Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 5, 2008

Bài 13 : KHỦNG HOẢNG TÔN GIÁO GÓP PHẦN THÚC ĐẨY KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ

Bài 13 : Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam
KHỦNG HOẢNG TÔN GIÁO GÓP PHẦN THÚC ĐẨY KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ
TS. Trần Minh Hoàng

Khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn 2 khi toàn bộ sự thật, mặt thật của chính thể cộng sản VN và của nền kinh tế cộng sản VN tuần tự đã được công bố để lòi ra “ mặt chuột “.

Nền kinh tế cộng sản VN do đảng CSVN chi phối vốn mờ ám, gian manh đã được thể hiện và chứng minh qua báo cáo kiểm toán năm 2007 mới công bố .

Dưới sức ép của các nhà đầu tư quốc tế, công luận trong ngoài nước, cũng như yêu cầu của nhiều chính phủ buộc cộng sản Việt Nam phải thực hiện hoạt động kiểm toán và công khai hóa thông tin về hoạt động kinh tế của thể chế CS và nền kinh tế quốc gia theo đường lối CS.

Những kết qủa kiểm toán của năm cũ 2007 vừa được Kiểm Toán NN Việt Nam ( Kiểm toán của nhà nước CSVN ) công bố trong tuần, tuy còn bị chính phủ CSVN bưng bít rất nhiều số liệu thật trước khi cho công bố nhưng đã nói lên sự thật, mặt thật của chính thể, của cơ chế kinh tế chính trị CS ở VN và sự giấu đút, suy đồi, thối nát, mỵ dân…của chính thể này…

Theo đó, toàn bộ tài sản của quốc gia và của dân tộc VN (bao gồm tài nguyên, môi trường, tiền của, tài sản, dự trữ, nhân lực, tài lực) hiện nay do đảng CSVN khống chế kiểm soát tất cả, và họ (CSVN) đã làm, đang làm và sẽ còn có thể làm thêm nhiều hơn nữa để tiếp tục đem bán đi, đem chia chác trong nội bộ đảng CSVN, chia cho những kẻ cơ hội và đem chia sẽ cho các nhà đầu tư, để vơ vét được cú chót trước khi sụp đổ…

Đó chính là những hành động mang đầy đủ tính chất “phản động” của một đảng phản động đối với nhân dân VN và với nhân loại ngày nay…

Không ai biết sự thật chính thể CSVN là gì, nền kinh tế VN sự thật là gì, chỉ biết một cách mơ hồ là ..một chính thể không lương thiện, một chính thể và nền kinh tế bưng bít thông tin nhưng đã thể hiện đầy đủ bản chất … lừa dối, lừa đảo, mỵ dân…

Đàn áp dân chủ đi đôi với việc bảo vệ chính thể CSVN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo…

Như để giãy chết trước cơn khủng hoảng kinh tế chính trị của quốc gia đang lan tràn và đi vào bước 2, mới đây CSVN đã ra lệnh cho bọn công an đầu gấu khoát áo dân thường để bảo vệ chính thể CSVN bằng các hành động côn đồ nhằm đàn áp khống chế các nhà dân chủ trong nước như Vi Đức Hồi, Phạm văn Trội, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa trong những ngày gần đây…

Và đàn áp tôi giáo như Mục sư Nguyễn công Chính, Mục sư A Đung…

CSVN hiện đang mưu đồ đàn áp tiếp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN).

Thông qua công cụ chuyên chính CS là báo chí CSVN (hơn 600 đơn vị), với tính đảng (CS) làm đầu đã trở thành một loại báo chí CS vốn phi tự do, phi dân chủ, phi nhân quyền, phi đạo đức….một loại báo chí chuyên nói láo để ăn tiền bẩn của CSVN, loại báo chí chuyên nghiệp đi dựng chuyện không có để chụp mũ, vu khống các cá nhân và tổ chức yêu nước để cô lập hòng mỵ dân. Loại báo chí chỉ nghe theo một cách mù oán như đồ ăn cơm thừa của đảng CS, loại báo chí CS phản bội tổ quốc, loại báo chí phản bội lại dân tộc, phản bội những cá nhân và tổ chức yêu nước không cộng sản…

Báo chí CSVN tụ tập hè nhau theo chỉ đạo của CSVN như là một lũ tội phạm chống lại lẽ phải, chống lại đạo lý, chống lại sự thật, chống lại dân tộc và …đang chống lại loài người… theo đúng thuật ngữ của luật pháp quốc tế mà tòa án quốc tế La Haye thường dùng để chỉ loại “tội phạm” mà họ thường xét xử.

Vừa ăn cướp vừa la làng là thủ đoạn thâm độc và nguy hiểm của CSVN cần được lột mặt ngay

Với đạo đức giả và lòng lang dạ sói, CSVN nhân sự kiện sức khỏe của Đức Tặng Thống Thích Huyền Quang hiện nay với âm mưu chính trịthủ đoạn đê hèn tiếp tục đánh phá GHPGVNTN, CSVN đã xua đám báo chí của mình vốn là các “tổ chức tôi phạm” đồng loạt đăng bài về tình trạng sức khỏe của Đức Tăng Thống để nhằm thực hiện hành động của kẻ cướp, vừa “ăn cướp vừa la làng”, nhưng cũng không qua mặt được công luận và thiên hạ…

http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6110

Qua các bài báo của CSVN tung ra, và Giáo hội phật giáo quốc doanh của CSVN có yêu thương, quý mến gì Đức Tăng Thống ?

Chỉ có CSVN và đám bồi bút báo chí CSVN mới có thể nói điều không đúng sự thật, (Tính chân thật hay sự thật là nguyên tắc hàng đầu phải được đứng trên tất cả các nguyên tắc cơ bản của báo chí) nghe rất chướng tai là bệnh viện ở Tỉnh Bình Định chăm sóc sức khỏe Đức Tăng Thống tốt hơn ở Sài Gòn và Huế ?

Vậy Bác sĩ và phương tiện thuốc men ở Bình Định tốt hơn ở Sài Gòn hay Huế sao ?

Láo phét. Họ (CSVN) đã nói mà không biết ngượng miệng là gì . Đó là phương pháp tác nghiệp của báo chí CSVN, của các tổ chức chống lại sự thật hiễn nhiên…chống lại loài người.

CSVN muốn gì với sức khỏe của Đức Tăng Thống ? Khống chế, đánh phá, thôn tính, chiêu dụ, tiêu diệt GHPGVNTN ?

Chắc chắn họ (CSVN) sẽ không làm được gì !

CSVN đã phản bội, đã lừa dối hàng chục triệu giáo dân Công giáo VN trong cả nước như thế nào vẫn còn rành rành ra đó. Vụ Tòa Khâm sứ, vụ Giáo sứ Thái Hà…

Quả bom này vẫn chưa tháo ngòi và ngòi thuốc vẫn đang cháy âm ỷ hàng ngày.

Và nay, nếu CSVN tiếp tục khiêu khích và tự họ có các hành động ngông cuồng khi kích động vô cớ, vô lý lòng từ tâm, lòng từ bi của hàng chục triệu Phật giáo đồ VN..
thì quả bom tấn khủng hoảng tôn giáo chắc chắn sẽ nổ ra ở Việt Nam…

Khủng hoảng tôn giáo ở Việt Nam sẽ như thế nào.

Với hơn 70 triệu tín đồ các tôn giáo mà trong quá khứ lịch sử CSVN đã gây ra biết bao tội ác và hằn thù không thể nào phai và xóa đi được. Chẳng hạn như cái chết bí ẩn của Hòa Thượng Thích Thiện Minh, cái chết của Đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa hảo, cái chết của Đức Phạm Công Tắc của đạo cao Đài và cái chết, tù đày của nhiều Đức Cha, Đức Hồng y của Công giáo VN… thì ngày nay họ (CSVN) không thể có quyền làm thêm điều gì nữa nếu họ dám cả gan ?

Khủng hoảng tôn giáo nếu đi kèm với khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng xã hội và khủng hoảng lòng tin của nhân dân VN hiện nay…sẽ là một tai họa lớn lao nhất cho CSVN sau 63 năm (1945 – 2008 ) , và tai họa này của CSVN sẽ trở thành thời cơ cho vận may lớn nhất của đất nước để thực hiện dân chủ hóa toàn diện và triệt để.

Việc nối tiếp Phật Pháp, Phật sự ở VN… tuyệt nhiên được định phận tại ..Trời.. Phật, mà không một ai, không một thế lực nào, một tập đoàn tội ác nào có thể xoay chuyển được, vì đó còn là “Thiên Thư“.

Việc hậu sự cho Đức Đệ Tứ Tăng Thống nếu ngài viên tịch sẽ là một thách thức, một đòn cân não cho CSVN. Đó cũng sẽ là suy nghĩ và hành động cần có tổ chức, có lãnh đạo và phối hợp chặc chẽ của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam để vinh danh công đức của Đức Đệ tứ Tăng Thống và tôn vinh Đức Đệ ngũ Tăng Thống.

Gần 90 Triệu người Việt Nam (Trừ tên CS Lê Đức Thọ gian manh mà nước Mỹ chưa hiểu hết vế hắn và CSVN) chưa ai có vinh dự được liên tục đề cử cho Giải Nobel hòa bình bằng Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ.

Trước dã tâm của CSVN với Đức tăng thống và GHPGVNTN, trước sự đàn áp dã man của CSVN hiện nay đối với các cá nhân, các tổ chức yêu nước, yêu dân chủ tự do nhân quyền không cộng sản, xin cho phép tôi được nhắc lại câu bất hủ trong năm vừa qua của Hòa Thượng Thích Quảng Độ dành cho chính thể CSVN để kết luận bài viết này :

“ ..Đừng có tưởng nắm được trong tay công an, quân đội, nắm trong tay nhà tù rồi muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, chỉ được chừng một lúc nào đó thôi…
Thích Quảng Độ”

Bài 14 : Phương thức nào để đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị với cộng sản Việt Nam

TS. Trần Minh Hoàng
tstranminhhoang@gmail.com

Bài 1 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2189

Bài 2 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2290

Bài 3 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2291

Bài 4 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2460

Bài 5 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2493

Bài 6 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2503

Bài 7 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2512

http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6010

Bài 8 http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2518

http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6020

Bài 9 http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6032

http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2531

Bài 10
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6045

Bài 11
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6061

Bài 12
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6086

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản : Phần 5: CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT

Chương 14: Chiến-dịch Giảm-tô

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 5

CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT
“Muốn chữa một tình trạng bất công thì
vượt qua giới-hạn của công-bằng”.

Mao-Trạch-Ðông
(Bá-cáo về vụ Nông-dân bạo động tại Hồ-Nam)

 

Chương 14

CHIẾN-DỊCH GIẢM-TÔ

Vài tháng sau cuộc “Ðấu tranh Chính-trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung-quốc giả dạng làm nông-dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa-phương mách mối họ làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà (mà không lấy công), cùng ăn với chủ nhà (nhưng góp phần mình), và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán-bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán-bộ ngủ với ông chồng.

Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông-dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi công việc, cày bừa hoặc gặt hái, tùy theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh khổ cực của mình. Chẳng bao lâu người nông-dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. Tỉ dụ trường hợp một anh nông-dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán-bộ giải-thích ngay rằng : “Giá anh không bị tên địa-chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh !”. Tóm lại, theo cán-bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông-dân đã phải chịu đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa-chủ lang sói.

Ðấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà. Sau đó họ bày vẽ cho nông-dân biết rằng chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Ðảng, đứng vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa-chủ cường hào ác bá trong làng. Công-tác tích-cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông-dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn-sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông-dân được giác ngộ gọi là cái “rễ”, và công-tác kể trên được gọi là “bắt rễ”. Tới giai đoạn này, người cán-bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miệt trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán-bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh, mà anh cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián-điệp thường xuyên. Anh cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v…, được gọi là “cốt-cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình két nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra. “Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán-bộ khác, đang công-tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt-cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình-trạng sở-hữu ruộng-đất và tài-sản, thái-độ chínhtrị, hoạt-động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một (Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục-đích đặc biệt : người đàn bà nào thời còn là con gái, có “dính líu” với một địa-chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa-chủ kia “hãm hiếp”). Sau vài ba tháng hoạt-động như vậy, người cán-bộ thu-thập được đầy đủ chi-tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo-cáo trước một phiên họp bí-mật của Ðoàn Cải-cách

Ruộng-đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Ðoàn, anh cán-bộ đề nghị qui định thành-phần cho tất cả dân làng, đặc-biệt là thành phần địa-chủ, và gán cho người nào những “tội” gì ?

Tới lúc đó Ðội Cải-cách Ruộng-đất mới ra mắt công khai, Ủy-ban hành chính xã và chi-bộ Ðảng ở xã tức thì bị giải tán. “Ðội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội công-an mới gồm toàn nông-dân cốt án, và ra lệnh phong tỏa làng. Thường thường mỗi làng ở Bắc-Việt có một lũy tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác xuốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Ðội Cải-cách Ruộng-đất. Ðội liên lạc với Ðoàn bằng một đường giây điện-thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre còn đang xanh mang giây điện-thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu giây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường giây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng. Chiến-dịch chính-thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước liên tiếp, mà bước cuối cùng là “phiên xử án”.

Bước 1: Phân-định Thành-phần

Nông-dân thuộc thành-phần bản-bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc-biệt để học cách phân-định thành phần tất cả dân làng. Những tài-liệu học tập gồm có bản Ðiều lệ Phân-định Thành-phần ở Nông-thôn, các văn-kiện về thể-thức áp-dụng bản điều-lệ này cùng những tiêu-chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu-chuẩn khác nhau mà báo-chí cộng-sản không hề nói đến. Thí dụ trong một tỉnh, những tiêu-chuẩn phân-định các loại trung nông như sau :

a) Trung nông cứng : Những trung nông có một con bò, một con heo và một đàn gà.

b) Trung nông vừa : Những trung nông có một con heo và một đàn gà.

c) Trung nông yếu : Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết.

Không những tiêu-chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích-cực học-tập và “bình-nghị dân-chủ”, các học viên biểu-quyết một bản phân-định thành-phần mà thường thường là in hệt tài-liệu cán-bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo-luận mọi người đều chấp-thuận ý-kiến của cán-bộ. Ðiều này chẳng cógì lạ vì thực-tế chứng tỏ cán-bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng.

Bước 2 : Phân loại địa-chủ

Ngay sau khi Ðội Cải-cách Ruộng-đất (thường gọi tắt là Ðội Cải-cách, hoặc Ðội) ra mắt công-khai, tức là mười ngày trước khi thành-lập danh-sách địa-chủ, những người sẽ bị quy là địa-chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt-cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa-chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau.

Trên lý-thuyết và theo lời ông Trường-chinh tuyên-bố trong bản bá-cáo của ông thì có ba loại địa-chủ chính: địa-chủ việt-gian phản-động, cường-hào, gian ác, địa-chủ thường và địa-chủ kháng-chiến. Ngoài ra còn một loại nữa gọi là “nhân-sĩ tiến-bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan-lại hiện được cộng-sản trọng dụng, như các ông Hồ-đắc Ðiềm, Phan-kế-Toại, vân vân… Nhưng trên thực-tế loại thứ hai và thứ ba không hề có. Tất cả mọi địa-chủ, không trừ một ai, đều bị quy vào loại “địa-chủ việt-gian phản-động”. Như đã trình bày ở trên, tất cả các địa-chủ còn ở lại vùng kháng-chiến cho đến năm 1953, dù muốn dù không, đều có tham-gia ít nhiều vào công-cuộc kháng-chiến vi chính-sách của cộng-sản là tuyệt-đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công-tác”. Thanh-niên và những người tráng-kiện thì gia-nhập quân-đội hoặc làm cán-bộ chính-quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh. Những người tuổi tác thì tham-gia những tổ-chức bù-nhìn như “Phụ lão Cứu Quốc”, “Mặt trận LiênViệt” vân vân… Mọi người đã tham-gia kháng-chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa-chủ kháng-chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa-chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông-dân. Ðành rằng họ có “bóc lột” nông-dân bằng cách cho nông-dân thuê ruộng lấy tô nhưng họ lý-luận rằng đấy chẳng qua là tính-chất của chế-độ cũ, và từ ngày lên cầm chính quyền, cộng-sản cũng vẫn dung túng lối “bóc lột” đó trong bao nhiêu năm rồi. Nhưng đến khi chiến-dịch Cải-cách Ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “việt-gian phản-động” và bị tố đủ thứ tội. Ngay cả những người tích-cực phục-vụ chính-quyền kháng chiến và đã được ông Hô-chí-minh tuyên-dương công trạng cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ-quan của Ðảng và chính-phủ để phá-hoại Cách-mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông-dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa-chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ để lên án địa-chủ đó là việt-gian, làm gián-điệp cho Pháp.

Loại địa-chủ này, cũng gọi là địa-chủ đầu xỏ, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B và C. Cán-bộ không tuyên bố cho địa-chủ biết là họ bị xếp vào hạng này nhưng chỉ cần một chút thông minh cũng đoán biết ngay. Nếu đám biểu-tình hô “Ðả đảo tên địa-chủ X, việt-gian phản-động cường-hào, gian-ác !” (4 danh-từ kèm theo chữ “địa-chủ”) thì có thể biết chắc X là địa-chủ hạng A. Nếu đám biểu-tình chỉ hô “Ðả đảo tên địa-chủ Y cường-hào gian-ác!” (2 danh-từ) thì chắc chắn Y là địa-chủ hạng B. Còn nếu họ chỉ hô : “Ðả đảo tên Z địa chủ ngoan-cố !” (1 đanh-từ) thì Z thuộc hạng C. Mỗi hạng sẽ có một số-phận khác nhau. Ðịa-chủ hạng A bị đưa đến một trại giam tạm-thời, thiết-lập tại một làng kế cận, và những người “nguy-hiểm” nhất trong cùng hạng có thể bị nhốt trong một cái cũi gỗ, in hệt cũi nhốt thú dữ. Ðịa-chủ hạng B phải đi dự một lối cải-tạo đặc-biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục-đích của lớp cải-tạo này là khủng-bố tinh-thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn dấu vàng bạc. Họ bị khủng-bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẳn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán-bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ dấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông-hội. Ngoài ra họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền nông. Họ khai ra người nào thì lập tức Ðội Cải-cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho Nông-hội. Vì địa-chủ mất tinh-thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương-gia tự-nhiên bị “vạ vịt”, mất sạch cơ-nghiệp dù không có liên-quan trực-tiếp đến Cải-cách Ruộng-đất. Ðịa-chủ hạng C bị giữ trong một nhà nông-dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công-an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác.

Một điều đáng chú ý là việc quy-định thành-phần lúc nào cũng chỉ có tính-cách tạm-thời, và địa-chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tùy theo thái-độ của đương-sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Vì cán-bộ có giao hẹn trước, rõ ràng như vậy, nên phần đông các địa-chủ tỏ ra khúm núm và sợ sệt. Nhưng vì Ðảng đã ấn-định một số tử hình tối-thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa-chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử. Nhưng nói chung, khúm núm vẫn có lợi hơn là bướng bỉnh, và người dân Việt, đã từng biết phải khúm núm như thế nào đối với quan lại và thực-dân, nên sớm nhận thấy giờ đây họ còn phải khúm núm hơn nữa đối với “giai-cấp mới”.

Bước 3 : Tống-tiền công-khai

Sau khi chủ gia-đình bị bắt và điệu đi, cán-bộ Ðội Cải-cách gọi vợ con địa-chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức-khắc một số tiền gọi là “thoái tô”, hoặc nợ nông-dân. Trước đấy bốn năm năm, chính-quyền cộng-sản có ra một thông cáo buộc địa-chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng-chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và sau khi ban hành bản thông-cáo, chính-quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, Nông-hội cho rằng tất cả địa-chủ đều không tuân luật và đòi gia-đình địa-chủ phải “thoái tô”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm. Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo thông cáo hoặc sợ chế-độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng-đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên-lai, sổ sách. Dù sao đi nữa bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa-chủ đều phải nhận “trả”. Số “thoái tô” phải mang nộp cho Nông-hội, một tổ-chức do Ðội Cải-cách thành lập để núp sau ra lệnh.

Cán-bộ Cải-cách thường phán như sau : “Anh em nông-dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng !” Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa-chủ phải ký nhận. Việc “đòi nợ” này còn một vài điểm đáng chú ý.

Theo cán-bộ thì “số nợ” được tính theo lời khai của mỗi tá-điền cộng lại, nhưng thực ra thì cán-bộ không hề để ý tới lời khai của ai cả, và cũng không hề làm tính cộng. Việc bắt tá-điền khai báo là chỉ cốt để có cớ “đòi nợ”. Còn số “nợ” là do cán-bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về khả năng có thể trả được của mỗi địa-chủ : liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ-trang, vân vân… và bao giờ cũng ấn-định một mức tối đa. Mục-đích của “thoái tô” là làm cho địa-chủ và gia-đình chỉ còn hai bàn tay trắng, trừ ruộng-đất, nhà cửa và đồ đạc trong nhà. Những thứ này không thể thoát đi đâu được và sẽ bị tịch thu trong chiến-dịch sau. Việc làm cho toàn thể giai-cấp địa-chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi mọi cách “văn hoa” là “làm giảm uy-thế kinh-tế của địa-chủ”. Chủ tâm bần cùng hóa địa-chủ cho tới mức-độ cuối cùng biểu hiện trong việc tăng giảm số “nợ” tùy theo khả năng tột bực của “con nợ”. Nếu địa-chủ hoặc gia-đình địa-chủ trả hết số “nợ” trong thời-gian hạn-định thì thế nào cán-bộ cũng dở giọng nói : “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… (thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước). Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ-hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố-gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa khất vừa nần nì để chứng tỏ cả thiện-chí lẫn sự bất-lực của mình, thì cán-bộ có thể bớt lần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Không phải vì cán-bộ thương tình nhưng vì Ðảng muốn tỏ cho nhân dân biết quả thực đã có nhiều địa-chủ trả đủ số nợ, việc đòi nợ hợp tình hợp lý và con số nợ cũng đúng với khả năng địa-chủ. Nhưng nếu địa-chủ cứ ì ra, không trả gì hết hoặc chỉ trả một số không đáng kể hoặc vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên, không tăng không giảm. Trong trường-hợp ấy, đòi nợ không còn là vấn-đề nữa, và địa-chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn.

Trong khi địa-chủ phải chạy tiền trả nợ . hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc . thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì. Tất cả từ nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân-dân. Những thức này sẽ bị tịch-thu sau, nên địa-chủ không được phép bán. Mục-đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thức địa-chủ có mà có thể giấu được . như tiền mặt, vàng bạc, v.v… Mỗi khi địa-chủ, hoặc vợ địa-chủ chậm trả thì Nông-hội phái một nhóm hội-viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc dục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như : “Ðôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi ?” (đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc : “Mày bảo mày không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết ?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước).

Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa-chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa-chủ ngoan cố”. Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi và đứa nào cũng bị dọa nạt cho tới khi chúng cung khai đúng hoặc không đúng . những nơi cha mẹ chúng chôn dấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu, hễ chúng khai chỗ nào là cốt-cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy. Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa-chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông-dân, sau trận đấu tố, được lĩnh nhà địa-chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nền nhà cho bằng phẳng.

Bước 4 : Tố Khổ

Trong khi địa-chủ bị “tống-tiền” một cách hợp-pháp thì nông-dân được triệu-tập đi học một lớp đặc-biệt về “Tội ác của giai-cấp địa-chủ”. Mục-đích của lớp học là giảng cho nông-dân hiểu địa-chủ đã phỉnh-phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp-bức họ như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình ít nhất là một tội đối với mình. Ðể ôn lại trí nhớ cho nông-dân, giảng-viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu-thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông-dân trước kia vẫn từ-tốn đối với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng-viên đã đọc cho họ nghe.

