Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 5, 2008

Bài 5: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam

BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CSVN ĐÃ THÔNG QUA CHỦ TRƯƠNG “TỊCH THU TÀI SẢN” CỦA MỌI NGƯỜI ĐỂ CỨU CHẾ ĐỘ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ? DÂN CHÚNG VIỆT NAM NÊN TIN AI VÀ LÀM GÌ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG?

TS. Trần Minh Hoàng

 

Những tin tức của thế giới về “khủng hoảng” kinh tế ở Việt Nam diễn ra dồn dập.

Trong tuần lễ vừa qua từ 27 đến 31 tháng 5 năm 2008, đồng loạt trên các phương tiện thộng tin đại chúng có uy tín và lớn trên thế giới như : BBC, RFA, VOA, BLOOMBERG … đều đưa tin bài về các thông tin và nhận xét của các tổ chức kinh tế, tư vấn, ngân hàng, tài chính và các chuyên gia có uy tín trên thế giới đã đề cập và chính thức dùng từ “khủng hoảng” để đánh giá và nhận định về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đang xấu đi từng giờ, từng ngày…

Theo khái niệm về “khủng hoảng”, thì nền kinh tế của một quốc gia có tốc độ tăng trưởng âm trong 3 tháng liền thì nền kinh tế của quốc gia đó được gọi và đánh giá trước tiên là “suy thoái”. Sau suy thoái, nếu nền kinh tế quốc gia đó tiếp tục không tăng trưởng hay tăng trưởng âm tiếp theo nhiều tháng sau suy thoái với những dấu hiệu xấu, đi xuống từ tài chính, lạm phát, nhập siêu, sản xuất, tiêu dùng…và dẫn đến những tình huống xấu hơn, thì nền kinh tế quốc gia đó bước vào và được gọi khủng hoảng.

Trường hợp Việt Nam thì khủng hoảng kinh tế có thể khác hơn khái niệm và tiêu chí đánh giá khủng hoảng kinh tế như nói trên.

Việt Nam sự thật chưa phải là nền kinh tế thị trường thực sự như CSVN rêu rao và mọi người vẫn nhầm tưởng như vừa qua.

Nguyên do đường lối kinh tế Việt Nam là đường lối kinh tế kiểu cộng sản, một kiểu kinh tế thị trường XHCN nửa vời, mang nặng màu sắc cộng sản độc tài kinh tế, độc đoán kinh doanh, điều hành kinh tế theo kiểu đảng trị, vì mục đích cục bộ quyền lợi theo kiểu cộng sản, thiếu dân chủ, bưng bít thông tin sự thật về kinh tế.

Cho nên khi nền kinh tế quốc gia gặp khó khăn và “xuống dốc” sẽ xuống rất nhanh, mà không có gì để phanh hãm hay kềm giữ được, giai đoạn suy thoái có thể bỏ qua để kinh tế lao thẳng vào khủng hoảng do các tố thành nội tại của nền kinh tế đã tiềm ẩn từ lâu.

Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương tịch thu tài sản, hay nói theo ngôn từ hoa mỹ là “Trưng thu, trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân trong ngoài nước có trên lãnh thổ Việt Nam” khi có khủng hoảng xảy ra.

Ngay từ bài viết đầu tiên của loạt bài này, tác giả đã đưa ra nhận định khá chính xác về nguy cơ và nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam.

Do có quan hệ mật thiết và hữu cơ giữa kinh tế và chính trị trong xã hội, đặc biệt là ở thể chế cộng sản nên một khi có khủng hoảng kinh tế ắt sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị.

Những cuộc khủng hoảng ở các thể chế chính trị dân chủ khi có xảy ra khủng hoảng kinh tế hay chính trị chỉ đơn thuần dẫn đến sự thay đổi đảng chính trị cầm quyền này sang đảng chính trị khác, và chính sách kinh tế được thay đổi nhanh chóng cho phù hợp để đất nước vượt qua khủng hoảng dưới sự lựa chọn và quyết định của người dân, thông qua lá phiếu dân chủ.

Còn ở Việt Nam và chính thể cộng sản cầm quyền khi khủng hoảng kinh tế xảy ra sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị, lúc đó mọi điều xấu nhất và hoảng loạn đều có thể xảy ra?

Lý do trước tiên là mất lòng tin. Khủng hoảng lòng tin và sự hoảng sợ của quần chúng.

Điều này dưới chính thể cộng sản Việt nam đã tìm ẩn và chất chứa tự bao giờ rồi. Chính điều này sẽ dẫn đến:

Một là thay đổi thể chế chính trị: Đây là thời cơ tốt nhất để chuyển hóa dân chủ cho đất nước Việt Nam, thay đổi thể chế chính trị cộng sản độc tài và thay đổi đường lối kinh tế thị trường dân chủ thực sự cho đất nước. Những điều kiện cần và đủ để thực hiện việc thay đổi chính trị này trong trường hợp này ở Việt Nam sẽ ra sao ? (Chi tiết nội dung này sẽ được đề cập trong các bài tiếp theo).

Hai là để bảo vệ đảng cộng sản độc tài và chính phủ phi pháp do cộng sản Việt Nam lập nên hiện nay, hay nói cách khác là bảo vệ chính thể cộng sản. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ đưa nhân dân và tổ quốc Việt Nam vào một cuộc tỷ thí kinh tế chính trị tiếp theo hoặc khác nữa, sau cuộc thí nghiệm đầy nước mắt về kinh tế thị trường có định hướng XHCN sai lầm lần này mà cả dân tộc VN phải gánh chịu, trừ những tên cộng sản tham nhũng được hưởng lợi lớn lao.

Thông tin tối mật, mới nhất và độc ác nhất

Mới đây nhất để bảo vệ đảng và chính thể cộng sản VN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chính trị. Bộ chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam đã họp bí mật tại Hà Nội vào một đêm cuối tháng 5.2008 trước khi Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc và Nguyễn Minh Triết đi Châu Âu để thảo luận và thông qua chủ trương “Trưng thu, hay trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân”.

Việc trưng thu hay trưng mua tài sản của người dân hay doanh nghiệp lần này được giao quyền cho đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thực hiện .

Thực chất, đây sẽ là một kế hoạch cướp bóc có tổ chức qui mô lớn bằng bàn tay đỏ sắt máu của CS trong thế kỷ XXI”.

Mới nhất, kỹ lưỡng và nguy hiển lẫn tàn bạo nhất so với những kế hoạch tương tự mà CSVN đã từng có rất nhiều kinh nghiệm và đã làm sau 1945, 1954 và 1975 cho dân tộc Việt Nam và ngoại kiều ở VN lúc đó.

Mục đích chính đáng được ngụy biện đưa ra sẽ là để bảo vệ an ninh quốc gia, khi có khủng hoảng xảy ra. Thực chất hành động cướp bóc này là để bảo vệ thành quả cách mạng của đảng, để bảo vệ đảng CS và chính thể phi pháp CSVN hiện nay trước cơn khủng hoảng đang xảy ra.

Một quyết định quan trọng và được yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối do Trương Tấn Sang, Ủy viên bộ Chính trị, Thường trực ban bí thư trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị và được bộ tứ là Nông Đức Mạnh lẫn Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng bảo trợ tán thành hết mình. Trừ Phạm Gia Khiêm Bộ trưởng Ngoại giao còn chần chừ do lo ngại các quan hệ quốc tế WTO…. Quyết định quỷ quái hay còn gọi là quyết định Ngũ quỷ, do (5 người) quỷ quái chóp bu của CSVN hiện nay quyết định thông qua.

