Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 6, 2008

Lê Minh: CSVN âm mưu xóa sổ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

Lê Minh

Tin Hoà thượng Thích Huyền Quang, Ðệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất (GHPGVNTN) qua đời hôm qua ngày 5 tháng 7 là cái tin buồn không riêng cho hàng ngũ chức sắc Phật giáo, Phật tử Việt Nam, mà còn là cái tang chung cho dân tộc Việt Nam, bởi vì ngài là lãnh tụ của một giáo hội bị CSVN liên tục trù dập, đàn áp, và ngài còn là hình ảnh của nhân từ bác ái, đối kháng với bạo quyền, không chấp nhận sự áp đặt việc chính trị hóa Giáo hội PGVNTN.

Trong thời gian gần đây, tình hình sức khỏe của ngài suy sụp. Đoán biết trước sự ra đi của ngài, cách đây mấy hôm các báo chí quốc doanh theo chỉ thị của Ban Tôn giáo và Ban Tư tưởng Trung ương đã đồng loạt “khai hỏa”, tấn công Giáo hội PGVNTN. Mở màn là Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN), cái loa của chế độ, rồi kế đến là màn “hội đồng” của các tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Quân đội Nhân dân, VietnamNet, Lao Động,… với cùng một văn phong (đương nhiên là “sao y bản chánh”), đã lần lượt tố khổ, bôi nhọ giáo hội bằng những ngôn từ lật lọng, đổi trắng thay đen không thể tưởng tượng được.

Bài viết trên các tờ báo này đã sử dụng cùng một phương châm: tâng nịnh HT. Thích Huyền Quang, trong khi nói xấu để tìm cách chia rẽ các thành viên trong hàng giáo phẩm và luôn tìm cách đánh đổ tính chính danh của Giáo hội PGVNTN.

Theo Giáo sử thì Giáo hội PGVNTN là tổ chức hợp nhất các giáo phái Phật Giáo VN, được hình thành vào tháng 1 năm 1964, với vị Đệ nhất Tăng thống (1964-1973) Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Đệ nhị Tăng thống (1973-1979) Hòa thượng Thích Giác Nhiên (1878-1979), Đệ tam Tăng thống (1979-1991) Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905-1991) và kế đến là Đệ tứ Tăng thống (1991-2008 ) Hòa thượng Thích Huyền Quang (1919-2008 ) vừa viên tịch.

Trong suốt quãng thời gian gần nửa thế kỷ ấy, Giáo hội PGVNTN đã trải qua nhiều thăng trầm. Sau biến cố 1975, Giáo hội đã chịu sự trù dập đàn áp cay nghiệt của chính quyền CSVN. Năm 1981, để dễ bề cai quản, nhà nước CSVN đã cho thành lập Giáo hội Phật Giáo VN, và cũng để khai tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vì Giáo hội không chịu đặt mình dưới sự chỉ đạo chính trị của nhà nước CSVN thông qua Mặt trận Tổ quốc, một công cụ của Đảng CSVN.

Bản thân Hòa thượng Thích Huyền Quang cũng phải chịu nhiều trù dập bắt bớ, đặc biệt là kể từ khi ngài phải tiếp nối con đường của cố đại lão HT. Thích Đôn Hậu, gánh vác trách nhiệm của Giáo hội PGVNTN trong cương vị giáo chủ. Ngài đã nhiều lần bị chính quyền bắt bớ, giam cầm, quản chế tại gia, tại Tu viện Nguyên Thiều, ngăn cản không cho đi lại. Suốt những năm đầu của thế kỷ 21 này, chịu nhiều áp lực của dư luận, và chính khách quốc tế, thủ tướng CSVN Phan Văn Khải khi đó đã phải tiếp Ngài ở Hà Nội. Ngài đã đặt vấn đề yêu cầu nhà nước CSVN trả lại cho Giáo hội PGVNTN chính danh và quyền hợp pháp, thế nhưng Phan Văn Khải cũng chỉ ầm ừ hứa cuội cho qua chuyện.

Trở lại với việc các tờ báo và cơ quan truyền thông quốc doanh lợi dụng tình huống hiểm nghèo của Giáo hội PGVNTN để gây xáo trộn, TTXVN đã lố bịch khi cho rằng các chức sắc của Giáo hội PGVNTN toan tính “giành quyền tổ chức tang lễ” cho chính vị lãnh đạo của mình. Cái loa Thông Tấn Xã này còn nhai lại sáo ngữ quen thuộc khi cho rằng chính quyền địa phương đã “chỉ đạo” việc chăm sóc cho Hoà Thượng tại bệnh viện. Thì ra, tại Việt Nam hiện nay, chỉ khi nào có sự “chỉ đạo” đặc biệt của chính nhà nước thì bệnh nhân mới được chăm sóc đàng hoàng, chứ không như tại các nước văn minh khác, một khi bệnh nhân được đưa vào bệnh viện thì các bác sĩ y tá đều phải hết mình cứu chữa, dù đó là một tội nhân, chứ chưa nói là một vi cao tăng được trọng vọng như trường hợp của đại lão HT. Thích Huyền Quang.

Nếu sự quan tâm ưu ái này là có thật thì rõ ràng đó là một mưu mô có tính toán dưới bàn tay “chỉ đạo” đầy lông lá của nhà nước CSVN. Bản thân HT. Thích Huyền Quang đã từng bị tù đày, vu vạ, quản chế không được đi lại tự do. Nhớ lại hồi năm 1992, trưởng ban Dân vận khi đó là Phan Văn Tánh đã ra chỉ thị mật về việc “Huyền Quang và số phần tử hoạt động chống đối”, để lệnh cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam (quốc doanh) phải triệt hạ uy tín ngài.

Cách đây mấy năm, khi ngài và phái đoàn phật tử trên đường đến Lương Sơn gần thành phố Nha Trang, thì bị công an chận bắt. Sau đó các cán bộ Mặt trận Tổ quốc và công an thay phiên nhau khám xét thân thể và hỏi cung ngài suốt hơn 8 tiếng đồng hồ.

Thử hỏi chỉ với hai ví dụ điển hình trong một quãng thời gian gần như vậy, có lý nào nhà nước CSVN lại thay giọng đổi tánh nhanh như vậy?

Chính nhà nước CSVN đã quản thúc ngài suốt nhiều năm và ngăn cản sự đi lại của ngài, vậy mà TTXVN đã ngậm máu phun người, trân tráo lật lọng khi lập luận rằng các thị giả hầu cận của ngài là những người đã được Giáo hội PGVNTN cử ra để quản thúc ngài. Thật là nực cười không thể chịu nổi!

TTXVN còn cho rằng các chức sắc Giáo hội PGVNTN lợi dụng tình huống này để “công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp mang tên Giáo hội PGVNTN”. Đây là một lập luận ấu trĩ, vì chưa bao giờ trong lịch sử Giáo hội của mình, Giáo hội PGVNTN phải nhờ đến một nhà nước, chính quyền nào hợp pháp hóa danh xưng tổ chức của mình. Giáo hội PGVNTN đã hiện diện và tồn tại từ trước năm 1975, và hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại mặc dầu CSVN đã và đang ra sức thủ tiêu, xoá bỏ sự hiện diện của giáo hội.

Khi đem so sánh Giáo hội Phật giáo VN (quốc doanh) với Giáo hội PGVNTN thì tờ Quân đội Nhân dân đã hớ hênh khi nói rằng Giáo hội Phật giáo VN (quốc doanh) “tuy thụ động, nhưng vẫn tốt”. Đương nhiên, lúc nào Giáo hội Phật giáo VN cũng “thụ động” bởi vì nó là giáo hội quốc doanh, do Đảng CSVN nặn ra và chịu mọi điều khiển sai bảo của Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc. Một giáo hội như vậy thì không thể là một giáo hội chân chính, phục vụ giáo đồ mà đã bị chính trị hoá tận gốc để phục vụ Đảng CSVN.

Trở lại với câu chuyện cứu trợ dân oan vào năm ngoái, khi thầy Không Tánh được Giáo hội PGVNTN công cử ra tận Hà Nội để trao tiền cho dân oan tại trụ sở khiếu kiện ở 110 Cầu Giấy, thì liền bị “5,6 anh công an ở ngoài lao vào, … và giật lấy … bì thơ trên tay” (lời phỏng vấn thầy Không Tánh trên RFA ngày 25/05/2007). Thầy Không Tánh sau khi bị đích thân thứ trưởng công an Nguyễn Văn Hưởng chất vấn, liền bị giải giao về lại Sài Gòn. Ấy thế mà TTXVN lại báo cáo láo rằng thầy Không Tánh được tự do đi lại để cứu trợ dân oan. Láo đến thế là cùng!

Tu viện Nguyên Thiều, nơi Ðức Tăng thống Th�ch Huyền Quang bị quản thúc

Tu viện Nguyên Thiều, nơi Ðức Tăng thống Thích Huyền Quang bị quản thúc

Tu viện Nguyên Thiều, nơi Ðức Tăng thống Thích Huyền Quang bị quản thúc

Với tư cách là vị giáo chủ Giáo hội PGVNTN, và cũng là người sáng lập ra Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định), Hoà thượng Thích Huyền Quang chắc hẳn phải có rất nhiều đệ tử, học trò, không riêng gì số tăng ni phật tử của Giáo hội PGVNTN, mà còn cả một số tăng ni hiện đang sinh hoạt trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam (giáo hội quốc doanh). Nhất định ảnh hưởng của ngài đến phật tử và các tăng ni của cả hai giáo hội rất lớn. Lễ tang của HT. Thích Huyền Quang chắc chắn sẽ thu hút đông đảo chư tăng và phật tử tham dự. Do đó, nếu đám tang này do Giáo hội PGVNTN đứng ra tổ chức thì sẽ là mối lo cho nhà nước CSVN.

Nhưng nếu không phải Giáo hội PGVNTN đứng ra tổ chức thì ai có thể tổ chức đây? Không lẽ Giáo hội quốc doanh hay nhà nước đứng ra tổ chức sao? Một ông cụ vừa qua đời thì đám tang của ông cụ sẽ phải do chính con cháu mình tổ chức, chứ không lẽ là do hàng xóm tổ chức? Sao lại có chuyện vô duyên thế!

Nếu giành giật không được thì chắc chắn nhà nước sẽ quan tâm “chỉ đạo” cho công an đủ loại màu sắc, trùng trùng điệp điệp hiện diện tại tang lễ của Hòa Thượng vào ngày 11 tháng 7 này. Đó là điều mà nhiều người đã nghĩ đến.

Với sự ra đi của HT. Thích Huyền Quang, CSVN đang một lần nữa âm mưu xóa sổ dứt điểm Giáo hội PGVNTN. Do đó, việc CSVN mới đây đã ra lệnh cho báo chí quốc doanh tung chiến dịch vu khống HT. Thích Quảng Độ, chia rẽ nội tình giáo hội là điều dễ hiểu. Bởi vì Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, vị lãnh đạo tinh thần hàng thứ hai của giáo hội sẽ là vị kế thừa công việc dang dở của Ðệ tứ Tăng thống Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang.

Xin nguyện cầu cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị Ðệ ngũ Tăng thống của Giáo hội, tiếp tục cầm lái con thuyền Giáo hội PGVNTN vượt qua cơn giáo nạn.

Lê Minh
Sydney ngày 6 tháng 7 năm 2008

(TNTD DC)

June 29, 2008

Báo chí Việt Nam nói gì về sự kiện Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ

Báo chí Việt Nam nói gì về sự kiện Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ

Sự kiện Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ đang là đề tài quan tâm hàng đầu của báo chí Việt Nam trong vài hôm nay. Từ chuyện vấn kế cựu chủ tịch Cục Dữ trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan đến việc điện đàm với ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa John McCain và đỉnh điểm là hội đàm cùng tổng thống Bush. Một sự kiện khác cũng khá quan trọng là việc báo Time phỏng vấn Nguyễn Tấn Dũng mà báo Vietnamnet dịch lại. Tuy nhiên, như một thông lệ, Vietnamnet dịch lại các câu phỏng vấn trừ hai câu hỏi. Một câu về vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Việc Vietnamnet không dịch câu này dù sao còn có thể hiểu được vì trong ngôn ngữ báo chí Việt Nam hai từ “nhân quyền” và “tự do tôn giáo” là các từ đã được liệt kê trong danh mục cấm đề cập. Nhưng việc Vietnamnet không dám dịch và đưa câu hỏi thứ hai thì thật tệ. Đó là câu hỏi về việc bắt hai nhà báo và câu trả lời của Thủ tướng.

Báo chí Việt Nam không những không còn dám lên tiếng về việc nhà báo bị bắt, mà thậm chí còn không dám đăng lại việc nhà báo nước ngoài hỏi han Thủ tướng Việt Nam về việc này. Liệu từ “tham nhũng” có sắp được bổ sung vào danh mục các từ bị cấm đề cập cho 700 tờ báo, tạp chí ở Việt Nam không?

Nhưng Vietnamnet vẫn khá hơn Tuổi Trẻ và Thanh Niên, hai tờ báo có phóng viên bị bắt, không thấy đề cập gì tới bài phỏng vấn thủ tướng Dũng trên Time, dù Tuổi Trẻ có trích dịch bài trên Time.

Hai câu hỏi và trả lời bị lược bỏ:

“The arrest of two reporters who covered a high-profile corruption scandal within the transport ministry has been seen as a blow against anti-corruption efforts. (Vụ bắt giữ hai nhà báo đã tường thuật về vụ xì-căng-đan tai tiếng trong bộ giao thông vận tải được xem như một đòn đánh vào các nỗ lực chống tham nhũng) ***

The arrest of the two journalists has nothing to do with the fight against corruption. Vietnam is a rule-of-law state, in which all citizens are equal before the law, protected by the law and their violations shall be punished in accordance with the law, no matter who they are. (Vụ bắt giữ hai nhà báo không dính dáng gì đến công cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Việt Nam là một nhà nước pháp trị, trong đó tất cả các công dân đều bình đẳng trước pháp luật và những phạm pháp của họ sẽ bị trừng phạt theo luật pháp, kông cần biết họ là ai) ***

The U.S. State Department has removed Vietnam from its list of countries that it says are violating religious freedom. Do you think Vietnam can make similar progress on other human rights issues? (Bộ Ngoại giao Hoà Kỳ đã tháo gỡ Viêt Nam khỏi một danh sách các quốc gia, mà theo họ thì đang vi phạm tự do tôn giáo. Ông có nghĩ là Việt Nam có thể thực hiện được một tiến bộ tương tự về các vấn đề nhân quyền khác không?) ***

It is [the government's] top priority to respect and protect human rights, seeing the people as a central factor for achieving sustainable development and the goal of building Vietnam into a strong country with wealthy people and a just, democratic and civilized society. Vietnam stands ready to talk with the U.S. on issues of mutual concern. The U.S. side has acknowledged positive progress in Vietnam. I am convinced that we need to increase contacts and dialogues in order to enhance mutual understanding on issues of differences.”

(Ðó là ưu tiên hàng đầu của chính phủ nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, coi nhân dân là một nhân tố trọng tâm để đạt đến một mức phát triển có thể tồn tại được và mục tiêu để xây dựng Việt Nam thành một quốc gia dân giàu nước mạnh và một xã hội công bình, dân chủ, văn minh. Lập trường của Việt Nam là sẵn sàng bàn thảo với Hoa Kỳ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm. Phía Hoa Kỳ đã thừa nhận những tiến bộ tích cực của Việt Nam. Tôi tin chắc rằng chúng ta cần phải gia tăng gặp gỡ và đối thoại nhằm mục đích để tăng cường thêm sự hiểu biết lẫn nhau về các vấn đề khác biệt”) ***

Bài trên Time
Vietnam’s Prime Minister Tackles Inflation

Bài trên Vietnamnet
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời phỏng vấn của Time

Cũng có một câu trả lời khác của Nguyễn Tấn Dũng bị lược mất một ý quan trọng liên quan tới vai trò của công chúng và của báo chí trong chống tham nhũng.

Câu hỏi:- Thưa ông, khi đảm nhận cương vị Thủ tướng, ông có tuyên bố một trong những mục tiêu cơ bản của ông là chống tham nhũng. Ông sẽ làm gì để tiếp tục cuộc chiến này?

Ý bị lược bỏ: “And we also need to improve the publicity and transparency in corruption cases in order to better involve the public, including the mass media, in the fight.”

” …Và chúng tôi cũng cần phải cải thiện tính công khai và minh bạch của các vụ tham nhũng nhằm đưa công chúng, bao gồm các phương tiện thông tin và truyền thông, tham gia tốt hơn vào cuộc chiến này.

Vụ bắt giữ hai nhà báo (của báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên) mới đây liệu có bị coi là một đòn giáng vào những nỗ lực chống tham nhũng, thưa ngài?

“Vụ bắt giữ hai nhà báo không liên quan gì tới cuộc chiến chống tham nhũng. Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, trong đó mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ và những hành vi vi phạm của họ sẽ bị trừng phạt theo pháp luật, bất kể họ là ai”.

Câu hỏi về tôn giáo và nhân quyền thì Nguyễn Tấn Dũng đã có sẵn câu trả lời quen thuộc.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước mà họ cho là vi phạm tự do tôn giáo. Ngài có nghĩ là Việt Nam có thể đạt được những tiến bộ tương tự trong vấn đề nhân quyền?

“Ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam là tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, coi con người là nhân tố trung tâm trong việc phấn đấu đạt tới sự phát triển bền vững và trong mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Việt Nam luôn sẵn sàng đàm phán với Hoa Kỳ về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Phía Hoa Kỳ đã công nhận những tiến bộ tích cực ở Việt Nam. Tôi tin rằng chúng ta cần tăng cường liên lạc và đối thoại để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong những vấn đề khác biệt.”

*** phần tiếng Việt do TNTDDC lược dịch

Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-FuoEs40yd6RRny_PYSPvm1VnOVpUuw–?cq=1


vietnamnet_2008_06_NTD_traloi_pv_times.pdf  http://www.mediafire.com/?3l1zml9ozux

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 3: Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 3

Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài
“Thà phụ người còn hơn để người phụ ta”
Phương-châm xử-thế của
Tào Tháo trong Tam Quốc Chí.

Chương 6

BẦN-CÙNG-HÓA TOÀN DÂN

Sau khi ông Hồ vi hành sang Bắc-Kinh về thì hành động đầu tiên của ông là ban hành “Thuế Nông Nghiệp” một thứ thuế đã áp dụng ở Trung-Hoa từ hai năm trước. Cả Trung-Cộng lẫn Việt-Cộng đều khoe khoang rằng chính sách thuế khóa của họ vừa giản-dị vừa hợp tình hợp lý nhất, hơn tất cả mọi hình thức thuế từ xưa đến nay. Kể ra so với các thứ thuế của Pháp ở Ðông-Dương và của Quốc-dân-đảng ở Trung-hoa thì thuế của Cộng-sản quả có giản-dị thật, vì Cộng-sản chỉ đặt có năm thứ thuế: thuế nông-nghiệp, thuế công-thương-nghiệp, thuế sát-sinh, thuế lâm-thổ-sản và thuế xuất-nhập cảng.

Vì Việt Nam là một nước căn-bản nông-nghiệp nên dĩ nhiên thuế nông-nghiệp là thuế chính. Thứ nhì là thuế công-thương-nghiệp đánh lên đầu một số thương-gia và thủ-công-nghiệp kiếm sống theo lối lấy công làm lãi. Thuế sát-sinh cũng chẳng được là bao vì thiếu trâu bò cày nên không được phép làm thịt. Tuy nhiên, mặc dầu thiếu đến nỗi ở nhiều nơi người phải kéo cày thay bò, Việt Minh cũng cho phép “xuất cảng” một số bò đực vào trong vùng Pháp chiếm đóng để đổi lấy một vài thứ hết sức cần-thiết.

Như vậy thành ra có sát-sinh thì chỉ sát sinh trong vùng Pháp kiểm soát và thuế sát-sinh do Pháp thu, không phải Việt Minh thu. Thuế lâm thổ-sản cũng chẳng được là bao, còn thuế xuất-nhập cảng thì thực ra chỉ có trên giấy tờ, vì hồi ấy, Việt Minh chẳng có “cảng” nào cả, nên chẳng có “xuất-nhập”.

Thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp đánh vào thu-hoạch hoặc lợi-tức, nhưng cán-bộ không hề điều tra thu-hoạch hoặc lợi-tức, chỉ ước-định rồi bắt dân chúng “bình”. “Lợi-tức bình” bao giờ cũng cao hơn lợi-tức thực. Thuế tính theo một số phần trăm lợi-tức và cao đối với tất cả mọi thành-phần nhân dân, không trừ một ai. Ðấy là chủ-tâm của chính-phủ vì đối với cộng-sản đánh thuế không chỉ cốt để thu tiền cho nhà nước mà chính là lợi dụng thuế để công khai bần cùng-hóa những thành-phần khá giả ở thành phố cũng như ở thôn quê. Thực ra, thuế chỉ là một biện-pháp đầu-tiên sửa-soạn cho việc thiết-lập nền vô-sản chuyên-chính.

