Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 11, 2008

Từ Chết Tới Bị Thương

VI ANH . Việt Báo Thứ Hai, 6/9/2008, 12:02:00 AM

Trước âm mưu CS Hà nội thi hành Nghị quyết 36 của Bộ Chánh Trị Đảng CSVN và hành động tuyên truyền rỉ tai vận động hoà giải hoà họp theo kiểu xin cho để chiêu dụ người Việt Hải Ngoại đem tiền đô la xanh và chất xám kiến thức về phục vụ xây dưng quê hương; trước chủ trương của một số chánh khách nhà nghề của Mỹ lên mặt dạy đời người Mỹ gốc Việt hãy để quá khứ phiá sau hướng về về tương lai phiá trước để che dấu hành động đi đêm với CS Hà nội; thiết nghĩ những tài liệu lịch sử sau đây sẽ giúp cho những người Việt hải ngoại suy gẫm, để đừng nghe mà mắc, đừng tin mà lầm. Thời toàn dân Việt đứng lên lật đổ thực dân Pháp, về chánh trị quân sự, thành phần Quốc Gia ( QG) đông và mạnh hơn thành phần Cộng Sản (CS) nhiều. Nhưng vì độc lập dân tộc, thành phần QG liên minh với thành phần CS trong mặt trận Việt Minh, để rồi Quốc Gia từ chết tới bị thương trong khi CS độc chiếm chánh quyền.

Ô Hoài Sơn người đã từng tham gia phong trào giành độc lập ở Miền Nam, năm nay đã 83 tuổi, vẫn ráng sức già truyền lại những điều mắt thấy tai nghe cho những người trẻ, trong một buổi thuyết trình tại Viện Việt Học. Theo Ong Hoài Sơn nhận xét, so tương quan lực lượng thì QG rất đông, rất lớn và CS rất ít.

Một, về chánh trị, ở Miền Bắc, Quốc Gia có 6 đảng cách mạng: Việt Nam Quốc Dân Đảng ( Vũ hồng Khanh); Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội ( Nguyễn hải Thần); Đại Việt Quốc Xả Đảng ( Nguyễn xuân Hiếu); Đại Việt Quốc Dân Đảng ( Trương tử Anh); Đại Việt Duy Dân Đảng (Lý đông A); Đại Việt Dân Chính Đảng ( Nguyễn tường Tam). Còn ở Miền Nam, cũng có 6 đảng cách mạng: 2 đảng CS là Đông Dương Cộng sản Đảng ( Đệ Tam Quốc Tế); Đệ Tứ Quốc Tế Đảng ( CS đệ tứ) và 4 đảng QG là Việt Nam Phục Quốc Hội ( Cao Đài); Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng ( Hoà Hảo); Thanh Niên Ai Quốc Đoàn ( Đinh khắc Thiệt); Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng ( Hồ văn Ngà).

Chánh khách hoạt động công khai chống Pháp tại Saigon từ thời Pháp Thuộc, trước 1945, thành phần Quốc Gia cũng nhiều hơn CS. Nhưng QG bị CS bằng cách này hay cách khác giết gần hết. CS Đệ tam Quốc tế: Nguyễn văn Tạo, Dưong bạch Mai, Trần văn Giàu, Nguyễn văn Nguyên, Nguyễn văn Trấn. Cả 5 người CS này còn sống qua thời Pháp thuộc và thời kháng Pháp.Trong khi đó CS Đệ Tứ cũng có 5 ông, nhưng bị giết hết 4 Ong, chỉ còn Ô Hồ Hữu Tường sống đến suốt thời đệ nhị Cộng Hoà VN, làm dân biểu, và chết trong tù cải tạo. Bốn ngưòi CS đệ tứ bị giết là Tạ Thu Thâu ( bị giết tháng 8 năm 1945); Phan văn Hùm ( bị giết cuối 1945); Trần văn Thạch ( bị giết cuối 1945); Huỳnh văn Phương ( bị giết cuối 1945). Ô Hồ chí Minh là CS đệ tam làm cỏ CS đệ tứ không một chút tiếc thương, làm còn sạch hơn Lenine và Staline đối với CS đệ tứ Trosky.

Còn thành phần QG gồm có 10 người, bị giết hết, trừ Ô Trần văn An sống sót và làm chánh trị đến đệ nhị VNCH và di tản sang Pháp mới qua đời gần đây. 9 nhân vật QG ở Miền Nam bị giết đó là Bùi quang Chiêu ( bị giết tháng 9 năm 1945); Dương văn Giáo ( bị giết cuối 1945) Ong và Bà Hồ vĩnh Ký, [ chồng] ( bị giết cuối 1945); Nguyễn thị Sương [ vợ] ( bị giết cuối 1945); Hồ văn Ngà ( bị giết cuối 1945); Lê bá Cang ( bị giết cuối 1945); Lê văn Tình ( bị giết cuối 1945); Nguyễn văn Sâm ( bị ám sát tháng 9 năm 1945); Trần văn Văn bị ám sát năm 1967. Trừ Ô. Trần văn Văn chết thời VNCH cái chết có nhiều giả thuyết, tất cả những nhà cách mạng Quốc Gia bị giết trong khi khởi nghĩa, là do CS bằng nhiều cách khác nhau như CS giao nhiệm vụ cho một đảng viên trung cấp là Bửu Vinh tổ chức ám hại như Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hoà Hảo và Dân Xã Đảng Miền Nam, tại Ba Răn Đốc Vàng (Cao Lãnh).

Hai, về quân sự có 27 đơn vị bộ đội chống Pháp, CS chánh thức chỉ có 2, và QG có 25, mà CS vẫn cướp được chánh quyền kháng chiến. Theo Ô Hoài Sơn vì thành phần QG nhơn đạo không lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện vô đạo đức, trong khi đó CS có sẵn kinh nghiệm sắt máu qua cuộc nổi dậy của Sô viết Nghệ Tĩnh.

Miền Đông Nam bộ ( 1945- 46) có 4 sư đoàn: Đệ nhứt Sư đoàn Kiều công Cung và Trương văn Giàu, Đệ nhị Sư đoàn của Vũ tam Anh, Đệ tam Sư Đoàn của Nguyễn hoà Hiệp; Đệ Tứ Sư Đoàn của Lý huệ Vinh. 5 bộ đội của Bình Xuyên : Bộ đội của Ba Dương, Bộ Đội của Tư Tỵ, Bộ Đội của Năm Hà, Bộ đội của Bảy Viễn; Bộ Đội của Mười Trí. 3 bộ đội của Cao Đài: Bộ đội của Nguyễn văn Thành, Bộ đội của Nguyễn thành Phương, Bộ đội của Trình minh Thế. 1 bộ đội của Đại Việt Quốc Dân Đảng là Bộ đội An Điền của Bùi hữu Phiệt. 1 bộ đội của công nhân, của Hoàng Thọ công nhân sở Ba Son. 1 bộ đội của Việt Minh là Bộ đội Thân Binh Nam bộ của Trịnh ngọc Hiển là lực lượng bảo vệ xứ bộ Nam bộ của CS, đây là một bộ đội chánh thức của CS ở Miền Đông.

