| Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản From Colonialism To Communism
Chương 6 BẦN-CÙNG-HÓA TOÀN DÂN Sau khi ông Hồ vi hành sang Bắc-Kinh về thì hành động đầu tiên của ông là ban hành “Thuế Nông Nghiệp” một thứ thuế đã áp dụng ở Trung-Hoa từ hai năm trước. Cả Trung-Cộng lẫn Việt-Cộng đều khoe khoang rằng chính sách thuế khóa của họ vừa giản-dị vừa hợp tình hợp lý nhất, hơn tất cả mọi hình thức thuế từ xưa đến nay. Kể ra so với các thứ thuế của Pháp ở Ðông-Dương và của Quốc-dân-đảng ở Trung-hoa thì thuế của Cộng-sản quả có giản-dị thật, vì Cộng-sản chỉ đặt có năm thứ thuế: thuế nông-nghiệp, thuế công-thương-nghiệp, thuế sát-sinh, thuế lâm-thổ-sản và thuế xuất-nhập cảng. Vì Việt Nam là một nước căn-bản nông-nghiệp nên dĩ nhiên thuế nông-nghiệp là thuế chính. Thứ nhì là thuế công-thương-nghiệp đánh lên đầu một số thương-gia và thủ-công-nghiệp kiếm sống theo lối lấy công làm lãi. Thuế sát-sinh cũng chẳng được là bao vì thiếu trâu bò cày nên không được phép làm thịt. Tuy nhiên, mặc dầu thiếu đến nỗi ở nhiều nơi người phải kéo cày thay bò, Việt Minh cũng cho phép “xuất cảng” một số bò đực vào trong vùng Pháp chiếm đóng để đổi lấy một vài thứ hết sức cần-thiết. Như vậy thành ra có sát-sinh thì chỉ sát sinh trong vùng Pháp kiểm soát và thuế sát-sinh do Pháp thu, không phải Việt Minh thu. Thuế lâm thổ-sản cũng chẳng được là bao, còn thuế xuất-nhập cảng thì thực ra chỉ có trên giấy tờ, vì hồi ấy, Việt Minh chẳng có “cảng” nào cả, nên chẳng có “xuất-nhập”. Thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp đánh vào thu-hoạch hoặc lợi-tức, nhưng cán-bộ không hề điều tra thu-hoạch hoặc lợi-tức, chỉ ước-định rồi bắt dân chúng “bình”. “Lợi-tức bình” bao giờ cũng cao hơn lợi-tức thực. Thuế tính theo một số phần trăm lợi-tức và cao đối với tất cả mọi thành-phần nhân dân, không trừ một ai. Ðấy là chủ-tâm của chính-phủ vì đối với cộng-sản đánh thuế không chỉ cốt để thu tiền cho nhà nước mà chính là lợi dụng thuế để công khai bần cùng-hóa những thành-phần khá giả ở thành phố cũng như ở thôn quê. Thực ra, thuế chỉ là một biện-pháp đầu-tiên sửa-soạn cho việc thiết-lập nền vô-sản chuyên-chính. THUẾ NÔNG-NGHIỆP Thuế nông-nghiệp là thứ thuế lũy-tiến, nghĩa là đánh từ 5 đến 45 phần trăm tùy theo thu-hoạch nhiều ít. THUẾ-BIỂU CHÍNH-THỨC của THUẾ NÔNG-NGHIỆP
Giáo sư Bernard Fall đã chép bản thuế biểu này trong cuốn Le Việt-Minh (tr. 249) của ông, nhưng cũng như các quan-sát viên ngoại-quốc khác, ông có ngờ đâu rằng ngoài thuế-biểu chính-thức này, nông-dân còn phải đóng thêm một số “phụ-trội” mà chính-quyền Việt-minh dấu kín không hề công-bố. Số phụ-trội này nói là để xung vào “quỹ xã” còn thuế chính nộp vào kho bạc nhà nước. Sự thực thì cả hai đều gộp làm một và tùy ý Ðảng chi dùng. Thuế phụ-trội định là 15 phần trăm của thuế chính-ngạch và cả hai thứ đều phải nộp một lúc. Chi-bộ xã giữ hai phần ba số thuế phụ-trội thu được và nộp Tỉnh-bộ một phần ba. Tỉnh-bộ cũng chỉ giữ hai phần ba số phụ-trội nhận được và đưa lên Tổng-bộ một phần ba. Tổng-bộ lại giữ hai phần ba và nộp cho Cơ-quan Thông-tin Quốc-tế (Cominform) một phần ba làm Nghĩa-vụ Quốc-tế. Như vậy, nghĩa là bản thuế-biểu chỉ dùng để tính thuế chính-ngạch, rồi cộng thêm vào thuế chính-ngạch 15 phần trăm nữa. Muốn cho rõ hơn, chúng tôi xin trình bày hai tỉ-dụ. Thuế Bậc Một : Theo bản thuế-biểu thì nông-dân thuộc loại này phải đóng 5 phần trăm số lúa thu-hoạch cho chính-phủ và ngoài ra còn phải đóng 15 phần trăm của 5 phần trăm, nghĩa là 0,75 phần trăm cho Ðảng. Tổng cộng là 5,75 phần trăm. Thuế Bậc 41 : Những người thuộc loại này phải đóng 45 phần trăm thu hoạch cho chính-phủ, cộng thêm 15 phần trăm của 45 phần trăm, nghĩa là 6,75 phần trăm tổng số thu-hoạch cho Ðảng. Tổng cộng là 51,75 phần trăm của thu-hoạch. Nhưng đây mới chỉ là trường hợp những “phú-nông” tự cày cấy lấy ruộng. Những địa-chủ cho thuê ruộng lấy tô phải đóng thêm 25 phần trăm, nghĩa là phải nhân 51,75 với 1,25 thành 64,68 phần trăm. Ðấy là mức thuế cao nhất. Tuy nhiên đấy mới chỉ là nguyên tắc đại cương. Thực ra thuế nông-nghiệp còn nhiều điều khoản rắc rối hơn. Ðể cho rõ ràng hơn, chúng tôi xin trình bầy hai trường hợp điển hình, thuế của một bần-nông (bậc 2) và thuế của một địa-chủ (bậc 41). Tuy chỉ là giả dụ cho rõ hiểu cách tính, chúng tôi cũng cố ý