Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 3, 2008

1975: Những gì thay đổi?

Ngô Nhân Dụng

Mỗi năm sắp đến ngày 30 Tháng Tư, nhiều người Việt Nam lại tự hỏi ngày lịch sử đó có ý nghĩa thế nào. Năm 1975, các lãnh tụ Cộng Sản vào Nam ăn mừng tuyên bố rằng đó là ngày “chiến thắng” của nhân dân Việt Nam. Sự thật ra sao?

Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam có lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Chỉ 3 năm sau năm 75 là các em đã thay đổi rồi, theo kịp các trẻ em miền Bắc. Mà các thầy cô hồi đó cũng nhiều người giữ được tư cách đạo đức hơn bây giờ. Trước năm 1975 trẻ em miền Nam dưới 10 tuổi đều được đi học, các trường công lập không thu học phí. Ngay cả trong các trại tị nạn của các đồng bào chạy xa chiến trận, cũng có các lớp học miễn phí. Trẻ em ngoan ngoãn, biết nói năng lễ phép với cha mẹ, với những người lớn tuổi trong lối xóm. Bây giờ đã thay đổi hẳn.

Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con đi lấy những người chồng ngoại quốc không hề quen biết, với giá mấy trăm đô la Mỹ. Không có những cô gái xếp hàng trưng bầy cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà. Bây giờ phong cảnh đã khác.

Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trong miền Nam cũng có nạn tham nhũng, mà một nước đang chiến tranh khó tránh khỏi nạn đó. Nhưng những quan lại tham nhũng thường cố tìm cách che đậy, giấu giếm, khi bị lộ thì biết hổ thẹn, vì bị họ hàng, bạn hữu coi khinh. Bây giờ cả nước đầy những tay tham nhũng, nhưng họ không biết hổ thẹn. Nếu bị phe đảng tranh ăn tố cáo, thì bắt rồi lại thả, coi như vô tội!

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 trong Nam cũng có nạn ma túy, nhưng tỷ lệ thanh niên ghiền ma túy thấp hơn, chỉ bằng một phần mười ngày nay. Hồi đó cảnh sát công an ít hơn bây giờ so với dân số, nhưng họ lùng bắt những kẻ buôn ma túy mạnh hơn. Người ta đồn hồi đó có những ông tướng buôn ma túy, nhưng chỉ là đồn đại. Còn bây giờ, số công an cảnh sát đông như thế, nhưng con buôn ma túy vẫn hoành hành, không biết mạng lưới ma túy đã được ai bảo trợ!

Trước ngày 30 Tháng Tư 75, dân miền Nam lâu lâu vẫn tổ chức biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn cùng thời gian đó mặc dù đang có chiến tranh. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư phải dậy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối bộ thông tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh lâu lâu bãi khóa vì những nguyên do khác nhau. Ðến những ngày chót của chế độ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn những cuộc biểu tình đòi bài trừ tham nhũng, bất công. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao, chính quyền không dám bắt họ. Ngày nay công an đi lùng bắt những người “có thể” đi biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, hàng tháng trước ngày cuộc biểu tình có thể diễn ra! Và như vậy, người ta gọi là dân miền Nam đã “được giải phóng.”

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 trong miền Nam có đủ thứ báo chí. Có báo ủng hộ nhà nước, có báo chống chính quyền, phần lớn những tờ báo đều độc lập và nếu không chống mạnh thì cũng chống nhà nước nhè nhẹ. Báo Thần Chung, Ðuốc Nhà Nam chống ông Nguyễn Văn Thiệu một cách, báo Chính Luận chống cách khác, báo Ðại Dân Tộc (trong đó ký giả này viết hàng ngày) lại chống cách khác nữa. Những nhà báo kỳ cựu như Trần Tấn Quốc, Nam Ðình, Chu Tử, Nguyễn Vĩ, vân vân, mỗi người một vẻ. Bây giờ tất cả báo chí do một nhóm người lãnh đạo, bảo viết thì được viết, bảo im thì phải im. Và như vậy, người ta gọi là “giải phóng.”

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 ở Sài Gòn có một Quốc Hội, trong đó có những người đối lập dám lên tiếng chỉ trích, có khi còn tuyệt thực để phản đối chính phủ. Họ hoạt động mạnh không thua gì những dân biểu đối lập ở Nam Hàn và Ðài Loan cùng thời. Chưa nói chuyện ai đúng ai sai, nhưng không khí sinh hoạt hào hứng. Những đại biểu Quốc Hội còn nêu tấm gương đạo đức trong sáng, tư cách bất khuất, như Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Văn Tuyên, đến giờ nói tới vẫn khiến nhiều người dân hãnh diện. Bây giờ không ai biết các đại biểu Quốc Hội đang làm gì, ở đâu, trong lúc lạm phát lên tới 20%, trong lúc Trung Cộng đang in bản đồ Hoàng Sa thuộc nước họ đi phô bầy khắp nơi!

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 ở miền Nam báo chí có tự do, chính trị được tự do, rất nhiều con mắt nhắm vào chính quyền để quan sát và chỉ trích, khiến những kẻ cầm quyền có muốn làm bậy cũng phải e ngại. Chính vì thế mà nạn tham nhũng không bột phát mạnh như bây giờ.

Vậy thì ở Sài Gòn bây giờ ai vui mừng kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư, sau cuộc rước quác Thế Vận Bắc Kinh được chế độ Cộng Sản gồng mình bảo vệ?

Hồi sinh thời, ông Nguyễn Hữu Chung, cựu dân biểu Việt Nam Cộng Hòa mươi năm trước đã viết trên báo Người Việt rằng có hai nơi nhiều người ăn mừng ngày 30 Tháng Tư, một là ở Ban Mê Thuột, hai là ở Sài Gòn. Ở Ban Mê Thuột thì có nhiều người đã kéo lên đó chiếm đồn điền, chiếm đất, nếu không nhờ ngày 30 Tháng Tư thì cả đời họ có đổ mồ hôi sôi máu mắt cũng không được hưởng những chiến lợi phẩm lớn như vậy. Còn ở Sài Gòn, số người hưởng lộc nhờ ngày 30 Tháng Tư còn đông hơn. Họ từ rừng kéo ra hay từ Bắc kéo vô, chiếm được những ngôi nhà, những cửa tiệm, có khi chiếm cả vợ con người khác. Từng lớp tư bản đỏ phát triển lên bắt đầu từ những cuộc chiếm đoạt đó, họ thuộc lớp người muốn bảo vệ chế độ để bảo vệ những “chiến lợi phẩm” thu được từ năm 1975 đến nay. Nhờ một chế độ kiểm soát các công đoàn, kiểm soát báo chí, ngăn cấm những người có ý kiến độc lập, thì giới tư bản đỏ mới có cơ hội lợi dụng guồng máy kinh tế hoang dã, đổi mới nửa nạc nửa mỡ, để thủ lợi.

Cứ nghĩ đến những gì đã thay đổi ở miền Nam Việt Nam kể từ năm 1975 thì chỉ buồn. Nếu có niềm vui, thì ở miền Bắc được hưởng nhiều hơn; cho nên bà con miền Nam cũng nên chia sẻ nỗi vui mừng với đồng bào miền Bắc. Sau năm 1975 nhiều người ở miền Bắc đã khá giả hơn nhờ chiến tranh chấm dứt. Nhờ chế độ Cộng Sản sụp đổ ở Âu Châu và Liên Xô, guồng máy kìm kẹp của đảng Cộng Sản cũng được tháo lỏng hơn. Người dân dễ thở hơn, nên những vụ cãi cọ nhau, đánh lộn nhau, giữa hàng xóm láng giềng, giữa vợ chồng, cha con, cũng giảm bớt. Những cảnh mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mô tả bây giờ cũng bớt đi. Nhiều người ở miền Bắc khi mua hàng đã biết nói cám ơn những người bán hàng, hai bên cùng bầy tỏ lòng tương kính. Nhiều bậc cha mẹ ở miền Bắc lấy lại được quyền dậy dỗ con cái thay vì hoàn toàn để cho đảng Cộng Sản nhồi sọ, cho nên trẻ em cũng học được lễ độ, phép tắc con nhà. Tất nhiên, đời sống kinh tế người dân miền Bắc đã vượt cao lên bằng trăm lần những ngày trước năm 1975.