Một quyết định mang tính chất phi pháp, đậm màu sắc của kẻ cướp bóc, theo kiểu độc tài cộng sản và được giữ tối mật, đã được CSVN trù tính và quyết định xong vào cuối tháng 5 vừa qua.

Trước đó, vấn đề này CSVN cũng đã dọn đường pháp lý để chuẩn bị cho hành động phi pháp của mình bằng một Dự thảo luật đã được chỉ thị cho một Viện Nghiên cứu Pháp luật của Quốc hội và một Viện nghiên cứu tư pháp của Bộ Tư pháp chuẩn bị Dự thảo thành luật và dự định trình ra Quốc hội trong đợt này, nhưng tình hình chưa cho phép, nên CSVN đành cho hoãn lại.

Khi thông qua quyết định này, Bộ chính trị đảng CSVN đã tính đến khả năng thực hiện bí mật theo các qui định lãnh đạo điều hành đất nước của Đảng CS mà không cần có một Luật do Quốc hội thông qua.

Bất kể Luật Pháp quốc tế, Công ước quốc tế, Hiệp định đã ký kết với các nước, với WTO, Hiến Pháp 1992 vốn là Hiến Pháp phi pháp của Việt Nam và các Luật pháp XHCN khác trong nước do CSVN nặn ra trước nay

Nhưng dù không cần, không có luật, thì đảng Cộng sản và chính phủ cộng sản vốn phi pháp của Việt nam cũng có thể thực hiện bằng một nghị quyết của Bộ chính trị có thể ban hành và cộng bố trên toàn bộ hệ thống thông tin của mình vào cuối buổi chiều và được thực hiện ngay trong đêm ? Một quyết định mà Chính phủ phi pháp và quốc hội bù nhìn của CSVN phải chấp hành theo đúng cơ chế chính trị ở VN tất cả đều do đảng CS lãnh đạo.

Chúng ta cũng nên nhớ, với ưu thế độc tài, độc đảng, độc ác, CSVN hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì, dù phi pháp, phi nhân, phi nghĩa, như họ đã từng làm trong suốt lịch sử tồn tại của đảng CSVN vừa qua. Mục đích chỉ để họ (CSVN) được tồn tại, mà bất chấp tất cả.

Cứu kinh tế sụp đổ cứu dân tộc hay cứu đảng CS : Bộ chính trị đảng CSVN quyết định chỉ cứu đảng CS mà thôi, và sẵn sàng đưa đất nước và dân tộc vào thời kỳ lầm than mới dưới gót giầy và họng súng và nhà tù của cộng sản Việt Nam.

Họ chấp nhận quay lại bản chất cộng sản, không như mọi người nghĩ là họ đã từ bỏ khi hội nhập quốc tế và chấp nhận cuộc chơi , khi tha thiết vào WTO và tha thiết xin được hưởng Quy chế PNTR của Hoa Kỳ

Không nên tin vào những gì cộng sản nói

Điều này đa số người dân Việt Nam, nhất là những người có hiểu biết về suốt qúa trình hình thành đảng cộng sản và chiếm quyền lãnh đạo đất nước của cộng sản Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở miền bắc và 1975 ở miền nam và sau đó là cả nước.

Bản chất cộng sản muôn đời là lừa bịp nhân dân, mỵ dân chủ. CSVN đã từng lừa bịp và mỵ dân cả trong chính trị và kinh tế, như họ (CSVN) đã từng làm qua nhiều giai đoạn trong suốt quá khứ đến hiện nay. Và ngày nay vẽ ra đường lối kinh tế thị trường XHCN bản chất là kinh tế cộng sản thì thủ đoạn mỵ dân của CSVN tiếp tục mang ra để lừa bịp nhân dân và cả thế giới. Thực chất đó là nền kinh tế cộng sản, và nay qua thực tế đã lộ rõ bản chất đó là nền khi tế phi thị trường, phi dân chủ.

Những thông tin chính thức của chính phủ CSVN đưa ra cho công luận và được hơn 600 tờ báo các loại “là những cái lưỡi không xương” của CSVN chuyên tuyên truyền nói theo lãnh đạo CSVN. Và chỉ được tuyên truyền theo kiểu “nói láo” để gọi là đánh bóng chế độ CS.

Nói láo là nói chuyện không có, hay không đúng với sự thật. Nói láo trong chính trị có thể còn được, như CSVN đã từng thành công , nhưng nói láo trong kinh tế thì hậu quả là “ nhãn tiền”.

Nói láo : Trong khi cuối tháng 5.2008 CSVN đã nói láo khi đưa ra chỉ số lạm phát là 25,2% của tháng 5 so cùng kỳ năm trước. Con số này đã bị lãnh đạo CSVN “duyệt” và cắt bỏ để hạ xuống rất thấp, những mong trấn an và lừa bịp, mỵ dân cũng như thế giới, nhưng không qua được mắt của các chuyên gia kinh tế nước ngoài.

Ví dụ như ngài Martin Rama là chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam mới đây đã xác nhận lại khi trả lời báo chí bên thềm Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ và đầu tư vàoViệt Nam tại Hà Nội ngày hôm qua 02.06.2008, đã cho biết chỉ riêng gạo là mặt hàng chiến lược quan trọng hàng đầu cho người dân Việt Nam chỉ trong tháng 5 và mấy tháng đầu năm nay đã tăng hơn 80%. Và các mặt hàng khác theo đánh giá và thông tin lẽ tẻ trên các báo của CSVN đưa tin gần đây thì đã tăng ít nhất 40% đến 200%.

Chỉ số lòng tin và tín nhiệm vào chính phủ và kinh tế ở Việt Nam theo một tổ chức nước ngoài khảo sát mới đây cũng đưa ra con số mới nhất trong tuần qua từ 74% cuối năm 2007 đến cuối tháng 5.2008 xuống chỉ còn 37%.

Chúng ta cũng không quên, CSVN miệng luôn nói vì dân, nhưng đứng trước tình trạng giá cả sinh hoạt leo thang hàng ngày làm cho đời sống công nhân, nông dân, hay nói chung đa số người dân đang lâm vào cảnh cùng cực.

Đặc biệt là công nhân viên chức nhà nước cấp thấp cũng cùng chung tình trạng, nhưng chính phủ CSVN đại diện là Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội Nguyễn thị Kim Ngân đã hiển nhiên trả lời trước diễn đàn quốc hội CSVN ngày 31.05.2008 khi có nhiều đại biểu chất vấn về vấn đề nâng lương cho khu vực hưởng lương nhà nước để bù đắp cuộc sống khó khăn do giá cả leo thang thì được Bộ trưởng này trả lời theo toàn văn : “ Tôi chưa có suy nghĩ để đẩy nhanh lộ trình (tăng lương NV) ngay trong năm nay”, bà Ngân nói.

“Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi” đó là câu nói dân gian Viêt Nam có từ lâu đời để chỉ phường người ăn trên ngồi trước, vong ân bội nghĩa, nay lại hoàn toàn đúng đối với hàng ngũ lãnh đạo CSVN hiện nay trước tình hình giá cả leo thang và đời sống người dân và viên chức cấp thấp đang lâm vào cảnh bần cùng.

Đến nay số hộ dân thiếu đói do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tăng lên gấp đôi cùng kỳ năm trước và đang tăng nhanh hàng ngày, theo nhìn nhận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ CSVN Nguyễn Xuân Phúc. Đến 58 huyện trong cả nước có tỷ lệ người dân đói nghèo trên 50%, theo báo cáo của Chính phủ CSVN trong tháng 6.2008.