Miền Tây Nam bộ có 9 bộ đôị kháng chiến chống Pháp: Phật Giáo Hoà Hảo có 4 bộ đội: Bộ đội của Ô Trần văn Soái, Bộ đội của Ô Lê quang Vinh, Bộ đội của Ô Lâm thành Nguyên, và Bộ Đội của Ô Lâm thành Nguyên. Lực lượng Điển Chủ có 3 bộ đội: Bộ Đội của Ngô hồng Giỏi, Bộ đội của Lâm quamg Phòng; và Bộ đội của Mười Khoát. Lưc lượng nông dân có 1 bộ đội: Bộ đội Đồng văn Cống sau tập kết ra Bắc và Ong Cống được CS phong tướng, sau 1975 về hưu ờ Miền Nam. Cộng sản chánh thức chỉ có một bộ đội ở Miền Tây là Bộ đội của Bửu Vinh ở Đồng Tháp Mưới, sau ra Bắc y chỉ lên đến cán bộ trung cấp vì gốc Hoàng tộc, và sau 1975 trở về Nam làm một cán bộ quèn, là Trưỏng Phòng Pháp chế Sở Giao Thông Vận Tải Saigon, Bửu Vinh không bao giờ dám ló mặt về Miển Tây vì Phật Giáo Hoà Hảo tin Ong là người tổ chức ám hại Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Ba, tóm lại về chánh trị cũng như quân sự thời toàn dân đứng lên giành lại độc lập từ tay Thực Dân Pháp, Quốc Gia đông hơn, nhiều hơn, có vũ khí, có dân, có đất, mà CS vẫn có cách giết dần, giết mòn, giành nắm lấy chánh quyền một mình ênh. Thì thời CS, đảng CS lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, làm chủ đất nước một cách toàn diện và toàn trị, có bang giao với nhiều nước và có chân trong Liên Hiệp Quốc, thì người QG đừng nói chuyện hoà giải hòa họp, lợi dụng thế chánh quyền để phát triễn tôn giáo, phát triễn đất nước, giúp đỡ đồng bào có tư do, dân chủ. Đối với đảng CS lúc hạ trào cách mạng, chớ đừng nói cao trào cách mạng, ai không theo đảng là lực lượng thù địch, là phản động, phản cách mạng. Danh từ chánh trị của CS không có chữ đối lập, tương nhượng, thoả hiệp với bất cứ lực lượng nào. Theo CS hay bị loại và diệt có thế thôi.

Trung Hoa Quốc Gia do áp lực của Mỹ phải Quốc Cộng liên hiệp để rồi phải bỏ xứ ra đi, may là Đài Loan để bám trụ. Một vài gười Việt ở Uc, ở Tây Au, Mỹ đem bạc triệu về đầu tư ở VN, chưa thấy người nào làm giàu, chưa thấy ai an toàn đem tiền ra khỏi VN được. Một vài cựu chánh khách VNCH tin chánh khách Mỹ thực dụng, lom khom đi VNCS tưởng “chuyển hoá” CS được theo đưòng lối ngoại giao của Bà Rice, tất cả đều bị CS đốt cháy. Lịch sử cho thấy hoà giải hoá họp với CS là từ chết tới bị thương.

VI ANH

June 4, 2008

CẦN CẢNH GIÁC LỐI GIẢI ĐỘC CHO VIỆT CỘNG CÓ BÀI BẢN

TRƯƠNG MINH HÒA.

Cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam và quân đội đồng Minh thuộc Thế Giới Tự Do: Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Thái Lan…nhằm ngăn chận làm sóng đỏ của khối Cộng Sản do Nga-Tàu lãnh đạo, tạo ổn định trong khu vực, an ninh để cho việc giao thương được bảo đảm, ngăn chận đảng cướp hệ thống Cộng Sản Quốc Tế luôn tìm cách chiếm đoạt của cải bằng chiêu bài” làm cách mạng, giải phóng, chống áp bức, bốc lột….”. Một điều rõ hơn cả ” đêm giữa ban ngày” là: nếu tên Việt gian Hồ Chí Minh không tuân lịnh quan thầy ” vĩ đại” của hắn nhằm bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản tại Đông Dương, chỉ thị cho bộ đội, dân công Cộng Sản Bắc Việt huy động hàng trăm ngàn nhân công, ngày đêm” khẩn trương” tu sửa đường mòn liên kết 3 nước Đông Dương vốn bị bỏ hoang trong cuộc chiến 1945-1954: Việt-Miên-Lào vào tháng 5 năm 1959, đặt tên là: ” Đường Mòn Hồ Chí Minh” với đoàn công tác đặc biệt mang bí số 559 và dùng con đường đó chuyển hàng triệu bộ đội, chiến cụ, vũ khí giết người rõ ràng như AK 47, CKC, B4O, Hỏa tiển 107, 122, SA 7, đại pháo 130 ly, xe tăng T54, Pt 67….thì không có chuyện các nước đồng minh đến giúp. Nên nhớ là năm 1959, dưới chánh thể đệ nhất Cộng Hòa do tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, không có quân đôi đồng minh tham chiến trên chiến trường, thế mà bạo quyền Cộng Sản Hà Nội phát động chiêu bài: ” chống Mỹ cứu nước”, đây là trò hề tuyên truyền, thế mà nhiều người vẫn chưa mở mắt. Tức là đảng Cộng Sản Việt Nam và tên quốc tặc Hồ Chí Minh chính là thủ phạm gây ra cuộc chiến tàn khốc nầy.

Để tung hỏa mù, tuyên truyền bịp bợm, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn vu cáo chính phủ miền Nam đủ thứ: tàn ác, luật 10/59 lê đem máy chém khắp nông thôn, lính quốc gia giết người, cướp của, là tay sai của đế quốc Mỹ…v….v…ngay trong phạm vi kinh tế, thấy chương trình phát triển kinh tế thành công, điển hình là việc phổ biến dân chúng nuôi cá giống Phi tại các Ấp Chiến lược; lúa thần nông tăng năng xuất. Việt Cộng ở vùng nông thôn xuyên tạc:” ăn cá phi bì cùi, ăn gạo từ lúa thần nông bị ngứa”. Trong khi đó cảnh Việt Cộng khủng bố man rợ tại các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam như: chặt đầu, mổ bụng, moi gan, chôn sống, thủ tiêu, bắt cóc…nhan nhản khắp nơi, và ở thành thị thì đặt mìn, pháo kích vào khu đông dân cư, không chừa nhà thương, trường học, người dân miền Nam ai cũng biết Việt Cộng là thủ phạm khủng bố nầy. Cho nên sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Cộng tiếp thu, chúng hỏi ý kiến của dân chúng về cái gọi là  ” chính quyền cách mạng” ưu việt, giải phóng khỏi chế độ” Mỹ Ngụy”, được dân trả lời rằng:” Từ ngày cách mạng thành công, dân chúng không còn sợ bị pháo kích nữa..”. Những cuộc chém giết dã man khắp nơi, làm dân miền Nam kinh sợ, nên khi nói về lũ người nầy, thì kèm theo câu:” ác ôn Việt Cộng”…Tội ác dẫy đầy, tày trời thế ấy, nhưng Việt Cộng luôn cố tình né tránh bằng cách khai thác, lợi dụng những xác chết của dân do bom đạn tình cờ, do nằm trong làn đạn giữa hai phía hay trúng ngay các mật khu Việt Cộng làm chúng thiệt hại nhân mạng…v…v…… để họ tuyên truyền xuyên tạc TUNG ra và được phong trào phản chiến quốc tế, thành phần thứ ba, nằm vùng, tay sai tại miền Nam HỨNG một cách nhịp nhàng, gây bất lợi cho miền Nam về mặt truyền thông, làm giản uy tín dần dần để cho thế giới có cái nhìn lệch lạc về nước Việt Nam Cộng Hòa.