THUẾ NÔNG-NGHIỆP

Thuế nông-nghiệp là thứ thuế lũy-tiến, nghĩa là đánh từ 5 đến 45 phần trăm tùy theo thu-hoạch nhiều ít.

THUẾ-BIỂU CHÍNH-THỨC của THUẾ NÔNG-NGHIỆP
(Ðăng trong tờ CỨU-QUỐC, số 2080, ngày 6-7-1952)

 

1 Chị đội – Chị nữ đội-trưởng “Ðội Cải-cách Ruộng-đất”
2 Bồi-dưỡng – Bồi-dưỡng lý-luận, giải-thích chính-sách, xui nghe theo đường lối của Ðảng.

Trước kia chính-quyền Việt Minh chi sống về lạm-phát, nhưng sau khi ban bố thuế nông-nghiệp bỗng nhiên trở thành chủ-nhân-ông toàn thể ruộng-đất của nhân dân, biến tất cả trung-nông và bần-nông thành tá-điền của mình. Số phận địa-chủ lại càng đen tối bội-phần. Trên nguyên tắc thì cho đến 1954 địa-chủ vẫn có quyền thu tô, nhưng thực-tế thì họ không thu được hột nào từ 1951 trở đi. Vì phần lớn bần cố nông là tá-điền của họ đã thành ông nọ bà kia trong ủy-ban Hành-chính Kháng-chiến xã nên không một địa-chủ nào có gan giám đòi họ nộp tô mặc dầu họ cứ vẫn phải ráng sức kiếm đủ thóc để nộp thuế nông-nghiệp.

Thiếu thóc để nộp thì họ phải ra chợ đong thêm. Vì trước kia họ đã tích cực ủng-hộ nào là “tuần lễ vàng” nào là “ủng-hộ bộ-đội địa-phương”, nên hầu hết đã hoàn toàn khánh-kiệt. Dần dà họ phải bán đến trâu bò rồi hết trâu bò phải bán đến vòng xuyến, hoa tai, nồi niêu. Vào khoảng từ 1952 đến I954 đồ cổ bán đầy chợ. Một chiếc độc-bình đời Tống bán rẻ hơn một chiếc chậu nhôm buôn lậu tự vùng tề vào.

Một kỳ thu thuế nông-nghiệp là một chiến dịch. Chính-quyền Việt-minh hô hào thi đua nộp nhanh và “phơi khô quạt kỹ”. Vì hồi Nhật thu thóc (hồi Nhật chiếm đóng) cán-bộ Việt-minh xui dân ngâm thóc vào nước cho nặn cân, nên lần này, dân cũng ngâm thóc, cho nặng cân. Nhưng cán-bộ Việt-minh không chịu bị lừa, nhất thiết bắt phải “phơi khô quạt kỹ”. Muốn làm nhục địa-chủ, cán-bộ thu bắt địa-chủ phải gánh thuế đi nộp, nhiều khi cách nhà chừng 15 cây số. Ðến nơi thì cán-bộ cân cho bần-cố-nông trước, còn phú-nông, địa-chủ thì phải chờ hết ngày hết buổi, có khi ngày này sang ngày khác. (Bần-cố-nông được biệt đãi trong mọi trường hợp, tỉ-dụ như ở bệnh-viện, bần cố nông bao giờ cũng được khám bệnh trước mọi người).

Bị phá sản về thuế nông-nghiệp, nhiều địa-chủ tìm cách bán bớt ruộng hoặc đem cúng cho chính-phủ. Nhưng 1953 trở đi thì cấm ngặt không được phép bán, và đồng thời hủy bỏ những vụ bán ruộng đất cho bần-cố-nông. Ruộng đã chót bán cho bần-cố-nông, thì người mua cứ việc giữ ruộng, nhưng ngườI bán phải hoàn lại tiền. Những địa chủ đã hiến ruộng cho chính-phủ, thì chính-phủ cứ giữ ruộng nhưng địa-chủ phải tiếp tục nộp thuế nông-nghiệp. Chỉ riêng những người thành-thị tản cư về nông thôn và theo lời “Cụ Hồ” tậu một vài sào ruộng để “tự lực cánh sinh” và “hòa mình với nhân dân” là được phép hiến ruộng, nhưng muốn “được” nông-hội địa-phương chiếu-cố nhận “giùm cho” thì người hiến ruộng phải hiến thêm trâu bò cày, đầy đủ nông cụ và một số vốn để mua thóc giống.

THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

Trong mấy năm đầu, Việt-Minh phong tỏa những vùng Pháp chiếm đóng, để ngăn cản không cho quân đội Pháp mua lương-thực và mua vật liệu để sửa chữa lại những nơi bị chiến tranh tàn phá. Vì vậy nên việc buôn lậu giữa hậu phương và vùng tề bị cấm ngặt, và hàng lậu bắt được bị tịch thu và đem đốt trước công chúng, trừ thuốc lá thơm và một vài xa-xí phẩm thì đem biếu cán-bộ cao cấp.

Vì bị Việt-Minh phong tỏa nên Pháp thực sự thiếu lương thực. Lúa gạo phải mang bằng đường thủy từ trong Nam ra, còn thịt phải tải từ Cam-bốt đến Hà-Nội bằng máy bay. Giá sinh-hoạt trong vùng tề cao hơn giá sinh-hoạt trong vùng Việt-Minh kiểm soát rất nhiều. Nhưng chính sách phong tỏa còn gây một ảnh-hưởng khác. Vì hàng hóa công-nghệ không lọt được vào vùng Việt Minh, nên hàng nội-hóa bán rất chạy. Nhiều nhà công nghệ nghĩ cách chế được nhiều mặt hàng tương đối giản dị như vỏ xe đạp, các đồ phụ-tùng xe đạp, một số máy móc đơn sơ, như máy in tay chẳng hạn. Một số chuyên-viên chế được những hóa-phẩm căn bản như acide sulfurique, carbonate de soude, rượu 90 độ, và nhờ những thức này chế thêm được nhiều thức khác. Kết quả là dù bị cắt đứt với thế-giới bên ngoài, dân chúng trong vùng Việt-minh vẫn tự lực cánh-sinh, sống tương-đối đầy đủ. Họ có, nào là sà-phòng, sà-phòng đánh răng, diêm, giấy các-bon, ống tiêm chích thuốc (nhưng không làm được kim), éther, pénicilline nước, vân vân…

Tóm lại, công-nghệ hậu-phương chỉ còn thiếu hai thứ : kim-khí và nguyên động-lực. Nhưng nhờ ở sáng-kiến cá-nhân vấn-đề này cũng giải-quyết được một phần. Máy xe-hơi và máy xe lăn đường, vì không còn đường nữa, dùng để kéo máy tiện, máy cưa v.v… Thác nước thuộc hệ-thống nông-giang biến thành máy thủy-điện và một nhóm kỹ-sư thành-công trong việc xây một “lò cao” sản-xuất mỗi ngày ba tấn gang. Ðặc điểm của lò cao này là chỉ cao có 9 mét, trong khi theo nguyên tắc, lò cao thấp nhất cũng phải cao 13 mét. Một phái đoàn Ðông Ðức tới thăm, vào năm 1954 tỏ ý hết sức thán phục kỹ-thuật của các chuyên viên phụ-trách. Ðường rầy xe lửa cùng “tà vẹt” trở thành một nguồn thép vô tận, vỏ bom napan và xác máy bay bắn rơi biến ngay thành nồi niêu xoong chảo bằng nhôm. Mặc dầu so với mức sống tân tiến, tình hình hậu phương không có gì là “khả quan”, nhưng ngoại trừ công chức bị túng-thiếu vì mỗi tháng chỉ được có mấy chục cân gạo, còn ngoại giả dân chúng đều sống tương đối dễ dàng, không một ai thất-nghiệp. Nhưng chẳng bao lâu Việt-Minh đình chỉ chính sách khuyến khích công nghệ nội hóa, vì sau khi cố-vấn Trung Cộng sang, họ giảng cho Việt-minh hay là nếu có khuyến khích công nghệ tư nhân thì tức là gây mầm cho chế-độ tư-bản. Từ đấy Việt-minh đổi ngược lại chính sách, làm khó dễ những người sản-xuất hàng nội hóa và đồng-thời mở rộng kiểm soát cho hàng Pháp tràn vào. Nhiều thủ-công nghiệp bắt buộc phải đóng cửa vì không thể nào cạnh tranh lại hàng hóa của Pháp, và trong nhiều trường hợp, cả chủ lẫn thợ kéo vào các thị-trấn do Pháp kiểm-soát để kiếm kế sinh nhai, vì từ ngày Việt-minh đình chỉ việc phong-tỏa kinh tế, đời sống trong vùng Pháp chiếm đóng bỗng nhiên phồn thịnh hẳn lên.

Ðể tiến tới xã-hội chủ-nghĩa, chính-phủ Hồ-chí-minh áp dụng hai chính-sách mới : đánh thuế “Công Thương Nghiệp” và thành lập “Mậu-dịch Quốc-doanh”. Dĩ-nhiên Mậu-dịch Quốc-doanh chỉ có nghĩa là chính-quyền nắm độc quyền thương-mại trong toàn quốc.

Về đại-cương thì Thuế Công Thương Nghiệp cũng giống thuế Nông Nghiệp, nhưng cũng có hơi khác về thuế biểu và về cách thức tính thuế. Thuế Công Thương Nghiệp phải nộp hàng tháng, không phải một năm hai vụ như thuế Nông Nghiệp. Thuế Công Thương Nghiệp đánh vào lợi-tức, không đánh vào thu hoạch, và mức tối đa chỉ có 28 phần trăm, trong khi mức tối đa của thuế Nông Nghiệp lên tớI 64,68 phần trăm. Trên nguyên tắc thuế Công Thương Nghiệp có phần hợp lý và nhẹ hơn thuế Nông Nghiệp. Cách tính thuế Công Thương Nghiệp như sau :

1. Ước định số “thu” của mỗi người công thương.
2. Tính số lời, bằng cách nhân số “thu” với một con số “lợi nhuận” do Bộ Tài-chính ấn-định cho từng nghề nghiệp (Thí-dụ lợi-nhuận của nghề bán tạp-hóa định là 30 phần trăm, hàng ấn định là 50 phần trăm . Việt-minh cho rằng làm những nghề ấy thì phải lãi băng ấy).

3. Sau khi tính được lợi-tức của một công, thương gia rồi thì mang bản thuế-biểu do Bộ Tài-chính ấn-định xem với số lợi-tức ấy, họ đứng vào loại nào và phải đóng bao nhiêu phần trăm, đại khái cũng như tính thuế Nông Nghiệp, Thuế Công Thương Nghiệp cùng lũy-tiến, xê dịch từ tối-thiểu 15 phần trăm đến tối đa 28 phần trăm.

Như vậy là muốn tính thuế cho một công, thương gia chỉ cần biết số thu hoạch của họ, vì một khi đã có con số này thì chỉ việc đối chiếu với ban lợi-nhuận và ban thuế biểu của chính-phủ mà nhân lên là tính được ngay. Số phận của mỗi công, thương gia đều do con số thu-hoạch chi phối.

Dưới chế-độ Việt-minh, mỗi công, thương gia phải giữ một cuốn sổ chi thu, ghi chép đầy đủ mọi việc buôn bán. Mỗi lần bán ra một món gì, dù là bán nước, bán trâu đều phải làm ba bản hóa-đơn, giữ một bản, giao cho người mua một bản và nộp cho Sở Thuế một bản. Tuy nhiên những sổ sách và hóa-đơn này chỉ cốt để tiện việc cho chính-phủ kiểm tra, nếu cần, không phải để tính thuế, vì tính thuế là công việc của nhân dân, không phải trách nhiệm của chính-quyền. Dưới chế-độ dân chủ nhân dân, chính-phủ chỉ việc giơ tay thu tiền, còn tính thuế và thu thuế là việc của nhân-dân vì Ðảng cho rằng nhân dân lúc nào cũng “sáng suốt”, không cần đến sổ sách, giấy tờ. Khẩu hiệu lúc bấy giờ là : “Phải hoàn toàn tin ở quần chúng”.

Ðảng giao việc thu thuế cho nhân dân vì Ðảng coi việc nộp thuế là một “hân hạnh” không phải là một “nghĩa vụ” như ở các nước tư-bản. Mỗi công dân phải vui vẻ đóng thuế để góp phần vào công việc xây-dựng xã-hội chủ-nghĩa. Vì đóng thuế là yêu nước nên mọi người đều nói “được đóng thuế” và không ai nói “phải đóng thuế”. Từ nguyên tắc “đóng thuế là một hân-hạnh, một đặc ân” nẩy ra hai nguyên-tắc phụ. Thứ nhất, là không phải bất cứ ai cũng được “hân hạnh” đóng thuế, và thứ hai là nhân dân sẽ sẵn sàng giúp đỡ những người không xứng đáng với “đặc-ân” đó, hoặc chạy không đủ tiền để làm trọn “hân hạnh”. Chúng ta hãy đi sâu thêm vào chi tiết của hai điểm này.

Tại sao được nộp thuế lại là một đặc ân ? Ở dưới chính thể dân-chủ nhân-dân, người công-dân không có quyền tự-do kinh-doanh, và đây là đặc-điểm quan-trọng nhất làm cho chế-độ dân-chủ nhân-dân khác hẳn chế-độ dân-chủ tư-sản”. Muốn mở một công-nghệ hoặc một hiệu buôn thì trước tiên phải nộp đơn xin phép Mậu dịch vì Mậu-dịch kiểm soát tất cả công thương trong vùng. Khi Mậu-dịch cho phép rồi, lại phải làm đơn xin phép Ủy-ban Hành-chính địa-phương, vì có một số nghề mà một số người không được làm. Ðịa-chủ, chẳng hạn, không được phép bán hàng cơm và làm nghề cắt tóc. Ðơn nộp cho ủy-ban Hành-chính, nhưng chi-bộ cho hay không, là quyền bí-thư chi-bộ Ðảng, vì chỉ có Ðảng mới biết rõ thái-độ chính-trị của đương sự. Nếu đương sự được phép mở cửa hàng rồi, mà sau này chi-bộ mới tình nghi là “phản-động” thì công-an ăn mặc thường-phục túc trực trước cửa, hỏi giấy thông hành của tất cả người mọi ra vào. Vì vậy nên ai được “hân hạnh” nộp thuế tức là còn được tự-do kinh doanh, một thứ tự-do quý báu gấp bội tự-do chính-trị mà báo-chí tư-sản vẫn thường ca tụng, vì mất thứ tự-do này thì toàn gia phải chết đói. Chính vì mọi người sợ mất “hân hạnh nộp thuế” mà toàn dân không dám cưỡng lại chính-quyền Cộng-sản.

Nhân dân giúp đỡ như thế nào ? Mặc dầu Ðảng đã giảng dậy rất kỹ lưỡng và nhắc đi nhắc lại là nộp thuế là một “hân hạnh”, lác đác vẫn có những người không hiểu rõ tầm quan trọng của cái “hân hạnh” ấy và không tích-cực nộp thuế như Ðảng đã dặn, không chịu khai đúng con số thu-hoạch, hoặc là không khai đúng với sự ước lượng của cán-bộ. Trong những trường hợp như vậy thì nhân dân trong phố, hoặc trong làng sẽ giúp những người “đảng trí” nhớ lại con số thu-hoạch của mình.

Việc giúp đỡ này thể-hiện bằng hai hình-thức, hai cuộc “bình”.

Bắt đầu là một cuộc họp của tất cả những người cùng hành một nghề trong địa-phương, cùng một xã hoặc cùng một khu phố. Họ mổ xẻ công việc buôn bán của mỗi người rồi lập một danh sách kể từ người thu-hoạch nhiều nhất xuống dần đến người thu-hoạch thấp nhất. Công việc xếp đặt theo thu-hoạch nhiều ít này được gọi là “bình dọc” vì mục-đích chỉ là lập một danh sách “dọc” từ trên xuống dưới, từ người thu-hoạch nhiều nhất đến người thu-hoạch ít nhất. Ðảng nói rằng “bình dọc” như vậy rất đúng vì chỉ có những người cùng hành một nghề mới rõ ai hơn ai kém. Nhưng chủ tâm của Ðảng là bắt những người cùng hành một nghề “bình” lẫn nhau thì họ sẽ vì ghen tị mà tố cáo lẫn nhau không cần phải tra khảo, tự nhiên mọi gian lận sẽ lòi ra hết.

Sau đấu là một cuộc họp thứ hai, nhưng lần này tất cả công, thương gia trong một phố, hoặc trong một xóm đều dự, bất luận là hành nghề gì. Họ thảo luận và bình xem mỗi người trong bọn họ thu-hoạch được bao nhiêu, rồi cuối cùng giơ tay “biểu-quyết” con số. Cuộc bình này gọi là “bình ngang”. Mỗi công, thương gia trong phố, hoặc trong xóm đã biết trước là phố mình, hoặc xóm mình sẽ phải đóng bao nhiêu thuế, nên mọi người đều cố tình “tố” người khác, để người khác phải nộp nhiều hơn thì bản-thân mình có hy-vọng nộp ít hơn. Việc “bình ngang” này mang tới hai kết quả :

Thứ nhất là những người cùng phố hoặc cùng xóm thường hay có chuyện xích-mích hoặc thù hằn lẫn nhau, và thường lợi-dụng cuộc “bình thuế” để trả thù. Thí dụ vợ anh A ngoại-tình với anh B, buôn bán cùng phố. Muốn trả thù anh B đã cho mình “mọc sừng” anh A tố là anh B thu-hoạch rất nhiều. Ðể nại chứng, anh A nói thường thấy chị B đi chợ mua gà, vịt. Ðến khi hội-nghị bàn thuế của anh A, thì em anh B muốn trả thù cho anh mình, đứng lên tố là ngày nào cũng thấy anh A ngồi nhậu cà-phê sữa (cà-phê và sữa được coi là xa-xí phẩm ở Bắc-việt) ở tiệm cà-phê gần nhà mình. Rốt cuộc là thu-hoạch của mọI người đều bị “kích” lên, và nhiều khi sở thuế thu được nhiều hơn con số dự trù.

Kết quả thứ hai là những người cùng phố, cùng xóm không biết hàng xóm láng giềng làm ăn ra sao mà chỉ biết đại khái về lề lối sinh-hoạt. Người nào mà mỗi tuần ăn một con gà, hoặc mỗi sáng uống cà-phê sữa không tránh khỏi những người xung quanh coi là “đại-phú”. Rốt cuộc không ai giám ăn gà và uống cà-phê sữa công khai. Nếu chị B muốn mua một con gà thì chị phải nhét gà xuống đáy rổ, đậy rau muống lên trên, còn anh A, nếu thèm cà phê thì đạp xe-đạp tới một nơi thật xa để uống, hoặc pha dấu trong phòng ngủ, không cho hàng xóm láng giềng ngửi thấy mùi. Vì “bình thuế” cả ngang lẫn dọc nên chẳng bao lâu mọi người đều làm ra vẻ xác xơ. Họ mang những quần áo cũ nhất và rách nhất ra mặc, để râu tóc mọc thật dài, hoặc nhờ vợ hớt bằng kéo. Tiệm cà-phê, thợ may và thợ cạo đều lần lượt đóng cửa.

Ðầu tiên vì sợ bình nên mọi người đều “dấu giầu” nhưng cuối cùng, mọi người đều phá sản thực sự. Sau khi phá sản và đóng cửa tiệm cả chủ lẫn người làm công kéo nhau vào vùng Pháp kiểm soát, để lại hậu-phương mặc sức cho Mậu-dịch xây-dựng thương-mại và công-nghệ xã-hội chủ-nghĩa. Lúc bây giờ toàn thể nhân dân đã trở thành bần cố.

Chương 7

“ÐẤU CHÍNH TRỊ”

Giữa lúc bần dân thiên hạ đương thất điên bát đảo về thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp, hai thứ thuế mà dân chúng gọi là “thuế thất-nghiệp” – thì Việt-cộng sửa soạn bí mật và bất thình-lình phát-động một chiến-dịch đại quy-mô chưa từng thấy trong lịch sử Việt-nam. Bắt đầu vào giữa tối 23 tháng Chạp âm lịch, ngày lễ ông Táo lên chầu trời, vào đầu tháng Hai dương lịch năm 1953, cuộc khủng bố này có thể ví với cuộc tàn sát Saint Barthélémy trong lịch sử Pháp. Vì Việt Cộng sửa soạn rất bí mật, và phát động rất bất thình-lình nên ngoài đảng viên cao cấp không một ai biết trước kể cả viên chức ngạch trung-ương trong chính-quyền kháng-chiến. Vì cuộc khủng-bố này có tính cách hoàn toàn chính-trị, nên sau này được dân chúng mệnh danh là “đấu chính-trị”. Chữ “đấu” bắt nguồn từ danh từ “đấu tranh”, vì Việt Cộng giải thích đấy là một cuộc “đấu-tranh” của dân-chúng.