Những cuộc bãi công chính đáng của công nhân khắp nơi trong cả nước gần đây để đòi quyền lợi với giới chủ nhằm đòi thêm lương bổng để bớt đói khổ, thì được chính phủ cho phép lực lượng công an, kết hợp bảo vệ và câu kết với lưu manh côn đồ bên ngoài đàn áp đánh đập dã man và bắt bớ bỏ tù nhiều công nhân. Với mục đích để giữ vững ổn định kinh tế chính trị?

Lừa bịp quốc tế và mỵ dân về dân chủ song song với kinh tế

Thứ trưởng Bộ công an CSVN Nguyễn văn Hưởng trong cuộc làm việc và đối thoại về nhân quyền với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Kramer trong ngày 30.05.2008 tại Việt Nam vừa qua đã “dạy” cho Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về luật pháp kiểu CSVN, khi ông Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ hỏi về những trường hợp công dân VN bị bắt bớ giam cầm. Cụ thể như hai nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, cũng như trường hợp của Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân hay Luật sư Bùi Kim Thành. Ông Hưởng, Thứ trưởng công an CSVN bảo rằng : “Quan điển chung của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản rằng Việt Nam là một đất nước có chủ quyền và có luật pháp, và việc bắt giữ bỏ tù công dân đều theo pháp luật” , toàn văn BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080602_usvietdialogue.shtml

Việc bắt giữ phi pháp và gán ghép tội lệ cho những tù nhân nói trên thì mọi người và công luận đã rõ. Sự thật đó là những hành động chụp mũ, mà công an cộng sản VN đã quen làm, để đàn áp những tiếng nói dân chủ xây dựng đất nước. Một thứ dân chủ thực sự mà cộng sản VN không bao giờ chấp nhận, cũng như một nền kinh tế thị trường thực sự, hay kinh tế dân chủ thực sự thì cộng sản Viêt Nam đã, đang và sẽ không bao giờ chấp nhận theo “lý luận cùn”, theo thứ triết lý bịp bợm của họ ?

Việt Nam thực sự có chủ quyền không qua vụ việc Hoàng Sa Trường Sa với Trung Quốc mới đây? Mọi người cũng đã biết rõ rồi.

Luật pháp XHCN của Việt Nam theo ông Thứ trưởng bộ Công an CSVN Nguyễn văn Hưởng nói với Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 30.05.2008 là thứ “luật pháp cộng sản”, một loại luật pháp “phi dân chủ”.

Với thứ “luật pháp cộng sản” này, CSVN và cả hệ thống chính trị ở VN hiện nay đã thừa nhận là mục đích và bản chất của nó là để bảo vệ đảng và chế độ phi pháp do đảng CSVN nặn ra, hay thường gọi là “Luật pháp XHCN”. Luật pháp này không nằm trong các khái niệm về luật pháp của thế giới cho các quốc gia và dân tộc hiện đang có mặt trên thế giới hiện nay, mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ cho một nhón nhỏ theo cộng sản trong nước và không phải luật pháp để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ công dân.

Thực chất luật pháp XHCN hiện nay ở VN là một thứ luật pháp “phi pháp”, được sản sinh ra chỉ để bảo vệ cộng sản, hay nói đơn giản là “luật rừng xanh”. Không phải là luật pháp của một quốc gia hay của một dân tộc có độc lập chủ quyền và tự do dân chủ thực sự.

Luật pháp thông thường phải đại diện cho quyền lợi quốc gia dân tộc, cho ý chí nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Nhưng luật pháp gọi là XHCN của CSVN này do bản chất và mục đích của nó chỉ phục vụ cho hơn 3 triệu đảng viên CSVN, thì không thể nào đại diện cho Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam được.

Vậy mà thứ luật rừng này đã được lãnh đạo CSVN đưa ra rêu rao khắp nơi, hết lừa bịp mỵ dân VN, nhân dân và lãnh đạo nhiều nước, tuần qua lại được lãnh đạo Bộ công an Việt Nam đưa ra “giảng giải” cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, trước mặt Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Michael Michalak.

Đúng là cộng sản. Trước sau, trên dưới, trong ngoải thì bản chất vẫn là cộng sản, là bịp bợp, khoát lác, bất kể lẽ phải, sự thật.

Tin ai và nên làm gì lúc này?

Lòng tin là một thứ vô hình, nhưng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống.

Chỉ lòng tin. Tôi không nói đến đức tin, vì đức tin trong tôn giáo là điều tốt đẹp.

Lòng tin phài có cơ sở và điều kiện cần thiết để hình thành.

Càng hiểu biết sâu về cộng sản thì lòng tin chẳng những không còn, mà thay vào đó là lòng oán hận. Oán hận ít nhất do đã bị cộng sản lừa bịp…

Oán hận là một thứ để phán ảnh lòng tin bị phản bội, và là sự trừng trị lòng tin khi bị kẻ khác lợi dụng hay ăn cắp mất.

Với CSVN, thì lòng tin vào CS có lẽ nhiều người không lạ, mà phần trên của bài viết này cũng chỉ bổ sung thêm một phần nhỏ.

Trước bản chất và hành động độc tài gian xảo trong suốt thời gian dài vừa qua cho đến mới ngày hôm qua đây, có lẽ lòng tin dành cho CS sẽ tùy mọi người nhận thức và quyết định.

Nhưng với kinh tế và quyền lợi thiết thân của mình, cũng như dân gian nói “ đồng tiền đi liền khúc ruột”, thì mong rằng có dịp mọi người dân Việt Nam, cả những nhà đầu tư và công dân nước ngoài có quan hệ kinh tế làm ăn tại Việt Nam có dịp suy nghĩ.

Tác giả bài viết này không có ý định kêu gọi mọi người tin ai, tin nguồn thông tin cụ thể nào cả. Vì mọi người có thể tự tìm cho mình những thông tin khả tín trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay.

Hiện nay, đứng trước khủng hoảng. Điều qua trọng chúng tôi muốn nói là mọi người không nên nghe theo những thông tin một chiều, bị bưng bít, cường điệu do cộng sản VN đưa ra, thông qua bộ máy thông tin của họ.

Về việc nên làm gì trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam:

Chúng tôi chỉ xin được phép nhắc nhở mọi người rằng : hãy tự tỉnh táo để bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình trước cơn khủng hoảng kinh tế này.

Việc bảo vệ này không đi đôi với những gì mà chính phủ CSVN đưa ra kêu gọi mọi người hưởng ứng, vì đó chỉ là những sự lừa bịp, qua mặt mọi người tiếp theo, những mong cứu giúp cho CSVN kéo dài thêm sự sụp đổ về kinh tế và chính trị, để tiếp tục thực hiện các tội ác với tổ quốc và nhân dân VN, mà chắc chắn sẽ không bao giờ giải quyết được cái gốc vấn đề là giải quyết khủng hoảng kinh tế được trong lúc này.

Những việc quý vị có thể tự làm để bảo vệ quyền lợi của mình, và làm nhanh không chần chừ, nhỡ lỡ cơ hội và thiệt hại cho quyền lợi của bản thân. Đó là:

1. Nên rút hết tiền đã gởi ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam ngay:

Mọi người hãy rút toàn bộ những khoản tiền để dành, tích lũy hay kinh doanh ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam, nếu không muốn bị CSVN lấy đi hết trong những ngày sắp tới. CSVN sẽ lấy tiền của mọi người bằng cách gì ? Đơn giản họ chỉ cho phá giá VND và đổ thừa cho lạm phát, thì giá trị thực của đồng tiền và tài sản của quý vị sẽ giảm đi, hay mất đi tức thì chỉ trong 1, 2 ngày nhanh chóng. Có thể mất là 50, 70 hay 90% giá trị tài sản chỉ qua một đêm, hay chỉ trong một vài ngày.