Những người “tố khổ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm có những người mong có địa-vị trong chế-độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là của lấy của địa-chủ chia cho nông-dân. Họ tố hăng vì Ðội Cải-cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích-cực đấu-tranh sẽ được kết nạp vào các tổ-chức của Ðảng”.

Loại thứ hai gồm những người cầu an bảo mạng, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập-trường với giai-cấp địa-chủ” và đứng hẳn “về phe Ðảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử thành-tích bất hảo, trước kia có phạm một tội nào đó mà cán-bộ làm ngơ chưa hỏi đến. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa-chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu-diệt. Ðoạn văn sau đây, trích ở tờ Thời Mới, số 8 tháng 5, 1957, nói lên sự thông-đồng giữa bố mẹ và con cái về việc con cái “tố khổ” chính bố mẹ mình.

CỨ TỐ HĂNG VÀO
… Sau khi “Ðội” (Cải-cách) rút, người con dâu đi kể lể với bà con hàng xóm rằng :
- Tôi nào có phải là hạng xấp mặt lên tố bố mẹ chồng. Khi “Ðội” người ta phát-hiện (quy là địa-chủ) rồi, thì hai mẹ con thì thầm suốt đêm. Tôi định ra kêu với “Ðội”, nhưng bà cháu cứ gàn đi :
“Tao già bảy, tám mươi rồi, có lên địa-chủ thì cũng gần kề miệng lỗ. Mày mà kêu thì chả tránh khỏi tiếng liên quan, rồi thì cả hai mẹ con tay trắng. Mày cứ tố hăng vào để giữ lấy số ruộng mà cày…”

Loại thứ ba là những người tố chỉ vì sợ hãi. Tuy địa-chủ là mục-tiêu chính nhưng nhiều người dù không có ruộng-đất cũng có thể bị quy là địa-chủ, hoặc có liên-quan với địa-chủ, nếu cán-bộ xét thấy họ có “tư-tưởng địa-chủ”. Liên-quan là một danh từ rất mơ hồ, có nghĩa là quyến thuộc, bạn bè, hoặc chỉ là chỗ quen biết, lui tới. Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, ngày 2 tháng 6 năm 1956, nói rõ dân-chúng sợ bị quy là liên-quan tới mức nào :

VỢ CHỒNG TÔI TỪ NAY THẬT HẾT LO
… Mọi người đang đứng quanh xem giỏ tép của anh Tý vừa đơm đó ở đồng về, nghe nói đến chuyện liên-quan đều quay lại. Bà Bền tiếp luôn : Bà con hàng xóm láng giềng ai còn lạ gì nhà tôi, mấy đời khổ cực, phiêu bạt ra giữa cánh đồng, vợ chồng già ngày đêm đơm đó kiếm ăn. Mong đợi mãi, Ðội Cải-cách Ruộng-đất về làng, vợ chồng tôi được kết nạp vào Nông-hội. Thế rồi hôm họp xóm, ông Bền nhà tôi được cử làm đại-biểu đi dự đại-hội nông-dân xã. Chả biết đầu đuôi thế nào đang dự đại-hội, ông cụ nhà tôi bỏ về, trông như người mất hồn, mấy ngày đêm liền không ăn không ngủ. Tôi gặng mãi ông cụ chỉ nói : “Thế là khổ tao, bà mày tính thế nào chớ không thì nguy lắm”. Rồi có đến hàng tháng ông ấy không dám đi họp hành gì cả, cứ nằm lần thần bấm đốt ngón tay; nào là ” nhà ta một thằng rể, có họ hàng với địa-chủ nữa. Thế là liên-quan nhất định liên-quan rồi”.
Một người hỏi : “Thế bà có sợ liên-quan không ?”
Bà Bền cười : “Anh bảo ai không sợ mới thật là tài…”
… Ðứng dậy ra đi, bà còn nói thêm một câu : “Vợ chồng nhà tôi từ nay mới thật hết sợ liên-quan.”
Một người mỉm cười nhìn theo bà nói : “Chả phải mình bà sợ, xóm tôi khối người lo sợ như thế !..”

Có ba loại liên-quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau :

1. . Loại có “liên quan nặng” với địa-chủ, gồm những người “có tư-tưởng địa-chủ”, có thái-độ bênh-vực địa-chủ. Những người này sẽ bị đối xử in hệt địa-chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vòng pháp-luật, bị bao vây kinh-tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết.

2. – Loại có “liên-quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa-chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia-đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên-quan vừa” với địa-chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng.

3. . Loại có “liên-quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập-trường đối với địa-chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông-hội. Sau khi giai-cấp địa-chủ bị tiêu-diệt thì chỉ có Nông-hội là nơi mà nông-dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông-hội. Mặc dù những hình-phạt ghê gớm kể trên, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố” những người cùng làng bị quy là địa-chủ. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép hoặc phỉnh phờ vì, dù ít học, họ cũng tiêm nhiễm ít nhiều luân thường đạo-lý, và ở Việt-nam cũng như ở khắp mọi nơi, tố cáo người khác vẫn bị coi là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác. Trong phong trào Trăm Hoa Ðua Nở, Phùng-Quán đã làm một bài thơ đả-kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan-đề “Lời Mẹ Dặn” có mấy câu như sau :

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai ngon ngọt nuông chìu
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Báo Văn số 21, ngày 27-9-1957

Vì bài thơ kể trên Phùng-Quán bị đưa lên mạn ngược “học-tập lao-động” cùng với nhiều văn-nghệ-sĩ khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao.

Bước 5 : Ðấu Ðịa-Chủ

Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa-chủ, những người được chỉ-định ra “đấu-trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Ðấu địa-chủ là “trò” then chốt của cả chiến-dịch, nên cần phải chuẩn-bị hết sức chu đáo. In hệt các diễn-viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân-khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện-tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán-giả có cảm-tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa-chủ là có thực. Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, dã gạo, vừa lắp đi lắp lại một câu để thuộc lòng. Ðóng vai trò “đạo diễn” cán-bộ phụ-trách còn bày vẽ giáng-điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa-chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc. Sau khi chuẩn-bị đầy đủ, Ðội công-tác Cải-cách Rưộng-đất công bố ngày “đấu”.

Vì có ba hạng địa-chủ, A, B và C, nên cũng có ba loại đấu.

Ðịa-chủ hạng A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành-chính gồm từ mười đến mười lăm làng.

Ðịa-chủ hạng B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa-chủ hạng A, nhưng tương-đối nhẹ hơn.

Ðịa-chủ hạng C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông-dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi nào tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng-kê các tội ác mà các tá-điền . chỉ có tá-điền của địa-chủ mới được dự cuộc đấu này . đã “tố” cho họ. Nghe xong, địa-chủ phải tuyêp-bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa-chủ phải ký tên vào biên-bản buổi họp. Ðảng giải-thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Ðảng muốn khoan-hồng đối với những “phản-động phụ”, những phần-tử mà Ðảng còn hy-vọng cải hoán được. Vì còn hy-vọng họ sẽ cải hoán nên Ðảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họï, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý-do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa-chủ hạng C là những người buôn bán ở thành-thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng là “bỏ làng”. Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực-tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Ðảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sụ người tố có thể ấp-úng, làm mất uy-tín “anh em nông-dân” và gián-tiếp mất uy-tín Ðảng. Vì vậy nên Ðảng tổ-chức “đấu lưng”, giấu địa-chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Chỉ có tá-điền nói cho tá-điền nghe nên dù họ có ấp-úng, ngượng ngùng cũng chẳng sao. Thật vậy đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa-chủ, khi thấy nông-dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười.

Mỗi lần đấu một địa-chủ hạng A thì toàn thể nhân-dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa-chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa-chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cầy vì một khi ngồi vào chỗ trong hội-trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại. Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Ðịa-chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm tay hô “Ðả đảo !”.

Mọi cuộc đấu đều tổ-chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn. Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới có 14 “thư ký” ngồi, 13 người là bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa đoàn gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ-tịch nông-hội làm chủ-tọa cuộc họp và một phụ-nữ đóng vai công-an trưởng. (Tác-giả nhận thấy vai trò công-an trưởng bao giờ cũng do phụ-nữ đóng, trong năm cuộc đấu tác-giả có dịp tham dự. Tác-giả có cảm-tưởng Ðảng dành vai trò này, có tính cách hống hách, cho phụ-nữ để đề cao uy quyền chính-trị của phụ-nữ trước công chúng). Người đàn-bà này chỉ huy tự-vệ xã, và cứ năm phút một lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, dơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v… Trên tầng cao nhất của khán-đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ-chí-Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao-Trạch-Ðông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh-tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán-đài là những biểu-ngữ rất lớn mang những khẩu-hiệu như “Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh giảm tô (hoặc đấu-tranh Cải-cách Ruộng-đất)”, và “Ðả đảo tên địa-chủ… việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác”. Trong thời-kỳ kháng-chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ-chức về đêm để tránh máy bay oanh-tạc. Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng trong ác mộng. Người tham dự có cảm-tưởng chứng-kiến một cảnh quỷ-sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa-ngục. Khán-đài soi sáng bằng đèn điện. Ðôi khi có máy phá điện nhỏ nhưng thường là di-na-mô xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán-đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán-bộ Ðội Cải-cách Ruộng-đất nấp phía sau khán-đài để nhắc và ra lệnh cho chủ-tọa đoàn. Ðôi khi có cố-vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ. Chủ-tịch chủ-tọa đoàn khai-mạc hội-nghị và tuyên-bố lý-do cuộc họp. Sau đó là một bài thuyết trình về ý-nghĩa và sự cần-thiết của cuộc đấu-tranh chống địa-chủ ; đại-khái là vai trò chính-yếu của nông-dân trong kháng-chiến, tính cách bội-phản của giai-cấp địa-chủ, v.v… Sau đó người đàn bà giữ chức công-an trưởng ra lệnh cho tự-vệ xã lôi tên địa-chủ việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác ra để “anh chị em nông-dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng-thanh hô : “Ðả đảo thằng việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác (tên họ người địa-chủ bị lôi ra)”. Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán-đài. Phía trước khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán-giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông.

Ðịa-chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục gia-tô giáo, hoặc một hòa-thượng phật-giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu-sĩ hoặc áo nhà chùa). Cộng-sản thanh-minh rằng đương-sự bị đấu với tư-cách cá nhân là địa-chủ, không dính dáng gì về tôn-giáo nên không cho mặc áo tôn-giáo, nhưng sự-thực thì cộng-sản cố ý tránh quang cảnh một cuộc khủng-bố tôn-giáo công-khai và quá lộ liễu.

Chủ-tịch chủ-tọa đoàn gọi “anh chị em nông-dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa-chủ, hỏi : “Mày có nhớ tao là ai không ?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn : “tao là. . . ở làng. . . đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong. . . năm”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “mày có nhớ tao là ai không” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu-sử” của mình. Cán-bộ bắt họ làm như vậy để công chúng biết qua loa về quan-hệ giữa người đấu và người bị đấu. Người ngồi xem nhớ lại những buổi diễn tuồng tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh : “Mỗ đây tên tự là… ” Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “việt-gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v… Ðiều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu ; hình như cán-bộ xui họ chửi rủa địa-chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy-tín” địa-chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”. Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản-ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm : “Ðả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị công-an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi. Mỗi người được phép tố địa-chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng-hồ, thì người địa-chủ bị điệu đến trước “thư-ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư-ký hý hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa-chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước.

Ðịa-chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Ðêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông-dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v… Ðêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh-phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa-chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu nguời đấu là đàn-bà). Ðêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Ðịa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông-dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng. Ðêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa-chủ về các tội có tính cách chính-trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ-chức phản-động, dò thám tin tức quân sự, nói với người này người kia rằng Pháp sẽ cho mình làm tỉnh-trưởng, huyện trưởng, v.v… Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến, cuối cùng, sẽ phải đưa ra tòa án nhân-dân đặc-biệt, kết án tử-hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa-chủ có khôn-ngoan đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Ðảng đã ấn-định một số tối thiểu phải chịu tử-hình tại mỗi xã. Ðúng ra thì Ðảng chỉ ấn-định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan-cố” thì số tử-hình có thể tăng thêm.

Thực ra thì Ðảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, vì phương châm của Ðảng là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Hơn nữa, nếu nhiều địa-chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có thể có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều là nói điêu. Trái lại nếu địa-chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông-dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Vì uy-tín của nông-dân và của Ðảng, nên Ðảng chỉ cần địa-chủ nhận tội và sẽ nới tay, không xử bắn quá mức ấn-định. Trong đợt đầu, nhiều địa-chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi-hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do Ðảng bày đặt ra và bắt mỗi người phải đóng một vai, không ai được phép trái ý Ðảng.

Ðịa-chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là : treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông-dân liếm đờm, ăn phân (chỉ khác nhau ở thứ phân : bò, gà, người v.v..), đốt nhà nông-dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết (bất cứ trước kia có đứa trẻ nào chết đuối thì bây giờ cũng là chết do địa-chủ dìm), bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông-dân, giết người (bất cứ ai chết bệnh cũng tố là do địa-chủ giết), hãm hiếp, v.v… Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự :

Ở xã Nghĩa-khê, thuộc tỉnh Bắc-Ninh, bọn địa-chủ tổ-chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài-liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông-dân. Ở Liễu-Sơn, chúng dùng một em thiếu-nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông-dân kịp ngăn được: Thâm độc hơn, ở Liễu-Hà, chúng cho mấy em thiếu-nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân-Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Ðức-Phong (Hà-Tỉnh) chúng mua bài tu-lơ-khơ (bài Trung-Cộng mang sang) cho các em mãi chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng.

Ðiều đáng chú ý là địa-chủ càng đạo-đức bao nhiêu, như thể linh-mục, hòa-thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp-dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa-chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa-chủ lên trước khán-đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con ; biết là bố thế nào cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để . theo lời cán-bộ . được quy là trung nông, và như vậy có hy-vọng sống yên nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa-chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu. Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết. Bác-sĩ Nguyễn-đình-Phát, chủ đồn-điền ở Phủ-Quỳ, Nghệ-An và đại-biểu Quốc Hội Việt Minh, đã bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn-điền của ông ta. Trong một buổi đấu tố cụ Cử Lê-trọng-Nhị, làng Cổ-Ðịnh, tỉnh Thanh-hóa, một lãnh tụ phong-trào Văn Thân năm 1907-8 đã từng bị đầy ra Côn đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố : “Mày có biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày ? Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp-dâm tao rồi tao sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng làm tính nhẫm và nhớ lại, hồi mụ này sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà-lim Côn đảo, cách xa hai nghìn cây số.

Có nhiều địa-chủ tỏ ra rất bình-tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ-An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại : “Xin anh em một viên đạn !” Ở Thanh-Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ : “Mày có nhớ tao là ai không ?” Ðịa-chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ ! Mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp của tao con gà”. Chủ-tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ-chức đấu lại, địa-chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ béo bổ khác, chè tầu, cà-phê. Ðịa-chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày hoặc ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau ba ngày đấu-tố, địa-chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân-dân đặc-biệt xét xử ? Trong khoảng thời gian đấu-tố, mỗi tỉnh xuất bản một tờ báo địa-phương lấy tên là “Lá Rừng” (ngụ ý tội ác của địa-chủ nhiều như là rừng) để tường thuật những vụ đấu tố trong toàn tỉnh. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan” nghĩa là về các làng có đấu tố để quan-sát chính-sách Cải-cách Ruộng-đất. Ðảng muốn họ đi sát với “anh em nông-dân” để am-tường nỗi khổ của anh em nông-dân và công-nhận chính-sách tiêu-diệt giai cấp địa-chủ của Ðảng là “hợp tính hợp lý”. Họ cũng “ba cùng” với nông-dân, nhưng chỉ được quan-sát, không được phát biểu ý kiến. Tuy-nhiên việc có mặt của họ cũng có phần lợi cho địa-chủ. Vì muốn tỏ cho họ thấy chính-sách của Ðảng rất đúng, nên cán-bộ cố gắng thận trọng hơn nên do đó, địa-chủ cũng được nới tay hơn. Một phần nào những người tới tham quan cũng là “thần bảo mạng của họ”.

Bước 6 : Xử án địa-chủ

Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc-biệt tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến-thức về luật-pháp và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công-cáo ủy-viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nôngd ân đã làm chủ-tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo thu một phần hoặc toàn bộ tài-sản. Tịch-thu tài-sản chỉ là một việc “lấy lệ”, vì dù tòa không tuyên án tịch-thu thì sau này, tới chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất đích thực, toàn-bộ tài sản của mỗi địa-chủ cũng sẽ bị tịch-thu.

Những người bị kêu án tử-hình bị bắn ngay sau khi tuyên án và hố chôn đã đào sẵn, trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên-bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to : “Hồ-chí-Minh muôn năm ! Ðảng Lao-động muôn năm !” thì thủ tục “tư-sản” này bị bãi bỏ. Từ đó về sau, hể tòa tuyên án tử-hình thì tức khắc một cán-bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi. Một điều đáng thương cho những người bị hành-quyết là những tự-vệ xã cầm súng bắn phần nhiều mới cầm súng lần đầu, nên bắn trật bậy trật bạ. Nhiều nạn nhân bị lôi đi chôn chưa chết hẳn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa-chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu-tình. Công-chúng vỗ tay hoan-hô khi nạn nhân ngã gục dưới lằn đạn. Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng-sản đối với địa-chủ cũng in hệt như vậy. Mang địa-chủ ra đấu-tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa-chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục-đích : thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín và gieo khiếp đảm vào trong tâm hồn toàn thể nhân-dân.

Cảì-cách Ruộng-đất còn một hình-thức khác cần phải nói tới là chính sách “cô-lập địa-chủ”. Số người chết vì chính-sách này còn đông gấp mười số người bị Tòa án Nhân-dân Ðặc-biệt kêu án tử-hình.

Chính-sách “Cô-lập địa-chủ”

Hễ bị quy là địa-chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa-chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến-dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến-dịch thứ hai, địa-chủ và gia-đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra ủy-ban có việc. Vì chính-sách “cô-lập” này, phần lớn gia-đình địa-chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau. Mục-đích của chính-sách vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu-diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông-thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống-kê về số người bị chết đói vì chính-sách “cô-lập địa-chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành-phần giai-cấp “địa-chủ” đã bị chết như vậy. Trong bài diễn văn đọc trước Ðại-hội Toàn quốc của Mặt-trận Tổ-quốc, luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường đã nói : “Trong khi đập tan giai-cấp địa-chủ, ta không phân-biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu-diệt”. Cũng về mục này Nguyễn-hữu-Ðang, Bộ-trưởng bộ Văn-hóa trong chính-phủ Việt-minh đầu tiên, đã viết trong báo Nhân-Văn như sau :

“Trong Cải-cách Ruộng-đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch-thu tài-sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu-nhi vô tội trong các gia-đình địa-chủ, hoặc chính là nông-dân bị quy sai thành-phần”.

Quả thực ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai-cấp địa-chủ không khác Ðức Quốc-xã diệt chủng người Do-Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do-Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách-nhiệm về quyết-định của họ trước công-luận và trước lịch sử. Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai-cấp địa-chủ một cái “chết tự nhiên”, không ai mang tiếng giết họ, bắt họ phải “bất đắc kỳ tử”. Ngay cả sau Cải-cách Ruộng-đất, nếu ốm đau, địa-chủ và thân-thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men, trong khi người Do-Thái dưới chế-độ Quốc-xã vẫn có bác-sĩ Do-Thái trông nom. Tình trạng này đã được luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường tóm tắt như sau :

“Khi đưa tới bệnh-viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn-đề mang ra thảo luận trước tiên là : Bệnh-nhân thuộc thành-phần giai-cấp nào ? Chữa cho địa-chủ thì “mất lập-trường”. Ðể nó chết mới chứng minh mình có “lập-trường giai-cấp”.

Những địa-chủ còn sống sót tới phong-trào Sửa Sai . sau phong-trào hạ-bệ Stalin ở Nga . là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia-đình khỏi chết.

(còn tiếp)
 

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem

Phần 1 Cái Vinh & Cái Nhục Của Một Tiểu Nhược Quốc

Phần 2 Nước Mất Lại Còn

Phần 3 Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Phần 4 Cải Tạo Tư Tưởng

Phần 5 Cải Cách Ruộng Đất
           
- Ðại cương về cải-cách ruộng-đất

May 17, 2008

Thư Ngỏ cuả TT Thích Quảng Ba gởi Ông Nguyễn Tấn Dũng

http://blog.360.yahoo.com/blog-GmX2jkElaaeeZdwlEqSVDM7.?p=20

The United Vietnamese Buddhist Congregation of Canberra & Surrounding Districts, Inc. [ABN 20 648 948 015]

SAKYAMUNI BUDDHIST CENTRE

Office: Van Hanh Monastery, 32 Archibald St, Lyneham ACT 2602 Australia. Email: quangba@tpg.com.au; Mob. 0412-224 553

 

Postal Address: PO box 1004 Dickson ACT 2602 Australia; Tel (02) Monastics: 6257 5517; Office: 6257 5280; Fax 6257 7733.

Thư Ngỏ

Kính gởi: Ông Nguyễn Tấn Dũng,

Thủ Tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Hà nội – Việt Nam.

http://www.chinhphu.vn/portal/page?pageid= 33,4074371&dad=portal&schema=PORTAL

Thưa ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tôi viết thư nầy để phản đối Chính phủ Việt Nam (CPVN) đã lạm dụng vị thế là quốc gia duy nhất xin -nên được giao, vì không có chọn lựa khác, khi Thailand ngưng bảo trợ sau 4 năm- tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hiệp quốc (UNDV) 2008 tại Hà nội, để rồi thay vì tuân hành, trân trọng những quy định và đòi hỏi của Ban Tổ Chức Quốc Tế (IOC), vốn do hảo ý của vị Trưởng Ban và Ban Tổ Chức UNDV cho những năm 2004-7 đã mời gọi và thành lập được, mục đích để cộng đồng Phật giáo quốc tế cùng nhau tổ chức ngày trọng đại nầy, thì CPVN của ông đã hoàn toàn khống chế, chủ động và chỉ đạo toàn bộ từ nội dung đến hình thức của UNDV 2008, và do dụng ý chính trị hóa Lễ hội mang tính văn hóa và tôn giáo nầy thúc đẩy, mặc nhiên CPVN của ông đã tước bỏ hầu hết mọi trách nhiệm và quyền hạn của IOC, trong đó chúng tôi là một Thành viên từ Úc đại lợi.