Hồi ấy vì máy bay Pháp thường oanh tạc ban ngày nên mọi cuộc họp đều triệu tập vào ban tối, và đúng vào buổi tối hôm 23 tháng Chạp âm lịch, 1954, tất cả các xã đều triệu tập nhân dân đến hội trường để bàn về thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp. Chương-trình nghị-sự chỉ có một câu : TạI sao nhiều người ngoan cố không chịu nộp thuế, hoặc không nộp đủ.

Sự thực thì mọi người đều đã biết tại sao. Chỉ tại sau hai năm liền, giầu cũng như nghèo, không ai còn có thể chạy đâu ra tiền, thóc lúa, để tiếp tục đóng mãi hai thứ thuế “thất nghiệp” ấy được nữa. Nhưng Cộng-sản đặt ra câu hỏi, không phải vì muốn tìm hiểu sự thực, mà cốt để thực hiện một âm-mưu không dính dáng gì đến thuế.

Trước giờ họp, trong hội-trường đã có sẳn thừng, hèo, gậy, và nhiều dụng-cụ tra tấn khác. Những người thiếu thuế không kể ít hay nhiều, đều bị bắt, điệu ra trước hội-nghị và tra khảo không phải để biết tại sao không nộp được thuế, mà chỉ cần biết kẻ nào đã xui dục không nộp thuế. Chủ-tịch cuộc họp không hỏi lơ mơ “Ai xui mày không nộp thuế ?”, mà hỏi một cách rất rõ ràng “Có phải Thằng Ất (hoặc Thằng Giáp) xui mày không nộp thuế, phải không ? Nói mau ! và tức khắc đánh đập, kìm kẹp, tra trấn cho đến lúc nạn nhân chịu không nổi, đuối sức, chỉ khẽ gật đầu. Nếu không gật đầu, nạn nhân có thể bị tra tấn suốt đêm cho đến chết. Hễ nạn-nhân gật đầu, tỏ ý là Giáp hoặc Ất nào đó quả có xui không nộp thuế thì những người này bị bắt túc khắc. Sự thực thì những người này đã được Việt Cộng ghi tên trong sổ đen ; chủ-tịch buổi họp chỉ việc lần lược chọn từng tên một rồi tra tấn những người thiếu thuế bắt phảI khai đúng tên những người trong sổ, để sẵn trước mặt. Một khi người thiếu thuế đã khai đúng như ý muốn của Cộng-sản thì tức khắc được tha về, không cần hỏi đến nữa.

Những người bị khai . nói đúng hơn là bị buộc vào tội xui không nộp thuế . bị tra tấn một mức gắt hơn và phải trả lời hai câu hỏi : Mày ở trong tổ-chức phản-động nào ?Trong tổ-chức phản-động của mày có thằng… (Bính, Ðinh) không ? Về câu hỏi thứ nhất thì người bị tra có thể bịa ra bất cứ đảng phái nào, khai là đảng hươu đảng vượn gì cũng được. Có người tự nhận là đảng Bảo-Ðại, đảng Việt-gian, và có một nông dân cuống quá, nghĩ không ra đảng, khai ngay “Ðảng Cộng-sản” vì từ bé anh ta chỉ nghe nói lờ mờ có Ðảng Cộng sản không rõ là cách mạng hay phản-động. Về câu hỏi thứ hai thì người bị tra không được phép khai lung tung, phải khai đúng tên mà chủ-tịch hội-nghị đã mớm cho. (Tuy nhiên đây chỉ là quang cảnh trong những ngày đầu, sau nầy sẽ có nhiều sai lạc mà chúng tôi sẽ trình bày ở đoạn sau).

Tất cả những người “phản động” có tên trong sổ đen lần lượt “bị khai”, bị bắt và bị tra tấn. Họ thuộc đủ thành-phần, không cứ giầu nghèo, và sự thực thì cũng không phải “phản động”. Nói cho đúng thì phần đông là những người có thái-độ lừng chừng, vì những người thật sự chống đối với Việt Cộng thì, hồi năm 1953, hoặc đã bị tiêu diệt, hoặc đã bỏ chạy vào vùng Pháp chiếm đóng. Ðối với Cộng-sản thì lừng chừng cũng nặng tội như phản động. Bài thơ sau đây của Xuân Diệu, nhà thơ bồi bút của Cộng-sản chứng tỏ điều đó.

Anh em ơi, quyết chung lưng đấu cật.
Ðấu tranh tiêu diệt tàn hung tủ thù
Ðịa-hào, đối-lập ra tro
Lưng chừng, phản-động đến giờ tan xương.

Tất nhiên khi thảo mấy vần thơ trên, không phải là “Nàng Thơ” đã gợi ý cho Xuân Diệu, mà chính là Ðảng đã ra lệnh, vì Ðảng quyết tâm đánh tan xương những phần tử phản-động hoặc lừng chừng không chịu theo giặc mà cũng không tích-cực theo Ðảng. Quả thực là nhiều người đã bị tan xương, đúng như lời của nhà thơ Xuân Diệu, vì hài cốt họ không còn nguyên vẹn sau khi bị đánh chết. Nói về lối tra tấn thì thường có mấy phương pháp điển-hình, xã nào cũng áp dụng. Ðại để như sau :

Nạn nhân phải quỳ, hai tay giơ lên đỡ một thùng đá nặng đặt ngay trên đầu.

Nạn nhân bị treo hai chân, hoặc hai tay vào một sợi thừng vắt qua xà nhà. Một lúc lại kéo lên, kéo xuống, vừa đánh vừa hỏi, thỉnh thoảng buông rơi “cái bịch” xuống đất.

Quấn giẻ tẩm dầu vào hai ngón tay cái và đốt.

Vì mấy hình thức tra tấn này được áp-dụng trong toàn thể vùng Việt-minh kiểm soát, nên dư luận ngờ rằng Ðảng đã quy-định như vậy. Có người nói rằng những cực hình này đã áp-dụng trong các cuộc đấu-tố bên Trung Quốc và do các cố-vấn Trung Cộng nhập cảng vào Việt-nam.

Trên đây chỉ là những kiểu tra tấn “phổ thông” khắp mọi xã, nhưng cũng có nhiều xã áp-dụng những kiểu tra tấn “đặc-biệt” do sáng-kiến địa-phương nghĩ ra. Ở một làng nọ, nạn nhân bị bỏ vào rọ dìm xuống nước một vài phút, lôi lên để hỏi, chưa chịu nhận tội, lại dìm nữa cho kỳ nhận mới thôi. Ở một làng khác, cán-bộ mượn một cái “ê-tô” của một hiệu chữa xe-đạp, kẹp ngón tay người bị tra vào giữa hai má ê-tô, và cứ hỏi một câu mà chưa chịu trả lời lại quay một vòng.

Ðiều đáng chú ý là đảng-viên và cán-bộ đảng không trực-tiếp nhúng tay vào các vụ tra tấn này. Họ giao công việc cho “cốt-cán”, vì cốt-cán không phải là người của Ðảng và của Chính-phủ. Như vậy là cốt để sau này. Ðảng có thể ngang-nhiên phủ nhận mọi trách-nhiệm và, hơn nữa, đỗ hết cả tội lỗi vào đầu nhân-dân. Câu chuyện sau đây có giá-trị điển-hình về thái-độ kể trên.

Một cô giáo “cấp 1″ ra cho trẻ em trong lớp một bài luận, đề như sau : “Các em hãy tả một ’đấu’ trong xã các em”. Lũ trẻ em cứ thực tình tả nào là bắt người, đánh, trói và tra tấn, và không quên kết luận bằng những câu ca-tụng đường lối sáng suốt đúng đắn của Ðảng và của “Bác Hồ”. Nhưng mấy ngày sau Ðảng đã chính-thức tuyên-bố là Ðảng không dính dáng dến những vụ tra tấn này và đấy chỉ là “Nhân dân tự động đấu-tranh chống phản-động”. Vì Ðảng đã phủ nhận vai trò của mình, nên hôm trả bài, cô giáo phải làm bộ phê-bình học-sinh là tả không đúng sự thực. Cả lớp bị mắng là “nói điêu” rán gân cổ cãi lại cô giáo, nói chúng đã trông thấy tận mắt và một vài em lại kể rành mạch là đã thấy cán-bộ chặt tre làmgậy và mang thừng chão đến hội trường từ buổi chiều, trước khi triệu-tập cuộc họp.

Vụ “đấu” này kéo dài trong nửa tháng và đêm nào, làng nào cũng có người bị đánh chết. Bắt đầu đêm hôm 23 tháng Chạp, nghĩa là một tuần trước Tết, vào giữa lúc thiên hạ đương lo cúng ông bà ông vải và đón mừng Năm Mới. Vì vậy nên mọi cuộc sửa soạn đều bị bỏ dở, và nhà nào nhà nấy im hơi lặng tiếng, tối đến cũng không dám thắp đèn. Có người nhận xét súc vật thấy người sợ cũng sợ lây ; gà không gáy chó không sủa. Trong mấy ngày đầu, mọi việc đều tuần tự như tiến, theo đúng kế hoạch của Ðảng đã vạch sẵn, Những người có tên trong sổ đen đều lần lượt bị “khai” và tra tấn. Nhưng một khi phong-trào đã được “đẩy mạnh”, cán-bộ trở thành say sưa với quyền sinh quyền sát nên coi nhẹ cuốn sổ đen, vì vậy nên hễ khai ai bắt nấy, đưa đến tình trạng bất cứ ai cũng có thể bị bắt và bị tra tấn. Ðảng không kìm hãm nổi và khắp mọi nơi cuộc khủng-bố trở thành “lung tung”. Những giới-hạn mà Ðảng đã quy định trở thành vô giá-trị và khắp nơi khắp chốn chỉ nghe nói đánh-đập, tra-tấn, chết chóc. Sở dĩ phong trào trở nên hỗn loạn là lại hai nguyên nhân sau :

1. Theo lời Ðảng dặn, cán-bộ giao việc đánh đập, tra tấn cho cốt-cán. Nhưng trong mỗi xã chỉ có một số ít cốt-cán, mà nhiều người trong bọn ngần ngại không muốn thẳng tay đánh-đập bà con trong thôn xóm, đôi khi là anh em, chú bác, cô dì. Hơn nữa đánh lắm cũng mỏi tay, nên cốt-cán phải tuyển mộ ngừơi khác giúp bớt phần việc. Nhưng trong xã-hội Việt-nam tìm được những người tình-nguyện làm những việc ác-đức này không phải là chuyện dễ, nên rốt cuộc, những người sẵn sàng tiếp tay cho cốt-cán đều là những lưu-manh vô-lại trong nông-thôn. Vì là lưu-manh nên phần đông có “thành-tích bất hảo”, hoặc đã trốn “dân công”1 hoặc đã ăn trộm lúa kho hoặc có phạm một tội nào tương tự mà chính quyền chưa hỏi đến. Bây giờ “cờ đã đến tay” nên chúng ra sức “phất” rất mạnh, đánh đập bất cứ ai để ra oai vớI nhân dân và để chuộc tội với Ðảng. Bỗng nhiên đương “thằng” trở thành “ông” chúng ra tay đánh đập “phản-động” để không còn ai có thể quy chúng là phản-động được nữa. Ðánh phản-động tàn nhẫn như vậy, tất nhiên là căm thù với phản-động, và không phải là phản động. Hồi mấy “thằng” lưu manh trở thành “ông” có người đặt mấy câu vè như sau :

Trời làm một hội lăng-nhăng
Thằng hóa ra ông, ông hóa ra thằng.
Trời làm một hội lông-nhông
Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.

Tình trạng trở nên hoàn toàn hỗn loạn vì bất cứ nạn-nhân khai ra ai chúng cũng bắt đánh. Chúng chỉ cần đánh để lấy lòng Ðảng và “lấy le” với nhân dân, làm cho mọi người sợ chúng, không giám khai ra chúng. Vì thất học nên chúng chẳng hiểu “tư-bản”, “đế-quốc” là gì, và đối với chúng, mọi người lương thiện thường khinh rẻ chúng đều có thể coi là “phản-động”cả.

2. Nguyên nhân thứ hai chỉ là hậu quả của nguyên nhân thứ nhất. Trong thời kỳ đầu người bị tra không phải tốn công nghĩ ra tên người khác để khai là đồng đảng vì hồi ấy cốt-cán còn lãnh đạo công việc tra trấn nên lúc nào cũng sẵn sàng “mớm” tên cho mà khai. Trái lại đến lúc lưu-manh xông ra đánh đập thì không còn ai lưu ý đến sổ đen và bất cứ ai bị “khai” cũng bị đòn như mọi người. Mọi người đều nhận thấy hai điều : khai càng sớm càng đỡ đòn và khai ra bất cứ ai cũng được. Không ai bảo ai, mọi người đều tự đặt câu hỏi : “Nếu đêm nay mình bị đánh thì nên khai ra ai, cho đỡ bị đòn ?” Có người lý-luận rằng muốn cho Ðảng chóng đình chỉ cuộc “đấu” thì nên lợi dụng tình trạng, khai ngay cán-bộ hoặc bà con thân thích của cán-bộ và đảng-viên. Quả nhiên những đảng-viên bị khai cũng bị bắt và tra-tấn như các “phản-động thường”. Các chi-bộ cộng sản không có thể can-thiệp vì khẩu-hiệu Ðảng đã nêu ra là : Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh chống phản-động. Ðảng cũng đã ra lệnh cấm không một cá-nhân nào hoặc một cấp-bộ nào được phép can-thiệp. Thế là đảng-viên trở thành nạn~nhân, đúng câu thành-ngữ Việt-Nam “âm binh quật lại phù thủy”.

Trong một cuộc “đấu” người bị tra hoảng quá, mất hết tinh-thần. Khi bị hỏi “trong tổ-chức phản-động của mày có những ai ?” giơ tay chỉ ngay ông chủ tọa phiên họp. Ông chủ tọa bị lôi xuống và bị đánh tức khắc. Sau đó hội nghị tạm ngưng vì không ai nhận chủ-tọa buổi họp.

1 Ði dân công tức là đi làm phu khuân vác, đào sông, đắp đường, không khác đi làm “cỏ vê” ngày trước.

Ðến ngày thứ 15 thì Ðảng nhận thấy tình hình trở nên quá nghiêm trọng và điện từ trung ương về các tỉnh ra lệnh đình chỉ ngay tức khắc. Nhưng điện-văn cũng nói rõ phải giam giữ những người mà “quần-chúng sáng suốt” đã tố cáo là “phản-động”.

Lệnh giam giữ những nạn nhân của cuộc “đấu” chứng tỏ Ðảng đã có dụng tâm từ trước. Ðảng muốn tạm thời gạt bỏ ra ngoài xã-hội những phần-tử mà Ðảng ngờ có thể chống-đối chính sách sau này của Ðảng : chính sách Cải Cách Ruộng Ðất. Quả thực, những người bị khai là phản-động bị giam trong các trại tập-trung mãi đến phong-trào Sửa Sai, năm 1956, mới được tha.

Trong vụ “Ðấu Chính Trị” trung bình mỗi xã có từ ba đến năm người bị đánh chết, hoặc vì uất ức phải tự tử trong số có một bộ-trưởng chính-phủ là ông Ðặng-văn-Hướng. Ông Ðặng-văn-Hướng nghỉ phép về thăm nhà thì gập phải vụ “đấu”. Vì “Bụt nhà không thiêng” nên cán-bộ xã không nhận thấy ông là “bộ-trửởng” chỉ thấy ông là “một tên phản động” nên mang ra “đấu”. Trong khi ấy thì từ ông Hồ cho đến các bộ-trưởng khác không ai đoái-hoài đến số phận của ông. Ông không bị đánh chết nhưng ông anh ruột bị, và sau đó cả hai ông bà thắt cổ tự tử. Việc đáng chú ý là ông Hương là thân-phụ Ðại-tá Ðặng-văn-Việt, nổi tiếng là “Anh Hùng Ðường số 4″ vì mấy năm trước Ðại-tá Việt đã chiến-thắng quân-đội Pháp trong trận Cao-Bằng Lạng-Sơn.

Trong khi cuộc “đấu” diễn ra ở khắp thôn xã thì ở các thị-trấn cũng có “đấu” nhưng với hình-thức nhẹ hơn. Lý do là vì những người buôn-bán ở các thị trấn mới thành-lập là người tứ xứ, không quen biết nhau nên không có hận thù. Những thị-trấn này chỉ là những chỗ buôn bán nhỏ, vì những thành-phố lớn đã bị Cộng-sản phá trụi, theo chính sách tiêu thổ kháng chiến chống Pháp. Việt-cộng lấy cớ là phá hủy thành-phố để không cho Pháp chiếm đóng và lập căn cứ nhưng chủ tâm của Việt-cộng là muốn phá-sản giai-cấp “tư-sản thành-thị” mà Cộng-sản coi là khó cai-trị. Những thị-trấn nói trên chỉ là những dẫy nhà lá thường dựng ở mấy ngã-tư đường nhiều người qua lại. Chủ-nhân là những người trước kia sinh-nhai ở thành-phố, nay mất hết cơ nghiệp phải tản cư về thôn quê, nhưng không làm ruộng quen nên phải dựng lên một túp lều nhỏ để buôn bán chút đỉnh, một vài thứ hàng lặt vặt, mong qua ngày đoạn tháng.

Nói chung thì dân thôn quê phải mất một tuần mới vỡ lẽ là càng nhận tội sớm bao nhiêu thì càng đỡ đòn bấy nhiêu. Trái lại, dân thị-thành vì “láu” hơn, nên ngay buổi đầu họ đã tìm ra mánh lới này. Vì vậy nên ở các thị-trấn có nhiều người chưa bị một cái bạt tai đã vội vàng quỳ gối thú tội vanh vách, nhưng họ cũng được may mắn là những “tội” họ buộc lẫn nhau đều là những tội không lấy gì làm “phản động” lắm. Vì thiếu “phản động” nên chi-bộ Ðảng ở các thị-trấn không thể “đào” đâu cho đủ “phản động” để kéo dài cuộc “đấu” cho trọn hai tuần. Kết quả là cuộc lùng bắt “phản động” trở thành cuộc truy-nã những kẻ ưa dùng xa-xí phẩm, hàng ngoại-hóa. Ăn mặc tươm tất, hoặc dùng xáp bôi đầu chẳng hạn cũng bị quy là “trọng tội”. Cán-bộ đón các đầu đường, hễ ngửi đầu thấy mùi xáp thơm là bắt phải gội ngay tại chỗ, bằng nước rửa bát để sẵn gần đấy. Nhiều anh trông thấy quang cảnh như vậy, vội vàng “xung phong” xin gội đầu bằng nước rửa bát ngay để tránh khỏi bị đòn. Nhiều người ưa ăn sang mặc đẹp như mấy bà vợ bác-sĩ (Bác-sĩ Nguyễn-bát-Can . trước kia là Dr Pascal Nguyễn) cũng bị mang ra “đấu” và hưởng mấy bạt tai.

Cuộc đấu ở nông-thôn và ở thành-thị phát triển theo hai hướng trái ngược nhau. Trong khi ở nông-thôn, cuộc khủng-bố cứ mỗi ngày một kịch-liệt hơn cho đến khi tình trạng trở thành hoàn toàn hỗn loạn, thì ở thành-phố chẳng mấy chốc cuộc “đấu-trang chống phản-động” biến thành một chiến-dịch vớ vẩn, “đấu-tranh chống lề lối sinh hoạt tiểu-tư-sản”. Nhận thấy như vậy nên thực tế đã có người nhanh chân bỏ nông-thôn chạy vội ra thành-phố náu ẩn. Cũng vì ở thành-phố thường ít tính chất bạo-động hơn ở nông-thôn, nên dưới chế-độ cộng-sản dân chúng luôn luôn tìm cách “chuồn” ra thành-phố và do đó chúng ta thường thấy chính quyền cộng-sản ở Bắc Việt và ở Trung Cộng chẳng hạn, thỉnh thoảng lại “giải về nguyên quán” những người tản-cư trái phép từ nông-thôn ra thành thị.