Chẳng hạn như: chỉ sau 3 tháng thì giá trị tài sản của những người đầu tư chứng khoán ở Việt Nam đã mất đi 70% và còn tiếp tực mất đi nữa. Do thị trường chứng khoán VN bị sụp đổ. Hay tài sản của những người đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam, chỉ sau 3 tháng qua cũng đã bị mất từ 60 đến 80% tùy trường hợp. Do 2 thị trường này sụp đổ hoàn toàn mới đây. Điều này sẽ kéo theo Thị trường tài chính ngân hàng ở VN cũng sẽ sụp đỗ trong nay mai. Đó chính là sự thật và lời khuyên cho quý vị ở phần này.

2. Nên mua ngay vàng hoặc ngoại tệ có giá và chuyển sang gởi các ngân hàng nước ngoài để giữ tài sản: Để bảo đảm giá trị tài sản của mình, khi rút hết tiền ở các ngân hàng Việt Nam ra quý vị nên mua lại vàng, hay các loại ngoại tệ có giá khác để giữ, và gởi vào các ngân hàng nước ngoài.

3. Tuyệt đối không tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam: Không mua công trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán, hay tham gia vào canh bạc là Thị trường chứng khoán của Việt Nam vì nó đã đang đổ vỡ thực sự và còn tiếp tục bị chôn vùi sâu hơn, không còn mấy cơ hội gượng dậy nữa.

4. Không gởi tiền, vàng (cả ngoại tệ) vào các ngân hàng Việt Nam nếu vì tham lãi suất cao:

Đây là chiêu dụ lãi suất cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam để lừa mọi người đưa tiền hay tài sản vào để ngân hàng được thoi thóp sống, trong khi đồng tiền VN mất giá nhanh và quý vị sẽ không lấy ra được khi diễn biến kinh tế xấu hơn, lúc đó VND mất giá, quý vị sẽ bị thiệt, thậm chí trắng tay. Như đã đề cập ở phần 1 trên đây.

Chưa kể khả năng nhà nước CSVN sẽ truy tìm và tịch thu hay gọi với từ ngữ hoa mỹ hơn là “trưng thu hay trưng mua” các tài sản của quý vị phục vụ cho lợi ích .. quốc gia trá hình của CS mà chính phủ CSVN có thể biết và kiểm soát được.

Do cần phân tích sâu và cập nhật tình khủng hoảng kinh tế của Việt Nam cho bạn đọc trong nước nên các nội dung về khủng hoảng chính trị Việt Nam xin được tiếp tục trong các bài viết tiếp theo của loạt bài này.

TS. Trần Minh Hoàng
Sài gòn, ngày 03.06.2008

Nguon: http://tiengnoitudodanchu.org   

April 20, 2008

Cái loa của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt : “Không để người nghèo chịu thiệt thòi mãi…”

“thủ đoạn hạ nhiệt, mị dân”
“Không để người nghèo (ĐT: Đầy tớ của nhân dân)

 

 

chịu thiệt thòi mãi…” (*)

 

 

 

 

 

“Phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.” – Bài viết của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi VietNamNet và một số báo.

Nguyên TT Võ Văn Kiệt

Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục.

Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng; trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra.

Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng, chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo.

Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để “xóa đói giảm nghèo”. Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày) đã giảm từ 58%, năm 1993, xuống 14,7%, năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam.

Nhưng, những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước, và chúng ta hiểu, khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể.

Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo thì trước đó đã “100% ngói hóa”.

Mặt khác, cho dù phần lớn dân chúng đã “thoát nghèo”, chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có, lại gần như bị xóa sạch.


Hai đứa trẻ

Tố Hữu

Tôi không dám mời anh đi xa lạ
Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn
Kể làm sao cho hết cảnh lầm than
Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả!
Này đây anh một bức tranh gần gũi:
Nó thô sơ? Có lẽ. Nhưng trung thành.
Nó tầm thường? Nhưng chính bởi hồn anh
Chê chán kẻ bị đời vui hắt hủi.

Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi
Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con
Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non
Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới.

Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm
Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.
Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê
Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!

Đứa chồm chập vồ ôm li sữa trắng
Rồi cau mày: “Nhạt lắm! Em không ăn!”.
Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân
Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!

Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi
Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.
Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây
Không dám tới, e đòn roi, tiếng chưởi!

Vẫn chưa hết những cảnh đời đau khổ
Nhưng kể làm chi nữa, bạn lòng ơi!
Hai đứa kia như sống dưới hai trời
Chỉ khác bởi không cùng chung một tổ:

Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ
Và đứa buồn, con mụ ở làm thuê.

Tôi vừa đi đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy, người nghèo đang chiếm một tỷ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.

Nhìn sang nước bạn

Trước đây, trong một lần tiếp kiến, nhà vua Thái Lan nói với tôi: “Bài học sai lầm dẫn đến thất bại của nhiều quốc gia là khi công nghiệp hóa, họ không quan tâm đúng mức hoặc bỏ bê nông thôn, nông nghiệp”.

Tình cảm với nông dân và sự am hiểu về nông nghiệp của nhà Vua khiến tôi hết sức ấn tượng. Thái Lan có một chế độ khác với Việt Nam, nhưng họ cũng rất chú trọng “công nghiệp hóa”, và đặc biệt, rất quan tâm đến nhân dân lao động.

Cách đây không lâu, cựu Thủ tướng Thaksin có được sự ủng hộ của dân chúng, ngay cả khi ông bị lật đổ và phải đối diện với nhiều cáo buộc tham nhũng, phải lưu vong.

Khi được trở về, ông vẫn được nông dân và những người Thái khác nhiệt liệt đón mừng, đó cũng là nhờ vào những chính sách thời kỳ ông làm Thủ tướng thực sự mang lại cuộc sống tốt hơn cho những người nghèo.

Cam kết lịch sử

Ở Việt Nam, sở dĩ Cách mạng có được nhiều thành tựu, là nhờ, tại những thời điểm quan trọng nhất của lịch sử, Đảng ta đã đưa ra được những chủ trương nhắm đúng vào nguyện vọng của các tầng lớp dân chúng, đặc biệt là dân nghèo.

Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân.

Thực hiện cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo.

Tôi muốn lưu ý ở đây, về quốc sách hàng đầu của đất nước mà chúng ta đang theo đuổi, đó là quốc sách công nghiệp hóa.

Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản.

Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.

Nông dân luôn là người chịu thiệt thòi nhiều nhất
Ảnh nguồN: vietnammelody.com

Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình “công nghiệp hóa”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp, đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.

“Công nghiệp hóa” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân.

Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải “ly hương, ly gia” để có việc làm.

Công nghiệp hóa, đô thị hóa của chế độ ta mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài.

Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó, có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi.

Khi đó, chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài.

Đầu tư phát triển, một mặt, không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác, phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc… không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ.

Từ thiện không thay thế được chính sách

Từ thiện không thay thế được chính sách
Ảnh nguồn: http://savethechildren.org.au

Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này.

Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.

Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo.

Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng.

Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình “tích lũy tư bản” diễn ra như thời “hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững.

Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu.

Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.

Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Trong khi, nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.

Gần như thường xuyên, chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá… được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do UBTU MTTQ Việt Nam tổ chức.

Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ, công việc ấy để cho các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều.

Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa, thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin, đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo.

Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu “đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Có tạo được những nên tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện, thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ.

Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy, lớn hơn là việc quyên góp, xin – cho, rất nhiều.