đưa ra những con số về diện-tích và về sản-lượng hết sức xát thực-tế để độc-giả có thể quan-niệm đúng-đắn về đời sống dân-quê Bắc-Việt và ảnh-hưởng của thuế nông-nghiệp đối với họ như thế nào. Trường-hợp A Giáp phải nộp cho chính-phủ 6 phần trăm của 400 kg, tức là : 24 kilô Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 24 kg, tức là : 3,6 kilô Tổng cộng : 27,6 kilô Giáp còn lại 327,4 kilô thóc để nuôi bốn miệng ăn trong suốt một năm. Tính 100 kilô thóc xay được 65 kilô gạo, Giáp có 242 kilô gạo để ăn trong một năm, nghĩa là mỗi ngày 665 gam để nuôi bốn miệng ăn. Người nông dân Việt-Nam trung bình ăn mỗi ngày 500 gam vị chi trừ một số ít phú-nông địa-chủ là có ít nhiều thịt cá, còn bần nông chỉ lấy cơm làm no bụng. Về vụ gặt hái, làm lụng vất vả nông dân Bắc-Việt có thể ăn một kilô gạo một ngày vì họ ăn đến ba bữa cật lực. Tỉ-dụ kể trên chứng tỏ một bần nông kiếm không đủ gạo buôi thân vẫn phải nộp thuế cho Ðảng và cho chính-phủ. Trường-hợp B Cụ Bính là một địa-chủ vì cụ có 15 mẫu ruộng. Cả cụ ông lẫn cụ bà đều già nua tuổi tác, có hai người con nhưng một người đi bộ-đội và một người làm cán-bộ mậu-dịch nên không có nhà. Vì không cày cấy lấy được nên ruộng phải cho tá-điền làm thuê, mỗi mẫu lấy 400 kilô thóc (rẽ đôi), nghĩa là 6.000 kilô tất cả. Tuy gia-đình cụ Bính có bốn miệng ăn, nhưng chỉ được coi là có ba nhân khẩu, vì người con đi bộ-đội được tính là một nhân khẩu, còn người con làm cán-bộ, có lương, thì không được tính. Mang 6.000 kilô chia cho 3, thành ra mỗi nhân khẩu được 2000 kilô, như vậy là gia-đình cụ Bính được xếp vào bực 41, loại cao nhất. Thuế của cụ tính như sau: Nộp cho chính-phủ 45 phần trăm của 6.000 kg : 2.700 kg Tạm định là hai cụ già ăn mỗi ngày hết 1 kg gạo, tức 365 kg mỗi năm, thì còn thừa 1.011 kg gạo để bán đi mua măm muối, rau cỏ và chi tiêu các món khác là vừa vặn, chưa nói đến may mặc và thỉnh thoảng phảI mua cho con bút máy, đồng hồ mà cán-bộ và bộ-đội vẫn thường vòi vĩnh bố mẹ, hoặc đôi khi phải thay trâu bò cày ( bán con già mua con non ) cho tá-điền. Tính thuế theo kiểu trên đây mới là giả-dụ thu-hoạch của gia-đình cụ Bính được “bình” đúng mức, nhưng thực tế thì không mấy khi như vậy. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, muốn tính thuế phải nhận diện-tích ruộng với sản-lượng mỗi mẫu, nhưng cả hai con số này bao giờ cũng bị “kích” lên quá lố. Về diện-tích thì đáng lẽ không cần phải “bình” vì hầu hết mọi nơi, Pháp đã đạc-điền nên chỉ việc xem “trích-lục” ruộng là biết rõ diện-tích mỗi thửa một cách rất chính-xác. Nhưng cán-bộ không bao giờ công-nhận những con số trong trích-lục và nhất định bắt nhân dân phải “bình” lại, để đưa ra một con số lớn hơn. Người ngoại cuộc không thể nào chấp nhận được lối làm việc phi-lý như vậy, nhưng cán bộ cộng-sản nhất định cho rằng chỉ có “bình” mới đúng, vì “nhân dân rất sáng suốt, không bao giờ bình sai cả”. Tỉ-dụ, một nông dân có một mẫu ruộng, khai là một mẫu, nhưng cán-bộ xui cốt-cán1 đồng thanh nói là thửa ruộng ấy rộng 1 mẫu rưỡi. Chủ ruộng không có thể cãi và không giám mang trích-lục ra đối chiếu vì biết1 Cốt cán là những nông-đân theo Ðảng và làm việc cho Ðảng, chưa được thu-nhập vào Ðảng. trước là nếu có chìa trích-lục ra thì thể-tất cán-bộ sẽ bĩu môi nói : “Ngày xưa Pháp và bọn đặc-điền ăn tiền nên đề láo, chỉ có nhân dân mới ước lượng đúng mức”. Việc “kích” diện tích ruộng cao hơn, không phải chỉ nhằm phá sản một mình giai cấp địa-chủ, mà chính-thực là muốn bần-cùng-hóa toàn thể nông-thôn. Bốn năm sau, trong dịp “Sửa Sai”, Việt Cộng hạ thấp tất cả sản lượng xuống một bực. Việc này chứng tỏ, trong bốn năm đầu, Việt Cộng đã chủ trương làm kiệt quệ toàn dân để khiến mọi người trở thành dễ sai dễ bảo, và không có điều kiện nổi loạn. Tục-ngữ Việt-Nam có câu “lạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Hết tiền, hết gạo, mọi người phải an phận chịu đựng. Ðoạn văn sau đây, trích trong tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng Lao-Ðộng, phơi bầy tất cả mánh lới mà Việt Cộng đã dùng để “kích” thêm diện-tích ruộng: “Khi điều chỉnh diện tích , cán-bộ đội “Tô-Hiệu” đã gò nhân dân tự báo diện tích tăng từ 10 đến 25 %. Nhà chị Tèo, trung nông, có 1 mẫu, 9 sào ruộng, phải báo đi báo lại đến 4 lần, tăng lên thành 2 mẫu 5 sào, cán bộ mới nhận là đúng. Ông Quân phú