Sau trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968, Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng nằm vùng, tay sai chiếm cố đô Huế 25 ngày, chúng tàn sát hơn 4 ngàn người đủ mọi thành phần: quân nhân, công chức, sinh viên, học sinh, tu sĩ, thường dân, người ngoại quốc.v..v..chôn tại nhiều nấm mổ tập thể, thế mà tên đại tá Cộng Sản Bắc Việt là Bùi Tín lúc ấy đổ thừa do bom đạn Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng Hòa gây ra, còn cái bộ đội BắcViệt, Việt Cộng là không bao giờ làm chuyện ấy. Sau khi Bùi Tín được đảng tung ra hải ngoại để” nằm vùng” trong dạng” phản tỉnh…cuội”, trở thành Ông Tám Khỏe trong vở tuồng cải lương” Người Ven Đô”, Bùi Tín lại cho là: do bộ đội cấp dưới làm, chứ đảng và trung ương không bao giờ ban hành lịnh tàn sát, có chính sách rõ ràng. Trong khi đó, vụ Trung úy Kelly ra lịnh cho đơn vị bắn vào phòng tuyến của Việt Cộng tại làng Mỹ Lai để bảo toàn tánh mạng, đồng đội, làm chết một số người dân làng, lại được Việt Cộng nhắc đi nhắc lại và được phong trào phản chiến quốc tế thổi phồng; những ai từng tham chiến, và nhất là dân Việt Nam đều hiểu rõ bản chất của Việt Cộng trong cuộc chiến: thường dùng dân chúng gồm đàn bà, trẻ con…làm phòng tuyến ( Human Shield) để núp, ngụy trang và từ đó phát xuất những cuộc tấn công vài quân lính quốc gia, đồng minh. Việt Cộng gian ác như thế, vì chúng biết chính quyền, quân đội thế giới tự do luôn coi trọng sinh mạng, tài sản của dân. Tuy nhiên trường hợp đơn vị do trung úy Kelly chỉ huy là phản ứng tự vệ, bất khả kháng, nếu không thì nghĩa trang Arling có thể có thêm tên của ông và nhiều người lính Mỹ khác; thế mà Việt Cộng dùng những xác chết của dân làng Mỹ Lai để tuyên truyền, bôi nhọ quân đội đồng minh, gây tác động chính trị ngay tại hậu phương nước Mỹ; sau ngày 30-4-1975 khi cuộc chiến chấm dứt, mặt chuột lòi ra cả: những người dân làng Mỹ Lai còn sống đều là cán bộ Việt Cộng, được lên phim tài liệu phổ biến rộng rải từ trong nước đến thế giới, lếu láo, tố cáo vụ Mỹ Lai để moi tiền Mỹ, như họ đã và đang kêu gào về cái gọi là” chất độc da cam”. Hảy xem phim tài liệu trắng đen của Việt Cộng, tựa là” Combat women” được trình chiếu nhiều lần trên truyền hình SBS tại Úc Châu, trong đó nói về những phụ nữ nông dân ở miền Nam, ban ngày đi cày, ban đêm là du kích, bắn xẻ, khủng bố. Đó là bộ mặt thật của Việt Cộng sau cuộc chiến chấm dứt, được chính họ ” bật mí”.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thời kỳ” cuồng nhiệt cách mạng”, cái gì tốt thì họ nhận, và xấu như nạn trộm cướp, đĩ điếm, ngay cả đống rác…cũng được cho là:” tàn dư chế độ Mỹ Ngụy để lại”. Y như câu ca dao:

” Mất mùa bởi tại thiên tai.

Được mùa lãnh đạo thiên tài đảng ta”.

Chế độ độc tài, đảng trị, lấy tham nhũng làm quốc sách, nên bị dân chúng bất mãn, chán ghét sau thời gian nến mùi ưu việt: ” xã hội chủ nghĩa”, nạn tham nhũng công khai và được bao che, có hệ thống, gốc rể từ trung ương; nạn ăn chận, rút ruột công trình xây dựng, cứu trợ…không bao giờ thiếu trong chế độ. Để tung hỏa mù, một số người Việt Nam mang danh tỵ nạn Cộng Sản, nhưng không rõ là thành phần, có thể là: gián điệp nằm vùng, thân Cộng, tỵ nạn kinh tế, tỵ nạn gian…thường có luận điệu quơ đũa cả nắm là:” Hồi đó chế độ Quốc Gia cũng tham nhũng như Việt Cộng bây giờ thôi, toàn là cá mè một lứa, chế độ nào cũng tham nhũng cả” và kèm theo là những lời tán dương Việt Cộng như: về Việt Nam mà coi, bây giờ họ cất nhà lầu đầy cả từ thành thị đến nông thôn, xe chạy đầy đường, Việt Cộng hiền lắm, biết điều, không phải như hồi đó….. Đây là lối giải độc có bài bản, cho Việt Cộng cũng như quốc gia cũng ” hòa hợp hòa giải” ở ” giao điểm tham nhũng”, có tác dụng làm mất chánh nghĩa của chính quyền, quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Được biết tham nhũng là quốc tế nạn, bất cứ nước nào cũng có, theo thống kê thì nước Bỉ là nơi ít có nạn tham nhũng nhất thế giới; nói như vậy thì ở Bỉ cũng có tham nhũng; tùy theo tình hình, chế độ chính trị mà tham nhũng phát triển hay bị hạn chế. Miền Nam chịu cảnh chiến tranh cho Cộng Sản và Hồ Chí Minh gây ra, nên trong hoàn cảnh loạn ly, cũng có một số viên chức lợi dụng thời cơ để quơ quào, tuy nhiên số nầy không đông, vì miền Nam có tự do báo chí, làm chùng bước thành phần thanh nhũng; luật lệ chống tham nhũng minh bạch, thời đệ nhất Cộng Hòa, ai thâm lạm từ 1 triệu trở lên là bị án tử hình. Dù tình trạng chiến tranh leo thang, nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hòa tự hào là có nhiều vị tướng lãnh thanh liêm: Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Đức Thắng, Phan Trọng Chinh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng….trong khi miền Bắc toàn là tướng tham nhũng, ngay cả mụ Nguyễn Thị Bình, thời gian làm bộ trưởng cái chính phủ tay sai Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng bị cấp dưới tố cáo lem nhem, nhưng mụ có thế lực nên mọi chuyện thông qua dễ dàng. Luận điệu qui chụp quốc gia cũng tham nhũng như Việt Cộng, là thủ đoạn tuyên tuyền tinh vi, nhằm giải độc cho đảng Cộng Sản với những tên cán bộ trung ương trở thành triệu, tỷ phú Mỹ Kim.