Mặt trận có thể tham gia “xóa đói giảm nghèo” một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất.

Đầu tư của nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa…, vì thế, không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia.

Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quỹ trợ cấp, tín dụng giáo dục… cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn.

Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải.

Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.


Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt

(*) Ảnh chiếc xe Roll Royce và bài tho Tố Hữu do Đối Thoại lồng vào bài viết

http://www.doi-thoai.com/baimoi0408_211.html


Nhận định của TS Lê Đăng Doanh về thư ngỏ của cựu TT Võ Văn Kiệt

2008.04.15

Nam Nguyên, phóng viên đài RFA

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư ngỏ mới nhất được các báo đăng tải, đã đặt vấn đề về sự chệch đường trong thực hiện chính sách công nghiệp hóa, khiến nông dân và người nghèo không được hưởng lợi.

Cựu Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt trong một cuộc trả lời phỏng vấn bái chỉ đầu năm 2007. RFA file photo.

Thông điệp của nhân vật từng lãnh đạo Việt Nam thời kỳ đổi mới đầu thập niên 1990 mang những ý nghĩa gì? Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này qua cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế nhiều uy tín ở Việt Nam, ông hiện sống và làm việc ở Hà Nội trong lãnh vực nghiên cứu ngoài chính phủ.

Chệch đường trong thực hiện chính sách

Nam Nguyên: Thưa tiến sĩ, phải chăng ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, người nông dân vừa ly nông vừa ly hương và làm việc với đồng lương ít ỏi. vậy là ngược với chủ trương ly nông bất ly hương? Thực tế này như thế nào?

TS Lê Đăng Doanh: Bài của thủ tướng Võ Văn Kiệt có đề cập tới một vấn đề rất quan trọng mà lâu nay ít được nghiên cứu ở Việt Nam: đó là những người di dân, có tình trạng phức tạp là chúng ta hiện nay chưa biết và chưa có công trình nghiên cứu nào về qui mô mức độ di dân, bởi vì người dân di dân ra thành phố không được đăng ký hộ khẩu, không được hưởng chế độ phúc lợi cũng không được hưởng các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ và thành phố nơi người ta kiếm sống thì không công nhận đấy là công dân của họ, không đăng ký hộ khẩu ngân sách địa phương không chịu trách nhiệm không bảo đảm, con cái sinh ra không được đi học. Muốn đi học phải chạy tới chạy lui rất khó khăn.

Điều 4 (Hiến pháp 1992)

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Chính vì vậy quốc hội vừa rồi đã yêu cầu là phải sửa qui chế này. Quay trở lại vấn đề này, chúng ta thấy hiện ra lỗ hổng là nơi địa phương có nhân dân đi biết là họ đi nhưng cũng không chịu trách nhiệm. Địa phương, thành phố nơi họ đến sống và họat động như ở Hà Nội, TPHCM, họ sống thế nào, bao nhiêu người, cũng không nằm trong trách nhiệm của chính quyền nơi đó.

Theo tôi đây là vấn đề trước hết cần có sự điều tra, sửa đổi các chính sách và có những chính sách di dân công khai minh bạch có điều kiện rõ ràng và khắc phục tình trạng di dân bất hợp pháp này. Đây là tôi chưa nói tới tình trạng đồng bào dân tộc từ miền Bắc, từ Thanh Hóa di dân vào Tây Nguyên cũng ở trong tình trạng như vậy.

Các tỉnh Tây Nguyên cũng không giàu có gì, nhưng cứ lâu lâu phải cưu mang vài ba trăm, vài ngàn đồng bào từ miền Bắc vào, lại phải xây lán trại, xây trạm y tế, xây dựng trường học. Những khỏan tiền đó họ xin không được phải lấy từ ngân sách địa phương, nhưng theo tính tóan của bộ tài chánh những người này không phải là công dân của địa phương và không được chuẩn chi. Cho nên quá trình này đúng là một vấn đề phức tạp.

Nam Nguyên: Thưa TS, quốc sách là câu chuyện lớn, một cựu thủ tướng, kiến trúc sư thời kỳ đổi mới phê phán mạnh như vậy. Theo ông có phải là Việt Nam sẽ phải đổi mới một lần nữa trong chính sách phát triển.

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi quá trình công nghiệp hóa cho tới nay đã đạt một số thành tựu nhất định. Tuy vậy vấn đề là chỗ chúng ta đã bỏ quá nhiều vốn vào các công trình lớn mà ít tạo ra được công ăn việc làm. Hiện nay kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP , nhưng sử dụng tới 50% số vốn đầu tư của ngân sách và 70% tín dụng, nhưng chỉ tạo ra được độ 8 tới 9% công ăn việc làm mà thôi.

Gần đây hầu như không tạo ra được công ăn việc làm mới, trong khi đó kinh tế tư nhân được rất ít tín dụng, rất ít trợ giúp từ ngân sách Nhà nước nhưng tạo ra được phần lớn công ăn việc làm. Vấn đề là như vậy cho nên cần bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tư vào các doanh nghiệp ở vùng nông thôn. Đầu tư vào những mô hình cụm công nghiệp ở vùng nông thôn và đấy là những ý kiến của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt mà tôi hòan tòan ủng hộ.

Phúc lợi của người nghèo?

Nam Nguyên: Như thế có nghĩa là ly nông bất ly hương?

TS Lê Đăng Doanh: Vâng, phải tạo ra mô hình ly nông bất ly hương. Nếu không sẽ lập lại thảm họa ở các thành phố khác như ở châu Mỹ La Tinh ở Mexico hay Bangkok, vấn đề di dân bất hợp pháp tạo ra những vấn đề hết sức phức tạp như ở Bắc Kinh, Thượng Hải ở Trung Quốc. Đấy là những vấn đề tội phạm, trật tự xã hội v.v…

Chúng ta phải nhìn thẳng vào vấn đề này, nhìn nhận thực trạng và phải có nghiên cứu động lực, qui mô và phải có giải pháp rốt ráo với tình trạng di dân bất hợp pháp này. Không thể nhắm mắt là nơi có dân đi không chịu trách nhiệm gì, mà nơi nhận dân đến cũng không có chính sách để đối xử với người ta như một công dân. Tinh thần thay đổi về sổ hộ khẩu mà quốc hội quyết định là bước khởi đầu đúng hướng nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa để khắc phục tình trạng này

Theo truyền thống của đảng CSVN, sau khi về hưu, các cựu lãnh đạo vẫn còn có ảnh hưởng nhất định đối với giới lãnh đạo đương thời. AFP PHOTO.

Nam Nguyên: Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận là, phúc lợi của người nghèo ở một số nước tư bản cao đến mức mà các nhà lý luận của Việt Nam nên tham khảo. Thưa, ông nhận định gì về điều này.

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi tình trạng phúc lợi ở Việt Nam đang có ba vấn đề. Một là chúng ta chưa có chế độ công khai về kiểm sóat thu chi một cách nghiêm ngặt, vì vậy cho nên rất nhiều nguôn thu ngân sách không thu thuế được.

Thí dụ nguồn thu từ đầu tư bất động sản, nguồn thu từ chứng khóan hoặc nguồn thu từ các phi vụ kinh doanh lọt ra khỏi sự kiểm sóat của Nhà nước, thí dụ báo chí đưa tin buôn lậu than lên tới 10 triệu tấn ở những tỉnh mất nguồn thu rất lớn.

Vì vậy tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo, những người giàu thì quá giàu mà lại không đóng góp gì cho xã hội, không có trách nhiệm trong việc xây dựng xã hội đóng góp cho phúc lợi xã hội. Và Nhà nước phải sử dụng nguờn thu từ dầu lửa torng khi nguồn thu này không phải là quá lớn quá nhiều như ở Trung Đông.