nông, có 5 mẫu, nghe phong thanh có người bảo “không báo đúng sẽ bị tịch thu tài sản” sợ, nên phải báo lên thành 6 mẫu. Có cốt-cán biết cán bộ dùng mình làm “điển hình” để gò ép quần chúng, nhưng không giám phản đối. Sau này chị Tít đã thú thật : “Tôi ngượng vớI nhân dân quá, nhưng chị đội1 cứ “bồi-dưỡng” 2 thành ra phải nói dối.” Cộng-sản dùng cốt-cán để bắt nông-dân phải khai tăng diện-tích ruộng, rồi lại bắt họ phải khai tăng cả sản-lượng mỗi mẫu hoặc mỗi sào. Tỉ-dụ, một trung-nông có một mẫu và gặt được 800 kilô thóc, và khai là gặt được 80 kilô hoặc ít hơn một chút. Cán-bộ cộng-sản không nhận là đúng và xui cốt-cán khai giữa cuộc họp là anh ta có 2 sào cũng ở cánh đồng ấy mà anh ta gặt được 240 kilô, ngụ ý rằng nếu có 1 mẫu thì phải gặt được 1.200 kilô. Người có một mẫu ruộng phải câm miệng, không giám cãi. Ðoạn văn sau đây trích trong một thiên phóng-sự điều tra của báo Thời Mới về chiến dịch Sửa Sai chứng tỏ Ðảng đã dùng cốt-cán làm nội-công để buộc nông-dân phải nhận sản-lượng cao như thế nào: “Ðến phần điều-chỉnh sản-lượng càng lắm ý-kiến bàn cãi. Cùng một khoảng ruộng, người thì nói nhà tôi gặt được 3 thúng, người thì nói chỉ gặt được thúng… Ông Biểu, một trung-nông ở thôn Miễu, đỏ mặt tía tai ở hội-nghị xóm : “Ruộng hạng A ở làng này chỉ 100 cân là hết nước, dự-kiến 130 thì định đánh cả thóc rơm, thóc lép hay sao ? Cải-cách đã sai rồi bây giờ lại theo như Cải-cách thì sửa sai cái gì ?” Mọi người nhao nhao đồng ý. Anh em ban thuế thôn ngồi thừ, không ai nói gì.” Vì cả diện-tích ruộng lẫn sản-lượng đơn-vị đều bị kích lên nên con số thu-hoạch tăng lên quá chừng. Kết quả là, thường khi một bần-nông chỉ gặt được 100 kilô phải nhận là gặt được 200 kilô, để chịu thuế tính theo 200 kilô. Số thuế sẽ tăng quá gấp đôi vì 100 kilô chỉ phải đóng 6 phần trăm mà 200 kilô phải đóng tới 10 phần trăm. Kết quả là tuy chính-quyền Việt Minh tuyên bố chỉ thu 20 phần trăm hoa-lợi của nhân dân, thực ra đã thu quá 40 phần trăm. Với chính-sách thuế khóa như vậy, trung-nông có 5,7 sào thường phải đóng cho chính-phủ nhiều hơn ngày trước tá-điền phải đóng địa-tô cho địa-chủ. Chính-phủ thu thuế nông-nghiệp một năm hai lần, ngay sau khi gặt chiêm và gặt mùa, mà phải nộp hoàn toàn bằng thóc. Những thửa ruộng trồng hoa mầu khác hoặc trồng cây ăn quả vẫn phải nộp thuế bằng thóc; nộp tiền chính phủ cũng không chịu. Nền nhà và sân, dù là sân gạch, nếu rộng quá một mẫu cũng phải chịu thuế nông-nghiệp như ruộng lúa. Có ngườI phá sân làm ruộng để lấy lúa nộp thuế, nhưng bị quy tội là đã “phá-hoại tài sản của nhân dân”. Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
June 7, 2008
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 3: Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài
June 1, 2008
BÁC DẮT GIỐNG NÒI THÀNH” NÔ LỆ”.
TRƯƠNG MINH HÒA.
Đảng cướp siêu Cộng Sản Việt Nam, tức là Việt Cộng, do tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh thành lập ngày 2-3-1930 đến nay vẫn còn tồn tại là nhờ khai thác chủ nghĩa ” Nô Lệ” bằng nhiều hình thức, được ” điều nghiên” và canh tân cho phù hợp với tình hình thế giới; đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh ” biến nhân dân Việt Nam thành nô lệ” từ thế hệ nầy đến thế hệ khác bằng nhiều thủ đoạn tinh vi qua tuyên truyền lếu láo, lợi dụng mồ hôi, xương máu, sinh mạng của hàng triệu người dân Việt Nam qua chiêu bài:” đánh Tây dành độc lập, đánh Mỹ cứu nước”; đó là siêu tổ chức bất lương, với” nghiệp chuyên” khai thác nô lệ bằng nhiều hình thức, uyển chuyển theo tình hình, qua mặt được cả Liên Hiệp Quốc, các siêu cường dân chủ đương đại trên thế giới. Ngày nay tổ chức siêu buôn bán lệ vẫn hoạt động, khai thác tối đa:” con người là tư bản quí báu” như lời dạy của Hồ Chủ Tịch, khai thác nô lệ một cách đều đặn, được bao che bởi hệ thống luật rừng trong nước ” sáng tạo lẫn tối tạo” tự biên tự diễn và ” điều phối” với luật di trú từng nước trên thế giới, phối hợp với pháp lý quốc tế về di dân…nên chế độ Việt Cộng vẫn tồn tại, tiếp tục buôn người một cách công khai.
Đảng CSVN phát triển nghiệp vụ khai thác nô lê qua nhiều hình thức: bốc lột mồ hôi, xương máu, sinh mạng của nhân dân miền bắc sau 1954, biến họ thành: ” Giai cấp nô lệ thời thượng”, được cổ động qua những văn nô như Đoàn Trung Thông:
” Bàn tay ta làm nên tất cả.
