****
July 5, 2008
Bài 13 : KHỦNG HOẢNG TÔN GIÁO GÓP PHẦN THÚC ĐẨY KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ
Bài 13 : Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam
KHỦNG HOẢNG TÔN GIÁO GÓP PHẦN THÚC ĐẨY KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ
TS. Trần Minh Hoàng
Khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn 2 khi toàn bộ sự thật, mặt thật của chính thể cộng sản VN và của nền kinh tế cộng sản VN tuần tự đã được công bố để lòi ra “ mặt chuột “.
Nền kinh tế cộng sản VN do đảng CSVN chi phối vốn mờ ám, gian manh đã được thể hiện và chứng minh qua báo cáo kiểm toán năm 2007 mới công bố .
Dưới sức ép của các nhà đầu tư quốc tế, công luận trong ngoài nước, cũng như yêu cầu của nhiều chính phủ buộc cộng sản Việt Nam phải thực hiện hoạt động kiểm toán và công khai hóa thông tin về hoạt động kinh tế của thể chế CS và nền kinh tế quốc gia theo đường lối CS.
Những kết qủa kiểm toán của năm cũ 2007 vừa được Kiểm Toán NN Việt Nam ( Kiểm toán của nhà nước CSVN ) công bố trong tuần, tuy còn bị chính phủ CSVN bưng bít rất nhiều số liệu thật trước khi cho công bố nhưng đã nói lên sự thật, mặt thật của chính thể, của cơ chế kinh tế chính trị CS ở VN và sự giấu đút, suy đồi, thối nát, mỵ dân…của chính thể này…
Theo đó, toàn bộ tài sản của quốc gia và của dân tộc VN (bao gồm tài nguyên, môi trường, tiền của, tài sản, dự trữ, nhân lực, tài lực) hiện nay do đảng CSVN khống chế kiểm soát tất cả, và họ (CSVN) đã làm, đang làm và sẽ còn có thể làm thêm nhiều hơn nữa để tiếp tục đem bán đi, đem chia chác trong nội bộ đảng CSVN, chia cho những kẻ cơ hội và đem chia sẽ cho các nhà đầu tư, để vơ vét được cú chót trước khi sụp đổ…
Đó chính là những hành động mang đầy đủ tính chất “phản động” của một đảng phản động đối với nhân dân VN và với nhân loại ngày nay…
Không ai biết sự thật chính thể CSVN là gì, nền kinh tế VN sự thật là gì, chỉ biết một cách mơ hồ là ..một chính thể không lương thiện, một chính thể và nền kinh tế bưng bít thông tin nhưng đã thể hiện đầy đủ bản chất … lừa dối, lừa đảo, mỵ dân…
Đàn áp dân chủ đi đôi với việc bảo vệ chính thể CSVN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo…
Như để giãy chết trước cơn khủng hoảng kinh tế chính trị của quốc gia đang lan tràn và đi vào bước 2, mới đây CSVN đã ra lệnh cho bọn công an đầu gấu khoát áo dân thường để bảo vệ chính thể CSVN bằng các hành động côn đồ nhằm đàn áp khống chế các nhà dân chủ trong nước như Vi Đức Hồi, Phạm văn Trội, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa trong những ngày gần đây…
Và đàn áp tôi giáo như Mục sư Nguyễn công Chính, Mục sư A Đung…
CSVN hiện đang mưu đồ đàn áp tiếp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN).
Thông qua công cụ chuyên chính CS là báo chí CSVN (hơn 600 đơn vị), với tính đảng (CS) làm đầu đã trở thành một loại báo chí CS vốn phi tự do, phi dân chủ, phi nhân quyền, phi đạo đức….một loại báo chí chuyên nói láo để ăn tiền bẩn của CSVN, loại báo chí chuyên nghiệp đi dựng chuyện không có để chụp mũ, vu khống các cá nhân và tổ chức yêu nước để cô lập hòng mỵ dân. Loại báo chí chỉ nghe theo một cách mù oán như đồ ăn cơm thừa của đảng CS, loại báo chí CS phản bội tổ quốc, loại báo chí phản bội lại dân tộc, phản bội những cá nhân và tổ chức yêu nước không cộng sản…
Báo chí CSVN tụ tập hè nhau theo chỉ đạo của CSVN như là một lũ tội phạm chống lại lẽ phải, chống lại đạo lý, chống lại sự thật, chống lại dân tộc và …đang chống lại loài người… theo đúng thuật ngữ của luật pháp quốc tế mà tòa án quốc tế La Haye thường dùng để chỉ loại “tội phạm” mà họ thường xét xử.
Vừa ăn cướp vừa la làng là thủ đoạn thâm độc và nguy hiểm của CSVN cần được lột mặt ngay
Với đạo đức giả và lòng lang dạ sói, CSVN nhân sự kiện sức khỏe của Đức Tặng Thống Thích Huyền Quang hiện nay với âm mưu chính trị và thủ đoạn đê hèn tiếp tục đánh phá GHPGVNTN, CSVN đã xua đám báo chí của mình vốn là các “tổ chức tôi phạm” đồng loạt đăng bài về tình trạng sức khỏe của Đức Tăng Thống để nhằm thực hiện hành động của kẻ cướp, vừa “ăn cướp vừa la làng”, nhưng cũng không qua mặt được công luận và thiên hạ…
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6110
Qua các bài báo của CSVN tung ra, và Giáo hội phật giáo quốc doanh của CSVN có yêu thương, quý mến gì Đức Tăng Thống ?
Chỉ có CSVN và đám bồi bút báo chí CSVN mới có thể nói điều không đúng sự thật, (Tính chân thật hay sự thật là nguyên tắc hàng đầu phải được đứng trên tất cả các nguyên tắc cơ bản của báo chí) nghe rất chướng tai là bệnh viện ở Tỉnh Bình Định chăm sóc sức khỏe Đức Tăng Thống tốt hơn ở Sài Gòn và Huế ?
Vậy Bác sĩ và phương tiện thuốc men ở Bình Định tốt hơn ở Sài Gòn hay Huế sao ?
Láo phét. Họ (CSVN) đã nói mà không biết ngượng miệng là gì . Đó là phương pháp tác nghiệp của báo chí CSVN, của các tổ chức chống lại sự thật hiễn nhiên…chống lại loài người.
CSVN muốn gì với sức khỏe của Đức Tăng Thống ? Khống chế, đánh phá, thôn tính, chiêu dụ, tiêu diệt GHPGVNTN ?
Chắc chắn họ (CSVN) sẽ không làm được gì !
CSVN đã phản bội, đã lừa dối hàng chục triệu giáo dân Công giáo VN trong cả nước như thế nào vẫn còn rành rành ra đó. Vụ Tòa Khâm sứ, vụ Giáo sứ Thái Hà…
Quả bom này vẫn chưa tháo ngòi và ngòi thuốc vẫn đang cháy âm ỷ hàng ngày.
Và nay, nếu CSVN tiếp tục khiêu khích và tự họ có các hành động ngông cuồng khi kích động vô cớ, vô lý lòng từ tâm, lòng từ bi của hàng chục triệu Phật giáo đồ VN..
thì quả bom tấn khủng hoảng tôn giáo chắc chắn sẽ nổ ra ở Việt Nam…
Khủng hoảng tôn giáo ở Việt Nam sẽ như thế nào.
Với hơn 70 triệu tín đồ các tôn giáo mà trong quá khứ lịch sử CSVN đã gây ra biết bao tội ác và hằn thù không thể nào phai và xóa đi được. Chẳng hạn như cái chết bí ẩn của Hòa Thượng Thích Thiện Minh, cái chết của Đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa hảo, cái chết của Đức Phạm Công Tắc của đạo cao Đài và cái chết, tù đày của nhiều Đức Cha, Đức Hồng y của Công giáo VN… thì ngày nay họ (CSVN) không thể có quyền làm thêm điều gì nữa nếu họ dám cả gan ?
Khủng hoảng tôn giáo nếu đi kèm với khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng xã hội và khủng hoảng lòng tin của nhân dân VN hiện nay…sẽ là một tai họa lớn lao nhất cho CSVN sau 63 năm (1945 – 2008 ) , và tai họa này của CSVN sẽ trở thành thời cơ cho vận may lớn nhất của đất nước để thực hiện dân chủ hóa toàn diện và triệt để.
Việc nối tiếp Phật Pháp, Phật sự ở VN… tuyệt nhiên được định phận tại ..Trời.. Phật, mà không một ai, không một thế lực nào, một tập đoàn tội ác nào có thể xoay chuyển được, vì đó còn là “Thiên Thư“.
Việc hậu sự cho Đức Đệ Tứ Tăng Thống nếu ngài viên tịch sẽ là một thách thức, một đòn cân não cho CSVN. Đó cũng sẽ là suy nghĩ và hành động cần có tổ chức, có lãnh đạo và phối hợp chặc chẽ của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam để vinh danh công đức của Đức Đệ tứ Tăng Thống và tôn vinh Đức Đệ ngũ Tăng Thống.
Gần 90 Triệu người Việt Nam (Trừ tên CS Lê Đức Thọ gian manh mà nước Mỹ chưa hiểu hết vế hắn và CSVN) chưa ai có vinh dự được liên tục đề cử cho Giải Nobel hòa bình bằng Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ.
Trước dã tâm của CSVN với Đức tăng thống và GHPGVNTN, trước sự đàn áp dã man của CSVN hiện nay đối với các cá nhân, các tổ chức yêu nước, yêu dân chủ tự do nhân quyền không cộng sản, xin cho phép tôi được nhắc lại câu bất hủ trong năm vừa qua của Hòa Thượng Thích Quảng Độ dành cho chính thể CSVN để kết luận bài viết này :
“ ..Đừng có tưởng nắm được trong tay công an, quân đội, nắm trong tay nhà tù rồi muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, chỉ được chừng một lúc nào đó thôi…
Thích Quảng Độ”
Bài 14 : Phương thức nào để đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị với cộng sản Việt Nam
TS. Trần Minh Hoàng
tstranminhhoang@gmail.com
Bài 1 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2189
Bài 2 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2290
Bài 3 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2291
Bài 4 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2460
Bài 5 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2493
Bài 6 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2503
Bài 7 : http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2512
http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6010
Bài 8 http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2518
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6020
Bài 9 http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6032
http://webwarper.net/ww/~av/www.tapchidanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2531
Bài 10
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6045
Bài 11
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6061
Bài 12
http://webwarper.net/ww/~av/tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6086
July 4, 2008
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 3.7.2008
Trước nỗi âu lo chăm sóc và cầu an của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và chư Tôn giáo phẩm cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang tai qua nạn khỏi, thì Nhà cầm quyền Hà Nội lên kế hoạch bất nhân làm tang lễ – Ông Võ Văn Ái phản đối sự xâm lược chính trị vào nội bộ GHPGVNTN
PARIS, ngày 3.7.2008 (PTTPGQT) – Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Cơ quan Phát ngôn và Thông tin của Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) cực kỳ sửng sốt trước bản tin Thông tấn xã Việt Nam loan tải hôm nay, 3.7, và được báo chí nhà nước đăng tải (như Thanh Niên, Hà Nội Mới, v.v…) muốn giành quyền cho Nhà nước tổ chức tang lễ Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, 89 tuổi, ngay lúc Ngài còn sống tuy lâm trọng bệnh nằm tại Bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn từ hôm 27.7.
Bản tin mang tựa đề « Vạch trần ý đồ đen tối của Quảng Độ » nhằm vu cáo trắng trợn Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tăng từ các tỉnh Thừa thiên – Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Quảng Trị… đã tới Bình Định «“thăm” ông Huyền Quang » với « mưu tính lợi dụng (sic) việc tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang (…) để công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” ».
Trước sự âu lo chăm sóc ngày đêm và tụng niệm cầu an của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tôn đức thuộc hai Viện Tăng thống và Viện Hoá Đạo có mặt tại Tu viện Nguyên Thiều từ hôm 28.7 cho đến nay, thì Thông tấn xã Việt Nam vu khoát như trên. Nhưng lại đề cao những giọt nước mắt cá sấu, đó là « các cấp chính quyền và ban, ngành, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) đã có nhiều việc làm thể hiện sự quan tâm, ưu ái với một Cao tăng Phật giáo mà không có sự phân biệt đối xử ». Mục tiêu của những âm mưu và hậu ý này hiện rõ qua dòng viết của bản tin :
« Tuy HT Huyền Quang không phải là thành viên của GHPGVN (Giáo hội Nhà nước), nhưng với tình đồng đạo đối với một vị Cao tăng, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định đã quan tâm, chủ động bàn bạc với Thượng tọa Thích Minh Tuấn và số đệ tử Tu viện Nguyên Thiều để chuẩn bị cho việc tổ chức tang lễ trang trọng theo các nghi thức của Phật giáo trong trường hợp Hòa thượng Huyền Quang viên tịch…; theo đó các chùa trong tỉnh Bình Định cũng sẽ giúp đỡ Tu viện Nguyên Thiều làm lễ cầu an cho HT Huyền Quang ».
Ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo và Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, vừa tuyên bố với các hãng thông tấn và báo chí tại Paris hôm nay về sự bất bình của Phật giáo đồ Việt Nam trước « sự bất nhân trắng trợn » của bản tin Thông tấn xã Việt Nam mà qua đó « mánh khoé chính trị vô nhân của nhà cầm quyền Hà Nội phơi lộ ».
« Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng phái đoàn Viện Hoá Đạo đã tức khắc lên đường ra Bình Định khi hay tin Đức Tăng thống Thích Huyền Quang nhập viện để âu lo chăm sóc, cầu an cho Đức Tăng thống tai qua nạn khỏi. Trái lại nhà cầm quyền Hà Nội đã xem như Ngài viên tịch, chỉ lo giành giật cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tổ chức tang lễ nhằm phục vụ chính trị cho Đảng. Một tính toán bất nhân như thế làm cho khách bàng quan kinh hoảng, đặt biệt đối với một Nhà nước vừa đánh trống rùm beng tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ xưng tụng hoà bình và từ bi. Chứng cớ càng rõ về cuộc đàn áp Phật giáo vẫn tiếp diễn như mọi khi »
Ông Ái cũng tố cáo rằng « Đây là sự xâm lược chính trị vào nội bộ sinh hoạt của GHPGVNTN. Hiến pháp bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Thế thì các nhà lãnh đạo Cộng sản không quyền gì xâm phạm vào nội bộ của GHPGVNTN, cũng như không quyền gì áp đặt các tiêu chuẩn chính trị cho tôn giáo. Trong trường hợp Đức Tăng thống Thích Huyền Quang có mệnh hệ gì, thì việc hậu sự là chuyện của GHPGVNTN theo đúng nghi lễ truyền thống Phật giáo ».
Hiện nay nhà cầm quyền Bình Định đã truyền lệnh chùa nào ở chùa đó, không được tụ tập về Tu viện Nguyên Thiều, là trú xứ của Đức Tăng thống, nhằm ngăn chặn mọi sự biểu lộ tôn kính và nguyện cầu với bậc Cao tăng. Nhất thời chưa biết sao, nhưng công luận của bia miệng lịch sử sẽ ghi nhớ nghìn đời công đức đại hùng, đại lực, đại từ bi của Đức đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang, mà chắc chắn Môn đồ hiếu quyến của Ngài đang gìn giữ, bảo vệ trước mọi âm mưu hay khủng bố.
Ông Võ Văn Ái bác bỏ sự vu cáo của bản tin nói rằng Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ « mưu tính lợi dụng tang lễ để công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ». Bởi vì GHPGVNTN truyền thừa lịch sử hai nghìn năm tại Việt Nam « Phật giáo thống nhất thành giáo hội từ thời Đinh (năm 986 Tây lịch). Thời cận đại thì trước khi đất nước bị Hiệp định Genève chia cắt, đại hội thống nhất Phật giáo ba miền Bắc Nam Trung đã kết hợp tại chùa Từ Đàm, Huế, năm 1951 với sáu tập đoàn Tăng sĩ và Cư sĩ toàn quốc ».
Trên thế giới, GHPGVNTN được cộng đồng quốc tế tán dương và hậu thuẫn, ông Ái nhấn mạnh, điển hình là các Quyết nghị của Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Châu Âu từng lên tiếng yêu sách Hà Nội phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN và trả tự do cho hai ngài Tăng thống Thích Huyền Quang và Viện trưởng Viện Hoá Đạo Thích Quảng Độ. Ông Ái còn cho biết rằng « từ ngày Đức Tăng thống Thích Huyền Quang nhập viện, không những hàng triệu Phật tử trong và ngoài nước cầu an cho Ngài, mà Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế còn nhận được hàng nghìn thư biểu tỏ sự lo lắng, cầu nguyện của các nhân sĩ, trí thức, dân biểu, thượng nghị sĩ các quốc hội trên hoàn vũ, như điện thư của Bà Mairead Maguire, Giải Nobel Hoà bình, là một ».
« Sự can dự chính trị vào sinh hoạt tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội là điều không thề chấp nhận, nhất là đối với một quốc gia vừa vào chức Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo An LHQ » là kết luận lời tuyên bố của ông Võ Văn Ái. Ông cũng cho biết đã viết thư gửi ông Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-Moon, Tổng thống Pháp Sarkozy vừa đảm lãnh chức Chủ tịch luân phiên Quốc hội Châu Âu, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, các vị đại biểu Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Châu Âu yêu cầu gây sức ép lên nhà cầm quyền Hà Nội chấm dứt chính sách đàn áp Phật giáo.
**************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
*******************************************************************************
Tại sao một số người lại hăng hái trước sức khỏe nguy kịch của hòa thượng Thích Huyền Quang?
01:03:00, 03/07/2008
http://www.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/7/3/248387.tno
Gần đây, trước tình hình sức khỏe ngày càng xấu đi của hòa thượng Thích Huyền Quang, một số nhóm người đã lợi dụng việc này để có ý đồ công khai hợp pháp cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” (GHPGVNTN).
Hòa thượng (HT) Thích Huyền Quang, sinh năm 1919, trú tại Tu viện Nguyên Thiều (Bình Định). Quá trình chăm sóc phát hiện thấy HT Huyền Quang có dấu hiệu sức khỏe suy giảm và nguy kịch đến tính mạng, nên Thượng tọa Thích Minh Tuấn (Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều) cùng một số vị trong môn đồ, đệ tử của HT Huyền Quang đã đưa ông đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Bình Định ngày 27.5.2008. Sau hơn 1 tháng được các bác sĩ và môn đồ đệ tử tận tình chăm sóc chu đáo, HT Huyền Quang đã qua cơn nguy kịch: đã cử động được tay chân, nhận biết được những người đến thăm hỏi.
Do sức khỏe còn yếu và theo nguyện vọng của môn đồ đệ tử, nên HT Huyền Quang được Bệnh viện Đa khoa Bình Định tiếp tục lưu giữ để điều trị tại bệnh viện, chưa thể xuất viện trong tình trạng sức khỏe hiện nay với bất cứ lý do gì.
Ý đồ của ông Quảng Độ và nhóm tay chân trong tổ chức “GHPGVNTN”
Ngay sau khi nghe tin HT Huyền Quang nhập viện buổi sáng, thì buổi chiều cùng ngày, các ông Quảng Độ, Viên Định, Không Tánh (TP.HCM) đã vội vã đáp tàu hỏa ra Bình Định; đồng thời, các ông Thiện Hạnh, Như Đạt, Lê Công Cầu (Thừa Thiên – Huế), Thanh Quang (Quảng Nam), Như Tấn (Lâm Đồng), Từ Giáo (Quảng Trị)… mỗi người từ một nơi khác nhau đi bằng ô tô và ngày 29.5.2008 tất cả họ cùng tới Bình Định, với lý do “thăm” HT Huyền Quang.
Tuy nhiên, họ ra Bình Định không chỉ để thăm HT Huyền Quang mà còn nhằm thực hiện ý đồ lợi dụng việc HT Huyền Quang trong lúc chữa bệnh cũng như nếu viên tịch để công khai hóa tổ chức bất hợp pháp “GHPGVNTN”. Lấy lý do HT Huyền Quang là “Đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN”, nên các ông Quảng Độ, Viên Định đã thúc ép ông Minh Tuấn và số môn đồ, đệ tử phải đưa HT Huyền Quang vào TP.HCM hoặc ra Huế để chữa bệnh, kể cả khi HT Huyền Quang hấp hối, lấy lý do là điều kiện thuốc men và phương pháp điều trị tốt hơn… nhằm quản lý, khống chế HT Huyền Quang và môn đồ, đệ tử làm theo ý đồ của nhóm Quảng Độ. Nếu HT Huyền Quang viên tịch thì “GHPGVNTN” sẽ giành quyền đứng ra tổ chức tang lễ bất chấp có sự tham gia hay không của môn đồ, đệ tử và tăng, ni, phật tử ở Bình Định; sẽ tiến hành hỏa táng nhục thân của HT Huyền Quang để lấy xá lợi làm kỷ vật cho “GHPGVNTN”.