Nhắc đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975, nhưng trong cả bài này quên chưa nhắc đến khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” mà Hồ Chí Minh đã dùng để cổ động cho hàng triệu thanh niên miền Bắc hy sinh mạng sống. Quên, cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì bây giờ chẳng ai nhắc đến khẩu hiệu đó nữa. Chống Mỹ? Bây giờ ai bỏ cả triệu đô la đăng một trang quảng cáo trên nhật báo Wall Street, chỉ để đem về nói dối với dân khoe rằng tờ báo lớn nhất của tư bản Mỹ cũng phải viết về thành tích làm giầu của đảng Cộng Sản! Chống Mỹ? Vậy ai đưa con cái qua Mỹ lấy cớ du học để mua nhà, mua cơ sở thương mại và dần dần đưa vợ con sang Mỹ sống?

Còn cứu nước thì sao? Có chính phủ miền Nam nào đã viết thư nhượng đất đai, hải đảo cho nước Mỹ hay không? Chỉ có ông Phạm Văn Ðồng ký cho Trung Quốc hưởng! Chính phủ Mỹ có bao giờ tính chiếm lấy một mảnh đất nào của người Việt Nam không? Chính quân đội Trung Quốc đã cướp Hoàng Sa sau khi giết chết các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đảo! Tại sao đảng Cộng Sản ngăn cấm không cho dân Việt Nam biểu tình phản đối tội xâm lăng Hoàng Sa của chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh?

Từ năm 1954 cho đến năm ông chết, trong 15 năm mỗi năm ông Hồ đều hô hào chống Mỹ cứu nước. Chắc trong đảng Cộng Sản không còn ai muốn nhắc đến khẩu hiệu đó nữa.

Ðể kết thúc bài này, xin kể một câu chuyện gia đình.

Một người cháu ở Hà Nội vào Sài Gòn thăm ông chú đã từng bị giam giữ nhiều năm trong trại cải tạo. Ông cháu là đảng viên Cộng Sản muốn an ủi chú, nói rằng, cuối cùng đất nước ngày nay đã đổi mới, đời sống dân hai miền Nam Bắc đã được cải thiện hơn trước nhiều so với trước đây, chắc chú cũng vui trong cuộc sống mới.

Người chú nói: “Nếu như đảng Cộng Sản của cháu không phát động kế hoạch xâm chiếm miền Nam từ năm 1959 thì dân trong Nam không cần chính sách đổi mới nào cả cũng vẫn tiến được. Chắc chắn người miền Nam đã có mức sống cao như vầy từ nhiều năm trước rồi. Bây giờ nói chung người mình cũng chỉ mới tiến lên bằng dân Ðại Hàn vào khoảng năm 1975 thôi. Giả thử dân mình không giỏi như dân Nam Hàn chăng nữa, dù mình chậm hơn họ 5 đến 10 năm, nếu không bị ‘giải phóng’ thì vào năm 1980, 85 miền Nam cũng tiến lên không kém gì bây giờ rồi.”

“Tại sao người mình lại chịu thua kém, chậm tiến hơn các nước trong vùng Á Ðông, tụt hậu đi sau họ đến 30 năm? Vì đảng Cộng Sản đã gây chiến tranh Nam Bắc. Từ năm 1960 họ đã phá hoại liên tục, cái gì cũng phá, khiến cho miền Nam không xây dựng gì được. Sau năm 1975 họ lại tìm cách Cộng Sản hóa người miền Nam, theo đúng lối Nga Xô, Trung Cộng như ông Hồ Chí Minh vẫn mong muốn. Họ tập thể hóa nông nghiệp, xóa bỏ công thương nghiệp tư nhân. Vì thế mà kinh tế suy sụp, lần đầu tiên dân miền Nam cũng thiếu ăn, trong khi ở miền Bắc thì nhiều người chết đói. Làm dân tộc thụt lùi như thế, họ còn khoe công đổi mới làm gì nhỉ? Tại sao họ không thú nhận đã lầm lẫn, đã gây nên tội với đất nước, với tổ tiên và con cháu? Tại sao không can đảm tuyên bố thẳng là tất cả đảng họ đã sai lầm đi theo chủ nghĩa Cộng Sản, hãy đổi tên đảng đi, vì đằng nào thì cũng đang đi theo đường lối tư bản rồi? Mà lại đi theo thứ hình thức tư bản lạc hậu nhất trong các chế độ tư bản nữa chứ!”


Trước ngày 30/4/75, sinh viên học sinh miền Nam được tự do biểu tình chống Mỹ


Trước ngày 30/4/75, sư sãi miền Nam được tự do toạ kháng chống chính quyền

April 30, 2008

Lệ nến

Cao Trần 


Hai mươi chín tháng Tư năm 1975, ba tôi đưa cả nhà xuống ở chung với nội. Các cô, chú và anh chị em tôi cũng vậy; tất cả đều về với nội. Ai nấy đều có chung một ý nghĩ: nếu chết, thì cùng chết. Nhưng thật may mắn, đại gia đình chúng tôi không ai chết cả, sau cái ngày gọi là “giải phóng” miền Nam. Dường như lý do duy nhất của việc chúng tôi được sống, giống như triệu triệu đồng bào khác, từ Quảng Trị đến Cà Mau, là để chịu cảnh đọa đày, đói khát sau cuộc “đổi đời”, là để khóc những giọt nước mắt phân ly sau ngày đất nước thống nhất, là để trở thành nô lệ sau khi những kẻ nhân danh độc lập và tự do để gây hấn đã chiến thắng.

Ngày đó, tôi còn rất nhỏ, cỡ tuổi đứa con gái tôi hiện nay. Cuộc ly tán đầu tiên mà tôi chứng kiến là hình ảnh ba tôi, trong bộ đồ đen của cán bộ xây dựng nông thôn, khăn gói lên đường vô trại giam K4 (Long Khánh) để “học tập cải tạo”. Tôi không nhớ lúc đó má tôi và hai anh em tôi có khóc khi chia tay ba tôi hay không. Nhưng tôi nhớ mãi những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt má tôi một tháng sau đó, vào cái ngày bà chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn chờ ba tôi về. Ba má con chúng tôi ngồi chờ đến khuya. Và ba tôi không về. Và má tôi khóc. Và hai anh em tôi nhìn nhau ngơ ngác. Những giọt nước mắt đêm hôm đó của má tôi đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về cộng sản – bài học về sự dối trá.

Khi người đàn ông của gia đình bị cầm tù, thì người đàn bà phải ra đường để kiếm tiền đi thăm nuôi và kiếm miếng ăn cho những đứa con thơ dại. Vậy là má tôi đi Cần Thơ buôn gạo, mỗi tuần một chuyến, mỗi chuyến vắng nhà khoảng hai, ba ngày. Hai anh em tôi xuống ở với ông bà nội. Vào những ngày má tôi đi Cần Thơ, chiều nào, anh em tôi cũng ra đứng trước cửa nhà ngóng má tôi về, ngóng đến khi nào đường phố không còn một bóng người thì mới thôi, và vô nhà khóc ngất cho đến khi ngủ thiếp đi, giữa giọng ru khàn đục của ông nội tôi. Vậy mà có lần nọ, tôi ngóng má tôi suốt mười lăm ngày mà vẫn không thấy bà về. Tôi chỉ còn biết kêu ba, kêu má và khóc. Ông bà nội tôi cũng khóc. Má tôi, cùng với tất cả những người đi trên chuyến xe đò buôn chuyến, đã bị bắt giam ở Cần Thơ để thẩm tra, vì trên xe có mấy tờ truyền đơn, không biết của ai, kêu gọi mọi người đứng dậy chống lại bạo quyền. Lần này, những giọt nước mắt của chính tôi đã dạy cho tôi bài học thứ hai về cộng sản – bài học về sự độc ác.

