết trước rồi đây giặc vào
Thừa cơ Trung Quốc đem tàu
Dã tâm cướp nước đánh vào Hoàng Sa
Đội quân của Thiệu bị thua
Thế cùng Thiệu phải nước cờ kết liên
Lòng mong quân đội hai miền
Chung sức đánh bại bảo toàn núi sông
Hà Nội đã trả lời: Không !
Hoàng Sa từ đấy mất tong về Tàu
Miền Bắc cộng sản bắt đầu
1190- Đem quân đánh chiếm thọc sâu đánh vào
Pháo binh đạn bắn mưa rào
Xe tăng nhiều tốp ào ào chạy vô
Binh đoàn, sư bộ dương cờ
Bão ào khí thế vỡ bờ chẻ tre
Rõ là một lũ u mê
Giặc thì không đánh lại đè anh em
Đạn bom trút xả ngày đêm
Thiệu đành bỏ nước trao quyền cho Minh
Miền Nam dân nước tan tành
1200- Nhân dân chạy loạn hồn kinh hãi hùng
Người mất vợ, kẻ mất chồng
Người thì con mất chìm trong biển người
11 giờ ngày 30
Tháng tư một chín bảy mươi lăm thì
Sài Gòn cờ đỏ quốc kỳ
Đội quân của Thiệu suy vi tan tành
Tù nô lao cực đảng hành
Báo đài không có đêm thành đêm đen
Mặc đời bão táp mưa tuôn
1210- Ngày ngày đói khổ héo hon từng ngày
Lá cờ liềm búa gió bay
Phạm ra đảng xếp hàng ngay thẳng hàng
Công an từng tốp nghiêm trang
Quốc ca cất hát chuyển vang núi rừng
đảng đà thông báo “tin mừng”
“Miền Nam giải phóng lẫy lừng chiến công”
‘Việt nam quân đội anh hùng”
“Từ nay thống nhất sống trong hoà bình”
“Vĩnh viễn nay hết chiến tranh”
1220- “Đảng cộng sản mãi quang vinh muôn đời”
Nghe đảng nói, Hồng chỉ cười
“Nói hay cứ nói tao thời chả tin
Người Mỹ đâu có rồ điên
Bỏ người bỏ của tự nhiên rút về
Cuồng tin một lũ u mê
Thế thời đâu biết bánh xe ngược chiều

Rì rào nước chảy suối reo
Mây bay lơ lửng đua leo chân trời
Xuân qua hè trải nắng phơi
1230- Bính thìn đảng bỗng lệnh thời thả cho
Phân vân lòng những đắn đo
Giờ đây không cửa không nhà về đâu ?
Vợ con giờ sống nơi nao
Băn khoăn lo tính ngán ngao sự đời
Ra về lễ chảy trào rơi
Ly cách bịn rịn đất trời thương đau
Hồng rằng: “Anh ở còn lâu
Sự đời thời loạn biển sâu khôn lường
Nhớ thương chỉ biết ở lòng
1240- May sau gặp lại tương phùng có nhau”
Vinh rằng: “Bãi bể nương dâu
Giờ đây còn có biết sau thế nào”
Nghĩa tình ngày tháng thâm giao
Tương tri tình nghĩa lễ trào cách ly
Chiếc xe lăn bánh dời đi
Hồng nhìn non nước xanh rì trời mây
Hà thành lối ngõ trước đây
Tìm về nhà cũ có hay đâu ngờ
Tịch thu đảng đã phân cho
1250- Ông Côn ban phó trước đà việc công
Biết thôi thôi thế mặc lòng
Thế thời nay thế trách không được gì
Hồng liền vội bỏ ra đi
Tìm về ông nhạc nay thì biết tin
Thấy Hồng căm giận ông Biên
Đùng đùng quát lớn như điên ông gào
“Mày ngu chẳng biết hay sao!
Nhà tao đâu có người nào thế đâu !
Thôi ! Thôi ! mày cút cho mau !
1260- Vợ con mày đã chết lâu cả rồi” !