Sau cuộc “đấu chính-trị”, ông Hồ có viết một bức thư “Xin lỗi đồng-bào” gửi cho tất cả các xã và mọi người đều phải học-tập. Trong thư, ông nhận chính-phủ và Ðảng đã thiếu sót trong việc lãnh-đạo khiến nhiều nơi quần chúng đã khinh thường luật-pháp, có nhiều hành-động trái với chủ-trương nhân-đạo và khoan-hồng của Chính-phủ và của Ðảng. Cán-bộ kể chuyện cho dân chúng nghe là khi viết bức thư “Xin lỗi đồng-bào” ông Hồ bực quá, chảy nước mắt. Có lẽ câu chuyện không đến nổi hoàn toàn bịa đặt vì mọi người đều biết ông Hồ đóng trò rất tài tình, muốn cười muốn khóc và ngay cả muốn hôn lúc nào cũng được. Hồi viếng thăm Ấn-Ðộ và Indonesia, những nơi mà nam nữ còn đương “thụ thụ bất thân”, ông Hồ cứ tự-nhiên ôm các bà các cô hôn đại. Vì vậy nên năm 1959, báo chí Djakarta tặng ông biệt-hiệu “Vị chủ-tịch thích hôn” (Presiden Pentjium).

Sau khi xin lỗi đồng-bào, ông Hồ ra lệnh cho các ủy ban xã báo-cáo lên cấp trên những vụ quá đáng. Ðồng thời các ủy-ban cũng phải lập danh-sách những người sáng suốt đã nhận thấy những điểm sai trong chiến-dịch và đã cố gắng ngăn cản.

Có nhiều người, phần đông là đảng-viên cấp dưới, quả thực đã xa lánh phong trào, và có một số đã chạy lên huyện lên tỉnh, tìm cách cứu gỡ cho thân nhân. Sau khi lập thành danh-sách đưa lên tỉnh, những người này được tỉnh-ủy mời lên để ban khen, nhưng lên đến nơi họ được tống đi các trại “quản-huấn” để vừa lao-động vừa học-tập lại những nguyên tắc bất-khả sai-lạc của chủ-nghĩa Mác-xít Lê-ninnít. Mãi ba năm sau, nhân dịp chiến-dịch Sửa Sai, tiếp theo chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất họ mới được tha về. Ðây là một thí-dụ điển-hình chứng tỏ chủ-trương của Ðảng là bắt nhốt ngay cả những đảng-viên mặc-dầu trung-thành với Ðảng, nhưng không tán-thành chính-sách khủng-bố của Ðảng.

Một tháng sau khi ông Hồ đã khóc và xin lỗi đồng bào thì những cán-bộ đã phát-động chiến-dịch ở Bắc-Việt lên đường vào Khu V (miền Nam Trung-việt) để phát động một phong-trào in hệt. Ði theo bọn họ vẫn có mấy cố-vấn Trung-quốc quê ở Hồ-nam.

Ảnh-hưởng trực tiếp của cuộc “đấu sơ bộ” này là tất cả các thành-phần trong nhân dân đều sợ oai của Ðảng. Sự thực, trước cuộc “đấu” Ðảng đã mất rất nhiều uy tín. Nhiều nông-dân bị bom đạn của Pháp tiêu hủy nhà cửa đã ngang nhiên oán trách “Cụ Hồ”, và hàng ngàn dân-công gánh gạo tiếp-tế bộ-đội đã làm reo bỏ về, quẳng gạo ra hai bên đường. Hồi Ðảng còn rút lui vào bóng tối sau khi tuyên-bố tự giải tán, dân quân một xã nọ đã vây bắt một chi-bộ cộng-sản đang hội-họp, lấy cớ là hội-họp trái phép.

Sau chiến-dịch khủng-bố, tình-trạng thay đổi hẳn. Không những không ai giám từ-chối không đi dân-công, mà trái lại, hàng ngàn người xung-phong đi ngay. Thuế khóa cũng chỉ thu trong vài giờ là xong ngay.

Nhiều người nhận thấy như vậy cho rằng Ðảng đã áp-dụng chính-sách khủng-bố để thu thuế cho nhanh và bắt dân-công cho dễ. Nhưng thực ra như chúng tôi sẽ trình bày về sau, Cộng-sản phát động chiến-dịch khủng-bố với hai mục-đích khác. Một mục-đích dài-hạn là dọn đường cho chiến-dịch Cải-cảch Ruộng-đất sắp tới (Xin xem Phần 5) và một mục-đích tức thời là thị uy với toàn thể nhân-dân không kể giàu nghèo . và thanh-trừng những phần-tử : mặc-dầu tham gia kháng-chiến chống Pháp, nhưng tình-nghi là không chấp-nhận chế-độ cộng-sản.

Cuộc “đấu chính trị” do Trung-ương Ðảng phát-động, kéo dài trong nửa tháng, gây không biết bao nhiêu tang tóc, nhưng sau khi ông Hồ đã viết thư “xin lỗi đồng-bào” thì tình hình ở nông-thôn lại tương-đối được ổn-định. Những người chạy trốn ra thành-phố lần lượt trở về làng. Cán-bộ làm ngơ không hỏi tới và để yên cho tự-do sinh hoạt trong khoảng vài tháng.

Nhưng “đấu” rồi, Ðảng còn một công-tác khác cần phải làm. Tức là chứng tỏ trước nhân dân là dù sao lời dậy của Bác Mao vẫn đúng. Bác Mao đã nói : “Quần chúng bao giờ cũng sáng suốt” và “Nông dân có thể lãnh-đạo được Cách-mạng vô-sản”. Nhưng cuộc “đấu chính trị” quả đã gây nên nhiều ảnh-hưởng tai hại. Nhiều người trước kia nhiệt-liệt ủng-hộ cộng-sản, nay bỗng nhiên hết tin-tưởng. Họ nhận thấy ông Hồ quá lệ thuộc vào ông Mao đã nhập cảng vào Việt-Nam nhiều hành động dã man mà từ ngàn xưa sử sách Việt Nam chưa từng chép, và hiện nay không một dân-tộc văn-minh nào có thể dung thứ được. Họ cũng nhận-định là Cộngsản, mặc dầu đã nắm trọn quyền trong tay, mà còn dùng mánh lới “phát-động quần chúng” để trừng-trị đối-phương thì thế tất sau này không bao giờ Cộng-sản có thể áp-dụng những biện-pháp công-bằng và nhân-đạo để trị dân. Những người còn giữ được lý-trí . mà thực sự thì nhiều người đã mất vì “học tập
chính trị” quá nhiều . bắt đầu so sánh chế độ cộng-sản với chế-độ thực-dân ngày xưa. Họ công-nhận dưới chế-độ thực-dân, tuy không có công-bằng và tự-do, nhưng ít ra cũng có một hình-thức pháp-lý nào đó. Chính-quyền thuộc-địa cũng giết, nhưng giết bằng máy chém, không giết bằng “phát động quần-chúng”.

Ngay những đảng-viên trung-thành cũng bắt đầu ngờ vực khả năng lãnh-đạo của nông-dân. Họ tự hỏi nếu gây căm-thù, rồi “phóng tay phát-động nông-dân” thì liệu nông-dân sẽ đưa cách-mạng tới đâu? Họ vẫn biết một xã-hội mà người giầu đá đít người nghèo là một địa-ngục, nhưng họ không tin rằng những kẻ kẹp tay thiên-hạ vào “ê-tô” để vặn có thể xây dựng được thiên-đường trên mặt trái đất.

Ðể đánh tan luồng tư-tưởng nguy-hại này, Cộng-sản áp-dụng hai biện-pháp một cho những người có học và một cho dân chúng thiếu học :

1. . Ở mỗi tỉnh đều thành lập toà án quân sự để xử tội những “Việt gian” bị bắt trong vụ “Ðấu chính trị”. Mục-đích của Cộng-sản là để chứng minh cho dân-chúng trông thấy rằng mặc dầu “quần chúng đã tự động”, sự thực quần-chúng vẫn sáng suốt, vì trong số những người họ “tố”, quả thực có nhiều “Việt gian” lợi hại, làm tay sai đắc lực cho Pháp.

2. . Ðảng tổ-chức một chiến-dịch Cải-tạo Tư-tưởng cho toàn thể đảng-viên và cán-bộ để giải thích cho họ hiểu là “phóng tay phát-động quần-chúng”, mặc dầu có nhiều sai lầm, nhưng tựu-trung vẫn là một chính-sách rất “hợp tình, hợp lý”. Vì hai biện-pháp kể trên bao gồm trong “chiến-thuật Mao-Trạch-Ðông”, nên chúng tôi sẽ cố gắng trình-bầy cặn kẽ trong những chương sau.

Chương 8

DANH-SÁCH VIỆT-GIAN

Những người bị bắt và bị đấu tố trong cuộc “Ðấu tranh chính-trị” mà may mắn còn sống sót, thì bị đưa vào trại giam để công-an điều tra thêm. Vài tuần sau công-an tuyên bố là trong số những người này quả có nhiều “Việt-gian” lợi hại, có chân trong một tổ chức bí mật, làm gián-điệp cho Pháp.

Trong năm 1951, nghĩa là hai năm về trước, Pháp có bỏ bom phá tan hệ thống dẫn-thủy nhập điền trong vùng Việt-minh kiểm-soát. Nhớ lại vụ oanh tạc này, Ðảng được dịp tuyên bố là chính những “Việt-gian” mà nhân dân đã “lột mặt” đã xui Pháp ném bom phá hủy các đập nông-giang. Ðảng còn nói rằng bọn họ đã vẽ địa-đồ các đập nước và các cầu cống và chuyển giao cho Pháp. Rõ ràng là một sự vô cùng phi-lý vì không có một người Việt-nam nào không hiểu rằng những cống và đập đó đều do Pháp xây-dựng và toàn bộ bản-đồ Việt-nam và Ðông Dương đều do Pháp vẽ. Nói rằng Pháp quên không biết đập ngăn nước khổng lồ họ xây ngày trước bây giờ nằm vào chỗ nào và phải nhờ “Việt-gian” chỉ điểm mới nhớ ra thì cực kỳ khôi hài. Nhưng đối với cộng sản thì phi-lý không phải là một trở ngại cho tuyên truyền. Họ kinh nghiệm rằng đối với nông-dân chỉ việc nhắc đi nhắc lại một lý-luận thô sơ dễ hiểu thì dù phi-lý đến đâu cuối cùng nông dân cũng nhập tâm cho là thực. Ðặc biệt là nói về thực-dân Pháp và đế-quốc Mỹ thì kể hươu kể vượn thế nào cũng được, vì nhiều nông-dân suốt đời không hề thấy một người Pháp hoặc một người Mỹ. Một trung-đội trưởng Việt-minh sau khi thắng trận Ðiện Biên Phủ về Hà-NộI hỏi dân thủ-đô có phải người Mỹ da đỏ hồng hào không. Ý hẳn anh ta chỉ nghe nói bên Mỹ có một chủng tộc thường gọi là Peaux Rouges. Ðối với trình độ kiến-thức như vậy thì dĩ-nhiên càng lý-luận giản-dị bao nhiêu, dân chúng càng ưa nghe bấy nhiêu.

Mỗi tỉnh đều đệ lên trung ương một danh sách những kẻ “phản động” và sửa soạn xử-án công khai. Trong mỗi danh sách đều có những “thành-phần điển-hình” : một địa-chủ giầu nhất, một vị hòa-thượng, một linh-mục, một vị khoa cử và một cựu quan lại.

Trong khi chờ phiên tòa xử thì các can-phạm phải điệu đi từ trại giam này đến trại giam khác, qua hết làng này sang làng khác, như kiểu một gánh “xiếc” mang thú dữ đi quảng cáo trước khi biểu diễn buổi đầu. Chân họ bị xiềng và tay họ bị trói bằng một chiếc thừng dài, buộc cánh tay người đầu đoàn cho tới cánh tay người cuối cùng. Họ khạng nạng đi giữa ban ngày, dưới mặt-trời tháng năm, tay bị xích nhưng cũng cố nâng xiềng khỏi mặt đất cho dễ đi. Tiếng xiềng chạm nhau kêu “leng keng” rất xa và rất rùng rợn vì là một thứ tiếng mà thiên hạ chưa từng nghe bao giờ.

Phiên tòa đã xếp đặt gần xong và các vị thẩm phán đã được cấp trên chỉ định thì bỗng nhiên có lệnh đình lại. Sau đó có tin đồn là các “cố vấn Trung-quốc” xét thấy danh sách phản động chưa được đầy đủ. Họ nói danh sách còn thiếu một loại đại phản-động mà bên Trung-quốc gọi là “Tư-sản Mại-bản”. Theo lý-thuyết của ông Mao, một lý-thuyết mà các đồ-đệ của ông coi là một cống hiến vĩ-đạI, giai-cấp tư sản ở các nước kém mở mang chia làm hai loại : tư-sản dân-tộc, tức là những người công-nghệ và tư-sản mại-bản tức là những người xuất-nhập cảng. Hai loại tư-sản này có hai thái-độ chính-trị khác nhau, vì cách thức kinh doanh của họ khác nhau.

Tư-sản dân-tộc hay công-nghệ bản-xứ chế-tạo hàng nội-hóa nên phải cạnh-tranh gắt gao với tư-sản ngoạI-quốc. Vì vậy nên họ có tinh-thần yêu nước một phần nào, và sẵn sàng hợp tác với cộng-sản để tranh-đấu dành độc-lập. Cộng-sản để yên cho họ sống từ thời kỳ cải-cách ruộng đất cho đến thời kỳ hợp tác công-nghiệp. Trong khi ấy họ vẫn làm chủ nhà máy của họ, dưới sự kiểm soát nửa kín nửa hở của công-đoàn. Ở Trung-Hoa và ở Bắc-Việt chế-độ này được duy-trì trong hai năm.

Thành phần tư-sản mại-bản thì ngược lại sống nhờ vào tư-sản ngoại qưốc nên không có mảy may tinh thần yêu nước. Quyền-lợi của họ bị ràng buộc vào quyền lợi của tư-sản ngoại-quốc nên họ chỉ là tay sai của đế-quốc. Vì vậy nên họ bị xếp là “Kẻ Thù Số Hai của Nhân Dân” (Ðịa-chủ là kẻ thù số Một). Nhưng muốn quy một người này là tư sản mại-bản, theo đúng nghĩa của ông Mao-Trạch-Ðông thì phảI tìm thấy ở người ấy hai điểm. Một là tư-sản và hai là mại-bản, tức là buôn bán xuất-nhập cảng. Vì vậy nên khi Trung Ương bắt các ủy-ban tỉnh phải lập danh sách tư-sản mại-bản, ủy-ban tỉnh phải kê khai một số người trong địa-phương có thể tạm gọi là “tư-sản” và có buôn bán hàng ngoạI-quốc. Nhưng kiếm được những người đầy đủ hai điều-kiện kể trên quả là một việc rất khó vì hồi ấy chẳng còn ai ở hậu-phương có thể tạm gọi là tư-sản mà xuất-nhập cảng cũng hoàn toàn không có. Từ trước Việt Nam vốn dĩ đã chẳng có bao nhiêu tư-sản, mà nếu có một vài người thì họ đều ở lại Hà-Nội với Pháp. Thật đúng như lời ông Mao, hạng người này quả là tay sai của tư-sản ngoại quốc và luôn luôn cấu kết với thực-dân đế-quốc. Một vài tư-sản vào loại kém, lúc đầu có chạy ra hậu-phương nhưng chỉ ít lâu sau họ cũng trở về thành. Chỉ có một số “phú-thương” chịu khó ở lại hậu-phương, thường khi vì lý do gia-đình hơn là kháng-chiến yêu nước, nhưng tất cả đều bị khánh-kiệt từ mấy năm trước. Vì ở hậu-phương thiếu hàng-hóa, thiếu giao thông và khả-năng tiêu-thụ của nhân-dân quá kém cỏi, nên họ chẳng kiếm chác được bao nhiêu. Lấy cớ là tránh nạn Pháp nhẩy dù, cứ ba hoặc sáu tháng một họ lại phải di chuyển tiệm buôn từ nơi này sang khác, phá nhà cũ làm nhà mới. Nạn lạm phát (một nghìn đồng năm 1955 trị giá bằng một đồng năm 1946) và cuối cùng là Thuế Công-thương-nghiệp đã khiến họ trở thành bàn tay trắng, buôn đi bán lại lấy công làm lãi.

Tuy nhiên việc tìm kiếm tư-sản cũng không khó là vì danh-từ “tư-sản” cũng như danh-từ “địa-chủ” hết sức co rãn. Một người sống “trên mức bình thường” cũng có thể tạm xếp vào loại tư-sản, vì chính-quyền có thể chứng minh trước dân chúng là quả họ có một “tư-sản” nào đó. Trái lại việc lùng kiếm những người mại-bản thì thật quả là khó. Những cố-vấn Trung-quốc thực-sự đã lầm to khi họ hạch sách bắt kiếm cho kỳ được tư-sản mại-bản. Có lẽ họ yên trí rằng ở Việt-nam loại người này cũng đông đảo như ở Trung-hoa Quốc-dân-Ðảng. Sự thực thì ở Thượng-Hải, dưới chế-độ Tưởng, có rất nhiều tư-sản mại-bản, nhưng ở Việt -Nam thì thuở ấy hoàn toàn không có, vì trong suốt thời kỳ Pháp-thuộc, mọi việc xuất-nhập cảng đều thuộc độc-quyền một vài công ty tư-bản Pháp.

Nói rằng dưới chế độ thuộc địa có tư-sản mại-bản Việt-nam đã là hài-hước, mà cho rằng trong vùng kháng chiến có tư-sản mại-bản lại là vô-lý hết chỗ nói. Tuy nhiên, Bác Mao nói thì phải nghe và lệnh trên ban xuống thì phải thi hành, và muốn cho danh-sách có đủ các thành phần như cấp trên đòi hỏi, các ủy-ban tỉnh liền bắt mấy cán-bộ mậu-dịch của Ðảng, lâu nay phụ-trách buôn lậu xe-đạp, thuốc tây, dầu lửa, và một vài thức cần thiết cho kháng chiến từ vùng tề vào. Lý-luận của cộng-sản rất đơn sơ. Nếu không có xuất nhập khẩu thực sự, thì việc buôn lậu qua giới tuyến cũng có thể tạm coi là xuất nhập khẩu.

Kết quả là mấy người trước kia được Ðảng tín-nhiệm giao cho công việc nguy-hiểm là buôn bán với “tề” bỗng nhiên bị quy là “Việt-gian” và đưa vào trại giam. Sau khi danh sách được Trung-ương chấp nhận, một tòa-án quân sự được thành lập trong mỗi Khu và di-chuyển từ tỉnh nọ sang tỉnh kia để xử án “Việt-gian” ở mỗi tỉnh. Chánh án khu Tư là ông Hồ-đắc-Ðiềm, trước kia là tổng-đốc Hà-đông và giáo-sư trường Luật Hà-Nội. Thẩm-phán và công-tố viện đều là đảng-viên Ðảng Lao Ðộng. Không có trạng-sư, chỉ có “biện-hộ viên”. Họ không phải là luật-gia xuất thân, mà chỉ là người thường, một người làm nghề đỡ đẻ, và nhiệm vụ của họ là bênh-vực quyền lợi của nhân dân, không phải quyền lợi của bị can. Họ có xin tòa khoan hồng cho một số “cò mồi” bị bắt để lấy cớ khai ra “đầu xỏ”, nhưng họ yêu cầu tòa thẳng tay trừng-trị “Việt-gian phản-động”. Tòa xử công khai, nghĩa là có hai đoàn đại-biểu đi dự. Một đoàn do mỗi xã cử một người và một đoàn do mỗi xí-nghiệp cử một người. Tất nhiên những người được cử đi dự đều là đảng-viên trung-kiên. Những đại-biểu đi dự được sửa soạn hai tuần lễ trước, học thuộc lòng những khẩu hiệu cần phải hô, và hô vào những lúc nào cho đúng lúc. Việc sửa soạn thì rất rầm rộ, nhưng đến khi tòa xử thì tương đối rất khoan hồng. Chiến lược cộng-sản là tỏ thái-dộ công-bình và khoan hồng trong những vụ án có ảnh hưởng lớn đối với nhân dân.

Ở Thanh-Hóa, chẳng hạn, chỉ có địa-chủ số một là ông Nguyễn-hữu-Ngọc và một vị hòa-thượng là Tuệ Chiếu bị lên án tử hình, còn linh mục Mai-bá-Nhạc cùng hai tư-sản mại-bản chỉ bị phạt 20 và 15 năm khổ sai. Cựu quan-lại là ông Hà-văn-Ngoạn, và cựu khoa-bảng là cụ Cử Lê-trọng-Nhị không hầu tòa vì đã chết từ mấy tháng trước trong trại giam. Trong gần một năm, không thấy những người bị án tử-hình mang ra hành-hình nên nhiều người yên trí là họ được ân giảm, nhưng đột nhiên đêm trước hôm trao đổi tù-binh giữa Pháp và Việt-minh, hai người bị đưa ra bắn. Vụ hành hình này rất đơn giản, không có dân chúng xếp hàng vỗ tay và hô đả đảo như thường lệ. Sáng hôm sau, những “Việt gian” khác được trả lại tự-do.