Ông Quảng Độ và nhóm tay chân ra Bình Định đến nay đã hơn 1 tháng. Dù thời tiết nóng bức nhưng họ vẫn kiên trì bám lại Bình Định, một số thì ở Tu viện Nguyên Thiều, số khác thì ở chùa Thập Tháp với mục đích chỉ để theo dõi diễn biến sức khỏe của HT Huyền Quang, chờ thời cơ HT Huyền Quang viên tịch là thực hiện ý đồ: ông Quảng Độ sẽ tự nhận thay thế vị trí HT Huyền Quang, tuyên bố làm “Đệ ngũ Tăng thống”; ông Viên Định làm “Viện trưởng Viện Hóa đạo”; còn ông Thiện Hạnh giữ vị trí “Chánh Thư ký Viện Tăng thống”.
Nếu HT Huyền Quang chưa viên tịch, sẽ tìm mọi cách cách ly HT Huyền Quang khỏi Bình Định, là nơi mà ông Quảng Độ khó thực hiện ý đồ cá nhân của mình. Hiện nay, việc đưa HT Huyền Quang vào TP.HCM với lý do chữa bệnh không thực hiện được, ông Quảng Độ đang tính cách đưa ra Huế, là nơi có lực lượng “GHPGVNTN” có thể làm chỗ dựa để khi HT Huyền Quang viên tịch sẽ đứng ra tổ chức tang lễ và công khai hóa tổ chức “GHPGVNTN” bất hợp pháp.
Phản ứng của môn đồ, đệ tử HT Huyền Quang và nhóm “GHPGVNTN”
Trước những việc làm trái đạo lý nói trên của ông Quảng Độ và nhóm tay chân, ông Minh Tuấn và số môn đồ, đệ tử của HT Huyền Quang đã phản ứng kiên quyết: từ chối việc đưa HT Huyền Quang vào TP.HCM, với lý do HT Huyền Quang còn rất yếu không thể xuất viện đi vào TP.HCM; nếu đưa đi mà HT có mệnh hệ gì thì họ sẽ bị tiếng xấu với tăng ni, phật tử suốt đời; từ chối việc HT Quảng Độ và nhóm tay chân đứng ra tổ chức tang lễ khi HT Huyền Quang viên tịch, với lý do HT Huyền Quang là cao tăng của Phật giáo Bình Định, là thành viên sáng lập ra Tu viện Nguyên Thiều, vì vậy nếu ngài viên tịch thì môn đồ, đệ tử và ban sáng lập Tu viện Nguyên Thiều, cùng đông đảo tăng, ni, phật tử Phật giáo Bình Định sẽ đủ sức đứng ra lo liệu hậu sự, chứ không phải để các ông Quảng Độ, Viên Định và một số người ở các địa phương phải “vất vả” chạy đến Bình Định để lo tổ chức tang lễ. Nếu ai có thiện chí thì tất cả cùng chung tay, giúp sức lo liệu lễ tang cho HT Huyền Quang, xứng tầm là bậc Trưởng thượng của cao tăng Phật giáo Việt Nam.
Số đệ tử của HT Huyền Quang ở bên ngoài cũng đã cử người về trực tiếp gặp và yêu cầu ông Quảng Độ không can thiệp làm rối thêm tình hình, để cho môn đồ đệ tử cùng tăng, ni, phật tử Phật giáo Bình Định tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang một khi ngài viên tịch.
Ý đồ của nhóm Quảng Độ không những gây bức xúc trong môn đồ, đệ tử của HT Huyền Quang mà còn gây sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ “GHPGVNTN”: nhiều người đã thấy rõ “tim đen” của các ông Quảng Độ, Viên Định muốn thông qua việc HT Huyền Quang ốm yếu, qua đời để đầu cơ, trục lợi, tạo vốn chính trị cá nhân. Riêng ông Quảng Độ, cùng với những hoạt động chống đối khác trước đây, đang thông qua Võ Văn Ái để tiếp tục vận động dư luận bên ngoài ủng hộ trao giải Nobel Hòa bình 2008 cho ông ta.
Nhiều vị cao tăng, huynh trưởng gia đình Phật tử gốc GHPGVNTN đã bộc lộ sự bất bình, cho rằng việc chăm sóc sức khỏe và tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang khi viên tịch nên để cho môn đồ và Phật giáo Bình Định đứng ra lo liệu, sắp xếp. Nếu nhóm Quảng Độ, Viên Định đứng ra tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang thì họ sẽ không đi dự, để tránh bị lôi kéo vào các hoạt động dính líu đến chống đối chính trị do nhóm Quảng Độ khởi xướng.
Chính quyền, Giáo hội Phật giáo VN với HT Huyền Quang
Ngay sau khi nhận được tin HT Huyền Quang phải vào bệnh viện điều trị, các cấp chính quyền và các ban, ngành, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã có nhiều việc làm thể hiện sự quan tâm, ưu ái với một cao tăng Phật giáo mà không có sự phân biệt đối xử: đại diện chính quyền địa phương đã chỉ đạo bệnh viện dành sự ưu tiên phương tiện, thuốc men tốt nhất để điều trị, chăm sóc sức khỏe cho HT Huyền Quang; giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho số môn đồ, đệ tử được túc trực tại bệnh viện để theo dõi, chăm sóc sức khỏe HT Huyền Quang, đề phòng sơ sẩy. Đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ và GHPGVN, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hòa… đã trực tiếp đến bên giường bệnh thăm, động viên HT Huyền Quang điều trị, sớm lành bệnh.
Tuy HT Huyền Quang không phải là thành viên của GHPGVN, nhưng với tình đồng đạo đối với một vị cao tăng Phật giáo, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định đã quan tâm, chủ động bàn bạc với ông Minh Tuấn và số đệ tử Tu viện Nguyên Thiều để lo đám tang cho HT Huyền Quang trong trường hợp sau này HT viên tịch, thực hiện các lễ nghi Phật giáo một cách trang trọng, xứng đáng với vị thế của HT Huyền Quang… giao trách nhiệm cho các chùa trong tỉnh giúp đỡ Tu viện Nguyên Thiều làm lễ cầu an cho HT Huyền Quang.
N.Nguyễn
Vạch trần âm mưu đen tối của Thích Quảng Độ
03/07/2008 — 7:38 PM
http://www.vnagency.com.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/256861/Default.aspx
|
June 29, 2008
Báo chí Việt Nam nói gì về sự kiện Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ
Báo chí Việt Nam nói gì về sự kiện Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ
Sự kiện Nguyễn Tấn Dũng đi Mỹ đang là đề tài quan tâm hàng đầu của báo chí Việt Nam trong vài hôm nay. Từ chuyện vấn kế cựu chủ tịch Cục Dữ trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan đến việc điện đàm với ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa John McCain và đỉnh điểm là hội đàm cùng tổng thống Bush. Một sự kiện khác cũng khá quan trọng là việc báo Time phỏng vấn Nguyễn Tấn Dũng mà báo Vietnamnet dịch lại. Tuy nhiên, như một thông lệ, Vietnamnet dịch lại các câu phỏng vấn trừ hai câu hỏi. Một câu về vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Việc Vietnamnet không dịch câu này dù sao còn có thể hiểu được vì trong ngôn ngữ báo chí Việt Nam hai từ “nhân quyền” và “tự do tôn giáo” là các từ đã được liệt kê trong danh mục cấm đề cập. Nhưng việc Vietnamnet không dám dịch và đưa câu hỏi thứ hai thì thật tệ. Đó là câu hỏi về việc bắt hai nhà báo và câu trả lời của Thủ tướng.
Báo chí Việt Nam không những không còn dám lên tiếng về việc nhà báo bị bắt, mà thậm chí còn không dám đăng lại việc nhà báo nước ngoài hỏi han Thủ tướng Việt Nam về việc này. Liệu từ “tham nhũng” có sắp được bổ sung vào danh mục các từ bị cấm đề cập cho 700 tờ báo, tạp chí ở Việt Nam không?
Nhưng Vietnamnet vẫn khá hơn Tuổi Trẻ và Thanh Niên, hai tờ báo có phóng viên bị bắt, không thấy đề cập gì tới bài phỏng vấn thủ tướng Dũng trên Time, dù Tuổi Trẻ có trích dịch bài trên Time.
Hai câu hỏi và trả lời bị lược bỏ:
“The arrest of two reporters who covered a high-profile corruption scandal within the transport ministry has been seen as a blow against anti-corruption efforts. (Vụ bắt giữ hai nhà báo đã tường thuật về vụ xì-căng-đan tai tiếng trong bộ giao thông vận tải được xem như một đòn đánh vào các nỗ lực chống tham nhũng) ***
The arrest of the two journalists has nothing to do with the fight against corruption. Vietnam is a rule-of-law state, in which all citizens are equal before the law, protected by the law and their violations shall be punished in accordance with the law, no matter who they are. (Vụ bắt giữ hai nhà báo không dính dáng gì đến công cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Việt Nam là một nhà nước pháp trị, trong đó tất cả các công dân đều bình đẳng trước pháp luật và những phạm pháp của họ sẽ bị trừng phạt theo luật pháp, kông cần biết họ là ai) ***
The U.S. State Department has removed Vietnam from its list of countries that it says are violating religious freedom. Do you think Vietnam can make similar progress on other human rights issues? (Bộ Ngoại giao Hoà Kỳ đã tháo gỡ Viêt Nam khỏi một danh sách các quốc gia, mà theo họ thì đang vi phạm tự do tôn giáo. Ông có nghĩ là Việt Nam có thể thực hiện được một tiến bộ tương tự về các vấn đề nhân quyền khác không?) ***
It is [the government's] top priority to respect and protect human rights, seeing the people as a central factor for achieving sustainable development and the goal of building Vietnam into a strong country with wealthy people and a just, democratic and civilized society. Vietnam stands ready to talk with the U.S. on issues of mutual concern. The U.S. side has acknowledged positive progress in Vietnam. I am convinced that we need to increase contacts and dialogues in order to enhance mutual understanding on issues of differences.”
(Ðó là ưu tiên hàng đầu của chính phủ nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, coi nhân dân là một nhân tố trọng tâm để đạt đến một mức phát triển có thể tồn tại được và mục tiêu để xây dựng Việt Nam thành một quốc gia dân giàu nước mạnh và một xã hội công bình, dân chủ, văn minh. Lập trường của Việt Nam là sẵn sàng bàn thảo với Hoa Kỳ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm. Phía Hoa Kỳ đã thừa nhận những tiến bộ tích cực của Việt Nam. Tôi tin chắc rằng chúng ta cần phải gia tăng gặp gỡ và đối thoại nhằm mục đích để tăng cường thêm sự hiểu biết lẫn nhau về các vấn đề khác biệt”) ***
Bài trên Time
Vietnam’s Prime Minister Tackles Inflation
Bài trên Vietnamnet
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời phỏng vấn của Time
Cũng có một câu trả lời khác của Nguyễn Tấn Dũng bị lược mất một ý quan trọng liên quan tới vai trò của công chúng và của báo chí trong chống tham nhũng.
Câu hỏi:- Thưa ông, khi đảm nhận cương vị Thủ tướng, ông có tuyên bố một trong những mục tiêu cơ bản của ông là chống tham nhũng. Ông sẽ làm gì để tiếp tục cuộc chiến này?
Ý bị lược bỏ: “And we also need to improve the publicity and transparency in corruption cases in order to better involve the public, including the mass media, in the fight.”
” …Và chúng tôi cũng cần phải cải thiện tính công khai và minh bạch của các vụ tham nhũng nhằm đưa công chúng, bao gồm các phương tiện thông tin và truyền thông, tham gia tốt hơn vào cuộc chiến này.
Vụ bắt giữ hai nhà báo (của báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên) mới đây liệu có bị coi là một đòn giáng vào những nỗ lực chống tham nhũng, thưa ngài?
“Vụ bắt giữ hai nhà báo không liên quan gì tới cuộc chiến chống tham nhũng. Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, trong đó mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ và những hành vi vi phạm của họ sẽ bị trừng phạt theo pháp luật, bất kể họ là ai”.
Câu hỏi về tôn giáo và nhân quyền thì Nguyễn Tấn Dũng đã có sẵn câu trả lời quen thuộc.
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước mà họ cho là vi phạm tự do tôn giáo. Ngài có nghĩ là Việt Nam có thể đạt được những tiến bộ tương tự trong vấn đề nhân quyền?
“Ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam là tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, coi con người là nhân tố trung tâm trong việc phấn đấu đạt tới sự phát triển bền vững và trong mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Việt Nam luôn sẵn sàng đàm phán với Hoa Kỳ về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Phía Hoa Kỳ đã công nhận những tiến bộ tích cực ở Việt Nam. Tôi tin rằng chúng ta cần tăng cường liên lạc và đối thoại để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong những vấn đề khác biệt.”
*** phần tiếng Việt do TNTDDC lược dịch
Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-FuoEs40yd6RRny_PYSPvm1VnOVpUuw–?cq=1
vietnamnet_2008_06_NTD_traloi_pv_times.pdf http://www.mediafire.com/?3l1zml9ozux
June 7, 2008
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản : Phần 5: CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT
Chương 14: Chiến-dịch Giảm-tô
| Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định | ||
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản From Colonialism To Communism
Chương 14 CHIẾN-DỊCH GIẢM-TÔ Vài tháng sau cuộc “Ðấu tranh Chính-trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung-quốc giả dạng làm nông-dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa-phương mách mối họ làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà (mà không lấy công), cùng ăn với chủ nhà (nhưng góp phần mình), và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán-bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán-bộ ngủ với ông chồng. Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông-dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi công việc, cày bừa hoặc gặt hái, tùy theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh khổ cực của mình. Chẳng bao lâu người nông-dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. Tỉ dụ trường hợp một anh nông-dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán-bộ giải-thích ngay rằng : “Giá anh không bị tên địa-chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh !”. Tóm lại, theo cán-bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông-dân đã phải chịu đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa-chủ lang sói. Ðấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà. Sau đó họ bày vẽ cho nông-dân biết rằng chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Ðảng, đứng vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa-chủ cường hào ác bá trong làng. Công-tác tích-cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông-dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn-sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông-dân được giác ngộ gọi là cái “rễ”, và công-tác kể trên được gọi là “bắt rễ”. Tới giai đoạn này, người cán-bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miệt trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán-bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh, mà anh cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián-điệp thường xuyên. Anh cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v…, được gọi là “cốt-cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình két nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra. “Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán-bộ khác, đang công-tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt-cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình-trạng sở-hữu ruộng-đất và tài-sản, thái-độ chínhtrị, hoạt-động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một (Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục-đích đặc biệt : người đàn bà nào thời còn là con gái, có “dính líu” với một địa-chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa-chủ kia “hãm hiếp”). Sau vài ba tháng hoạt-động như vậy, người cán-bộ thu-thập được đầy đủ chi-tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo-cáo trước một phiên họp bí-mật của Ðoàn Cải-cách Ruộng-đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Ðoàn, anh cán-bộ đề nghị qui định thành-phần cho tất cả dân làng, đặc-biệt là thành phần địa-chủ, và gán cho người nào những “tội” gì ? Tới lúc đó Ðội Cải-cách Ruộng-đất mới ra mắt công khai, Ủy-ban hành chính xã và chi-bộ Ðảng ở xã tức thì bị giải tán. “Ðội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội công-an mới gồm toàn nông-dân cốt án, và ra lệnh phong tỏa làng. Thường thường mỗi làng ở Bắc-Việt có một lũy tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác xuốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Ðội Cải-cách Ruộng-đất. Ðội liên lạc với Ðoàn bằng một đường giây điện-thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre còn đang xanh mang giây điện-thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu giây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường giây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng. Chiến-dịch chính-thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước liên tiếp, mà bước cuối cùng là “phiên xử án”. Bước 1: Phân-định Thành-phần Nông-dân thuộc thành-phần bản-bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc-biệt để học cách phân-định thành phần tất cả dân làng. Những tài-liệu học tập gồm có bản Ðiều lệ Phân-định Thành-phần ở Nông-thôn, các văn-kiện về thể-thức áp-dụng bản điều-lệ này cùng những tiêu-chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu-chuẩn khác nhau mà báo-chí cộng-sản không hề nói đến. Thí dụ trong một tỉnh, những tiêu-chuẩn phân-định các loại trung nông như sau : a) Trung nông cứng : Những trung nông có một con bò, một con heo và một đàn gà. b) Trung nông vừa : Những trung nông có một con heo và một đàn gà. c) Trung nông yếu : Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết. Không những tiêu-chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích-cực học-tập và “bình-nghị dân-chủ”, các học viên biểu-quyết một bản phân-định thành-phần mà thường thường là in hệt tài-liệu cán-bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo-luận mọi người đều chấp-thuận ý-kiến của cán-bộ. Ðiều này chẳng cógì lạ vì thực-tế chứng tỏ cán-bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng. Bước 2 : Phân loại địa-chủ Ngay sau khi Ðội Cải-cách Ruộng-đất (thường gọi tắt là Ðội Cải-cách, hoặc Ðội) ra mắt công-khai, tức là mười ngày trước khi thành-lập danh-sách địa-chủ, những người sẽ bị quy là địa-chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt-cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa-chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau. Trên lý-thuyết và theo lời ông Trường-chinh tuyên-bố trong bản bá-cáo của ông thì có ba loại địa-chủ chính: địa-chủ việt-gian phản-động, cường-hào, gian ác, địa-chủ thường và địa-chủ kháng-chiến. Ngoài ra còn một loại nữa gọi là “nhân-sĩ tiến-bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan-lại hiện được cộng-sản trọng dụng, như các ông Hồ-đắc Ðiềm, Phan-kế-Toại, vân vân… Nhưng trên thực-tế loại thứ hai và thứ ba không hề có. Tất cả mọi địa-chủ, không trừ một ai, đều bị quy vào loại “địa-chủ việt-gian phản-động”. Như đã trình bày ở trên, tất cả các địa-chủ còn ở lại vùng kháng-chiến cho đến năm 1953, dù muốn dù không, đều có tham-gia ít nhiều vào công-cuộc kháng-chiến vi chính-sách của cộng-sản là tuyệt-đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công-tác”. Thanh-niên và những người tráng-kiện thì gia-nhập quân-đội hoặc làm cán-bộ chính-quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh. Những người tuổi tác thì tham-gia những tổ-chức bù-nhìn như “Phụ lão Cứu Quốc”, “Mặt trận LiênViệt” vân vân… Mọi người đã tham-gia kháng-chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa-chủ kháng-chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa-chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông-dân. Ðành rằng họ có “bóc lột” nông-dân bằng cách cho nông-dân thuê ruộng lấy tô nhưng họ lý-luận rằng đấy chẳng qua là tính-chất của chế-độ cũ, và từ ngày lên cầm chính quyền, cộng-sản cũng vẫn dung túng lối “bóc lột” đó trong bao nhiêu năm rồi. Nhưng đến khi chiến-dịch Cải-cách Ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “việt-gian phản-động” và bị tố đủ thứ tội. Ngay cả những người tích-cực phục-vụ chính-quyền kháng chiến và đã được ông Hô-chí-minh tuyên-dương công trạng cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ-quan của Ðảng và chính-phủ để phá-hoại Cách-mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông-dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa-chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ để lên án địa-chủ đó là việt-gian, làm gián-điệp cho Pháp. Loại địa-chủ này, cũng gọi là địa-chủ đầu xỏ, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B và C. Cán-bộ không tuyên bố cho địa-chủ biết là họ bị xếp vào hạng này nhưng chỉ cần một chút thông minh cũng đoán biết ngay. Nếu đám biểu-tình hô “Ðả đảo tên địa-chủ X, việt-gian phản-động cường-hào, gian-ác !” (4 danh-từ kèm theo chữ “địa-chủ”) thì có thể biết chắc X là địa-chủ hạng A. Nếu đám biểu-tình chỉ hô “Ðả đảo tên địa-chủ Y cường-hào gian-ác!” (2 danh-từ) thì chắc chắn Y là địa-chủ hạng B. Còn nếu họ chỉ hô : “Ðả đảo tên Z địa chủ ngoan-cố !” (1 đanh-từ) thì Z thuộc hạng C. Mỗi hạng sẽ có một số-phận khác nhau. Ðịa-chủ hạng A bị đưa đến một trại giam tạm-thời, thiết-lập tại một làng kế cận, và những người “nguy-hiểm” nhất trong cùng hạng có thể bị nhốt trong một cái cũi gỗ, in hệt cũi nhốt thú dữ. Ðịa-chủ hạng B phải đi dự một lối cải-tạo đặc-biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục-đích của lớp cải-tạo này là khủng-bố tinh-thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn dấu vàng bạc. Họ bị khủng-bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẳn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán-bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ dấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông-hội. Ngoài ra họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền nông. Họ khai ra người nào thì lập tức Ðội Cải-cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho Nông-hội. Vì địa-chủ mất tinh-thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương-gia tự-nhiên bị “vạ vịt”, mất sạch cơ-nghiệp dù không có liên-quan trực-tiếp đến Cải-cách Ruộng-đất. Ðịa-chủ hạng C bị giữ trong một nhà nông-dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công-an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác. Một điều đáng chú ý là việc quy-định thành-phần lúc nào cũng chỉ có tính-cách tạm-thời, và địa-chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tùy theo thái-độ của đương-sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Vì cán-bộ có giao hẹn trước, rõ ràng như vậy, nên phần đông các địa-chủ tỏ ra khúm núm và sợ sệt. Nhưng vì Ðảng đã ấn-định một số tử hình tối-thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa-chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử. Nhưng nói chung, khúm núm vẫn có lợi hơn là bướng bỉnh, và người dân Việt, đã từng biết phải khúm núm như thế nào đối với quan lại và thực-dân, nên sớm nhận thấy giờ đây họ còn phải khúm núm hơn nữa đối với “giai-cấp mới”. Bước 3 : Tống-tiền công-khai Sau khi chủ gia-đình bị bắt và điệu đi, cán-bộ Ðội Cải-cách gọi vợ con địa-chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức-khắc một số tiền gọi là “thoái tô”, hoặc nợ nông-dân. Trước đấy bốn năm năm, chính-quyền cộng-sản có ra một thông cáo buộc địa-chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng-chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và sau khi ban hành bản thông-cáo, chính-quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, Nông-hội cho rằng tất cả địa-chủ đều không tuân luật và đòi gia-đình địa-chủ phải “thoái tô”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm. Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo thông cáo hoặc sợ chế-độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng-đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên-lai, sổ sách. Dù sao đi nữa bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa-chủ đều phải nhận “trả”. Số “thoái tô” phải mang nộp cho Nông-hội, một tổ-chức do Ðội Cải-cách thành lập để núp sau ra lệnh. Cán-bộ Cải-cách thường phán như sau : “Anh em nông-dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng !” Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa-chủ phải ký nhận. Việc “đòi nợ” này còn một vài điểm đáng chú ý. Theo cán-bộ thì “số nợ” được tính theo lời khai của mỗi tá-điền cộng lại, nhưng thực ra thì cán-bộ không hề để ý tới lời khai của ai cả, và cũng không hề làm tính cộng. Việc bắt tá-điền khai báo là chỉ cốt để có cớ “đòi nợ”. Còn số “nợ” là do cán-bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về khả năng có thể trả được của mỗi địa-chủ : liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ-trang, vân vân… và bao giờ cũng ấn-định một mức tối đa. Mục-đích của “thoái tô” là làm cho địa-chủ và gia-đình chỉ còn hai bàn tay trắng, trừ ruộng-đất, nhà cửa và đồ đạc trong nhà. Những thứ này không thể thoát đi đâu được và sẽ bị tịch thu trong chiến-dịch sau. Việc làm cho toàn thể giai-cấp địa-chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi mọi cách “văn hoa” là “làm giảm uy-thế kinh-tế của địa-chủ”. Chủ tâm bần cùng hóa địa-chủ cho tới mức-độ cuối cùng biểu hiện trong việc tăng giảm số “nợ” tùy theo khả năng tột bực của “con nợ”. Nếu địa-chủ hoặc gia-đình địa-chủ trả hết số “nợ” trong thời-gian hạn-định thì thế nào cán-bộ cũng dở giọng nói : “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… (thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước). Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ-hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố-gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa khất vừa nần nì để chứng tỏ cả thiện-chí lẫn sự bất-lực của mình, thì cán-bộ có thể bớt lần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Không phải vì cán-bộ thương tình nhưng vì Ðảng muốn tỏ cho nhân dân biết quả thực đã có nhiều địa-chủ trả đủ số nợ, việc đòi nợ hợp tình hợp lý và con số nợ cũng đúng với khả năng địa-chủ. Nhưng nếu địa-chủ cứ ì ra, không trả gì hết hoặc chỉ trả một số không đáng kể hoặc vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên, không tăng không giảm. Trong trường-hợp ấy, đòi nợ không còn là vấn-đề nữa, và địa-chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn. Trong khi địa-chủ phải chạy tiền trả nợ . hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc . thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì. Tất cả từ nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân-dân. Những thức này sẽ bị tịch-thu sau, nên địa-chủ không được phép bán. Mục-đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thức địa-chủ có mà có thể giấu được . như tiền mặt, vàng bạc, v.v… Mỗi khi địa-chủ, hoặc vợ địa-chủ chậm trả thì Nông-hội phái một nhóm hội-viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc dục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như : “Ðôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi ?” (đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc : “Mày bảo mày không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết ?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước). Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa-chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa-chủ ngoan cố”. Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi và đứa nào cũng bị dọa nạt cho tới khi chúng cung khai đúng hoặc không đúng . những nơi cha mẹ chúng chôn dấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu, hễ chúng khai chỗ nào là cốt-cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy. Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa-chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông-dân, sau trận đấu tố, được lĩnh nhà địa-chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nền nhà cho bằng phẳng. Bước 4 : Tố Khổ Trong khi địa-chủ bị “tống-tiền” một cách hợp-pháp thì nông-dân được triệu-tập đi học một lớp đặc-biệt về “Tội ác của giai-cấp địa-chủ”. Mục-đích của lớp học là giảng cho nông-dân hiểu địa-chủ đã phỉnh-phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp-bức họ như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình ít nhất là một tội đối với mình. Ðể ôn lại trí nhớ cho nông-dân, giảng-viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu-thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông-dân trước kia vẫn từ-tốn đối với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng-viên đã đọc cho họ nghe. Những người “tố khổ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm có những người mong có địa-vị trong chế-độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là của lấy của địa-chủ chia cho nông-dân. Họ tố hăng vì Ðội Cải-cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích-cực đấu-tranh sẽ được kết nạp vào các tổ-chức của Ðảng”. Loại thứ hai gồm những người cầu an bảo mạng, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập-trường với giai-cấp địa-chủ” và đứng hẳn “về phe Ðảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử thành-tích bất hảo, trước kia có phạm một tội nào đó mà cán-bộ làm ngơ chưa hỏi đến. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa-chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu-diệt. Ðoạn văn sau đây, trích ở tờ Thời Mới, số 8 tháng 5, 1957, nói lên sự thông-đồng giữa bố mẹ và con cái về việc con cái “tố khổ” chính bố mẹ mình. CỨ TỐ HĂNG VÀO Loại thứ ba là những người tố chỉ vì sợ hãi. Tuy địa-chủ là mục-tiêu chính nhưng nhiều người dù không có ruộng-đất cũng có thể bị quy là địa-chủ, hoặc có liên-quan với địa-chủ, nếu cán-bộ xét thấy họ có “tư-tưởng địa-chủ”. Liên-quan là một danh từ rất mơ hồ, có nghĩa là quyến thuộc, bạn bè, hoặc chỉ là chỗ quen biết, lui tới. Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, ngày 2 tháng 6 năm 1956, nói rõ dân-chúng sợ bị quy là liên-quan tới mức nào : VỢ CHỒNG TÔI TỪ NAY THẬT HẾT LO Có ba loại liên-quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau : 1. . Loại có “liên quan nặng” với địa-chủ, gồm những người “có tư-tưởng địa-chủ”, có thái-độ bênh-vực địa-chủ. Những người này sẽ bị đối xử in hệt địa-chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vòng pháp-luật, bị bao vây kinh-tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết. 2. – Loại có “liên-quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa-chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia-đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên-quan vừa” với địa-chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng. 3. . Loại có “liên-quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập-trường đối với địa-chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông-hội. Sau khi giai-cấp địa-chủ bị tiêu-diệt thì chỉ có Nông-hội là nơi mà nông-dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông-hội. Mặc dù những hình-phạt ghê gớm kể trên, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố” những người cùng làng bị quy là địa-chủ. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép hoặc phỉnh phờ vì, dù ít học, họ cũng tiêm nhiễm ít nhiều luân thường đạo-lý, và ở Việt-nam cũng như ở khắp mọi nơi, tố cáo người khác vẫn bị coi là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác. Trong phong trào Trăm Hoa Ðua Nở, Phùng-Quán đã làm một bài thơ đả-kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan-đề “Lời Mẹ Dặn” có mấy câu như sau : Yêu ai cứ bảo là yêu Vì bài thơ kể trên Phùng-Quán bị đưa lên mạn ngược “học-tập lao-động” cùng với nhiều văn-nghệ-sĩ khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao. Bước 5 : Ðấu Ðịa-Chủ Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa-chủ, những người được chỉ-định ra “đấu-trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Ðấu địa-chủ là “trò” then chốt của cả chiến-dịch, nên cần phải chuẩn-bị hết sức chu đáo. In hệt các diễn-viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân-khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện-tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán-giả có cảm-tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa-chủ là có thực. Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, dã gạo, vừa lắp đi lắp lại một câu để thuộc lòng. Ðóng vai trò “đạo diễn” cán-bộ phụ-trách còn bày vẽ giáng-điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa-chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc. Sau khi chuẩn-bị đầy đủ, Ðội công-tác Cải-cách Rưộng-đất công bố ngày “đấu”. Vì có ba hạng địa-chủ, A, B và C, nên cũng có ba loại đấu. Ðịa-chủ hạng A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành-chính gồm từ mười đến mười lăm làng. Ðịa-chủ hạng B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa-chủ hạng A, nhưng tương-đối nhẹ hơn. Ðịa-chủ hạng C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông-dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi nào tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng-kê các tội ác mà các tá-điền . chỉ có tá-điền của địa-chủ mới được dự cuộc đấu này . đã “tố” cho họ. Nghe xong, địa-chủ phải tuyêp-bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa-chủ phải ký tên vào biên-bản buổi họp. Ðảng giải-thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Ðảng muốn khoan-hồng đối với những “phản-động phụ”, những phần-tử mà Ðảng còn hy-vọng cải hoán được. Vì còn hy-vọng họ sẽ cải hoán nên Ðảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họï, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý-do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa-chủ hạng C là những người buôn bán ở thành-thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng là “bỏ làng”. Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực-tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Ðảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sụ người tố có thể ấp-úng, làm mất uy-tín “anh em nông-dân” và gián-tiếp mất uy-tín Ðảng. Vì vậy nên Ðảng tổ-chức “đấu lưng”, giấu địa-chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Chỉ có tá-điền nói cho tá-điền nghe nên dù họ có ấp-úng, ngượng ngùng cũng chẳng sao. Thật vậy đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa-chủ, khi thấy nông-dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười. Mỗi lần đấu một địa-chủ hạng A thì toàn thể nhân-dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa-chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa-chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cầy vì một khi ngồi vào chỗ trong hội-trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại. Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Ðịa-chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm tay hô “Ðả đảo !”. Mọi cuộc đấu đều tổ-chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn. Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới có 14 “thư ký” ngồi, 13 người là bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa đoàn gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ-tịch nông-hội làm chủ-tọa cuộc họp và một phụ-nữ đóng vai công-an trưởng. (Tác-giả nhận thấy vai trò công-an trưởng bao giờ cũng do phụ-nữ đóng, trong năm cuộc đấu tác-giả có dịp tham dự. Tác-giả có cảm-tưởng Ðảng dành vai trò này, có tính cách hống hách, cho phụ-nữ để đề cao uy quyền chính-trị của phụ-nữ trước công chúng). Người đàn-bà này chỉ huy tự-vệ xã, và cứ năm phút một lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, dơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v… Trên tầng cao nhất của khán-đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ-chí-Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao-Trạch-Ðông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh-tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán-đài là những biểu-ngữ rất lớn mang những khẩu-hiệu như “Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh giảm tô (hoặc đấu-tranh Cải-cách Ruộng-đất)”, và “Ðả đảo tên địa-chủ… việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác”. Trong thời-kỳ kháng-chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ-chức về đêm để tránh máy bay oanh-tạc. Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng trong ác mộng. Người tham dự có cảm-tưởng chứng-kiến một cảnh quỷ-sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa-ngục. Khán-đài soi sáng bằng đèn điện. Ðôi khi có máy phá điện nhỏ nhưng thường là di-na-mô xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán-đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán-bộ Ðội Cải-cách Ruộng-đất nấp phía sau khán-đài để nhắc và ra lệnh cho chủ-tọa đoàn. Ðôi khi có cố-vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ. Chủ-tịch chủ-tọa đoàn khai-mạc hội-nghị và tuyên-bố lý-do cuộc họp. Sau đó là một bài thuyết trình về ý-nghĩa và sự cần-thiết của cuộc đấu-tranh chống địa-chủ ; đại-khái là vai trò chính-yếu của nông-dân trong kháng-chiến, tính cách bội-phản của giai-cấp địa-chủ, v.v… Sau đó người đàn bà giữ chức công-an trưởng ra lệnh cho tự-vệ xã lôi tên địa-chủ việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác ra để “anh chị em nông-dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng-thanh hô : “Ðả đảo thằng việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác (tên họ người địa-chủ bị lôi ra)”. Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán-đài. Phía trước khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán-giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông. Ðịa-chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục gia-tô giáo, hoặc một hòa-thượng phật-giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu-sĩ hoặc áo nhà chùa). Cộng-sản thanh-minh rằng đương-sự bị đấu với tư-cách cá nhân là địa-chủ, không dính dáng gì về tôn-giáo nên không cho mặc áo tôn-giáo, nhưng sự-thực thì cộng-sản cố ý tránh quang cảnh một cuộc khủng-bố tôn-giáo công-khai và quá lộ liễu. Chủ-tịch chủ-tọa đoàn gọi “anh chị em nông-dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa-chủ, hỏi : “Mày có nhớ tao là ai không ?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn : “tao là. . . ở làng. . . đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong. . . năm”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “mày có nhớ tao là ai không” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu-sử” của mình. Cán-bộ bắt họ làm như vậy để công chúng biết qua loa về quan-hệ giữa người đấu và người bị đấu. Người ngồi xem nhớ lại những buổi diễn tuồng tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh : “Mỗ đây tên tự là… ” Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “việt-gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v… Ðiều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu ; hình như cán-bộ xui họ chửi rủa địa-chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy-tín” địa-chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”. Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản-ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm : “Ðả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị công-an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi. Mỗi người được phép tố địa-chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng-hồ, thì người địa-chủ bị điệu đến trước “thư-ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư-ký hý hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa-chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước. Ðịa-chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Ðêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông-dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v… Ðêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh-phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa-chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu nguời đấu là đàn-bà). Ðêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Ðịa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông-dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng. Ðêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa-chủ về các tội có tính cách chính-trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ-chức phản-động, dò thám tin tức quân sự, nói với người này người kia rằng Pháp sẽ cho mình làm tỉnh-trưởng, huyện trưởng, v.v… Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến, cuối cùng, sẽ phải đưa ra tòa án nhân-dân đặc-biệt, kết án tử-hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa-chủ có khôn-ngoan đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Ðảng đã ấn-định một số tối thiểu phải chịu tử-hình tại mỗi xã. Ðúng ra thì Ðảng chỉ ấn-định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan-cố” thì số tử-hình có thể tăng thêm. Thực ra thì Ðảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, vì phương châm của Ðảng là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Hơn nữa, nếu nhiều địa-chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có thể có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều là nói điêu. Trái lại nếu địa-chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông-dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Vì uy-tín của nông-dân và của Ðảng, nên Ðảng chỉ cần địa-chủ nhận tội và sẽ nới tay, không xử bắn quá mức ấn-định. Trong đợt đầu, nhiều địa-chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi-hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do Ðảng bày đặt ra và bắt mỗi người phải đóng một vai, không ai được phép trái ý Ðảng. Ðịa-chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là : treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông-dân liếm đờm, ăn phân (chỉ khác nhau ở thứ phân : bò, gà, người v.v..), đốt nhà nông-dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết (bất cứ trước kia có đứa trẻ nào chết đuối thì bây giờ cũng là chết do địa-chủ dìm), bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông-dân, giết người (bất cứ ai chết bệnh cũng tố là do địa-chủ giết), hãm hiếp, v.v… Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự : Ở xã Nghĩa-khê, thuộc tỉnh Bắc-Ninh, bọn địa-chủ tổ-chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài-liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông-dân. Ở Liễu-Sơn, chúng dùng một em thiếu-nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông-dân kịp ngăn được: Thâm độc hơn, ở Liễu-Hà, chúng cho mấy em thiếu-nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân-Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Ðức-Phong (Hà-Tỉnh) chúng mua bài tu-lơ-khơ (bài Trung-Cộng mang sang) cho các em mãi chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng. Ðiều đáng chú ý là địa-chủ càng đạo-đức bao nhiêu, như thể linh-mục, hòa-thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp-dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa-chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa-chủ lên trước khán-đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con ; biết là bố thế nào cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để . theo lời cán-bộ . được quy là trung nông, và như vậy có hy-vọng sống yên nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa-chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu. Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết. Bác-sĩ Nguyễn-đình-Phát, chủ đồn-điền ở Phủ-Quỳ, Nghệ-An và đại-biểu Quốc Hội Việt Minh, đã bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn-điền của ông ta. Trong một buổi đấu tố cụ Cử Lê-trọng-Nhị, làng Cổ-Ðịnh, tỉnh Thanh-hóa, một lãnh tụ phong-trào Văn Thân năm 1907-8 đã từng bị đầy ra Côn đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố : “Mày có biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày ? Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp-dâm tao rồi tao sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng làm tính nhẫm và nhớ lại, hồi mụ này sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà-lim Côn đảo, cách xa hai nghìn cây số. Có nhiều địa-chủ tỏ ra rất bình-tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ-An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại : “Xin anh em một viên đạn !” Ở Thanh-Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ : “Mày có nhớ tao là ai không ?” Ðịa-chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ ! Mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp của tao con gà”. Chủ-tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ-chức đấu lại, địa-chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ béo bổ khác, chè tầu, cà-phê. Ðịa-chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày hoặc ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau ba ngày đấu-tố, địa-chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân-dân đặc-biệt xét xử ? Trong khoảng thời gian đấu-tố, mỗi tỉnh xuất bản một tờ báo địa-phương lấy tên là “Lá Rừng” (ngụ ý tội ác của địa-chủ nhiều như là rừng) để tường thuật những vụ đấu tố trong toàn tỉnh. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan” nghĩa là về các làng có đấu tố để quan-sát chính-sách Cải-cách Ruộng-đất. Ðảng muốn họ đi sát với “anh em nông-dân” để am-tường nỗi khổ của anh em nông-dân và công-nhận chính-sách tiêu-diệt giai cấp địa-chủ của Ðảng là “hợp tính hợp lý”. Họ cũng “ba cùng” với nông-dân, nhưng chỉ được quan-sát, không được phát biểu ý kiến. Tuy-nhiên việc có mặt của họ cũng có phần lợi cho địa-chủ. Vì muốn tỏ cho họ thấy chính-sách của Ðảng rất đúng, nên cán-bộ cố gắng thận trọng hơn nên do đó, địa-chủ cũng được nới tay hơn. Một phần nào những người tới tham quan cũng là “thần bảo mạng của họ”. Bước 6 : Xử án địa-chủ Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc-biệt tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến-thức về luật-pháp và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công-cáo ủy-viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nôngd ân đã làm chủ-tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo thu một phần hoặc toàn bộ tài-sản. Tịch-thu tài-sản chỉ là một việc “lấy lệ”, vì dù tòa không tuyên án tịch-thu thì sau này, tới chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất đích thực, toàn-bộ tài sản của mỗi địa-chủ cũng sẽ bị tịch-thu. Những người bị kêu án tử-hình bị bắn ngay sau khi tuyên án và hố chôn đã đào sẵn, trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên-bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to : “Hồ-chí-Minh muôn năm ! Ðảng Lao-động muôn năm !” thì thủ tục “tư-sản” này bị bãi bỏ. Từ đó về sau, hể tòa tuyên án tử-hình thì tức khắc một cán-bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi. Một điều đáng thương cho những người bị hành-quyết là những tự-vệ xã cầm súng bắn phần nhiều mới cầm súng lần đầu, nên bắn trật bậy trật bạ. Nhiều nạn nhân bị lôi đi chôn chưa chết hẳn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa-chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu-tình. Công-chúng vỗ tay hoan-hô khi nạn nhân ngã gục dưới lằn đạn. Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng-sản đối với địa-chủ cũng in hệt như vậy. Mang địa-chủ ra đấu-tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa-chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục-đích : thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín và gieo khiếp đảm vào trong tâm hồn toàn thể nhân-dân. Cảì-cách Ruộng-đất còn một hình-thức khác cần phải nói tới là chính sách “cô-lập địa-chủ”. Số người chết vì chính-sách này còn đông gấp mười số người bị Tòa án Nhân-dân Ðặc-biệt kêu án tử-hình. Chính-sách “Cô-lập địa-chủ” Hễ bị quy là địa-chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa-chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến-dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến-dịch thứ hai, địa-chủ và gia-đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra ủy-ban có việc. Vì chính-sách “cô-lập” này, phần lớn gia-đình địa-chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau. Mục-đích của chính-sách vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu-diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông-thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống-kê về số người bị chết đói vì chính-sách “cô-lập địa-chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành-phần giai-cấp “địa-chủ” đã bị chết như vậy. Trong bài diễn văn đọc trước Ðại-hội Toàn quốc của Mặt-trận Tổ-quốc, luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường đã nói : “Trong khi đập tan giai-cấp địa-chủ, ta không phân-biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu-diệt”. Cũng về mục này Nguyễn-hữu-Ðang, Bộ-trưởng bộ Văn-hóa trong chính-phủ Việt-minh đầu tiên, đã viết trong báo Nhân-Văn như sau : “Trong Cải-cách Ruộng-đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch-thu tài-sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu-nhi vô tội trong các gia-đình địa-chủ, hoặc chính là nông-dân bị quy sai thành-phần”. Quả thực ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai-cấp địa-chủ không khác Ðức Quốc-xã diệt chủng người Do-Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do-Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách-nhiệm về quyết-định của họ trước công-luận và trước lịch sử. Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai-cấp địa-chủ một cái “chết tự nhiên”, không ai mang tiếng giết họ, bắt họ phải “bất đắc kỳ tử”. Ngay cả sau Cải-cách Ruộng-đất, nếu ốm đau, địa-chủ và thân-thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men, trong khi người Do-Thái dưới chế-độ Quốc-xã vẫn có bác-sĩ Do-Thái trông nom. Tình trạng này đã được luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường tóm tắt như sau : “Khi đưa tới bệnh-viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn-đề mang ra thảo luận trước tiên là : Bệnh-nhân thuộc thành-phần giai-cấp nào ? Chữa cho địa-chủ thì “mất lập-trường”. Ðể nó chết mới chứng minh mình có “lập-trường giai-cấp”. Những địa-chủ còn sống sót tới phong-trào Sửa Sai . sau phong-trào hạ-bệ Stalin ở Nga . là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia-đình khỏi chết. (còn tiếp) Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem Phần 3 Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài Phần 5 Cải Cách Ruộng Đất |
||
May 13, 2008
Tuần làm việc trước ngày 29/4/08 của PV Hải với công an “nhân dân”
Tối hôm Thứ Sáu, tôi nhận một cuộc điện thoại của anh Trường Giang (từ Vương quốc Anh). Anh cho biết có nghe tin một blogger bị đàn áp vì các bài viết trên blog nên đã phone để hỏi thăm.