Hồng rằng: “Dù có qua đời
Mẹ cha cũng phải cho tôi hay tường
Để còn thờ phụng khói hương
Dù sao thì cũng tình thương vợ chồng”
Ông Biên nghe giận quát rằng:
“Mày con địa chủ cái dòng Việt gian
Tao nhầm nên đã gả con
Vì mày phận liễu héo hon gió vần
Nhà không có, chẳng có ăn
1270- Mẹ cha, chú bác xa gần lánh xa
Hành khất bị gậy nơi mô
Có chồng hại nước ai mà quan tâm
Cách đây độ khoảng dăm năm
Nghe tin bị ốm rồi nằm chết luôn
Hình như cả mẹ cả con
Tao đây biết thế thôi chuồn cho mau” !
Lòng Hồng nhức nhói tim đau
Ra đi giờ biết đi đâu bây giờ ?
Chợt lòng nhớ đến lời cha
1280- Hồng liền tìm đến nhà thờ xem sao
Gặp cha Hồng kể lễ trào
Cha rằng: “Có Chúa chẳng sao đâu mà
Hiện con không cửa không nhà
Tạm thời ở lại rồi lo tính dần
Ở đây con cứ chuyên cần
Học kinh đi lễ dần dần quen thôi
Lúc con sức khoẻ phục hồi
Lúc con đã thuộc các bài thánh kinh
Cùng cô chú bác chị anh
1290- Cha làm lễ rửa mới thành con chiên”
Mới đầu tương khí tự nhiên
Phúc trời ngộ cảnh tâm liền cảm vui
Đêm về đi lễ thật vui
Lúc quỳ lúc đứng lúc ngồi nghiêm trang
Chủ tế linh mục Cha Khang
Hồng nhìn biết Chúa, Chúa đang ở cùng
Hào quang Thiên Chúa sáng trưng
Nghĩ rằng ai cũng truy cùng thì hay
Vậy thì nhân loại giờ đây
1300- Anh em bốn bể chung xây một nhà
Nhân sinh quan, ý lòng ta
Chủ quan nhận thức mập mờ biển sông
Cửu tồn nhân nghĩa yêu thương
Muôn đời phẩm giá hằng thường mãi thôi
Mác Lê rõ quá sai rồi
Căm thù đảng dạy sục sôi căm thù
Lễ lâu độ khoảng hơn giờ
Nhà chung trai gái vui đùa đông vui
Đức Cha Căn lại cho mời
1310- Ân cần cha dặn những lời thâm giao
Cha rằng: Hoàn cảnh thế nào
Làm con của Chúa tin vào Chúa thôi
Tư duy lý luận con người
Chủ quan tương đối nhầm sai là thường
Nhân tâm con Chúa khiêm nhường
Kẻ thù cũng phải yêu thương như mình
Lòng luôn trong sáng công bình
Chớ vì quyền lợi vì danh hại người
Phù du là chốn trần ai
1320- Được về với Chúa muôn đời an vui
Nhà Chúa rộng cửa hẹp thôi
Tin yêu giữ đạo dễ ai được vào
Mười điều răn Chúa đã trao
Sáu điều giáo hội truyền giao cho mình
Lòng con luôn phải chân thành
Tin yêu thờ cậy thực lành mới nên
Khi con đã có niềm tin
Lòng luôn vui vẻ tự nhiên an bình”
Nghe đức Cha dạy chân thành
1330- Lòng Hồng vui sướng, chân tình trình thưa
Hồng rằng: “Con kính thưa cha
Cuộc đời đau khổ phong ba đủ điều
Mười mấy năm biết thêm nhiều
Lòng con nay đã tin yêu Chúa rồi
Thật là may mắn phúc trời
Nếu không luôn mãi là người dốt ngu”
Cha con vui chuyện vui trò
Mười giờ xin phép Hồng ra về phòng
đêm đầu tiên ở nhà chung
1340- Bình an vui vẻ Trần Hồng giấc say
Tinh mơ chuông vọng tiếng bay
Nam Hoa giấc điệp chẳng hay chỗ nào
Chợt đâu cha đã bước vào
Hỏi thăm Hồng ngủ thế nào đêm qua ?