Vấn đề thứ hai là Việt Nam chưa pháp lý hóa được qui chế về vấn đề phúc lợi. Tức là chúng ta có chương trình giúp đỡ người nghèo, có chương trình cho trẻ em đi học và chữa bệnh miễn phí, nhưng lại chưa có luật và chưa đưa tiền đến cho người dùng mà lại chuyển tiền cho những cơ quan như là trường học, bệnh viện. Cách làm đó tạo ra sơ hở, có thể ý đồ của chính phủ là tốt nhưng tiền không đến được người nghèo.

Điều thứ ba là thực trạng, chúng ta thấy hiện nay trong chế độ phúc lợi xã hội, người giàu được hưởng nhiều phần về chế độ phúc lợi chữa bệnh mà Nhà nước đưa ra. Tức là người giàu tiếp cận được với bệnh viện tốt hơn và nhiều hơn người nghèo. Đấy là ba vấn đề mà Việt Nam cần phải khắc phục từ nguồn thu đến chi và việc điều tiết xã hội một cách công bằng.

Chính các điều ấy ở các nước khác như Thụy Điển, Đức người ta làm tốt hơn cho nên người ta có chế độ phúc lợi xã hội mà chúng ta chưa biết đến bao giờ có thể mơ tưởng thấy được.

Nam Nguyên: Cảm ơn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh về thời giờ ông dành cho đài RFA.


Bạn đọc góp ý:
Ông Võ Văn kiệt được phân công nói như trên ở những thời điểm ” nóng ” :
“nào là hòa giải hòa hợp, nào là 30/4 triệu người vui triệu người buồn, …” rất mị dân, giả dối !

Người dân VN rên siết, nói :
Cơ cấu lỗi thời, khép kín, chính sách sai lầm triền miên, đảng nhà nước xem thường dân, cướp bóc tham nhũng + thiên tai + mất mùa, … dân bị bần cùng hóa –> tệ nạn xã hội nảy sinh, bán đất bán nhà (giá bèo) cho tư bản đỏ nhà nước, cho ngoại bang; dân tìm đường xuất khẩu lao nô, dục nô, … –> dân càng nghèo, nước yếu, hiểm họa mất nước là đương nhiên; ai cố chấp, bán nước cầu vinh ?
“nói vậy mà không phải vậy”; ” nói mà không làm, làm ngược” từ nhiều năm qua !
Tại sao ông Võ Văn Kiệt không nói : “cơ cấu nhà nước ta không có quyền lực đối trọng độc lập thực sự để bảo vệ quyền lợi của dân, của đất nước” , ” bây giờ phải trả lại dân quyền dân tộc tự quyết”, “phải thay đổi cơ cấu chính trị, dân chủ hóa xã hội VN càng sớm càng tốt “, ” phải tư nhân hóa báo chí “, ” phải bảo vệ tiếng nói sinh viên bày tỏ lòng yêu nước, không được đàn áp khủng bố họ “, ” nếu đảng không làm tôi trả thẻ đảng, … phải cho cái quái thai, cơ cấu độc tài cực kỳ bất công, phi lý, vô nhân tính này vào quá khứ ” , ” nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân” ; “đó là cách duy nhất bảo vệ vẹn toàn đất tổ, sớm tạo điều kiện lấy lại HS TS đã mất, mang lại công bằng no ấm cho toàn dân nghèo ” !

 

 

March 25, 2008

CS với bổn cũ xào đi soạn lại : thủ đoạn trân tráo, thất nhân tâm

AI LÀ KẺ ĐỘI LỐT?


TT Thich Thien Minh dang bi nha cam quyen VN khung bo sach nhieu lien tuc

Công Tâm

Vào 8 giờ tối 2 ngày 22và 23/03/2008. Chúng tôi theo dõi đoạn Phim phóng sự tài liệu do đài truyền hình Bạc Liêu phổ biến và 6 giờ 30, ngày 24/03/2008 Sở Tư Pháp Bạc Liêu do Ông Nguyến Thanh Bình tiếp tục lên án, bôi nhọ, quy chụp Thượng Toạ Thích Thiện Minh với tựa đề “Huỳnh Văn Ba Kẻ Đội Lốt Tu Hành Đi Ngược Lại Lợi Ích Cộng Đồng”và hôm nay, ngày 25/03/2008 một cuộc học tập tại hội trường Thị xã Bạc Liêu, do Trung tá Quân, Phó Công an Thị Xã Bạc Liêu trình bày nội dung quy chụp cho rằng Ông Huỳnh Văn Ba cầm đầu các vụ rải truyền đơn, nhưng qua các câu nói cho thấy không có bằng chứng hiển nhiên khi khám xét và không bắt được quả tang mà chỉ là sự nghi vấn do sự trùng hợp nghi nan nào đó mà thôi!

Là người Cán bộ tỉnh nhà, ngồi tham dự buổi học tập, tôi thấy xấu hổ và nhục nhã với guồng máy chính quyền trên cương vị của một tỉnh mà mấy ngày qua đã liên tục cho đài truyền hình bêu rếu, bôi tro trát trấu một nhà Sư? Công an Vạch lá tìm sâu, nhắc lại chuyện quá khứ một cách cố chấp đơn hèn!

Nếu ai đó vạch trần quá khứ đen tối xấu xa của Đảng thì chúng ta nghĩ sao? Đảng ta có trong sạch không? Cán bộ chúng ta nghiêm túc tự xét lại bản thân từng cá nhân của mình xem có xứng đáng với dân chưa?Đảng có tàn ác vô đạo đối với chính sách cải cách ruộng đất đem hàng vạn người chém giết, chôn sống không? Chính Ông Trường Chinh còn đem cả cha mẹ mình ra đấu tố… Làm con mà còn đấu tố lại đấng sinh thành sinh ra mình thì họ còn biết thương ai? Lúc ấy, Bác Hồ chúng ta ở đâu? Làm gì? Bác có trách nhiệm không? Và muôn vàn chuyện bạo tàn bạo ác khác… chúng ta nghĩ sao?

Tôi công tâm nhận xét chính quyền quy chụp cho rằng Ông Huỳnh Văn Ba tham gia đòi khôi phục giáo Hội Phật giáo VN Thống Nhất là giáo hội phản động? Có vài lần Ông Ba đã trả lời thẳng thắn trên đài nước ngoài và trực tiếp với ngành công an rằng “Nhà nước VN chưa có văn bản nào quyết định giải tán GHPGVNTN cả” Nếu có tôi sẽ từ bỏ GHPGVNTN ngay!” Cũng như, Ông đã hai lần gởi văn thư đến Thủ tướng Chính Phủ và Bộ Tư Pháp xin hợp thức hoá Hội Ái Hữu Tù Nhân CT và TGVN do ông Làm Hội Trưởng, Ông cho biết “Nếu Chính phủ hồi báo và ra quyết định cấm hoạt động thì ông sẽ từ chức” Cho nên, chúng ta lên án Ông tham gia GHPGVNTN và hoạt động Hội Ái Hữu của Ông là không đúng pháp luật?

Không những thế chúng ta còn nói Huỳnh Văn Ba lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ nhân quyền. Nếu đất nước có tự do, dân chủ và quyền con người được tôn trọng là tốt, là đem lại ích lợi cho cộng đồng chứ có gì là xấu xa? Có gì là đi ngược lại lợi ích cộng đồng? hãy nhìn dân oan khiếu kiện tại tỉnh nhà ban đêm giăng mùn ngủ trước UBND tỉnh hình ảnh nầy có đẹp không? Chúng ta thường nói: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc lập, Tự do, Hạnh phúc kia mà!