Sau lần đó, má tôi không dám đi buôn chuyến nữa, mà ở nhà vác chảo dầu ra ngã tư đường chiên đậu hủ để bán, sau khi đã bán hết tất cả những tài sản có thể bán được trong nhà. Được một tuần lễ, mấy bà cán bộ hội phụ nữ liền đến nhà làm “công tác tư tưởng” với má tôi, không cho má tôi bán đậu hủ kiểu “tư bản tư nhân” như vậy nữa, và buộc má tôi, mỗi sáng, phải khiêng bếp lò và chảo dầu đến “Tổ hợp Đậu hủ” để chiên đậu hủ, rồi giao nộp “sản phẩm” đậu hủ chiên cho Tổ hợp, để đổi lấy một khoản tiền công chết đói mỗi cuối tháng. Có lần, vì quá uất ức, má tôi lặng lẽ khóc. Và những giọt nước mắt của má tôi, một lần nữa, đã dạy cho tôi bài học thứ ba về cộng sản – bài học về sự ngu dốt.

Má tôi chiên đậu hủ cho đến khi ba tôi được ra tù. Sau đó, ba má tôi làm đủ mọi nghề để nuôi anh em tôi ăn học hết trung học, rồi đại học, giữa một xã hội mà sự kỳ thị lúc nào cũng được dành sẵn cho những kẻ như chúng tôi, công dân của chế độ cũ, ngụy dân của chế độ mới. Đối với tôi, những giọt nước mắt của má tôi, của ông bà nội tôi, giống như những giọt lệ nến, đã rơi xuống, không phải để vùi tắt, mà để nuôi dưỡng và làm bừng lên ngọn lửa lúc nào cũng hừng cháy trong trái tim tôi.

Trên khắp nước non này, suốt ba mươi ba năm qua, giống như má tôi, nhiều bà mẹ đã khóc. Mỗi giọt nước mắt là một bài học cho những đứa con. Mỗi giọt nước mắt làm bừng sáng một ngọn lửa trong trái tim của những đứa con. Hãy khóc lên đi, hỡi những bà mẹ Việt Nam, cho trí não của những đứa con Việt Nam không còn bị tối ám trước sự lừa mị của bạo quyền, cho thân thể của những đứa con Việt Nam không còn run sợ trước sự cuồng bạo của bạo quyền, và cho trái tim của những đứa con Việt Nam biến thành lửa thiêng thiêu cháy bạo quyền. /.

March 7, 2008

Đảng lưu manh, chính quyền côn đồ

Trần Nhu

ĐCSVN rõ ràng là một tổ chức lưu manh “chuyên nghiệp”, và nhà nước CHXHCNVN là một công cụ đắc lực của bọn lưu manh.

Đây là một sự thực, không thể dùng một danh từ nào thích hợp hơn. Vì rằng những thủ đoạn dối trá lưu manh đã đựơc ĐCSVN thực hiện suốt trong 6 thập niên qua, và hiện tại nó đang diễn ra công khai hàng ngày, hàng giờ ở Việt Nam, giữa công an của chính phủ và nhân dân. Chính phủ tổ chức những nhóm khủng bố, bắt cóc công dân của nước mình. Công an, đột nhập vào nhà dân khám xét lục lội, thu giữ hiện vật của họ mà không cần lệnh của tòa án. Công an muốn bắt ai cứ việc dán nhãn hiệu: “phản động”, “gián điệp”, “khủng bố”, nên những công dân vô tội, cứ bị hành hung, đánh đập. Người dân không có vũ khí trong tay, không đánh trả lại được. Khi bị lăng mạ, họ không nói lại được. Ngay cả đến việc nộp thỉnh nguyện ôn hòa cho quyền được giữ niềm tin tôn giáo của họ, họ cũng không được yên. Đây là trường hợp cụ Nguyễn Thị Thu, tu sĩ Trần Văn Út, Phật Giáo Hòa Hảo, Mục sư Nguyễn Công Chính, BS Phạm Hồng Sơn v.v…

Chính phủ đã điều động hàng trung đội công an, đựơc trang bị đến tận răng để bao vây và thường xuyên sách nhiễu cụ già trên 80 tuổi như trường hợp Hòa Thựơng Thích Quảng Độ, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, ông Hoàng Minh Chính v.v… Trên quả địa cầu này, có nhà nước nào mà lại dùng thư nặc danh, truyền đơn năm lần bẩy lượt để bôi nhọ tư cách một công dân? Công an Thừa Thiên Huế đã huy động một lực lượng công an đông đảo, rình rập theo dõi sát cô Hoàng Thị Đào nhỏ bé. Cô Thanh Thủy đã kể lại trường hợp của cô như sau :

“Bỏ cả tháng trời theo dõi, vây bắt tôi, đêm 2-9, công an đã thành công mỹ mãn. Đó chính là kết quả phối hợp vô cùng nhịp nhàng ăn cánh giữa công an bộ và công an cấp cơ sở – phường Đức Giang. Theo chính lời ông trưởng đồn Nguyễn Bỉnh Khiêm kể lại : Phải huy động hết lực lượng của đồn, từ trẻ đến già, gần cả tháng trời đeo bám 24/24 tiếng, nên niềm ao ước bấy lâu, nay mới thoả nỗi chờ mong….”

Họ tưởng bắt được phần tử nguy hiểm (chuyên tiếp tay cho dân oan nổi loạn) rồi tổ chức khám nhà, thu giữ các phương tiện làm việc, từ sổ ghi chép, máy điện toán, máy ghi âm, sổ USB, tài liệu rút trên mạng, đơn thư của dân oan. Rồi “công an đảng ta được quyền kê cao gối dưới đầu mà ngủ, mơ những giấc mơ tiên tri về sự bất diệt của chủ nghĩa cộng sản, về cái nghề mật vụ, theo đóm ăn tàn, theo voi hít bã mía, theo các ông chủ độc tài, ăn bẩn để hưởng chút cơm thừa, canh cặn, làm không theo luật mà lại được thưởng cao tót vời này… ai ngờ tất cả vẫn nguyên như cũ.”

Sau mỗi bước đi của cả 4 thành viên trong gia đình tôi, đặc biệt là hai vợ chồng tôi- luôn có những tên tay sai lì lợm đeo bám. Chúng bắt tôi hàng chục ngày lên đồn trình diện từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối, kể cả thứ 7 và chủ nhật, theo kiểu: “Vừa là kẻ thù, vừa là anh em.” Thất là bộ mặt đểu giả, vi phạm trắng trợn luật pháp, nhân quyền của nhà nước cộng sản xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đứng đầu là bộ công an!

Như một sự cộng hưởng, sau thông tin tôi bị bắt đăng ở VNN-news (Việt Nam News Network) thì có một số tờ báo như Việt Báo, Nam Úc tuần báo, Dân lên tiếng về việc này. Việc tôi bị xách nhiễu lần 2, khi vào mạng internet tại quán cà phê nét công cộng tại khu vực trường Cao Đẳng Ngân Hàng, và việc tôi dù trong vòng vây trùng trùng điệp điệp của công an cộng sản cả ban đêm lẫn ban ngày, vẫn trả lời phỏng vấn RFA, rồi anh Trần Khải viết bài, gọi tôi bằng cái tên vô cùng ưu ái: “Người của dân oan v.v đã khiến đám slôchome nội hoá vô cùng tức tối!

Đây là điều sỉ nhục nhất đối với một chính quyền. Nhưng những người lãnh đạo đảng CS vẫn trơ trơ.
Những chuyện bại hoại như trên ai cũng biết cả rồi. Người viết muốn đề cập đến các vụ lừa đảo, dối trá lớn nhất trong lịch sử của ĐCSVN, và những việc làm phi pháp của họ.
Trứoc hết là vấn đề lấy ngân quỹ quốc gia để xây dựng các trụ sở đảng… Nó lù lù trơ trơ trước mặt mọi người dân lâu quá! Khiến cho dân không thấy đó là việc làm sai quấy, và cứ để cho ĐCS tiếp tục làm những việc sai quấy tự nhiên.

Việc lấy công quỹ nhà nước ra để xây dựng hệ thống trường Đảng trung cấp, cao cấp đào tạo đảng viên. Các học viện chuyên giảng dậy về chủ nghĩa Marx-Lénine, về triết học Macxit. Kinh tế học Macxit lịch sử Đảng CS. Và xây dựng các trụ sở đảng, tụ họp, thờ cúng Marx-Lenine mà không cần xin phép ai là một việc làm cổ kim chưa hề có. Hiện nay 64 tỉnh thành đến quận huyện, đều có xây dựng trụ sở đảng rất nguy nga đồ xộ. Bọn chúng lấy tiền của ở đâu ra xây dựng?