Cuộc đời như ở trong mơ
Trước đây Hồng chả bao giờ biết đâu
Ngày qua, tuần đến tháng mau
Ba vòng nguyệt tỏ nặng sâu nghĩa tình

Duyên trời phúc đến thình lình
1350- Cha Can ở xứ Bắc Ninh về Hà
Giáo dân nhiều chị cũng qua
Áo quần sắc áo sương pha bạc màu
Hồng ngồi ở trước sân sau
Gót sen hình dáng như hầu là Hương
Chàng liền đứng dậy nhìn sang
Gọi Hương Hương đứng nhìn chàng ngờ đâu
Hai người ôm chặt lấy nhau
Bâng khuâng sung sướng lễ trào trào dâng
Giáo dân cha thấy vui mừng
1360- Tình riêng đồng cảm vui chung cộng đồng
Chiếc ghế đá cạnh bóng hồng
Kề vai tâm sự vợ chồng bên nhau
Hồng rằng: “Mơ chẳng thấy đâu
Cuộc đời tù tội khổ đau quá nhiều
Lòng riêng tình nặng thương yêu
Nghĩ đời cay đắng bọt bèo nước trôi
Tưởng chắc xác gửi quê người
Tổ tiên nhân đức phúc trời cháu con”
Hương rằng: “Thân liễu cánh chuồn
1370- Phúc nhà may gặp Cha Can người hiền
Con và em phải ăn xin
Hoạ vô đơn chí triền miên ốm dài
Đang lúc sắp chết hắt hơi
Cha cho người đến tức thời đem vô
Rồi sau cho gọi Thầy Khoa
Thầy là bác sỹ nên đà chữa cho
Dần dà em đã khoẻ ra
Thương tình bác đáng tìm cho việc làm
Chuyện qua nay đã dăm năm
1380- Bây giờ tạm ổn lòng cam phận đời
Nương nhà dù nhỏ bé thôi
Nhưng lòng vui vẻ an vui tinh thần
Con thì mạnh khoẻ chăm ngoan
Thông minh học giỏi cha Can đỡ đầu
Nhớ thương bao nỗi lo sầu
Nhưng em luôn mãi trước sau tin là
Cầu xin Chúa, Chúa sẻ cho
Hôm nay đoàn tụ đâu ngờ hôm nay”
Sân nhà thờ lá vàng bay
1390- Gió đưa cây hát trời mây lửng lờ
Quá trưa cha gọi mời vô
Vợ chồng vui sướng nghe cha dặn dò
“Gương xưa đã vỡ tan ra
Chúa thương yêu quý Chúa cho lại lành
Các con sâu nặng nghĩa tình
Đoàn viên hội ngộ gia đình chung vui
Thật là phúc đã mấy ai
Thật là đã chết lại hồi phục sinh
Hai con chưa lễ tác thành
1400- Anh Hồng phép sửa ơn lành cũng chưa
Chiều nay cùng trở về nhà
Đi qua bên đó có Cha Can rồi”
Hồng rằng: Đời thật mấy ai
Đã chìm bể ải tái lai thấy trời
Vầng dương Thiên Chúa sáng soi
Nhận ra chân lý cuộc đời cậy trông”
Chiều thu phai nhạt nắng hồng
Đất người quê mới lòng mong trở về
Đông vui trò chuyện trên xe
1410- Hồng nhìn non nước đồng quê bạc màu
Rõ là đất nước thương đau
Bom cày đạn xới đâu đâu cũng còn
Xe vừa dừng bánh thì con
Chạy ra đón mẹ tâm hồn hồn nhiên
Hồng liền vội xuống xe liền
Nhìn Hồng nó lạ ngạc nhiên ngập ngừng
Hương rằng: “Bố đấy con cưng
Người mà mẹ đã chờ trông từng ngày”
Hiểu ra con vội dang tay
1420- Hồng ôm máu nghẹn lễ đầy sướng vui
Về Hương đi chợ một hồi
Bữa cơm tối đó khách mời vài mâm
Cha Can, Bác Đáng, Chú Tâm
Thầy Khoa, anh Hải, cô Nhâm, chị Nhường
Mái nhà tranh nặng tình thương
Đoàn viên lời phúc vui càng đông vui
Gần xa biết đã đến chơi
Thật là vinh hạnh tình người Chúa cho
Tiếng chuông vang vọng ngân xa
1430- Tiếng chuông vang mãi tan hoà trong không
Tiếng chuông vang mãi vô cùng
Tiếng chuông thức tỉnh cõi lòng trần ai
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”
Bởi đâu nhân loại lỗi lầm
Phải chăng nhận thức lạc nhầm lối đưa
Nhà thờ điện chiếu sáng loà
Trên bàn hoa cắm màu hoa muôn màu
Chúa đóng đinh bởi vì đâu ?