Một luận điệu cần cảnh giác là:  ” Coi cuộc chiến Việt Nam là sai lầm, nguyên do từ các thế lực Tư Bản và Cộng Sản gây ra và dân Việt Nam chỉ là nạn nhân”; có người còn đạo đức giả cho là:  ” Cộng Sản, Quốc Gia không ai thắng, chỉ có dân tộc Việt Nam là bị thiệt hại mà thôi….”. Mới nghe qua thì tưởng những người đưa ra lý luận nầy là  ” có cái nhìn khách quan ” rất ư là ” có tinh thần, tình tự dân tộc”. Nhưng thật ra thì rõ ràng đây là lối giải độc cá mè một lứa, nhằm biện minh cho Cộng Sản đem quân xâm lăng miền Nam, là thủ phạm gây ra cuộc chiến. Họ đâu dám phủ nhận Việt Cộng là sai, là tay sai đế quốc Nga- Tàu…nhưng còn Quốc Gia cũng là tay sai, công cụ của đế Quốc Mỹ, rất phù hợp với Trịnh Công Sơn với bản phản chiến  ”  Gia Tài của Mẹ:” hai mươi năm nội chiến từng ngày”.

Ngày 3 tháng 6 năm 2008, trên làn sóng đài phát thanh SBS ở Melbourn, chương trình do Quốc Việt thực hiện lúc 7 giờ tối, phần” Lá Thư Paris” của cộng tác viên Trần Tri Vũ từ Pháp Quốc, có đề cập đến nhà văn” phản tỉnh” Dương Thu Hương, người từng khóc nức nở bên lề đường vào thủ đô Saigion ngày 30-4-1975, sau khi sai lầm trong” tiếng hát át tiếng bom”, từ đó trở thành nhà dân chủ, được nhiều tờ báo, đài phát thanh hải ngoại ca tụng là một người can đảm chống đảng có quá trình, nhưng” may mắn” hơn nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà còn được xuất ngoại nhiều lần và nay được di dân sang Pháp để tiếp tục chống đảng; do quá trình nầy mà bà nầy từng được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phong quân hàm:” Con đĩ chống đảng”. Nhưng chưa chắc là:” Con đĩ chống Cộng” hay:  ” Con đĩ chống chủ nghĩa Marx Lenin”…. Theo Trần Tri Vũ thì Dương Thư Hương cho là: Lý tưởng Cộng Sản và Quốc Gia tạo đều ra núi xương sông máu ….như vậy thì Cộng Sản cũng như Quốc Gia đều có tội với dân tộc, là sai lầm, làm tay sai cho ngoại bang hay sao? Cuộc chiến Việt Nam không ai là đúng, ai sai, tất cả đều là thủ phạm, như thế, ai lổi, ai phải?. Điều nầy phản lại nguyên tắc đạo lý, cả hệ thống luật pháp, quan tòa cũng phải biết ai là thủ phạm, ai là nạn nhân… Theo đó, Dương Thu Hương biết theo Cộng Sản là sai lầm, nhưng Quốc Gia cũng” gây nên núi xương, sông máu” như Việt Cộng. Nhưng bà nầy từ bỏ chế độ Cộng Sản, được danh hiệu” phản tỉnh”, sang Pháp sống trong thể chế tự do, không biết bà đứng ở vị trí nào? Nếu bà không chào cờ vàng ba sọc đỏ thì bà có thể được xếp chung hàng ngũ phản tỉnh với Bùi Tín. Bà chống Cộng như cũng không đứng chung hàng ngũ quốc gia, thì biết bà nằm trong phần nào của dân tộc? Đây là câu hỏi cần đặt ra để xác định lập trường của những ai từ hàng ngũ Cộng Sản, nhưng trở thành  ” nhà đối kháng”…nếu không thì người Việt quốc gia còn bị lầm và hố nữa.

Lý luận nầy chẳng khác nào bài thuốc giải độc cho đảng Cộng Sản sau khi tuân hành chỉ thị của quan thầy Nga-Tàu lãnh đạo khối Cộng Sản Quốc Tế, mang bộ đội xâm nhập gây chiến ở miền Nam; nhưng quân dân Miền Nam cũng là tay sai của  ” đế quốc Mỹ”. như vậy:  ” kẻ cướp và nạn nhân đều như nhau” hay sao?. Từ lâu nay, những lý luận ấy thường hay xuất hiện tại một số cơ quan truyền thông do người tỵ nạn làm chủ, chủ trương, lập lờ như là những người: khách quan ” nhận định về cuộc chiến được coi là  ” ý thức hệ” do các thế lực  ” ngoại bang” gây ra. Họ cố tình qui chụp cả hai phía đều mang tội với dân tộc và lịch sử, để khỏa lấp tội diệt chủng, khủng bố, làm tay sai cho Nga Tàu, phản dân, bán nước do đảng Cộng Sản và tên quốc tặc Hồ Chí Minh gây ra…mục đích nầy cũng nhằm bôi nhọ chính nghĩa một cách có bài bản, có  ” điều nghiên” một cách” nghiêm túc” nhằm triệt hạ kẻ thù là chính thể và quân lực VNCH, cũng như Việt Cộng thôi, nên ai cai trị cũng thế…toàn là một lũ tham nhũng, tàn ác. Trong khi những mặt tốt của miền Nam thì không được nêu ra, nhưng mặt xấu thì được đồng hóa với Việt Cộng và được lập đi lập lại nhiều lần..

Theo Trần Tri Vũ trong” Lá Thư Paris” nầy, thì nữ văn sĩ Dương Thu Hương đang viết một quyển sách cuối đời, nghe đâu là” Thần Tượng Sụp Đổ”?. Nhưng bà văn sĩ nầy không nói là ai, theo Trần Tri Vũ nói là Hồ Chí Minh. Như vậy, Dương Thu Hương cũng còn  ” kính Bác” nên không dám ” phạm húy” mà nói trỏng như vậy, sau nầy khi các thế hệ đọc tài liêu nầy, không biết bà muốn nói ai? Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm….Từ nhiều năm qua, đài phát thanh SBS Úc Châu thường là  ” diễn đàn” của đại tá Bùi Tín” từ phản tỉnh đến phản phé”, Nguyễn Gia Kiễng thuộc nhóm  ” Thông Loạn”, nên mỗi khi có biến động, thì hay mời những” VỊ” ấy lên phát biểu và cũng là nơi phổ biến những tin tức Phật Sự, tư tưởng, triết lý  ” cực kỳ” cao siêu của thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập, tối lập ra Làng Hồng, sau đổi tên là Làng Mai, có người gọi là LÀNG MÔN ( xin được nói thêm: Làng Môn không phải là lối nói lái” L….MANG” đâu nhé!. Ý nghĩa ở đây là: LÀNG của MÔN thiền Tiếp Hiện). Qua nhiều năm phát thanh, thính giả Úc Châu có cảm tưởng là Đài phát thanh nầy cũng là nơi diễn đàn của thượng tọa Thích Quảng Ba, vị tu sĩ nổi tiếng ở Úc Châu, rất là đa đoan công việc đạo và đời, nằm trong” tứ quái thân hữu Già Lam” ở hải ngoại, nên đài SBS, nhất là Quốc Việt hay mời thượng tọa lên đài phát biểu, bày tỏ tâm tình, quan điểm, lập trường…trong khi đó, nhiều vị lãnh đạo tinh thần khác của Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo… ít khi được dùng làn sóng phát thanh của chính phủ Úc tài trợ từ tiền đóng thuế của dân ( trong đó có cả người Úc gốc Việt). Như vậy thượng tọa Thích Quảng Ba được coi là vị lãnh đạo tinh thần Phật Giáo có  ” trình độ nhận thức cao” nên mới được Quốc Việt mời phát biểu dài dài. Qua nhiều lần lên đài phát biểu, thính giả Úc Châu cảm thấy nể phục thượng tọa Thích Quảng Ba” vô cùng”, Ngài có khoa nói chuyện rất  ” lanh”, nên từ hàng ngàn dậm, nghe qua tưởng như Ngài nói mà” không kịp nuốt nước bọt”. Nếu tài năng nầy mà áp dụng vào” BUSINESS” thì Ngài thành công lớn; tuy nhiên Ngài cũng đã thành công vượt bực trong  ” Budha Business”, nghe đâu trong tay ” quản lý” 2 ngôi chùa và một cư xá La Hầu La, đúng là:  ” tu nhất kiếp, hưởng nhất thời”.