Chúng tôi cũng phản đối việc

-(1)- CPVN của ông lợi dụng vị thế bảo trợ để thay đổi toàn bộ phương cách, trách nhiệm, giảm thiểu tối đa quyền hạn tổ chức UNDV 2008, như vạch rõ trong Hiến Chế IOC (http://vesakday2008.com/lichsu/ index.php? menu=detail&mid=53&nid=159 ), qua đó IOC lẽ ra phải nắm phần chủ động mọi mặt trong việc tổ chức; và việc

 

-(2)- CPVN từ hồi tháng 9/2007 đã tự ý thành lập một Ban Điều Phối Quốc Gia, do Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ và các Thứ Trưởng điều hành, và một Ban Tổ Chức Quốc Gia do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN-, do Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam -ĐCSVN- Nguyễn Văn Linh năm 1981 ra lệnh thành lập để ‘cải tạo’ -dẹp bỏ- GHPGVNTN của chúng tôi và tất cả những Giáo Hội Phật giáo truyền thống khác, đều đã có mặt tại Việt Nam rất lâu trước 1975) chủ động, mà không hề phối kiểm, tham khảo hay xin sự đồng thuận của IOC; và việc

 

-(3)- CPVN đã cố ý trì trệ không cho IOC tự tổ chức các phiên họp Trù Bị sớm hơn, mãi đến giữa tháng 11/2007 một số khá ít thành viên IOC mới được gặp nhau lần đầu, và cũng chỉ gặp nhau trong một ngày ngắn ngủi để ‘nghe’ 2 thành viên IOC của VN (theo Hiến Chế thì một vị là Chủ tịch IOC và vị kia là Trưởng Ban Hành Chánh của IOC) báo cáo (ở vào tình thế mà dù muốn dù không các thành viên IOC ngoài VN cũng không thể phủ nhận hay sửa đổi), vì tất cả những diễn tiến, cả nội dung và hình thức, của kỳ UNDV 2008 nầy đều đã do CPVN của Ông sắp đặt, quyết định và chỉ đạo tất.

 

Phần cá nhân chúng tôi, như một thành viên IOC với tinh thần trách nhiệm với kỳ lễ hội UNDV 2008, tuy có dự trù đến Việt Nam cùng các thành viên IOI quốc tế khác tham dự các phiên họp trù bị cho UNDV 2008 để trù liệu, góp ý và chung biểu quyết mọi chi tiết tổ chức, nhưng với một thủ thuật do ‘ai đó’ sắp đặt, thư mời hợp lệ chỉ được email đến chúng tôi vài ngày trước phiên họp, và visa chỉ có thể được cấp 20 giờ trước khi phiên họp khai mạc, đã làm tôi thêm phần quyết định không thể tham dự với các thành viên IOC khác.

 

Như mọi người đều đã và rồi sẽ thấy biết, do CPVN của ông khống chế toàn diện, các thành viên IOC ngoài VN, ngay cả 2 thành viên IOC của VN, cũng như trường hợp chúng tôi, được vị Chủ Tịch tiền nhiệm và IOC tuyển thỉnh mời để đóng góp cho 3 cuộc lễ UNDV từ 2005-2007, cả IOC sẽ không ai có thể chủ động trong mọi phần hành tổ chức UNDV 2008.

 

Tuy sức khỏe cá nhân không hoàn hảo, chúng tôi đã 3 năm liên tục rất hoan hỷ hợp tác với các đồng đạo năm Châu góp phần cử hành lễ Tam Hợp kỷ niệm đức Phật, như một danh nhân văn hóa và nhà sáng lập tôn giáo vĩ đại và ân phước chung cho cả nhân loại, mà Liên Hiệp Quốc đã trân trọng tôn vinh.

 

Chúng tôi rất thông cảm với các vị chư Tăng GHPGVN nào nhân cơ hội UNDV 2008 nầy mà cảm nhận chút vui sướng và mừng rỡ có cơ hội được ‘sổ lồng’ sau 33/62 năm bị trói buộc, hạn chế, cấm đoán trong chế độ của Ông, mãi đến nay mới đón nhận được chút đỉnh loại tự do ‘ân huệ’ để tưng bừng tổ chức hay tham dự được cuộc Lễ UNDV 2008 mang tính khoa trương, do chính trị chứ không phải do niềm tin khởi xướng, mà cũng chỉ trong phạm vi khá hạn chế, kỳ nầy. Đúng ra, UNDV 2008 chưa thể gọi là vừa lòng thích ý theo cung cách mà lẽ ra nếu toàn thể Tăng Ni Phật tử VN được thực sự có đủ tự do để tổ chức, chứ không phải nhất nhất mỗi chi tiết đều do Nhà Nước của ông dành quyền chỉ đạo từ trên xuống, thì họ đã làm khác hơn.

 

Nhưng trong nhãn quan và tri kiến của tôi, một Tăng sỹ Úc gốc Việt bình thường, để tạo được chút tin tưởng thật tâm nào nơi hàng Giáo phẩm lãnh đạo của GHPGVN, nhất là giáo phẩm GHPGVNTN cả trong và ngoài nước, cả hai đều đã nhận lãnh quá nhiều đau khổ từ CP của Ông suốt 62 năm qua, về chút thiện chí, nếu có, của CP Ông về nổ lực sửa chữa các lỗi lầm quá khứ đối với nền đạo Phật Việt nói chung và GHPGVNTN nói riêng, CP Ông còn phải làm nhiều điều hơn nữa. Việc CP ông nhận tổ chức cuộc lễ mang tính cơ hội UNDV 2008 nầy hoàn toàn chưa thể gọi là đủ thích hợp để minh chứng thành tâm thiện ý của CP Ông.

 

Do vậy, dù chúng tôi vẫn sẵn sàng đóng góp phần nhỏ nhoi của mình cho các đại lễ UNDV tương lai, nay nhân vì mưu ý chính trị hóa, các mẹo thuật chính trị và kỷ thuật, sự can dự quá đáng, sự kiểm soát toàn diện và sự coi thường vai trò và quyền hạn của IOC, cũng như đối với cá nhân tôi, như đã kể trên, CP Ông hành xử, nên không còn lựa chọn nào khác là tôi phải tẩy chay không tham dự Đại Lễ UNDV 2008 sắp diễn ra ở Hà Nội.

 

Hàng giáo phẩm và quan khách PG quốc tế có mặt ở Hà Nội trong mấy ngày 13-17/5 tới đây cũng sẽ thấu hiểu nhiều hơn, sâu hơn những mỹ từ ca tụng mà chắc là chư Tăng GHPGVN sẽ phải nêu cao trong những diễn văn gởi đến đại biểu tham dự Hội nghị UNDV 2008, nhằm đền đáp những món ‘nợ lễ nghi’ mà quý vị ấy gượng gạo cảm thấy, hay để nhằm mua sự yên ổn, dù là tạm thời, cho ngôi chùa và vị trí đương tại của họ.

 

Tại miền Bắc từ 1946 và tại miền Nam từ 1975, CPVN của ông liên tục duy trì các sách lược đầy sai lầm với PG nói chung, và rất độc ác riêng với Giáo Hội chúng tôi, là Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất -GHPGVNTN-, qua việc CP của ông tiến hành ám hại hàng chục, giam giữ và quản thúc hàng trăm, cưỡng chế hoàn tục và cấm chế hàng ngàn Tăng Ni của tất cả các GH, đến nay vẫn còn trừng phạt, cấm đoán, cản trở hơn 45,000 Tăng Ni không cho họ bảo tồn, và đòi hỏi được bảo tồn, cách thế hành đạo mà họ lựa chọn. CPVN cũng cấm ngăn và lên án phi lý việc chúng tôi thực hiện Hiến Chương và duy trì cơ cấu lãnh đạo đương nhiệm của GHPGVNTN. CPVN của ông trong khi đòi buộc GHPGVN phải cam kết trung thành với, và tồn tại cho, chủ thuyết chính trị lỗi thời mà nhân loại đã xoá bỏ, là Chủ Nghĩa Xã Hội của Đảng CSVN, đồng thời lại không công nhận GHPGVNTN chúng tôi quyền được truyền thừa truyền thống tu hành và lý tưởng phụng sự ‘đạo pháp-dân tộc’ cao quý, đúng đắn suốt 2000 năm qua của PGVN. Có vẻ như CP của ông chưa bao giờ muốn giải quyết những đòi hỏi chính đáng nầy và còn luôn từ chối thực thi quyền tự do tôn giáo theo lề thói mà toàn thế giới đã chấp nhận.

 

Chúng tôi cũng muốn nhân đây chỉ trích việc Nhà Nước VN các cấp, sau 1946 ở miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam, đã hung hãn và mưu kế chiếm đoạt, thậm chí phá hủy, rất nhiều chùa viện và trưng thu, đóng cửa hàng trăm cơ sở giáo dục, từ thiện, xã hội, văn hóa, vv.. của PGVN, hầu hết là của GHPGVNTN, mà hơn 30 năm sau, đến nay vẫn chưa bồi thường hay hoàn trả lại cho chủ nhân.

 

Để nhân quyền và phẩm cách người dân được coi trọng, để đạo đức và luân lý xã hội bớt đà tuộc dốc do những tắc trách và độc tài cai trị của CPVN, chúng tôi đòi hỏi CPVN của ông chấm dứt sách nhiễu, cấm cản, cưỡng chế 45,000 Tăng Ni và 50 triệu Phật tử thuộc nhiều GHPG, mà hãy tôn trọng tính tự trị, tự quản việc thành lập và điều hành công cuộc tu trì, truyền bá, hoá đạo, hành đạo theo truyền thống của mỗi Giáo Hội Phật giáo.

 

Chúng tôi phải được trọn quyền thừa kế, phụng hành, bảo tồn nề nếp tu hành như đức Phật đã dạy, như liệt Tổ tiên hiền 2000 năm qua đã gầy dựng, như GHPGVNTN chúng tôi đã khởi xướng chấn hưng và thừa kế, qua đó Tăng Ni không ai bị bó buộc phải xu phụ thế quyền, và không GH nào bị ép buộc phải tham chính, thân chính, cụ thể như thảm cảnh các đồng đạo chúng tôi trong GHPGVN đang bị CPVN của Ông đạo dẫn, kềm chế một cách quá thô lỗ, khinh xuất.

 

Chúng tôi lấy làm tiếc là trong vài ngày sắp đến, khi hơn 600 khách mời của IOC chúng tôi, bao gồm đồng đạo quốc tế và pháp hữu cao cấp Á châu khả kính của PGVN chúng tôi đến Hà Nội, tuy có thể sẽ được nghênh đón bỡi các vị chư Tăng của GHPGVN thường tiếm xưng là GH duy nhất (mà khá đông trong đó hoặc là đảng viên của ĐCSVN, là chính khách Quốc Hội, viên chức Ủy Ban hay Hội Đồng hành chánh, là ủy viên Mặt Trận Tổ Quốc, đều của ĐCS hay NNCS lại đồng thời mang áo Tăng sỹ, hay là những cựu thành viên của GHPGVNTN chúng tôi do không thể cưỡng lại các áp lực chính trị và hành chánh suốt 27 năm qua đã phải tham gia GHPGVN), nhưng điều chắc chắn là không Tăng khách quốc tế khả kính nào, được CP của ông bao trả chi phí đến Hà Nội tham dự UNDV 2008, sẽ có cơ hội gặp lại để tay bắt mặt mừng với hàng Giáo phẩm quốc nội và hải ngoại của GHPGVNTN chúng tôi (đang bị quản thúc hay quyết định tẩy chay), mà chính cũng là những vị cao Tăng đại biểu đã từng được PG Quốc Tế cung thỉnh đến Colombo 1951 để đồng sáng lập World Fellowship of Buddhists, đến Taipei năm 1966 để đồng sáng lập World Buddhist Sangha Council, đến Belgium 1972, Toyko 1974, Melbourne 1989 v.v. để đồng tham dự các World Conference for Religion and Peace. Cũng trong khoảng 20-25 năm qua, giáo phẩm GHPGVNTN hải ngoại đã từng gặp gỡ, hợp tác, thảo luận với các đại biểu khả kính của Phật giáo quốc tế tại rất nhiều những Hội nghị, những Đại hội PG cấp châu lục hay cấp quốc tế ở Nhật bản, Đài Loan, Nepal, Ấn độ, Miến điện, Thái lan, Tích lan, Mã lai, Tân gia ba, Úc, Hoa kỳ, Gia nã đại, Pháp, vv.. nhưng năm nay 2008 lại không thể gặp nhau tại Hà nội, chỉ vì các vị Tôn túc Giáo phẩm ấy của GHPGVNTN, hoặc 27 năm qua đã bị CPVN của ông ép buộc tham gia GHPGVN, đã 33 năm qua bị thủ tiêu trong nhà tù, trại cải tạo, đã viên tịch trong cô quạnh, hay vẫn còn đang bị CP của Ông giam cầm, quản thúc, hay đã rời bỏ chế độ ‘hà chính mãnh ư hổ’ của Ông để lưu thân hành đạo xứ người, và quyết định tẩy chay UNDV nầy. Sự thiếu vắng giáo phẩm GHPGVNTN tại UNDV 2008 là một xấu hổ cho CPVN.

 

Và đặc biệt là tất cả hàng giáo phẩm GHPGVNTN đều dường như không được chính phủ Ông cho phép IOC long trọng cung thỉnh đến tham dự UNDV 2008 tại Hà nội tuần tới với tất cả vị trí quan trọng và trong vai trò chính thức là hàng lãnh đạo của GHPGVNTN, một GH hợp đạo và hợp pháp với quá trình 57 năm thành lập, tồn tại và phát triển tại đất nước Việt Nam, và nguyện chỉ phụng sự cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam, chứ không cho một chế độ và một chủ thuyết chính trị nào.

 

Chúng tôi do đó đòi hỏi Ông trong cương vị là Thủ Tướng của CPVN, hãy khẩn cấp tái xét, thừa nhận và sớm sửa đổi những đường hướng, sách lược thù nghịch, sai lầm mà ĐCS và CP của Ông đã hành xử, đã đối phó với PGVN nói chung, và với GHPGVNTN của chúng tôi nói riêng, suốt 62 năm qua, từ 1946 năm ĐSCVN các ông áp đặt một chính phủ Cộng sản toàn trị lên người dân Việt Nam.

 

CPVN nếu muốn khơi dậy được chút niềm tin và mời gọi được chút thiện cảm chân thật của hàng Giáo phẩm tôn kính và các nhà thiện tri thức thông thái của PG quốc tế, đặc biệt là các khách mời của IOC từ Á châu (nơi các hậu quả khốc liệt do chính sách đàn áp tôn giáo và sự cấm chế khắc nghiệt đối với GHPGVNTN của CP ông được quảng bá sâu rộng và được giới thức giả ghi nhận đầy đủ), CP Ông không nên và không thể hy vọng là sẽ tiếp tục dấu diếm, dối trá, và tiếp tục khoa trương những thành tích không thật có, hay không do Nhà Nước ông làm ra (công cuộc phục hưng và phục hoạt PGVN 10-15 năm qua chủ yếu là do Tăng Ni Phật tử trong nước và hải ngoại thuộc GHPGVNTN, các GH khác, cũng có sự âm thầm phối hợp của nhiều cá nhân Tăng Ni trong GHPGVN, ai nấy tự nguyện giúp nhau, nhọc nhằn, hy sinh, chịu đựng, tiếp trợ, an nhẫn biết bao kỳ thị, hiếp đáp, chống phá, cấm đoán, đe dọa, nhũng lạm của chế độ XHCN, để mới có thể trùng tu được nhiều chùa chiền, đào tạo được nhiều Tăng Ni trẻ, ủy lạo từ thiện cứu tế được nhiều triệu dân nghèo bất hạnh). Chỉ khi nào CP các ông can đãm thừa nhận các sự thật xấu xa, và quyết tâm giải quyết chúng cách dứt khoát, may ra CP ông mới sẽ được các quan khách IOC tham dự UNDV 2008 thật tình trân trọng mà không chỉ bày tỏ các cử chỉ mang tính ngoại giao suông.

 

Chúng tôi nhân đây lập lại 4 yêu sách tiên khởi cần được CPVN của Ông đáp ứng trọn vẹn và thành thật để làm nền tảng cho một đất nước Việt nam có được chút ít công bằng và dân chủ thực sự, mà Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, qua Ngài Viện Trưởng Hòa thượng Thích Quảng Độ khả kính của chúng tôi, đã gởi đến CP ông mấy năm qua, đến nay vẫn chưa được hồi đáp:

 

- “Thứ nhất, CHXHCNVN phải phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ; (TQB chú: GHTN không thể bị coi như là một GH tân lập, không thể bị buộc làm thủ tục đăng ký trở lại như GH mới hoàn toàn trên đất nưóc VN, mà CPVN phải nên thừa nhận Hiến Chương và cấu trúc nhân sự và hành đạo hiện tại của GHTN)
- “Thứ hai, hoàn trả Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tất cả các cơ sở chùa viện, văn hóa, giáo dục, từ thiện mà Nhà nước chiếm dụng sau năm 1975. Bước đầu, hoàn trả ngay cho Giáo hội hai cơ sở chính yếu là Việt Nam Quốc tự và Trung tâm Văn hóa Quảng Đức để Giáo hội có cơ ngơi đặt trụ sở cho Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo;
- “Thứ ba, đưa Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Đảng và Nhà nước thiết lập năm 1981 ra khỏi Mặt trận Tổ quốc;

 

- và “Thứ tư, làm sáng tỏ cái chết của Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh năm 1978″.

 

Hơn 24 năm qua hành đạo như một công dân Úc, chung lo cho sự phát triển PG khắp nơi, lòng tôi vẫn đau đáu xót xa khi thấy, nghe, biết một đất nước Việt Nam tụt hậu trong mọi lãnh vực so với các lân bang, nhất là nền tảng tâm linh, luân lý, đạo đức suy sụp trầm trọng của đa số trong giới cầm quyền và một số đông trong dân chúng, nên chúng tôi thường nhờ các vị Chủ Tịch Quốc Hội Úc chuyển các yêu cầu (rất tiếc chúng tôi chỉ nhận các hồi đáp tiêu cực) của chúng tôi đến các phái đoàn CPVN của Ông đến thăm Úc, là giữa quý Ngài lãnh đạo GHPGVNTN chúng tôi và các đại diện thích hợp của phía CPVN, phải bắt đầu có những thương nghị song phương, tốt nhất là tại Việt nam, hay nếu cần thì hải ngoại, để CPVN nghiêm túc lắng nghe và giải quyết các yêu sách hợp lý, hợp tình của GHPGVNTN, qua đó CPVN có thể nhìn nhận và sửa đổi các sách lược sai trái trong quá khứ và hiện tại đối với PGVN và với GHPGVNTN, mà trước nhất là 4 yêu sách của Viện Hoá Đạo chúng tôi. Cũng trong nền tảng đạo lý làm người Việt Nam, CPVN của ông phải nên chấm dứt việc sử dụng truyền thông đại chúng để mạ lỵ, vu khống, châm chọt, khích động gây chia rẽ cách rẻ tiền với hàng Giáo phẩm GH chúng tôi cả trong ngoài nước.

 

Chỉ khi nào các truyền thống và các giáo hội PGVN có đủ tự do hành đạo theo lương tri, đạo nhãn của chúng tôi, một cách tự do, trong một khuôn khổ pháp luật thích hợp tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và công bằng xã hội, và tách rời mọi áp lực chính trị, như tất cả hay hầu hết khách mời UNDV 2008 của Ông đang đương nhiên được hưởng nhận nơi mọi đất của nước của họ, thì nền PGVN mới có thể góp phần hữu hiệu chuyển vận chánh pháp để xây đắp nền hòa bình thịnh vượng đầy ý nghĩa và nền tự do đầy nhân phẩm cho dân tộc và đất nước Việt Nam. Đảng và Chính phủ của Ông phải nhận lãnh mọi trách nhiệm lịch sử làm cho đất nước đổ vỡ, nền văn hiến lịch sử của dân tộc suy vong qua việc cấm đoán những tiêu chuẩn công bằng xã hội tối thiểu vừa nêu.

 

Chúng tôi đòi mong Ông Thủ Tướng ưu tiên giải quyết 4 yêu sách của Hòa Thượng Viện Trưởng chúng tôi.

 

Chúc Thủ Tướng và chính phủ Việt Nam mạnh dạn thực hiện được những cải cách chính trị quan trọng, sao cho các đòi hỏi của toàn dân về một đất nước có dân chủ, nhân quyền và tự do, no ấm sớm được đáp ứng.

 

Trân trọng

 

 

Tăng sỹ Thích Quảng Ba

 

- Viện Trưởng Tu viện Vạn Hạnh, Canberra

 

- Giáo Hội Trưởng, GHPGVNTN Hải ngoại thủ đô Canberra.

 

- Thành viên Ban Tổ Chức Quốc Tế, UNDV 2008.

 

Australia 10/5/2008. (thư hồi đáp nếu có, xin dùng email hay bưu chỉ ghi ở letterhead)

 

Gởi lúc 10.35pm AEST Monday 12/5/2008 qua website của Ông N.T.Dũng: http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,4075180&_dad=portal&_schema=PORTAL .

May 6, 2008

Tháng 4, 1865 – Tháng 4, 1975

Phan Quang Tuệ & Đỗ Thái Nhiên

“… Văn hoá là quốc hồn. Văn hoá đi vắng. Quốc hồn bay xa. Lòng yêu nước của người dân mờ phai. Hiện nay, đa số người dân Việt gần như không nghĩ đến nghĩa vụ bảo vệ non sông. Trong khi đó …”

1
Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Đại tướng Robert Lee, thống lãnh quân đội miền Nam, cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appomattox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge, nơi tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appomattox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về… Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của tướng Grant, thống lãnh quân đội miển Bắc, bước vào phòng riêng của tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của tướng Grant. Sau cùng tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hoà”, tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Đại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của tướng Grant chưa kịp đến tay tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.

5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appomattox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng chủ nhật 9/Apr/1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phiá bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, cuả hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và “chém vè” cũng không được.

Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, tướng Lee được tin khấp báo của tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Đại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”. Lập tức tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước tướng Grant”.

Nơi được chọn để nghị hoà là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appomattox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.

Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và tướng Grant bước vào. Khác hẳn với tướng Lee, tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.

Theo lời yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau đó tự tay trao cho tướng Lee xem lại.

Chậm rãi, từ tốn, tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.

“….Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.

Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.

Tướng Lee nói, “Thưa Đại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam cuả tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.

Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

Trận đánh quyết định tại Five Forks (Tháng Tư 1865)

Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam.

Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”

Thưa, quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.

Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của tướng Grant, bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.

Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hoà. Khi ngựa tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.

Tin đồn đầu hàng của tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Súng ống các loại, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.

4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.

Cách đó không bao xa, tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, tướng Lee hướng về họ và nói: ”Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng tôi nặng chĩu và không thể nói gì hơn”.

Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các anh em hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.

Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.

Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.

Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.

Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: ” Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.

Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.

Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.

Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…
2
Bây giờ, xin tạm gọi ngày 09 tháng 04 năm 1865 tại Mỹ là tháng 04/1865, và 30/04/1975 tại Việt Nam là tháng 04/1975. Một số người cho rằng Mỹ là quê hương của “Cow Boy”. Mỹ là xã hội sống theo phương châm “Bắn nhanh thì sống, bắn chậm thì chết”. Mỹ là nơi “mắt đổi mắt, răng đổi răng”. Tại sao giữa những tin đồn hung hiểm như vậy, người Mỹ lại có được tháng 04/1865 tuyệt vời như thế kia? Tuyệt vời bởi lẽ sau nhiều năm quần thảo với nhau trên núi xương, sông máu, người Mỹ đã nhanh chóng làm hoà với nhau, lấy tình tự dân tộc làm gốc. Tuyệt vời bởi lẽ biến cố Tháng 04/1865 đã nêu bật tình cảm rằng cả người thắng lẩn kẻ bại đều thiết tha và chân thành tôn kính lẩn nhau. Tuyệt đối không có cảnh “nhảy múa trên đau khổ của kẻ bại”. Người đích thực là kẻ chiến thắng trong 04/1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ.

Mang tháng 04/1865 đặt cạnh tháng 04/1975, mọi người, kể cả những người khác biệt chính kiến, đều có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt lớn lao sau đây:

- Chiến bai trong 04/1865 là chiến bại thật. Chiến bại trong 04/1975 là chiến bại biểu kiến (thấy vậy mà không phải vậy). Chiến bại trong 04/1975 là chiến bại của một quân đội bị “Đồng Minh” đâm sau lưng.