1440- Phải chăng vì Chúa thâm sâu nặng tình
Đầu thai Chúa chịu cực hình
Tình thương cứu chuộc tâm linh loài người
Chúa chúng ta chết thật rồi
Ba ngày sau lại tái hồi phục sinh
Toàn năng Thiên Chúa anh linh
Phục sinh Chúa đã phục sinh xác hồn
Ngôi Chúa cha, ngôi Chúa con
Cùng ngôi Thiên Chúa thánh thần ba ngôi
Hằng còn hằng có đời đời
1450- Tình yêu Chúa toả thương người hiếu sinh
Mây bay non nước trời xanh
Sao đua lấp lánh long lanh sáng ngời
Căn phòng nhỏ, bóng trăng soi
Hồng ôm lấy vợ lòng hồi hộp thay
Hương rằng: ” Đã biết bao ngày
Đêm buồn thương nhớ lòng đầy khát khao
Nhiều đêm lệ ứa dâng trào
Nghĩ đời tủi phận ruột bào tâm can
Mẹ cha dù vẫn vẹn toàn
1460- Lập trường cọng sản căm hờn địch ta
Anh em lo sợ lánh xa
Nghĩa tình máu mủ rõ là nước trôi
Nhiều lúc em giận ghét đời
Muốn quyên thân lắm nhưng rồi thương con
Nếu không may gặp Cha Can
Chắc là cả mẹ cả con đi rồi”
Hồng rằng: “Cộng sản nhất thời
Cơn cuồng phong đã gây tai hoạ nhiều
Còn người còn có thương yêu
1470- Còn người còn có đói nghèo khổ đau
Nhưng mà các nước Mỹ Âu
Đa đảng dân chủ, dân giàu văn minh
Buộc lòng các đảng đua tranh
Pháp luật đảm bảo thi hành luật chung
Bộ ngành quyền rõ phân công
Ban nào việc nấy tận lòng nước non
Còn như đảng trị độc tôn
Muôn dân trâu ngựa, trái oan chất chồng”
Quỷ ma thời đại bất công
1480- Công an lệnh đảng canh phòng dõi tra
Thế rồi lệnh đảng bắt ra
Lệnh đảng ban xuống khám nhà niêm phong
Hương thấy chồng bị tay còng
Nổi gan tức giận nàng lùng tìm dao
Hương rằng: “Bay bắt chồng tao
Tao quyết liều chết ra sao mặc lòng”
Giáo dân nghe biết cả làng
Chạy ra ngăn cản khuyên nàng tĩnh tâm
Công an mặt sắt hằm hằm
1490- Có thằng có súng toan cầm súng lên
Giáo dân thấy thế ồ lên
Hô hào phản đối họ bèn xông vô
Rõ là một lũ côn đồ
Hại dân hại nước điên rồ giết dân
Nửa chiều may có ông Toan
Trước cùng trên Bộ cùng ban tỏ bày
Đi qua chợt thấy vào ngay
Đầu đuôi ông hỏi tỏ hay sự tình
Ông Toan tìm gặp ông Canh
1500- Mặt mèo, mắt cú trưởng ngành công an
Thế là lệnh đảng lại ban
Trả nhà, trả cửa tha luôn Hồng về
Đoạn trường muôn nỗi tái tê
Độc tài gây hoạ kinh ghê sự đời
Bị oan bị đảng tù rồi
Thế mà đảng vẫn muốn đòi tù thêm
Nhân dân đảng đã nhấn chìm
Bây giờ đảng lại muốn dìm bùn đen
Nông dân hợp tác xã viên
1510- Công vài lượng lúa đói hèn khổ đau
Công nhân lương chỉ cháo rau
Cuộc đời trâu ngựa khổ đau suốt đời