Tôi cảm ơn anh Trường Giang và tất cả mọi người trong nước cũng như hải ngoại đã quan tâm và chia sẻ cho chủ nhân của trang blog này. Đồng thời, tôi cũng đính chính là không phải bị đàn áp, chỉ được “mời lên làm việc” và bị thu giữ một số thiết bị computer.
Mặc dù rất ngại ngồi viết bài ngay tại dịch vụ NET công cộng, nhưng tôi nghĩ nên có một bài tường thuật về tuần làm việc trước ngày 29/4 với cơ quan an ninh.
Cố gắng này của tôi chỉ để rộng đường dư luận, hy vọng là không vi phạm nghị định nào của Nhà nước!
7:58 sáng 22/4/2008, tôi có mặt tại phòng đợi trước cổng CA Tỉnh Khánh hòa (80, Trần Phú, NT) theo giấy mời trước đó 4 ngày.
Vài phút sau, một anh còn rất trẻ mang quân hàm thiếu úy đến và đưa tôi lên thẳng Phòng Bảo vệ chính trị PA38.
Tôi được gặp người mang quân hàm Thượng tá, tôi nhìn bảng tên và thấy đúng như đã ghi trong giấy mời. Ngày làm việc bắt đầu.
- Anh có biết chúng tôi mời anh lên đây vì chuyện gì không?
- Không. Tôi không biết. Trong giấy mời chỉ ghi là lên làm việc…
- Tôi biết. Nhưng anh có đoán là vì chuyện gì không?
- Đoán thì khó chính xác, nhưng tôi nghĩ là vì các bài viết của tôi trên mạng.
Tôi quan sát kỹ người đối diện, vị Thượng tá này tóc đã hoa râm, chắc khoảng chừng trên dưới 50. Tôi đoán tuổi rất kém nhưng cũng cố đoán vậy.
Ngoài ra, trong phòng còn có một nữ CA còn rất trẻ ghi biên bản và 3 người khác đều mang hàm Trung tá. Về sau có thêm một người khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ cấp bậc. Suốt buổi làm việc, họ luân phiên hỏi tôi rất nhiều câu hỏi liên quan đến các bài viết trên blog.
- Anh có thấy các bài viết của mình gây hậu quả như thế nào không? – Vị Thượng tá tiếp tục hỏi.
- Tôi thấy các viết của mình không có gì sai trái cả. Đó chẳng qua là quan điểm cá nhân của tôi và tôi thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.
Giọng ông ta bắt đầu hơi gắt lại:
- Thế mà anh bảo không có gì sai? Anh có biết nó đã gây xôn xao dư luận như thế nào không?
- Tôi chỉ nêu những sự kiện có thật và viết theo cảm xúc của mình, còn hiểu nó như thế nào, tốt hay xấu là do nhận thức của người đọc. Tôi không biết được.
…
Đến phiên làm việc của một anh Trung tá khác còn trẻ, dáng người đậm và chắc.
- Đây có phải là các bài viết của anh không?
Tôi nhận một xấp giấy cỡ A4 in một số bài viết từ blog của mình.
- Nếu đúng thì anh hãy ghi rõ vào từng tờ: “Bài này do tôi viết và đưa lên mạng”, rồi ký và ghi đầy đủ họ tên vào đó!
Tôi bắt đầu viết và ký vào từng tờ. Đến bài “Tôi tự hào mình được gọi là ‘phản động’”, tôi nói: – Bài này không đủ, còn mất một đoạn sau!
- Phòng bên có máy vi tính nối mạng, anh sang đó tự mình in lại và ký!
…
Từ phía đầu bàn bên trái, vị Thượng tá bỗng nhiên hỏi:
- Anh có biết trình độ lập trình như anh ở Nha trang này có khoảng bao nhiêu người không?
- Không có số liệu nào thống kê, nên tôi không thể biết được!
- Thật uổng công nhà nước và bố mẹ cho anh ăn học đến trình độ như thế mà anh lại…
Tôi bắt đầu hơi mất bình tĩnh và ngắt lời:
- Chính vì tôi được ăn học đàng hoàng nên tôi mới chường mặt ra để viết những bài như vậy. Nếu không thì ngư dân bị bắn chết như thế nào, đảo bị chiếm làm sao tôi cũng không thèm quan tâm.
…
- Theo anh đánh giá thì các bài viết của anh có ảnh hưởng như thế nào?
- Tôi nghĩ sự thật hay mất lòng, tôi viết quá thẳng thắn nên có thể đụng chạm, mất lòng ai đó…
- Cụ thể là ai?
- Trước mắt là anh và anh, tôi chỉ vào hai người ngồi đối diện!
- Không phải là chúng tôi mà là Chính phủ, là Nhà nước này!
- Đành chịu thôi vì đó là cảm xúc thật của mình, tôi không nói khác được!
…
Đến phiên một vị Trung tá khác hỏi tôi, nhưng chỉ là những câu hỏi xã giao về nhân thân và gia đình. Chỉ có một câu mà sau này ngẫm lại tôi mới biết đó chính là sự chuẩn bị cho việc khám xét nhà tôi vào cuối buổi chiều hôm đó.
…
Lại đến phiên làm việc của một người khác, bây giờ phòng đã có thêm một người mà tôi không nhớ rõ cấp bậc như đã nói ở trên. Vì họ luân phiên hỏi, nên từ đây về sau trong bài tường thuật, tôi không thể nhớ rõ chính xác ai đã hỏi mình – tạm dùng danh xưng chung là “bên an ninh”.
- Anh tự hào mình là “phản động” lắm hả? Có gì đáng tự hào anh nói xem!
- Chuyện đó tôi đã phân tích rất rõ ràng trong bài viết trên blog!
- Các bài viết của anh dùng toàn là những từ nhạy cảm, “điên đảo” như thế nào mà anh dám gọi cái xã hội này điên đảo?
- Tôi thấy nó điên đảo thì tôi gọi là điên đảo!
Bên an ninh bắt đầu lớn tiếng:
- Anh phải nói rõ! Cụ thể ra!
- Cái này mấy trăm tờ báo trong nước đã nói quá nhiều. Tôi chỉ đơn cử một lĩnh vực là giáo dục: giáo dục tuột dốc như thế thì xã hội không điên đảo là gì?
- Chỉ một mặt cỏn con thế mà anh dám đánh giá cả xã hội này?
- Còn nhiều mặt nữa như tham nhũng, hối lộ… nhưng vì trước đây tôi đã từng là thầy giáo nên tôi chỉ nhấn mạnh vấn đề giáo dục. Theo tôi nghĩ, giáo dục là cái gốc của xã hội…
- Anh đã từng là thầy giáo mặc kệ anh, không thể vì một mặt nhỏ mà đánh giá cả xã hội được!
- Nhưng đó là nhận thức của tôi!
…
- Đây nữa, ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước mà anh dám gọi là “biến cố” hả?
- Ủa, biến cố là một sự cố gây nên một bước ngoặt, một biến đổi của lịch sử. Đúng quá còn gì, sao không thể dùng từ biến cố? Anh cũng nên biết ô. Võ Văn Kiệt có nói một câu đại ý rằng: Ngày 30/4 có mấy triệu người vui cũng có mấy triệu người buồn!
- Anh có biết ô. Võ Văn Kiệt là ai không?
- Có. Ông là cựu Thủ tướng! Nhưng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng như nhau. Tại sao tôi không được quyền nói?
- Nhưng ông ta được Nhà nước cho phép!
- Trời! Thế trong hiến pháp nói mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận là sao?
- Anh nên biết tự do ở đây phải nằm trong khuôn khổ quy định của luật pháp!
- !!!
…
- Cái đám ngụy quân mà anh lại dùng từ “binh sĩ Việt nam CH” hả?
- Họ là những người ngã xuống vì đất đai Tổ quốc, bất kể là ai tôi cũng ngưỡng mộ họ. Anh dùng từ “ngụy quân” là đi ngược lại chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, bây giờ phải gọi là “Khúc ruột ngàn dặm” hoặc…
- Khúc ruột gì bọn phản động…
Không khí trở nên căng thẳng do cả hai phía đều muốn ngắt lời nhau. Tôi đã tự nhủ trước buổi làm việc là phải bình tĩnh, không được ngắt lời người đối thoại, nhưng lại không kìm chế được.
…
Đối thoại tạm dừng, bên an ninh đưa ra một tập giấy in Nghị định của Chính phủ, lật đến một trang và nói:
- Anh đã vi phạm điều 41 khoản 5 điểm h của Nghị định 55/CP
Tôi xem thấy nội dung: “Đưa vào Internet để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Tôi gạch dưới cụm từ nội dung thông tin và nói:
- Có văn bản nào hướng dẫn cho biết nội dung thông tin nào là được phép và nội dung nào vi phạm không? Vì tôi thấy nội dung các bài viết của tôi không có gì sai trái cả.
- Thế mà anh bảo không có gì sai?
- Tôi chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân và cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc!
- Rõ ràng là quan điểm chính trị của anh có vấn đề. Hồi trước ở đại học môn chính trị anh được mấy điểm?
- Tôi tốt nghiệp mười mấy năm rồi, làm sao nhớ được? Không riêng gì môn chính trị mà các môn khác tôi cũng không nhớ. Nếu cần các anh có thể xem bảng điểm ở trường…
…
Tôi ăn trưa ngay tại bàn làm việc cùng với 4 an ninh PA38. Cơm hộp do phía an ninh cung cấp.
Tôi điện thoại về báo cho mẹ tôi biết mình phải ở lại trưa vì làm việc chưa xong, chiều làm tiếp!
Không khí nghỉ trưa thoải mái, chỉ là những câu chuyện xã giao đời thường giữa tôi và 2 an ninh trẻ, một anh là viên thiếu úy đã ra đón tôi tại cổng trực ban lúc sáng.
…
Buổi chiều, tiếp tục chất vấn vì tôi nhất định không ký vào biên bản vi phạm Nghị định 55CP ở trên.
- Anh có gửi bài cho báo Đàn Chim Việt ?
- Đúng vậy.
- Anh có biết ĐCV là tờ báo của tổ chức khủng bố Việt Tân không?
- Không, tôi không nghĩ như vậy
- Anh không biết gì về ĐCV mà lại gửi bài cho họ?
- Đơn giản vì tôi thấy đó là tờ báo của Người Việt hải ngoại, nội dung đọc cũng hay và vừa phải (ý tôi muốn nói lời lẽ trang này không nặng nề như một số trang khác), thì tôi gửi vậy thôi.
- Anh có biết Nhà nước đã cấm không được truy cập các trang web đen không?
- Tôi có biết. Nhưng tôi thấy trang DCVOnline không phải là trang web đen. Nếu theo quan điểm của nhà nước đó là trang web đen thì nên đưa ra một danh sách cụ thể gồm những trang nào để chúng tôi được biết!
- Anh vào trang ĐCV có gặp trở ngại gì không?
- Có lúc vào được, có lúc không.
…
- Anh có biết Đài RFA là đài chuyên nói xấu xuyên tạc chế độ không?
- Tôi không nghĩ vậy. Tôi thấy đài này đưa tin khách quan và đúng sự thật. Một số giáo sư, tiến sỹ trong nước cũng có trả lời phỏng vấn trên đài.
- Quan điểm chính trị của anh quá lệch lạc, tôi khuyên anh nên đi bác sỹ tâm lý!
- ???
…
- Anh có tham gia các cuộc biểu tình ở LSQ TS cuối năm 2007?
- Đúng vậy. Tôi có tham gia!
- Anh có biết việc biểu tình như vậy là vi phạm pháp luật không?
- Hiến pháp có ghi công dân được tự do hội họp, lập hội, biểu tình…
- Nhưng phải nằm trong quy định của luật pháp. Anh có xin phép không?
- Tôi nghe mọi người nói nước ta chưa có luật biểu tình nên không biết thủ tục tiến hành như thế nào. Với lại tôi không phải là người tổ chức biểu tình, tôi chỉ tham gia trong đoàn biểu tình để bày tỏ thái độ phản đối nhà cầm quyền BK…
Cuộc đối thoại còn khá dài nhưng càng lúc càng bế tắc vì quan điểm chúng tôi bất đồng.
Phía an ninh cũng nhận thấy điều đó nên khoảng hơn 15h cùng ngày, họ thực hiện phương án B. Họ yêu cầu tôi lên xe về nhà làm việc. Tôi từ chối vì lý do cả ngày làm việc mệt bây giờ đau đầu, mà quả thật tôi cũng đã quá mệt mỏi. Họ nói cứ về nhà đã, còn làm việc tiếp hay không là tùy anh!
Chiếc xe 12 chỗ với khoảng một chục an ninh PA38 tỉnh và Phòng ANND thành phố theo đường Trần Phú trực chỉ hướng bắc thành phố. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ tôi khi thấy số lượng lớn CA mặc cảnh phục trước cổng nhà mình, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán: Sóng biển Nha trang chiều nay thật xanh êm nhưng tôi còn tâm trí nào mà ngắm, tôi phải chuẩn bị làm sao cho sóng gió ở nhà mình sắp đến sẽ ở cấp độ nhỏ nhất!
http://pvhai.blogspot.com/2008/05/aweekbefore29042008.html
——
Ý kiến:
Kêu, mời lên “làm việc” : kiếm cớ, ép buộc làm việc, hạch họe, đe dọa, gài bẩy kết án một cách độc đoán độc tài ! Thói này rất thường xảy ra ở những nước độc tài, vi phạm quyền con người, dân quyền !! Rất ít khi thấy ở những nước tự do dân chủ, tôn trọng pháp quyền hợp lý đúng đắn, thực sự !
Thiệt tình cái CA ngụy luận xhcn đỉnh cao trí tuệ, làm việc như cái robot !
Thế này thì dân không điên, không hèn, không nuốt nhục, không ấm ức, xã hội không băng hoại, nước không (sẽ) mất thì xã hội có gì thật không bình thường ! Yêu nước là cái “tội” ! Đúng là một xã hội đảo điên cai trị bởi lũ điên đảo, bán nước buôn dân cầu vinh !!
Mọi giá trị đúng đắn về công bằng, chân lý, lẽ phải, đạo lý, tự do, dân chủ đều bị cơ chế bóp méo, đảo ngược dưới thời xhcn VN !
Cả nước buộc phải luồn lách, nói dối theo để tồn tại vì cơ chế độc đoán độc tài, lừa bịp !!
Phải chăng đó là sự kém trí tuệ, mù quáng, ngông cuồng, tham tàn trí trá, ngoan cố vĩ đại … mãi tự chồng chất nghiệp chướng ? Nếu không là tội ác là cái gì ??
29/4/2008 tại Saigon, HN cho thấy : VN đã mất chủ quyền, mất độc lập, mất tự do ! VN đã và đang bị ngoại bang xâm thực : giặc nội xâm và ngoại xâm, đúng như nhận định của Hà Si Phu, …vv !
Tài liệu liên quan:
Nghị quyết EU 1481 25/1/2006
Quốc tế nhân quyền, công ước
Hiến pháp ( và luật rừng vi hiến, làm bởi QH bù nhìn của đảng không tính, không giá trị !)
May 12, 2008
Bắt hai nhà báo ‘vì đưa tin vụ PMU18′
|
Bắt hai nhà báo ‘vì đưa tin vụ PMU18′
|
|||||
Công an vừa bắt hai phóng viên để điều tra cáo buộc liên quan đến việc đưa tin vụ PMU18, gây xôn xao trong giới báo chí ở Việt Nam.