Giả sử các đảng phái chính trị khác như Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Dân Chủ v.v… muốn xây dựng trụ sở Đảng, hoặc các tín đồ tôn giáo muốn xây dựng nhà thờ, xây chùa, xây trường đào tạo tu sĩ…, họ có thể tự động muốn xây đâu cũng được, mà không cần xin phép chính quyền, có được không? Hoặc giả họ cũng cứ tự tiện rút tiền ở ngân quỹ nhà nước ra xây trụ sở đảng. Xây trường để đào tạo đảng viên… hay xây nhà thờ, xây chùa, xây trường đào tạo tăng ni được không? Hay trước hết họ phải đệ đơn xin phép chính quyền? Các tín đồ tôn giáo phải tự nguyện đóng góp công của để xây dựng. Dù ở quốc gia nào, thời nào thì các tổ chức cũng phải tuân theo luật pháp. Chỉ có Đảng CSVN là tự tung, tự tác… Họ không thể là cái gì đó ngoài lề. Vậy hãy để cho Đảng CSVN tự trang trải, mọi chi phí cho hoạt động của mình.

Vì xét rằng, về bản chất, thì các đảng phái, hoặc các tôn giáo đều là những tổ chức quần chúng “tự nguyện” tự quản và tự lo “tài chánh”. Chứ hà cớ gì mà tất cả đảng CS đổ lên đầu dân?

Vì xét rằng việc xây dựng trường Đảng, xây trụ sở Đảng, xây học viện Marx-Lenin, đến việc xây lăng lãnh tụ, nói cho cùng nó cũng chỉ là một hình thức tôn giáo, mà đảng CSVN là một thứ tà giáo lưu manh. Ai mang thứ tôn giáo quái ác này truyền vào Việt Nam?

Bây giờ nhiều người mới khám phá ra sự thật. Một tên du thử du thực người gốc Nghệ An, bố y có tiền án xấu, cuộc sống túng quẫn. Y bỏ quê hương đi làm bồi trên một chiếc tầu của người Pháp, đến Paris, đánh giầy bán báo một thời gian… rồi y sang Nga, qua Tầu làm nhân viên cho một công ty khai thác khổ phần thuộc địa kiểu mới (Đệ tam quốc tế). Y được chọn làm nhân viên trong Bộ Truyền Giáo Mác-Lenin ở Châu Á… , thành lập các chi bộ Đảng CS ở Thái Lan và Miến Điện… Khi có cơ hội về nứơc y qui tụ được một số phần tử bất hảo, thành lập ĐCS Đông Dương tự xưng là đệ nhất (Trưởng Lão).

Vì lợi ích của Quốc Tế CS, y rất hăng say bài trừ các tôn giáo khác… Muốn thay đổi tín ngưỡng của mấy chục triệu dân, bắt họ từ bỏ niềm tin tôn giáo truyền thống đạo đức hàng mấy ngàn năm để chấp nhận một tôn giáo mới, tất nhiên y phải hành xử với dân một cách cực kỳ tàn bạo, như kiểu Hối Giáo chinh phục dân ngoại đạo: Bắt đối thủ của họ phải lựa chọn mấy điều:
“Dâng tài sản cho đảng, thừa nhận Marx-Lenin hay là chết”. Câu hỏi cho dân và tự trả lời dứt khoát một cách tàn nhẫn.

Hồ chí Minh được coi như quan Khâm Sai của thánh Stalin, nhận lệnh của Thánh truyền bá nhất thần Mác cho người đời. Tín điều này đối với các đảng viên CSVN phải tuyệt đối phục tùng. Tín điều cũng dạy không được thỏa hiệp hoặc xem thường bất cứ lời dậy nào của Mao Chủ Tịch. Đạo vô thần cũng đòi hỏi tín đồ tuyệt đối không được hoài nghi tranh biện về XHCN.

Tôn giáo này, rất khắt khe, với giáo điều không chấp nhận tôn giáo nào khác, ngoài đức tin Thánh Mác-Lenin chủ trương trước sau tiêu diệt ngoại đạo. Vì thế HCM ngầm ra lệnh phá chùa chiền miếu mạo, bắt các tăng ni, linh mục, đóng cửa các tiểu chủng viện đại chủng viện.

Thay vì dậy tín đồ hành “thiện”, họ lại ép tín đồ hành “ác”. Đảng viên phải thay đổi bản thân mình. Từ con người Việt Nam trở thành con người XHCN, nghĩa là làm điều ác một cách tự nhiên. Sống đúng theo lời dậy trong thánh kinh “đấu tranh giai cấp” hết bổn phận hàng ngày, hàng tháng hàng năm trọn đời chăm làm việc “ác” và ngoan đạo. Theo di chúc của HCM, lúc chết đi xuống… được gặp cụ Mác-Lenin. Tưong tự như các tôn giáo, lúc chết được lên Thiên đàng gặp Chúa, gặp Phật ở cõi Niết Bàn.

Về hình thức cũng tựa như các tôn giáo khác. Họ xây trụ sở đảng, làm nơi tụ họp các tín đồ thờ cúng Các Mác Lenin, và các vị giáo chủ khác như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông bằng ảnh tượng. Các chức sắc cao trong đạo có trưởng lão (TBT) các tăng sĩ Linh Mục, Thượng Tọa (UVBCT), có Bí thư tỉnh ủy v.v…

Lễ kết nạp “quy y” hoặc “rửa tội” là phải tuyên thệ từ bỏ tổ tiên ông bà… Tuyệt đối trung thành với đảng. Khi họp hành, hát Thánh ca (Quốc Tế ca). Các ‘con thiên CS’ tập chính trị, diễn thuyết, lý luận, ý thức hệ v.v… Có nhiều trường đào tạo tu sĩ ngoài việc học tập lý thuyết, giáo lý trong giáo trình còn có một đề mục rất hấp dẫn, thu hút đảng viên nhiều nhất là trường đảng trung cấp đào tạo “lưu manh trung cấp”, cán bộ cấp tỉnh, huyện, thành… Trừơng đảng cao cấp, và học viện Nguyễn Ái Quốc đào tạo “lưu manh chuyên nghiệp cao cấp”. Ai tốt nghiệp sau ra làm lãnh tụ, làm cán bộ cao cấp, thả cửa tham nhũng móc ngoặc hối lộ. Một trăm phần trăm các cấp lãnh đạo ĐCSVN đều tốt nghiệp từ trường này.

Sự Thật

Ở miền Bắc thời HCM, những đảng viên trung kiên của đảng thấm nhuần tận xương tủy chủ nghĩa Marx-Lenin, và tư tưởng Mao Trạch Đông. Những câu chuyện kể cho tuổi thơ nghe về ông Stalin, bác Mao hiện lên như thần thánh, tiên Phật. Tôn giáo Mác-Mao chiếm địa vị, độc tôn chi phối toàn diện mọi sinh hoạt xã hội. Không có một loại tôn giáo nào khác nữa. Không có Phật, không có Chúa, đến Tổ Tiên ông cha cũng quẳng bỏ tuốt tuồn tuột.

Về Bài hát, ‘Đông Phương Hồng’ của Mao Trạch Đông vang vọng khắp mọi nơi, như kinh nhật tụng hàng ngày. Từ già đến trẻ ai cũng phải đeo huy hiệu có hình Mao Trạch Đông ở trên ngực, trong nhà thì có bàn thờ Mao Chủ Tịch. Đảng CSVN không cưỡng lại nổi sự cám dỗ để cho người ta thần thánh hóa các lãnh tụ Stalin, Mao khắp các nẻo đường đất nước. Họ dựng lên những đền thờ cho những người đang sống như Mao Trạch Đông. Đứng đầu là Hồ Chí Minh, đối với Thiên triều bắc Kinh thì hết lòng tôn thờ, còn đối với Tổ tiên thì miệt thị khinh khi, cho người đào mồ, phá đền thờ các vị anh hùng dân tộc (sẽ dẫn chứng cụ thể ở bài sau).