(Còn tiếp)

Số hạng Thu-hoạch trung-bình kg thóc

Thuế %

Số hạng Thu-hoạch trung-bình kg thóc Thuế %
1 Từ 71 đến 95 5 21 Từ 706 đến 755 25
2 96 – 115 6 22 756 – 805 26
3 116 – 135 7 23 806 – 855 27
4 136 – 155 8 24 856 – 905 28
5 156 – 175 9 25 906 – 955 29
6 176 – 205 10 26 956 – 1005 30
7 206 – 235 11 27 1006 – 1055 31
8 236 – 265 12 28 1056 – 1105 32
9 266 – 295 13 29 1106 – 1155 33
10 296 – 325 14 30 1156 –1215 34
11 326 – 355 15 31 1216 – 1275 35
12 356 – 385 16 32 1276 – 1335 36
13 386 – 425 17 33 1336 – 1395 37
14 426 – 465 18 34 1396 –1455 38
15 466 – 505 19 35 1456 – 1515 39
16 506 – 545 20 36 1516 – 1575 40
17 546 – 585 21 37 1576 – 1635 41
18 586 – 625 22 38 1636 – 1695 42
19 626 – 665 23 39 1696 – 1755 43
20 666 – 705 24 40 1756 – 1815 44
      41 1816 – trở lên 45

Giáo sư Bernard Fall đã chép bản thuế biểu này trong cuốn Le Việt-Minh (tr. 249) của ông, nhưng cũng như các quan-sát viên ngoại-quốc khác, ông có ngờ đâu rằng ngoài thuế-biểu chính-thức này, nông-dân còn phải đóng thêm một số “phụ-trội” mà chính-quyền Việt-minh dấu kín không hề công-bố. Số phụ-trội này nói là để xung vào “quỹ xã” còn thuế chính nộp vào kho bạc nhà nước. Sự thực thì cả hai đều gộp làm một và tùy ý Ðảng chi dùng. Thuế phụ-trội định là 15 phần trăm của thuế chính-ngạch và cả hai thứ đều phải nộp một lúc. Chi-bộ xã giữ hai phần ba số thuế phụ-trội thu được và nộp Tỉnh-bộ một phần ba.

Tỉnh-bộ cũng chỉ giữ hai phần ba số phụ-trội nhận được và đưa lên Tổng-bộ một phần ba. Tổng-bộ lại giữ hai phần ba và nộp cho Cơ-quan Thông-tin Quốc-tế (Cominform) một phần ba làm Nghĩa-vụ Quốc-tế.

Như vậy, nghĩa là bản thuế-biểu chỉ dùng để tính thuế chính-ngạch, rồi cộng thêm vào thuế chính-ngạch 15 phần trăm nữa. Muốn cho rõ hơn, chúng tôi xin trình bày hai tỉ-dụ.

Thuế Bậc Một : Theo bản thuế-biểu thì nông-dân thuộc loại này phải đóng 5 phần trăm số lúa thu-hoạch cho chính-phủ và ngoài ra còn phải đóng 15 phần trăm của 5 phần trăm, nghĩa là 0,75 phần trăm cho Ðảng. Tổng cộng là 5,75 phần trăm.

Thuế Bậc 41 : Những người thuộc loại này phải đóng 45 phần trăm thu hoạch cho chính-phủ, cộng thêm 15 phần trăm của 45 phần trăm, nghĩa là 6,75 phần trăm tổng số thu-hoạch cho Ðảng. Tổng cộng là 51,75 phần trăm của thu-hoạch. Nhưng đây mới chỉ là trường hợp những “phú-nông” tự cày cấy lấy ruộng. Những địa-chủ cho thuê ruộng lấy tô phải đóng thêm 25 phần trăm, nghĩa là phải nhân 51,75 với 1,25 thành 64,68 phần trăm. Ðấy là mức thuế cao nhất.

Tuy nhiên đấy mới chỉ là nguyên tắc đại cương. Thực ra thuế nông-nghiệp còn nhiều điều khoản rắc rối hơn. Ðể cho rõ ràng hơn, chúng tôi xin trình bầy hai trường hợp điển hình, thuế của một bần-nông (bậc 2) và thuế của một địa-chủ (bậc 41). Tuy chỉ là giả dụ cho rõ hiểu cách tính, chúng tôi cũng cố ý đưa ra những con số về diện-tích và về sản-lượng hết sức xát thực-tế để độc-giả có thể quan-niệm đúng-đắn về đời sống dân-quê Bắc-Việt và ảnh-hưởng của thuế nông-nghiệp đối với họ như thế nào.

Trường-hợp A

Giáp là một bần-nông có 5 sào đất mà vợ chồng anh cày cầy lấy. Anh có vợ và hai con nên được tính là có bốn “nhân khẩu”. Với 5 sào ruộng, mỗi năm Giáp thu hoạch được 400 kilô thóc. Bây giờ tỉ dụ cán-bộ cũng công nhận là anh thu được 400 kilô (không bắt bình cao hơn như thường lệ), thì muốn tính xem anh thuộc vào bực nào, phải đem 400 kilô chia cho 4 nhân khẩu. Mỗi nhân khẩu được 100 kilô. Vậy chiếu theo bản thuế, gia-đình Giáp đứng vào bậc 2, tỷ-lệ thuế là 6 phần trăm.

Giáp phải nộp cho chính-phủ 6 phần trăm của 400 kg, tức là : 24 kilô

Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 24 kg, tức là : 3,6 kilô

Tổng cộng : 27,6 kilô

Giáp còn lại 327,4 kilô thóc để nuôi bốn miệng ăn trong suốt một năm. Tính 100 kilô thóc xay được 65 kilô gạo, Giáp có 242 kilô gạo để ăn trong một năm, nghĩa là mỗi ngày 665 gam để nuôi bốn miệng ăn. Người nông dân Việt-Nam trung bình ăn mỗi ngày 500 gam vị chi trừ một số ít phú-nông địa-chủ là có ít nhiều thịt cá, còn bần nông chỉ lấy cơm làm no bụng. Về vụ gặt hái, làm lụng vất vả nông dân Bắc-Việt có thể ăn một kilô gạo một ngày vì họ ăn đến ba bữa cật lực. Tỉ-dụ kể trên chứng tỏ một bần nông kiếm không đủ gạo buôi thân vẫn phải nộp thuế cho Ðảng và cho chính-phủ.

Trường-hợp B

Cụ Bính là một địa-chủ vì cụ có 15 mẫu ruộng. Cả cụ ông lẫn cụ bà đều già nua tuổi tác, có hai người con nhưng một người đi bộ-đội và một người làm cán-bộ mậu-dịch nên không có nhà. Vì không cày cấy lấy được nên ruộng phải cho tá-điền làm thuê, mỗi mẫu lấy 400 kilô thóc (rẽ đôi), nghĩa là 6.000 kilô tất cả. Tuy gia-đình cụ Bính có bốn miệng ăn, nhưng chỉ được coi là có ba nhân khẩu, vì người con đi bộ-đội được tính là một nhân khẩu, còn người con làm cán-bộ, có lương, thì không được tính. Mang 6.000 kilô chia cho 3, thành ra mỗi nhân khẩu được 2000 kilô, như vậy là gia-đình cụ Bính được xếp vào bực 41, loại cao nhất. Thuế của cụ tính như sau:

Nộp cho chính-phủ 45 phần trăm của 6.000 kg : 2.700 kg
Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 2.700 kg : 405 kg
Tổng cộng : 3.105 kg
Nhưng vì cụ Bính không tự cày cấy lấy ruộng và tất cả lợi tức của cụ là do “bóc lột” tá-điền mà có, nên thuế của cụ phải tăng thêm 25 phần trăm. Như vậy thuế của cụ sẽ là : 3.105 kg x 1,25 = 3.881 kg 250, nghĩa là 64,68 phần trăm tổng-số thu-hoạch. Cụ còn lại 2.118 kg 750 thóc, tương đương với 1376 kg gạo.

Tạm định là hai cụ già ăn mỗi ngày hết 1 kg gạo, tức 365 kg mỗi năm, thì còn thừa 1.011 kg gạo để bán đi mua măm muối, rau cỏ và chi tiêu các món khác là vừa vặn, chưa nói đến may mặc và thỉnh thoảng phảI mua cho con bút máy, đồng hồ mà cán-bộ và bộ-đội vẫn thường vòi vĩnh bố mẹ, hoặc đôi khi phải thay trâu bò cày ( bán con già mua con non ) cho tá-điền.

Tính thuế theo kiểu trên đây mới là giả-dụ thu-hoạch của gia-đình cụ Bính được “bình” đúng mức, nhưng thực tế thì không mấy khi như vậy. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, muốn tính thuế phải nhận diện-tích ruộng với sản-lượng mỗi mẫu, nhưng cả hai con số này bao giờ cũng bị “kích” lên quá lố.

Về diện-tích thì đáng lẽ không cần phải “bình” vì hầu hết mọi nơi, Pháp đã đạc-điền nên chỉ việc xem “trích-lục” ruộng là biết rõ diện-tích mỗi thửa một cách rất chính-xác. Nhưng cán-bộ không bao giờ công-nhận những con số trong trích-lục và nhất định bắt nhân dân phải “bình” lại, để đưa ra một con số lớn hơn. Người ngoại cuộc không thể nào chấp nhận được lối làm việc phi-lý như vậy, nhưng cán bộ cộng-sản nhất định cho rằng chỉ có “bình” mới đúng, vì “nhân dân rất sáng suốt, không bao giờ bình sai cả”. Tỉ-dụ, một nông dân có một mẫu ruộng, khai là một mẫu, nhưng cán-bộ xui cốt-cán1 đồng thanh nói là thửa ruộng ấy rộng 1 mẫu rưỡi. Chủ ruộng không có thể cãi và không giám mang trích-lục ra đối chiếu vì biết1 Cốt cán là những nông-đân theo Ðảng và làm việc cho Ðảng, chưa được thu-nhập vào Ðảng. trước là nếu có chìa trích-lục ra thì thể-tất cán-bộ sẽ bĩu môi nói : “Ngày xưa Pháp và bọn đặc-điền ăn tiền nên đề láo, chỉ có nhân dân mới ước lượng đúng mức”. Việc “kích” diện tích ruộng cao hơn, không phải chỉ nhằm phá sản một mình giai cấp địa-chủ, mà chính-thực là muốn bần-cùng-hóa toàn thể nông-thôn.

Bốn năm sau, trong dịp “Sửa Sai”, Việt Cộng hạ thấp tất cả sản lượng xuống một bực. Việc này chứng tỏ, trong bốn năm đầu, Việt Cộng đã chủ trương làm kiệt quệ toàn dân để khiến mọi người trở thành dễ sai dễ bảo, và không có điều kiện nổi loạn. Tục-ngữ Việt-Nam có câu “lạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Hết tiền, hết gạo, mọi người phải an phận chịu đựng. Ðoạn văn sau đây, trích trong tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng Lao-Ðộng, phơi bầy tất cả mánh lới mà Việt Cộng đã dùng để “kích” thêm diện-tích ruộng:

“Khi điều chỉnh diện tích , cán-bộ đội “Tô-Hiệu” đã gò nhân dân tự báo diện tích tăng từ 10 đến 25 %. Nhà chị Tèo, trung nông, có 1 mẫu, 9 sào ruộng, phải báo đi báo lại đến 4 lần, tăng lên thành 2 mẫu 5 sào, cán bộ mới nhận là đúng. Ông Quân phú nông, có 5 mẫu, nghe phong thanh có người bảo “không báo đúng sẽ bị tịch thu tài sản” sợ, nên phải báo lên thành 6 mẫu. Có cốt-cán biết cán bộ dùng mình làm “điển hình” để gò ép quần chúng, nhưng không giám phản đối. Sau này chị Tít đã thú thật : “Tôi ngượng vớI nhân dân quá, nhưng chị đội1 cứ “bồi-dưỡng” 2 thành ra phải nói dối.”
NGUYỄN-ỨNG-CHIÊM
Báo Nhân Dân, số 903, ngày 24-8-1956

Cộng-sản dùng cốt-cán để bắt nông-dân phải khai tăng diện-tích ruộng, rồi lại bắt họ phải khai tăng cả sản-lượng mỗi mẫu hoặc mỗi sào. Tỉ-dụ, một trung-nông có một mẫu và gặt được 800 kilô thóc, và khai là gặt được 80 kilô hoặc ít hơn một chút. Cán-bộ cộng-sản không nhận là đúng và xui cốt-cán khai giữa cuộc họp là anh ta có 2 sào cũng ở cánh đồng ấy mà anh ta gặt được 240 kilô, ngụ ý rằng nếu có 1 mẫu thì phải gặt được 1.200 kilô. Người có một mẫu ruộng phải câm miệng, không giám cãi.

Ðoạn văn sau đây trích trong một thiên phóng-sự điều tra của báo Thời Mới về chiến dịch Sửa Sai chứng tỏ Ðảng đã dùng cốt-cán làm nội-công để buộc nông-dân phải nhận sản-lượng cao như thế nào:

“Ðến phần điều-chỉnh sản-lượng càng lắm ý-kiến bàn cãi. Cùng một khoảng ruộng, người thì nói nhà tôi gặt được 3 thúng, người thì nói chỉ gặt được thúng… Ông Biểu, một trung-nông ở thôn Miễu, đỏ mặt tía tai ở hội-nghị xóm : “Ruộng hạng A ở làng này chỉ 100 cân là hết nước, dự-kiến 130 thì định đánh cả thóc rơm, thóc lép hay sao ? Cải-cách đã sai rồi bây giờ lại theo như Cải-cách thì sửa sai cái gì ?” Mọi người nhao nhao đồng ý. Anh em ban thuế thôn ngồi thừ, không ai nói gì.”
Thời Mới, ngày 19-4-1957

Vì cả diện-tích ruộng lẫn sản-lượng đơn-vị đều bị kích lên nên con số thu-hoạch tăng lên quá chừng. Kết quả là, thường khi một bần-nông chỉ gặt được 100 kilô phải nhận là gặt được 200 kilô, để chịu thuế tính theo 200 kilô. Số thuế sẽ tăng quá gấp đôi vì 100 kilô chỉ phải đóng 6 phần trăm mà 200 kilô phải đóng tới 10 phần trăm. Kết quả là tuy chính-quyền Việt Minh tuyên bố chỉ thu 20 phần trăm hoa-lợi của nhân dân, thực ra đã thu quá 40 phần trăm.

Với chính-sách thuế khóa như vậy, trung-nông có 5,7 sào thường phải đóng cho chính-phủ nhiều hơn ngày trước tá-điền phải đóng địa-tô cho địa-chủ. Chính-phủ thu thuế nông-nghiệp một năm hai lần, ngay sau khi gặt chiêm và gặt mùa, mà phải nộp hoàn toàn bằng thóc. Những thửa ruộng trồng hoa mầu khác hoặc trồng cây ăn quả vẫn phải nộp thuế bằng thóc; nộp tiền chính phủ cũng không chịu. Nền nhà và sân, dù là sân gạch, nếu rộng quá một mẫu cũng phải chịu thuế nông-nghiệp như ruộng lúa. Có ngườI phá sân làm ruộng để lấy lúa nộp thuế, nhưng bị quy tội là đã “phá-hoại tài sản của nhân dân”.

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem
Phần1 Cái vinh & cái nhục của một tiểu nhược quốcPhần2  Nước Mất Lại Còn

May 17, 2008

Nhân Dân Việt Nam bị ngộ độc vì cái nhãn hiệu (UNESCO)!

 

TRẦN NHU

Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới thật hay giả?

Ðã nhiều thập niên qua cho đến ngày nay, giới lãnh đạo đảng CSVN cố tình lợi dụng danh nghĩa cơ quan Unesco để dối gạt lòe bịp nhân dân Việt Nam, rằng chủ tịch Hồ chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới do nghị Quyết của Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc thực hiện.

Họ làm hàng “Giả” mà như hàng “Thật” một trăm phần trăm.

Tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN đã làm trò ảo thuật và bài bản như thế nào? Ðể nhân dân có thể tin là Hồ chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới?

Tác giả sẽ lật tẩy với những bằng chứng cụ thể cho mọi người thấy rõ trò ma giáo của họ:

Thứ nhất là trên phương tiện tuyên truyền giáo dục sách vở, báo chí đều đồng loạt viết Hồ chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Ở đây tôi chỉ dẫn những bộ sách chính như (Bộ Thông Sử Thế Giới Vạn năm) do nhà Xuất Bản Văn hóa Thông Tin Hà Nội phát hành năm 2004, có bài (Hồ chí Minh năm 1890-1969) của giáo sư Ðinh Xuân Lâm (tập 2 B nơi trang 1548-1500, nội dung bài viết khẳng định Hồ chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới, sách (Hồ chí Minh Toàn Tập, tập 7 NXB Sự Thật Hà Nội 1987 tr 260, Hồ chí Minh – Toàn Tập) tập 8, tr 598, tr 595, sách (Nền Văn Minh Thế Giới) do nhà Xuất Bản Thông Tin Văn Hóa Hà Nội phát hành năm 1999, cũng bài của giáo sư Ðinh Xuân Lâm, nơi trang 1825.

Trong bài (Chủ tịch Hồ chí Minh Danh nhân văn hóa của nhân loại. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Niên, nguyên chủ tịch ủy ban UNESCO của Việt Nam. Viết vào tháng 5 năm 2000 đăng trong các báo nhân dân, quân đội (tác giả không nhớ số) HCM là danh nhân văn hóa thế giới (xem Website: www.cpv.org.vn/hochiminh/cuocdoisunghiep/docs/nguyenduynien danhnhanvanhoa.htm).

Bài diễn văn của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tại lễ kỷ niệm lần thứ 109 ngày sinh của Chủ Tịch Hồ chí Minh và 30 năm thực hiện di chúc của người.

Mở đầu ông viết : (Với niềm tự hào và lòng biết ơn vô hạn, hôm nay chúng ta tổ chức trọng thể Lễ Kỷ Niệm lần thứ 109 ngày sinh của Chủ Tịch Hồ chí Minh, lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, người thầy vĩ đại của đảng, người cha thân yêu của các lực lượng võ trang nhân dân ta, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế , phong trào giải phóng dân tộc danh nhân văn hóa của thế giới. Người làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta).

Ðến lần kỷ niệm 110 với đề : “Tư tưởng Hồ chí Minh soi sáng con đường đảng và nhân dân ta tiến vào thế kỷ thứ 21. Có đoạn viết: Chủ tịch Hồ chí Minh là hiện thân của tinh hoa văn hóa Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới… đỉnh cao của tư tưởng nhân văn nhân loại) Tổng Bí thư Lê khả Phiêu tiếp tục khẳng định như vậy bài diễn văn này in trong bộ Thông Sử Thế Giới Vạn Năm tập 2b tr 1551, 1556.

Sách Giáo Dục Công Dân lớp 7 do nhà xuất bản giáo dục năm 1997 tr 53 có bài “Tinh hoa của dân tộc Việt Nam góp phần vào tinh hoa thế giới.” Cũng có nội dung khẳng định như các sách trên là khẳng định một sự kiện vĩ đại là vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (tức Unesco), đã ra một nghị quyết công nhận HCM là danh nhân văn hóa thế giới. Trong đó có đoạn viết “Chủ tịch Hồ chí Minh là một hiện tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ” (Trích nghị quyết UNESCO sách đã dẫn)

Tôi lấy làm lạ! Ðọc lại bài của GS Ðinh Xuân Lâm trong (bộ Thông Sử thế giới vạn năm) tập 2b nơi trang 1550 có đoạn viết: PhLeng SiSulat (Thứ Trưởng Bộ giáo dục và thể thao Lào) khẳng định:

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”

Một câu nói giản dị, ngắn gọn đã trở thành một câu danh ngôn mang những âm vang cộng hưởng không chỉ bó hẹp trong đất nước con người Việt Nam, mà còn là lý tưởng đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”, dẫn Nghị quyết của tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp quốc (UNESCO).

Có lẽ nào cái anh chàng thứ trưởng Bộ giáo dục và thể thao cái xứ Lào cộng này lại ra nghị quyết trên? Tôi đã đọc khá kỹ các bài viết trong các sách, nhưng tất cả không có bài nào ghi cụ thể là nghị quyết số mấy, ký ngày nào và do ai ký. Tại sao một nghị quyết lịch sử quan trọng như thế lại không có một văn bản chính thức? Không có ngày, tháng, không ai ký! Vậy nó có giá trị gì?