- Sau 04/1865, quân Bắc Mỹ không hề trả thù quân Nam Mỹ. Tất cả hình thức ăn mừng chiến thắng đều bị ngăn cấm. Chẳng những không bị ngược đãi, quân Nam Mỹ còn được Bắc quân trao tặng hơn hai mươi lăm ngàn 25000 phần ăn như một lời chúc thượng lộ bình an trên con đường trở về quê hương gốc. Sau 04/1975, CSVN ra lệnh mang ra chợ xử bắn những quân cán chính nào của VNCH mà Hà Nội gán cho danh hiệu “ác ôn”. Mặt khác, tất cả thương bệnh binh của VNCH lập tức bị đuổi ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện của Miền Nam Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao những ngày đầu tháng 05/1975 vô số thương binh VNCH, kể cả những thương binh vết thương còn mới nguyên, lê lết khắp phố chợ làng quê…

- Không một người lính nào trong quân đội Nam Mỹ bị bắt giam như những tù binh. Ngược lại, tại Việt Nam 04/1975, CSVN bắt giam nhiều trăm ngàn quân nhân từ tướng đến binh (an ninh tình báo) của VNCH. Hành động bắt giam này được thực hiện bằng lời kêu gọi mang theo mười ngày lương thực nhằm tạo cho “nạn nhân” hiểu lầm là họ chỉ đi “học tập cải tạo” mười ngày. Trong thực tế 10 ngày có nghĩa là một hai thập niên tù khổ sai.

Khi mùa dứt chiến chinh trên quê hương tôi (Tháng Tư 1975)

- Tháng 04/1865 quân Bắc Mỹ chỉ tịch thu vũ khí cộng đồng, họ cho phép quan,quân miền Nam giữ lấy ngựa và vũ khí cá nhân như những tài sản riêng. Tháng 04/1975 nhà cửa, xe cộ của sĩ quan cao cấp của VNCH bị tịch thu, vợ con của quân nhân các cấp bị mất việc làm, bị đuổi đi kinh tế mới. Đặc biệt, không chỉ riêng gia đình quân cán chính VNCH mà ngay cả người dân bị goi là “dân vùng ngụy” cũng bị CSVN đánh đòn rất cẩn thận: đánh tư sản mại bản, đánh công thương kỹ nghệ gia, đánh tiểu thương, đánh văn nghệ sĩ, đánh tu sĩ các tôn giáo. Nói chung, tháng 04/1975 là ngày ghi dấu toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian.

Cùng là CON NGƯỜI, tai sao người Mỹ đối xử với người Mỹ khác hẳn CSVN đối xử với người Việt Nam? Phải chăng văn hoá Mỹ khác với văn hoá Cộng Sản? Đúng rồi, văn hoá CS hoàn toàn phản lại văn hoá của loài người. Nhóm chữ “văn hoá CS” chỉ là kiểu dùng chữ tạm thời, giúp cho sự diễn đạt được nhanh chóng. Văn hoá là sự thăng hoa của văn minh, là cao diểm của văn minh NGƯỜI. Xuất phát từ tiền đề triết học duy vật( kim chỉ nam của đấu tranh giai cấp), trong tim óc của môn đồ Cộng Sản không có chỗ dành cho Con Người. Thoạt tiên Karl Marx dạy người CS hãy nhóm lên ngọn lửa đấu tranh giai cấp để thống tri xã hội. Thế nhưng trong thực tế ý niệm giai cấp rất mơ hồ. Ghét ai thì gọi người đó là phú nông, địa chủ. Thương ai thi goi người đó là “tư sản dân tộc”. Mặt khác, theo đà phát triển của văn minh loài người, triết học Marx đã hiện nguyên hình là một quái tượng tư tưởng vô cùng to lớn . Từ đó, người Cộng Sản, đặc biệt là CSVN, hoàn toàn mất hướng suy nghĩ. Tuy nhiên, trong cuộc đời mất hướng kia, thói quen đấu tranh giai cấp đã hằn sâu trên tim óc của người CS ba phương châm sống gọi là “ba ác” mà người CS cho là cực kỳ khôn ngoan:

(1). Ác một là: Sống tức là đấu tranh chống những người chung quanh (kể cả đồng chí) để vươn mình lên, để cai trị mọi người, để tước đoạt tài sản của người khác càng nhiều càng tốt.

(2). Ác hai là: Sẵn sàng thực hiện bất kỳ điều ác nào, kể cả giết cá nhân hay tập thể người, nhằm hoàn tất cho bằng được mục tiêu số (1)

(3). Ác ba là: Phương châm (1) và (2) phải được dấu tuyệt đối kín. Sống để bụng, chết mang theo. Nhằm tăng cường cho công việc dấu kín kia, người CS phải lòe bịp người đời bằng cách thường xuyên đề cao Trời Phật, tình Người, tình yêu tổ quốc, yêu nhân loại.

Muốn tìm ra lý do tại sao có sự khác biệt lớn lao giữa tháng 04/1865 và 04/1975 chúng ta hãy căn cứ vào “ba ác” kể trên để theo dõi hành động của đảng CSVN từ 1954 đến ngày nay, 2008.

1955 và các năm kế tiếp, CSVN nhân danh giai cấp bần cố nông đánh các mặt trận: Cải cách ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án xét lại chống đảng… Mục đích: cướp tài sản của quần chúng nhân dân và củng cố quyền thống trị của đảng.

1968 CSVN nhân danh giai cấp vô sản tàn sát nhiều vạn đồng bào cố đô Huế. Mục đích: khủng bố quần chúng Huế để cưởng bách Huế phải tuân phục Hà Nội.

1975, tháng 04, CSVN vẫn nhân danh giai cấp vô sản một mặt tống giam hàng trăm ngàn quân nhân và nhiều thành phần quần chúng khác nhau, mặt khác đánh tư sản, công thương gia , cưởng đoạt tài nguyên quốc gia, biến tài nguyên này thành tài sản riêng của đảng CS, xuất cảng thuyền nhân, phụ nữ, trẻ em, công nhân lao động… Tất cả những việc làm kia chỉ vì mục đích cướp tài sản của toàn dân và củng cố quyền thống trị.

1985 đến 2008, kinh tế quốc doanh của CS bắt buộc phải đầu hàng kinh tế thị trường, giai cấp tư bản đỏ ra đời ngay càng đông, càng giàu có một cách bất lương. CSVN bắt đầu đổi giọng, không còn nhắc đến giai cấp vô sản nữa, mặc dầu giai cấp nay ngày càng phình to. CSVN công khai phục vụ Trung Quốc, phục vụ doanh nhân quốc tế. CSVN không ngần ngại thẳng tay đàn áp sinh hoạt tôn giáo, những tổ chức yêu chuộng tự do dân chủ, công nhân, dân oan, thanh niên sinh viên biểu tình chống Trung Quôc xâm lược, chống Olympic Trung Quốc….

Quá trình hoạt động của CSVN trong các thập niên qua để lộ ra rằng CSVN cai trị đất nước dưới nhiều lớp áo khác nhau: bần cố nông, vô sản, tư bản đỏ, người bạn thân thiết của doanh gia ngoại quốc, kẻ tôi tớ trung thành của quân xâm lược Trung Quốc…Trong nhiều lớp áo khác nhau kia CSVN bao giờ cũng “đề cao” tình người, tình tổ quốc, tính nhân loại. Hẳn nhiên những đề cao như vậy đều là những đề cao gian dối, những đề cao nằm trong kế hoạch thực hiện “ba ác” của người-CS-biến-thái-sau-khi-chủ-nghĩa-Marx- thất-bại. Nói đúng hơn, sau thất bại của Marx, con người Cộng Sản trở thành con người Mafia. Thế rồi, đảng CSVN với bản chất Mafia đã “Mafia hoá” xã hội Việt Nam qua ba cội nguồn sau đây:

1)
Quan hệ giữa nhà cầm quyền CSVN với quần chúng Việt Nam là quan hệ giữa cá lớn với cá bé, giữa động vật khỏe với động vật yếu. Lâu dần, do ảnh hưởng cách ứng xử của nhà cầm quyền, người dân quay ra đối xử với nhau theo luật mạnh được, yếu thua. Luật này là luật hàng đầu của xã hội Mafia.

2) Nhà cầm quyền CSVN ra lệnh cho báo chí, truyền thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác phải truyền thông theo kiểu cắt đầu, cắt đuôi, bóp méo sự thực. Bằng lề thói truyền thông kia nhà cầm quyền đã dạy dỗ và đào tao người dân thành những kẻ ăn gian nói dối. Ngay thẳng là khờ khạo, gian manh là khôn ngoan. Không gian dối, không phải là Mafia.

3) Biết rõ thế giới kinh tởm bộ mặt Mafia, CSVN thường xuyên nỗ lực che đậy bộ mặt Mafia của họ. Muốn vậy CSVN phải ẩn nấp đàng sau tấm bảng hiệu Karl Marx. Ẩn nấp như vừa kể, CSVN muốn nói với thế giới rằng CSVN không là một đảng trộm cướp Mafia, và rằng CSVN đích thực là một đảng chính trị lấy tư tưởng Marx làm kim chỉ nam. Nhằm giúp cho việc ẩn nấp được chu đáo hơn, “giống thật” hơn, CSVN cưởng bách toàn bộ hệ thống giáo dục của xã hội Việt Nam phải đều đặn học tập chủ nghĩa Marx. Sự thể này đã dẫn đến một sự thực rằng: Trước kia ông Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông ấy đã từng học Marx, theo Marx, đã từng trở thành những người CS biến thái sau khi chủ nghĩa Marx thất bại, đã từng sống theo “ba ác”, đã từng là Mafia. Ngày nay CSVN lôi kéo toàn bộ xã hội Việt Nam đi vào con đường có đầy đủ cái “đã từng” kia.

Cùng là con người tại sao tháng 4, 1865 là thiên đàng, tháng 4,1975 lại là hỏa ngục? Thưa rằng tại vì tháng 4, 1865 người Mỹ đối xử với nhau bằng văn hoá con người so với tháng 4, 1975 CSVN “đãi ngộ” quân dân miền Nam Việt Nam bằng “văn hoá” ba ác, “văn hoá” Mafia. Điều nguy hại hơn nữa là từ sau tháng 4, 1975 cho đến nay, CSVN không ngừng thủ tiêu văn hoá Việt Nam, thay vào đó là “văn hoá” Mafia.

Văn hoá là quốc hồn. Văn hoá đi vắng. Quốc hồn bay xa. Lòng yêu nước của người dân mờ phai. Hiện nay, đa số người dân Việt gần như không nghĩ đến nghĩa vụ bảo vệ non sông. Trong khi đó, tin tức thời sự cho biết dân Tàu đang ồ ạt kéo vào lãnh thổ Ai Lao với lý do kinh doanh, thực tế là lục tìm lương thực. Trong khi đó tin từ Việt Nam cho biết nương vào sự việc từ lâu, CSVN đã cho phép Tàu vào Việt Nam như đi chợ không cần giấy tờ nhập cảnh, nương vào lý do “bảo vệ ngọn đuốc Olympic” nhiều đạo quân Tàu mặc thường phục đang tràn ngập Việt Nam từ Bắc vào Nam. Phải chăng đây là một cuộc đại xâm lăng không bằng súng đạn mà bằng chiến thuật lấy thịt đè người? Đây là dấu hỏi gây nhức nhối tim óc dành cho người Việt Nam trong cũng như ngoài nước vào dịp 30/04/2008 vậy.

Phan Quang Tuệ & Đỗ Thái Nhiên

May 5, 2008

Tai lieu Mat Dang CS dan ap TT Tri Khai va vo hieu hoa GHPGVNTN

******************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
******************************************************************************* 
 
THÔNGCÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 16.4.2008
Tài liệu “Mật” của Đảng Cộng sản huyện Đơn Dương, Lâm Đồng, chỉ thị đấu tố Thượng toạ Thích Trí Khải và đặt GHPGVNTN ra ngoài vòng pháp luật – Hoà thượng Thích Tâm Mãn viết Đơn tố cáo công an đàn áp chùa Sư Tử Hống ở huyện Đức Trọng, Lâm Đồng
 
 
PARIS, ngày 16.4.2008 (PTTPGQT) – Trong hai Thông cáo báo chí phát hành ngày 19.3.08 và 2.4.08, chúng tôi đã báo động tình hình đàn áp Thượng toạ Thích Trí Khải, trú trì chùa Giác Hải ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Nhận chỉ thị của Đảng Cộng sản, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định bãi nhiệm chức trú trì của Thượng toạ Thích Trí Khải và đòi tịch thu ngôi chùa Giác Hải là sở hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).
 
Theo tiết lộ của Thượng toạ Thích Như Tấn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng, thì mục tiêu nhằm dẹp bỏ các ngôi chùa thuộc GHPGVNTN và trừng trị những ai theo GHPGVNTN là việc phát quang cho Đại lễ Phật Đản Tam hợp do nhà cầm quyền Cộng sản tổ chức trên 55 tỉnh thành hầu “chứng minh” với thế giới là Việt Nam Cộng sản tôn trọng “tự do tôn giáo”.
 
Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tôn trọng “tự do tôn giáo” đến mức độ nào ? và như thế nào ? Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin trưng bằng cớ về cái gọi là tôn trọng ấy thông qua “Kế hoạch Mật” mang số 44-KH/BCĐ gọi là “Kế hoạch đấu tranh với Thích Trí Khải lợi dụng Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động cho Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống lại Ban Đại diện Phật giáo huyện Đơn Dương và Giáo hội Phật giáo Việt Nam”.
 
Kế hoạch Mật này do “Đảng Cộng sản Việt Nam, Huyện uỷ Đơn Dương – Ban chỉ đạo Công tác tôn giáo” viết ngày 13.9.2007, gồm 4 trang, khổ A4, qua 5 đề mục :
1. Tình hình Phật giáo và hoạt động tôn giáo của đạo Phật ; 2. Mục đích yêu cầu ; 3. Phương pháp đấu tranh ; 4. Thời gian tiến hành ; và 5. Biện pháp tiến hành.
 
Phần tình hình Phật giáo cho biết “Đạo Phật ở Đơn Dương có khoảng hơn 21.000 quần chúng có đạo, cơ sở thờ tự gồm 15 chùa được hình thành trước năm 1975. (…) Đặc biệt từ sau năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) ra đời (…) đề ra là “đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội”. (…) Song bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình trong các chức sắc tăng ni trên địa bàn huyện còn có một số mặt hạn chế (…) và cá biệt có Đại đức Thích Trí Khải trụ trì chùa Giác Hải  – thị trấn Thạnh Mỹ chưa chấp hành chỉ đạo của Ban Đại diện Phật giáo huyện, của Ban trị sự Phật giáo Lâm Đồng (…) cụ thể là đã chấp nhận tán đồng và nhận làm việc cho cái gọi là “Phật giáo Việt Nam Thống nhất” dưới sự chỉ đạo của Thích Quảng Độ, nhận làm Phó Ban đại diện Phật giáo Việt Nam Thống nhất của tỉnh Lâm Đồng. (…) Đặc biệt là ngày 2.9.2007 (…) Thích Trí Khải đã tuyên bố và tự nhận là Phó Ban đại diện Phật giáo Việt Nam Thống nhất của tỉnh Lâm Đồng và tuyên bố chùa này (chùa Giác Hải) là chùa của ông ta trụ trì không có ai được chỉ đạo điều hành ông ta ».
 
« Xuất phát từ diễn biến tình hình như trên. Ban chỉ đạo tôn giáo huyện Đơn Dương xây dựng kế hoạch đấu tranh chống hoạt động tôn giáo trái phép của cái gọi là « Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất » của Thích Quảng Độ và Thích Trí Khải tại chùa Giác Hải như sau :
 
« II. Mục đích yêu cầu :
 
« 1. Đấu tranh hoạt động tôn giáo trái phép của cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất của Thích Trí Khải là đấu tranh của Nhà nước và nhân dân ta (PTTPGQT nhấn mạnh) với âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Nhà nước, phá hoại truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta.
 
« 2. Đấu tranh hoạt động tôn giáo trái phép của Thích Trí Khải nhằm vạch rõ những sai trái trước quần chúng (nghĩa là tố khổ như thời Cải cách Ruộng đất, PTTPGQT chú thích) (…).
 
« 3. Đấu tranh việc lợi dụng Giáo hội của Thích Trí Khải để hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là cuộc đấu tranh kiên quyết và tiến tới cô lập vô hiệu hoá Thích Trí Khải với quần chúng có đạo và kể cả trong các tăng ni đồng thời ngăn chặn về tư tưởng cũng như những hoạt động trái phép của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trên địa bàn huyện (đây là định nghĩa đúng chính nhất về cái gọi là « tôn trọng tự do tôn giáo » dưới chế độ Cộng sản, PTTPGQT nhấn mạnh và chú thích)».
 
Sau đó, Kế hoạch Mật chỉ thị về « Phương pháp đấu tranh » : « Đấu tranh với Thích Trí Khải là đấu tranh giữa Phật giáo Việt Nam với cái gọi là tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trên phạm vi địa bàn huyện, phải phối kết hợp chặt chẽ giữa Ban đại diện Phật giáo huyện với Mặt trận và các đoàn thể và các cơ quan chức năng (…) chủ yếu là vận động quần chúng đấu tranh giải quyết với đối tượng lợi dụng tôn giáo. (…) Các cơ quan chức năng phải tập trung thu nhập, củng cố chứng cứ các văn bản khiếu kiện của nhân dân, quần chúng có đạo về phẩm hạnh và đạo đức của Thích Trí Khải trước khi tổ chức triển khai. (…) Các cơ quan chức năng phối hợp cùng với Ban đại diện Phật giáo huyện trên cơ sở về những chứng cứ phẩm hạnh đạo đức và các hành vi hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất của Thích Trí Khải có văn bản báo cáo đề xuất chính kiến của mình đến Ban Phật giáo tỉnh, đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện và các ngành chức năng ».
 
Kế hoạch Mật chỉ định « Thời gian tiến hành » là « Từ nay đến tháng 10 năm 2007 chỉ đạo thống nhất từng kết quả cuộc đấu tranh ở Ban đại diện, Mặt trận và các ngành chức năng. Đầu tháng 11 năm 2007 họp rút kinh nghiệm ».
 
Còn « Biện pháp tiến hành » đi ba bước :
 
« 1. Ban chỉ đạo tôn giáo huyện yêu cầu Ban dân vận, Mặt trận, các đoàn thể, ngành pháp luật, Phòng tôn giáo và dân tộc huyện, Đảng uỷ thị trấn Thạnh Mỹ quán triệt kế hoạch này và tích cực chủ động triển khai.
 
« 2. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, các đoàn thể của huyện phối kết hợp với Mặt trận, các đoàn thể ở thị trấn Thạnh Mỹ xây dựng kế hoạch tuyên truyền vận động quần chúng đấu tranh với Thích Trí Khải, kế hoạch đều thông qua cấp uỷ 2 cấp trước khi tiến hành.
 
« 3. Ban chỉ đạo tôn giáo huyện giao cho các đơn vị chức năng phối hợp tổ chức thực hiện gồm : Ban dân vận Huyện uỷ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, Công an huyện, Phòng dân tộc và tôn giáo huyện, Đảng uỷ thị trấn Thạnh Mỹ trong đó có Ban dân vận Huyện uỷ chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp hoạt động các đơn vị trên ».
 
Kế hoạch Mật nói trên do ông Lý Văn Kiệt ký, với chức vụ Phó Bí thư kiêm Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo thuộc Huyện uỷ Đơn Dương của Đảng Cộng sản Việt Nam.
 

Bản gốc của Kế hoạch Mật, trang 1 và trang cuối
Đọc những trích đoạn quan trọng trong 4 trang Kế hoạch Mật người ta nhận ra các điều chủ yếu sau đây :
 
Một là, ngay trong việc xử lý một Thượng toạ Phật giáo trên lĩnh vực thuần tuý tín ngưỡng, thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tức Giáo hội Nhà nước chỉ là con bù nhìn. Vì kế hoạch gọi là « đấu tranh » với Thượng toạ Thích Trí Khải do Ban Chỉ đạo Công tác tôn giáo thuộc Huyện uỷ của Đảng Cộng sản huyện Đơn Dương quyết định, sắp đặt, xuống lệnh cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước thi hành. Tệ hơn, Giáo hội Nhà nước cũng không được trực tiếp thi hành lệnh của Đảng, mà phải ngồi chơi xơi nước chờ sự phối hợp khai triển kế hoạch của « Ban dân vận Huyện uỷ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, Công an huyện, Phòng dân tộc và tôn giáo huyện, và Đảng uỷ thị trấn Thạnh Mỹ ». Hoá ra Giáo hội Phật giáo Nhà nước chỉ là anh lính lệ cầm cờ chạy hiệu trước hay sau chiếc kiệu của các ông Quan Cách mạng.
 
Hai là, xuất phát từ « tội tổ tông » khiến cho Kế hoạch Mật xuất hiện, là Thượng toạ Thích Trí Khải phục vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chứ không chịu bó thân về với Giáo hội Nhà nước. Nhưng Kế hoạch Mật không xử lý trực tiếp vào « tội tổ tông » này, mà Đảng chị thị « Các cơ quan chức năng phải tập trung thu nhập, củng cố chứng cứ các văn bản khiếu kiện của nhân dân, quần chúng có đạo về phẩm hạnh và đạo đức của Thích Trí Khải ». Nói rõ là tạo sự vu cáo phẩm hạnh đạo đức của Thượng toạ Thích Trí Khải để kích động nhân dân phỉ báng, từ đó đôi đũa thần Cộng sản gõ thành « chứng cứ phạm pháp ». Nghĩa là vu vạ tội vô bằng cớ cho người hiền lương trước khi kết tội thông qua cơ quan pháp lý.
 
Nhưng lệnh Đảng được thi hành như thế nào ?  – Kiến nghị chống Thượng toạ Thích Trí Khải của Ban Đại diện Phật giáo Nhà nước huyện đơn Dương chỉ thu được 13 chữ ký của 13 « Phật tử ». Thế nhưng ngày 19.3.2008, trong một Kiến nghị phản chống sự vu cáo hàm hồ của Giáo hội Nhà nước, 239 Phật tử chùa Giác Hoa ký tên bảo vệ Thượng toạ Thích Trí Khải. Thế mới biết rằng : Đảng nhẹ như bọt bóng, Dân mạnh như thủy triều.
 
Ba là, « Ban chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản huyện Đơn Dương xây dựng kế hoạch đấu tranh chống hoạt động tôn giáo trái phép của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất của Thích Quảng Độ và Thích Trí Khải tại chùa Giác Hải ». Thế nhưng Nhà cầm quyền Cộng sản chưa hề đẻ ra được một văn bản pháp lý nào quy định Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trái phép hoặc bất hợp pháp. Vậy thì Kế hoạch Mật do Đảng Cộng sản ở huyện Đơn Dương chỉ rặn ra cái quái thai khủng bố của một Nhà nước khủng bố.
 
Kết luận cho thấy Kế hoạch muốn « dứt điểm » đối với Thượng toạ Thích Trí Khải vào tháng 11.2007 quy định trong điểm 4 về Thời gian tiến hành. Nhưng đến giữa tháng 4.2008 này vẫn chưa thể « dứt điểm ». Vì sao ?  – Vì một lẽ dễ hiểu là quần chúng Phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là hậu thuẫn lớn, là cơ sở quần chúng trung kiên và vạm vỡ, tuy thầm lặng, nhưng là thế lực đạo đức làm nghiêng lệch cán cân của nhà nước độc tài.
 
Hoà thượng Thích Tâm Mãn viết Đơn tố cáo gửi các nhà lãnh đạo ở Hà Nội
 
Hoà thượng Thích Tâm Mãn vừa viết Đơn Tố cáo đề ngày 4.4.2008 gửi các Ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng và huyện Đức Trọng. Bản sao gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến.
 