Bạn có sống trên đất Bắc thời Hồ mới thấy dân mình bị Trung Cộng đô hộ. Ngày xưa bọn phong kiến Tầu đô hộ Việt nam hơn một ngàn năm! Chúng tuy chiếm được đất, nhưng không cưỡng chiếm được tinh thần văn hóa của dân tộc ta. Thế mà thời Hồ chí Minh, từ năm 1951, miền Bắc Việt nam chưa bị Trung Cộng chiếm đất. Nhưng đời sống tinh thần, tổ chức xã hội đều bị “tư tưởng Mao Trạch Đông” cưỡng chiếm cả: những mầu sắc Tầu, những chủ Tầu xuất hiện tự nhiên, lập trường giai cấp, đấu tranh giai cấp, tính giai cấp, phát động căm thù, phát động tư tưởng, bài trừ phong kiến v.v…

Những cuốn sách của Mao như “Bàn về Mâu tThuẫn”, “Chiến Tranh Lâu Dài”, “Bàn về Chủ Nghĩa Mới” là những cuốc sách được in với số lượng khổng lồ, nó tràn ngập khắp mọi nơi, từ thư viện trung ương, đến làng xa, các cơ quan xí nghiệp, và các sinh hoạt văn nghệ đâu cũng là Tầu, trong khi đó sách vở, Kinh điển các tôn giáo, nhất là Phật Giáo bị thiêu hủy, và mọi hình thức thờ, cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến “phải đào tận gốc, chốc tận rễ”…(1) (Muốn hiểu tường tận vấn đề này, xin bạn đón đọc bài: Tại sao ĐCSVN phá hoại các di tích lịch sử, và xóa bỏ nền văn hóa truyền thống? sẽ được phổ biến.)

Dù đứng ở góc cạnh nào để quan sát, và thẩm định một cách khoa học, người ta cũng nhận thấy ĐCSVN rõ ràng là một tổ chức (lưu manh chuyên nghiệp), bất nhân nhất. Bởi vì nó tập hợp các phần tử tiêu cực thối rữa bên dưới đáy của xã hội cũ: Đánh giầy, làm bồi, bán báo, hoạn lợn, kẻ ghi xe hỏa, đám anh chị… ở đâu đó đều được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào. Đường lối của nó là “lừa phỉnh – dối trá”…

Có thể nói trong lịch sử cổ kim của nhân loại chưa từng có bọn lưu manh nào mà dối trá to tát và rộng khắp như ĐCSVN. Chúng dùng mọi kiểu dối trá vào từng thời kỳ năm 1945 khác… năm 1954 khác… năm 1975 khác… và bây giờ năm 2006… Vào từng đối tượng thí dụ 1945 là địa chủ, phú nông, tư sản, trí thức, các tôn giáo… Năm 1954 – là nông dân, công nhân v.v… mỗi hình thức dối trá thiết kế một khác, đối với đồng bào… đối với người ngoại quốc… chúng biết tâm lý và quan niệm của họ để dối trá. Thí dụ, lúc chưa nắm được chính quyền chúng lần lượt tung ra các mặt trận ma, để dấu bộ mặt thật. Có thể tạm liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:


Năm 1936, Mặt trận Nhân dân phản đế.
Năm 1938, Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
1939, Mặt trận Thống Nhất phản đế Đông Dương.
1941, Mặt trận Việt Nam đồng Minh Hội.
1946, Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam gọi tắt là Mặt Trận Liên Việt. Điển hình nhất là Mặt Trận ma, mang tên (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đuoc xuất hiện vào năm 1960.) Tên tuổi của nó vang dội khắp thế giới.

Vậy mà suốt 16 năm liền, cái mặt trận Ma này được xem như lực lượng thuần túy do nhân dân miền Nam thành lập để chống Mỹ-Diệm. Cộng Sản Hà Nội ‘chỉ đứng ngoài cổ võ, không can thiệp vào nội bộ miền Nam’. Mặt trận thành lập chính phủ lâm thời Miền Nam. Vì quan niệm là một chính quyền tất nhiên đủ các bộ phận trực thuộc như: Nội vụ, Ngoại giao, thông tin, giáo dục, quốc phòng… Chính phủ Ma này gửi một phái đoàn đại diện đến tham dự hội nghị Paris. Sau mấy năm kéo co… cù nhằng… giữa Ma và người, thỏa hiệp đình chiến được ký kết bốn bên: Ba bên phái đoàn kia trong tư thế phân biệt với phái đoàn Hà Nội đồng đẳng ngang hàng với phái đoàn Hoa Kỳ và Cộng Hòa miền Nam.

Những con rối như Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Thị Bình dưới sự điều khiển của tên phù thủy Lê Đức Thọ (trùm Mafia) đã diễn xuất một cách tuyệt hảo trong vai đại diện chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, trước con mắt ngây thơ của giới truyền thông phương Tây và khán giả toàn thế giới.

Chung cuộc cũng chính cái chính phủ lâm thời này thượng cờ nửa xanh nửa đỏ lên cột cờ dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Nhưng chỉ sau đó ít lâu nó tan biến thành mây khói. Bọn lưu manh công khai dẹp bỏ chính phủ lâm thời miền Nam. Cho những con rối nào bị, vào sọt rác. Đồng bào miền Nam ngơ ngác, trong lúc đó cả thế giới im lặng. Đến cuối năm 1988, các cựu kháng chiến cũ ở Nam Bộ họp thành đoàn thể cho ra mấy số tập san (Truyền Thống Kháng Chiến), nhiều đảng viên CS kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn v.v… tố cáo thẳng thừng Đảng lừa dối đồng bào Miền Nam. Đảng đã đưa đất nước đến bờ vực (…) Sau năm 1975 họ mới thức tỉnh biết đảng đã đánh lừa người miền Nam. Mặt Trận và Chính Phủ Lâm Thời không bao giờ có thực.

Thấy tài nghệ của bọn lưu manh chuyên nghiệp chưa! Nhân đây cũng phải nói sơ sơ về cái gọi là (Cách Mạng Tháng 1945.


Trước hết, chúng ta có thể đặt câu hỏi:
- Phải chăng Việt Minh cướp chính quyền từ tay người Pháp? Hay người Nhật?
- Một trăm lần không. Chính CS cướp chính quyền trong tay chính phủ Trần Trọng Kim (quốc gia). Xin tóm lược, bối cảnh thế giới lúc bấy giờ để chúng ta xác định vấn đề cho đúng đắn. Thời gian đó chiến tranh thế giới lần thứ hai vừa kết thúc.
Ngày 7 tháng 5 năm 1945 Đức đầu hàng đồng minh.
Ngày 9 tháng 8 năm 1945 Nhật đầu hàng đồng minh.
Đó là tình hình quốc tế. Còn tình hình ở Đông Dương nói chung ở Việt Nam nói riêng, thì ngày 9 tháng 3 năm 1945 quân Nhật bất thần tấn công quân Pháp. Toàn bộ hệ thống cai trị của thực dân Pháp hoàn toàn tan rã ở Đông Dương, và Đông Dương trở thành thuộc địa của Nhật. Như vậy người Nhật thật sự cầm quyền ở Đông Dương có 5 tháng.

Trước khi Nhật đầu hàng đồng minh. Hoàng Đế Bảo Đại đã sáng suốt đưa ra tuyên cáo: “Việt Nam độc lập, từ bỏ cái điều ước bảo hộ của Pháp” trước công luận nhân dân Việt Nam và thế giới. Liền sau đó Ngài cho thành lập nội các Trần Trong Kim, cùng với đạo dụ của Bảo Đại về việc cải tổ bộ máy triều đình cho phù hợp với tình hình mới.