Tuy nhiên, do hệ quả của việc tuyên truyền giáo dục nếp lang quy mô cứ từ trên xuống dưới như thế nhiều năm, nên người dân Việt Nam và 100% học sinh tiểu học, trung học, đại học ở trong nước đều tin tưởng HCM là danh nhân văn hóa của thế giới thật.

Trong khi đó tất cả người Việt sinh sống ở nước ngoài đều biết rõ đây là trò gian lận. Gần đây Ðài Á Châu Tự Do trong phần hội luận với sinh viên trong và ngoài nước, sáng thứ tư hàng tuần, do cô Trà Mi phụ trách, có nêu vấn đề này. Do có những nghi ngờ sinh viên Nguyễn Thanh ở Sài Gòn đã viết thư cho UNESCO hỏi xem HCM có phải là danh nhân văn hóa thế giới do nghị quyết của UNESCO thực hiện hay không? Anh đã nhận được thư hồi âm của UNESCO trả lời rõ là việc đó rất tiếc chưa hề xảy ra. Nghĩa là họ phủ định.

Theo tôi việc UNESCO trả lời sinh viên Nguyễn Thanh hay cá nhân nào khác chưa đủ, mà họ phải có một văn bản chính thức gửi cho chính phủ CHXHCNVN. Nói rõ cho họ biết là tổ chức UNESCO không hề có một nghị quyết nào như thế cả, và đề nghị chính phủ CHXHCNVN phải rà soát lại toàn bộ những điểm liên quan đến vấn đề này, như các sách sử và những biên soạn sách giáo khoa ở Việt Nam, một cách nghiêm chỉnh đúng với sự thực.

Về phương diện tinh thần nó vô cùng nguy hiểm và độc hại hơn cả bom đạn, nhất là đối với các thế hệ học sinh, sinh viên cũng như nhân dân Việt Nam.

Dùng danh nghĩa UNESCO để lừa dối cả một dân tộc làm cho hàng trăm triệu con người tin tưởng một cách sai lạc, nhất là về mặt lịch sử, văn hóa, giáo dục, đạo đức là một việc không thể làm ngơ. Chính vì vậy mà cơ quan văn hóa, khoa học, giáo dục Liên Hiệp quốc phải có bổn phận và trách nhiệm giải độc cho dân tộc chúng tôi.

Về phương diện pháp lý quốc tế, chính phủ CHXHCNVN và cả cơ quan UNESCO phải có trách nhiệm.

Xét rằng không ai có thể làm thay được UNESCO. Cơ quan có liên hệ đến các quốc gia trên toàn thế giới. Riêng về sự việc trên nó có liên quan trực tiếp đến cả dân tộc Việt Nam, lịch sử Việt Nam.

Nhìn ở góc độ pháp lý khác UNESCO có quyền lợi, họ có danh dự, họ phải tự bảo vệ mình. Khi có cá nhân hoặc quốc gia nào lợi dụng uy tín của mình (nhãn hiệu) (mác) (bản quyền, phát minh) để làm giả thì phải có biện pháp. Vả lại các sáng chế phát minh, đến các bảng hiệu quảng cáo người ta còn giữ bản quyền huống hồ là một tổ chức lớn nhất thế giới như UNESCO.

Chúng tôi mong rằng họ sớm phải có một văn bản chính thức gởi cho Hà Nội, và những biện pháp pháp lý hữu hiệu. Chúng tôi cũng hy vọng các tổ chức của người Việt ở trong nước cũng như ngòai cần có một văn thư gửi cho UNESCO. Ðây cũng là trách nhiệm của các đoàn thể, của mọi người trong vấn đề vô cùng quan trọng này đối với chính con em chúng ta, với lịch sử.

Một kẻ thất học, không có văn hóa và chuyên nghề phá hoại văn hóa dân tộc lại có thể trở thành một danh nhân văn hóa lớn của nhân loại thì quả là tài bịp bợm quá (siêu)!

Chương 11

Lễ truy điệu trùm bịp bợm vĩ đại

Ngày 9-9 năm 1969 tại quảng trường Ba Đình, gần 50 vạn người đã dự lễ truy điệu HCM.

Từ ngày hôm trước đám tang Hồ chí Minh. Các khu phố nội ngoại thành Hà Nội: Công an hộ khẩu, tổ trưởng, tổ phó dân phố, những kẻ trực tiếp nắm vận mệnh của dân chúng đến từng nhà phát khăn tang và dặn mọi người già trẻ đàn ông đàn bà phải có mặt đầy đủ và đeo khăn tang.

Sau bao nhiêu năm cai trị miền Bắc. Tuy khát máu tàn bạo, bất nhân, bất nghĩa, bất tín. Nhưng đại thành công, vì không có đối thủ cạnh tranh một mình một chợ, không ai cản trở ông, nói cách khác chính phủ mafia gây tội ác trong bóng tối không gặp trở ngại nào, đã hoàn thành nhiệm vụ của quốc tế cs giao cho một cách xuất sắc: bắn giết đồng bào, phát động đấu tranh giai cấp, trấn lột, phá các di tích lịch sử văn hóa, gây chiến tranh, nhiều vụ tàn sát do ông điều khiển, tất cả đều nhân danh vì độc lập tự do. Khi chết lại được đcs mô tả như một vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam, yêu nước, thương dân, quên mình cho nên tang lễ được tổ chức hết sức trọng thể, hơn 40 đoàn đại biểu của các quốc gia đến Hà Nội dự tang lễ tên trùm lưu manh, hơn 230.000 bức điện và thư của các vị nguyên thủ quốc gia, các nhân sĩ trí thức của 120 nước gửi điện thư đến chia sẻ nỗi đau buồn, và sự thương tiếc kính trọng của họ. Dân chúng thương tiếc vô hạn hàng mấy chục vạn người đến viếng, mặc dù trước đó thân nhân của họ bị sắc luật CCRĐ của HCM xử bắn, bỏ tù, tước đoạt tài sản và ngay bản thân họ bị đối xử như súc vật thế mà trong tang lễ hàng ngàn người vật vã than khóc thảm thiết như cha chết. Tôi không được trực tiếp chứng kiến cảnh này, vì lúc đó còn ở trong kiên giam ở Hà Giang. Sau khi đi tù về tôi có hỏi cô em gái ở Hà Nội: đám tang ông Hồ em có khóc không? “Có, anh à!”. Tại sao em khóc, em thương tiếc ông ấy à? “Không”, vì chung quanh em ai cũng vật vã khóc lóc thảm thiết. Nên em cũng phải khóc thôi. Nếu không cán bộ khu phố cho là mình có vấn đề… đến khi sắp vượt biên tôi có dịp hỏi một anh bạn ở Hà Nội về chuyện này, anh ta cười có vẻ bí ẩn và bảo: “Cố đạo với thầy chùa còn khóc huống hồ là…”  À ra thế! Từ dạo đó năm tháng cứ một mực qua đi… gần đây tôi lại được đọc bài thơ của Ngài Hòa Thượng Quảng Độ đã phác họa lại cảnh đám tang Chủ Tịch Tôn Đức Thắng trong bài:

Sư Cụ và Đức Cha

 

Sướng thân sư cụ và đức cha

Bẩy ngày hiếu phục cái thây ma (1)

Quả thực hoạt cảnh này gây “Sốc”, mà nhà thơ không bày đặt gì, chỉ truyền đạt: bằng hoạt cảnh rút ngắn từ hiện thực. Một câu chuyện lớn. Đám ma “vua vô thần.”

Thõng thượt đức cha đeo thập giá

Thùng thình sư cụ khoác cà sa

Khúm núm đứng hầu người trong quách

Cha-Sư! Hài hước bất ngờ đến xót xa! Nó cũng lại giống như một câu chuyện tiếu lâm, kỳ cục mà có thật trăm phần trăm. Tác giả đã từng được đọc, được nghe biết, nhiều chuyện quái đản, cả những truyện trên trời dưới âm phủ… Tất nhiên những chuyện ấy có ảnh hưởng giúp cho việc sáng tác. Những chuyện ở mức người ta tưởng tượng ra cho thế giới của loài người như ở An Độ. Ở Tầu, truyện Nghìn Lẻ Một Đêm, tác phẩm vĩ đại nhất của nền văn học Ả Rập là phép nhiệm mầu của những ảo giác và của trí tưởng tượng, tưởng đâu đã tới mức thượng thừa, nhưng so với loại truyện tân kỳ quái đản kiểu “đám ma vua vô thần” thì truyện Ấn Độ, Ả Rập dù là tưởng tượng cũng còn thua xa!

 

Xum xoe lạy tạ kẻ vào ra

Danh lợi đã lừa hai cặp mắt

Lù lù đống mối tưởng mồ cha!

Thật là quá kinh khủng đến phát rét! Họ tự làm nhục mình, làm nhơ lây cả đạo. Nó hạ thấp phẩm giá con người xuống thấp một cách đáng khinh bỉ! Việc này không phải chỉ một vài cá nhân vô ý thức, mà có cả một bè… Họ bỏ cả cha mẹ, bỏ tất cả quyền lợi thế gian phát nguyện quy y Phật, quy y Pháp… không quy y tà đạo, ác đảng. Nương tựa Phật, nương tựa Pháp. Bây giờ họ nương tựa vào bác đảng, họ quy y tà đạo ác đảng, đem cả tượng HCM vào chùa thờ trong khi vẫn ăn cơm, mặc áo của đàn Việt, đầu nhẵn nhụi đi giữa nhân gian như người ta thường gặp. Rồi trong quốc hội cs lố nhố sáu bẩy cha-sư. Loại này đóng nhiệm sở ở chùa mà làm việc cho ác đảng phá chùa, diệt đạo… Thôi tạm gác lại đây để trở lại đám tang HCM ở Bắc Kỳ năm 1969 thì có nhiều chuyện bi hài quái đản rồi!

Nhưng lạ làm sao ở bên kia vĩ tuyến 17 cũng có hàng triệu kẻ sắp là nạn nhân của bạo chúa tỏ ra luyến tiếc! Hàng trăm chiếc xe hoa, hàng ngàn biểu ngữ, ca tụng cũng như tiếc thương…

Các ủy viên BCT ưu tú của đảng (những kẻ sát nhân đứng quanh quan tài, cả nước im phắc dưới ngọn cờ rũ, nghe TBT Lê Duẩn đọc diễn văn hết sức lâm ly… Và thứ tự ra sao? Đây là vấn đề phân hạng bậc, ai đứng góc phải linh cữu, ai đứng góc trái, ai đứng trước ai đứng sau, ai đứng vòng trong, ai đứng vòng ngoài quan tài, mỗi kẻ có chỗ đứng tương đương với địa vị của họ, trong cùng với vị trí được ban tổ chức Trung Ương Đảng xếp đặt cho mình, chứ không phải ai muốn đứng ở trước, ở sau thế nào cũng được.

HCM đã trở thành huyền thoại, ngay sau khi ông ta chết BCT TUĐCSVN quyết định tổ chức một đám tang lớn nhất, biến tên sát nhân thành thánh nhân. Biến một tên tay sai của cs quốc tế thành người chiến sĩ tự do, biến kẻ cướp thành người bảo vệ… Bộ máy tuyên truyền của đảng thi nhau tô son chát phấn cho ông, đồng thời tiếp tục xóa dấu tích tội ác của HCM, họ có quá nhiều kinh nghiệm trong nghề, mô tả HCM như một bậc hiền nhân, một người cực kỳ giản dị, để làm gương sáng cho kẻ khác noi theo. Sau khi ông chết, họ mang mấy bộ quần áo nâu sờn cũ, đôi dép cao su Bình Trị Thiên ra trưng bày ở viện bảo tàng HCM, để chứng minh cuộc đời bình dị, cần kiệm, khiêm tốn của ông cho nhân dân thấy (những thứ này ngày trước ông thường dùng để trình diễn, mà không ai biết) các thức ăn đồ uống hảo hạng… được đưa tới Dinh Chủ Tịch phần lớn là nhập ngoại… Có cả gái tươi đẹp mua vui cho vua vô sản.

HCM người sáng lập ra ĐcsVN được tổ chức từ năm 1930 và đi vào lịch sử tội ác với cái tên ban đầu là Đảng Lao Động VN. Tác giả tạm khép lại phần này để trở lại bàn về phong thủy lăng Hồ chí Minh.

TRẦN NHU

May 15, 2008

TRÒ HỀ CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG & NHÀ NƯỚC VIỆT CỘNG

SAIGON – Hôm nay, thứ ba ngày 13.05.2008, Báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ đã đăng rộng rãi tin hai nhà báo hàng đầu trong phong trào chống tham nhũng, nhà báo Nguyễn Việt Chiến của Báo Thanh Niên và nhà báo Nguyễn Văn Hải của Báo Tuổi Trẻ đã bị bắt và tạm giam, vì hai nhà báo này đã can đảm tố cáo những vụ tham nhũng lớn của chế độ\.

Họ bị tố cáo “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ” (Điều 281, Bộ luật Hình sự) trong việc đưa tin bài về vụ tham nhũng tại Ban quản lý các dự án 18 (PMU 18)\.

Vào thời điểm vu. PMU 18 nổ ra, hai nhà báo nói trên đã tham gia tích cực đưa tin về vụ án này

Hai anh đã “thường trực 24/24 tại mọi nơi từ nhà riêng đối tượng tình nghi đến trực chiến tại cổng Cơ quan điều tra C14, mở mọi mối quan hệ từ các nguồn tin, .chỉ với một mong muốn: Vụ án sẽ được làm đến cùng, những kẻ sâu mọt tham nhũng tiền thuế của dân sẽ bị trừng trị nghiêm khắc” (TN 13.05.2008)\ . Lẽ ra Nhà Nước phải mạnh tay để loại trừ tham nhũng, coi như quốc nạn của chế đô. CSVN, thì nay Đảng và Nhà Nước lại tiếp tay cho bọn tham nhũng hàng đầu, bằng cách bắt giam hai nhà báo được nhiều uy tín trong công cuộc chống tham nhũng\.

“Theo đánh giá của Ban Biên tập Báo Thanh Niên, Nguyễn Việt Chiến là nhà báo nhiệt huyết, chín chắn và có nhiều bài viết dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực, đặc biệt trong vụ án ‘Năm Cam và đồng bọn’, được dư luận đánh giá cao” (TN 13.05.2008)\ .

“Nhà báo Nguyễn Văn Hải từng đoạt giải A Giải báo chí toàn quốc năm 2003 về loạt bài chống nạn cơm tù, xe cướp trên quốc lộ 1?

Ban Biên tập của Báo Tuổi Trẻ khẳng định anh Nguyễn Văn Hải “là một cây bút trong sáng, đầy nhiệt huyết và dũng cảm trong cuộc chiến chống tham nhũng” (TN 13.05.2008)\ .

Qua những nhận xét của hai Ban Biên tập Báo Thanh Niên và Báo Tuổi Trẻ, chúng ta xác tín rằng hai nhà báo nói trên là những nhà báo tài năng, nhiệt huyết, cẩn thận, chín chắn, dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng\.

Với việc bắt giam hai nhà báo hàng đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, Nhà Nước chứng tỏ việc chống tham nhũng chỉ là một trò hề.. Những người có chức có quyền sống trên xương máu của người dân muốn dẹp hẳn phong trào này, biến phong trào này thành một thứ trang trí cho chế độ, chứ không muốn dẹp quốc nạn

LM Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế

(ĐT)

May 10, 2008

Chế độ kiểm duyệt gắt gao của Trung Quốc

Ông X. Far Eastern Economic Review tháng 5/08. Lê Minh lược dịch

Sau cuộc bạo động xảy ra ở Tây Tạng hôm 14 tháng 3, việc tìm kiếm thông tin từ thế giới bên ngoài trở nên khó khăn hơn cho người dân Trung Quốc, trong khi đó thì lại tràn ngập những thông tin không đâu vào đâu, được các cơ quan thông tấn báo chí nhà nước lập đi lập lại. Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đóng khung, cách ly công chúng Trung Quốc với các ngôn từ liên quan đến bạo động, ngăn cấm những thảo luận có liên quan đến vấn đề sắc tộc và thậm chí đưa ra dẫn chứng cho rằng vấn đề bạo động ở Tây Tạng có liên quan đến chuyện Trung Quốc bị các cường quốc ăn hiếp trước đây. Việc đóng khung này làm cho công chúng quên đi những thất bại của chính phủ và vẽ một bức tranh rằng Đảng lúc nào cũng nhận được sự ủng hộ, cùng với nhân dân chống lại các thế lực thù nghịch quốc tế. Lý lẽ này có sức thuyết phục mạnh vì ĐCSTQ lên nắm quyền sau “cuộc chiến đấu anh dũng” chống quân xâm lược Nhật.

Dưới con mắt của công chúng, các diễn biến xảy ra ở Tây Tạng chẳng hề được xem là đã bị kiểm duyệt ở đất nước rộng lớn này và cho dù nếu có đi chăng nữa thì chẳng qua đó là những thông tin không có lợi mà thôi. Thay vào đó nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tạo ra được một sự đồng nhất: chẳng có chuyện gì quan trọng hơn một xã hội ổn định.

Do đó, người dân Trung Quốc thờ ơ với các thương hiệu ngoại quốc lớn như Disney, hay Starbuck. Họ lại đồng ý ủng hộ các thương hiệu được ĐCSTQ cho là gần với Trung Quốc hơn. Họ được tưởng thưởng nếu làm theo, bị phạt vạ nếu không dự phần vào và bị nghiêm trị nếu dám lên tiếng chống đối.

Để có được sự phục tùng triệt để, nhà nước yêu cầu người dân, các tổ chức phải biết kết hợp vai trò chính trị, kinh tế và xã hội của mình để đối phó với những hoạt động kém hiệu quả và xuyên tạc. Trong khi đó, mớ bòng bong giữa các khẩu hiệu mệnh lệnh của nhà nước, rồi chuyện ngăn cản những ý tưởng diễn đạt ngoài luồng và chuyện phóng đại những việc được nhà nước cho phép, làm cho người ta khó mà đoán được những người dân có ý thức hệ ở mức trung bình đang nghĩ gì.

Một nguyên tắc chính yếu làm cho cả hệ thống này thông suốt được đó là người ta không cảm nhận được hoặc chẳng thấy có cái gì là chắc chắn cả. Người dân hiểu rằng công an cán bộ nhà nước nhất quyết gò ép họ phải tuân thủ các mệnh lệnh. Và họ cũng hiểu rằng các áp lực để duy trì nguyên tắc này của chính phủ trung ương cùng với các quyền lợi của quan chức địa phương đã tạo ra một khung luật lệ quá rộng lớn để người dân tuân thủ. Phương cách hành xử luật của nhà cầm quyền là theo dõi, bắt bớ và giam cầm. Nhưng thường thì các phương cách này được sử dụng để trấn áp hơn là thực thi pháp luật. Bởi vì bất cứ hành động hay lời nói hớ hênh nào khác với tư tưởng chỉ đạo đều được hiểu là chống lại ĐCSTQ, chứ không phải là chính quyền nhân dân. Luật dân sự được áp dụng một cách bừa bãi. Do đó, những ai có hành động chống lại “cảm nhận của nhân dân Trung Quốc” đều bị bắt bớ tù đày, bị công an mật vụ hành hung và trấn áp.

 

 

Trong công việc hằng ngày, nhà nước sử dụng hình thức cấp phép cho doanh nghiệp như là phương cách để giữ nguồn thông tin liên lạc được chặt chẽ và liên tục. Theo thông lệ thì tất cả các công việc làm ăn có liên quan đến báo chí, truyền thông, bưu điện, bán lẻ và phân phối, giao thông vận tải – theo luật đều phải do nhà nước hoặc do các công ty Trung Quốc làm chủ. Đây là phương thức được xem là cách kiểm soát hữu hiệu nhất.

Các phương thức kiểm soát cũng tùy thuộc vào chính sách. Trên văn bản, nhà nước kiểm soát tất cả mã số của các máy in do đó không thể có chuyện xuất bản ấn phẩm mà không có sự thông qua. Và cũng không có chuyện sách vở hay tạp chí được in ấn và phân phối mà không thông qua sự kiểm duyệt, cho phép của nhà nước. Chương trình truyền hình và các buổi phát hình trực tiếp phải có sự chấp thuận của các cơ quan tuyên huấn trước khi trình chiếu, và phải có sẵn một cơ chế để ngưng việc phát hình ngay lập tức nếu gặp phải “sự cố”.