Tin từ Việt Nam cho hay phó Văn phòng báo Tuổi Trẻ ở Hà Nội, nhà báo Nguyễn Văn Hải, và phóng viên Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên vừa bị bắt giam. Cả hai ông đều là phóng viên ‘cứng’ trong mảng nội chính. Giới nhà báo ở Hà Nội và TPHCM cho BBC hay đến khoảng 4 giờ chiều 12/05 ngoài hai người kể trên giới hữu trách còn bắt thêm một người thứ ba không thuộc giới nhà báo nhưng có liên quan. Hồi tháng 8/2007, được biết rằng cơ quan điều tra đã khởi tố ‘vụ án làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ’ liên quan tới các bài báo viết về vụ PMU18. Một nhà bình luận ở Hà Nội cho BBC biết rằng đây là động thái được chờ đợi từ “phe của cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến.” Trong diễn biến gần đây nhất, ông Tiến đã được phục hồi tư cách Đảng viên hôm 07/05 kể từ khi bị đình chỉ ngày 4/04/2006. Ông được thả sau 18 tháng tạm giam và Viện Kiểm sát đã đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự đối với ông và hai bị can khác. Dư luận nhiều tuần qua cũng bàn về việc ông Tiến thông qua luật sư đòi lại các quyền lợi của mình và vai trò của báo chí khi đưa tin về ông và vụ PMU18. Đã bị thẩm vấn nhiều Các nguồn tin từ Việt Nam nói việc bắt giữ các nhà báo này dù gây bàn tán trong giới phóng viên nhưng không làm người ta ngạc nhiên. Hồi tháng 8/2007, nhiều phóng viên có tiếng của các tờ báo có lượng phát hành lớn ở Việt Nam đã bị Bộ Công an gọi lên thẩm vấn. Ngoài Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Tiền Phong, phóng viên báo ngành công an như Công an Nhân dân, An ninh Thủ đô và Công an TP HCM cũng bị triệu tập. Cơ quan điều tra không nói là đã xin lệnh phê chuẩn việc gọi hỏi phóng viên của Viện Kiểm sát hay chưa. Một số phóng viên thấy bìa hồ sơ thẩm vấn của an ninh điều tra có chữ “Chuyên án LM07” và đoán rằng đây là chữ viết tắt của “Chuyên án Lộ mật năm 2007”. Họ nói họ được hỏi những câu như đã từng viết bao nhiêu bài liên quan tới vụ PU18, các nguồn tin lấy từ đâu và kiểm chứng thông tin như thế nào. Từ 1994 đến 1998 ở cương vị tổng giám đốc PMU18, ông Tiến làm đại diện chủ đầu tư nhiều dự án xây dựng cầu đường. Ngày 29/03/2006, Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định tạm đình chỉ công tác của Thứ trưởng Tiến để “kiểm điểm làm rõ các dấu hiệu vi phạm trong vụ án tại PMU18.” |
|||||
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/05/080512_vietpressarrests.shtml
Bắt nhà báo, thả quan tham
DCVOnline – Tin ngắn
Theo BBC, lấy các nguồn tin từ Việt Nam, phó Văn phòng báo Tuổi Trẻ ở Hà Nội, nhà báo Nguyễn Văn Hải, và phóng viên Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên vừa bị bắt giam vì đưa tin về vụ PMU 8 không theo đúng lề phải của Đảng CSVN.
Khoảng 4 giờ chiều 12/05 ngoài hai người nói trên, giới hữu trách còn bắt thêm một người thứ ba không thuộc giới nhà báo nhưng có liên quan.
Như chúng ta đã biết, vụ PMU 18 đã từng làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Các nhân vật tai to mặt lớn của Tổng Công ty Xây dựng Cầu đường PMU 18 thuộc Bộ giao thông vận tải đã “gây hậu quả nghiêm trọng”, làm thất thoát công quỹ và tham nhũng… Các khuôn mặt được “quan tâm” nhiều nhất trong vụ án này là: Bùi tiến Dũng với các cuộc cá cược bóng đá hàng triệu đô la; Nguyễn Việt Tiến, Thứ trưởng Bộ giao Thông thích các em gái chân dài và con rể của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh…
Ngày 29/03/2006, Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định tạm đình chỉ công tác của Thứ trưởng Tiến để “kiểm điểm làm rõ các dấu hiệu vi phạm trong vụ án tại PMU18″.
Thay vì chĩa mũi nhọn điều tra vụ án nghiêm trọng này thì tháng 8/2007 Cơ quan điều tra lại giáng đòn vào các phóng viên báo chí đã cố gắng phanh phui trước dư luận các thông tin về vụ án này. Nhiều phóng viên có tiếng của các tờ báo có lượng phát hành lớn ở Việt Nam đã bị Bộ Công an gọi lên thẩm vấn. Cơ quan điều tra đã khởi tố “vụ án làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ” liên quan tới các bài báo viết về vụ PMU18!
Theo BBC, đây là “động thái được chờ đợi từ phe của cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến”, tất nhiên dư luận cũng phán đoán phần nào. “Phe” đó là ai, nếu không phải là những người ở vị thế chóp bu trong hàng ngũ lãnh đạo đảng CSVN có liên đới hoặc đã chót ăn tiền nên buộc phải ngậm miệng hoặc ra tay cứu đàn em?
Ông Tiến đã được phục hồi tư cách đảng viên cộng sản hôm 07/05 kể từ khi bị đình chỉ ngày 4/04/2006. Nguyễn Việt Tiến được thả sau 18 tháng tạm giam và Viện Kiểm sát đã đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự đối với ông và hai bị can khác. Dư luận nhiều tuần qua cũng bàn về việc ông Tiến dùng luật sư đòi lại các quyền lợi của mình và vai trò của báo chí khi đưa tin về ông và vụ PMU18.
Các nguồn tin từ Việt Nam nói việc bắt giữ các nhà báo này dù gây bàn tán trong giới phóng viên nhưng không làm người ta ngạc nhiên. Ngoài Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Tiền Phong, phóng viên báo ngành công an như Công an Nhân dân, An ninh Thủ đô và Công an TP HCM cũng bị triệu tập.
Cơ quan điều tra không nói là đã xin lệnh phê chuẩn việc gọi hỏi phóng viên của Viện Kiểm sát hay chưa.
Cũng theo BBC, một số phóng viên thấy bìa hồ sơ thẩm vấn của an ninh điều tra có chữ “Chuyên án LM07” và đoán rằng đây là chữ viết tắt của “Chuyên án Lộ mật năm 2007”.
Họ nói họ được hỏi những câu như đã từng viết bao nhiêu bài liên quan tới vụ PU18, các nguồn tin lấy từ đâu và kiểm chứng thông tin như thế nào.
© DCVOnline
——————————————————————————–
- Nguồn: BBC, 12/05/2008.
- Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài: Cần xem lại vụ PMU 18 (BBC phỏng vấn luật sư Cù Huy Hà Vũ), 28/03/2008.
modules.php?name=News&file=article&sid=5021
Hai ký giả bị bắt vì những bài viết về vụ PMU18
RFA 12.05.2008
Tin tức mới nhất mà chúng tôi vừa nhận được vào chiều hôm nay cho biết hai ký giả của báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên vừa bị công an bắt giữ vì những bài viết liên quan đến vụ án PMU 18.

Giới phóng viên Việt Nam trong một cuộc họp báo về vụ tham nhũng PMU18 tại Tổng Cục cảnh sát, trong thời gian vụ án này bị phanh phui trước công luận.
Hai ký giả này là các ông Nguyễn Hải, Phó trưởng Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội; và ký giả Nguyễn Việt Chiến phụ trách thông tin nội chính của tờ Thanh Niên.
Một số nguồn tin còn cho biết thêm, liên quan đến vụ án này. Hiện 1 ký giả khác đang bị cơ quan an ninh điều tra; và một tướng công an cũng có thể liên hệ đến vụ bắt giữ các nhà báo.
Theo báo điện tử VNExpress, cả hai bị khởi tố theo tội danh: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Chiều nay, cơ quan an ninh đã khám nhà riêng và phòng làm việc của hai ông này tại văn phòng báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên ở Hà Nội.
Trước khi bị bắt, hai nhà báo này đều là tác giả của nhiều loạt bài điều tra chống tham nhũng trên Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Trong thời gian diễn ra vụ án tại PMU 18, họ là những cây viết chủ chốt của các báo này.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi vụ việc và sẽ gửi những thông tin mới nhất đến với quý vị khi có thể.
Lầm Lỗi Cá Nhân Và Tội Ác Của Cả Chế Ðộ
Trần Quốc Kháng
*
LTG: Hồi đầu tháng 5-2008 vừa qua, đài BBC lại ‘đánh trống khua chiêng’ om xòm về vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Trên trang nhà ‘www.bbc.co.uk/vietnamese’, họ đã viết ‘theo định hướng XHCN’ với hậu ý bôi nhọ Quân Ðội Hoa Kỳ:
“Vụ thảm sát và hãm hiếp của quân lính Hoa Kỳ ở Mỹ Lai ngày 16/3/1968 đã cướp đi sinh mạng của 504 thường dân”.
Bất chấp mức độ đúng sai của bài báo ấy như thế nào, khi hỏi ngược lại, ‘còn phía VC thì sao’, ắt hẳn đài BBC cùng bọn Vẹm ‘nằm vùng’ sẽ ‘toát mồ hôi’, tìm cách lấp liếm.
Lẽ dễ hiểu là trong 30 năm chiến (1945-1975), đảng giặc VC đã áp dụng sách lược “Chiến Tranh Nhân Dân” của Tàu Cộng. Ở những nơi VC kiểm soát, chúng đã ép buộc tất cả bô lão, trẻ em, thanh niên cùng thiếu nữ đều phải tham gia công tác “đánh Pháp” hay “chống Mỹ cứu nước” — chẳng hạn như phụ giúp với “anh em du kích”, đào hầm chông, trôn mìn, gài bẫy, phá đường, đắp ụ… và rải truyền đơn. Nếu chẳng may, trẻ em, bô lão hay phụ nữ, bị bắn chết khi thi hành công tác “kháng chiến” thì phía Pháp, phía Mỹ, hay phía VC là thủ phạm tội ác chiến tranh?
Mời quý vị đọc bài viết phía dưới. Vì bài được viết từ năm 2001, nên ‘phần thời sự” có thể mất ‘thời gian tính’, nhưng phần cốt lõi — phía nào can trọng tội — không có gì thay đổi.
Trần Quốc Kháng
7 -5-2008
*
Dư luận hiện thời đang bàn tán xôn xao về thảm cảnh ở ấp Thanh Phong cách đây 32 năm. Câu chuyện trở nên sôi nổi ngay sau khi cựu nghị sĩ Bob Kerry tiết lộ, trong cuộc hành quân truy lùng VC năm 1969, toán “Người Nhái” (Navy Seal Unit) do ông chỉ huy, đã làm cho 20 thường dân thiệt mạng. Hầu hết nạn nhân đều là đàn bà và trẻ thơ.
Trước thảm cảnh này, ai có lương tri cũng cảm thấy ngậm ngùi, xót xa cho thân phận VN, một quốc gia nhược tiểu, ròng rã nửa thế kỷ nay sa vào bể khổ, vẫn chưa chấm dứt: Chiến tranh máu lửa, ngục tù “cải tạo”, thảm cảnh vượt biển… và thảm trạng nghèo khổ triền miên.
Đâu là nguyên nhân sâu xa, gây nên thảm cảnh ở ấp Thanh Phong? Đó là lầm lỗi cá nhân của ông Bob Kerry? Hay đó là ‘chính sách’ của Hoa Kỳ đã gây nên tội ác?
Dù sao, ông Bob Kerry đã tỏ ý ân hận. Chính phủ Hoa Kỳ cần tiến hành cuộc điều tra, đưa sự việc ra ánh sáng công lý. Chúng tôi nhận thấy, về phía Hoa Kỳ thì từ trước đến nay, bất cứ quân nhân nào, trong khi thi hành nhiệm vụ mà gây thiệt hại đến sinh mạng của dân chúng, đều bị đem ra toà án, phán xét công minh. Điển hình là Trung uý William Calley với vụ ngộ sát ở Mỹ Lai năm 1968.
Còn phía Cộng Sản VN thì sao? Có lần nào chúng tỏ ý ân hận về việc áp dụng chiến thuật “Du Kích”, ẩn núp trong vùng đông dân cư, sử dụng đàn bà, trẻ thơ làm “hàng rào” ngăn cản việc tiến quân của Hoa Kỳ và VNCH? Mỗi khi có giao tranh, dân chúng bị thiệt mạng thì đội ngũ tuyên truyền của VC lại đổ vạ cho Hoa Kỳ hoặc VNCH “giết hại dân chúng VN”.
Đó là chiến lược gây căm thù “Mỹ Ngụy” do VC chủ xướng, với chủ đích làm cho dư luận trong và ngoài nước, ác cảm với Hoa Kỳ và VNCH. Thảm cảnh ở ấp Thanh Phong và ở Mỹ Lai là 2 trường hợp điển hình.
Cho đến bây giờ, 26 năm chiến tranh chấm dứt, khi được tin ông Bob Kerry thuật lại thảm cảnh thì VC mừng rỡ. Chúng cho đội ngũ tuyên truyền khai thác thảm cảnh này để tố cáo “tội ác Mỹ Ngụy”. Qua các tờ Tuổi Trẻ, Người Lao Động… và mạng lưới điện toán toàn cầu, ông Bob Kerry bị tấn công tới tấp.
Trong khi đó, phát ngôn viên giặc Cộng là Phan Thuý Thanh cũng chụp lấy cơ hội, kêu gọi Hoa Kỳ “hàn gắn lại vết thương chiến tranh”. Nói nôm na là VC muốn moi tiền viện trợ nhân đạo và cầu van Hoa Kỳ ban cho quy chế Tối Huệ Quốc.
Tồi tệ hơn nữa là VC vẫn tiếp tục, bôi nhọ Hoa Kỳ và VNCH. Điển hình là ở Tacoma Community College và nhiều nơi khác, VC đã cho tay sai, thi hành công tác đầu độc các thế hệ trẻ qua việc trình chiếu hình ảnh về vụ thảm sát ở Mỹ Lai, về vụ “cô bé” Kim Phúc bị bom Napalm ở Trảng Lớn năm 1972… và việc Tướng Loan bắn vào đầu tên cán binh VC trong trận Mâu Thân 1968!
Với chủ đề “SO SÁNH LẦM LỖI CÁ NHÂN VỚI TỘI ÁC CỦA CHẾ ĐỘ “, chúng tôi sẽ lần lượt tiến sâu vào chi tiết qua 3 tiểu đề: Thứ nhất là “So Sánh Lầm Lỗi Cá Nhân Với Tội ác Của Chế độ”. Thứ 2 là “Cuộc Thảm Sát Ở Mỹ Lai”. Thứ 3 là “Phần Phán Xét Của Ðộc Giả”.
1- So Sánh Lỗi Lầm Cá Nhân
Với Tội ác Của Chế độ
Hiển hiện, từ vụ thảm sát ở Mỹ Lai, qua vụ “cô bé” Kim Phúc bị bom Napalm ở Trảng Lớn năm 1972, đến vụ Tướng Nguyễn Loan bắn vào đầu tên cán binh VC năm 1968, rồi thảm cảnh ở ấp Thanh Phong năm 1969 đều là lầm lỗi, do một số cá nhân gây ra. Đó là tai vạ thông thường xẩy ra trong chiến tranh và dứt khoát, không phản ảnh đường lối của Hoa Kỳ hoặc VNCH.
Ngược lại, chúng ta thử đặt vấn đề về những việc CSVN cho cán bộ thi hành sách lược “Cải Cách Rung Đất” ở miền Bắc; “Đánh Tư Sản” ở miền Nam; khủng bố hoặc ám sát; đeo đuổi cuộc “Chiến Tranh Nhân Dân” — ép buộc toàn dân kháng chiến từ 1945 đến 1975; áp dụng chiến thuật “Du Kích và “Gây Căm Thù”, qua việc cho cán binh ẩn núp trong khu đông dân cư hay “đóng chốt” nơi nhà thờ, đền chùa để tấn công quân đi Hoa Kỳ và VNCH. Đây có phải là tội ác của chế độ Công Sản hay không?
Trở về thảm cảnh ở ấp Thanh Phong thì đêm 25.2.1969, trong khi hành quân truy lùng VC, toán “Người Nhái” do ông Bob Kerry chỉ huy, đã bị VC núp trong ấp bắn ra. Dĩ nhiên, phản ứng tức khắc của họ là bắn lại về hướng địch quân từ ấp Thanh Phong. Ông Bob Kerry kể lại rằng:
“Chúng tôi đã bắn lại VC. Nhưng sau khi ngưng tiếng súng thì chúng tôi nhận thấy, mình đã giết đàn bà, trẻ em và ông già. Đó không phải là một chiến công. Đó là một thảm kịch”!
Chúng tôi xin nêu lên mấy vấn đề như sau:
Cộng Sản có áp dụng chiến thuật Du Kích, cho cán binh ẩn núp trong ấp Thanh Phong hay không? Nếu toán “Người Nhái” Hoa Kỳ phạm tội “giết hại dân chúng VN” thì CSVN phạm tội gì đối với “đồng bào rut thịt” của họ?
Thứ đến, ngoại trừ VC, không ai có thể cả quyết, sau khi ngưng tiếng súng, chỉ có đàn bà và trẻ thơ bị thiệt mạng. Vì lẽ, trước VC rút lui, chúng đã mang tất cả thương binh và xác chết của đồng đội đi nơi khác. Hơn nữa, nam và nữ du kích VC, nhiều khi có cả trẻ em 12, 13 tuổi, mặc quần áo như thường dân, trong lúc giao tranh, nếu bị bắn hạ thì đồng đi của họ chỉ cần tháo gỡ vũ khí ra khỏi xác chết, ném xuống đường mương chẳng hạn, là họ biến thành “đàn bà và trẻ em vô tội” đã bị binh lính Mỹ sát hại!!!
Qua bản tin của CBS ngày 30.4.01, ai có kinh nghiệm về “cò mồi” VC (được móc nối, mua chuộc và mới lời để “nói như vẹm”) thì không thể nào tin tưởng vào lời khai của 3 “chứng nhân” Bùi Thị Lượm, Phạm Thị Lành và Gerhard Klenn. Họ cáo buộc toán “Người Nhái” đã tập trung đàn bà và trẻ con để bắn chết tập thể. Nhưng ông Bob Kerry đã cả quyết bảo rằng:
“Không lần nào ông ra lệnh cho tập trung dân làng và bắn họ chết. Toán Người Nhái cũng không moi ruột và cắt đầu người nào”.
Người ta tin là ông Bob Kerry nói đúng sự thật. Vì lẽ, Hoa Kỳ là xứ văn minh và thượng tôn pháp luật, nên toán “Người Nhái” Mỹ, không thể nào lại có hành đng man rợ và phạm pháp như cắt đầu, moi ruột, hoặc chém giết tập thể.
2- Cuộc Thảm Sát Ở Mỹ Lai
Sang chuyện kế tiếp là cuộc thảm sát ở Mỹ Lai năm 1968. Hẳn quý vị còn nhớ, thảm cảnh xẩy ra năm 1968. Nhưng mãi đến 1998, Lục Quân Hoa Kỳ mới ban thưởng huân trương cho 3 quân nhân đã bất chấp hiểm nguy, đứng ra ngăn cản đồng đội, bắn phá bừa bãi ở Mỹ Lai.
Câu chuyện xẩy ra trong khi hành quân: 3 quân nhân Mỹ đang ngồi trên trực thăng thì thấy ở phía dưới, một toán đồng đội của họ, bắn xối xả vào một hầm trú ẩn của VC — có thường dân ở bên trong. Ba quân nhân này liền đáp phi cơ xuống rồi cầm súng đại liên chĩa vào toán lính ấy và ra lệnh cho họ không được bắn vào trong hầm nữa.
Dù sao, Hoa Kỳ đã tỏ lòng phục thiện qua quyết định ban thưởng huy chương cho 3 quân nêu trên. Người chịu tránh nhiệm hàng đầu trong vụ thảm sát là trung uý William Calley đã bị đưa ra toà.
Ngược lại, phía VC thì sao? Trong cuộc chiến, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp hay tên đồ tể nào đã áp dụng “Chiến Tranh Nhân Dân” của Tàu Cộng, ép buộc toàn dân kháng chiến. Ở những nơi VC kiểm soát, chúng bắt buộc tất cả bô lão, trẻ em và thiếu nữ đều phải tham gia công tác “đánh Pháp” hay “chống Mỹ cứu nước” chẳng hạn như phụ giúp với “anh em du kích”, đào hầm chông, trôn mìn, gài bẫy, phá đường, đắp ụ… và rải truyền đơn.
Chính kẻ viết bài này, hồi còn ấu thơ, phải sống trong vùng Việt Minh kiểm soát ở miền Bắc (1946-1954), đã bị Mặt Trận Việt Minh CS ép buộc, làm những việc tương tự như trên trong sinh hoạt của đoàn thể “Thiếu Nhi Cứu Quốc”! Nếu chẳng may các em thiếu nhi đi phụ giúp “anh em du kích”, đào hầm chông hay gài mìn, mà bị giặc Pháp bắn chết thì giặc Pháp độc ác hay giặc Cộng độc ác?