Ngày 19 – 3- 1945, Viện Cơ Mật do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức. Ngày 17 – 4 – 1945, Trần Trọng Kim chuyển tới Bảo Đại danh sách tân nội các trước sự có mặt của đại diện chính phủ Nhật.
Chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ đầu tiên của Việt Nam độc lập đã quy tụ được những bậc nhân tài nổi tiếng thời đó có thể nói là tinh hoa của đất nước.
Ngày 17-4-1945, Cụ Trần Trọng Kim đã trình lên vua Bảo Đại một nội các gồm 11 nhân sĩ:
Trần Trọng Kim GS: Thủ Tướng.
Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ Trửong Bộ Nội Vụ.
Trần Văn Chương, LS: Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
Trịnh Đình Thảo, LS: Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp.
Hoàng Xuân Hãn, Thạc Sĩ Toán Học: Bộ Trửơng Bộ Giáo Dục và Kỹ Nghệ.
Vũ Văn Hiền, LS: Bộ Trưởng Bộ Tài Chính.
Phan Anh, LS: Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên.
Lưu Văn Lang, Kỹ Sư: Bộ Trưởng Bộ Công Chính.
Vũ Ngọc Anh, BS: Bộ Trưởng Bộ Y Tế.
Hồ Tá Khanh, BS: Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế.
Nguyễn Hữu Thi, Y sĩ: Bộ Trưởng Bộ Tiếp Tế.

BS Phan Huy Quát còn cho biết thêm về chương trình hành động của Hoàng Đế Bảo Đại: “Một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu mà vua Bảo Đại muốn chính phủ phải thực hiện ngay lúc đó là đòi lại 3 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng cùng với Nam bộ trong tay người Nhật để danh lại nền độc lập và chủ quyền cho đất nước. Nhưng việc đó thì cho đến tháng 8 năm 1945 cụ Trần Trọng Kim mới thực hiện được chỉ vài ngày sau khi Nhật bị bom nguyên tử khoảng một tuần.
Các biến cố trọng đại và các sự kiện từ thế giới, đến trong nước đã xẩy ra như thế. Và người ta có thể nói: Chính quyền Pháp đã hoàn toàn tan rã. Nhật đã đầu hàng đồng minh. Việt Nam đã có chính phủ Trần Trọng Kim thay thế một cách hợp thời hợp pháp. Như thế là cộng sản không phải cướp chính quyền trong tay người Pháp hay người Nhật. Như bao nhiêu năm họ tuyên truyền dối trá, làm cho bao nhiêu người Việt Nam bị hiểu lầm.

Trong cuốn hồi ký Một cơn gió bụi cụ Trần Trọng Kim viết về tuyên truyền dối trá của CS Việt Minh như sau:
… “Đảng Việt Minh lúc ấy hoạt động, đánh huyện này, phá huyện kia. Lính Bảo An ở các nơi phần nhiều bị VM tuyên truyền. Tuy không theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Dân gian lúc bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp chưa kịp sắp đặt gì cả. Công việc thấy có nhiều sự khốn khó, mà thường nghe sự tuyên truyền cua Việt Minh nói rằng họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị khao khát độc lập, nay Việt Minh nói như thế. Lại nghe nói Việt Minh cầm quyền thì dân không phải đóng thuế nước ta được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc lắm, thành ta ai cũng tin theo. Ngay cả những đội thanh niên tiền tuyến, Bộ Thanh Niên do chính phủ quốc gia lập ra cũng có ý ngả về Việt Minh…
Bọn Thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính Bảo An và lính Hộ Thành, tất cả độ vài trăm người, những lính để canh giúp công sở súng ống không ra gì, đạn dược không đủ thì còn ai làm gì được. Họ cũng bị Việt Minh tuyên truyền nên siêu lòng hết cả rồi. Lúc ấy chỉ có cách lùi đi là hơn.”
… “Cụ Trần Trọng Kim cho biết sau đó, cụ đã lên tâu vua Bảo Đại “Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và hăng hái về việc cách mạng như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của đất nước…”
“Vua Bảo Đại là ông Vua thông minh nên hiểu ngay và nói: “Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ: Trẫm muốn làm người dân một nước độc lập còn hơn là làm vua một nước nô lệ.”

Nhờ Ngài có tư tưởng quảng đại nên tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động.
Trên thực tế thì CS đã cướp chính quyến từ tay người quốc gia. Họ luôn luôn đi sau, mà ăn cỗ của người khác đã sắp sẵn.


Cũng cần nói cho rõ, khi chính quyền Pháp tan rã, Nhật đầu hàng đồng minh. Trong khi đó Việt Minh (CS) còn ở trên rừng. Ngày 4/5/1945 Hồ Chí Minh vội vã rời hang pác Bó về Tân Trào lập bản doanh chỉ đạo cách mạng (bọn lưu manh cướp chính quyền). Đến sau các sự kiện mấy tháng.

Điểm đáng nói ở đây nữa là lực lượng của họ cũng chẳng có gì. Theo hồi ký của Thiếu Tướng Lê Quảng Ba kể lại buổi lễ ra mắt đội du kích vũ trang đầu tiên ở căn cứ địa Pác Bó ngày 22 tháng 12/1944, đơn vị tuyên truyền Giải Phóng quân đầu tiên được thành lập, gồm có 3 tiểu đội, 34 chiến sĩ với hơn chục khẩu súng trường. Nhóm thứ hai do Chu Văn Tấn thành lập ở Tuyên Quang có một trung đội. Nhóm thứ ba do Võ Nguyên Giáp thành lập ở Bắc Việt sau này về Tân Trào cũng chỉ có một trung đội du kích trang bị thô sơ mã tấu và súng trường. Ở miền Trung và miền Nam là một con số không.

Trong khi đó các lực lượng quốc gia, như Quốc Dân Đảng, Đại Việt, đều có lực lượng và hoạt động trước CS và chịu nhiều hy sinh.. Về lực lượng quân sự theo như GS Nguyễn Văn Canh, Đại Việt Quốc Dân Đảng có Chiến Khu Đông Triều, có cơ sở quân sự nhiều nơi, đến tận Ninh Bình, Thanh Hoá. Việt nam Quốc Dân Đảng có đệ Tam chiến Khu ở vùng Vĩnh, Phúc Yên… Đại Việt lúc đó đã điều động 200 Sinh Viên Biệt Chính được đào tạo ở tại trường Sĩ quan Quân Chính của Đại Việt từ Yên Bái về năm chờ lệnh ở Gia Lâm, bên kia cầu Paul Doumer để bắt Hồ chí Minh và đồng bọn vì cướp công cách mạng. Họ được trang bị đầy đủ võ khí. Tuy nhiên, lệnh đó không bao giờ được đưa ra. Đoàn quân tinh nhuệ đó, mà đa số xuất thân là sinh viên trường Đại Học Đông Dương, từ từ rút lui vào chiến khi Di Linh ở Thanh Hoá, rồi bị giải tán.

Ở đây ta thử đặt một câu hỏi: Tại sao các lực lượng đảng phái người quốc gia nhiều như vậy, mà thua nhóm thiểu số Cộng Sản? Cũng theo GS Canh thì khi đó đã có một cuộc họp giữa các lãnh tụ của Việt Quốc và Đại Việt về vấn đề này, lúc đó Việt Quốc và Đại Việt đã thống nhất thành Mặt Trận Quốc Dân Đảng Việtnam ( MTQDĐ). Có người trong MTQDĐ chủ trương vào Bắc Bộ Phủ bắt HCM và tiêu diệt CS, và bọn này chỉ có một ít người và ít súng. Việc thanh toán nhóm này không khó và kế hoạch hành quân đã có. Vài sĩ quan chỉ huy cho biết rằng chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ là họ chiếm trọn được Bắc Bộ Phủ, nơi đó họ Hồ vừa đến trú ngụ với một ít súng trường bảo vệ. Nhưng đa số các vị lãnh đạo không tán thành, bởi vì nếu hành động như vậy, sẽ gây ra cảnh ‘nồi da sáo thịt, gây khổ đau cho nhân dân’. Điều này là một lẽ rất tự nhiên vì đa số các vị đó được sinh ra, được hun đúc truyền thống dân tộc, lấy Đạo Làm Người, Đạo Tâm, Nhân Đạo, Gia Đạo làm gốc. Chính vì nét đặc thù ấy, mà họ không giết tên trùm lưu manh HCM và tiêu diệt nhóm CS. Hoài bão lý tưởng của số đông là một nước Việt Nam độc lập. Họ quan niệm HCM và nhóm Việt Minh cũng là một lực lượng yêu nước tranh đấu cho nền độc lập dân tộc.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Họ cứ đặt những tình Người Hoa trái Nhân Sinh để minh xác:
Anh em cốt nhục đồng bào.
hay: Anh em một thứ huyết dây
Cũng như người có chân tay khác gì.
Nói chung người quốc gia yêu nước lúc ấy không coi Việt Minh (CS) là kẻ thù, mà chỉ nhìn thấy họa xâm lăng của ngoại bang ( thực dân Pháp).