Sự ra đời của Internet là một thử thách mới đối với nhà cầm quyền Trung Quốc bởi vì người ta có thể xem các chương trình tivi trực tiếp trên mạng và vì nó lớn mạnh ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan nhà nước trong công tác kiểm soát thông tin báo chí thông thường. Thoạt tiên thì Internet được xem là một phương tiện truyền thông. Các quy định về Internet đang được các quan chức của Bộ Bưu Điện và Viễn Thông (BĐ&VT) xem xét. Trước khi hệ thống Internet phát triển ở Trung Quốc, Bộ BĐ&VT đã sát nhập với một bộ chuyên trách kỹ thuật và điện tử. Một phần là do có sự liên hệ nhập nhằng này cho nên sự kiểm duyệt Internet hiện nay thiên về tích cách kiểm soát kỹ thuật hơn.

Các vấn đề kỹ thuật này bao gồm 3 hạng mục như sau: Ngăn chặn và chuyển địa chỉ, gạn lọc, và tung ra các cuộc tấn công phá phách các trang mạng của tổ chức, cá nhân nhưng được ngụy trang, che đậy kỹ lưỡng. Ở vế thứ nhất, là các chuyên viên ngành viễn thông kiểm soát các điểm giao kết giữa các hệ thống chính của Trung Quốc và các hệ thống thông tin liên lạc quốc tế. Ở vế thứ 2 là đâu đó tại 15 đến 20 trung tâm dữ liệu lớn của các công ty điện thoại. Ở vế thứ 3 thì bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ internet, lên đến con số hàng trăm và vế thứ 4 là bao gồm tất cả các văn phòng địa phương, hệ thống chuyền tải và các quán Internet Café, lên đến con số vài trăm ngàn. Tùy theo mức độ xảy ra, việc ngăn chặn và chuyển địa chỉ sẽ được các cơ quan dưới Bộ quyết định và thực hiện theo chỉ thị của Bộ Kỹ Nghệ Tin Học thông qua các trung tâm dữ liệu của các công ty điện thoại.

 

Ở Trung Quốc, các quyết định về kiểm duyệt đến từ các cơ quan ở các vị trí khác nhau cho các vấn đề khác nhau về Internet. Nói một cách khác, các cơ quan này muốn đẩy trách nhiệm xuống tầng dưới cùng mà tận cùng là người sử dụng Internet, vì như vậy sẽ giảm thiểu vướng mắc cho cả hệ thống. Chẳng hạn như khó mà xảy ra chuyện họ phải đóng cả cổng Internet quốc tế chỉ vì trang mạng BBC có bài nói về phong trào độc lập của Đài Loan; thay vì chỉ phải ngăn chặn trang đó thôi, hoặc là cả trang mạng của BBC.

 

Điều có thể tạo ra cản trở trong hệ thống Internet ở Trung Quốc, thật ra không phải là chuyện ngăn chận, gạn lọc và tấn công trang mạng mà là việc kiểm soát thông tin là ưu tiên một, hơn cả hiệu năng thương mại. Các công ty điều hành có thể tạo ra đủ loại rắc rối khó khăn chỉ với lý do vì “không có đủ thẩm quyền”. Thêm nữa, với sự can thiệp quá nhiều của con người để thực hiện hệ thống kiểm soát này đã khiến cho giá thành chuyển tải Internet ở Trung Quốc cao ngất ngưỡng. Đó là lý do giải thích tại sao giá cước viễn thông ở Trung Quốc cao gấp 10 lần so với Hoa Kỳ và Âu Châu.

 

Khâu cuối cùng và có ảnh hưởng nhất là hệ thống tuyên truyền và vấn đề kiểm duyệt chính trị. Người ta chỉ chia sẽ những thông tin “chuẩn” trong một cái vòng có mối quan hệ khắng khít, nhóm thân hữu bạn bè, gia đình. Chẳng hạn qua đó, người ta nói với nhau rằng việc đặt vấn đề tự trị cho Tây Tạng, Đài Loan, Tân Cương và các vùng dân tộc khác một hành động phá hoại, gây chia rẽ. Việc thảo luận về đời sống cá nhân của các lãnh tụ cũng được xem là một tội ác không thể dung thứ được.

 

Các công ty lớn nhỏ đều phải can dự vào chuyện chính trị như thế này, nếu không thì nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp như ngâm tôm các giấy phép, bằng khoán lên sàn chứng khoán hoặc là từ chối việc cho vay mượn tiền, hoặc là ngược đãi chính sách, gây khó khăn trong công việc làm ăn và nhiều thủ đoạn khác. Các cơ hội phát triển chỉ dành cho những công ty ngoan ngoãn chịu hợp tác với nhà nước.

 

Một vài ví dụ đơn giản là trong ngành truyền thông. Khi Rupert Murdoch muốn thuê đất ở Quảng Đông để dựng hệ thống Tivi Angten chảo Xingkong, họ điều kiện cho ông ta là phải đưa phim ảnh Trung Quốc vào hệ thống Tivi cáp của Mỹ. Các tạp chí nước ngoài khi tìm kiếm đối tác trong ngành ấn phẩm ở Trung Quốc đã được yêu cầu phải cho các bản tin về Trung Quốc vào – đôi khi là các tin hữu ích, nhưng cũng lắm khi là tin vớ vẩn.

 

Họ cũng không trắng trợn ràng buộc ai cả. Nhưng sẽ có những yêu cầu “nhẹ” trong công việc làm ăn kèm theo những lôi cuốn “nho nhỏ” được tích lũy theo thời gian chẳng hạn như: Những trợ cấp của chính phủ và phần thưởng dành cho các công ty biết hợp tác, những giấy phép béo bở, hoặc là một phần thưởng gì đó cho các quan chức lãnh đạo công ty. Chỉ cần nêu ra một vài ví dụ nho nhỏ thôi thì cũng dư biết công ty nào không tuân thủ một cách tự nguyện và miễn cưỡng. Các đại công ty đều phải hạ mình – cứ hỏi ông Rupert Murdoch thì biết.

 

Sau cùng thì, để làm ăn thành công ở Trung Quốc các công ty phải xem mục đích của ĐCSTQ cũng là mục đích của mình. Một trong những bước đầu tiên của một công ty đa quốc gia khi bước vào thị trường Trung Quốc là phải thuê một giám đốc chuyên trách quan hệ chính phủ để diễn giải các chính sách của Trung Quốc và kết hợp sự cam kết của công ty với các chính sách này trong việc thể hiện “cam kết đối với Trung Quốc”.

 

Thật ra, việc kết hợp các quyền lợi của ĐCSTQ với quyền lợi của các công ty làm ăn ở Trung Quốc là khả thi cho con tàu kinh tế Trung Quốc. Trong suốt 30 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống xã hội mà thể hiện được tính đồng nhất giữa công việc làm ăn và các quyền lợi chính trị to lớn hay quyền lợi xã hội.

Cách này liệu có thành công trong việc đề cao sự ổn định mà đảng hằng ấp ủ không? Cũng có thể là trong cái hệ thống xã hội đa dạng của Trung Quốc, việc bắt buộc các công ty hành xử như những vị bộ trưởng trong nội các, và các vị bộ trưởng thì phải hành xử như những quan chức điều hành công ty – là một cái giá phải trả cho một “xã hội hài hoà”. Hoặc, đó cũng có thể là cái giá để kéo dài sự sống còn của ĐCSTQ. Chúng ta tự đặt câu hỏi và cũng trả lời: việc duy trì chế độ độc đảng và việc duy trì ổn định xã hội cũng chỉ là một mà thôi.

* Ông X là một người làm ăn trong ngành truyền thông tại Trung Quốc. Danh tính của ông được dấu kín bởi vì chắc chắn rằng nếu để lộ ra thì ông sẽ mất ngay công việc làm ăn.

(ĐT)

Mở rộng Thủ đô và quyền được thông tin

Thứ Sáu, 09/05/2008, 08:27

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=121838&ChannelID=19

TP – Nhiều người đã kiến nghị Quốc hội ra một bộ luật về quyền được thông tin của công dân. Dư luận bàn rất sôi nổi về sự vội vã, thiếu cơ sở khoa học của đề án “mở rộng Hà Nội”.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt băn khoăn về việc mở rộng Thủ đô, một việc trọng đại, ảnh hưởng đến cả nước mà “sao lại đơn giản đến vậy”.

Ông thấy “đáng ngạc nhiên hơn là HĐNDTP Hà Nội đã nhanh chóng thông qua với biểu quyết đồng tình tuyệt đối. HĐND  Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hòa Bình cũng thuận theo. Lãnh đạo 18 bộ, ngành cũng đồng thuận”.

Chưa đầy 2 tuần trước Mặt trận Tổ quốc cũng thấy “mở rộng Hà Nội quá cập rập” nhưng cuối cùng cũng miễn cưỡng thông qua cho hợp với quy trình “lấy ý kiến” của dân thông qua mặt trận, HĐND các địa phương liên quan. Quốc hội họp kỳ này sẽ xem xét thông qua quyết định mở rộng với hiệu lực từ ngày 1/7/2008. Tất cả dường như đã xong, chỉ còn thực hiện.

Thế nhưng người dân, nhiều đại biểu Quốc hội, ít nhất như ông Dương Trung Quốc chẳng hạn, đến các cựu quan chức cấp rất cao như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng thấy bất ngờ. 

Song không phải vậy, họ không có thông tin, họ không được thông tin, thậm chí các vị “đại diện của dân” cũng chỉ mới có thông tin và phải ra quyết định dựa trên những thông tin đó, họ không có đủ thời gian để nghiên cứu, để tham khảo, để xem xét.

Ông  Bộ trưởng Bộ Nội vụ nói “nếu nói bất ngờ hay gấp quá thì không phải”, vì “chủ trương này đã có từ năm 2000”, “khi tiến hành các bước theo quy trình để chuẩn bị việc sáp nhập chưa đến giai đoạn trình Quốc hội, chưa có thông tin rộng, có thể đồng bào thấy là gấp”.

Có vấn đề lớn về cách thức ra quyết định, cách thức cung cấp thông tin. Một việc trọng đại của cả dân tộc, ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người, đến hơn 80 triệu dân Việt trong và ngoài nước, đến những người “chủ”. Thế mà các ông chủ không được “các công bộc” của mình cho biết thông tin.

Việc mở rộng Hà Nội chỉ là một việc trong trăm ngàn quyết định trọng đại khác. Đòi hỏi được thông tin, buộc các nhà chức trách phải cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho dân chúng là một đòi hỏi cấp bách. Các “công bộc” của dân không được “độc quyền” thông tin cho mình.

Sự độc quyền này sai căn bản với nguyên tắc “nhân dân làm chủ”, nó có hại cho bản thân những người có quyền ra quyết định vì không tham khảo được ý kiến rộng rãi của người dân, của các giới chuyên môn, nó làm cho việc thực hiện khó khăn do dân cảm thấy mình không được tham gia, không được tôn trọng dẫn đến mất lòng tin…

Nó có thể khiến nhiều người dân nghi ngờ rằng có những động cơ nào đó ở đằng sau. Nó khiến người ta nghi hoặc và đặt ra những câu hỏi đại loại như: có phải những người biết thông tin, hay kiếm được thông tin từ mấy năm nay đã có thể có nhiều héc ta đất ở các vùng dự kiến mở rộng đó (với giá đền bù của vùng sâu vùng xa) nay bỗng dưng trở thành tỷ phú một cách hợp lệ? 

Vì thế việc ra luật về quyền được thông tin chính xác, kịp thời, buộc các cơ quan nhà nước làm việc đó một cách minh bạch là nhu cầu bức xúc và chỉ có lợi cho nhà nước và nhân dân. Thông tin là tài sản, là nguồn lực phát triển và người dân, có quyền đòi các nhà chức trách phải cung cấp.

Nguyễn Quang A

 

Đối Thoại : Mở rộng Hà Nội và dời Thủ đô

Thưa Tiến Sĩ Nguyễn Quang A,

Người VN hiện còn thiếu rất nhiều quyền vì nhà nước được hình thành bằng bạo lực và duy trì bằng bạo lực, kết quả là một cơ chế xin cho (hay nói một cách khác là bố thí).Cho đến khi nào tư duy “xin cho, bố thí” được thay thế bằng tư duy “nghĩa vụ” thì chừng đó may ra chúng ta mới khá được .

Một vấn đề khác lớn hơn là  cái họa phương Bắc. Nhà nước phong kiến, nhà nước Cộng sản hay nhà nước nào đi nữa, bản chất xâm lăng người Hán không thay đổi . Cái họa phương Bắc đã có thể nhìn thấy : Nền kinh tế bị Tàu khống chế, biên giới phía bắc đã bị xâm lăng và sửa soạn xâm lăng bằng đường cao tốc …, biên giới phía tây, người Hán đã tràn xuống Lào, biển Đông  bị tàu khống chế, tàu bè muốn vào VN phải qua sự kiểm soát của Tàu trừ đường Cà Mau. Trên đất liền, Hồ Cẩm Đào đã đến Đà Nẳng để xác định Hoàng Sa là của Tàu, đuốc Olymic được tổ chức tại Sài Gòn để xác định biên giới phía Nam của Tàu.

Hành động dời thủ đô khỏi Hà Nội để báo động quốc dân cái họa phương Bắc và cũng để báo cho Hán triều biết dân tộc Việt nam theo dõi từng bước chân xâm lăng của Tàu. Mong rằng ý kiến này được Tiến Sĩ lưu ý.

 

CSVN chính thức cho phép quân đội và công an gây nhiễu

Wednesday, May 07, 2008

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=78183&z=1

Hình bên: Hình chụp chiếc xe chuyên dùng thường thấy xuất hiện trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Theo một số chuyên gia, đây là phương tiện mang thiết bị nghe lén, ghi âm và định vị người sử dụng điện thoại di động. (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)

Hà Nội, (NV) – Thủ tướng CSVN vừa ban hành một văn bản quy định về việc quản lý, sử dụng thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào. Thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào được định nghĩa là thiết bị ngăn chặn tín hiệu liên lạc từ điện thoại di động đến trạm gốc.

Theo văn bản này, tại Việt Nam, chỉ có Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An được “sử dụng thiết bị gây nhiễu nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia”. Có thể để tránh sự phản đối cũng như lo ngại từ phía các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực viễn thông, văn bản vừa kể xác định, Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An “chỉ được gây nhiễu trong phạm vi xác định, không gây nhiễu băng tần thu của trạm gốc và gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của công dân. Các trường hợp sử dụng đặc biệt khác phải được thủ tướng cho phép”.

Trên thực tế, trong thập niên vừa qua, đặc biệt là vài năm gần đây, tuy chưa được “cho phép”, công an CSVN vẫn thường xuyên sử dụng “thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào” để ngăn chăn những người tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam liên lạc với nhau và với bên ngoài.

Trong tháng 12 năm 2007, tháng 1 năm 2008 và cuối tháng 4 vừa qua, công an CSVN công khai sử dụng một loại xe chuyên dùng (xem hình) trong việc ngăn chặn các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội. Thanh niên, sinh viên cũng như dân chúng Việt Nam cho rằng loại xe này dùng để gây nhiễu (Cell phone Jammer), nhằm ngăn chặn việc sử dụng điện thoại di động để thông tin. Tuy nhiên, theo một số nguồn tin trên Internet, những chiếc xe kể trên không phải là loại xe gây nhiễu. Tuy có dùng các thiết bị gây nhiễu nhưng thiết bị gây nhiễu này rất nhỏ, trọng lượng chỉ 23 ký, công suất 30 watts.

Loại xe thường xuyên xuất hiện trong các hoạt động ngăn chặn biểu tình là xe chứa thiết bị Direction Frequency (dò tần số), những chiếc xe loại này có thể tạo thành một ma trận nhằm nghe lén, ghi âm các cuộc trò chuyện bằng điện thoại di động và xác định vị trí người đang sử dụng điện thoại di động cũng như vẽ lại lộ trình của họ .

Sau khi xem hình chụp loại xe chuyên dùng này, một thành viên của mạng Vietland cho biết: Ðây là một thiết bị mới, được chế tạo vào đầu thập niên 2000. Có khả năng truy lùng sự di chuyển của một binh đội, kể cả tàu ngầm nếu họ sử dụng điện đàm ở bất cứ tần số nào từ thấp (30 MHz đối với tàu ngầm) cho tới điện thoại di động (800 MHz-2,200 GHz). Thành viên này tiết lộ: Trước đây tôi từng viết software cho hai hãng chuyên chế tạo loại thiết bị này tại Texas, Hoa Kỳ. Việt Nam có mua thiết bị này. Trước đây, giá mỗi chiếc xe như vậy khoảng 500 ngàn USD. Bây giờ giảm xuống còn từ 350 ngàn-400 ngàn/chiếc tùy theo loại antenna là unidirectional hay omnidirectional (whip antenna).

Thành viên này dặn dò: Các bạn nên nhớ là khi các bạn dùng điện thoại di động, điện thoại di động của các bạn có thể bị hai hệ thống mà công an CSVN đang sử dụng để định vị là GSP và Direction Frequency (giống như loại xe nhiều người đã thấy trong các cuộc tường tận vì đi kèm hệ thống này là bản đồ. (G.Ð)

(ĐT)

May 6, 2008

Chính sách khủng bố người dân của cs Việt Nam

Chính sách khủng bố người dân của chính quyền Việt Nam

Trần bình Nam

Công an chìm cs khủng bố sinh viên Nguyễn Tiến Nam và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ngày 29/4/2008 tại Hanoi, chỉ vì họ căng biểu ngữ ” Hoàng Sa Trường Sa của VN ” và phản đối TC sát nhập HS vào bản đồ rước đuốc, rước đuốc qua VN, HS TS.

Thế nào gọi là khủng bố ? Theo định nghĩa của Tự điển Bách khoa Britannica, khủng bố là: “sự xử dụng vũ lực một cách có hệ thống để gieo sự lo sợ  trong quần chúng để đạt một mục tiêu chính trị nào đó. Khủng bố từng được xử dụng bởi các nhóm quá khích thiên tả hay thiên hữu, bởi những nhóm chủ trương quốc gia quá khích hay các nhóm tôn giáo cực đoan, những nhóm chủ trương đấu tranh cách mạng xã hội và ngay cả bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia như quân đội, tình báo hay công an cảnh sát.” (Terrorism is the systematic use of violence to create a general climate of fear in a population and thereby to bring about a particular political objective. Terrorism has been practiced by political organizations with both rightist and leftist objectives, by nationalistic and religious groups, by revolutionaries, and even by state institutions such as armies, intelligence services, and police.)

          Theo định nghĩa trên, hành động của công an Việt Nam tại chợ Đồng Xuân, Hà Nội, đối với sinh viên Nguyễn Tiến Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng trong ngày 29/4/2008 là một hành động khủng bố chứ không phải là một hành động duy trì an ninh trật tự .

          Theo lời thuật lại của sinh viên Nguyễn Tiến Nam cho một phóng viên đài Tiếng nói Á châu Tự do (Radio Free Asia –RFA) được phát sóng trong buổi phát thanh sáng ngày 1/5/2008 giờ Việt Nam, thì sáng ngày 29/4/08, nhằm ngày ngọn đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh đến Sài Gòn, anh cùng với nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng và một số đồng bào thuộc gia đình các ngư dân ở Thanh Hóa bị hải quân Trung quốc bắn chết đầu năm 2005 cùng với một số dân oan từ Thái Bình và Hải Phòng hẹn nhau tụ tập trước chợ Đồng Xuân để biểu tình chống lại hành động của Trung Quốc cuối năm 2007 đã sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thành quận huyện của họ.

Sinh viên Nguyễn Tiến Nam cho biết anh cầm một chiếc cờ có 5 vòng còng số 8 và chữ Olympic Bắc Kinh và cùng các ngư dân và dân oan hô hào đồng bào chung quanh tập trung lại nói lên tiếng nói chống bá quyền Trung quốc. Lập tức công an mặc thường phục kéo đến khóa tay, bóp cổ và tách anh ra khỏi đoàn người biểu tình để đánh đập anh.

          Sau đó họ áp tải anh về văn phòng Ban Quản Lý Chợ Đồng Xuân. Tại đây anh Nguyễn Tiến Nam thấy có mặt nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng ở Hà Tây, ông Vi Đức Hồi ở Lạng Sơn, chị Lê Thị Kim Thu, hai sinh viên nữa là sinh viên Ngô Quỳnh và Nguyễn Văn Nhất ở Bắc Giang, và một em học sinh tên là Sơn ở Hải Phòng đã bị bắt đưa về đây trước.