Biết bao thảm cảnh oan sai
Dân kêu đảng cứ im hơi kệ mày
Khinh dân hơn cả chó cầy
Tuyên truyền đảng lại nói hay vô cùng
“Liên minh giai cấp công nông
Kết đoàn trong đảng tiên phong anh hùng”
“Cần kiệm, liêm chính, chí công”
1520- Lời phật khẩu hiệu nhưng lòng dạ lang
Làm một nẻo, nói một đàng
Rõ là ma quỷ huyênh hoang lừa người
Chuyên quyền đảng trị độc tài
Nhưng hô “đày tớ” suốt đời vì dân

1525- Cây chồi nảy lộc sang xuân
Dần dần Hồng đã dần dần thuộc kinh
Cha làm lễ rửa ơn lành
Cùng phép hôn phối tác thành lứa đôi
Lòng Hồng sung sướng an vui
1530- Từ nay người mới Chúa soi sáng lòng
Vầng dương sáng toả ánh hồng
Thần khí sự sống Chúa trong xác hồn
Cuộc đời trách nhiệm cao hơn
Gia đình Giáo hội chu toàn bản thân
Tính lo công việc chuyên cần
Bán buôn Hồng đã kiếm ăn đủ ngày
Một năm sau chàng đã xây
Ngôi nhà nho nhỏ tường vây hàng rào
Đêm về kinh thánh gối đầu
1540- Vợ cùng chồng đọc cùng nhau luận bàn
Lúc thì bày dạy khuyên con
Lúc thì đi đến Cha Can chuyện trò
Lúc thì vui chuyện anh Khoa
Lúc thì bè bạn chung hoà anh em
Bình an cuộc sống êm đềm
Nhưng Hồng luôn nhớ Cha Điềm, anh Vinh
Xa cách đâu biết sự tình
Chàng cho vợ biết một mình lên thăm
Tang tóc bao cảnh thương tâm
1550- Cha Điềm đảng đã giam cầm chết luôn
Anh Vinh đau ốm gầy mòn
Thế mà cộng sản đảng còn chưa tha
Anh Vinh có tội chi mà
Đảng tù giam mãi thật là trái oan
Đau thương dòng lễ chứa chan
Vinh rằng: “Tôi chắc chả còn sống lâu
May chi còn gặp kiếp sau
Làm con của Chúa khổ đau xem thường
Dưới thời Tự đức đau thương
1560- Ba mươi mốt vạn rõ ràng chết oan
Độc tài đảng trị ác hơn
Vậy thì đã rõ nguồn cơn đã rành
Giáo dân muôn họ ơn lành
Cuồng phong cây đứng toả cành lớn mau
Ở trong tai hoạ thương đau
Con người mới biết vàng thau rõ ràng”
Hồng rằng: “Anh thật khác thường
Cuộc đời tin Chúa tấm lòng kiên trung”
Vinh rằng: “Đời có như không
1570- Nếu luôn khắc khoải vấn lòng thì hay
Bây giờ có thực ta đây
Mai rồi cát bụi đời này được chi
Từ không mây bóng khuất thì
Nếu không có Chúa còn gì về sau “?
Hai người ôm chặt lấy nhau
Thời gian thoi vút như hầu trôi nhanh
Hồng trao chiếc túi nghĩa tình
Chút quà mọn nhỏ chân tình Hồng thưa:
“Nếu anh còn sống được tha
1580- Viết thư báo trước thì là tôi lên
Bạn lòng tình bạn hữu duyên
Tương tri mấy kẻ, bạn hiền mấy tay.

(còn tiếp)

 

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.