Chuyện này là cả một pho sử không thể gói gọn trong vài trang giấy, ở đây tôi chỉ muốn điểm lại một vài sự kiện nổi bật, và chúng ta có thể xem một vài tư liệu cho sáng tỏ vấn đề nhất là về chính phủ Trần Trong Kim, mà CS thường gắn cho là chính phủ bù nhìn, tay sai.

Chính quyền thực dân Pháp tan rã. Nhật đầu
hàng đồng minh, còn ai để mà bù nhìn và tay sai?
Năm 1989, nhà sử học Na Uy, ông Stein Tonneson có sang Việt nam để chuẩn bị cho cuốn sách viết về Cách Mạng tháng 8 năm 1945. Ông có phỏng vấn nhiều nhân chứng lịch sử, trong đó có luật sư Phan Anh, người đã từng làm bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim. Sau đó bị mời làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng của chính phủ cách mạng HCM vài tháng… (…)

Ông Phan Anh đã bày tỏ những quan điểm của mình đối với chính phủ Trần Trọng Kim. Bỏ qua những lời nói hóa trang hoa mỹ của Phan Anh, để khỏi phải mang họa vào thân và gia đình… Ở đây tôi chỉ dẫn những đoạn nêu rõ ý tưởng của ông ta. Thí dụ như sử gia Stein Tonnesson hỏi:
- Có phải chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn như người ta thường nói không?
- Phan Anh: lấy tư cách là một thành viên của chính phủ Trần Trong Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật .Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự quốc gia. Với chủ trương ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu là: “đuổi bọn Pháp và nắm lấy độc lập.”(2) (…) Đọc hồi ký của Bảo Đại, của Trần Trọng Kim, nghe Phan Anh trả lời chúng ta có thể hiểu rõ lịch sử ở giai đoạn đó một cách đúng đắn, rất tiếc không thể dài dòng ở đây.

Xin trở lại việc cướp chính quyền của Việt Minh CS trên tay Chính Phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội. Ngày 19/8/1945: Ngày Cộng Sản gọi là Cách Mạng Tháng 8. Trước đó 2 ngày tức là ngày 17/8/1945 ở Hà Nội, Tổng Hội Viên Chức của Chính Phủ Trần Trọng Kim tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng Trường nhà Hát lớn Thủ Đô. Có hàng vạn người tham dự, để ủng hộ chính phủ lâm thời Trần Trọng Kim. Cuộc mít tinh đang diễn ra đầy sôi nổi trong không khí hào hứng, thì đùng một cái có một nhóm du côn cướp lấy diễn đàn của cuộc mít tinh hành hung người diễn thuyết đưa cho cán bộ Việt Minh, biến nó thành cuộc biểu dương lực lượng sức mạnh của Việt Minh. Hồ chí Minh chỉ đạo cách mạng tháng 8 bằng cách dùng bọn lưu manh như thế đó.

Để giải quyết các vấn đề về thái độ đối với các đảng phái quốc gia, Đảng CS chủ trương tiêu diệt tất cả để dành quyền lãnh đạo chính trị tuyệt đối, vừa bằng bạo lực vừa lừa đảo. Các kiểu dối trá khác nhau… , vào các hoàn cảnh khác nhau… Đảng CS thường xử dụng chiến tranh tâm lý trước khi bắt đầu thanh toán các đối thủ hoặc phát động chiến tranh bằng cách bóp méo sự thật.

Trong khi nó hô hào đoàn kết toàn dân, đoàn kết các lực lượng yêu nước. Nhưng khi kêu gọi đoàn kết, nó đã có âm mưu tiêu diệt anh. Vì anh chống lại nó, nó cũng tiêu diệt anh chỉ vì anh khác với nó. Nhưng nó cũng có thể tiêu diệt anh chính vì anh đã nuôi dưỡng nó, và hết lòng ủng hộ nó. Nó tiêu diệt anh chính vì anh đã theo nó. Như hầu hết những người bị gán cho là địa chủ, phú nông, cường hào, phong kiến, phản động, tư sản, những trí thức văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến đều chung số phận. Những người ủng hộ tuần lễ vàng ở Hà Nội 1946 do Hồ Chí Minh kêu gọi, chẳng mấy ai thoát chết. Nó giết anh, hễ khi nào nó nhận thấy rằng cần phải tiêu diệt anh thì nó sẽ tìm cách, tìm cớ để tiêu diệt. Nếu nó chưa giết anh vội, vì nó còn lợi dụng được anh, còn khai thác được anh. Nó giết anh khi việc nó làm đã đạt mục tiêu. Nó diệt các tôn giáo, dẹp Mặt Trận, dẹp Chính Phủ lâm thời miền Nam, vì nó đã đạt mục tiêu… Nó là một tổ chức lưu manh, được lãnh đạo bởi những tên trùm lưu manh bất nhân nhất.

Đảng CSVN luôn luôn tuyên truyền, tuyên bố là họ đã lãnh đạo nhân dân VN đánh bại quân xâm lựơc Pháp, và đế quốc Mỹ thống nhất đất nước.


Nhưng những người lãnh đạo đảng CSVN, đã không chân thật về lý do của hai cuộc chiến tranh này. Ngày nay rất nhiều tài liệu vạch ra rõ ràng nước Việt Nam đã có độc lập và thống nhất. Mà không cần phải đổ thêm một giọt máu nào. Nhưng vì bản chất hiếu chiến, khát máu nó đã phát động chiến tranh bằng cách ngụy trang giải phóng dân tộc, và để phục vụ quốc tế CS chủ trương đấu tranh của quốc tế CS.Khiến 4 triệu thanh niên nam nữ thuộc ba thế hệ đã hy sinh vô ích.
- Cuộc chiến tranh lần thứ nhất chống Pháp gần 9 năm (1946-1954).
- Cuộc chiến tranh lần thứ II chống Thế giới tự do, Hoa Kỳ và đồng minh trong 20 năm (1955-1975)
- Cuộc chiến tranh lần thứ III chống lẫn nhau giữa 3 đảng CS Trung Cộng, Khờ Me Đỏ và Việt Nam kéo dài 10 năm.

Đảng CSVN trung thành với chủ nghĩa Mac-Lenin, nó đã phủ định chủ nghĩa dân tộc. Chỉ xử dụng cuộc tranh đấu dành độc lập dân tộc như một chiêu bài, một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lựơc quốc tế hóa CS. Trong các bài viết trước tôi đã vạch rõ nhưng nhận thấy cần phảỉ nói thêm rằng: Chủ Nghĩa Đế Quốc xâm lược thuộc địa đã trở thành dĩ vãng, và một trào lưu tiến hóa tất yếu của lịch sử là quyền tự trị và độc lập của các dân tộc, đã bắt đầu từ năm 1946. Và cuộc chiến tranh do Hồ chí Minh khởi động theo lệnh quan Thày không cần thiết để đạt mục tiêu này:

Năm 1919 tại hội Quốc Liên (Tổ chức Liên Hiệp Quốc), Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xứơng quyền dân tộc tự quyết để khuyến cáo các đế quốc Tây Phương từng bước trả lại độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Và tiến trình này đã xảy ra:
Từ năm 1946 đến năm 1949 tất cả các đế quốc Phương tây đã lần lượt tự giải thể các thuộc địa trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu. Đi đầu là Hoa Kỳ trả độc lập cho Phi Luật Tân năm 1935. Và Pháp trả tự do cho Syria và Liban 1936, Anh trả độc lập cho Ấn Độ 1947, Miến Điện 1948, Tích Lan cùng năm. Năm 1949 Pháp trả độc lập cho chính phủ Quốc gia Việt Nam, Vương Quốc Lào, Campuchia, và Hòa Lan trả độc lập cho Nam Dương.