Với sức người, sỏi đá biến thành cơm”
Và tập đoàn siêu cướp bốc lột tàn tệ sức con người: ” Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, ngày thường chưa xong, làm thêm ngày nghỉ” với những chiêu bài vắt cạn sức lao động con người qua hình thức thi đua được tổ chức, phát động rần rộ nhiều lần trong năm, là động cơ thúc dục nô lệ đem hết sức mình ra để làm theo chỉ tiêu của đám chủ nhân đưa ra: ” Đây mùa thi đua nở trong lòng người, toàn dân Việt Nam ta quyết thi đua…thi đua, thi đua trừ đói; thi đua, thi đua trừ rét; thi đưa thi đua quân ngoại xâm..”. Cảnh đàn ông đi lính, đàn bà đi phu…. là thảm họa cho nhân dân miền Bắc dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, làm ngày, làm đêm mà không đủ sống, đã thế mà còn bị hệ thống đảng cướp kiềm kẹp từ chi bộ đến chi đoàn, tinh thần luôn bị khủng hoảng bằng hình thức họp hành, tự kiểm, đấu tố lẫn nhau để tranh miếng ăn. Đây là chính sách khai thác nô lệ ” hiện đại”, khiến cho người nô lệ bị mệt mỏi thể xác, tinh thần thường trực, nên khi được nghỉ, chỉ tìm giấc ngủ, mà không còn nghỉ đến chuyện đứng lên lật đổ chế độ. Ngày xưa, các bạo chúa Ai Cập, Tần Thủy Hoàng….bắt dân xây dựng những công trình đô sộ, người lao nô làm mệt cả ngày, nhưng họ không bị cảnh họp hành thường trực để tự phê, đấu tố…nên so ra thì nô lệ thời xưa còn thoải mái hơn nô lệ dưới chế độ Cộng Sản rất nhiều.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thanh niên thuộc những gia đình quân nhân cán chính miền Nam bị lùa sang Miên để chết, đó là thứ” nô lệ bộ đội” với cuộc sống cơ cực: ăn uống như tù, ở thiếu phương tiện như thầy tu, nhưng phải phát biểu như lãnh tụ; họ phải vừa làm lao động cải hoạt cho đơn vị và vừa cầm súng theo lịnh đảng, đây là thứ nô lệ mặc đồng phục nón cối dép râu, được che đậy bằng chiêu bài ” nghĩa vụ quân sự”, bị vắt sức lao động qua:” cơm chùa, gạo chợ, nước sông, công lính”, trở thành công cụ cho cuồng vọng của tập đoàn đảng Cộng Sản. Đảng cướp Cộng Sản biến cả thế hệ thanh niên, phụ nữ, là mầm non đất nước thành nô lệ, lại được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cảm tác, động viên, động não, theo chính sách trước sau như một của đảng trong việc biến nhân lực thành nô lệ:” Em ở nông trường, em ra biên giới”, là nhạc sĩ gốc miền Nam, từng được ưu đãi, nhưng đây là thứ ” ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản”, được phong quân hàm thiếu tá bội đội Việt Cộng sau khi ” nối Còng tay lớn” với Việt Cộng từ 1975, là người đồng lõa với đảng cướp và tổ chức buôn người thời đại nầy, thế mà vẫn có kẻ tâng bốc, đánh bóng ” đóa hoa vô thường” ở hải ngoại.
Sau 1975, tình trạng biến cả nước thành lao nô qua các công trình thủy lợi, lao động xã hội chủ nghĩa không được trả lương hàng năm đến vài ba tháng; tàn tệ hơn là lao nô phải tự mua sắm dụng cụ như dá, xẻn, cuốc…cơm, nước tự túc và khi bị tai nạn, thì lao nô đành phải ” khắc phục” chịu đựng, không có ” chế độ” bồi thường; tình cảnh nầy còn hơn cả thời các vua chúa Ai Cập bắt dân nô lệ xây Kim Tự Tháp cách đây hơn 4 ngàn năm. Thời kỳ đổi mới vì không kham nổi nền kinh tế lạc hậu, lại điều hành bởi những ” đại kinh tế gia” có trình độ cao cấp, đỉnh cao trí tuệ, từ các ” đại học sơ cấp trường làng” với lối quản lý kinh tế bằng súng, nhà tù, sau khi thành đồng vách sắt Liên Sô và toàn bộ các nước Đông Âu sụp đổ, thay đổi cán cân quyền lực quốc tế; tuy nhiên chủ trương” buôn bán nô lệ” vẫn là thượng sách để giữ đảng bền, cán bộ giàu, tiếp tục đè đầu cởi cổ dân như cũ, thì không bao giờ thay đổi, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, nếu chế độ Cộng Sản chưa bị sụp đổ. Tổ chức buôn bán nô lệ siêu đẳng Việt Cộng phát triển mạnh từ quốc nội đến hải ngoại, nâng cấp siêu quốc gia và vẫn hoạt động không ngừng:
1-TRONG NƯỚC:- Mời gọi và cấu kết chặt chẻ với các doanh nhân ngoại quốc bốc lột sức lao động rẻ mạt, nên hệ thống các công ty ngoại quốc có mặt tại nhiều nơi trên đất nước.- Từng đem lao nô sang trả nợ cho các nước trong khối Cộng Sản sau cuộc chiến Việt Nam, nên tại các nước Đông Âu, xuất hiện lớp nô lệ Việt Nam, làm việc cực nhọc, bị bại đãi tàn tệ. Lao nô phát triển không ngừng, nên hàng năm có hàng chục ngàn người bị đưa sang làm việc ở nhiều nước: Mã Lai, Nam Dương, Đài Loan, Nam Hàn, Trung Đông….song hành với nghề tú ông, tú bà, tú cô, tú cậu.. bán cả phụ nữ cho các động mãi dâm, những người đàn ông tàn tật, già nua ở các nước…bất cứ ai có tiền là mua được như một món hàng, thậm chí được quảng cáo trên internet, trưng bày giữa chợ ở Nam Hàn….do đó phụ nữ không khác gì món hàng” quốc doanh”, mà đảng viên Cộng Sản đánh giá là ” chất lượng cao” để trao đổi với những bạn hàng có dịch vụ mãi dâm trong tinh thần ” lao tư lưỡng lợi”: phụ nữ do nhân dân sinh, nuôi lớn cung cấp ( được bọn buôn người Việt Cộng coi đây là mỏ phụ nữ không bao giờ cạn), đảng chỉ làm môi giới, làm thủ tục để bán là hoàn thành một cách xuất sắc ” nghiệp chuyên bán phụ nữ”. Nô lệ ngày xưa bị những tay buôn người dùng vũ lực để bắt đem đi bán cho các chủ nhân giàu có, quyền thế; thì nô lệ ngày nay tại Việt Nam phải” tình nguyện” tự mình đưa tròng vào cổ để đi làm nô lệ vì bị gạt gẫm, tuyên truyền; muốn làm nô lệ cũng phải lo tiền, vàng, cầm cố nhà đất để được đưa sang làm nô lệ cho các nước xa lạ. Đó là sự sáng tạo, tàn bạo, dã man của tổ chức bán nô lệ siêu đẳng như Việt Cộng.