Vì vậy, trong cuộc chiến Du Kích, trong lúc hành quân, khó ai có thể phân biệt được, thường dân và VC. Đây là nguyên nhân, dẫn đến thảm cảnh ngộ sát dân chúng ở Mỹ Lai!
Trong trận Mậu Thân, nếu quý vị nào ở Sài Gòn thì thấy rõ chiến lược của VC: Lẩn trốn trong vùng đông dân cư, trong các khu nhà lá…. và trong các đền chùa, để bắn vào quân đi VNCH. Như vậy, khi giao tranh, làm sao dân chúng tránh khỏi thiệt hại?
Sau khi dân chúng bị thiệt hại, VC “đánh trống khua chiêng”, vu cáo cho quân đi VNCH đã “giết hại đồng bào; đốt nhà… và bắn phá nhà thờ cùng đền chùa” của dân chúng.
Khi đề cập đến vấn đề này, trên trang 37 của cuốn “No More Vietnams”, Tổng Thống Nixon đã nêu lên nhận xét rất chính xác về chiến tranh VN, đại ý như sau:
“Hoa Kỳ tìm cách giảm thiểu và ngăn chặn những cuộc tấn công vào vị trí địch khi nhận thấy có thể gây thiệt hại cho thường dân. Còn Việt Cộng, khi tấn công chúng ta, nếu có thiệt hại cho dân chúng, cũng là trọng tâm trong chiến lược của họ. Quân đi Mỹ, nếu ngộ sát thường dân VN thì bị lãnh án tù. Về phiá Cộng Sản, khi cán binh sát hại thường dân bừa bãi thì lại được tưởng thưởng”.
Nếu so sánh vụ ngộ sát 175 người ở Mỹ Lai, với vụ cố sát 5800 đồng bào Huế năm Mậu Thân, thì bên nào độc ác hơn bên nào?
Nhiều người còn nhớ, sau khi chiếm thành phố Huế năm Mậu Thân, VC đã thẳng tay giết hại tại chỗ, hoặc bắt mang đi nơi khác để thủ tiêu, tổng cng 5800 thường dân. Có hàng chục nấm mồ tập thể, chôn vùi gần 3 ngàn đàn bà, trẻ em, bô lão và thanh niên. Từ Lăng Khải Định tới Phú Lương, từ vùng Phú Xuân tới Gia Hội, Cồn Hiến, Bãi Dâu… rồi Phú Cam, đi tới đâu người ta cũng tìm thấy xác người chết, 2 tay bị chót chặt bằng giây kẽm gai. Có nạn nhân bị VC xuyên giây kẽm gai qua 2 bàn tay. Có nạn nhân bị VC đập bể sọ. Có nạn nhân bị VC chặt cụt đầu… Xác luơng dân bị trôn vùi, nhiều đến nỗi, sau 8 tháng trời — kể từ khi Huế được Quân Đội VNCH giải thoát – nhiều nơi vẫn còn mùi hôi thối!!!
Hầu hết các phóng viên Âu Mỹ đã chứng kiến cảnh chém giết rùng rợn này. Nhưng mỗi khi nhắc đến chiến tranh VN thì bọn bất lương, chỉ chiếu lại ảnh “cô bé” Kim Phúc ở Trảng Bàng bị phỏng vì bom Napalm của VNCH… và ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan, cầm súng bắt vào đầu tên VC! Không bao giờ chúng nêu lên tội ác tầy trời của VC.
3- Phần Phán Xét Của Ðộc Giả
Như đã trình bầy ở trên, từ chuyện Lục Quân Hoa Kỳ quyết định ban thưởng huy chương, cho đến vụ ông Bob Kerry tỏ ý ân hận về thảm cảnh xẩy ra ở ấp Thanh Phong, đều là chuyện phục thiện. Mặc dù, đó là những lầm lỗi cá nhân — hoàn toàn không phản ảnh đường lối của Hoa Kỳ. Trường hợp lầm lỗi trầm trọng, như vụ ngộ sát ở Mỹ Lai, trung uý William Calley là người chịu tránh nhiệm, đã bị đưa ra toà để phán xét phân minh.
Còn phía CSVN thì ngược lại. Chúng đã cho cán bộ áp dụng những đường lối bất nhân. Do đó, những tội ác do VC gây ra gắn liền với tội ác của chế độ. Điển hình sách lược “Cảnh Cách Ruộng Đất” ở miền Bắc; “Đánh Tư Sản” ở miền Nam; đầy đọa tù binh VNCH trong ngục tù “cải tạo”; khủng bố hoặc ám sát hàng chục ngàn người bất đồng chính kiến; đeo đuổi cuộc “Chiến Tranh Nhân Dân” để ép buộc toàn dân phải tham gia kháng chiến; áp dụng chiến thuật “Du Kích và “Gây Căm Thù”, qua việc cho cán binh ẩn núp trong khu đông dân cư hay “đóng chốt” nơi nhà thờ, đền chùa để bắn vào quân đi Hoa Kỳ và VNCH.
Tuy nhiên, tội ác lớn nhất của quốc tặc Hồ Chí Minh và đồng đảng là việc thành lập “Mặt Trận Côn Đồ”, mệnh danh là MT “Giải Phóng Miền Nam” để khởi xướng chiến tranh. Đây là nguyên nhân chính yếu khiến Mỹ đem quân vào miền Nam, oanh tạc miền Bắc để ngăn chăn CS bành trướng. Vì vậy mà thảm cảnh chiến tranh máu lửa kéo dài 20 trời, làm hàng triệu người trong đó có dân chúng ở Thanh Phong và Mỹ Lại bị chết oan. Ðể rồi, sau khi chiến tranh chấm dứt, cũng vì ách đô hộ Mác-Lênin mà VN vẫn là quốc gia nghèo khổ, lầm than và nhiều tệ đoan xã hội nhất thế giới.
Nói cách khác, lịch sử VN cùng với lịch sử bên các nước Ðông Âu và Liên-Xô; bên Tàu Cộng và Bắc Hàn đã chứng minh — rõ ràng như dưới ánh sáng mặt trời: Cộng Sản Mác-Lênin là THẢM HỌA CỦA NHÂN LOẠI.
Vậy thì quỷ kế nào có thể che đậy được tội ác tầy trời của quốc tặc Hồ Chí Minh và đồng đảng đã mang thảm họa ấy từ bên Liên-Xô về VN giầy xéo quê cha đất tổ?
Vậy thì bọn thiên tả và bọn VC ‘nằm vùng’ ở hải ngoại, ‘đánh trống khua chiêng’ về cuộc thảm sát ở ấp Thanh Phong, hay ở Mỹ Lai để làm gì?
Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!
Tuy nhiên, để tỏ thái độ khách quan, chúng tôi vẫn mong muốn, mấy vấn đề và sự kiện lịch sử nêu trên được quý vị phán xét công minh.
San Jose 2.5.2001
Trần Quốc Kháng
LoiLamCaNhan.Doc
Rev, May 2008
May 10, 2008
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 8.5.2008
Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang giả hay thật ? Phe chống đối Giáo chỉ số 9 là ai ? Sư Thích Quảng Ba nói đúng hay sai ?… Ông Võ Văn Ái trả lời báo Saigon Times ở Sydney, Úc Đại Lợi
PARIS, ngày 8.5.2008 (PTTPGQT) – Báo Saigon Times do ông Hữu Nguyên làm Chủ nhiệm đã cho đăng bài phỏng vấn ông Võ Văn Ái trong số phát hành tại Sydney, Úc Đại lợi, ngày 1.5.2008. Qua 12 câu hỏi, tất cả những vấn đề trọng yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đã được đề cập. Từ Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 làm dấy lên sự chống đối của một số Tăng sĩ và Cư sĩ trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại. Những bài viết nặc danh có, hữu danh có, tung huyễn tin lên mạng Internet quy kết Giáo chỉ giả. Rồi những lời tuyên bố tại Úc của Sư Thích Quảng Ba kêu gọi Phật tử hải ngoại hãy ủng hộ cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước, v.v…
Tất cả những thắc mắc trong dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại 8 tháng qua được ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kiêm Tổng Uỷ viên Ngoại vụ Văn phòng II Viện Hoá Đạo, giải đáp tường tận.
Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải toàn văn cuộc phỏng vấn trên báo Saigon Times dưới đây :
Saigon Times (SGT) : Thưa Ông, một trong những sự kiện quan trọng nhất đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là Giáo Chỉ Số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ấn ký. Vậy xin Ông cho biết, nguyên nhân nào và hoàn cảnh nào khiến Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang ban hành Giáo Chỉ số 9?
Ông Võ Văn Ái (Ô. VVA) : Nguyên nhân và hoàn cảnh Giáo chỉ số 9 do Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007 xuất phát từ 7 nhận định về vị thế và tình hình Phật giáo trong dòng lịch sử Việt Nam hai nghìn năm qua. Trong 7 nhận định ấy, 4 nhận định sau đây khế hợp với tình hình Gíao hội bị nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, đồng thời với sự xuất hiện của một thành phần cơ hội gây rối trong nội bộ Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Nói theo lời Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, là hoàn cảnh « trong đánh ra ngoài đánh vào », hay nói theo thuật ngữ Phật giáo là « nội ma ngoại chướng ».
Nói tóm, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình”, mà ai cũng có thể nhận ra mối hiểm nguy ngày nay của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được trình bày qua 4 nhận định ghi trong Giáo chỉ số 9 như sau :
- Nhận định rằng kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh bị bức hiếp, không có tự do, không được quyền hoằng dương Chánh pháp theo truyền thống Phật giáo;
- Nhận định rằng vì nhiều lý do nội tại hay khách quan, vô tình hay cố ý, một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội;
- Nhận định rằng sự phát triển bền vững của nhân loại ngày nay là cuộc phát triển tổng hợp và đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục, môi sinh ; đạo Phật chỉ có thể phục vụ hữu hiệu con người trong một xã hội tự do, tôn trọng nhân quyền và dân chủ. Nhận định này làm nền tảng cho yêu sách phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam, và là lý do vận động kiên trì suốt 32 năm qua của Giáo hội và Phật giáo đồ trong nước cũng như công tác vận động quốc tế của Giáo hội và Phật giáo đồ ở hải ngoại;
- Nhận định rằng những cuộc đàn áp liên tục, ngày càng gia tăng của Nhà cầm quyền CHXHCNVN, đặc biệt gần đây đối với các Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Hơn nữa, ngày 16 âm lịch Đinh Hợi tức 28.8.2007, hầu hết hàng giáo phẩm thuộc Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo, từ Viện trưởng, Phó Viện trưởng đến đa số các Tổng vụ trưởng bị các Ủy ban Nhân dân Phường mời đi làm việc, song song với chiến dịch báo chí, truyền thanh, truyền hình của Nhà nước trên toàn quốc tấn công, bôi nhọ, vu cáo GHPGVNTN và Viện trưởng Viện Hóa Đạo, vì Giáo hội thể hiện đức từ bi của đạo Phật góp phần cứu trợ vật chất cho tập thể Dân oan đi khiếu kiện bị thiếu thốn lương thực. Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo hội đã được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và ngày 23.8 tại Hà Nội. Thực tại Dân oan đi khiếu kiện là mối bức xúc xã hội trầm trọng, sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay, là vì nỗi oan ức của người nông dân bị cướp đất, cướp nhà, bị lăng nhục và xúc phạm nhân phẩm từ hơn 20 năm qua không được nhà cầm quyền giải quyết. Chiến dịch đàn áp, vu cáo và khủng bố tinh thần hiện nay đối với GHPGVNTN báo hiệu một cuộc bắt bớ, đàn áp nước lũ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, bó buộc Giáo hội phải có biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình;
- Nhận định rằng đồng thời với cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế.
Điều lạ là câu viết trong nhận định cuối cùng trên đây : « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế », thực tế chỉ nói giới hạn « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại », thế nhưng bỗng nhiên có hàng loạt người nổi lên nhao nhao tự nhận mình thuộc « một số phần tử cơ hội » ấy, để tuôn lời trách móc Giáo chỉ số 9 « khai trừ » họ, hoặc « giải tán » toàn thể các Giáo hội tại hải ngoại ?! Thế thì tự họ cáo buộc họ theo kiểu « lạy ông tôi ở bụi này » chứ chẳng ai khác.
« Một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại » này đã được Hoà thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư ký Viện Tăng thống kiêm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa thiên – Huế, nói rõ tên và danh xưng trong bản Phúc trình Phật sự viết ngày 8.9.2007 gửi Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Đặc biệt qua điều 2 và 3 sau đây (xin xem toàn văn trong Thông cáo báo chí do Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành ngày 2.11.2007) :
« 2- Một số Phật tử ở Úc và Hoa kỳ, có gọi điện về thăm và nhân tiện, bày tỏ sự bất bằng về một số Thượng tọa, Đại đức và Cư sĩ tu xuất, đang là Thành viên Hội đồng Điều hành GHPGVNTN/HN tại Úc và Hoa kỳ, lại đi vận động tách khỏi GHPGVNTN là vì sao? Chúng tôi chỉ trả lời vắn tắt trên điện thoại rằng, chắc vì các vị có một vài mâu thuẫn cá nhân nào đó, trong phương pháp hành đạo. Có dịp sẽ trò chuyện sau. Bây giờ không tiện.
« Điều mà Phật tử thắc mắc, chúng tôi thấy, đã được cụ thể qua quan điểm của anh Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường. Hai anh hồi cuối tháng 6 và đầu tháng 7 năm 2007; anh Trần Quang Thuận chê trách Hòa Thượng Quảng Độ. Bùi Ngọc Đường ngoài những lời lẽ như anh Thuận; Bùi Ngọc Đường còn thêm chê bai Giáo hội. Sau hết Bùi Ngọc Đường khuyên chúng tôi từ chức Chánh thư ký Viện Tăng thống để nghỉ ngơi, giống hệt như lời Thượng tướng Công an Nguyễn Văn Hưởng đã khuyên Đức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi. Giọng điệu hai anh có vẻ như muốn thỏa hiệp, để được sinh hoạt, ý tưởng nầy còn được thấy rõ qua nhóm Thân Hữu Già Lam.
« 3- Chúng tôi được biết, ở Tu Viện Quảng Hương Già Lam; cách đây một năm, đã hình thành một nhóm, có tên gọi “Thân Hữu Già Lam”. Thành viên khoảng trên dưới 40 vị gồm các thành phần Tu sĩ, Cư sĩ, Cư sĩ tu xuất. Các vị có mặt trong nước, ngoài nước khắp các châu lục. Các vị sinh hoạt dưới dạng Tăng già, chưa dám đứng hẳn vào Gíao hội Phật giáo Việt Nam năm 1981. Các vị quyên góp tiền gây quĩ xây dựng Đại Học, Thư Viện, Hội Trường, làm Văn Hóa Giáo Dục Phật Giáo. Đứng đầu nhóm có GS TS Lê Mạnh Thát, và học giả Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ. Cả hai vị đều đã có một quá khứ hào quang sáng chói, được người dân miền nam Việt Nam vinh danh “người về từ cõi chết”. Có điều lạ là, hồi cuối tháng 7/2007, Hòa Thượng Thích Đức Chơn, về Qui Lai dự lễ Húy nhật Thân mẫu. Hòa Thượng có ghé chùa Báo Quốc thăm, chúng tôi có hỏi Hòa thượng về nhóm “Thân Hữu Già Lam”. Hòa thượng có vẻ ngạc nhiên và bảo, tôi thực sự không hay biết gì về việc này, làm vậy sao được.
“Nhóm “Thân Hữu Già Lam” phần đông, đang là thành viên chủ chốt của GHPGVNTN trong nước và hải ngoại. Nay vì một vài ý kiến bất đồng nào đó mà xây lưng lại với Giáo hội và vận động người khác chống lại Giáo hội, cô lập hai vị Hòa thượng đang lãnh đạo Giáo hội thì chẳng hay ho gì! Mà ai lại làm vậy bao giờ. Những mâu thuẫn nội bộ trong sinh hoạt là chuyện bình thường. Cái gì còn có đó, vai trò phục vụ đạo pháp dân tộc của các vị còn kia, đã mất mát gì đâu mà vội vàng, đôi khi bất đạt, còn gây tổn thương lớn cho tập thể, tổ chức Giáo hội.
“Chúng tôi có đọc nội dung biên bản cuộc họp của các vị “Thân Hữu Già Lam” ngày 23/8/2006, qua hệ thống điện thoại có nhiều người tham dự, từ Việt nam, Úc, Canada, Mỹ, … Họ tổ chức cuộc họp nầy đã hơn một năm nay, và hiện nay đang hoạt động tích cực. Phật đản PL: 2551 vừa qua, vùng nam California, những vị thuộc nhóm “Thân Hữu Già Lam” đã không tuyên đọc Thông điệp của Đức Tăng Thống Đệ Tứ GHPGVNTN khi cử hành lễ Phật Đản”.
SGT : Thưa nội dung chính yếu của Giáo Chỉ số 9 là gì? Trong Giáo Chỉ Số 9 có điểm gì đặc biệt liên quan đến Phật Giáo VNTN tại Úc và Tân Tây Lan?
Ô. VVA : Như đã nói ở trên, Gíao chỉ số 9 là « biện pháp tự vệ cùng tiên liệu đối phó với tình hình” thông qua 4 nhận định về hiện trạng cấp thiết và nguy biến trước cảnh “trong đánh ra ngoài đánh vào” hoặc “nội ma ngoại chướng” của Giáo hội. Biện pháp thi hành là thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo, mà nhiệm vụ được quy định tại Điều 2 của Giáo chỉ số 9 là : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo đại diện cho Viện Hóa Đạo tại hải ngoại để truyền đạt chủ trương, đường lối và hoạt động của Giáo hội trong nước thông qua các cơ sở của Giáo hội ở hải ngoại, các cộng đồng Phật giáo và cộng đồng Người Việt hải ngoại nói riêng, và trong cộng đồng thế giới nói chung”.
Ở vào tình trạng Giáo hội trong nước bị nhà cầm quyền Cộng sản khủng bố toàn triệt không còn cách hoạt động dù là tối thiểu, thì nhiệm vụ của Văn phòng 2 được quy định theo Điều 4 : “Văn phòng II Viện Hóa Đạo nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động của Giáo hội gặp lúc Viện Hóa Đạo trong nước bị đàn áp không thể hoạt động. Mọi hoạt động của Văn phòng II Viện Hóa Đạo dựa trên cơ sở lập trường và đường hướng quy định trong bản Hiến chương GHPGVNTN được Đại hội Khoáng đại kỳ V ngày 12.12.1973 tu chính, và tuân thủ lập trường biểu hiện qua các văn kiện, thông điệp, tuyên cáo, kêu gọi do Giáo hội trong nước công bố từ năm 1992 đến nay”.
Điều cần nói là Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo vốn đã hiện hữu từ năm 1992 nhưng trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ chiếu theo Quyết Định số 27-VPLV/VHĐ do Hoà thượng Thích Huyền Quang, Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, ban hành ngày 10.12.1992. Nay theo Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.2007, thì Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo Điều 3: “Văn phòng II Viện Hóa Đạo trực thuộc sự chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện Hóa Đạo trong nước. Thành viên Văn phòng II Viện Hóa Đạo do Viện trưởng Viện Hóa Đạo thỉnh tuyển và chỉ định; tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, các thành viên có thể được bổ sung, hoán chuyển hay thay đổi”.
Như thế, Giáo chỉ số 9 ban hành việc thiết lập Văn Phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ cấu mới, nên không đề cập gì đến Giáo hội các châu cũng như Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại Úc và Tân Tây Lan.
SGT : Quý vị lãnh đạo Phật Giáo, Phật tử, cũng như người Việt nói chung tại VN cũng như hải ngoại, đã có những phản ứng gì đối với Giáo Chỉ số 9?
Ô. VVA : Tất cả chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử trung kiên với đường lối, lập trường cố hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất dưới sự lãnh đạo tối cao của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, đều có phản ứng duy nhất : Tán thán và khâm tuân Giáo chỉ số 9 do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành. Tán thán vì nhận định rằng đối tượng của Giáo chỉ số 9 là Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Một nhà cầm quyền theo chủ nghĩa ngoại lai Mác – Lênin nên thi hành chủ trương tiêu diệt Phật giáo nói riêng và tôn giáo nói chung. Đồng thời tán thán Giáo chỉ số 9 đã cứu nguy Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Nếu không có Giáo chỉ số 9, thì ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị nhà cầm quyền Cộng sản nuốt chửng, như lời Giáo chỉ số 9 nhận định, thông qua « một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội” và « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế”.