Vậy lịch sử đã chứng minh rằng đấu tranh bất bạo động ở thập niên 50 – 60, không liên kết là đường lối hợp thời và khôn ngoan hữu hiệu nhất để dành độc lập cho quốc gia. Ngược lại đứng vào hàng ngũ Quốc Tế CS để đấu tranh võ trang là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc tế CS và thế giới tự do.
Qua sáu thập niên chúng ta đã thấy rõ bộ mặt dối trá của CSVN trong mọi phương diện, làm tay sai cho Nga Tầu. Từ tuyên truyền độc lập tự do hạnh phúc, để đoạt quyền lực, thống trị độc tài, và ngụy trang kháng chiến chống Pháp chống Mỹ, mạo danh độc lập, dâng đất cho giặc, mạo danh giải phóng để ăn cướp…

Cũng nên biết rằng ngày 27 tháng 3 năm 1947 Hội Đồng Chính Phủ Ramadier và Hội Đồng các chính đảng Pháp, Quốc Hội đã công bố quyết nghị về chính sách mới của Pháp tại VN. Theo quyết nghị này Pháp không chủ trương tái lập thuộc địa tại Á Châu, Pháp tán thành nguyện vọng chính đáng của nhân dân VN về quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ ba miền Trung, Nam, Bắc.


Năm 1947 Pháp đã chính thức đăng ký VN là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (3)
Chủ quyền độc lập cho Việt Nam được thừa nhận bởi Hiệp định Elysée ngày 8-3-1949 ký kết giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại ngày 6-6-1946. Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp định Elysée từ đó chiếu theo công pháp quốc tế Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Các Hiệp Ứơc ký kết với Pháp trong hậu bán thế kỷ thứ 19 đã bị bãi bõ hoàn toàn. (4)

Mặc dầu là vậy những người lãnh đạo đảng CSVN đã cố tình phủ nhận nền độc lập chính đáng này. Họ tiếp tục làm theo lệnh của Quốc Tế Cộng Sản. Võ trang chiến đấu, để độc quyền yêu nước, độc quyền kháng chiến. Chúng ta cũng không nên quên rằng năm 1949 Trung Cộng đã đánh bại đựoc quân đội Tửơng Giới Thạch giành quyền kiểm soát lục địa Trung Hoa, sau đó họ đánh chiếm Tây Tạng từ đó đảng CSVN Miên Lào hoàn toàn phụ thuộc vào đảng CS Trung Quốc, việc Cộng Sản hóa Đông Dương là một thực tế. Trước nguy cơ này các nhà lãnh đạo thế giới tự do chủ trương giữ Việt Nam để ngăn làn sóng đỏ chặn đứng âm mưu của Quốc Tế CS. Đương nhiên Việt Nam là một quốc gia liên hiệp với Pháp, nên Pháp phải có nghĩa vụ mang quân để bảo vệ biên thùy cho Việt Nam theo quy chế của Liên Hiệp Pháp, về an ninh quốc nội, và ngoại xâm đe dọa.

Để vận động nhân dân Việt Nam chiến đấu, Đảng CSVN đã tuyên truyền rằng Pháp đem quân trở lại VN để tái lập thuộc địa. Do đó họ phải lãnh đạo nhân dân chống lại Pháp để dành lại độc lập cho quốc gia. Thực tế, chính nó mang Pháp vào Việt nam. Đây là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc sự thật.
Đến năm 1954, họ buộc phải ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước ở Miền Nam thành lập nền đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng họ đã phủ nhận nền độc lập này, và đã phá hoại liên tục… Họ tuyên bố rằng Mỹ đã thay thế Pháp để thống trị miền Nam. Do đó buộc họ phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam thống nhất đất nứơc.


Mỗi khi Đảng CSVN muốn phát động chiến tranh, nó cần người dân cả nước tham gia. Nó lại xử dụng chiêu bài “yêu nước” và “dân tộc” để động viên dân chúng. Trong ba cuộc chiến tranh nó đều xử dụng tuyên truyền dối trá và đã thành công. Trong chiến tranh gọi là chống Pháp, chống Mỹ giải phóng miền Nam, nhiều người dân bị kích động khi nghe các đài phát thanh và báo chí của đảng CS…, họ đã suy nghĩ theo cách “méo mó” mà nó tạo ra. Đảng CSVN thường quy tất cả tội ác vào cho người quốc gia, mà nó gọi là “phản động” và bọn đế quốc Mỹ. Trong khi đó nó nhận hết những sự việc tốt về cho đảng CS.
Đảng CSVN đã xử dụng mỗi thành quả để khiến cho việc tuyên truyền, tuyên bố tính hợp pháp trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giải phóng miền Nam. Ngay cả việc đảng CS giết hại lẫn nhau “đấu tranh nội bộ”. Nó cũng có thể biến thành cái gì đó “rất tốt”, để phục vụ cho mục đích của nó. Đảng CSVN đã chế tạo ra nhiều bộ mặt như đã nêu ở phần trước các mặt trận ma… Chúng quá khéo vận dụng bộ máy tuyên truyền, sử dụng tất cả mọi hình thức, tất cả mọi thủ đoạn lật lọng lừa đảo tinh vi nổi tiếng nhất là ở việc tô vẽ HCM kẻ đồ tể, tên tội phạm số 1 của dân tộc trở thành một vị anh hùng dân tộc.

Dối trá có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Nó đã thuyết phục được nhiều trí thức, chính trị gia chính phủ của nhiều nước suốt trong hai cuộc chiến tranh uûng hoä noù. Với nhân dân nó đã thuyết phục được nhiều người theo nó, nó hóa trang làm trò rất tài… khiến cho họ không nhận thức được chân tướng của nó. Ngược lại bị tiêm nhiễm vào những luận điệu tuyên truyền bóp méo sự thật, những người ấy cảm thấy thù ghét chính quyền miền Nam, và đế quốc Mỹ, mong báo thù và muốn chiến đấu để giải phóng dân tộc. Trong hàng ngũ quân đội nhân dân Việt Nam không thiếu những người có nhiệt tình với tổ quốc, chỉ vì vị trí “giặc” và “tổ quốc” bị cộng sản cố tình đặt sai, biến kẻ xâm lựơc thành người bảo vệ, biến kẻ tước đoạt tự do, thành kẻ giải phóng, biến tội ác của ĐCSVN thành thành tích vĩ đại.

TRẦN NHU
Oct 1, 2006

Xin các bạn tìm đọc bài “ĐCSVN là một tổ chức
lưu manh ăn bám lớn nhất thế giới”
Chú thích:
(1) Dẫn sách TTPGNT NgồnSống xuất bản năm 2005
(2) Dẫn báo Xưa Nay số 145 năm 2001 – là tờ báo cơ quan khoa học, lịch sử VN do Hà Nội xuất bản
(3) Bảo Đại và sự thành lập các Đảng Phái Quốc Gia của Nguyễn Khắc Ngữ
(4) Everyone’s United Nations ấn bản 1986 trang 332 cuả Nguyễn Khắc Ngữ
-Các tài liệu tham khảo: Hồi Ký cuả Thiếu Tướng CS Lê Quảng Ba, Hà Nội XB 1999
-Hồi ký Một Cơn Gió Bụi cuả Cụ Trần Trọng Kim

Chúng ta chỉ có thể nhổ được tận gốc rể chủ nghiã CS khi nào nhân dân hiểu biết được bản chất cuả nó.
Thưa quý vị độc giả. Tôi nhận thấy một số vấn đề được tác giả nêu ra trong bài viết cần được đem ra thảo luận rộng rải. Như vấn đề xây dựng hệ thống trường Đảng và trụ sở Đảng có hợp pháp hay không? và vấn đề nguyên nhân cuả hai cuộc chiến tranh mà đa số người dân trong nước còn hiểu sai lạc, do đó làm chỗ dựa cho những người lãnh đạo đảng CS.
Đây là vai trò cuả giới trí thức cần phải làm cho sáng tỏ, và muốn cho có hiệu quả cần phải được đem ra thaỏ luận từ mọi phiá… cần phải cảm thông dấn thân vào tiến trình và muốn đạt được kết quả tốt cần phải giữ tinh thần phê phán khoa học.

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.