          Công an đã đánh đập anh Nguyễn Tiến Nam một cách dã man từ ngoài chợ vào đến văn phòng chợ đến nổi anh phải nôn oẹ tống tháo thức ăn ra ngoài. Thấy anh bị đánh, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa lên tiếng phản đối, công an bỏ anh Nguyễn Tiến Nam quay sang đánh nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Thấy xót ruột nhà giáo Vũ Hùng lên tiếng bênh vực bảo mấy người công an rằng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã cao niên đáng tuổi cha chú các anh sao các anh lại tàn nhẫn như vậy thì công an quay ra đánh nhà giáo Vũ Hùng .

Sau đó – theo lời của anh Nguyễn Tiến Nam – công an đưa 3 anh Nguyễn  Tiến Nam, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Hùng về đồn công an phường Đồng Xuân để hạch hỏi, tại đó công an sắc phục đã thẩm vấn và mắng nhiếc cả ba bằng những lời lẽ thô tục cho đến 11 giờ đêm họ mới cho xe công an đưa 3 anh về nguyên quán. Nguyễn Tiến Nam về Yên Báy, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa về Hải Phòng, và nhà giáo Vũ Hùng về Hà Tây.

Về đến Hải Phòng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã ghi lại cảnh công an đấm đá những người biểu tình vì yêu nước qua mấy vần thơ: (www.doi-thoai.com

Tổ quốc tôi như miếng da lừa

Một lần ước mất đi một ít

Ước phồn vinh: rừng mất cây, biển Đông mất cá

Ước vẹn toàn: Cao nguyên, hải đảo chuyển sang người

Tôi đứng ôn hòa, biểu  ngữ chống Bắc Kinh

Người đến đầu tiên lại là cảnh sát

Họ nhìn tôi như nhìn loài chó ghẻ

Tôi ngã rồi họ dựng chúng tôi lên

Những nắm đấm thôi miên vào mặt. 

Họ là người Việt Nam như tôi

Ở chung với tôi trên mảnh đất cỗi cằn sỏi đá.

Ở chung với tôi mảnh đất ngàn năm vật vã

Lo sinh nhai, lo giữ chốn sinh tồn.

Tôi nằm lăn ra đất

Nước mắt nuốt vào trong

Lịch sử 4 ngàn năm triều đại nào như thế?

(Nguyễn Xuân Nghĩa – Hải Phòng 1/5/08 )

 

Động thái của công an trong ngày 29/4/2008 đối với 3 anh Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Hùng cần được hiểu như thế nào ?

Không thể hiểu là một hành động giữ gìn an ninh trật tự, vì các anh ấy biểu tình bất bạo động và một cuộc biểu tình ôn hòa của trên dưới 10 người không thể làm mất trật tự công cọng. Và cho dù có mất trật tự công cọng công an cũng chỉ có thể dùng những phương tiện chừng mực để tái lập trật tự, chứ không thể dùng bạo lực đánh đập người biểu tình như công an đã đánh đập 3 anh Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Hùng.

Các anh đã không vi phạm bất cứ luật lệ nào, chứng cớ là công an sau khi đánh đập các anh đã không thể truy tố các anh và phải trả các anh về nguyên quán.

Vậy hành động của công an Việt Nam hôm 29/4 không thể hiểu là một hành động vi phạm nhân quyền, mà theo định nghĩa, phải hiểu là một hành động khủng bố. Dùng bạo lực làm cho những người biểu tình sợ không dám biểu tình nữa và gián tiếp khủng bố tinh thần dân chúng nơi chợ Đồng Xuân để không dám tham gia hay bênh vực những người đang bị đàn áp .

Những người công an mặc thường phục đánh sinh viên Nguyễn Tiến Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhà giáo Vũ Hùng trước chợ Đồng Xuân và tại văn phòng Ban Quản lý chợ là những quân khủng bố cần được nhà cầm quyền Việt Nam truy tố và xử phát thích đáng theo pháp luật. Nếu không thì chính nhà cầm quyền tại Hà Nội chủ trương chính sách khủng bố.

Đảng Cộng sản Việt Nam thường chụp mũ đảng này, đảng nọ là tổ chức khủng bố một cách vô bằng cớ, trong khi chính họ đã dùng phương pháp khủng bố đối với nhân dân trong nước. Họ đã nâng khủng bố lên hàng chính sách quốc gia. Các quốc gia chủ trương chống khủng bố trên thế giới cần để ý đến hành động có tính chính sách này của đảng cộng sản Việt Nam, và áp dụng các biện pháp chống khủng bố như minh danh tố cáo hai nhân vật nắm bộ máy hành chánh Việt Nam hiện nay là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là những tên khủng bố, và ít nhất ra lệnh cấm cửa cho đến khi ông Triết hay ông Dũng ra lệnh chấm dứt chính sách khủng bố nhân dân.

Chính quyền Việt Nam không còn là một chính quyền đơn thuần vi phạm nhân quyền của nhân dân như được thế giới hiểu từ trước đến nay mà chính là một chính quyền khủng bố.

Thế giới cần chính danh để cho cuộc đấu tranh chống khủng bố hiện nay trên thế giới trở nên có sức mạnh của một cuộc đấu tranh chống tội ác toàn cầu và đem lại chiến thắng sau cùng cho lẽ phải .

Trần Bình Nam

May 5, 2008

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

May 5, 2008

Tai lieu Mat Dang CS dan ap TT Tri Khai va vo hieu hoa GHPGVNTN

******************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
******************************************************************************* 
 
THÔNGCÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.4.2008
Tài liệu “Mật” của Đảng Cộng sản huyện Đơn Dương, Lâm Đồng, chỉ thị đấu tố Thượng toạ Thích Trí Khải và đặt GHPGVNTN ra ngoài vòng pháp luật – Hoà thượng Thích Tâm Mãn viết Đơn tố cáo công an đàn áp chùa Sư Tử Hống ở huyện Đức Trọng, Lâm Đồng
 
 
PARIS, ngày 16.4.2008 (PTTPGQT) – Trong hai Thông cáo báo chí phát hành ngày 19.3.08 và 2.4.08, chúng tôi đã báo động tình hình đàn áp Thượng toạ Thích Trí Khải, trú trì chùa Giác Hải ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Nhận chỉ thị của Đảng Cộng sản, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định bãi nhiệm chức trú trì của Thượng toạ Thích Trí Khải và đòi tịch thu ngôi chùa Giác Hải là sở hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).
 
Theo tiết lộ của Thượng toạ Thích Như Tấn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng, thì mục tiêu nhằm dẹp bỏ các ngôi chùa thuộc GHPGVNTN và trừng trị những ai theo GHPGVNTN là việc phát quang cho Đại lễ Phật Đản Tam hợp do nhà cầm quyền Cộng sản tổ chức trên 55 tỉnh thành hầu “chứng minh” với thế giới là Việt Nam Cộng sản tôn trọng “tự do tôn giáo”.
 
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tôn trọng “tự do tôn giáo” đến mức độ nào ? và như thế nào ? Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin trưng bằng cớ về cái gọi là tôn trọng ấy thông qua “Kế hoạch Mật” mang số 44-KH/BCĐ gọi là “Kế hoạch đấu tranh với Thích Trí Khải lợi dụng Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động cho Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống lại Ban Đại diện Phật giáo huyện Đơn Dương và Giáo hội Phật giáo Việt Nam”.
 
Kế hoạch Mật này do “Đảng Cộng sản Việt Nam, Huyện uỷ Đơn Dương – Ban chỉ đạo Công tác tôn giáo” viết ngày 13.9.2007, gồm 4 trang, khổ A4, qua 5 đề mục :
1. Tình hình Phật giáo và hoạt động tôn giáo của đạo Phật ; 2. Mục đích yêu cầu ; 3. Phương pháp đấu tranh ; 4. Thời gian tiến hành ; và 5. Biện pháp tiến hành.
 
Phần tình hình Phật giáo cho biết “Đạo Phật ở Đơn Dương có khoảng hơn 21.000 quần chúng có đạo, cơ sở thờ tự gồm 15 chùa được hình thành trước năm 1975. (…) Đặc biệt từ sau năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) ra đời (…) đề ra là “đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội”. (…) Song bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình trong các chức sắc tăng ni trên địa bàn huyện còn có một số mặt hạn chế (…) và cá biệt có Đại đức Thích Trí Khải trụ trì chùa Giác Hải  – thị trấn Thạnh Mỹ chưa chấp hành chỉ đạo của Ban Đại diện Phật giáo huyện, của Ban trị sự Phật giáo Lâm Đồng (…) cụ thể là đã chấp nhận tán đồng và nhận làm việc cho cái gọi là “Phật giáo Việt Nam Thống nhất” dưới sự chỉ đạo của Thích Quảng Độ, nhận làm Phó Ban đại diện Phật giáo Việt Nam Thống nhất của tỉnh Lâm Đồng. (…) Đặc biệt là ngày 2.9.2007 (…) Thích Trí Khải đã tuyên bố và tự nhận là Phó Ban đại diện Phật giáo Việt Nam Thống nhất của tỉnh Lâm Đồng và tuyên bố chùa này (chùa Giác Hải) là chùa của ông ta trụ trì không có ai được chỉ đạo điều hành ông ta ».
 
« Xuất phát từ diễn biến tình hình như trên. Ban chỉ đạo tôn giáo huyện Đơn Dương xây dựng kế hoạch đấu tranh chống hoạt động tôn giáo trái phép của cái gọi là « Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất » của Thích Quảng Độ và Thích Trí Khải tại chùa Giác Hải như sau :
 
« II. Mục đích yêu cầu :
 
« 1. Đấu tranh hoạt động tôn giáo trái phép của cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất của Thích Trí Khải là đấu tranh của Nhà nước và nhân dân ta (PTTPGQT nhấn mạnh) với âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Nhà nước, phá hoại truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta.
 
« 2. Đấu tranh hoạt động tôn giáo trái phép của Thích Trí Khải nhằm vạch rõ những sai trái trước quần chúng (nghĩa là tố khổ như thời Cải cách Ruộng đất, PTTPGQT chú thích) (…).
 
« 3. Đấu tranh việc lợi dụng Giáo hội của Thích Trí Khải để hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là cuộc đấu tranh kiên quyết và tiến tới cô lập vô hiệu hoá Thích Trí Khải với quần chúng có đạo và kể cả trong các tăng ni đồng thời ngăn chặn về tư tưởng cũng như những hoạt động trái phép của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trên địa bàn huyện (đây là định nghĩa đúng chính nhất về cái gọi là « tôn trọng tự do tôn giáo » dưới chế độ Cộng sản, PTTPGQT nhấn mạnh và chú thích)».
 
Sau đó, Kế hoạch Mật chỉ thị về « Phương pháp đấu tranh » : « Đấu tranh với Thích Trí Khải là đấu tranh giữa Phật giáo Việt Nam với cái gọi là tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trên phạm vi địa bàn huyện, phải phối kết hợp chặt chẽ giữa Ban đại diện Phật giáo huyện với Mặt trận và các đoàn thể và các cơ quan chức năng (…) chủ yếu là vận động quần chúng đấu tranh giải quyết với đối tượng lợi dụng tôn giáo. (…) Các cơ quan chức năng phải tập trung thu nhập, củng cố chứng cứ các văn bản khiếu kiện của nhân dân, quần chúng có đạo về phẩm hạnh và đạo đức của Thích Trí Khải trước khi tổ chức triển khai. (…) Các cơ quan chức năng phối hợp cùng với Ban đại diện Phật giáo huyện trên cơ sở về những chứng cứ phẩm hạnh đạo đức và các hành vi hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất của Thích Trí Khải có văn bản báo cáo đề xuất chính kiến của mình đến Ban Phật giáo tỉnh, đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện và các ngành chức năng ».
 
Kế hoạch Mật chỉ định « Thời gian tiến hành » là « Từ nay đến tháng 10 năm 2007 chỉ đạo thống nhất từng kết quả cuộc đấu tranh ở Ban đại diện, Mặt trận và các ngành chức năng. Đầu tháng 11 năm 2007 họp rút kinh nghiệm ».
 
Còn « Biện pháp tiến hành » đi ba bước :
 
« 1. Ban chỉ đạo tôn giáo huyện yêu cầu Ban dân vận, Mặt trận, các đoàn thể, ngành pháp luật, Phòng tôn giáo và dân tộc huyện, Đảng uỷ thị trấn Thạnh Mỹ quán triệt kế hoạch này và tích cực chủ động triển khai.
 
« 2. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, các đoàn thể của huyện phối kết hợp với Mặt trận, các đoàn thể ở thị trấn Thạnh Mỹ xây dựng kế hoạch tuyên truyền vận động quần chúng đấu tranh với Thích Trí Khải, kế hoạch đều thông qua cấp uỷ 2 cấp trước khi tiến hành.
 
« 3. Ban chỉ đạo tôn giáo huyện giao cho các đơn vị chức năng phối hợp tổ chức thực hiện gồm : Ban dân vận Huyện uỷ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, Công an huyện, Phòng dân tộc và tôn giáo huyện, Đảng uỷ thị trấn Thạnh Mỹ trong đó có Ban dân vận Huyện uỷ chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp hoạt động các đơn vị trên ».
 
Kế hoạch Mật nói trên do ông Lý Văn Kiệt ký, với chức vụ Phó Bí thư kiêm Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo thuộc Huyện uỷ Đơn Dương của Đảng Cộng sản Việt Nam.
 

Bản gốc của Kế hoạch Mật, trang 1 và trang cuối
Đọc những trích đoạn quan trọng trong 4 trang Kế hoạch Mật người ta nhận ra các điều chủ yếu sau đây :
 
Một là, ngay trong việc xử lý một Thượng toạ Phật giáo trên lĩnh vực thuần tuý tín ngưỡng, thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tức Giáo hội Nhà nước chỉ là con bù nhìn. Vì kế hoạch gọi là « đấu tranh » với Thượng toạ Thích Trí Khải do Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo thuộc Huyện uỷ của Đảng Cộng sản huyện Đơn Dương quyết định, sắp đặt, xuống lệnh cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước thi hành. Tệ hơn, Giáo hội Nhà nước cũng không được trực tiếp thi hành lệnh của Đảng, mà phải ngồi chơi xơi nước chờ sự phối hợp khai triển kế hoạch của « Ban dân vận Huyện uỷ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, Công an huyện, Phòng dân tộc và tôn giáo huyện, và Đảng uỷ thị trấn Thạnh Mỹ ». Hoá ra Giáo hội Phật giáo Nhà nước chỉ là anh lính lệ cầm cờ chạy hiệu trước hay sau chiếc kiệu của các ông Quan Cách mạng.
 
Hai là, xuất phát từ « tội tổ tông » khiến cho Kế hoạch Mật xuất hiện, là Thượng toạ Thích Trí Khải phục vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chứ không chịu bó thân về với Giáo hội Nhà nước. Nhưng Kế hoạch Mật không xử lý trực tiếp vào « tội tổ tông » này, mà Đảng chị thị « Các cơ quan chức năng phải tập trung thu nhập, củng cố chứng cứ các văn bản khiếu kiện của nhân dân, quần chúng có đạo về phẩm hạnh và đạo đức của Thích Trí Khải ». Nói rõ là tạo sự vu cáo phẩm hạnh đạo đức của Thượng toạ Thích Trí Khải để kích động nhân dân phỉ báng, từ đó đôi đũa thần Cộng sản gõ thành « chứng cứ phạm pháp ». Nghĩa là vu vạ tội vô bằng cớ cho người hiền lương trước khi kết tội thông qua cơ quan pháp lý.
 
Nhưng lệnh Đảng được thi hành như thế nào ?  – Kiến nghị chống Thượng toạ Thích Trí Khải của Ban Đại diện Phật giáo Nhà nước huyện đơn Dương chỉ thu được 13 chữ ký của 13 « Phật tử ». Thế nhưng ngày 19.3.2008, trong một Kiến nghị phản chống sự vu cáo hàm hồ của Giáo hội Nhà nước, 239 Phật tử chùa Giác Hoa ký tên bảo vệ Thượng toạ Thích Trí Khải. Thế mới biết rằng : Đảng nhẹ như bọt bóng, Dân mạnh như thủy triều.
 
Ba là, « Ban chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản huyện Đơn Dương xây dựng kế hoạch đấu tranh chống hoạt động tôn giáo trái phép của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất của Thích Quảng Độ và Thích Trí Khải tại chùa Giác Hải ». Thế nhưng Nhà cầm quyền Cộng sản chưa hề đẻ ra được một văn bản pháp lý nào quy định Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trái phép hoặc bất hợp pháp. Vậy thì Kế hoạch Mật do Đảng Cộng sản ở huyện Đơn Dương chỉ rặn ra cái quái thai khủng bố của một Nhà nước khủng bố.
 
Kết luận cho thấy Kế hoạch muốn « dứt điểm » đối với Thượng toạ Thích Trí Khải vào tháng 11.2007 quy định trong điểm 4 về Thời gian tiến hành. Nhưng đến giữa tháng 4.2008 này vẫn chưa thể « dứt điểm ». Vì sao ?  – Vì một lẽ dễ hiểu là quần chúng Phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là hậu thuẫn lớn, là cơ sở quần chúng trung kiên và vạm vỡ, tuy thầm lặng, nhưng là thế lực đạo đức làm nghiêng lệch cán cân của nhà nước độc tài.
 
Hoà thượng Thích Tâm Mãn viết Đơn tố cáo gửi các nhà lãnh đạo ở Hà Nội
 
Hoà thượng Thích Tâm Mãn vừa viết Đơn Tố cáo đề ngày 4.4.2008 gửi các Ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng và huyện Đức Trọng. Bản sao gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến.
 
Hoà thượng là Phó Ban đại diện Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Lâm Đồng, và trú trì chùa Sư Tử Hống ở xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đơn Tố cáo đề cập đến việc công an hăm doạ và ngăn cấm Phật tử đến chùa Sư Tử Hống làm lễ An vị Phật, lễ Khai chuông và cầu nguyện cho Quốc thái dân an trong hai ngày 25-26.3.2008 theo truyền thống tín ngưỡng Phật giáo thuần tuý.
 
Để ngăn chặn sự tự do tín ngưỡng của Phật tử chùa Sư Tử Hống, nhà cầm quyền địa phương thuộc các cấp tỉnh, huyện, xã đã chỉ đạo các ban ngành đàn áp theo các thể thức sau đây :
 
1. Họp dân hăm doạ, ngăn cấm không cho Phật tử đến chùa và tịch thu Giấy Mời dự lễ ;
 
2. Mặt trận Tổ quốc và Ban tôn giáo chính phủ họp chư Tăng Ni thuộc Giáo hội Phật giáo Nhà nước tại Tu viện Hương Nghiêm tuyên bố chùa Sư Tử Hống làm lễ « bất hợp pháp », nên công an đang canh gác chặt chẽ, cấm chư Tăng Ni không được đến tham dự ;
 
3. Công an tỉnh gồm các ông Thu, Trung và Bằng, Công an huyện gồm các ông Thế, Tuấn, Hoà và Nguyễn Quang Minh, Công an xã gồm các ông Lê Đình Trường, Đỗ Ngọc Minh và Lê Hoàng, Công an thôn gồm các ông Thành, Lý và Du Kích hợp đồng với một bọn thanh niên đầu gấu vào canh gác quanh chùa lúc 9, 10 giờ đêm. Tiếp đấy uống rượu say tạo lý do gây xáo trộn và hoảng sợ cho chư Tăng và Phật tử trong chùa.
 
4. Các cơ quan chức năng ra lệnh cấm giáo viên không cho học sinh cấp 2 nghỉ học hai ngày để tham dự lễ tại chùa Sư Tử Hống như đã dự trù.
 
Lý do mà Mặt trận Tổ quốc và Ban tôn giáo chính phủ kết án cuộc lễ bất hợp pháp không vin vào một bằng cớ pháp lý nào cả. Vì Hoà thượng Thích Tâm Mãn đã làm đơn xin phép theo đúng thủ tục từ 10 ngày trước. Thế nhưng các cán bộ huyện phán rằng « Báo trình trễ » nên không xét !
 
Trong hai ngày 25-26.3.2008 khi chùa hành lễ, thì công an rải khắp từ ngã ba đường vào chùa trên một lộ trình dài hai cây số rưởi để ngăn chận Phật tử, hăm doạ không cho họ đến chùa lễ Phật và cầu nguyện cho đất nước huy hoàng và dân sống yên vui.
 
Sau khi trình bày các động thái bạo tàn và phi nghĩa, Đơn Tố cáo của Hoà thượng Thích Tâm Mãn kết luận rằng :
 
« Tôi xét thấy đây là sự vi phạm trắng trợn chính luật pháp của Nhà nước Việt Nam và Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia. Cho thấy rằng đến nay tại Việt Nam vẫn chưa có tự do tôn giáo hay nói đúng hơn là Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phi tự do tín ngưỡng, phi văn hoá, phi nhân quyền và phi đạo đức ».

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.