2-HẢI NGOẠI: với khoảng 3 triệu người Việt tỵ nạn, dù thoát khỏi gông cùm Cộng Sản, nhưng cũng có nhiều người trở thành ” NÔ LỆ GIÁN TIẾP” cho siêu tổ chức bán nô lệ nầy từ nhiều năm qua mà không hay biết, trái lại có nhiều người còn cảm thấy rất ư là ” hồ hởi phấn khởi ” khi được về Việt Nam, tự nguyện trở thành” nô lệ” cho đảng Cộng Sản. Mức độ sử dụng nô lệ, khai thác mồ hôi người Việt hải ngoại nhằm phục vụ cho chế độ Cộng Sản càng gia tăng theo thời gian, nhất là sau khi tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton xã vận, bang giao, ký thương ước và sau cùng kết thúc bằng việc gia nhập khối WTO dưới thời tổng thống George.W.Bush. Số tiền chắt chiêu từ những năm tháng làm việc đổ mồ hôi, được gởi về từ thời cấm vận là vài trăm triệu, nay tăng dần từ hàng tỷ, chục tỷ Mỹ Kim..hàng năm, tăng mà không giảm, đó là công sức đóng góp thật ” chất lượng” của những người bỏ nước ra đi tìm tự do, vì không sống được với Việt Cộng, nay nhờ cần cù, đóng góp tiền từ mồi hôi làm việc cực nhọc để nuôi đảng. Những món tiền” mồ hôi” của người Việt hải ngoại gián tiếp đóng góp chẳng khác nào làm nô lệ gián tiếp cho Việt Cộng từ nhiều nguồn gốc: chính thức gởi về thân nhân qua các ngân hàng, chuyển tiền lậu và nhất là những người về thăm quê hương với dạng du lịch, du dâm, du hý…Ngoài ra đảng siêu cướp Việt Cộng còn mở ra nhiều ” chi nhánh khai nô lệ” ( Slave Branchise) ở ngay tại hải ngoại và cử nhiều chi nhánh khác từ trong nước len lõi vào các cộng đồng tỵ nạn, là hình thức khai thác ” nô lệ” tinh vi, được ngụy trang bằng chiêu bài ” từ thiện” hay” lạc quyên đóng góp xây dựng chùa, nhà thờ….nhờ mồ hôi của những ” nô lệ hải ngoại” đóng góp nên đảng và nhà nước Việt Cộng nhẹ được gánh nặng ngân sách lo ” xóa đói giảm nghèo” và từ đó nhân dân nghèo cảm thấy dể chịu, họ chỉ cám ơn những ” người nô lệ” có tấm lòng VÀNG ở hải ngoại với” nhiễu điều phủ lấy giá gương ” mà không nhìn thấy bàn tay ĐỎ bợ hết từ mồ hôi, công sức….nên dân trong nước an tâm làm ” nô lệ” mà không đứng dậy lật đổ chế độ chủ chốt, đầu nậu nô lệ. Đó là lý do giải thích vì sao mà chế độ Cộng Sản đã hội đủ điều kiện ắt có và đủ để sụp đổ từ lâu do tham nhũng, bè cánh phân hóa trong nội bộ rả rời….thế mà đảng và nhà nước vẫn còn tiếp tục cai trị. Sự gia tăng, đóng góp túi tiền cho đảng cướp càng nhiều từ giai cấp ” nô lệ gián tiếp” ở hải ngoại, trở thành nguồn tài chánh ” vĩ đại” của đảng, nên nô lệ Việt kiều được đảng nâng cấp từ: ” bọn đĩ điếm du côn” thành:” khúc ruột nghìn dậm nối liền”; cứ trung bình mỗi Việt kiều cũng phải tốn hàng chục ngàn Mỹ Kim cho mỗi lần về, thử hỏi con số hàng trăm ngàn người đổ về hàng năm vào những dịp Tết, Giáng Sinh, phải rất nhiều. Những người hay thường về Việt Nam để đóng góp ” mồ hôi” cho siêu tổ chức bán nô lệ Việt Cộng có đời sống cơ cực như nô lệ, cày hai, ba jobs, tiết kiệm từng đồng, không dám chi tiêu như những năm chưa bén hơi chuyến về một lần an toàn, tất cả đều dồn vào” chuyến du lịch Việt Nam” sắp tới, sau khi đã làm xong một chuyến về quê ” ăn chùm khế ngọt, thăm lại cây đa bến cũ” mà trút cạn hầu bao dành dụm bao năm và những chưn hụi chết; khi về thì hào sảng ăn chơi, lo lót với những người trong tổ chức bán nô lệ Việt Cộng từ phi trường đến địa phương…thật là đắng cay, đừng tưởng thoát khỏi chế độ” hộ khẩu” thì chế độ nô lệ tiếp tục. Người dân trong nước bị đảng và Bác biến thành nô lệ thì không có gì là ngạc nhiên, nhưng thực tế thì đảng Cộng Sản cũng đã biến những người hải ngoại thành nô lệ từ lâu mà lòng vẫn ” phơi phới” sau những chuyến về thăm nhà ngắn ngũi với thời gian ít nhưng tốn tiền nhiều. Đảng siêu cướp Việt Cộng đã dùng ” Blackmail” gia đình để khai thác tối đa cả cả mồ hôi của những người không còn bị ràng buộc bởi đảng và nhà nước nữa.
Theo thống kê mới nhất, thì trong 6 tháng năm 2008, sơ sơ cũng có khoản 6 tỷ Mỹ Kim chính thức được gởi về qua hệ thống ngân hàng, chưa kể đến hàng cục tỷ khác lòn vào các cơ sở chuyển lậu như mạng lưới thiên la địa võng khắp từ Mường Tè đến mũi Cà Mau. Điều mà các tay đầu nậu bán nô lệ trực, gián tiếp Bắc Bộ Phủ rất ư là ” hồ hởi phấn khởi”; số tiền của hàng chục ngàn lao nô gởi về cũng phải hàng tỷ Mỹ Kim…nên tiền thu được từ” bán nô lệ trực và gián tiếp ” từ”con người là tư bản quí báu” hơn cả tổng số: xuất cảnh quốc gia ( gồm bán gạo, cà phê, dầu thô..), tiền cấp viện từ các ngân hàng quốc tế,…..như vậy tổ chức buôn bán và khai thác nô lệ siêu đẳng Việt Cộng chỉ cần ngồi không rung đùi mà lòng vui sướng vô cùng, đúng như hai câu ca dao thời đại:
” Tiền vô như nước sông Đà.
Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phim.
Thế mấy biết cái nghề” buôn bán nô lệ”, là nghề không vốn, chỉ cần có thủ đoạn là vẫn tồn tại, thịnh hành, hình thái uyển chuyển, biến đổi, như con siêu vi trùng H.N trong di truyền bịnh cúm gia cầm, có khả năng thay đổi các chỉ số để phù hợp với môi trường. Như vậy, nhờ sức lao nô của toàn dân Việt Nam, từ quốc nội đến hải ngoại mà tổ chức siêu buôn bán nô lệ Việt Cộng càng thu nhiều lợi nhuận số tiền từ mồ hôi do con người lao nô đủ dạng mang về cũng tròm trèm 30 tỷ Mỹ Kim, giúp cho các chủ nhân Bắc Bộ Phủ trở thành triệu, tỷ phú Tiền Mỹ, từ đó họ có dư tiền để tấn chiếm hải ngoại, hầu khai thác” toàn bộ” sức lao động của khoản 3 triệu lao nô gián tiếp nhưng” cực kỳ chất lượng” nầy. Đó là lý do tại sao mà đảng Cộng Sản ban hành nghị quyết 36 từ 2004 do Phan Diễn ký.
Thời tổng thống George.W.Bush cha, chính sách” Trật Tự Mới” nhằm đem thực phẩm, thuốc men giúp những nước nghèo ở Phi Châu để cải thiện tình trạng dân chủ, nhân quyền, với quan niệm” kinh tế làm thay đổi chính trị”. Sang đến thời ông tổng thống Bill Clinton, tiếp nối sách lược” Trật Tự Mới”, nhưng lại” đi chệch hướng” khi áp dụng với các nước Cộng Sản; ông Bill clinton hình như vẫn còn ngây thơ như dạo còn là sinh viên, trốn lính, ủng hộ cho phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam, nên không biết chiến lược cơ bản của Cộng Sản là:” khi thoái trào lùi tạm một bước, lúc cao trào, tiến lên ba bước”, cho nên ông đi xa hơn, gần gũi với Trung Cộng trở thành đối tác buôn bán, trao đổi cả những bí mật quốc phòng qua cái gọi là:” bạn hàng hợp tác” nhằm che đậy những bí ẩn bên trong. Sự kiện ông Bill Clinton nhận tiền của tình báo Trung Cộng qua tay điệp viên John Huang để trang trải cho chi phí vận động ứng cử tổng thống, là nguyên do mà ông Bill chịu nhiều áp lực, nhượng bộ Bắc Kinh dài dài, dù ngoài miệng thường lên án Trung Cộng vi phạm nhân quyền, nhưng đây là thủ đoạn” đưa cao đánh khẽ” cho có vẻ là một tay lãnh đại đệ nhất siêu cường; nhưng bên trong giúp cho Trung Cộng rất nhiều, đáng đồng tiền bát gạo là được qui chế tối huệ quốc, để dọn đường gia nhập vào WTO, nghênh ngang với các siêu cường Âu Mỹ. Hình như ông Bill Clinton chịu áp lực của Trung Cộng, hoặc có mật ước thế nào, nên ông Bill mới bị lọt vào: ” tương kế tựu kế” của Bắc Kinh, xã vận cho Việt Cộng, và sau cùng là Việt Cộng luồn lách ăn tiền Mỹ mà làm đầy tớ trung thành cho Trung Cộng. Một điều dễ nhận ra là: sau khi Liên Sô sụp đổ, thì Trung Cộng thừa biết vị thế của mình trong khối Cộng Sản Quốc Tế tàn dư, trước sau gì cũng xỏ mũi được con chó đói Việt Cộng, do đó mới cho chuyện xã vận cho Việt Nam? Những bí mật nầy chắc phải đợi 25 năm mới biết qua luật giải mật.
Sau 1975, nếu Hoa Kỳ áp dụng cấm vận trường kỳ, tức là cấm các công ty nào vào Việt Nam làm ăn, thời Reagan, bị phạt ít nhất 5 năm tù; nếu không xỏ lá như ông Bill Clinton hình như chịu áp lực, trúng kế Trung Cộng, thì Việt Cộng bị kiệt quệ kinh tế, và đã sụp đổ trước thiên niên kỷ thứ ba, là điều có khả năng lắm. Rất tiếc nhờ những ” nhà dân chủ” gốc phản chiến, có nhiều tham vọng chính trị nhưng không có nhiều tiền, nên Trung Cộng mới thừa thắng xông lên sau khi chi tiền, lòn vào tận tòa Bạch Cung, đi từ thắng lợi nầy sang thắng lợi khác, thế là các nhà đại tư bản phải mất hàng trăm tỷ Mỹ Kim hàng năm vì bị Trung Cộng chơi xỏ bằng hàng hóa nhái, giả, giá hạ rất nhiều. Những người ngây thơ nhưng với bộ mặt giả CẤP TIẾN đã vô tình làm lợi cho kẻ ác bằng cách CẤP TIỀN cho những nước Cộng Sản tàn dư, mà đáng lẽ ra thì các nước Cộng Sản còn lại phải sụp đổ như quân cờ Domino của ngoại trưởng Dallas, dưới thời tổng thống Eisenhower thời chiến tranh Đông Dương. Trong cuộc chiến tranh lạnh, tất cả nước nước Cộng Sản đều bị cấm vận, nên mọi giao thương chỉ giới hạn trong các nước cùng ý thức hệ; khi Liên Sô và toàn bộ hệ thống các nước Cộng Sản hùng mạnh, tiên tiến nhất ở Đông Âu sụp đổ, thì Việt Nam lâm vào tình trạng ” cực kỳ khó khăn” nếu không có ông Bill clinton xã vận, bang giao, mở cửa, và từ đó người Việt ” gánh dầu vượt biển” năm nào, nay hồ hởi phấn khởi” gánh tiền đô la” về giúp đảng Cộng Sản phục hồi. Nếu không thì Việt Cộng có khả năng sụp đổ từ lâu, đó là sự bất hạnh của dân tộc, mà trong số những nguyên do làm cho chế độ CSVN kéo dài là có cả bàn tay, mổ hôi của những người ” vượt biển tìm tự do” trước đây, nay trở thành” Việt kiều hồi hương yêu nước”.