Còn nói Huỳnh Văn Ba vận động xúi giục dân oan tại tỉnh Cần Thơ biểu tình? Lại là sự chụp mũ vô căn cứ tuyên truyền một chiều mà không thấy lỗi do chính quyền mới có những dân oan? Dân oan do Ông Huỳnh Văn Ba tạo nên à! Nói ra mà chúng ta không thấy ngượng lời thì là kẻ vô liêm sĩ? Còn chúng ta làm chính quyền mà suy luận sai về Chính trị lại cáo buộc rằng Ông Huỳnh Văn Ba liên hệ tham gia nhiều tổ chức Chính trị nào là: tổ chức 8406, Thanh niên Dân Chủ Sơn Hà, Tập hợp Thanh Niên Dân Chủ, Đảng Dân chủ v.v… quy chụp một cá nhân mà hoạt động tham gia cùng lúc nhiều tổ chức chính trị là chỉ làm trò cười cho trẻ con hoặc là những kẻ cuồng tín, thất học điên rồ!

Ngoài ra, đài truyền hình còn nói Huỳnh Văn Ba nộp phạt tiền dai dưa đối với Sở Bưu Chính Viễn Thông? do lần đầu tịch thu máy! Tại sao chúng ta không xét do chúng ta niêm phong tiền bạc đương sự? chúng ta niêm phong vô lý mà còn muốn tìm cớ để phạt tịch thâu luôn và chỉ biết bới lỗi người, không tự xét mình sai; đó là do quen thói ỷ thế, cậy quyền chăng!

Chúng ta khám xét nhà Huỳnh Văn Ba là muốn kiểm tra xem đối tượng có chủ mưu trong các cuộc rải truyền đơn tán phát tài liệu phản động hay không? Như lời Trung tá Quân, Phó Công An Thị Xã Bạc Liêu, phát biểu chỉ xoay quanh nghi ngờ Ông Ba một cách chung chung vô căn cứ mà lại mượn các cựu Đảng viên về hưu lên án khủng bố, đe doạ bắt giam bằng phương tiện truyền thông đại chúng, Ông Quân còn hứa hẹn ngày mai sẽ trình bày tiếp về Tôn giáo và thời gian học tập còn kéo dài đến 4 ngày. Chỉ làm cho những người tham dự buồn chán, mệt mỏi mà thôi!…

Thử hỏi sau khi kiểm tra phục hồi 2 máy vi tính trong 2 lần khám xét niêm phong từ đầu năm 2007 đến nay đàu năm 2008 chúng ta chẳng phát hiện được gì? Cuối cùng chỉ quy kết buộc tội vu vơ và tung lên báo đài nhằm đánh lạc hướng dư luận quần chúng và làm uy tín của ngành công an sút giảm, tại sao nội bộ chúng ta không can đảm nhìn nhận sự thật..để kéo dài chụp mũ oan không đúng người đúng tội mà còn niêm phong cả giấy tuỳ thân của đương sự nữa? Đến nay đã gần 4 tháng mà vụ việc giải quyết không xong để đương sự thêm nhiều bức xúc lên tiếng… và chúng ta cứ âm mưu đối phó triệt hạ mãi với nhiều thủ đoạn ươn hèn!không hay chút nào cả!

Cho nên, có một số người cho rằng những người tham gia khám xét nhà nơi cư ngụ của Huỳnh Văn Ba luôn có ác cảm với các nhân Ông,và mỗi lần sau khi khám xét chẳng có kết quả thì lại dùng đài phát thanh, báo chí, đài truyền hình cho rằng “Huỳnh Văn Ba, kẻ đội lốp thầy tu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng” mà phải nên nói rằng “các ông Trung tá Trịnh văn Tư, Trung tá Nguyễn Đức Minh và các tên cán bộ hung tàn vô đạo tại Tỉnh, Thị xã Bạc Liêu chính là những bọn đội lớp Công an đi ăn cướp của dân, ăn cướp của cộng đồng thì mới đúng.”
Bạc Liêu, 25/03/2008

————-

Ý rút tỉa:

Bôi nhọ, ném đá giấu tay, tuyên truyền lừa bịp, khủng bố, chia rẻ, vu cáo, chụp mũ, cài đặt, dàn dựng, … 1 chiều, độc đoán, hèn hạ, vô đạo lý là nghề của cs !
Cs có cả 1 bộ máy truyền thông vĩ đại, chuyên nói láo, vu cáo , và công an, côn đồ sống bằng tiền ngân sách của dân đàn áp  lại dân !
Đó là hệ quả của một cơ chế cs độc tài toàn trị, không dân chủ, bất công, không có đối trọng quyền lực !
Bản chất tà đạo, quỷ quyệt nên Cs rất sợ sự thật, công lý, dân chủ tự do, ánh sáng mặt trời.
Vì dốt nát, ích kỷ, tham tàn, rất lưu manh thủ đoạn, nên cs phải dựa vào cơ chế độc tài bất công và bạo lực để vu cáo tùy tiện … người vô tội, yêu hòa bình công lý, tự do ! Đó là cách để cs bảo vệ quyền lực đặc lợi cs (cướp của người dân), tiêu diêt mọi tiếng nói công tâm.
 
Chính sự hốt hoảng, gian ác, bám víu ngu xuẩn vào cơ chế độc tài toàn trị ở thời đại mở cửa đã minh chứng bản chất  phản bội dân tộc, phi nhân bản, phản tự nhiên, tà ác, tham lam vô độ, nô lệ ngoại bang, bán nước cầu vinh, phi chính nghĩa của cs !  

Kể cũng kệch cỡm lố bịch khi nghe cs nói : “xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giàu mạnh” mà đặt trên nèn tảng của sự BẤT công bằng, độc tài toàn trị, với “đầy tớ của dân” thì bố láo hạch họe dân, cướp nhà cướp đất dân, lừa bịp dân, khủng bố dân. 

Dưới cơ chế tự do dân chủ THẬT SỰ, chắc chắn cs không thể : dùng thủ đoạn xử lý tùy tiện, cướp đất cướp nhà,  tướt đoạt dân quyền, nhân quyền, bán nước cầu vinh. Quân đội, công an, nhà nước, quốc hội, tòa án PHỤC VỤ thật sự cho quyền lợi của dân, đất nước trong tinh thần thượng tôn pháp luật, tổ quốc trên hết, bảo vệ dân và vẹn toàn đất tổ HS TS, … !
(chứ không phải: yêu nước là yêu xhcn (hoang tưởng), yêu đảng (cướp)” )

March 19, 2008

Yêu sách của nhân dân An Nam 1919

Yêu sách của nhân dân An Nam (tiếng Pháp: Revendications du peuple annamite) là bản yêu sách được gửi ngày 19 tháng 6 năm 1919, của Hội những người An Nam yêu nước, gồm tám điểm được viết bằng tiếng Pháp, được ký bằng cái tên chung là “Nguyễn Ái Quốc[1] và gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles.

Mục lục

[giấu]

//

[sửa] Hoàn cảnh

Mùa hè năm 1919, Nguyễn Tất Thành thành lập một tổ chức mới cho những người Việt sống tại Pháp: Hội những người An Nam yêu nước (Association des Patriotes Annamites). Nguyễn Tất Thành khi đó vẫn chưa được nhiều người biết, do đó, Phan Châu TrinhPhan Văn Trường giữ vị trí lãnh đạo hội. Tuy nhiên, với vai trò thư kí, Nguyễn Tất Thành gần như là động lực chính của hội[2].