Hoà thượng là Phó Ban đại diện Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Lâm Đồng, và trú trì chùa Sư Tử Hống ở xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đơn Tố cáo đề cập đến việc công an hăm doạ và ngăn cấm Phật tử đến chùa Sư Tử Hống làm lễ An vị Phật, lễ Khai chuông và cầu nguyện cho Quốc thái dân an trong hai ngày 25-26.3.2008 theo truyền thống tín ngưỡng Phật giáo thuần tuý.
 
Để ngăn chặn sự tự do tín ngưỡng của Phật tử chùa Sư Tử Hống, nhà cầm quyền địa phương thuộc các cấp tỉnh, huyện, xã đã chỉ đạo các ban ngành đàn áp theo các thể thức sau đây :
 
1. Họp dân hăm doạ, ngăn cấm không cho Phật tử đến chùa và tịch thu Giấy Mời dự lễ ;
 
2. Mặt trận Tổ quốc và Ban tôn giáo chính phủ họp chư Tăng Ni thuộc Giáo hội Phật giáo Nhà nước tại Tu viện Hương Nghiêm tuyên bố chùa Sư Tử Hống làm lễ « bất hợp pháp », nên công an đang canh gác chặt chẽ, cấm chư Tăng Ni không được đến tham dự ;
 
3. Công an tỉnh gồm các ông Thu, Trung và Bằng, Công an huyện gồm các ông Thế, Tuấn, Hoà và Nguyễn Quang Minh, Công an xã gồm các ông Lê Đình Trường, Đỗ Ngọc Minh và Lê Hoàng, Công an thôn gồm các ông Thành, Lý và Du Kích hợp đồng với một bọn thanh niên đầu gấu vào canh gác quanh chùa lúc 9, 10 giờ đêm. Tiếp đấy uống rượu say tạo lý do gây xáo trộn và hoảng sợ cho chư Tăng và Phật tử trong chùa.
 
4. Các cơ quan chức năng ra lệnh cấm giáo viên không cho học sinh cấp 2 nghỉ học hai ngày để tham dự lễ tại chùa Sư Tử Hống như đã dự trù.
 
Lý do mà Mặt trận Tổ quốc và Ban tôn giáo chính phủ kết án cuộc lễ bất hợp pháp không vin vào một bằng cớ pháp lý nào cả. Vì Hoà thượng Thích Tâm Mãn đã làm đơn xin phép theo đúng thủ tục từ 10 ngày trước. Thế nhưng các cán bộ huyện phán rằng « Báo trình trễ » nên không xét !
 
Trong hai ngày 25-26.3.2008 khi chùa hành lễ, thì công an rải khắp từ ngã ba đường vào chùa trên một lộ trình dài hai cây số rưởi để ngăn chận Phật tử, hăm doạ không cho họ đến chùa lễ Phật và cầu nguyện cho đất nước huy hoàng và dân sống yên vui.
 
Sau khi trình bày các động thái bạo tàn và phi nghĩa, Đơn Tố cáo của Hoà thượng Thích Tâm Mãn kết luận rằng :
 
« Tôi xét thấy đây là sự vi phạm trắng trợn chính luật pháp của Nhà nước Việt Nam và Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia. Cho thấy rằng đến nay tại Việt Nam vẫn chưa có tự do tôn giáo hay nói đúng hơn là Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phi tự do tín ngưỡng, phi văn hoá, phi nhân quyền và phi đạo đức ».

Thủ đoạn chia rẻ, khống chế, tiêu diệt tôn giáo: Tay sai của Phạm Thế Duyệt

Công cụ đánh bóng chế độ của đảng Việt cộng

Cần vạch mặt TỘI ÁC của tên Việt gian, giáo gian này

 

Ngày 10 tháng 11 năm 2007, trong nước cư sĩ Lê Mạnh Thát tức tu xuất Thích Trí Siêu, đã được báo chí Việt cộng đăng hàng tít lớn: Thượng Tọa Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát, chủ tịch Ủy Ban Tổ Chức Quốc Tế Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc ……….. sẽ tổ chức Đại lễ Phật đản và Đại hội Phật giáo quốc tế lần thứ 5 từ ngày 13 đến 17 tháng 5 năm 2008 tại Hà Nội….

Ngày 10 tháng 11 năm 2007 vừa qua tại Sài Gòn, một tước vị khá dài của thầy Lê Mạnh Thát, tức Thượng Tọa Thích Trí Siêu đã được báo chí Việt cộng giới thiệu như sau: Thượng tọa Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, chủ tịch Ủy ban tổ chức quốc tế Đại Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc (IOC) họp báo cho biết là Việt Nam sẽ tổ chức Đại lễ Phật đản và Đại hội Phật giáo quốc tế lần thứ 5 từ ngày 13 đến 17 tháng 5 năm 2008 tại Hà Nội. Cùng ngày nói trên, từ Sài Gòn, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đã trình bày qua điện thoại viễn liên, trong Đại Hội Bất Thường của Giáo hội Phật giáo Thống nhất tại Hoa Kỳ, về lý do và nhu cầu cần có của Giáo Chỉ số 9, do Đức Đệ Tứ Tăng Thống, Hòa Thượng Thích Huyền Quang ban hành vào ngày 8 tháng 9, về tình hình khẩn trương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện nay.

Có thể nói là hai sự kiện đã diễn ra hoàn toàn trái ngược trong cùng một ngày, ngay trên đất nước Việt Nam .

Một đàng thì “hân hoan” về việc sắp tổ chức Đại Lễ Phật Đản do Liên Hiệp Quốc bỏ tiền để mời hơn 4 ngàn người, đại diện của 70 quốc gia đến Việt Nam tham dự lần đầu.

Đàng khác thì nói về pháp nạn đang diễn ra đối với Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, vì “bị trong đánh ra ngoài đánh vào”.

Đối với một dân tộc có truyền thống Phật Giáo lâu đời như Việt Nam, việc Liên Hiệp Quốc chọn để tổ chức Ngày Đản Sinh của Đức Phật là một vinh dự to lớn. Nó không chỉ là ngày vui riêng của một dân tộc mà còn là ngày vui chung của những dân tộc có cùng một nền văn hóa “từ bi hỷ xả”. Việt Nam đáng được nhận vinh dự này. Nhưng vinh dự này lại xảy ra trong một bối cảnh bất thường như hiện nay làm cho người ta phải suy nghĩ: Tổ chức đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc để làm gì?

Trước hết, việc báo chí Hà Nội giới thiệu danh hiệu của Thầy Lê Mạnh Thát vừa là Thượng Tọa, vừa là Tiến sĩ, vừa là Giáo sư mà trong nhà Phật khó chấp nhận. Đây là lối xưng tụng của “xã hội chủ nghĩa”, biểu hiện sự coi thường của một chế độ đối với văn hóa Phật giáo.

Người ta không thể phủ nhận kiến thức uyên bác của Thầy Lê Mạnh Thát, nhưng đặt ông ở vị trí đại diện để lo việc tổ chức Đại lễ Phật Đản trong khi ông không còn ở vị trí đúng nghĩa của một tu sĩ Phật Giáo như trước đây, cho thấy là Hà Nội đã xem thường các nguyên tắc sinh hoạt chính thống của Phật Giáo. Đây là điều bất thường thứ nhất.

Kế đến, nếu Hà Nội muốn tránh né việc đề cử một cao tăng nào đó bên Giáo hội Phật giáo quốc doanh hay bên Giáo hội Phật giáo thống nhất, bằng cách chọn Thượng Tọa, Tiến sĩ, Giáo sư Lê Mạnh Thát làm đại diện ban tổ chức là một đòn thâm độc đánh thẳng vào Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Bởi vì chính sự chọn lựa này đã làm phân hóa ngay trong hàng ngũ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất khi có người ủng hộ và không ủng hộ việc tổ chức này.

Đó cũng là một yếu tố tạo ra tình trạng nguy cấp của Giáo hội mà Hoà Thượng Thích Huyền Quang gọi là pháp nạn. Ai cũng biết Thầy Lê Mạnh Thát từng là một cao tăng bên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và là người sát cánh với Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ, một thời là Đệ Nhất phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Thầy Lê Mạnh Thác hiện đang bôn ba vận động xây dựng Viện đại học Khuôn Việt tại Sài Gòn trị giá 40 triệu Mỹ kim dưới sự “cho phép” của Hà Nội. Những yếu tố này lồng trong khung cảnh Giáo hội Phật giáo thống nhất, đặc biệt là đối với Hoà Thượng Thích Quảng Độ đang bị Hà Nội cho báo chí tấn công liên tục trong thời gian qua, người ta bắt buộc phải đặt nghi vấn về thiện chí này của Thầy Lê Mạnh Thát. Đây là điều bất thường thứ hai.

Sau cùng, ngày đại lễ mừng Đức Phật đản sinh không thể là một biến cố chính trị mà phải là một sinh hoạt tôn giáo thuần tuý. Đây phải là ngày mà mọi tín đồ Phật Giáo được tự do bày tỏ niềm hân hoan của mình đối với các bậc cao tăng đã lãnh đạo Giáo hội. Tiếc thay, Việt Nam chưa có khung cảnh hân hoan này. Mọi thứ còn diễn ra trong tình trạng “xin và cho” từ những công an tôn giáo và nhất là những cao tăng được tín đồ kính trọng lại bị quản thúc, bị tù tội. Cộng sản Việt Nam muốn tổ chức thật linh đình ngày Phật đản năm 2008 không chỉ nhằm phô bày với thế giới rằng Việt Nam có tự do tôn giáo mà còn gian manh hơn, mượn tay chính những người từng một thời ở bên phía hàng ngũ “phản động” đối với nhà nước, nay hợp tác và làm việc hài hòa với chế độ. Do đó mà trong kỳ Phật Đản năm 2008, Cộng sản Việt Nam sẽ trải thảm đỏ mời gọi nhiều “tăng ni” hải ngoại về nước tham dự. Chỉ cần suy nghiệm điều này, ta càng thấy thấm thía và hiểu được lý do vì sao Hòa Thượng Thích Huyền Quang đã phải công bố khẩn cấp Giáo chỉ số 9. Đây là điều bất thường thứ ba.

Ngoài những điều bất thường nói trên, Việt cộng đang bị dư luận thế giới lên án là vi phạm tự do tôn giáo, đặc biệt là Quốc Hội Hoa Kỳ đang xúc tiến thông qua Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam mang số HR 3096. Mới đây, sau hơn 10 ngày điều tra về tình hình đàn áp tôn giáo tại bốn nơi ở Việt Nam, Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ đã cho biết là sẽ đề nghị Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đưa Cộng sản Việt Nam vào danh sách những quốc gia đáng quan tâm (CPC). Rõ ràng là trong khi dư luận thế giới kết án Cộng sản Viêt Nam đàn áp tôn giáo, lại có một số vị từng ở cương vi lãnh đạo Giáo hội, đứng ra giúp chế độ tổ chức sinh hoạt Đại Lễ Phật Đản năm 2008 và có một số vị hăm hở chuẩn bị về Việt Nam tham dự, đúng là thời Pháp Nạn.

November 15 2007
Trung Điền


Âm Mưu của Việt cộng Để Tiêu Diệt Tôn Giáo

(Oct 02/2007)

- * Không riêng gì cá nhân linh mục Nguyễn Văn Lý mà tất cả những nhà tu hành chân chính đều bị CSVN bịt miệng bằng nhiều hình thức!!! 

Theo như Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã viết rất rõ trong Nhận Định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với Phật giáo Việt Nam, thì cộng sản là những người vô thần duy vật, chủ trương tiêu diệt các tôn giáo, vì Marx cho tôn giáo là thuốc phiện của loài người mà “bọn” tư bản dùng làm công cụ ru ngủ nhân dân lao động bằng cách khuyên họ cố gắng chịu những khổ cực ở đời này rồi sẽ được đền bù một thiên đường ở kiếp sau để dễ bề bóc lột, trong khi chủ nghĩa cộng sản chủ trương xây dựng thiên đường cộng sản ngay trên mặt đất này. Bởi vậy, cộng sản cho tôn giáo là một trở lực cần phải tiêu diệt.

Tại Việt Nam có hai tôn giáo chính là Thiên chúa giáo và Phật giáo. Cộng sản gọi Thiên chúa giáo là Công giáo mà tiếng lóng của họ là “cứt gà“, còn Phật giáo thì tiếng lóng của họ là “phân gà“.

Tại sao họ lại gọi là cứt gà và phân gà? Tức họ cho Công giáo khó tiêu diệt hơn Phật giáo. Họ phân tích rất kỹ và vì nhiều lý do, nhưng quá dài không thể kể hết ra ở đây, tôi chỉ tóm tắt sự phân tích của họ như sau:

- Cộng sản đánh giá Công giáo tuy là số ít, nhưng là những con sư tử, khó tiêu diệt, cũng như cứt gà sáp (cứt gà ướt sền sệt) đã dính vào quần áo thì chỉ còn cách cắt bỏ chỗ ấy đi thôi, chứ giặt khó sạch lắm; còn Phật giáo tuy là số nhiều, nhưng chỉ là những con cừu, dễ tiêu diệt, cũng như phân gà khô, chỉ cần gạt một cái là sạch! Nhưng dù khó hay dễ thì cuối cùng cũng phải tiêu diệt. Nhưng cách thức tiêu diệt thì tùy từng giai đoạn, tùy từng nơi chỗ.

Người cộng sản có đường lối gọi là “biện chứng“, nghĩa là mục tiêu họ đã đặt ra là phải đạt cho bằng được; nhưng trên đường đi đến mục tiêu ấy mà êm xuôi thì đi đến ngay, còn nếu gặp trở ngại thì tạm thời dừng lại, nếu cần phải lùi thì lùi, cần phải rẽ ngang cũng rẽ ngang, nhưng cuối cùng vẫn phải đạt mục tiêu, châm ngôn của họ là “lùi một bước tiến ba bước“.

Đối với việc tiêu diệt các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, cũng vậy, nếu nơi nào xóa bỏ được ngay mà không gặp chống đối hoặc phản ứng bất lợi, thì họ làm ngay, nếu thấy trở ngại thì họ ngưng lại. Không những ngưng lại, mà nếu xét thấy tôn giáo trong giai đoạn ấy có lợi cho cộng sản thì họ lại lợi dụng tôn giáo tối đa.

Trong chủ trương tiêu diệt Phật giáo Việt Nam cũng không ngoài đường lối ấy.

Chẳng hạn, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, cộng sản Việt Nam cần phải đoàn kết toàn dân, hơn nữa, cũng chưa rảnh tay để nghĩ đến việc tiêu diệt Phật giáo, cho nên họ lại lợi dụng Phật giáo bằng cách lập ra cái gọi là Phật Giáo Cứu Quốc nằm trong mặt trận Liên Việt. Lúc đó “sư cụ” Phạm Thế Long trụ trì chùa Cổ Lễ tại phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, đưa ra lời kêu gọi thanh niên tăng “Tạm xếp cà sa khoác chiến bào“, nghĩa là hãy tạm thời cởi bỏ áo nhà tu để đi cầm súng giết Tây. Thế là hàng loạt sư trẻ bỏ chùa bỏ Phật để đi “yêu nước”. Đây là chính sách dùng một mũi tên bắn hai con chim một lúc: trước mắt có thêm người cầm súng, đồng thời, lại được cái lợi (mà cái lợi này mới là chủ yếu) là tiêu diệt mầm non của Phật giáo trong tương lai! Mà lại dùng chính sư ra lời kêu gọi để tiêu diệt mầm non Phật giáo mới hợp thức, ai trách được cộng sản bắt sư đi lính! Điều đó cũng dễ hiểu thôi: “nếu muốn bắt cò thì phải dùng con cò làm chim mồi, muốn bắt cu thì phải dùng con cu làm chim mồi, chứ nếu muốn bắt cò mà dùng cu làm chim mồi thì bắt sao được”.

Chúa đảng Vietcong

Đó là tình hình của nhiều thập niên về trước, nhưng xét lại trong hoàn cảnh hiện tại, thì chúng ta thấy rõ bản chất của CSVN vẫn không có gì thay đổi, mà lại càng siêu vi hơn trong vấn đề tiêu diệt tôn giáo, mà trong đó Phật giáo cũng là đích nhắm.

Đặt phương án để tiêu diệt
CHXHCNVN đánh phá tôn giáo có muôn ngàn cách, có ba loại hình tiêu biểu rõ nét cần biết đó là:
- Trường lớp đào tạo giáo gian: A 25;
- Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian;
- Và những loại hình giáo gian để phục vụ cho guồng máy đảng trị nhằm thống trị con người.

* Trường Lớp đào tạo Giáo Gian XHCN
Ngân sách quốc phòng dành chi cho ngành công an thật là khủng khiếp! Điều đáng nói là guồng máy công an trị kia lập ra là để phục vụ cho Đảng chứ không phải để lo cho Dân. Có cả cơ quan A 25 là Cục Bảo vệ An ninh – Văn hóa – Tư tưởng mà cũng là trường đào tạo Sư giả (đọc thêm Dương Thu Hương, Tôi là Phật tử theo cách của riêng tôi).

* Những Loại Hình Giáo Gian XHCNVN
Thời-Thế-Lực cộng sản nay đã hết. Cho nên họ không dại gì trực diện đánh phá tôn giáo như cái thuở kiêu binh sau 1975 nữa, chiến lược “dùng con đại bàng nầy khống chế con đại bàng khác” được Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (XHCNVN) áp dụng triệt để trong đánh phá tôn giáo. Rằng có bao nhiêu cột đèn đường trên khắp phố thị là cũng có bấy nhiêu loại hình công an, “ăn teng” công an, để áp chế người dân; cũng như có bao nhiêu loại hình đói nghèo, bệnh hoạn trong sinh hoạt XHCN đều được cộng sản tận dụng để làm công cụ, đặc tình tôn giáo vận đánh phá tôn giáo. Từ xe ôm đến em bé bán vé số đến quán nước lề đường đến bán dạo, đến xin xâm, bói quẻ, đến ông từ dâng hương đình chùa, đền miếu, đến cán bộ về hưu thậm chí cho đến thành phần “đầu trộm, đuôi cướp” cũng đều là “ăng ten”: chỉ điểm công an. Công an cùng với chỉ điểm công an được rãi dầy đặc khắp quán trọ, nhà ga, sân bay, bến tàu, trường học, bệnh viện. Nói chung mạng lưới công an trị của XHCNVN thì có đến 1001 loại hình giáo gian đánh phá tôn giáo.

* Những Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian
Có mấy Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian, đơn cử một vài phương thức tiêu biểu:

1. Dùng người tù trị người tù (Dĩ tù trị tù).
2. Dùng người tù giết người tù (Dĩ tù diệt tù).
3. Dùng tuổi tù giảm án tù.
4. “Mưa dầm thấm đất”
5. “Sa bẫy-vào tròng”…

Việc cài cắm nhân sự: Trong hàng lãnh đạo GHPGVNTN tại Hoa Kỳ 1988, trong số 14 thành viên buổi đầu thì đã có mặt Thượng toạ Thích Tín Nghĩa (1988 ) trong chức danh Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên và GĐPT, Thích Pháp Châu (1988 ) trong chức danh Tổng Thư ký, Bùi Ngọc Đường – (1992); Trần Quang Thuận (1992), họ vốn là đặc tình tôn giáo vận Hà Nội nay đã lộ rõ ra rồi. Để khi đủ mạnh, phát triển thành tổ chức rộng rãi như Hội Thân Hữu Già Lam, Tổ chức Tăng Ni hải ngoại; Tổ chức Tăng Ni Việt Nam hải ngoại, họ đứng lên Xoá Sổ GHPGVNTN theo ba bước: ly khai, tiếm danh, xoá sổ GHPGVNTN theo hướng phục vụ đảng cộng sản.
Chiến lược

* Chiến Lược Cộng Sản Âm Mưu Mượn Tay Giáo Gian Xoá Tên GHPGVNTN
Vận dụng cả guồng máy nhà nước với nhân sự, tiền của không giới hạn vào việc đánh phá GHPGVNTN, diễn biến nầy thật muôn vẻ, muôn màu mà trong số đó, chiến lược: mượn tay Giáo gian Thân Hữu Già Lam tổng tấn công GHPGVNTN theo chiến lược ba bước Ly Khai GHPGVNTN; Tiếm Danh GHPGVNTN; Xoá Tên GHPGVNTN, đây là chiến lược mới trong sách lược đánh phá GHPGVNTN của cộng sản trong giai kỳ mới 2007, việc Thiếu Tướng Vc Trần Tư cùng với phái đoàn Bộ công an ra Tu Viện Nguyên Thiều gặp Đức Tăng thống Thích Huyền Quang hôm 28-08-2007 vừa qua cũng là năm trong ÂM MƯU như thế.

* Ly Khai Giáo Hội Thống Nhất, con đường Phục vụ cộng sản.
Hiện tượng ly khai GHPGVNTN đã nhen nhúm từ những năm 2001 do những cá nhân chủ nghĩa, bè phái, địa phương; nhất là những cái đầu địa phương Hoàng triều cương thổ. Cho đến những năm 2003 nhận thấy đủ mạnh, nắm chắc Thế: trong ngoài, Lực: nhân sự áp đảo đối với hai Thầy Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, họ bèn chủ quan tiến hành ly khai GHPGVNTN do Thích Tuệ Sĩ làm chủ soái.

* Tiếm Danh Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất
Chánh nghĩa Phật giáo Thống Nhất luôn sáng ngời cùng đạo pháp-dân tộc trong suốt hơn 30 năm qua, được cả thế giới, kiều bào, tín đồ trong ngoài nước ủng hộ. Ngay đến những kẻ đánh phá GHPGVNTN cũng phải giả xưng Giáo hội Phật giáo Thống Nhất, tiếm danh Giáo hội Phật giáo Thống Nhất để lừa người. Từ nhiều năm qua cho đến nay, có không ít người tiếm danh Thống Nhất qua nhiều loại hình phi pháp mà điển hình gần đây là tiếm danh GHPGVNTN để quyên góp tiền bạc từ các cá nhân, tổ chức để xây dựng Viện Đại học Khuông Việt tại Saigon cũng như lạm xưng thành viên GHPGVNTN tham gia Ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2008 tại Hà Nội. Từ tiếm danh Thống Nhất họ tạo nên một thế và lực khác với tên gọi Thân Hữu Già Lam. Để khi con chim sẻ Thân Hữu Già Lam đủ lông cánh khả dĩ lướt gió tung mây thì bước tiếp theo là Xoá tên GHPGVNTN để thỏa hiệp và đầu thú cộng sản.

* Âm mưu Xoá tên GHPGVNTN của cộng sản
Chiến dịch xoá tên GHPGVNTN do CHXHCNVN phát động từ nhiều năm nay qua chiêu bài, nào là:

a. Thống Nhất mà không Thống Nhất,
b. theo mô hình Thống Nhất không Huyền Quang không Quảng Độ;
c. Rồi nào là xóa bỏ danh xưng Thống Nhất, v.v…

Rồi từ “Hội thảo Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thử thách” năm 2006 của Lê Mạnh Thát-Tuệ Sỹ đến Phật giáo Nhà nước sang dự tổ chức quốc tế Phật đản 2007 tại Thái Lan đến dự kiến Tổ chức quốc tế Phật Đản 2008 tại Việt Nam…, những diễn trạng điển hình trên đây đều là nằm trong mô hình dùng con chim sẻ Giáo hội Phật giáo nhà nước khống chế con đại bàng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) của cộng sản. Nói cho cùng, đây cũng là sách lược mượn danh hoà hợp XHCN để xoá tên Thống Nhất mà thôi.

5 phương thức CS đã tận dụng tối đa, hiện nay họ đang thực hiện phương thức thứ 4 và thứ 5 một cách nhuần nhuyễn, đó là dùng tiền viện trợ và hỗ trợ cho việc phát triển đất nước vào việc thực hiện việc “mưa dầm thấm đất” và “Sa bẫy vào tròng” để hòng lung lạc những vị chân tu và có thực tài cũng như hủ hoá, sử hư cho bị sa đoạ đối với những vị có tiếng tăm và nhiều đệ tử, để thành nô sư mà bảo vệ cho Đảng và Nhà nước được lâu bền. Dùng danh lợi hoặc những vọng tưởng cao xa, để hòng lừa những vị có học vị và bằng cấp vào tròng.