Trung Cộng là tay điếm đàng quốc tế, họ nhảy vào khi thấy có kết quả, như buôn bán, thấy có lời thì mới tiếp tục, bằng không thì” Chẫu” sớm, cho nên kỳ vận động ứng cử đảng Dân Chủ, nếu bà vợ của ông Bill là Hillary Clinton có khả năng trở thành ứng viên đảng, thắng ông Barack Obama, và hy vọng trở thành nữ tổng thống đầu tiên, thì họ không để bà Bill phải vất vả vừa ” vận động lá phiếu và vừa vận động tài chánh, và dĩ nhiên là bà không cần phải lo thanh toán những cái Bills hơn 20 triệu, mọi thứ đều có các chú Ba trong bóng tối giúp mà. Một sự thật phủ phàng, đi ngược hoàn toàn giá trị đạo lý, tinh thần dân chủ là: tổ chức Liên Hiệp Quốc, các siêu cường có truyền thống dân chủ, tôn trọng nhân quyền; thế mà họ cho phép siêu tổ chức bán nô lệ cũng gia nhập, tiếp đón như thượng khách, nên tổ chức siêu buôn bán nô lệ Việt Cộng vẫn hoạt động công khai, thỉnh thoảng họ còn nhận được tiền để tổ chức hội thảo, ngăn ngừa nạn buôn bán phụ nữ theo chương trình Liên Hiệp Quốc. Tất cả các nước đều lên án bọn bất lương, nên những ai mua bán đồ gian, liên hệ đến kẻ gian… đều chịu trách nhiệm trước pháp luật; thế mà các lãnh đạo quốc gia dân chủ lại cấu kết với bôn buôn người Việt Cộng, đáng chê trách.
Đảng Cộng Sản Việt Nam tồn tại là nhờ chính những ” kẻ thù” từ mọi giai cấp” trí, phú, địa hào”….ngày nay có cả người Việt hải ngoại đóng góp ” mồ hôi” để cho nhà nước và đảng vẫn cai trị, khai thác ” MỎ NGƯỜI” bằng nhiều hình thức. Do đó, nếu người dân trong nước đồng loạt đứng dậy và người Việt hải ngoại thôi, không đóng góp mồ hôi cho đảng nữa, thì sự sụp đổ của đảng siêu cướp nầy không xa, có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào. Đây là bài toán nan giải, nhưng chắc chắc là mỗi người Việt Nam đều có sẵn trong đầu một đáp số. ” Hảy vùng lên hởi các nô lệ ở thế gian..”/.
May 12, 2008
Đại sứ quán Việt Nam hay chợ trời?
Xuân Cang
Chợ Trời Praha (Phòng Lãnh Sự Quán)
Người Việt Nam (VN) sinh sống ở nước ngoài mang hộ chiếu VN có lẽ ai cũng biết tới sự phiền hà sách nhiễu của Lãnh sự quán (LSQ) VN, nhất là lãnh sự tại các nước Đông Âu. Do một duyên nợ không đáng có mà tôi phải có mặt 8 lần để chứng kiến cách làm việc của LSQVN tại Cộng hòa Séc (Czech).
Thực tế đập vào mắt tôi không thể nói gì khác bằng một câu tôi đã được nghe ở đâu đó “Hành là chính”.
Khả năng “hành” của nhân viên LSQ đã đạt tới thượng thừa, phong cách Bá kiến thời XHCN, “hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào vì thương anh túng quá!”.
“Dấu nhập cảnh của anh đâu”, “Chứng minh thư nhân dân của chị đâu”, “Chị phải đưa các cháu lên trinh diện”, v.v… Các câu hỏi có tính bắt bí thường được đưa ra có tính phủ đầu làm những người làm giấy tờ (NLGT) lo ngại việc này khó xong.
Như vậy là mũi tên đã trúng đích. Nhân viên lãnh sự (NVLS) hết sức nhã nhặn “lấy ngay buổi chiều nhé, nộp 3500 Kč (Kuron – đơn vĩ tiền Séc, gần 205$)”. Phần đông NLGT dễ dàng chấp nhận cái giá đó như môt sự thoát nạn. Những người không muốn chi 3500Kč sẵn sàng đợi cả tuần thường chuẩn bị tinh thần sẵn từ nhà, trước khả năng vòi tiền lão luyện của NVLS đôi khi vẫn chấp nhân giá 3500Kč coi đó như sự mất tiền khôn ngoan. Người ta lo sợ bị gây khó dễ bắt bí lại tốn thêm vài lần đi lại.
Tôi được chứng kiến một thanh niên trẻ bối rối trả lời: “chị cho em chờ 1 tuần” với giọng của người có lỗi. Tôi không thể hiểu được bạn trẻ đó và bao người khác có lỗi gì để phải bị hành như vậy, phải chăng lỗi là đã làm công dân một nước XHCN dân chủ gấp triệu lần nước Tư bản. Những câu hỏi bắt bí trên không được đặt ra với các anh chị làm dịch vụ (NLDV), những người này thường mang tới cả tập giây tờ và giải quyết công việc tương đối nhanh chóng. Sự trao đổi của họ nghe cũng rất đễ thương hơn, thân ái hơn vì cùng hội cùng thuyền, cả hai đều là người ăn tiền. Tiền thì “có Liên Xô chịu”, mọi sự đã có khổ chủ lo. NLDV là bước đệm an toàn giải tỏa được nhiều nỗi xung khắc cho NVLS, nó cũng giúp đỡ được nhiều người không có thời gian, hoặc không muốn gặp những cái mặt không chơi được của mấy kẻ… đầy tớ cho dân kia.
Những người làm dịch vụ cũng giúp cho một số người thiếu tự tin trước sự bắt bí của NVLS nhưng cũng chính cái cơ chế này đã báo hại nhiều người. Một bạn trẻ đã phải trả 25000Kč để làm lại cuốn hộ chiếu đó là những người thay mặt cho những người sẵn sàng trả tiền cho việc không phải gặp NVLS. Một anh dich vụ chuyên nghiệp thổ lộ, giấy tờ của em, em cũng nhờ người khác làm.