Cũng trong thời gian này, tại Quốc hội Pháp thường kỳ diễn ra các cuộc thảo luận về vấn đề thuộc địa, vấn đề cũng đã được nêu lên từ tháng 1 năm 1919, khi lãnh đạo của các nước Đồng Minh thắng trận trong Thế chiến thứ nhất họp nhau tại Lâu đài Versailles để đàm phán về một hiệp định hòa bình với phe thua trận và đặt ra các nguyên tắc cho các quan hệ quốc tế sau chiến tranh. Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã khuyến khích nhiệt tình của các nước thuộc địa trên khắp thế giới bằng bản tuyên bố 14 điểm nổi tiếng của ông, trong đó kêu gọi quyền tự quyết cho mọi dân tộc.

Đến đầu mùa hè năm 1919, nhiều tổ chức dân tộc chủ nghĩa với trụ sở tại Paris đã đưa ra các bản tuyên ngôn để công khai hóa các mục tiêu của mình. Nguyễn Tất Thành và những người trong Hội những người An Nam yêu nước quyết định tận dụng tình thế và đưa ra bản tuyên bố của mình.

Với sự giúp đỡ của Phan Văn Trường, người đề nghị hoàn thiện trình độ tiếng Pháp khi đó còn yếu của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tất Thành đã thảo bản yêu sách gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á[3]. Bản yêu sách có tên Revendications du peuple annamite (Yêu sách của nhân dân An Nam).

[sửa] Nội dung

Bản yêu sách gồm 8 điểm:

  • Tổng ân xá tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị.
  • Cải cách nền pháp lí Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm pháp lí như người châu Âu. Xóa bỏ hoàn toàn những tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam.
  • Tự do báo chítự do ngôn luận.
  • Tự do lập hội và hội họp.
  • Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.
  • Tự do họp tập, thành lập các trường kĩ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ.
  • Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
  • Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ.

[sửa] Tác giả

Bản yêu sách được ký tên như sau[4]:

thay mặt Hội những người An Nam yêu nước
[kí tên]
Nguyễn Ái Quốc.

Theo tác giả Trần Dân Tiên[5] thì ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn (Nguyễn Ái Quốc) đề ra, và luật sư Phan Văn Trường là người viết, lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Một số tài liệu khác[6] cũng nêu thông tin như trên.

[sửa] Sự kiện kèm theo

Nguyễn Tất Thành, người mà trong vòng vài tháng sẽ được biết đến với cái tên Nguyễn Ái Quốc, đại diện cho cả nhóm gửi bản yêu sách này đến Hội nghị Versailles, ông chịu trách nhiệm chính cho việc công bố bản yêu sách này. Nguyễn Tất Thành trao bản yêu sách đến tận tay các nhân vật quan trọng trong Quốc hội Pháp và tới Tổng thống Pháp. Ông đi dọc các hành lang của điện Versailles, trao cho các đoàn đại biểu của các nước lớn. Để đảm bảo ảnh hưởng tối đa của bản yêu sách, ông sắp xếp để nó được đăng trên tờ L’Humanité, một tờ báo cấp tiến ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Ông còn được sự giúp đỡ của các thành viên Tổng hội Công nhân để in 6000 bản và phân phát trên đường phố Paris[7].

Chiến dịch kêu gọi này không nhận được phản ứng chính thức từ chính phủ Pháp. Mặc dù vấn đề thuộc địa vẫn là một chủ đề chính trong các cuộc thảo luận tại Quốc hội và là chủ đề gây tranh cãi đáng kể trong Hội nghị Hòa bình Versailles, nhưng cuối cùng không thành viên nào thảo luận đến đề tài của bản yêu sách.

Ngoài việc phân phát và phổ biến bản yêu sách này, Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư riêng kèm theo bản yêu sách cho các đoàn đại biểu Đồng Minh dự hội nghị, nhưng không gây được sự chú ý[8].

Tuy nhiên, cuộc vận động này đã gây một sự kinh ngạc đối với các quan chức Paris. Ngày 23 tháng 6, Tổng thống Pháp báo cho Albert Sarraut rằng mình đã nhận được bản yêu sách và đề nghị ông xém xét vấn đề và xác định danh tính tác giả của bản yêu sách. Tháng 8, Albert Sarraut điện từ miền Bắc Việt Nam sang Paris, báo rằng bản yêu sách đã được lan truyền trên đường phố Hà Nội và gây ra các bình luận của báo chí. Tháng 9, Nguyễn Tất Thành kết thúc việc suy đoán về tác giả bản yêu sách, trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Mỹ của một tờ báo tiếng Trung ở Paris, ông công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6 tháng 9, Nguyễn Tất Thành được gọi đến Bộ thuộc địa để phỏng vấn, tại đây, cảnh sát mật của Pháp chụp ảnh và bắt đầu tìm kiếm thông tin về danh tính thực của ông[9].

[sửa] Tham khảo

  • Hồ Chí Minh toàn tập, dẫn lại trong Đại cương lịch sử Vệt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, 2006.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Dương Trung Quốc, Nhân sự phá sản của Đề án 112, Báo Lao Động cuối tuần số 37 ngày 23/09/2007 (Xem được đến ngày 15/1/2008)
  2. ^ Duiker William, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000. tr. 57-58
  3. ^ Duiker, tr. 58
  4. ^ Bản tiếng Anh gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Robert Lansing
  5. ^ Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh
  6. ^ LÒNG YÊU NƯỚC, ÁNH SÁNG VÀ TINH THẦN QUỐC TẾ
  7. ^ Duiker, tr. 59
  8. ^ Một trong những bức thư đó, bức mà Nguyễn Ái Quốc gửi cho ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing, được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hoa Kì và có thể được đọc tại [1]. Bức thư này nguyên khởi được viết bằng tiếng Pháp, bản lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ là bản dịch tiếng Anh. Có thể coi nội dung tiếng Việt và tiếng Anh tại Thảo luận:Yêu sách của nhân dân An Nam
  9. ^ Duiker, tr. 60http://vi.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAu_s%C3%A1ch_c%E1%BB%A7a_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_An_Nam

Liên quan:
- Thực chất HCM
http://www.geocities.com/whoishochiminh/thuc_chat_cua_hcm1.htm

http://www.toquocth.com/inhalt/toiacVC/2.htm

http://www.toquocth.com/inhalt/toiacVC/8.htm
http://www.geocities.com/whoishochiminh/hcm_cai_chet_nong_thi_xuan.htm
- Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_M%E1%BA%A1nh_T%C6%B0%E1%BB%9Dng_%28lu%E1%BA%ADt_s%C6%B0%29 
ttp://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_M%E1%BA%A1nh_T%C6%B0%E1%BB%9Dng
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4412&rb=07
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4412&rb=07
- Yêu sách 1919
Bản lưu tại http://www.soc.ucsb.edu/projects/casemethod/beamish.html  chỉ có 7 điểm.
Nguồn:
http://www.soc.ucsb.edu/projects/casemethod/beamish.html
http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=8621
http://www.archives.gov/global-pages/larger-image.html?i=/historical-docs/doc-content/images/ho-chi-minh-telegram-truman-l.jpg&c=/historical-docs/doc-content/images/ho-chi-minh-telegram-truman.caption.html
http://arcweb.archives.gov/arc/action/ExternalIdSearch?id=305263
http://www.ena.lu/lettre-chi-minh-harry-truman-28-fevrier-1946-010702990.html (site chính phủ Pháp)

obj02990-hcm_truman1.jpg
Điện thư HCM gởi TT Mỹ Truman

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.