Người Cộng Sản đã, đang và sẽ dùng mọi thủ đoạn, ngay cả gian ác và khủng bố, đến khi nào còn một mình để trọn hưởng và xây dựng thành công Thiên đường Cộng sản tại trần gian nầy mới thôi.
Nhìn cảnh Phật giáo ở miền Bắc VN trước năm 1975 và tại Trung Quốc theo như cuốn sách “Đường mây qua cõi mộng”, Nguyên Phong dịch thì sẽ hiểu rõ, chùa không còn Thầy trẻ mà chỉ còn lại một vài “Bà vãi già”, vào chùa với toàn là những hình thức mê tín dị đoan. Cảnh mua quan bán chức, rồi mua Thần, bán Thánh, buôn Phật , như các tượng Phật lớn nhất, cao nhất,…tại TQ cũng do Nhà nước chủ trương để thu hút khách du lịch hòng thu lợi, và che mắt thế giới gạt gẩm mọi người, chứ đâu phải thật tình gì đối với Phật giáo, bây giờ đến CSVN đang dùng Nô sư để chia rẽ lên án rồi tranh chấp xâu xé, hảm hại lẫn nhau mà lấy việc mừng Lễ Tam hợp Phật Đản 2551 để gọi là đánh bóng cho chế độ, khiến cho bất đồng quan điểm, sinh ra đối đầu, nghi kỵ, triệt hạ… trong nội bộ, huynh đệ, tông phái lẫn nhau rồi. Đúng vào tội ác ngũ nghịch “phá hoà hợp tăng” và làm mất niền tin nơi Tam bảo, CS đã thành công phần nào rồi, ngày đền trả chắc cũng không còn bao lâu, xin cảnh tỉnh cho những vị có trình độ hãy cảnh giác kẻo sẽ sụp hố, mắc bẫy của CSVN mà tiêu tan sự nghiệp.

Miếng mồi Quốc sư, Hợp nhất Phật giáo để phát triển, và GĐPT Trên Thế Giới để tiến đến thành một “Tổ chức phi chính phủ”… đang treo lơ lửng, và sẽ thành chiếc thòng lọng, siết cổ những ai đưa đầu vào. Hãy lo tỉnh tâm mà Tu niệm cho miên mật, rồi sự nhiệm mầu của Phật Pháp sẽ vận chuyển cho được tốt, chứ đừng vì muốn tỏ ra ta tài giỏi hay có uy tín mà trổ tài, thì không tránh khỏi cái bẫy của các thế lực vô minh đang giăng sẵn, hay là theo Đạo là sẽ bị tám ngọn gió thổi bay mất, uổng lắm thay, tiếc lắm thay!

Nay kính
Hạnh Siêu
(HLTL, CV)

April 17, 2008

Âm mưu của CSVN để tiêu diệt tôn giáo

Hạnh Siêu

Theo như Hòa Thượng Thích Quảng Độ, đã viết rất rõ trong Nhận Định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với Phật giáo Việt Nam thì cộng sản là những người vô thần duy vật, chủ trương tiêu diệt các tôn giáo, vì Marx cho tôn giáo là thuốc phiện của loài người mà “bọn” tư bản dùng làm công cụ ru ngủ nhân dân lao động bằng cách khuyên họ cố gắng chịu những khổ cực ở đời này rồi sẽ được đền bù một thiên đường ở kiếp sau để dễ bề bóc lột, trong khi chủ nghĩa cộng sản chủ trương xây dựng thiên đường cộng sản ngay trên mặt đất này. Bởi vậy, cộng sản cho tôn giáo là một trở lực cần phải tiêu diệt.

Tại Việt Nam có hai tôn giáo chính là Thiên chúa giáo và Phật giáo. Cộng sản gọi Thiên chúa giáo là Công giáo mà tiếng lóng của họ là “cứt gà”, còn Phật giáo thì tiếng lóng của họ là “phân gà”.

Tại sao họ lại gọi là cứt gà và phân gà? Tức họ cho Công giáo khó tiêu diệt hơn Phật giáo. Họ phân tích rất kỹ và vì nhiều lý do, nhưng quá dài không thể kể hết ra ở đây, tôi chỉ tóm tắt sự phân tích của họ như sau:

- Cộng sản đánh giá Công giáo tuy là số ít, nhưng là những con sư tử, khó tiêu diệt, cũng như cứt gà sáp (cứt gà ướt sền sệt) đã dính vào quần áo thì chỉ còn cách cắt bỏ chỗ ấy đi thôi, chứ giặt khó sạch lắm; còn Phật giáo tuy là số nhiều, nhưng chỉ là những con cừu, dễ tiêu diệt, cũng như phân gà khô, chỉ cần gạt một cái là sạch! Nhưng dù khó hay dễ thì cuối cùng cũng phải tiêu diệt. Nhưng cách thức tiêu diệt thì tùy từng giai đoạn, tùy từng nơi chỗ.

Người cộng sản có đường lối gọi là “biện chứng”, nghĩa là mục tiêu họ đã đặt ra là phải đạt cho bằng được; nhưng trên đường đi đến mục tiêu ấy mà êm xuôi thì đi đến ngay, còn nếu gặp trở ngại thì tạm thời dừng lại, nếu cần phải lùi thì lùi, cần phải rẽ ngang cũng rẽ ngang, nhưng cuối cùng vẫn phải đạt mục tiêu, châm ngôn của họ là “lùi một bước tiến ba bước”.

Đối với việc tiêu diệt các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, cũng vậy, nếu nơi nào xóa bỏ được ngay mà không gặp chống đối hoặc phản ứng bất lợi, thì họ làm ngay, nếu thấy trở ngại thì họ ngưng lại. Không những ngưng lại, mà nếu xét thấy tôn giáo trong giai đoạn ấy có lợi cho cộng sản thì họ lại lợi dụng tôn giáo tối đa.

Trong chủ trương tiêu diệt Phật giáo Việt Nam cũng không ngoài đường lối ấy.

Chẳng hạn, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, cộng sản Việt Nam cần phải đoàn kết toàn dân, hơn nữa, cũng chưa rảnh tay để nghĩ đến việc tiêu diệt Phật giáo, cho nên họ lại lợi dụng Phật giáo bằng cách lập ra cái gọi là Phật Giáo Cứu Quốc nằm trong mặt trận Liên Việt. Lúc đó “sư cụ” Phạm Thế Long trụ trì chùa Cổ Lễ tại phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, đưa ra lời kêu gọi thanh niên tăng “Tạm xếp cà sa khoác chiến bào”, nghĩa là hãy tạm thời cởi bỏ áo nhà tu để đi cầm súng giết Tây. Thế là hàng loạt sư trẻ bỏ chùa bỏ Phật để đi “yêu nước”. Đây là chính sách dùng một mũi tên bắt hai con chim một lúc: trước mắt có thêm người cầm súng, đồng thời, lại được cái lợi (mà cái lợi này mới là chủ yếu) là tiêu diệt mầm non của Phật giáo trong tương lai! Mà lại dùng chính sư ra lời kêu gọi để tiêu diệt mầm non Phật giáo mới hợp thức, ai trách được cộng sản bắt sư đi lính! Điều đó cũng dễ hiểu thôi: “nếu muốn bắt cò thì phải dùng con cò làm chim mồi, muốn bắt cu thì phải dùng con cu làm chim mồi, chứ nếu muốn bắt cò mà dùng cu làm chim mồi thì bắt sao được”.

Đó là tình hình của nhiều thập niên về trước, nhưng xét lại trong hoàn cảnh hiện tại, thì chúng ta thấy rõ bản chất của CSVN vẫn không có gì thay đổi, mà lại càng siêu vi hơn trong vấn đề tiêu diệt tôn giáo, mà trong đó Phật giáo cũng là đích nhắm.

Đặt phương án để tiêu diệt
CHXHCNVN đánh phá tôn giáo có muôn ngàn cách, có ba loại hình tiêu biểu rõ nét cần biết đó là:
- Trường lớp đào tạo giáo gian: A 25;
- Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian;
- Và những loại hình giáo gian để phục vụ cho guồng máy đảng trị nhằm thống trị con người.

• Trường Lớp đào tạo Giáo Gian XHCN
Ngân sách quốc phòng dành chi cho ngành công an thật là khủng khiếp! Điều đáng nói là guồng máy công an trị kia lập ra là để phục vụ cho Đảng chứ không phải để lo cho Dân. Có cả cơ quan A 25 là Cục Bảo vệ An ninh – Văn hóa – Tư tưởng mà cũng là trường đào tạo Sư giả (đọc thêm Dương Thu Hương, Tôi là Phật tử theo cách của riêng tôi)

• Những Loại Hình Giáo Gian XHCNVN
Thời-Thế-Lực cộng sản nay đã hết. Cho nên họ không dạy gì trực diện đánh phá tôn giáo như cái thưở kiêu binh sau 1975 nữa, chiến lược “dùng con đại bàng nầy khống chế con đại bàng khác” được Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (XHCNVN) áp dụng triệt để trong đánh phá tôn giáo. Rằng có bao nhiêu cột đèn đường trên khắp phố thị là cũng có bấy nhiêu loại hình công an, “ăn teng” công an, để áp chế người dân; Cũng như có bao nhiêu loại hình đói nghèo, bệnh hoạn trong sinh hoạt XHCN đều được cộng sản tận dụng để làm công cụ, đặc tình tôn giáo vận đánh phá tôn giáo. Từ xe ôm đến em bé bán vé số đến quán nước lề đường đến bán dạo, đến xin xâm, bói quẻ, đến ông từ dâng hương đình chùa, đền miếu, đến cán bộ về hưu thậm chí cho đến thành phần “đầu trôm, đuôi cướp” cũng đều là “ăng ten”: chỉ điểm công an. Công an cùng với chỉ điểm công an được rãi dầy đặc khắp quán trọ, nhà ga, sân bay, bến tàu, trường học, bệnh viện. Nói chung mạng lưới công an trị của XHCNVN thì có đến 1001 loại hình giáo gian đánh phá tôn giáo.

• Những Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian
Có mấy Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian, đơn cử một vài phương thức tiêu biểu:
1. Dùng người tù trị người tù (Dĩ tù trị tù).
2. Dùng người tù giết người tù (Dĩ tù diệt tù).
3. Dùng tuổi tù giảm án tù.
4. “Mưa dầm thấm đất”
5. “Sa bẫy-vào tròng”…

Việc cài cắm nhân sự: Trong hàng lãnh đạo GHPGVNTN tại Hoa Kỳ 1988 , trong số 14 thành viên buổi đầu thì đã có mặt Thượng toạ Thích Tín Nghĩa (1988 ) trong chức danh Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên và GĐPT, Thích Pháp Châu (1988 ) trong chức danh Tổng Thư ký, Bùi Ngọc Đường – (1992); Trần Quang Thuận (1992), họ vốn là đặc tình tôn giáo vận Hà Nội nay đã lộ rõ ra rồi. Để khi đủ mạnh, phát triển thành tổ chức rộng rãi như Hội Thân Hữu Già Lam, Tổ chức Tăng Ni hải ngoại; Tổ chức Tăng Ni Việt Nam hải ngoại, họ đứng lên Xoá Sổ GHPGVNTN theo ba bước: ly khai, tiếm danh, xoá sổ GHPGVNTN theo hướng phục vụ đảng cộng sản.

Chiến lược
* Chiến Lược Cộng Sản Âm Mưu Mượn Tay Giáo Gian Xoá Tên GHPGVNTN
Vận dụng cả guồng máy nhà nước với nhân sự, tiền của không giới hạn vào việc đánh phá GHPGVNTN, diễn biến nầy thật muôn vẻ, muôn màu mà trong số đó, chiến lược: mượn tay Giáo gian Thân Hữu Già Lam tổng tấn công GHPGVNTN theo chiến lược ba bước Ly Khai GHPGVNTN; Tiếm Danh GHPGVNTN; Xoá Tên GHPGVNTN, đây là chiến lược mới trong sách lược đánh phá GHPGVNTN của cộng sản trong giai kỳ mới 2007, việc Thiếu Tướng Trần Tư cùng với phái đoàn Bộ công an ra Tu Viện Nguyên Thiều gặp Đức Tăng thống Thích Huyên Quang hôm 28-08-2007 vừa qua cũng là năm trong ÂM MƯU như thế.

• Ly Khai Giáo Hội Thống Nhất, con đường Phục vụ cộng sản.
Hiện tượng ly khai GHPGVNTN đã nhen nhúm từ những năm 2001 do những cá nhân chủ nghĩa, bè phái, địa phương nhất là những cái đầu địa phương Hoàng triều cương thổ. Cho đến những năm 2003 nhận thấy đủ mạnh, nắm chắc Thế: trong ngoài, Lực: nhân sự áp đảo đối với hai Thầy Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, họ bèn chủ quan tiến hành ly khai GHPGVNTN do Thích Tuệ Sĩ làm chủ soái.

• Tiếm Danh Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất
Chánh nghĩa Phật giáo Thống Nhất luôn sáng ngời cùng đạo pháp-dân tộc trong suốt hơn 30 năm qua, được cả thế giới, kiều bào, tín đồ trong ngoài nước ủng hộ. Ngay đến những kẻ đánh phá GHPGVNTN cũng phải giả xưng Giáo hội Phật giáo Thống Nhất, tiếm danh Giáo hội Phật giáo Thống Nhất để lừa người. Từ nhiều năm qua cho đến nay, có không ít người tiếm danh Thống Nhất qua nhiều loại hình phi pháp mà điển hình gần đây là tiếm danh GHPGVNTN quyên góp tiền bạc từ các cá nhân, tổ chức để xây dựng Viện Đại học Khuông Việt tại Saigon cũng như lạm xưng thành viên GHPGVNTN tham gia Ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2008 tại Hà Nội. Từ tiếm danh Thống Nhất họ tạo nên một thế và lực khác với tên gọi Thân Hữu Già Lam. Để khi con chim sẻ Thân Hữu Già Lam đủ lông cánh khả dĩ lướt gió tung mây thì bước tiếp theo là Xoá tên GHPGVNTN để thỏa hiệp và đầu thú cộng sản.

• Âm mưu Xoá tên GHPGVNTN của cộng sản
Chiến dịch xoá tên GHPGVNTN do CHXHCNVN phát động từ nhiều năm nay qua chiêu bài, nào là:

a. Thống Nhất mà không Thống Nhất,
b. theo mô hình Thống Nhất không Huyền Quang không Quảng Độ;
c. Rồi nào là bỏ danh xưng Thống Nhất, v.v…

Rồi từ “Hội thảo Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thử thách” năm 2006 của Lê Mạnh Thát-Tuệ Sỹ đến Phãt giáo Nhà nước sang dự tổ chức quốc tế Phật đản 2007 tại Thái Lan đến dự kiến Tổ chức quốc tế Phật Đản 2008 tại Việt Nam…, những diễn trạng điển hình trên đây đều là nằm trong mô hình dùng con chim sẻ Giáo hội Phật giáo nhà nước khống chế con đại bàng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) của cộng sản. Nói cho cùng, đây cũng là sách lược mượn danh hoà hợp XHCN để xoá tên Thống Nhất mà thôi.

5 phương thức CS đã tận dụng tối đa, hiện nay họ đang thực hiện phương thức thứ 4 và thứ 5 một cách nhuần nhuyễn, đó là dùng tiền viện trợ và hỗ trợ cho việc phát triển đất nước vào việc thực hiện việc “mưa dầm thấm đất” và “Sa bẫy vào tròng” để hòng lung lạc những vị chân tu và có thực tài cũng như hủ hoá, sử hư cho bị sa đoạ đối với những vị có tiếng tăm và nhiều đệ tử, để thành nô sư mà bảo vệ cho Đảng và Nhà nước được lâu bền. Dùng danh lợi hoặc những vọng tưởng cao xa, để hòng lừa những vị có học vị và bằng cấp vào tròng,

Người Cộng Sản đã, đang và sẽ dùng mọi thủ đoạn, ngay cả gian ác và khủng bố, đến khi nào còn một mình để trọn hưởng và xây dựng thành công Thiên đường Cộng sản tại trần gian nầy mới thôi.

Nhìn cảnh Phật giáo ở miền Bắc VN trước năm 1975 và tại Trung Quốc theo như cuốn sách “Đường mây qua cõi mộng” Nguyên Phong dịch thì sẽ hiểu rõ, chùa không còn Thầy trẻ mà chỉ còn lại một vài “Bà vãi già”, vào chùa với toàn là những hình thức mê tín dị đoan. Cảnh mua quan bán chức, rồi mua Thần, bán Thánh, buôn Phật , như các tượng Phật lớn nhất, cao nhất,…tại TQ cũng do Nhà nước chủ trương để thu hút khách du lịch hòng thu lợi, và che mắt thế giới gạt gẩm mọi người. chứ đâu phải thật tình gì đối với Phật giáo, bây giờ đến CSVN đang dùng Nô sư để chia rẽ lên án rồi tranh chấp xâu xé, hảm hại lẫn nhau mà lấy việc mừng Lễ Tam hợp Phật Đản 2551 để gọi là đánh bóng cho chế độ, khiến cho bất đồng quan điểm, sinh ra đối đầu, nghi kỵ, triệt hạ… trong nội bộ, huynh đệ, tông phái lẫn nhau rồi. Đúng vào tội ác ngũ nghịch “phá hoà hợp tăng” và làm mất niền tin nơi Tam bảo, CS đã thành công phần nào rồi, ngày đền trả chắc cũng không còn bao lâu, xin cảnh tỉnh cho những vị có trình độc hãy cảnh giác kẽo sẽ sụp hố, mắc bẫy của CSVN mà tiêu tan sự nghiệp.

Miếng mồi Quốc sư, Hợp nhất Phật giáo để phát triển, và GĐPT Trên Thế Giới để tiến đến thành một “Tổ chức phi chính phủ”… đang treo lơ lửng, và sẽ thành chiếc thòng lọng, siết cổ những ai đưa đầu vào. Hãy lo tĩnh tâm mà Tu niệm cho miên mật, rồi sự nhiệm mầu của Phật Pháp sẽ vận chuyển cho được tốt, chứ đừng vì muốn tõ ra ta tài giỏi hay co uy tín mà trổ tài, thì không tránh khỏi cái bẫy của các thế lực vô minh đang giăng sẵn. hay là theo Đạo là sẽ bị tám ngọn gió thổi bay mất, uổng lắm thay, tiếc lắm thay!

Nay kính
Hạnh Siêu
———

Ghi nhận:Cộng sản khống chế tiêu diệt tôn giáo để xóa bỏ nhân tính, hủy hoại đạo lý, che đậy tội ác

March 22, 2008

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH TÀ ÁC VÀ BẨN THỈU CỦA CỘNG ĐẢNG VIỆT NAM

Ngay từ khi còn thai nghén, đảng Cộng sản Việt Nam đã là 1 chi bộ của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Bản chất của chúng đã là 1 lũ chính trị bán nước. Khi thành lập chúng làm gì có cơ sở. Bản thân Hồ Chí Minh và những tên tay sai phải chui rúc tại hang Pắc Bó. Chúng chỉ phụ họa theo làn sóng bạo lực cách mạng của Tầu Cộng, nối tiếp theo làn sóng đỏ của Các Mác-Lê Nin tại Liên Sô. Đây là bộ đầu não tạo đảo chính tại các nước trên toàn cầu, mà chính đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng chỉ là 1 chi bộ của Cộng Sản quốc tế, phải chấp hành theo lộ tuyến do Hồng quân Liên Sô vạch ra để cướp đoạt chính quyền bằng võ trang và bạo lực cách mạng.

Ở một đất nước có truyền thống văn hóa lâu dài, có nền văn minh nông nghiệp và lối sống bình dị, hiền hòa của người Việt Nam, thì việc gieo cấy tư tưởng Cộng Sản chẳng có chút gì ăn nhập hay thích hợp với dân tộc Việt Nam. Do đó, muốn gieo rắc tà thuyết Cộng Sản ngoại lai này, Việt Cộng phải tiến hành các kế hoạch bẩn thỉu, tạo ra một qúa trình liên tục tích lũy tà ác, bất lương, vô nhân tính nhất trong lịch sử nhân loại:

1- LỪA BỊP GIAI CẤP:
Đầu tiên chúng phải khoác lên cái vỏ bọc “đấu tranh giai cấp” để lừa bịp thành phần nông dân vô sản muốn vùng lên làm chủ đất. Tuyên Ngôn của đảng Cộng Sản Việt Nam là lấy mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp làm cơ sở cho quan điểm lịch sử và là cốt lõi “triết học” nông cạn của Việt Cộng, dựa trên quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất cổ điển. Chúng đã dự đoán phiến diện và thiển cận rằng chủ nghĩa tư bản sẽ bị diệt vong. Nhưng thực tế chỉ là một hình thức dùng “bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản cướp chính quyền” và sau khi cướp được, chúng lại áp dụng một thứ công thức quái gở với định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng qua kinh tế thị trường”, là một nối dài của tư bản chủ nghĩa. Chính bạo lực khiến con người trở nên bạo ngược, nên tà thuyết này của Cộng Sản đều bị con người khắp nơi chối bỏ. Thiên tính của con người là hiền lương, tẩy chay bạo lực, mà hệ thống Cộng Sản chủ trương lấy khủng bố làm cốt lõi, là chối bỏ truyền thống của nhân loại.

Dù chúng khéo che đậy đến đâu, cũng chỉ là nhất thời. Khi bị lộ tẩy, tất nhiên phải bị đào thải. Những khẩu hiệu “giải phóng toàn nhân loại” hay “thế giới đại đồng” của Cộng Sản cũng thu hút và lừa gạt được một số người. Nhất là những kẻ duy lý cực đoan, thù hận xã hội, hay có tham vọng muốn lập chiến tích để ghi danh với lịch sử. Tuy nhiên, vì quan niệm tà ác ấy có tiền đề là đối chọi thiên nhiên, lấy sức người thách thức tạo hóa, đưa ra những thứ hoang tưởng như “thiên đàng Cộng Sản” hay “làm theo sức, hưởng theo nhu cầu” khiến chúng mù quáng tin rằng hiện đại hóa sẽ đem lại tất cả, nên miệt thị gía trị văn hóa truyền thống, coi thường đạo đức dân tộc và ổn định xã hội. Cái vỏ “cống hiến vẻ vang” của Việt Cộng thật sự là cực kỳ phản động và tà ác, đã và đang đảo ngược quan hệ giữa con người, cắt đứt chính họ với gia tộc, tổ tông, phá nát huyết mạch truyền thống tích tụ hằng ngàn năm khiến đảng viên u mê hiến thân cho chúng tạo ra sức tàn sát, phá hoại của Cộng đảng Việt Nam.

2- DỐI GẠT QUẦN CHÚNG, NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO:
Vì tà ác, Cộng Sản luôn nói một đàng làm một nẻo và dối gạt quần chúng không ngừng. Để lợi dụng công nhân thì chúng đưa ra mỹ từ “công nhân tiên tiến”, “giai cấp lãnh đạo”, “đội quân tiên phong của cách mạng” v.v… Để lợi dụng nông dân, Việt Cộng đưa ra câu: “Nông dân là cốt lõi của chuyên chính vô sản”, “không có bần nông thì không có cách mạng” và hứa hẹn “nông dân làm chủ đất nước” v.v… ngay cả giai cấp tiểu tư sản. Khi cần họ quyên tiền ủng hộ thì Việt Cộng gọi là “bạn đồng hành cách mạng” là “tư bản ái quốc”, “Tư bản Dân Tộc”. Nhưng sau khi cướp được chính quyền thì cả tiểu tư sản hay nông dân, công nhân đều bị tước đoạt đến vô sản triệt đễ chẳng còn chút sở hữu nào cả. Thậm chí giới tiểu tư sản bị biến dạng thành “địa chủ” và bị mang ra đấu tố sát hại thẳng tay. “Cải Cách Ruộng Đất” để tiêu diệt giai cấp địa chủ và sau đó “Cải Tạo Công Thương” để diệt giai cấp tư bản “Dân Tộc” sau khi dùng giai cấp này để tố cáo giai cấp “phú nông”, “địa chủ bốc lột” hay “phản
động”.