Phản ứng mạnh mẽ nhất có tính đồng thuận ủng hộ GHPGVNTN đến từ Cộng đồng Người Việt Hải ngoại. Sự lên tiếng đầu tiên là « Tuyên Cáo » ngày 21.11.2007 « Xác định lập trường ủng hộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do nhị vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội » và « Kêu gọi đồng hương đề cao cảnh giác trước những âm mưu xâm nhập và khuynh đảo, gây mâu thuẫn tôn giáo trong Cộng đồng người Việt hải ngoại của CSVN ». Tuyên cáo này do Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu công bố với các chữ ký của Chủ tịch Liên bang, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch Tiểu bang NSW, Võ Trí Dũng, Chủ tịch Tiểu bang VIC, Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Tiểu bang QLD, Bùi Trọng Cường, Chủ tịch Tiểu bang Nam Úc, Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Chủ tịch Tiểu bang ACT, Lê Công, Chủ tịch Tiểu bang Bắc Úc, Lê Tấn Thiện, Chủ tịch Tiểu bang Wollongong, Trần Hương Thuỷ, và Chủ tịch Tiểu bang Tây Úc, Phạm Lê Hoàng Nam.
« Tuyên cáo » của Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Yểm Trợ Quốc Nội vùng Đông Hoa Kỳ ngày 1.12.2007 « Xác định lập trường ủng hộ GHPGVNTN do nhị vị Đại Lão Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo cùng các cơ cấu trực thuộc Giáo Hội, ủng hộ Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8.9.20076 cũng như thành quả của Đại hội Bất thường của GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức ở chùa Bửu Môn, thành phố Port Arthur ngày 10.11.2007 ».
Tiếp đến là « Bản Lên Tiếng chung » của Cộng Đồng Việt Nam tại Nam California, Hoa Kỳ, « về sự tái cấu trúc (theo Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang) và công cuộc đấu tranh cho Đạo pháp và Dân tộc của GHPGVNTN dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ». Bản Lên tiếng chung này đã được 24 đoàn thể, đảng phái, tổ chức tại California, Hoa Kỳ, đồng ký tên và công bố hôm 27.12.2007.
Ngoài ra, sự kiện mới mẻ chưa hề xẩy ra trước đây, là sự lên tiếng tự phát của hàng loạt bài tố cáo những phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại ẩn nấp dưới nhiều danh xưng, như nhóm Về Nguồn, nhóm Thân hữu Già Lam, nhóm Tăng Ni Hải ngoại, v.v… Các loạt bài này rộng rãi tung lên mạng lưới Internet, các Trang Nhà hay thông qua các buổi hội luận Paltalk. Đây chính là phản ứng lành mạnh và có ý thức của quần chúng đông đảo trong Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản.
Trong nội bộ Giáo hội, thì Ðại hội Bất thường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức tại Chùa Bửu Môn ở thành phố Port Arthur, bang Texas Hoa Kỳ, ngày 10.11.2007, với 89 đơn vị thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền của Giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ bao gồm 108 Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, và Cư sĩ đại biểu đã thể hiện sâu xa tinh thần “Vọng hướng Giáo hội Mẹ” với Ý thức Giải nguy hiện trạng nội ma ngoại chướng đang phân hóa cộng đồng dân tộc và cộng đồng Phật giáo. Đại hội đồng thanh quyết nghị triệt để khâm tuân Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang.
Điều trọng yếu là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ là chiếc nôi đón nhận sự ra đời của Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo năm 1992 và nay tiếp tục bảo toàn Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo theo cơ chế mới trong công cuộc giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn.
Hiển nhiên cũng có những phản ứng chống lại Giáo chỉ số 9 đến từ một số chư Tăng và Cư sĩ vốn có chân hoặc có chức vụ trước kia trong GHPGVNTN Hải ngoại. Tôi dùng chữ « trước kia », là vì họ không còn ở trong GHPGVNTN nữa. Dù rằng họ tiếp tục tuyên bố họ thống thuộc GHPGVNTN, tôn kính hai ngài lãnh đạo tối cao là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo ; nhưng lại xác nhận là « họ không khâm tuân Giáo chỉ số 9 ». Tuyên bố như vậy thì khác gì một công dân Úc nào đó nói rằng tôi tôn kính Thủ tướng Úc nhưng tôi không chấp nhận luật pháp và Hiến pháp Úc Châu ?! Những cá nhân nào, dù là Tăng, dù là Cư sĩ hoặc nhân danh Giáo hội một châu hay một quốc gia nào ở hải ngoại tuyên bố như trên, là tự họ đặt họ ra ngoài khuôn khổ của GHPGVNTN. Một Giáo hội dân lập và lịch sử như GHPGVNTN cũng không thể chấp nhận trong hàng ngũ mình những thành viên vô kỷ luật và đi sai đường hướng, lập trường của Giáo hội.
Vấn đề đặt ra là tại sao những người này chống Giáo chỉ số 9, nhưng vẫn tự đặt họ vào trong khuôn khổ của GHPGVNTN, hơn nữa còn tôn kính Đức Tăng thống và Đại lão Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo ?
Dễ hiểu thôi : uy tín của hai ngài lãnh đạo GHPGVNTN rất lớn, trong lòng quần chúng Phật tử trong và ngoài nước cũng như trong chính giới và công luận quốc tế. Mặt khác GHPGVNTN là giáo hội bất khuất không bái lạy chế độ Cộng sản lại còn kiên cường đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ suốt 33 năm qua. Nên được mọi tầng lớp nhân dân và các tôn giáo bạn vị nể. Những người nói trên đây đang sống giữa Cộng đồng Người Việt Tị nạn Cộng sản và thụ hưởng sự cúng dường của đàn na tín thí. Do đó, họ phải dựa hơi vào GHPGVNTN để được an toàn và phát triển chùa viện của họ, mong tránh việc tẩy chay của đồng bào thuộc phe dân tộc. Dù lập trường họ đã đổi thay và họ chủ trương thủ tiêu tranh đấu. Cho nên vấn đề chống Cộng của họ chỉ là việc màu mè. Ví dụ mà bản thân tôi từng chứng kiến cho thấy sự màu mè này. 33 năm trước đây tôi đến gặp một nhà sư ở Paris mong cầu sư đứng lên đấu tranh giải nguy cho Giáo hội trong nước. Thời ấy ông đang phục vụ cho Sư Ông Nhất Hạnh. Sư trả lời với tôi rằng : « Tôi nay chỉ lo việc đạo thôi, không muốn dính gì đến việc thế sự ». Thế rồi một vài năm sau, phong trào Người Vượt Biển dồn dập đến Pháp. Đa số là Phật tử không chấp nhận chế độ độc tài toàn trị. Thời ấy Paris chỉ có 2 ngôi chùa, một ngôi chùa tuyên bố không làm chính trị, trong nghĩa không tham gia đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo, nên bị đa số quần chúng Phật tử lãnh đạm không đến sinh hoạt. Nhân đấy mà vị sư tôi vừa nói bỗng nhảy ra hoạt động hăng hái rồi trở thành vị sư « đệ nhất chống Cộng » ở Paris. Hiển nhiên là quần chúng Phật tử đã đông đảo đến sinh hoạt và ủng hộ xây dựng ngôi chùa của vị sư này. Chùa phát triển lớn vào bậc nhất, nhưng nay vị sư cũng dần dà « đấu tranh » theo lối xuân thu nhị kỳ, dần dà trở về vị trí của câu ông đáp lời mời gọi của tôi 33 năm trước.
Những người chống Giáo chỉ số 9 là ai ? Họ gồm có : 8 vị Hoà thượng ở Hoa Kỳ vừa họp Đại hội để ly khai GHPGVNTN và cho thành lập tổ chức mới mang tên « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » ; tại Canada có tổ chức của Thượng toạ Thích Bổn Đạt – Thích Tâm Hoà ; tại Úc có một số chư Tăng do Thượng toạ Thích Quảng Ba bảo lãnh sang Úc, tập trung tại một ngôi chùa ở ngoại ô Sydney. Công tác của nhóm nhà sư này là ngày ngày tung qua nhiều địa chỉ E.mail lên mạng Internet phổ biến các tài liệu giả, các bài nặc danh đánh phá GHPGVNTN, bất kính với hàng lãnh đạo Giáo hội và tập trung chĩa mũi dùi mạ lỵ và vu khống Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế hòng gây hoang mang và ly gián trong Cộng đồng đấu tranh của Người Việt nước ngoài.
Tại sao tuyên bố mình vẫn là thành viên GHPGVNTN, lại thành lập tổ chức có danh xưng khác ? Câu hỏi có thể tìm thấy ở các thành viên được trọng vọng trong tổ chức « Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ » thường đi đi về về Việt Nam và đã liên hệ với nhà cầm quyền Cộng sản, như 3 Hoà thượng Thích Giác Nhiên, Thích Minh Tuyên, Thích Phước Thuận và hai Cư sĩ Bùi Ngọc Đường, Trần Quang Thuận. Là người dân chủ, tôi tôn trọng sự chọn lựa chính trị của 5 vị này, họ có toàn quyền theo hay không theo, liên hệ hay không liên hệ với chế độ Cộng sản. Tuy nhiên tôi đòi hỏi ở họ sự lương thiện trí thức. Hãy công khai nói lên chính kiến của mình, hãy mở cuộc tranh luận ý kiến, thay vì ẩn nấp vào các sự kiện thuần tuý Phật giáo để trí trá viết hay cho viết hàng chục bài nặc danh chửi bới hồ đồ, vu cáo trắng trợn thông qua cái gọi là nhóm Tăng Ni Hải ngoại. Có tranh luận mới làm sáng tỏ vấn đề, và biết đâu họ không khai thị cho người khác bước theo con đường thoả hiệp Cộng sản của họ, nếu họ có lý và có chiến lược phát huy đạo Phật Việt Nam dưới mái nhà tù Cộng sản ?
Sở dĩ chúng tôi không trả lời các sự đánh phá và bôi nhọ này, đặc biệt đến từ các E.mail của ngôi chùa ở Úc nói trên và nhóm Tăng Ni Hải ngoại, là vì hai lý do. Chúng tôi không trả lời cho những kẻ thiếu can đảm bảo vệ ý kiến họ khi không dám ký tên thật và địa chỉ thật dưới bài viết. Trả lời các bài viết nặc danh khác chi đối đáp với những cô hồn vất vưởng ? Lý do thứ hai, là các bài viết ấy với lý luận hồ đồ, ngôn ngữ xỏ xiên, mà mục tiêu đánh phá y hệt các bài viết đăng trên các báo Công An, An Ninh Thế giới, Nhân Dân, Quân Đội Nhân dân… của Đảng Cộng sản đánh phá GHPGVNTN, Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và tôi, Võ Văn Ái, mà chúng tôi đọc được qua hàng trăm bài từ 1977 đến nay. Hãy so chiếu ngôn ngữ, lý luận, mục tiêu của hai loại bài viết nặc danh này tất thấy ngay chúng phục vụ ai và chúng muốn gì. Chắc chắn là không phục vụ cho dân tộc và không muốn cho đạo Phật phát huy.
SGT : Được biết, Thượng Tọa Thích Quảng Ba là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp, và là Phó Hội Chủ Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Ngoài ra, theo lời của chính Thượng Tọa TQB thì Thượng Tọa cũng còn giữ vai trò trong Phòng 2 Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Nhưng trong Thông Cáo Báo Chí làm tại Paris ngày 17 tháng 3 năm 2008, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế có đề cập đến một tài liệu giả mạo, trong đó xác nhận có nhiều tên tuổi [trích nguyên văn] “trong danh sách giả mạo gồm 52 Tăng Ni có nhiều vị không được Viện Hoá Đạo trong nước công nhận, như trường hợp Thượng toạ Thích Quảng Ba là một”. Xin ông cho biết rõ lý do vì sao, Thượng Toạ Thích Quảng Ba lại không được Viện Hóa Đạo trong nước công nhận?
VVA : Chiếu theo Quyết định số 38/VHĐ/QĐ/VT do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, ký ngày 9.3.2008 phê chuẩn thành viên nhân sự Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN tại Úc châu và Tân Tây Lan, thì Thượng toạ Thích Quảng Ba không còn giữ một chức vụ gì cả.
Thượng toạ Thích Quảng Ba chưa bao giờ có tên hay giữ một vai trò gì trong Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo chiếu theo danh sách nhân sự Văn phòng 2 Viện Hoá Đạo được Viện Hoá Đạo hay Hội đồng Lưỡng Viện trong nước phê chuẩn.
Muốn được Viện Hoá Đạo trong nước phê chuẩn cho một vị Tăng hay Cư sĩ vào một chức vụ thuộc GHPGVNTN, thì vị này phải là thành viên trung kiên của GHPGVNTN, đồng thời khâm tuân đường lối, lập trường của GHPGVNTN chiếu theo Hiến chương của GHPGVNTN, bản tu chính ngày 12.12.1973, và các văn kiện của Giáo hội do hàng lãnh đạo tối cao công bố từ sau năm 1975 đến nay, như các văn kiện của Đức Cố Đệ Tam Tăng thống, Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo.
SGT : Trong phiên họp ngày 15-12-1999, LHQ đã chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại lễ Phật Đản LHQ, ngày lễ hội văn hóa tôn giáo thế giới. Vậy thưa Ông, Lễ Tam Hợp có nguồn gốc từ đâu? Ý nghĩa của Lễ Tam Hợp là gì? Nguyên nhân nào khiến LHQ lại chính thức thừa nhận Lễ Tam Hợp là Đại Lễ Phật Đản LHQ?
Ô. VVA : Trước hết xin giải thích chữ Tam hợp trong thành ngữ Lễ Phật Đản Tam hợp. Ba ngày trọng đại trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ngày sinh, ngày thành đạo và ngày nhập Niết Bàn (tức ngày viên tịch). Cả ba ngày này đều rơi vào ngày Trăng tròn. Đại lễ ngày đản sinh hay khánh đản Đức Phật, tiếng Phạn gọi Vesak, là ngày Rằm tháng Tư âm lịch, rơi vào tháng 5 dương lịch, được kết hợp với 2 ngày Rằm kia nên gọi là Tam hợp, tức hợp nhất 3 ngày Rằm trong cuộc đời viên mãn của Đức Phật Thích Ca.
Có người đã nói sai rằng một vị sư người Mỹ đề xuất Liên Hiệp Quốc công nhận lễ Vesak như một đại lễ quốc tế.
Không phải thế, người đề nghị qua một dự thảo Nghị quyết « Công nhận quốc tế về ngày Lễ Vesak tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và qua các văn phòng liên hệ (United Nations Day of Vesak) » (văn bản số A/54/L.59) do ông John De Saram, Đại sứ nước Sri Lanka đệ trình trong phiên họp khoáng đại tại trụ sở LHQ ở New York ngày 15.12.1999. Đại sứ Sri Lanka kêu gọi Hội đồng LHQ công nhận ngày Vesak là ngày thiêng liêng nhất của Phật giáo, và cho phép được công khai hành lễ tại trụ sở LHQ và các trung tâm LHQ trên thế giới. Ông cũng cho biết đại diện các nước Hy lạp, Mauritius, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ bản dự thảo này.
Đại diện của nhiều quốc gia phát biểu hỗ trợ dự thảo Nghị Quyết trong phiên họp khoáng đại gồm có Thái Lan, Singapore, Bangladesh, Bhutan, Tây Ban Nha, Miến Điện, Nepal, Pakistan, Ấn Độ, Lesotho, Nicaragua, Hoa Kỳ…
Lời phát biểu hỗ trợ của Singapore rất có ý nghĩa khi bà Đại sứ Christine Lee nói rằng « công nhận lễ Vesak là một việc làm thích hợp nhằm tôn vinh Đức Phật. Đây là một trong bốn ngày lễ chính tại Singapore là nơi một phần ba dân số là Phật tử ». Bà còn nhấn mạnh rằng « dự thảo Nghị quyết phù hợp với Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ lấy năm 2000 làm năm quốc tế Văn hoá Hoà bình và thập kỷ 2001 – 2010 là thập kỷ quốc tế về Văn hoá Hoà bình cho Thiếu nhi toàn cầu. Dự thảo Nghị quyết này còn mở đường cho năm 2001 là Năm Đối thoại giữa các nền văn minh ».
Đại sứ Tây Ban Nha, ông Juan Luis Flores, thì phát biểu rằng nước ông là một thành viên hỗ trợ Dự thảo Nghị quyết, và tin rằng “LHQ là một nghị trường để các tôn giáo và các nền văn hoá lớn gặp gỡ và hội thoại”.
Đại sứ Ấn Dộ, ông Kamalesh Sharma, nói rằng “Phật giáo tác động lớn lao vào các giá trị tâm linh, luân lý, đạo đức của thế giới, rất xứng đáng để Hội đồng LHQ công nhận và tôn vinh ngày Vesak. Lời dạy tinh tuý của Đức Phật tác động lên đời sống hàng triệu người trên thế giới mang lại niềm hy vọng và giải thoát ».
Nghị quyết được chấp thuận thông qua trong phiên họp cùng ngày 15.12.1999.
SGT : Từ khi được LHQ chính thức công nhận cho đến nay, Đại Lễ Phật Đản LHQ đã được tổ chức như thế nào, ở đâu?
Ô. VVA : Năm đầu tiên, 2000, Đại lễ Phật Đản Tam hợp được chính thức tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York. Sau đó tổ chức ở Mumbai (Ấn Độ), và 3 lần liên tục diễn ra ở Bangkok (Thái Lan).
Năm nay, 2008, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam vì lý do tuyên truyền đăng cai xin tổ chức tại Việt Nam từ ngày 13 đến 17.5.2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội).
SGT : Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa vô thần. Cộng sản với tôn giáo trái ngược nhau như nước với lửa. Thực tế lịch sử xuyên suốt thời gian ngót một thế kỷ qua cũng cho thấy, bất cứ nơi đâu có chế độ cộng sản, cũng có đàn áp dã man tôn giáo. Cụ thể, tại Việt Nam, kể từ khi chế độ CS được thiết lập tại Miền Bắc vào năm 1954, tại Miền Nam vào năm 1975, chế độ CS đã không ngừng đàn áp, khủng bố, sách nhiễu tôn giáo, trong đó có Phật Giáo. Như vậy, ngày 17/5/2007, khi bộ ngoại giao CSVN gửi công hàm số 241 xin chính phủ Thái và Ban Tổ Chức Quốc Tế, cho CSVN đăng cai Đại Lễ Phật Đản LHQ vào tháng 5 năm nay, thì cộng sản VN đã có âm mưu gì?
Ô. VVA : Như đã nói, việc nhà cầm quyền Hà Nội đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản chỉ nhằm vào việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị và độc đảng mà thôi. Mục đích nhắm che đậy chính sách đàn áp Giáo hội dân lập và lịch sử là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), phô trương cho các nước Âu Mỹ thấy rằng « không có đàn áp tôn giáo tại Việt Nam » hoặc « đã có thay đổi trong chính sách tôn giáo tại Việt Nam ».
Ai mà tin được sự kiện một chế độ vô thần, phi tôn giáo và đàn áp tôn giáo lại tôn vinh Đức Phật nhân ngày Khánh đản ? Tệ hơn, sao lại có sự kiện tôn vinh Đức Phật, đồng thời với việc đàn áp GHPGVNTN ? đàn áp 20 Ban Đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh thành miền Trung và miền Nam ? đàn áp những Trưởng tử của Ngài, như hàng giáo phẩm Phật giáo và Phật giáo đồ trong nước, đặc biệt là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo hiện đang bị quản chế khắc khe tại Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định, và Thanh Minh Thiền viện ở Saigon ?
Sự thật là Sri Lanka đã phản đối việc đăng cai tổ chức của Việt Nam. Trên tờ Giác Ngộ số Xuân Mậu Tý của Giáo hội Phật giáo Nhà nước, Phóng viên hỏi Giáo sư Lê Mạnh thát rằng : « Chúng ta có gặp phải sự phản đối nào trong quá trình vận động để trở thành nước đăng cai Đại lễ Phật Đản LHQ 2008? ».
Ông Thát cho biết một vị sư đại diện Sri Lanka không đồng tình vì đặt vấn đề : « Việt Nam có phải là một đất nước Phật giáo không để có thể nhận được quyền đăng cai tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 ? ».