Trần Tri Vũ là cộng tác viên thường trực của SBS, qua nhiều bài nói chuyện lưu loát, thính giả có cảm tưởng như ông cũng muốn” giáo dục” cho khoản 260 ngàn người Việt tỵ nạn Úc Châu cùng:  ” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của Bùi Tín, Nguyễn Gia Kiểng…” hay những nhà” phản tỉnh khác cỡ Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà…/
(VNE)

———————————————————————–
Lien quan:
- HÒA GIAI VÀ HÒA HỢP DÂN TỘC  : tuyên truyền xám, xuyên tạc sự thật về miền nam 1954-75 (tại sao có luật luật 10/59, ai đã chôn vũ khí, nằm vùng phá hoại miền nam ? Ai đã chuẫn bị chiến tranh “giải phóng” miền nam từ 1954 ? …) !!

May 11, 2008

Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI (2of 4)

Filed under: Chính trị, xã hội, hòa giải hòa hợp, Lịch sử — tudo @ 10:44 pm

Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI (2)

• Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

II. Từ Đông-Âu Đến Việt-Nam

1. Sự Hình Thành Các Chế Độ Đa Đảng Hậu CS Tại Nga Và Đông Âu

Thập niên 1980, Liên Sô gặp phải rất nhiều khó khăn chồng chất. Năm 1985 Mikhail Gorbachev được bầu làm Tổng Bí Thư đảng CS Nga. Để giải quyết các khó khăn, ông đề ra 2 chánh sách trọng tâm: Perestroika (tái cấu trúc kinh tế và chính trị), và Glasnot (mở cửa). Cả hai chính sách này không những đã không giải quyếy được khó khăn, mà trái lại là động cơ đưa đến sự sụp đổ của khối CS Liên Sô. Perestroika không vực dậy nổi nền kinh tế nước Nga mà làm cho tình trạng thiếu thực phẩm càng trầm trọng thêm đưa đến các cuộc đình công và biểu tình của dân chúng. Chính sách Glasnot bãi bỏ nạn độc bá quyền hành (monopoly of power) đưa đến sự ly khai của các nước cộng hòa thành viên của khối. Cuối cùng tháng 2–1990, đảng CS Nga bị giải thể, và chỉ một năm sau toàn thể Liên Bang Sô Viết sụp đổ.

Trong bối cảnh đó, các nước CS Đông Âu lần lượt sụp đổ theo. Sự ra đi của các đảng CS tại các nước Đông Âu tương đối êm thắm. Thí dụ như đảng CS Bulgaria tự động biến thể để trở thành đảng Xã Hội Bulgaria . Đảng CS Szechoslovakia (Tiệp Khắc. Hiện nay là Czech Republic ) nhường sân chơi lại cho Civic Forum của kịch tác gia Vaclav Havel. Trừ ra tại Romania , cuộc thay đổi đã đưa đến đổ máu. Tổng Bí Thư đảng là Nicolae Ceaucescu bị giết chết trong cuộc nổi loạn của dân chúng cùng với 1104 người nữa chết và 3352 bị thương. Chính vì có sự đổ máu, nhiều người cho đó là một cuộc đảo chánh hơn là một cuộc cách mạng. Cũng nên nói qua đôi chút về nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ. Đất nước của con cháu Thành Cát Tư Hãn nằm trong luc địa Châu Á chứ không phải Châu Âu. Mông Cổ trở thành một quốc gia CS rất sớm, chỉ sau Nga. Khi Gorbachev tung ra chính sách đổi mới thì Mông Cổ tự động chuyển sang chính thể dân chủ liền. Tân Hiến Pháp 1992 công nhận chế độ đa đảng. Hiện nay nước Mông Cổ dân chủ có 2 đảng phái lớn hoạt động là đảng Nhân Dân Cách Mạng và đảng Dân Chủ. Thật đáng khen cho những người CS Mông Cổ và đáng mừng cho nhân dân nước này. Mừng cho người nhưng không khỏi tủi hổ cho chính mình. CSVN vẫn ôm cứng lấy cái gọi là chế độ Marxit-Leninnit bách chiến bách thắng ba xạo.

Sự kiện các chế độ CS tại Liên Sô và Đông Âu bị sụp đổ đã làm cho chế độ Hànội vô cùng lo sợ và lúng túng. Điều thất vọng nhất của VGCS bấy giờ là trong lúc cả nước đói rã họng, thế giới tư bản cấm vận, quân đội còn bị sa lầy ở Cam Bốt, bị đe dọa thường trực bởi quan thầy phương Bắc là Trung Cộng, chỉ còn một nơi trông cậy duy nhất là Liên Sô thì Liên Sô sụp đổ. CSVN tưởng chừng khó tránh khỏi tai kiếp. Ấy thế mà chỉ trong một thời gian ngắn không đầy một thập niên, chúng lại hồi sức và đứng vững. VGCS như một con tắc kè tinh quái, chúng đổi mầu rất nhanh để thích ứng với hoàn cảnh mới.

Nhưng thật ra cũng chẳng có gì lạ. Chỉ là may mắn thôi. VGCS thoát hiểm được là vì những điều kiện khách quan xẩy ra vào lúc đó hoàn toàn có lợi cho chúng. Người dân trong nước thì kiệt sức vì đói phải lo cho cái bụng trước đã. Đồng bào tỵ nạn bên ngoài ai nấy cũng cần dành nỗ lực và thời giờ để làm lại cuộc đời nơi đất khách quê người. Các cường quốc Mỹ, Nga, Tầu, kẻ sút càng, người gẫy gọng, không anh nào lành lặn. Cả ba đều không còn hơi sức đâu mà để tâm chấp nhất với thằng điếm thúi CSVN. Thế là VGCS thoát nạn. Gặp lúc nguy khốn, là một tên lưu manh vô cùng street smart (xin tạm dịch là khôn vặt), VGCS đã học hỏi và rút tỉa được rất nhiều kinh nghiệm trong việc mưu sinh thoát hiểm. Với bản chất lưu manh bịp bợm số một trong thiên hạ, cùng với những kinh nghiệm tích lũy được, VGCS đã trở thành mô hình tồn sinh mà Kim Chính Nhất và Fidel Castro phải bái sư để học đạo.