Phòng tiếp dân LSQ có không khí hết sức đặc biệt, mặc dù là cơ quan ngoại giao nhưng không khác gì cái chợ trời: có mặc cả, có chặt chém, có tiếp thị, có luồn lách… “Sao anh khỏe mất hộ chiếu vậy“? “Anh mất lần này lần thứ hai phải không?” “Đáng nhẽ phải thu anh 5.000!” – Chị Hằng NVLS nói với một người tới nhận hộ chiếu với giọng tiếc rẻ vì không sớm phát hiện ra khiếm khuyết kia trước khi thu tiền, 3.500 Kč vẫn chưa thỏa mãn lòng tham.
Một người cần làm hộ chiếu riêng cho con được NVLS mời chào “anh đổi hộ chiếu đi, được luôn 10 năm” mặc dù hộ chiếu của anh mới được cấp năm 2007. Hộ chiếu đã trở thành món hàng béo bở cho NVLS, mỗi quyển hộ chiếu với điều kiện chờ một tuần họ thu 1500Kč (85 đô la Mỹ) lời ít nhất 45 đô la, so với giá được ấn định của bộ ngoại giao và thông thường họ thu 150 đô la. Phương thức thanh toán ở đây theo kiểu tiền trao cháo múc không có chi phiếu rườm rà hay quệt Visa card (thẻ tín dụng) gì cả, cứ tiền tươi thóc thật, chẳng bao giờ thấy họ viết hóa đơn. Khi tôi đề nghị NVLS viết phiếu thu tiền họ đã né tránh khất lần, nhưng đến khi thấy rằng không viết cho tôi không đựợc, họ đã phải viết tới 4 lần xé đi viết lại. Đây là kết quả của việc: 1/ họ không quen viết phiếu; 2/ họ không nhớ là thu của tôi bao nhiêu tiền. 3/ là họ lo lắng vì đây là chứng từ ăn tiền trắng trợn. Vì mối lợi họ đã phí phạm tài sản, hủy bỏ biết bao nhiêu cuốn hộ chiếu hoàn toàn còn giá trị sử dụng.
Một câu chuyện khá ngộ nghĩnh giữa mấy người bạn “Tây bánh mỳ” (Người Séc) và “Tây rau muống” (người VN mang quốc tịch Séc) trong một quán bia. Những người Séc biết tiếng Việt (có thể nói họ là bạn của VN) hỏi người VN “Cậu làm vizum (visa) hết bao nhiêu?”. Câu hỏi chứa đựng sự hiểu biết lọc lõi văn hóa chợ trời, họ cùng cười xòa vì cùng 1 vizum mà mỗi người mỗi giá, anh ta nói thêm người xếp hàng trước anh ta trả tiền “Vizum” với giá khác nữa…
Về chuyên môn nghề nghiệp của nhân viên tôi có thể nhận xét một cách thành thực là tệ không thể hiểu được. Một người Sloven (Slovakia) sau khi xem “vizum” vào VN không biết vì lý do gì “vizum” của anh ta có giá trị từ ngày 13 của tháng sau mà anh đã có vé vào ngay hôm sau. Anh đề nghị sửa lại, chị cấp vizum bối rối bâng quơ hỏi “nó bảo cái gì vậy?”. Chị không biết hỏi ai vì chắc chị biết khả năng tiếng Séc của đồng nghiệp ngồi bên. Một người nhận hộ chiếu thắc mắc “chị ơi sao nơi sinh trong hộ chiếu của em lại ghi sai” , “không sao đâu sai một chút không có vấn đề gì đâu” – anh ta được trả lời một cách ráo hoảnh. Một người nói đùa chêm vào 1 câu, “sao không ghi nhầm luôn là sinh ở Pháp may ra còn được nhờ”. Tôi hiểu nỗi lo lắng chính đáng của thân chủ quyển hộ chiếu, sai sót này dễ dàng trở thành nguyên nhân để bị hành vào dịp khác và anh chính là người phải trả giá cho sự sai sót này trong lần làm giấy tờ sau. Một cuộc trao đổi giữa chị Hằng nhân viên LS và 1 người làm dịch vụ giấy tờ “cái hộ chiếu này phải nộp 5000Kč” (gần 290$). Anh dịch vụ trả lời vui vẻ “vâng chị cứ thu, cái này là lỗi của người ta họ phải trả thôi”. Không biết khổ chủ cuốn hộ chiếu phạm cái lỗi gì, có phải sai nơi sinh không? Cái này tôi không biết, và rất khó biết.
Tôi chứng kiến nhiều điều rất đặc biệt, có rất nhiều người VN mang hộ chiếu tên người khác đặc biệt hơn là có một người Trung Quốc mang hộ chiếu VN. Chỉ cần chi tiền “đậm” hơn bạn sẽ thay tên đổi họ như bạn muốn.
Có rất nhiều mực thước căn bản được NVLS kê làm ghế ngồi: Không niêm yết minh bạch giá lệ phí theo đúng quy định, không viết phiếu thu tiền, không đeo bảng hiệu ghi rõ danh tính chức vụ, trả lời tùy tiện không dựa trên văn bản của luật pháp, đồng thời việc cấp hộ chiếu 1 cách bừa bãi cho thấy những người có chức quyền sẵn sàng ngồi xổm trên luật pháp. Có hai thứ được họ đặt lên đầu đó là quyền và tiền.
Trong cuộc trao đổi với những người bạn, một người nói rất buông xuôi: “biết làm sao được chính họ cũng phải bỏ ra cả đống tiền mới được ngồi vào chỗ đó. Giờ phải thu vốn thu lãi chứ”. Câu trả lời của anh bạn tôi biểu hiện 1 não trạng con buôn theo đúng nghĩa của nhà cầm quyền vẽ ra đó là buôn gian bán lận, buôn quan bán chức. Rặt một phường con buôn.
Tôi mơ ước có một ngày phường con buôn không còn thao túng nước Việt, người Việt Nam khước từ văn hóa chợ trời trong những nơi không đáng có, chúng ta có những Thương gia theo đúng nghĩa của nó .
Praha, 28/03/2008
© DCVOnline
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=5015