Tất cả chỉ toàn là thuật ngữ do Cộng đảng tạo ra để qui tội hay lợi dụng một thành phần nào đó trong quần chúng và sau đó, chúng tiêu diệt tất cả để chỉ còn những con vật chỉ biết suy nghĩ theo những gì mà Cộng đảng muốn họ suy nghĩ hay làm những gì mà Cộng đảng muốn họ cung phụng. Cộng đảng muốn dân chúng phải suy nghĩ rằng: Nếu không có Cộng đảng, thì không có tiến bộ. Thật tế, tất cả thành qủa trong xã hội, trong đời sống là do sự nỗ lực làm việc của toàn dân, mà nếu không có sự bức chế của Cộng Sản, thì xã hội sẽ càng tiến triển khả quan hơn. Ngay như qúa trình lập quốc của Dân Tộc Việt Nam, không cần có Việt Cộng chúng ta cũng ngăn được giặc Minh, đánh tan giặc Ân, phá quân nhà Thanh. Nhưng từ lúc Hồ Chí Minh và Cộng đảng xuất hiện, dân ta lại trở thành nô lệ cho Tầu, đàn em của Liên Xô, những thứ “đàn anh vĩ đại” thô bỉ, tham lam vô đáy. Còn “đánh Mỹ cứu nước” xong, cả nước trở thành một nhà tù vĩ đại nhất trong Việt Sử. Tù tập trung và tù chưa tập trung đều giống nhau là không biết ngày mai, không biết tương lai, chỉ lao động quần quật như trâu, bò.

Khác nhau là tù tập trung thì có quản giáo kìm kẹp. Còn tù không tập trung thì do công an khu vực theo dõi và thêm trách nhiệm phải làm vừa lòng lũ chó săn khu vực để được an thân chăm lo tù tập trung bởi lương tâm và nhân tính bản thiện còn sót lại của truyền thống gia tộc. Tất cả đều trong tay sinh sát của Cộng đảng. Như lớp tôm cá nằm trong lưới và lớp tôm cá đã được chứa trong thùng. Nhưng tất cả đều là thận phận con mồi béo bở cho lũ Cộng đảng tùy tiện hút máu hay xẻ thịt.

3- XÚI BẨY NHÂN DÂN KÌNH CHỐNG NHAU:
Ngoài việc lừa dối để reo rắc thù hận, Việt Cộng luôn xúi bẩy nhân dân phân nhóm để đấu tố, kình chống nhau. Chúng gây oán hờn giữa chủ và thợ, gây căm phẫn giữa chủ đất và tá điền, đảo lộn tự nhiên hài hòa thành hỗn loạn, thù nghịch.
Việt Cộng học theo Tầu Cộng, chủ trương tước đoạt tài sản, vừa cướp vừa giết. Giết bản thân địa chủ rồi giết cả người nhà, rồi giết cả gia tộc của địa chủ phú nông. Chính những nông dân còn lương tính không muốn dự phần cướp đoạt, sát hại chủ điền bị Việt Cộng lên án là “xét lại” là “chưa đả thông tư tưởng”. Việt Công dụng công thức 10-1 theo cách 95-5 của Tầu Cộng. Chúng chia dân chúng ra 2 thành phần. 10 và 1. Ai rơi vào thành phần 10 thì tạm an toàn vô sự. Còn rơi vào thành phần số 1 thì bị coi như kẻ thù, cần phải thanh trừng. Vì sợ hãi và muốn an toàn nên người dân phải tự đấu đá nhau để được lọt vào thành phần 10.

Đấu đá này đã gây thù hận sâu sắc trong quần chúng. Đi từ các tổ dân phố cho đến toàn dân. Qua từng chiến dịch, Việt Cộng lần lần cô lập đối tượng, củng cố quyền lực và sau đó mới áp đặt nô dịch người dân càng ngày càng thâm, càng sâu. Ai cũng có thể trở thành một thứ “mật báo viên” không lương, không có quyền lợi, chỉ để được lọt vào thành phần số 10. Còn ai thuộc thành phần số 1 sẽ bị theo dõi, bị cô lập, bị khủng bố, bị áp đảo tinh thần và bằng những hình luật không có văn bản. Tương lai sẽ bị đưa vào các trại tập trung, các tù cải tạo không có ngày mai và không biết ngày về.

4- LƯU MANH LÀ CỐT LỎI CỦA CỘNG ĐẢNG:
Lấy kẻ lưu manh, ngu tối, cặn bã của xã hội thành lập đội ngũ cơ bản là khung thành của Cộng đảng. Những ngòi cách mạng thường xuất phát từ những phần tử này. Ví dụ “Công Xã Paris” do chính những kẻ sát nhân, tội phạm làm chủ chốt.
Thành phần này vốn là những tên đầu trộm đuôi cướp. Chúng không có ngày mai, không có tương lai để ngóng chờ, không có qúa khứ để luyến tiếc hay tài sản vật chất lẫn giá trị tinh thần để thương tổn, nên chúng thường là những tên dám làm, không chần chừ hay do dự, đắn đo.

Chính Mao Trạch Đông cũng đã thú nhận: “Lưu manh cặn bả là tầng lớp vất đi của xã hội, nhưng trong cách mạng nông thôn thì họ dũng cảm, kiên quyết, triệt đễ nhất” (Mao 1927). Theo sự dạy dỗ này của Tầu Cộng, những tên Đỗ Mười, Lê Duẩn là những phần tử xuất thân từ giới cặn bã này, đã được đưa vào Nam để gây rối, chọc thủng nề nếp nho giáo, phóng khoáng của miền Nam. Đối phó với lũ lưu manh này thường chỉ có những “anh hùng hảo hớn” hay hào kiệt phóng đãng mới khắc chế được.

Tiếc thay Đệ Nhất Cộng Hòa đã không có chính sách tùy cơ nên đã tảo thanh những lực lượng của Ba Cụt, Bảy Viễn, khiến những lá chắn cứng cáp này bị xuyên thủng. Do đó, những hành động vô lại như chửi thề, cưỡng hiếp phụ nử, dâm loạn với vợ cấp dưới, thanh trừng đẫm máu là chuyện thường sảy ra trong giới trùm Cộng đảng Việt Nam. Đối với người lương thiện thì nó thật kinh khủng và khiếp hãi. Nhưng đối với Cộng đảng thì đó là “tư cách”. Ngay sau khi chiếm miền Nam. Chính Nguyễn Hộ đã tuyên bố: “Vợ Ngụy ta chơi, con Ngụy ta sai, nhà Ngụy ta lấy, còn Ngụy thì đuổi lên rừng sâu nước độc cho tàn đời”. Đó là “chính sách” cốt lõi của Việt Cộng chứ không phải do cá nhân Nguyễn Hộ đề ra.

5- GIÁN ĐIỆP – LY GIÁN, MUA CHUỘC:
Ngoài những ngón nghề vô lại trên, Việt Cộng cũng thạo món gián điệp, phản gián, ly gián, mua chuộc. Thủ đoạn DỤ – DỖ – DỌA – DIỆT dùng nhà tù làm nơi gia nhập đảng, làm trại huấn luyện, là ngón nghề của Việt Cộng. Những cá nhân mà chúng nhắm tới thì đầu tiên chúng cho người tiếp cận, dùng lời ngon ngọt hứa hẹn, rũ rê (DỤ). Nếu ai vướng bẫy thì thôi. Còn như không nghe, thì chính chúng sẽ báo quan hay báo cho chính quyền sở tại vu khống cho họ là có quan hệ với Việt Cộng. Thế là họ bị điều tra, thậm chí bị tù đầy oan uổng do sự cứng ngắc, làm việc thiếu chính xác của chính quyền. Trong nhà tù, cán bộ Việt Cộng sẽ lân la an ủi, dỗ dành, tìm cách móc nối họ theo chúng (DỖ). Nếu họ bị lừa sụp bẫy thì thôi.

Còn như tuy ấm ức vì bị bắt oan, nhưng vẫn còn đủ lý trí để xa lánh Việt Cộng, thì khi những người này được thả ra, chúng lại mò đến dùng thủ đoạn dọa dẫm nếu họ không theo chúng, sẽ bị báo quan là có liên lạc với Việt Cộng, là điều cấm kỵ. Vì khi được thả ra mà còn tái phạm sẽ bị tù nặng hơn (DỌA). Do đó đành phải cắn răng bước theo chúng ngụp lặn dần trong hố tội lỗi, đọa đày ngày càng sâu nặng hơn không làm sao rút chân ra khỏi. Còn như tới giai đọan thứ 3 này mà ai còn không nghe theo chúng sẽ bị thủ tiêu ngay (DIỆT) rồi vu khống cho chính quyền trả thù, như một ná bắn hai chim.

Riêng ngón “gián điệp” đã được Việt Cộng học từ Tầu Cộng, qua sự chỉ đạo của Trần Canh, chủ nhiệm trường Đặc Vụ Trung Ương của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã từng dùng Tiền Tráng Phi là Bí Thư Cơ Yếu của Trung Hoa Quốc Dân Đảng báo tin tức hành quân cho
Lý Khắc Nông, cận thần của Chu Ân Lai. Hay Tầu Cộng đã cài Trung Tướng Lưu Phi, Thứ trưởng quốc phòng của Quốc Dân Đảng Trung Hoa làm mật báo cho Mao Trạch Đông, nên quân tình bị tiết lộ trước, khiến Tưởng Giới Thạch thua siểng liểng. Đầy tớ Hồ Chí Minh cũng chạy theo đuôi chủ, cũng cài Trung Tướng Nguyễn Bình vào Nam thực hiện ly gián các lực lượng võ trang của Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo. Tuy là đệ tử của Tầu Cộng.

Nhưng do Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam. Y là một gián điệp Tầu Cộng được cài vào gây chia rẽ, gây thảm sát Đông Dương, tiêu diệt sức kháng cự của những lực lượng yêu nước, nên Hồ còn ra tay ác độc hơn cả chủ. Y đã cho ám sát Nguyễn Bình để diệt khẩu. Cả Nguyễn Sơn, một tay du kích chiến lỗi lạc do chính Hồ Chí Minh phái vào Nam cũng bị y thủ tiêu trên đường triệu hồi về Bắc vì sợ uy tín của Sơn gia tăng, sẽ được Tầu Cộng tin dùng hơn, sau khi Sơn hoàn thành công tác phá vỡ các lực lượng du kích miền Nam. Hiện nay, Việt Cộng cũng đang ve vản người Việt tại hải ngoại qua những mỹ từ “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều thương nhớ quê hương”.

Mà trước đó, những Việt kiều này khi vượt biên mà bị chúng thộp được thì tàn đời. Một trong ngón bỉ ổi nhất mà Việt Công dùng để cài điệp, đó là CHỖ KÍN CỦA PHỤ NỬ. Theo tiết lộ của Thượng Tướng (VC) Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy Ban Quân Quản và Trung Tướng (VC) Đỗ Xuân Diễn, Tư Lệnh Quân Đoàn Trường Sơn, thì trong thập niên 1960, Việt Cộng thường đắp mô trên quốc lộ I chặn xe đò trong các khoảng đường gần miền rừng núi. Chờ đêm đến, chúng thả bộ đội ra hãm hiếp phụ nử để “hộ lý”. Đến sáng, khi Quân Đội VNCH đến giải tỏa thì chúng trốn về rừng. Trong số các thiếu nữ nạn nhân bị hiếp có người mang thai, phải gả lấy chồng gấp để tránh tiếng đẻ hoang. Sau khi sinh nở, thì Việt Cộng tại địa phương lần mò đến móc nối những thiếu nữ có chồng là sĩ quan hay quân đội đồng minh. Vì lo cho con mất cha, dù không biết cha của con mình là ai, những nạn nhân đó đã phải thông báo cho giặc những tin tức hành quân để chúng kịp thời đào thoát các cuộc truy kích hay dội bom. Đó là cách cài điệp bỉ ổi mà Việt Công cho là “tinh vi” nhất.

6- TRẤN LỘT NGƯỜI CÓ TÀI SẢN:
Việt Cộng còn dùng bạo lực để trấn lột những người giầu có tại địa phương để trả kinh phí, để nuôi đám công an khu vực như chó sói dòm mồi. Ngón bắt cóc, tra khảo, tống tiền là sở trường của chúng. Thủ đoạn dùng lợi nhỏ chiêu dụ và phân gián các tầng lớp nhân dân dưới những chiêu bài như “đả đảo địa chủ để lấy ruộng, giết phú hào để lấy nhà” hay “truy nã vượt biên để khảo của” là chuyện bình thường dưới mắt Việt Cộng, nếu không nói là chúng còn tự hào về những hành động côn đồ, bỉ ổi này. Nhiều gia đình bị bắt vì tội “vượt biên”, đã bị trấn lột, khảo của cho đến cạn kiệt tiền, da bọc xương. Khi được thả về đến nhà thì kiệt lực, tiêu tán tài sản, tàn hơi ngã chết.

Hệ thống công an khu vực LÀ MỘT MÀN LƯỚI theo dõi, áp đảo và trấn lột lưu manh nhất mà Cộng đảng sử dụng để khủng bố tinh thần dân chúng, biến nhân dân thành những bầy tôi trung thành, ngoan ngoãn dưới ách nô dịch của chúng. Vũ khí mà Cộng đảng dùng để trấn lột dân, duy trì hệ thống cai trị bạo ngược của chúng chính là hệ thống kiểm soát, mà “công an khu vực” chính là công cụ hữu hiệu nhất để đe dọa, áp đặt tinh thần “tuân thủ” lên mỗi người dân. Cho dù Việt Cộng có mâu thuẩn với chính nó hay liên tục thay đổi “chính sách” cũng không thành vấn đề. Vấn đề là đảng vẫn kiểm soát được nhân dân qua hệ thống công an khu vực và tổ dân phố. Sự kiểm soát này không dừng lại trong việc trấn lột, hành xác, mà còn tàn nhẫn bắt nhân dân phải sợ, phải tự hủy các khả năng suy nghĩ độc lập, phải co cụm nhát gan không dám mở miệng hay chỉ mở miệng lặp lại những gì chúng đưa ra, cung phụng những gì mà chúng để ý ham muốn.

7- TẢY NÃO DÂN CHÚNG:
Mục tiêu của Cộng đảng là tẩy não mọi công dân của nó để họ phải suy nghĩ và nói giống như đảng muốn, làm bất kể điều gì chúng tuyên truyền và phải biết cám ơn đảng vì nhờ đảng mới hưởng được những “ân huệ” này. Khi bạn được sử dụng như một phương tiện để tấn công người khác, dù là để tàn hại chính thân nhân của bạn, thì phải cám ơn đảng vì đảng đã đánh gía cao sự trung kiên của bạn. Khi bạn bị đả kích cũng phải cám ơn đảng vì đã giúp bạn phấn đấu, cải tạo. Khi bạn bị đả kích vì hiểu sai, sau đó đảng khôi phục cho bạn thì phải cám ơn đảng đã khoan dung. Những ai suy nghĩ ngoài phạm vi này thì đó là phản động, là tội ác với nhân dân. Tất cả thủ đoạn này được đưa ra để cầm tù suy nghĩ và áp chế tư tưởng của nhân dân. Sự ngu đần được đề cao là “chấp hành tốt”, hèn hạ, nhát gan được coi là “đã thông tư tưởng” và đề cao đảng như thần thánh, như cha mẹ, được gọi là “tiên tiến”. Cuối cùng, ai còn chút lương tri và lương thiện mà phải sống dưới móng vuốt Công đảng, đành phải tự che dấu nội tâm, đè nén suy tư, sống giả tạo với mọi người và lừa gạt chính họ mới có thể tồn tại.

8- PHÁ HOẠI TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC:
Ngón “phá hoại truyền thống và chế độ Quốc Gia” cũng là một trong những lộ tuyến của Việt Cộng. Nguy hiểm hơn nữa vì tuy là một đảng cướp. Nhưng Cộng đảng có tổ chức, có mục tiêu dài hạn và thủ đoạn có sách lược. Chúng không chỉ thuần thúy là một đảng cướp có vỏ trang, mà còn là một thứ vi trùng tấn công vào cơ thể nhân loại, công phá vào các tập quán, tư tưởng truyền thống của dân tộc dưới những chiêu bài “cách mạng”, “diệt cường hào, ác bá” để thanh toán các cấu trúc lâu đời trong nhân gian. “Cách mạng” theo nghĩa của Cộng Sản là bạo động, là dùng võ trang, bạo lực cướp chính quyền. Nhưng tập quán lâu đời của người nông dân Việt Nam là lối sống thâm tình, nồng hậu, hiền hòa và lương thiện. Họ rất yêu thương ruộng đồng, siêng năng cày cấy, vui với xóm làng, chan hòa với bà con lối xóm. Nếu không phá nát truyền thống khiêm cung, ôn hòa, an lạc này của nông dân, thì làm sao Việt Cộng có thể tạo được làn sóng sắt máu, dã man để đấu tố giết địa chủ cướp đất, cướp nhà nộp cho đảng. Còn kẻ đứng ra chỉ điểm hay hung hăng đấu tố giết người chỉ được tiếng là “tiến bộ” chứ không được chia chác gì cả. Mà đôi khi trong những đợt “cách mạng” kế tiếp, những kẻ này lại bị mang ra đấu tố với tội danh “phản cách mạng” hay “biến chất” để diệt khẩu.

Ngón phá hoại truyền thống lương tri và trật tự xã hội qua những “kinh nghiệm” triển khai của Cộng đảng càng ngày càng trở nên thâm độc. Nó diệt sạch tư tưởng, nhân tính và nề nếp xã hội có từ lâu đời, thay vào đó bằng cụm từ “lý tưởng cách mạng”; có nghĩa là chỉ có Cộng đảng mà thôi, không có Trời, không cần Đất, mà cũng chẳng kể đến liêm sỉ và lương tính. Có đảng thì “sỏi đá cũng thành cơm”. Nhưng đảng không ăn sỏi đá, mà đảng cần có cơm ngon, thịt ngọt và gái đẹp cung phụng. Với đảng thì “không có gì qúi hơn độc lập, tự do”. Quí cho đến nỗi không bao giờ người dân có được. Chỉ có đảng mới có “độc lập, tư do” quyết định, không cần dân ủng hộ, mà chỉ cần đàn áp để dân phải ngoan ngoản nghe theo. Nên nhớ Cộng đảng sẵn sàng thủ tiêu bạn vì bạn chống lại nó. Nhưng cũng có thể tiêu diệt bạn vì bạn ủng hộ nó, nếu nó thấy cần tiêu diệt ai, thì nó sẽ tìm cách tiêu diệt, dù là phải mềm dẻo, cận lân rồi mới tiêu diệt.

Do đó, ai đã sống với Cộng đảng hay biết chân tướng của nó đều kinh hãi Cộng đảng; vì với nó, tất cả chỉ là phương tiện để phục vụ cứu cánh duy nhất của Việt Cộng là quyền lợi và sự tồn tại của chúng.

9- DIỆT CHỦNG:

Một thủ đoạn khác của Việt Cộng là diệt chủng. Tất cả những qui trình của Cộng đảng đều xuất phát từ cơ sở lý luận diệt chủng đã học từ Tầu Cộng, đều là những chiến dịch khủng bố, mang tính diệt sạch mọi giai cấp từ trên xuống, để cuối cùng chỉ còn 1 giai cấp đó là giai cấp Việt Cộng sắt máu. Chúng dùng “tư bản DânTộc” diệt “tư sản mại bản”, dùng “tiểu tư sản” diệt “tư bản Dân Tộc”, dùng công nhân diệt tiểu tư sản và dùng nông dân để trấn áp công nhân. Cuối cùng chỉ còn tầng lớp thống trị với những nông dân “cách mạng”, là những tên vô học, dã man và sắt máu như kiểu Lê Duẫn, Đỗ Mười, là tầng lớp chí cốt của Cộng đảng.

Mỗi một chiến dịch của qúa trình Cộng đảng đều mang tính khủng bố, diệt sạch từng tầng lớp nhân dân. Từ khởi đầu, Việt Cộng đã cố hoàn chỉnh tư tưởng diệt chủng qua các lý luận có hình thức ngụy cách mạng như: “đấu tố giai cấp”, “đấu tranh cách mạng”, “bạo lực chuyên chính”, “vận động quần chúng” v.v…thực chất là chia dân chúng ra từng thành phần, rồi dùng số đông đè bẹp, tiêu diệt thiểu số.

Cuối cùng cả đám đông “quần chúng” chỉ là thân trâu bò, tôi mọi, không thoát được công an dòm ngó và họng súng canh chừng, sẵn sàng và dể dàng bị thanh trừng nếu dám thức tỉnh lương tri, mở mắt tìm hiểu sự thật về hoạt động của đảng. Hiện nay, do phải quan hệ với thế giới bên ngoài, để ve vản khách mua – bán, Việt Cộng không thể đưa những tên vô lại, dốt đặc cán mai ra nói chuyện, đành phải lôi cổ những tên có chút vỏ bọc có học như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết ra đánh bóng để lường gạt quốc tế. Như chúng đã từng nặn ra hình ảnh gỉa tạo của Hồ Chí Minh để chiêu dụ thế giới. May thay âm mưu này đã bị đồng bào chúng ta đập vỡ, đã vạch mặt tên Hồ Chí Minh chỉ là gián điệp Tầu Cộng giả mạo người Việt Nam với âm mưu thực hiện nhuộm đỏ Đông Nam Á.

Chính sự khám phá này đã kéo theo sự sụp đổ hệ thống “tư tưởng Hồ”, một thứ trò hề ăn cắp, đạo văn người khác. Tuy nhiên, dù đang là con rối cần thiết. Nhưng chính Nguyễn Tấn Dũng cũng bị răn đe không dám tự hành sự, phải chịu sự chỉ đạo của lũ gìa, dốt, khốn nạn trong nhóm quyền lực đảng. Còn Nguyễn Minh Triết, một tên dốt nát, từng mua bằng tú tài giả để xin gia nhập Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khóa 2 hầu trốn nghĩa vụ quân dịch. Bị phát giác đuổi khỏi trường, không còn chỗ ẩn náu nên y mới trốn vào bưng theo Việt Cộng. Thành phần này cũng có thể làm đến “Chủ tịch Nhà Nước XHCNVN” thì đủ hiểu gía trị của chúng tới đâu.

March 11, 2008

Văn Thư Mật của CSVN chỉ thị ” triệt hạ ” bọn chống Đảng và Nhà Nước ở Hải Ngoại !

Kèm theo đây là 2 tài liệu quý vị nên đọc vì nó là bằng chứng cho thấy (1) CS chống phá GHPGVNTN; (2) CS chứng nhận nhóm Giáo Điểm và ô Bùi Hồng Quang làm lợi cho đảng CSVN.

Tài liệu thứ I là văn thư mật của Đảng CS nhằm để chống phá GHPGVNTN.  Trong văn thư “mật” này, chúng ta có thể nhận thấy CS đã cố tình thành lập GHPGVN (Giáo Hội Phật giáo quốc doanh) hòng để dùng Phật giáo chống Phật giáo.  Dù vậy, trên văn thư “mật” CS đã nhìn nhận họ thất bại vì GHPGVNTN do Đại Lão HT Thích Huyền Quang lãnh đạo vẫn không chịu hợp tác với CS, vẫn ung dung đứng ngoài vòng “pháp luật” của CS để mà chống đảng, cứ nguy cho pháp nạn và quốc nạn.
 