2. Những Khác Biệt Giữa CSVN Và CS Đông Âu

Ở Đông Âu người CS và người không CS sống hòa đồng với nhau thời hậu CS trong gần hai thập niên qua. Họ hòa nhập với nhau và từ từ giải quyết những mâu thuẫn một cách tương đối êm đẹp. Nhưng nếu đặt ra vấn đề chung sống Quốc/Cộng tại VN, chuyện chắc chắn phức tạp hơn rất nhiều. Mấu chốt nguy hiểm trong vấn đề HHHG hay bầu cử đa đảng để chung sống với VGCS ở tại hai yếu tố cũng là hai khác biệt căn bản giữa CS Đông Âu và CSVN sau đây.

2.1 Khác về đảng tính.

Vào tháng 3-1940 trong khu rừng núi Katyn tại Ba Lan, có 21.768 người Ba Lan bị chôn sống, trong đó có 8.000 là sĩ quan, còn lại là các viên chức hành chánh và thường dân vô tội. Cuộc tàn sát dã man này không có đảng CS Ba Lan nhúng tay vào, mà là do Hồng Quân Liên Sô thực hiện. Mùa Xuân 1968 nhiều cuộc xuống đường rất lớn đòi tự do dân chủ của nhân dân Tiệp Khắc tại thủ đô Prague bị dẹp tan. Nhà nước CS Tiệp không xua cảnh sát và quân đội dẹp biểu tình, mà là quân đội của Minh Ước Warsaw do Liên Sô cầm đầu tràn vào để dẹp. Biến cố này thường được gọi là Mùa Xuân Prague. Alexander Dubcek, bí thư thứ nhất Ủy Ban Trung Ương đảng CS Tiệp thà chịu bị bắt giải về Liên Sô ngồi tù chứ không chịu ra lệnh giải tán đồng bào của mình biểu tình.

Nhưng VGCS thì khác hẳn. Năm 1953 Hồ và đảng CS theo lệnh Mao Trạch Đông và xin chỉ thị của Stalin phát động cuộc cải cách ruộng đất giết chết hàng trăm ngàn nông dân tại miền Bắc. Tết Mậu Thân 1968, quân CS Bắc Việt tràn vào thành phố Huế sát hại tại chỗ không kể, còn bắt đem đi chôn sống khoảng 6.000 đồng bào. Năm 1975, VGCS sau khi chiếm miền Nam , đã giết chết tại chỗ không xét xử một số không thống kê được nhưng chắc chắn không phải ít. Chúng còn ra lệnh đầy ải khoảng 300.000 quân, cán, chính, và người miền Nam vào các trại tù cải tạo. Số người chết trong tù rất nhiều và cũng không sao thống kê được. Mỗi người còn sống bị giam cầm và hành hạ tính trung bình là 12 năm mới được thả ra. Các cuộc trả thù dã man này đều do những người CS miền Bắc nhắm vào người Quốc Gia miền Nam . Tất cả đều là người Việt Nam , người CSVN miền Bắc hành hạ và giết chết đồng bào mình.

Cung cách hành xử của CS Đông Âu và CSVN đối với những người cùng dòng giống của họ cho thấy có một sự rất khác biệt về nhân tính và cả về tinh thần dân tộc. Người CS Đông Âu ít ra còn có nhân tính và tình đồng bào hơn bọn CSVN. Cuộc thảm sát người Ba Lan tại rừng Katyn là do Liên Sô chủ trương. Họ là ngoại bang. Ông Dubcek thà bị ngoại bang bỏ tù chứ không đàn áp đồng bào của mình. Trong khi đó, bọn VGCS theo lệnh Nga và Tầu không ngần ngại giết, đập đầu, chôn sống đồng bào của mình không thương tiếc. Và cho đến bây giờ, chúng vẫn còn không buông tha cho những người đã thua trận, đồng bào của chúng, được sống an bình hạnh phúc dù họ đã chạy ra nước ngoài. Sự tàn ác của VGCS thể hiện rõ cái gọi là “tính đảng” của con người CS. Tính đảng bắt buộc phải là phi nhân tính và phi dân tộc tính. Đúng nhất nên gọi là thú tính. Người CS lý tưởng là con người đã mất hết tính người, chỉ còn lại thú tính.. Nhìn chung, CS Đông Âu tương đối còn có nhân tính, trong khi CSVN hành động hoàn toàn theo thú tính, hay đảng tính cũng thế. Loại mặt người dạ thú này, trong xã giao bình thường chúng ta cần lánh xa, trong công việc làm ăn thì không thể hợp tác, trong sinh hoạt chính trị dứt khoát không bao giờ nên tin tưởng. Qua cung cách hành xử của họ, có thể kết luận được rằng CSVN vượt xa CS Đông Âu trên phương diện thể hiện sự man rợ của tính đảng. Từ đó cho thấy những người CS và không CS tại Đông Âu còn có thể HHHG và sinh hoạt đa đảng với nhau được. Nhưng người VN quốc gia và VGCS sống chung với nhau là vấn đề không có gì làm bảo đảm.

2.2 Khác về quyền lợi.

Một sự khác biệt nữa rất đáng lưu ý là sự chênh lệnh về tài sản thủ đắc và các đặc quyền kinh tế giữa CSVN hiện nay với các đảng CS Đông Âu lúc họ phải từ bỏ quyền hành. Hai mươi năm về trước, các nưóc CS tại Đông Âu chưa có chính sách mở cửa với bên ngoài, trái lại họ vẫn còn tự bao vây mình bằng những bức màn sắt. Trong nuớc dân chúng sống lầm than khổ cực. Nền kinh tế quốc gia èo ọt trao đổi quanh quẩn với nhau trong khối Komecon. Do đó, bọn cán bộ đảng cũng chẳng lấy gì làm giầu có lắm mặc dầu được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi hơn người dân thường. Một số ít chẳng bao nhiêu các lãnh tụ sống xa hoa vương giả chẳng hạn như Ceaucescu. Không thấy tin tức tiết lộ có người nào là tỷ phú hay triệu phú như các cán bộ CSVN hiện nay. Những người tỵ nạn về VN thăm nhà cho hay bí thư hay chủ tịch xã triệu phú dollar là chuyện khá bình thường. Theo tin tức phổ biến trên Internet thì có khoảng 300 cán bộ đảng viên có tài sản trên dưới 100 triệu dollars, hàng chục tên cấp ủy viên trung ương đảng thủ đắc con số kếch xù hàng tỷ bạc. Tỷ phú VN giầu không thua tỷ phú Hoa Kỳ. Tình trạng chênh lệch giầu nghèo giữa đảng viên với người dân cùng với những đặc quyền và đặc lợi bọn đảng viên được hưởng là nguyên nhân chính gây bất ổn định xã hội thường trực tại VN. Từ đó làm phát sinh ra những phong trào tranh đấu, đặc biệt là phong trào dân oan trong cả nước. Tóm lại, những bất công xã hội do cộng sản tạo ra tại Đông Âu trước đây và VN hiện nay khác nhau rất xa. Tại Đông Âu, tình trạng còn có thể chịu đựng được. Nhưng tại VN ngày nay, sự bất công đã vượt quá sức chịu đựng của con người. Hiểu được tình trạng xã hội của các nước CS Đông Âu, người ta sẽ không thắc mắc tại sao ở đó con người dễ dàng hòa hợp hòa giải với nhau khi CS từ bỏ quyền hành. Nhưng tại VN, cả nước dân oan hòa hợp được với đảng CS thật sự là điều hoang tưởng.