Chắc chắn giáo sư Lê Mạnh Thát đã dựa vào « hào quang án tử hình năm xưa » để bênh vực cho Việt Nam Cộng sản được đăng cai. Ông Thát còn cầu cứu cả Hoa Kỳ để hỗ trợ cho luận điểm của ông khi khẳng định rằng : « Thống kê của Mỹ cho thấy rằng Việt Nam hiện có 60-70% là Phật tử. Như vậy rõ ràng Việt Nam xứng đáng được nhận quyền đăng cai này ».
Theo tin riêng tôi được biết, thì đang có sự lủng củng nội bộ trong Văn phòng Ban Thư ký Uỷ ban tổ chức Quốc tế (IOC). Văn phòng này được đặt vĩnh viễn tại trường Đại học Mahachulalongkorn, Bangkok. Lý do là vì nhà cầm quyền Hà Nội xen lấn, áp đặt chính trị quá nhiều vào Đại lễ Phật Đản sắp tới gây bất mãn cho nhiều quốc gia thành viên trong Uỷ ban tổ chức Quốc tế Đại lễ Phật đản (IOC), nhất là Nhật Bản. Cho nên, Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 sẽ được cử hành song song tại Bangkok và Hà Nội, chứ không tổ chức duy nhất tại Hà Nội, như các năm trước tổ chức duy nhất tại New York (Hoa Kỳ), Mumbai (Ấn Độ) rồi Bangkok (Thái Lan).
SGT : Nhìn vào thành phần nhân sự, cơ cấu tổ chức cũng như mục tiêu của Đại Lễ Phật Đản LHQ năm nay tại VN, có gì đặc biệt chứng tỏ có CSVN đã chính trị hóa Đại Hội?
Ô. VVA : Theo cuộc họp báo ngày 27.11.2007 tại Hà Nội, thì Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ làm Trưởng ban Điều phối Quốc gia Đại lễ VESAK 2008 của Liên hợp quốc, tức nhà cầm quyền Cộng sản thống lĩnh tổ chức chứ không là Phật giáo, kể cả Phật giáo quốc doanh. Ông Doanh cho biết “Chủ trì các Tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chính – Hậu cần (cho Đại lễ Phật Đản) là các cơ quan Nhà nước ». Trong khi ấy, theo Thông bạch Hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 phát hành ngày 7.1.2008 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước, thì Giáo hội Phật giáo Nhà nước chỉ đóng vai trò phụ thuộc : « Ban Thường Trực Hội đồng Trị sự GHPGVN hướng dẫn việc tổ chức Đại Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 ».
Cũng theo tuyên bố tại phiên họp liên tịch sáng ngày 10.3.2008 tại Saigon giữa Ban Điều phối quốc gia (Nhà cầm quyền Hà Nội), Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước và Thường trực Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC) nhằm đúc kết các công tác phối hợp và tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008, thì có những điều sau đây cho thấy bàn tay Đảng « chính trị hoá » Đại lễ Phật đản :
Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « các đề án tổng thể và chi tiết tổ chức đã được hoàn tất và đệ trình Chính phủ ». Nghĩa là việc tổ chức không nằm trong phạm vi Phật giáo, mà là nhà cầm quyền Cộng sản. Trong tư cách Trưởng Tiểu ban Lễ tân – Giao tế, Giáo sư Lê Mạnh Thát cho biết « sẽ phối hợp cùng Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và sinh viên Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách việc tiếp đón và hướng dẫn khách trong thời gian tham dự Đại lễ ». Nghĩa là việc gì Đảng cũng nhúng tay vào. Theo số liệu Nhà nước cho biết thì số lượng Tăng Ni lên đến bốn chục nghìn, Phật tử thì hàng chục triệu, nhưng lại không đủ người đảm đang việc «tiếp và hướng dẫn khách» nhân dịp Đại lễ Phật Đản ! Vì vậy mà phải nhờ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đảm trách chăng ? « Nhờ » hay theo lệnh Đảng buộc phải chấp nhận ?
Trong cuộc họp liên tịch nói trên, lủng củng trong việc tổ chức bắt đầu manh nha, nếu ta nghe lời phát biểu sau đây của HT. Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước, Trưởng Tiểu ban Nội dung của Đại lễ Phật Đản :
« Hiện nay, Tiểu ban Nội dung do tôi làm Trưởng ban đã và đang tiến hành soạn thảo đề án tổng thể, các đề án chi tiết, các bài phát biểu liên quan đến Đại lễ Phật đản và Hội thảo… Tất cả các văn kiện sẽ hoàn tất vào cuối tháng 3 trình Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) để thống nhất nội dung, trước khi được sử dụng. Riêng cá nhân tôi có những nhận xét như sau:
« Thái Lan là nước có kinh nghiệm tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ từ nhiều năm. Các khách mời tham dự được tăng cường sau mỗi năm. Việt Nam lần đầu tổ chức với số lượng 90 quốc gia là điều rất đáng mừng nhưng cũng rất lo ngại về các khâu tổ chức.
« Thế nhưng hiện nay, Ủy ban Tổ chức quốc tế, Ban Điều phối Quốc gia (tức Nhà cầm quyền CS, chúng tôi chú) và Gíao hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước, chúng tôi chú) vẫn chưa phối hợp nhịp nhàng. Có một số nhập nhằng giữa ba phía chưa được thống nhất nên công việc không thông lắm. Do đó chúng tôi đề nghị giữa Ban ĐPQG, IOC và GHPGVN phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết nhất trí trong điều phối công việc ».
SGT : Quan điểm của GHPGVNTN về Đại lễ Phật Đản LHQ 2008 tại Hà Nội như thế nào?
Ô. VVA : Dù tổ chức ở bất cứ đâu hay tại quốc gia nào, Đại lễ Phật Đản phải do chư Tăng Ni, Phật tử của quốc gia ấy đứng ra đảm nhiệm và điều hành. Cũng thế, kỵ giỗ Ông Bà là trách nhiệm của con cháu. Chả lẽ ông Lý trưởng làng thôn, hay Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân lại đứng ra chủ trì cúng kiến thay con cái sao ?!
Đại lễ Phật Đản là đại lễ tôn giáo, không thể để cho bất cứ tập đoàn chính trị nào thao túng để « buôn thần bán thánh ». Nền tảng của Lễ là tấm lòng thành.
Tập đoàn Cộng sản Việt Nam là những tên đồ tể tế sống hàng triệu người Việt trên bàn thờ Mác – Lênin – Staline thông qua cuộc chiến thừa sai với mục tiêu xích hoá con Rồng cháu Tiên, thông qua Cải cách Ruộng đất và Mậu Thân 68, thì làm sao có đủ tấc lòng thành để lễ bái Đức Phật ?
Ngoại trừ trước ngày Phật Đản, Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam công khai lên tiếng xin SÁM HỐI với toàn dân về sự thảm sát dân lành và khủng bố sĩ phu của đất nước, cam kết sẽ tôn trọng Nhân quyền cho 85 triệu người sống, Linh quyền cho hàng triệu người chết oan. Đặc biệt phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, hoàn trả mọi tài sản và cơ sở Cộng sản cưỡng chiếm của Giáo hội sau năm 1975, và trả tự do cho tất cả tù nhân tôn giáo, tù nhân vì lương thức và tù nhân chính trị.
SGT : Những năm gần đây, nhìn vào những diễn biến của Phật Giáo tại VN, nhiều người lo ngại khi thấy có những nhân vật tên tuổi chống CS của thuở nào như thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ… nay đã quy phục nhà nước, tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (do đảng CSVN giật dây). Nhóm Thân Hữu Già Lam thì cho rằng, sự quy phục này là “trá hàng VC để làm văn hóa, hoằng pháp”. Ông nghĩ sao về điều này? Liệu những nhà lãnh đạo tinh thần nói chung, Phật Giáo nói riêng, có cần phải trá hàng CS để làm văn hóa, hoằng pháp đạo giáo hay không?
Ô. VVA : Chính trị thường trí trá. Vì chính trị mà có người lòn trôn. Nhưng tôn giáo thì không.
Đó là một lẽ. Lẽ khác, « trá hàng » mà tuyên bố mình trá hàng thì ngu và dốt quá. Đảng Cộng sản Việt Nam rất dốt về quản lý đất nước, rất bội bạc về nhân nghĩa, rất lưu manh về hứa hẹn, nhưng rất giỏi về tình báo và công an trị. Ở lĩnh vực này, Cộng sản giỏi vào bực thầy của « thiền sư Lê Mạnh Thát, Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ… hay Nhóm Thân Hữu Già Lam », thì làm sao các người này qua mặt được Cộng sản ?!
Sống và chứng kiến bao nhiêu cảnh đổi dời lố lăng, như trường hợp một ông cựu Phó tổng thống Việt Nam Cộng hoà từng gào kêu « Bắc tiến » và « giết tới tên Cộng sản cuối cùng ». Nhưng nay y về nước xin quy hàng Cộng sản, thì có việc gì không thể xẩy ra nơi cõi Sa bà này ? Thuật ngữ Phật giáo diễn tả sự đời ấy bằng hai chữ : Vô thường.
Phải là Thiền sư thật, Đạo sư thật, phải là Bồ Tát thật, thì mới thoát ly khỏi vô thường.
SGT :Từ khi CSVN giật dây thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN (GHPGVN), dư luận trong và ngoài nước vẫn coi GHPGVN là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay CS. Tuy nhiên, Thượng Tọa Thích Quảng Ba thì lại cho rằng, GHPGVN đã có công duy trì Phật pháp, và nếu không có GHPGVN thì mấy chục năm qua, Phật giáo tại VN sẽ bị suy sụp hoàn toàn. Cụ thể là trong cuộc phỏng vấn của đài SBS do Ngọc Hân thực hiện, phát thanh ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thượng Tọa Thích Quảng Ba nói [trích nguyên văn]: “Dù là chính quyền VN lập ra GHPGVN nhưng mà [CS] luôn luôn chèn ép, luôn luôn gây áp lực, luôn luôn gây khó khăn trong rất nhiều lãnh vực và lần lần bị tháo gỡ lần lần ra được lỏng lẻo hơn, được cởi mở hơn là nhờ cái sức tranh đấu của GHPGVNTN. Cho nên một giáo hội duy trì Phật pháp một giáo hội chỉ trích chính quyền để cho chính quyền lỏng tay với Phật giáo nói chung. Đây là một sự hợp tác không thành văn và không có văn bản và không có họp hội. Nếu không có PGVNTN thì dĩ nhiên GHPGVN cũng không được sinh hoạt tốt đẹp một cách tạm thời một cách tương đối như hiện nay. Còn nếu không có GHPGVN, chỉ có GHPGVNTN trong tù tội không thôi đó thì chùa chiền tăng ni phật tử trong mấy chục năm qua cũng đã suy sụp hoàn toàn và không có cái sinh hoạt gì gọi là phật giáo hết.” Thưa Ông nghĩ sao về luận điệu này?
Ô. VVA : Quý báo dùng hai chữ « luận điệu » là đã gói ghém hết nội dung tinh thần của người phát biểu. Thượng toạ Thích Quảng Ba có quyền nhận định như trên trong tư cách cá nhân, nhưng ông không đại biểu cho lập trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Ở trên, quý báo nói rằng : « dư luận trong và ngoài nước vẫn coi Gíao hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo quốc doanh, tiếp tay Cộng sản ».
Đây không chỉ là dư luận mà là một thực tại.
Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ tôn giáo cao cấp của Đảng Cộng sản, được các ông Xuân Thủy rồi Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn trực tiếp giao phó nhiệm vụ “thống nhất Phật giáo” đầu năm 1979 với chức Chính ủy của Đoàn Công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam, mà thành quả đưa tới sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội Nhà nước) ngày 4 tháng 11 năm 1981 tại Hà Nội.
Sau này vì hối hận, ông viết tài liệu « Thống nhất Phật giáo » 50 trang đánh máy, khổ A4. Ông Hiếu viết xong và đề ngày “Phật Ðản 2538, ngày 15.4 Giáp Tuất (25.5.1994)”. Tài liệu tiết lộ tất cả sự thật của cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (xem toàn văn trên tạp chí Quê Mẹ số 133, Paris, 1995).
Qua tập tài liệu, ông Ðỗ Trung Hiếu cho biết chi tiết tên tuổi từ các vị lãnh đạo Ðảng đến hàng giáo phẩm cao cấp Phật giáo, theo hoặc chống, trong quá trình thống nhất Phật giáo do Ðảng chủ trương sau ngày cưỡng chiếm miền Nam năm 1975.
Chủ trương của Trung ương Ðảng và Ban Dân vận Trung ương về vấn đề thống nhất Phật giáo là :
« Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (…) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (…) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.
Ông Hiếu nhận định về sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4.11.1981, như sau :
“Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và GHPGVNTN. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, GHPGVNTN là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng”. (…) “Cuộc thống nhất Phật giáo lần này bên ngoài do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một TỔ CHỨC BÙ NHÌN CỦA ĐẢNG (chúng tôi nhấn mạnh)”.
(…) “Việc thống nhất Phật giáo Việt Nam theo tôi biết, Ðảng chủ trương thống nhất Phật giáo của ta với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) khối Ấn Quang. Phật giáo của ta là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (HPGTNVN) và Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước (BLLPGYN) ở miền Nam. Ở miền Bắc, phật tử đã vào các đoàn thể quần chúng hết rồi, chỉ còn những cụ già đi lễ bái ở chùa ngày rằm, mồng một, theo tục lệ cổ truyền. Sư tiêu biểu thật hiếm. Cụ Trí Ðộ đã luống tuổi, quanh đi quẩn lại vẫn cụ Phạm Thế Long, nhưng khả năng đức độ của cụ ảnh hưởng trong nước và quốc tế hạn chế. BLLPGYN có khá hơn một tí. Cụ Minh Nguyệt (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích ở tù 15 năm Côn Ðảo, cụ Thiện Hào (đảng viên cộng sản, theo ô. Hiếu) có thành tích đi kháng chiến, nhưng điều phật tử cần ở nhà Sư, cả hai cụ đều hạn chế.
“GHPGVNTN khối Ấn Quang là một tổ chức tôn giáo và tổ chức quần chúng mang tính xã hội chính trị có màu sắc dân tộc, thu hút đông đảo quần chúng và có uy tín trên thế giới, nhiều nhà sư tài giỏi. Nếu thống nhất theo Kiến nghị của cụ Ðôn Hậu, có nghĩa là giải thể BLLPGYN, sát nhập HPGTNVN vào GHPGVNTN và chịu sự lãnh đạo của họ. Như thế GHPGVNTN phát triển ra toàn lãnh thổ Việt Nam chứ không chỉ ở miền Nam như trước năm 1975.
“Quan trọng là Ðảng không bao giờ lãnh đạo được GHPGVNTN, mà ngược lại GHPGVNTN trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Ðảng và chính phủ Việt Nam.
“Thống nhất theo dự án của ban Tôn giáo chính phủ chưa ổn lắm, vì chung qui cũng đưa các cụ ở HPGTNVN và BLLPGYN xách cặp cho GHPGVNTN mà thôi”.
Đọc xong các tiết lộ của ông Đỗ Trung Hiếu trên đây, mà còn nghĩ rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) có thể đóng một vai trò nào đó cho nền Phật giáo dân tộc ngoài vai trò tay sai chính trị, khuyển mã cho Đảng, thì chỉ có thể phát xuất từ hai loại người. Một là ngây thơ, hai là cò mồi cho Cộng sản. Xin nói ngay tôi không « chụp mũ » cho ai cả. Vì rằng, đối với tôi và thực tế lịch sử đã minh chứng, là có những người không là đảng viên Cộng sản, nhưng ăn nói, suy nghĩ hay hành động lại phục vụ cho Cộng sản còn hơn đảng viên Cộng sản. Chỉ là vấn đề trí tuệ.
Cần nói thêm rằng, vì viết tài liệu nói trên mà ông Đỗ Trung Hiếu bị 18 tháng tù giam tại trại Xuân Lộc.
SGT :Cũng trong buổi phỏng vấn đó của đài SBS, Thượng Tọa Thích Quảng Ba còn kêu gọi, “Tăng ni phật tử hải ngoại dù là giáo hội nào hay không giáo hội nào, cũng luôn luôn yểm trợ những sinh hoạt của Phật giáo trong nước cho dù là sinh hoạt đó cuả Giáo Hội Thống Nhất điều hành hay là Gíao hội Phật giáo Việt Nam điều hành”. Thưa Ông, lời kêu gọi này nguy hiểm ở chỗ nào?
Ô. VVA : Nguy hiểm ở sự ba phải và nhập nhằng trong một Cộng đồng Người Việt Tị nạn vốn rất minh bạch về luận điểm dân tộc và tôn giáo trước chế độ độc tài toàn trị gian manh, phi tôn giáo, chống tôn giáo và chống con người.
SGT : Chân thành cảm ơn thì giờ qúy báu cùng tâm huyết của Ông.
CSVN chính thức cho phép quân đội và công an gây nhiễu
Wednesday, May 07, 2008
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=78183&z=1
Hình bên: Hình chụp chiếc xe chuyên dùng thường thấy xuất hiện trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Theo một số chuyên gia, đây là phương tiện mang thiết bị nghe lén, ghi âm và định vị người sử dụng điện thoại di động. (Hình: CLB Nhà Báo Tự Do)
Hà Nội, (NV) – Thủ tướng CSVN vừa ban hành một văn bản quy định về việc quản lý, sử dụng thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào. Thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào được định nghĩa là thiết bị ngăn chặn tín hiệu liên lạc từ điện thoại di động đến trạm gốc.
Theo văn bản này, tại Việt Nam, chỉ có Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An được “sử dụng thiết bị gây nhiễu nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia”. Có thể để tránh sự phản đối cũng như lo ngại từ phía các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực viễn thông, văn bản vừa kể xác định, Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An “chỉ được gây nhiễu trong phạm vi xác định, không gây nhiễu băng tần thu của trạm gốc và gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của công dân. Các trường hợp sử dụng đặc biệt khác phải được thủ tướng cho phép”.
Trên thực tế, trong thập niên vừa qua, đặc biệt là vài năm gần đây, tuy chưa được “cho phép”, công an CSVN vẫn thường xuyên sử dụng “thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào” để ngăn chăn những người tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam liên lạc với nhau và với bên ngoài.
Trong tháng 12 năm 2007, tháng 1 năm 2008 và cuối tháng 4 vừa qua, công an CSVN công khai sử dụng một loại xe chuyên dùng (xem hình) trong việc ngăn chặn các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội. Thanh niên, sinh viên cũng như dân chúng Việt Nam cho rằng loại xe này dùng để gây nhiễu (Cell phone Jammer), nhằm ngăn chặn việc sử dụng điện thoại di động để thông tin. Tuy nhiên, theo một số nguồn tin trên Internet, những chiếc xe kể trên không phải là loại xe gây nhiễu. Tuy có dùng các thiết bị gây nhiễu nhưng thiết bị gây nhiễu này rất nhỏ, trọng lượng chỉ 23 ký, công suất 30 watts.
Loại xe thường xuyên xuất hiện trong các hoạt động ngăn chặn biểu tình là xe chứa thiết bị Direction Frequency (dò tần số), những chiếc xe loại này có thể tạo thành một ma trận nhằm nghe lén, ghi âm các cuộc trò chuyện bằng điện thoại di động và xác định vị trí người đang sử dụng điện thoại di động cũng như vẽ lại lộ trình của họ .
Sau khi xem hình chụp loại xe chuyên dùng này, một thành viên của mạng Vietland cho biết: Ðây là một thiết bị mới, được chế tạo vào đầu thập niên 2000. Có khả năng truy lùng sự di chuyển của một binh đội, kể cả tàu ngầm nếu họ sử dụng điện đàm ở bất cứ tần số nào từ thấp (30 MHz đối với tàu ngầm) cho tới điện thoại di động (800 MHz-2,200 GHz). Thành viên này tiết lộ: Trước đây tôi từng viết software cho hai hãng chuyên chế tạo loại thiết bị này tại Texas, Hoa Kỳ. Việt Nam có mua thiết bị này. Trước đây, giá mỗi chiếc xe như vậy khoảng 500 ngàn USD. Bây giờ giảm xuống còn từ 350 ngàn-400 ngàn/chiếc tùy theo loại antenna là unidirectional hay omnidirectional (whip antenna).
Thành viên này dặn dò: Các bạn nên nhớ là khi các bạn dùng điện thoại di động, điện thoại di động của các bạn có thể bị hai hệ thống mà công an CSVN đang sử dụng để định vị là GSP và Direction Frequency (giống như loại xe nhiều người đã thấy trong các cuộc tường tận vì đi kèm hệ thống này là bản đồ. (G.Ð)
(ĐT)


