Trong văn thư “mật” này chúng ta cũng có thể nhận thấy họ nhắm vào HT Hộ Giác, HT Chánh Lạc, TT Thích Giác Đẳng, TT Thích Viên Lý, và GS Võ Văn Ái, v.v…CS đặc biệt chú ý tới HT Chánh Lạc và đã nhất quyết “bằng mọi cách phải đuổi tên Chánh Lạc này ra khỏi chùa Như Lai” rồi thì “chúng ta mới có cơ hội diệt trừ nó”. 
 
Cũng trong văn thư “mật” này, CS cho HT Hộ Giác, HT Chánh Lạc, TT Thích Giác Đẳng, TT Thích Viên Lý, và GS Võ Văn Ái là “những bàn tay nối dài” của “Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ….ở trong nước”. 
 
Tiếc thay, tới giờ phút này thì các ngài HT Hộ Giác, HT Chánh Lạc, TT Thích Giác Đẳng, TT Thích Viên Lý, và GS Võ Văn Ái  vẫn là “những ngón tay nối dài” thầy Huyền Quang, Quảng Độ trong nước nhưng Tuệ Sỹ từ năm 2003 – theo sự kết nạp của Lê Mạnh Thát – đã là nhân vật đứng trong vòng ưu ái của bạo quyền.
 
Tài liệu thứ II là tài liệu của CS, ký giấy chứng nhận Bùi Hồng Quang – Giao Điểm  - in tờ báo Giao Điểm tại Việt Nam, và tờ báo này làm lợi cho CS.
 
 
Lưu ý:
 
* Tài liệu chính quá nhỏ, xin quý vị phóng lớn tới 150% mới đọc được,  Song song, chúng tôi có gởi kèm một “phụ bản”, sao y bản chánh, để quý vị có thể đọc được rõ ràng.
 
* Tưởng cũng nên nói thêm một sự việc có liên quan đến Tài liệu thứ I là CS cùng nhóm Việt gian tại Colorado dàn dựng sự việc để “đuổi tên Chánh Lạc này ra khỏi chùa Như Lai” bằng cách mách nước cho 2 thiếu nữ đứng ra vu cáo thầy về tội xâm phạm tình dục.  Theo như hồ sơ rút ra từ toàn án, sau khi bị tách riêng ra để hỏi cung từng người một thì Biện Lý Cuộc đã thấy sự gian trá của 2 thiếu nữ này nên bà đã ra lệnh huỷ bỏ bản án, nhất quyết không truy tố HT Chánh Lạc.
 
Khổ nổi, Bát Dại Huề Thượng (8 vị Hoà Thượng huề vốn) trước đây đã tung ra văn thư chính thức thoá mạ GHPGVNTN, miệt thị Giáo Chỉ số 9, cũng như, vu cáo HT Thích Chánh Lạc bằng cách nhắc lại vụ án này nhưng họ nhắc lại một cách sai trái, nếu không muốn nói tới việc họ đã vi phạm luật khi cố tình đăng sai trái kết quả của bản án này.  Họ cho là HT Chánh Lạc bị phạt tiền về tội xâm phạm tình dục với 2 cô thiếu nữ kia.
 
Khoan nói tới chuyện họ cố tình sai trái trong v/đ loan tin, ai ở xứ Mỹ thì dù có ngu đến mức nào đi chăng nữa (điên không kể, nhất là điên cở Bái Dại Huề Thượng thì không nói) thì cũng biết rằng nếu đã bị toà án và bồi thẩm đoàn buộc tội này thì HT Chánh Lạc phải vào tù, chứ không phải chỉ phạt tiền.  Tu hành hay không thì cũng vào tù.  Không có chuyện phạt tiền rồi lại trở ra ngoài thong dong mà tu tiếp.  Đằng này, Bát Dại Huề Thượng loan tin trong văn thư của họ rằng HT Chánh Lạc bị …. phạt tiền.
 
Nhóm Phật tử trong vùng đã hợp cùng với nhóm Phật tử tại Nam Cali, Missouri, và Houston l/l với HT Chánh Lạc để xin thầy ký giấy uỷ quyền cho họ truy tố Bát Dại Huề Thượng về tội vu cáo nhưng HT Chánh Lạc vẫn cứ lấy lòng từ bi mà nói rằng “Thưa chi tụi con, họ là HT mà họ vu cáo thì họ có tội chứ gì”.  Sau đó, vì vẫn còn ấm ức nên nhóm này đã l/l thẳng với văn phòng toà án, văn phòng của Biện Lý Cuộc để yêu cầu họ làm sáng tỏ nội vụ cũng như nhờ văn phòng Biện Lý Cuộc này truy tố Bái Dại Huề Thượng về tội cố tình xuyên tạc án lệnh. 
 
Sài Gòn Commandos sẽ tiếp tục theo dõi nội vụ và sẽ trình làng trong nay mai về vụ Bái Dại Huề Thượng đã nhờ trời nên trở thành Bát Điên Tù Tội.
 
Để trừ hậu hoạn truyền nhiễm sau nàu, nhóm Sài Gòn Commandos yêu cầu Huỳnh Tấn Lê dẫn Bát Dại Huề Thượng đi khám sở Thú Y, đề phòng 8 vị này đã bị chó dại nó cắn.  Trong Bát Dại Huề Thượng, yêu cầu ô Lê đặc biệt dẫn HT Nguyên Trí đi khám bệnh điên loại ham rờ mó phụ nữ công khai trên máy bay (đã bị bắt tại sân bay ở Nam Cali), trong chùa khi họ tới làm chuyện Phật sự; dẫn ô Nguyên Siêu đi khám bệnh hoan dâm khi ô bày tỏ con lợn lòng của ô trong hotel mà BTS đã cài máy thu âm sẵn và đã bắt ô cùng con lợn lòng của ô tại trận.  Sẵn ô Lê có tiền, mong ô nhủ lòng từ bi bay qua Virginia dẫn ô Thích Vân Đàm đi chữa cũng với ô Thích Nguyên Trí.  Ô Vân Đàm nổi tiếng mò mông, mò ngực các nữ Phật tử khi họ tới tu học với ô.
 
 
* Tưởng cũng nên nói thêm những tin tức có lợi cho HT Nhất Hạnh, hay Bất Hạnh, hay nói cho được đúng hơn nữa là Thất Hạnh do câu
 

Nhất hạnh hữu thất, bách hạnh câu khuynh
(một nết mà hỏng thì trăm nết ngã theo)


đó là lời của ông Thái Công được chép lại trong thiên Chính kỷ (giữ mình cho ngay thẳng) quyển Minh tâm bảo giám (tấm gương báo để soi sáng lòng người), hay cho nhóm Về Nguồn, Tăng Ni Hải Ngoại thì tờ Việt Báo của vợ chồng Nhã Ca + Trần Dạ Từ, hợp tác với Trần Khải – Phan Tấn Hải đều đăng.  Trần Khải – Phan Tấn Hải mà ai ai cũng biết là người đã cùng Bùi Hồng Quang thành lập ra nhóm Giao Điểm (xin coi tài liệu đính kèm về Bùi Hồng Quang và nhóm Giao Điểm).
 
Buồn cười ở chỗ, Việt Báo lại phớt lờ khi nhóm yêu cầu họ đăng hình của Thích Thất Hạnh bay ra Hà Nội, chúc thô cho cựu ĐT Võ Nguyên Giáp, chúc ô Giáp “sống lâu để làm gương cho hậu thế”.
 
* Từ năm 2003 Tuệ Sỹ đã chẳng những không còn đấu tranh cho dân tộc, cho đạo pháp với quý ngài trong GHPGVNTN đã đành, ô còn nhẫn tâm thoả hiệp với CS để có (1) một GHPGVNTN-không-Huyền-Quang-không-Quảng-Độ; (2) Nhập chung GHPGVNTN với GHPGVN làm một, chịu hoàn toàn sự chỉ huy của Đảng CS. 
 
Cũng từ năm 2003 Tuệ Sỹ đã hợp tác với nhóm Về Nguồn, Tăng Ni Hải Ngoại qua các đệ tử của ô trong nhóm Thân Hữu Già Lam để triệt để cô lập nhị vị ĐLHT Huyền Quang và Quảng Độ, đánh phá Võ Văn Ái.  Chính Tuệ Sỹ đã trình lên với HT Quảng Độ yêu cầu HT “đuổi” ô Võ Văn Ái mà ô hoàn toàn không đưa ra bất cứ lý do nào cả.
 
Ô Tuệ Sỹ đã ra đời, lấy vợ, em gái của ca sĩ bậc đàn chị Hà Thanh và đã có một đứa con trai.  Vợ ô đột ngột qua đời trong một tình huống nghi vấn, con trai ô được đảng ưu tiên cho xuất ngoại, hiện thời được ca sĩ Hà Thanh nuôi tại Nam Cali.


  • Tài Liệu thứ nhất : Văn Thư Mật của CSVN nhằm triệt hạ  bọn Chống Đảng và Nhà Nước ở Hải Ngoại !


    2008_03_10_commadosaigon5a.gif

    • Tài Liệu thứ Nhì :  Giao Điểm cộng tác với CSVN.
  • —-

    BỘ NỘI VỤ                                                  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    CÔNG AN THÀNH PHỐ                                           Độc Lập  - Tự Do  -  Hạnh Phúc
    ________________                                                    __________________________
    Phòng PA.18
    Mật vụ Số  023/MV
     
          Hãy Triệt Hạ Bọn Chống Đảng và Nhà Nước ở Hải Ngoại
     
         Sau 30 năm gian khổ, nhân dân ta mới đuổi được Mỹ Ngụy, thống nhất đất nước Việt Nam.  Đây là một công lao vô cùng to lớn của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Bác và Đảng không ngoài nhằm một mục đích duy nhất:  Đó là giải phóng nô lệ cho nhân dân Miền Nam, và tiến hành công trình kiến thiếc xây dựng toàn đất nước Việt Nam.
         Giai đoạn phá hàng rào nô lệ cho dân Miền Nam đã xong, thì chúng ta lại bị một chướng ngại to lớn trên đoạn đường xây dựng đất nước đó là:  Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.  Trở lực nầy đã làm chậm đi bước tiến trong công cuộc xây dựng và phát triển của toàn dân Việt Nam…Cuối năm 1981, nhà nước đã cho thành lập Giáo Hội Việt Nam nhằm hai mục đích
     
    - Thống nhất Phật Giáo.
     
    - Cùng nhau góp sức tham gia, công tác cùng với Đảng và Nhà Nước trong mọi lãnh vực.  Thế nhưng cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do Thích Huyền Quang lãnh đạo vẫn không chịu hợp tác, muốn tách rời và âm thầm cấu kết với một số phản động để quấy phá chúng ta.  Một trong những cách phá hoại là chúng cho lập một chổ chức mệnh danh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Văn Phòng II Viện Hóa Đạo trong đó gồm những tay cứng đầu như Chánh Lạc, Giác Đẳng, Vỏ Văn Ái, Hộ Giác, Viên Lý, Giác Lượng v..v.. lảnh đạo, không ngừng chỉ trích chê bai Đảng và Nhà Nước trong suốt 7 năm nay.

         Gần đây bọn giả nhân giả nghĩa nầy lại tổ chức Đại Hội 8 vào ngày 14, 15, 16/5/1999.  Trong Đại Hội nầy, tên Chánh Lạc dám tuyên bố rằng:  Phật Giáo luôn luôn bị tàn phế trên mọi Quốc gia Cộng sản.  Phật Giáo không thể phát triển nếu Cộng Sản còn tồn tại.  Cho nên, muốn cho Phật Giáo chúng ta sống còn thì phải bằng mọi cách lật đổ chế độ Cộng sản Việt Nam.

         Thực chất của Đại Hội nầy là chúng muốn cũng cố lực lượng, kết nạp phần tử, tham khảo phương kế để chống đối và đợi có cơ hội lật đổ Nhà Nước CHXHCNVN.  Đặc biệt  nguy hiểm là ông Chánh Lạc.  Hắn ta không ngừng tố cáo Đảng và Nhà Nước ngay cả khi nói chuyện Phật Pháp tại chùa.  Hắn ta đã  in ra và phổ biến hằng chục lần những tài liệu nói xấu hoặc chỉ trích Đảng ta như:  Ánh sáng và Bóng Tối, Những Sai Lầm của CSVN, Cộng sản Con Đường Vô Đạo v…v… Hơn nữa, hắn đã bỏ tiền túi ra đi các nước khắp Âu Châu, Châu Mỹ để hô hào, vận động các Chính phủ ngoại bang ủng hộ chúng đứng lên lật đổ Đảng và Nhà Nước Việt Nam.  Hắn đã cấu kết  với Võ Văn Ái để tung ra nhiều chiến dịch hỏa mù làm bất lợi cho Đảng ta.  Phải nói Chánh Lạc là một tên trí thức gà mồng, độc ác, lì lợm….hắn đi tu, đi du học là để thực hiện cái âm mưu chống CHXHCNVN.  Để thực hiện mưu đồ đó một cách triệt để, hắn đã chủ trương vô sản hóa bằng cách không xây chùa, không có nhà, không có đất để dễ bề sách động chống đối.  Tuy hắn không có gì hết, nhưng đây là một tên vô cùng nguy hiểm, miệng rắn độc của hắn có sức mạnh muôn vàn.  Bằng mọi cách phải đuổi tên Chánh Lạc ra khỏi chùa Như Lai thì chúng ta mới có cơ hội diệt trừ nó.

         Tóm lại, bọn giáo dân Chánh Lạc, Viên Lý, Hộ Giác,  Võ Văn Ái, Giác Lượng v…v.. là những bàn tay nối dài của Huyền Quang, Quảng Độ, Đức Nhuận, Tuệ Sỹ….ở trong nước.  Do đó, chúng ta phải tìm cách nào để chặt sạch tất cả những tay của bọn phản đồ ở hải ngoại thì GHPGVN của Nhà Nước ta mới có cơ hội sống còn.  Chúng đã nhiều lần ngoan cố chống lại Đảng, ta phải bài trừ.  Biện pháp trừng trị vừa qua đối với hai tên phản động Chánh Lạc, Hộ Giác còn chưa đủ mạnh, chưa đúng chỉ tiêu, Chúng ta phải chỉnh huấn lại tay chân của chúng ta ở hai địa phương Colorado và Texas để đạt cho được những điều toàn dân mong muốn.

         Chỉ thị cho các đồng chí triệt để thi hành sứ mạng và phải tuyệt mật.
     
                                                                      TP Hồ Chí Minh, Ngày 24 Tháng 6 năm 1999
     
                                                                                             TRƯỞNG PHÒNG PA. 18
     
                                                                                             (ĐÓNG DẤU VÀ KÝ TÊN)
                                                                                              (Đọc không rỏ tên người ký)
     
     


       
  • 2008_03_02giaodiem1.gif2008_03_02giaodiem2.gif2008_03_10_commadosaigon5nhathanh1.gif2008_03_10_commadosaigon5nhathanh2gif.gif
  • Bìa trái: Nhất Hạnh – Võ Nguyên Giáp… Bìa phải: Chân Không Nhất Hạnh tặng Tâm Thư Pháp cho Võ Nguyên Giáp

    (theo TinParis)

Tài liệu khác:

thichthongkinh3.gif

February 22, 2008

Cuộc cách mạng bỏ lỡ?

Cuộc cách mạng bằng “lời cầu nguyện”– Một cuộc cách mạng bị bỏ lỡ?

Trong bài viết của Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) với nhan đề: “Vụ đòi đất Tòa Khâm Sứ: Tiến bộ trong quan hệ Vatican-Việt Nam?” (1) đã trích dẫn lời phóng viên Ben Stocking của hãng thông tấn AP, mở đầu rằng:

“diễn ra trong thầm lặng, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam lần đầu tiên thẳng thắn thách thức chính phủ theo chủ nghĩa cộng sản mạnh mẽ như vậy.”

Những biến chuyển nhanh chóng trong sự kiện Tòa Khâm Sứ, Hà Nội đã lôi cuốn được đông đảo tín đồ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tham gia cầu nguyện cùng với sự quan tâm theo dõi sát sao của dư luận ở khắp nơi trên thế giới trong thời gian vừa qua đã làm thức tỉnh biết bao niềm hy vọng vào một bước đột phá mới trong việc tìm kiếm phương cách nhằm “nói chuyện phải quấy” với chính quyền Hà Nội.
Thái độ thẳng thắn, kiên quyết thể hiện tinh thần đoàn kết cao độ của các bậc chức sắc trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chính là thái độ được thể hiện qua câu trả lời nổi tiếng của đức TGM Ngô Quang Kiệt trong cuộc phỏng vấn của ông JB Nguyễn Hữu Vinh ngày 25 tháng 1 năm 2008 tại Tòa Tổng Giám mục: “nếu có ai phải bị bắt vì cầu nguyện, bị đi tù, tôi sẽ đi thay họ vì tôi là người kêu gọi họ cầu nguyện”.

Có lẽ trong bầu không khí rất căng thẳng nhưng tràn đầy lòng yêu thương và tinh thần đoàn kết như vậy cho nên tác giả Trần Phong Vũ đã có một bài viết dài 2 kỳ với nhan đề: Cuộc cách mạng bằng “lời cầu nguyện” (2) đăng trên DCVOnline với nhiều tâm nguyện được gửi gắm ở trong đó mà điển hình là ước nguyện: …Sau các cuộc “Cách Mạng Da Cam”, “Cách Mạng Nhung”, lịch sử mai ngày hẳn sẽ nói tới một cuộc cách mạng khác ở Việt Nam: “Cách Mạng Bằng Lời Cầu Nguyện”.

Đỉnh điểm của sự kiện Tòa Khâm Sứ có lẽ là giờ G trong bức tối hậu thư của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà nội do phó chủ tịch UBNN Ngô Thị Thanh Hằng ký ngày 26 tháng 1 năm 2008 đã trôi qua một cách lặng lẽ, yên bình, một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược với những lời lẽ đầy đe dọa viết trong tối hậu thư nêu trên. Thậm chí, những hứa hẹn đầy tinh thần thiện chí đã được chính quyền Hà Nội đưa ra trong những lần gặp gỡ gần sau đó giữa những người có trách nhiệm của cả hai bên và đã được loan tải rộng rãi mà một nguồn tin của giáo hội Công giáo từ Hà Nội đã ra thông báo cho biết là nhà nước Việt Nam, để bày tỏ “tinh thần cởi mở và sự tôn trọng Ðức Thánh Cha” (3) sẽ hoàn trả lại quyền xử dụng tòa nhà cho Tổng giáo phận Hà Nội, cũng với tinh thần đó, trong bài viết của đài Á châu Tự Do với nhan đề: “Đang có các cuộc dàn xếp giữa Vatican và Hà Nội?” (4) có đoạn:

Trong bức thư gởi các linh mục, chủng sinh và giáo dân Tổng giáo phận Hà Nội vào ngày hôm qua, Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cho biết là đã có những kết quả cụ thể sau khi có sự đối thọai giữa Hội đồng Giám mục Việt Nam với nhà cầm quyền Hà Nội.

Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt hy vọng rằng giáo hội và nhà nước sẽ có những bước giải quyết cụ thể, tôn trọng lẫn nhau để đi đến một giải pháp tốt đẹp theo ý kiến của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa thánh Vatican.

Vậy là sau gần một tháng rưỡi giằng co căng thẳng giữa Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, cụ thể ở đây là Giáo phận Hà Nội, với chính quyền Hà Nội, với sức nóng hừng hực của hàng ngàn ngọn nến và hàng trăm ngàn niềm hy vọng ở Tòa Khâm Sứ, đã kết thúc một cách hết sức nhanh chóng và triệt để đến không ngờ. Cuộc giằng co chấm dứt chỉ bằng những lời hứa hẹn từ phía chính quyền.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, dư âm sự kiện Tòa Khâm Sứ dường như cũng đã lắng đọng cùng với những trông ngóng vào lời hứa của chính quyền ngày càng mờ mịt, bài viết: “Tòa Khâm Sứ- Khả năng nào sẽ đến?” (5) của ông JB Nguyễn Hữu Vinh ngày 17 tháng 2 vừa qua chính là một bài viết với tâm trạng mông lung như vậy.

Ngày 20 tháng 2 vừa qua, Ban thường trực Hội đồng Trị sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam công bố bản công văn số 067/CV/HĐTS gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng do Hòa thượng Thích Trung Hậu đứng tên ký (6). Bao lo ngại và phỏng đoán trước đây đã thành sự thực: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã chính thức tuyên bố bước vào cuộc bằng một đề nghị rất rõ ràng được ghi trong bản công văn nói trên:

“Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên.”

Đây là một bước chuyển biến mới hứa hẹn một cuộc tranh đấu gay go, quyết liệt và lâu dài. Bằng những bước đi với những tính toán rõ ràng, lúc hùng hổ đe dọa lúc mềm mỏng xoa dịu cùng với xảo thuật hứa hẹn và bày tỏ thiện chí, chính quyền Hà Nội đã thành công trong việc lèo lái để chuyển đổi tình hình từ ở tư thế đối đầu trực tiếp với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cùng sự hậu thuẫn rộng rãi của công luận sang tư thế của một trọng tài và quan tòa để phán sử việc tranh chấp đất đai giữa Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, một cuộc tranh chấp chứa đựng hàng loạt những vấn đề còn tồn đọng và rất nhạy cảm do hoàn cảnh lịch sự để lại. Đành rằng những khẳng định của của ông JB Nguyễn Hữu Vinh trong bài viết: “Tòa Khâm Sứ- Khả năng nào sẽ đến?” đã nêu ở trên rất đúng rằng:

Những ngọn nến chứng tỏ lòng trung kiên của giáo dân Hà Nội trong những ngày mùa đông rét mướt vừa qua không kể đêm ngày, những dòng người đông đúc đổ về Tòa Khâm sứ khi mà súng đạn đã sẵn sàng đe dọa trút xuống đầu đã nói lên mục đích và quyết tâm của họ.

Giờ đây tình thế đã đổi khác bởi vì rất có thể trong những ngày sắp tới, đối tượng trực diện giằng co với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không còn là chính quyền Hà Nội nữa. Thay vào đó sẽ là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cùng với đông đảo những tín đồ của họ. Kết cục nào sẽ sảy ra nếu như “Những ngọn nến đã đốt lên kia, sẽ có cơ hội bùng cháy dữ dội hơn với cả lòng uất hận.”như ông JB Nguyễn Hữu Vinh đã nhận định trong bài viết của mình.

Phải chăng, cuộc cách mạng bằng “lời cầu nguyện” đã trở thành một cuộc cách mạng bị bỏ lỡ?

20/02/2008

© DCVOnline
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4696
————–
(1) Vụ đòi đất Tòa Khâm Sứ: Tiến bộ trong quan hệ Vatican-Việt Nam?
http://128.11.143.113/vietnamese/2008-01-23-voa18.cfm

(2) Cuộc cách mạng bằng “lời cầu nguyện
http://www.danchimviet.com/php/modul…ticle&sid=4580 
(3) nguyên văn bằng Anh ngữ: “goodwill and the respect for the Holy Father”
http://www.catholicnewsagency.com/new.php?n=11653 
(4) Đang có các cuộc dàn xếp giữa Vatican và Hà Nội?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/02/Vietnam_may_return_church_land/ 
(5) Tòa Khâm Sứ- Khả năng nào sẽ đến?
http://www.chuacuuthe.com/chiase/9639vinh.html 
(6) Giáo hội Phật giáo Việt Nam lên tiếng về vụ đòi “Tòa khâm”
http://www.phattuvietnam.net/index.php?nv=News&at=article&sid=2952 
 

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.