Đang ở trên vị trí nắm quyền, chiếm hữu mọi quyền lợi kinh tế trong tay, đảng CS không ngu dại gì mà chịu chia sẻ quyền lợi và địa vị cho người khác. Hơn nữa chúng vốn là một đảng độc tài về mặt hành xử, kiêu căng trong tư duy, và cố chấp trên lập trường. Kêu gọi chúng, dễ dàng vậy sao? Lấy súng kê vào cổ thì họa may, còn không thì vô phương. Sự thể chỉ có thể xẩy ra trong trường hợp tới một lúc nào đó đảng sắp xuống lỗ nên để sống còn, chúng không buông cũng bắt buộc phải buông. Tới lúc lúc đó CS cũng chỉ chịu chia quyền, còn chia tiền thì hẳn là không bao giờ. Chịu mất đi quyền hành, nhưng có tiền trong tay và nắm giữ những quyền lợi kinh tế, VGCS sẽ phải hành động như thế nào để xoay xở mà tồn tại thì nhắm mắt cũng nhìn thấy được. Đó là việc dùng đồng tiền để mua chuộc. Có tiền mua tiên cũng được kia mà. Mua chuộc đang là chiến thuật hữu hiệu bọn VGCS áp dụng để chiến thắng người tỵ nạn ở hải ngoại. Không lấy đó làm một bài học thì thật là uổng phí. Cho nên thật là điều mơ mộng nếu những đảng phái tay trắng của chúng ta dám thách đố CS chấp nhận đa nguyên đa đảng và tranh đua bầu cử trong tình trạng như thế.

Những người chủ trương HHHG hay đa nguyên đa đảng với VGCS nếu không sáng suốt nhận ra lẽ thắng/thua sẽ phải thua CS một cách danh chánh ngôn thuận. Phòng bệnh hơn chữa bệnh là lời dậy bảo rất đúng của ông cha ta. Từ suy luận thông thường và từ những kinh nghiệm hàng ngày cho thấy trong tình hình hiện tại, tiền bạc và quyền lợi vật chất sẽ giúp cho VGCS dễ dàng thắng trong bất cứ một cuộc bầu cử nào. Và nếu nhìn lại lịch sử tranh chấp Quốc/Cộng trong thời gian qua, người ta có thể tiên đoán rằng yếu tố tính đảng của CS sẽ lại nhanh chóng phân hóa nội tình chính trị và mọi chuyện sẽ trở lại như cũ ngay sau khi bầu cử.

3. Kết Quả Bầu Cử Trong Điều Kiện Hiện Tại

Đây chỉ là giả thuyết đặt ra. Căn cứ vào hai yếu tố then chốt nêu trên, chúng ta thử làm một vài ước tính để tìm xem kết quả bầu cử sẽ ra sao. Mặc dầu là giả thuyết nhưng khả năng trở thành hiện thực của nó có thể tin được với một sai số không đáng kể.

3.1 Dựa trên lý luận.

Hiện nay quân đội, công an, chính quyền các cấp từ trung ương cho đến địa phương đều nằm trong tay đảng CS. Đảng CS còn có khả năng khống chế được toàn dân nhờ Mặt Trận Tổ Quốc và những ngoại vi của nó. Hơn thế nữa, những phương tiện và dịch vụ liên quan đến bầu cử như truyền thông báo chí, giao thông vận chuyển, an ninh trật tự v.v. cũng đều nằm trong tay đảng CS. Như thế hiển nhiên CS hưởng được lợi thế tuyệt đối so với các đảng phái khác. Và một điều quan trọng hơn hết không thể không biết đến. Đó là CS vừa là một đảng chính trị lâu đời, có tổ chức, và được rèn luyện, vừa là một tập đoàn tư bản giầu có hơn bất cứ đảng chính trị nào. CS nắm những ưu thế đó trong tay, ai dám tin sẽ đánh bại được CS bằng tuyển cử? Những lợi điểm của CS cũng chính là những bất lợi cho các đảng phái quốc gia. Nếu cứ khơi khơi đòi đa nguyên đa đảng mà không khắc chế được những bất lợi kia và hoạch định được những kế hoạch tỉ mỉ cần thiết để đối phó, rồi khi CS đồng ý chấp nhận cuộc chơi, tức đồng ý cho đa nguyên đa đảng, thì lòng tự tin tất thắng của những người chủ trương HHHG rất có cơ sẽ biến thành một màn tự sát chính trị. Qua cuộc bầu cử “dân chủ” như thế, nhân dân VN sẽ lại được quyền hô vang khẩu hiệu: đảng CSVN quang vinh muôn năm.

3.2 Bằng tính toán cụ thể.

Thử làm một con toán lớp ba đơn giản để tìm kết quả thắng bại nếu tranh cử chung với CS. Bài toán lấy thí dụ và ước lượng bằng những con số chẵn đơn giản cho dễ thấy như sau :

Dân số Vietnam hiện nay ước lượng là 84 triệu. Con số những người đến tuổi và đủ điều kiện đi bầu tạm tính là một nửa, tức 44 triệu cử tri được quyền đi bầu.

Đảng CS có 3 triệu đảng viên. Trung bình mỗi gia đình đảng viên này có thêm 2 người có quyền đầu phiếu là vợ và một con đã trưởng thành. Vợ và con chắc chắn sẽ đầu phiếu theo chủ gia đình tức người đảng viên. Như vậy đảng CS nắm chắc số cử tri bầu cho họ là:
3 triệu x 3 = 9 triệu phiếu.

Trong bất cứ cuộc bầu cử nào vào lúc này, đảng CS cũng nắm chắc trong tay con số 9 triệu phiếu bầu cho chúng. Đấy là chưa tính đến những lá phiếu sẽ bầu cho đảng CS hoặc vì lý do thân thuộc, hoặc vì tình cảm bạn bè, lối xóm, hoặc vì quyền lợi cấu kết vv… Con số này tính dè sẻn cũng phải là 3 triêu phiếu. Tóm lại đảng CS sẽ chắc chắn nắm được:
9T + 3T = 12 triệu phiếu, tức 27% tổng số phiếu bầu.

Các đảng phái không CS sẽ chia nhau số phiếu còn lại là:
44T – 12T = 32 triệu phiếu.

Trên đây là giả thiết 100% cử tri đi bầu trong điều kiện lý tưởng. Nghĩa là mọi người được đi bầu tự do, không bị đe doạ, không bị mua chuộc, hoặc bị bất cứ áp lực nào. Chưa biết có bao nhiêu đảng phái và tổ chức cử người ra tranh cử. Con số chắc sẽ rất đông. Sau khi nước Ba Lan thoát khỏi ách CS, trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên có 100 đảng tham gia tranh cử. Tại VN, cứ ước tính một con số khiêm nhượng là 30 thôi cho tiện. Như vậy trung bình mỗi đảng sẽ kiếm được một số phiếu bầu cho mình là:
32.000.000 : 30 = 1.067.000 phiếu, tức 1.07% tổng số phiếu

Trong tình hình phân hoá cùng cực của xã hội Vietnam hiện nay, thật khó có thể tưởng tượng được một chánh đảng nào có đủ uy tín để thu hút được số phiếu bầu vượt trên đảng CS là 27% tổng số phiếu.

Kết quả, đảng CS sẽ dẫn đầu trong cuộc bầu cử mà không cần gian lận hay mánh mung gì cả. Thế nhưng, nếu không gian lận và không mánh mung thì CS sẽ không còn là CS nữa. Quá khứ và bản chất lưu manh côn đồ của CS tuyệt đối bảo đảm cho lời khẳng định này. Với bản chất ma giáo, lưu manh, và bịp bợm sẵn có, CS chắc chắn sẽ còn thắng vẻ vang hơn thế nhiều. Nếu tin rằng CS hoàn toàn vô tư và ngay thẳng trong cuộc bầu bán cho dù là có quốc tế giám sát thì đúng là một niềm tin bệnh hoạn.

4. Dự Kiến Một Nước VN Sau Bầu Cử Đa Đảng

Như trên chúng tôi đã chỉ ra, trong một cuộc bầu cử đa đảng với những điều kiện hiện tại, VGCS chắc chắn sẽ thắng. Sự thắng lợi này sẽ mau chóng đưa đất nước đến tình trạng giống như nước Nga ngày nay hơn. Chẳng may nếu chúng thua, vấn đề cũng không có gì khác lắm. Cuộc hòa hợp vẫn sẽ không diễn ra thuận lợi như tại Đông Âu, vì như tôi đã phân tích, VN không cùng điều kiện như Đông Âu. Đất nước sẽ trở thành một Cambot thứ hai. Giống như Hunsen, kẻ có thế lực tiền bạc và hậu thuẫn từ bên ngoài mạnh hơn sẽ loại trừ đối thủ để một mình độc bá quyền hành. Thực chất cả hai nưóc Nga và Cambot hiện nay là những chế độ CS không có đảng CS. CSVN đang đi theo con đường của nước Nga thời Putin có pha mầu sắc tư bản Mỹ theo cách thức riêng của nó.

Mặc dầu là một giả thuyết, nhưng vẫn có thể tin rằng đến một lúc nào đó, khi đã chuẩn bị đầy đủ, và thấy mọi việc đã chắc ăn, VGCS sẽ chấp nhận chế độ đa đảng. Đa số người ta tin như thế. Người viết cũng tin như thế, bởi vì ngày nay dân chủ là một xu thế thời đại không thể đảo ngược được. Nhưng dân chủ như thế nào thì đó mới là vấn đề. Có dân chủ thật và cũng có dân chủ cuội. Theo một số các dữ kiện quan sát được thì có hai đường lối được xây dựng để làm cơ sở mà VGCS đang phải chuẩn bị cho một thể chế đa đảng trong tương lai. Một là việc tập trung guồng máy kinh tế vào trong tay các đại gia tư bản đỏ. Và hai là xây dựng một hệ thống quyền lực mafia với quyền chỉ định thừa kế. Thể chế này là một sự pha trộn ma quái giữa các định chế dân chủ tư bản và sức mạnh của quyền lực đen mafia CS. Hai cánh tay robot này nối kết lại sẽ tạo ra một nước VN mới không dân chủ cũng chẳng độc tài như nước Nga hay như Cambot hiện nay. Thế chế này không phục vụ cho người dân mà chỉ phục vụ cho những tên đầu lãnh CS sau khi chúng đã thay mầu đổi dạng.

Con đường tương lai đó được xây dựng trên kinh nghiệm VGCS học được trước hết từ nước Mỹ. Ở Mỹ người ta thường thấy nói đến tập đoàn siêu quyền lực gồm một số các đại gia bự điều khiển nước Mỹ. Ngày nay bọn VGCS đang muốn hình thành một cơ cấu siêu quyền lực như vậy. Hãy nhìn vào nền kinh tế quốc gia và hệ thống các xí nghiệp, các ngành thương mại và dịch vụ tại VN thử coi. Có cái gì là không nằm trong tay bọn cán bộ đảng viên hoặc gia đình hay thân nhân của chúng. Chỉ có một điều khác biệt là ở nước Mỹ một con người bình thường vẫn có cơ hội để trở thành đại gia nếu may mắn và có tài năng. Vì thế người Mỹ nào cũng có thói quen ôm giấc mộng American Dream trong đầu. Nhưng trong chế độ tiền chế của VN sau này thì không. Không nằm trong hệ thống tư bản đỏ thì dứt khoát không ai ngóc đầu lên nổi. Trong chế độ này cũng có bầu cử, cũng có đủ mọi thứ dân chủ, nhưng là thứ dân chủ đã được tiền chế. Với các phương tiện sẵn có trong tay, nhất là tiền bạc dồi dào không thiếu, thử hỏi CS tiền chế ra cái gì mà không được. Trong một cơ chế dân chủ như thế chỉ kẻ có tiền và có quyền mới là người thực sự có dân chủ.

Một bài học khác VGCS học được từ nước Nga là sự hình hành một tổ chức nắm trọn quyền lực giống như một công ty thương mại trong đó chỉ những người này mới thực sự có quyền chọn lựa người lãnh đạo của đất nước. Người lãnh đạo cũng đưọc bầu bán đàng hoàng, nhưng thực ra là do bàn tay sắp xếp của công ty, hay đúng hơn là của người giám đốc công ty giống như Putin, người đặt Medvedev lên ghế tổng thống nước Nga. Biết đâu cơ quan gọi là Tổng Cục 2 (TC2) của CSVN, sản phẩm mafia quái dị của cặp bài trùng MA (Đỗ Mười và Lê Đức Anh) và do cha con Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh làm đầu nậu đang là bước đầu hình thành của một công ty quyền lực như thế. Hệ thống siêu quyền lực nặn ra những nhà cai trị đất nước. Lối thừa kế này không đến nỗi quá lố bịch như cha con Kim Nhật Thành – Kim Chính Nhất ở Bắc Triều Tiên, hay anh em Fidel Castro – Raoul Castro ở Cuba nhưng nó cũng kiến hiệu không thua kém. Sau khi Vladimir Putin hết nhiệm kỳ, ông truyền ngôi chủ tịch lại cho Dmitry Medvedev, một người rất thân cận và được tín nhiệm, đang là Phó Thủ Tướng đặc trách phát triển các dự án ưu tiên quốc gia và là chủ tịch Ủy Ban Điều Hành đại công ty dầu khí Gazpron. Quyền truyền ngôi của Putin không do lật thành văn, mà do luật rừng cho phép. Putin trong suốt thời gian nắm quyền đã không ngừng đưa nền dân chủ son trẻ của nước Nga đi xuống, nghĩa là tập trung vào trong tay ông ta và đồng bọn. Theo giáo sư Stephen Kotkin nhà sử học và là giám đốc của chương trình nghiên cứu Âu-Á và Nga của đại học Princeton thì “nước Nga dưới chế độ Yeltsin dân chủ hơn dưới chế độ Putin rất nhiều (Lecture given on Feb.15, 2007 in Philadelphia)”. Việc Putin thu hồi các quyền dân chủ của nước Nga khởi đầu từ chuyện kiểm soát và thuần hóa 3 hệ thống truyền hình lớn nhất nuớc. Rồi sau đó đến các loại báo in và báo online. Vẫn theo GS Kotkin, Nga bây giờ là nơi nguy hiểm cho giới ký giả được xếp vào hàng thứ 3 sau Iraq và Colombia . Putin giảm bớt quyền tự trị của các địa phương và đặt các tướng lãnh và cựu sĩ quan KGB trung thành với ông ta kiểm soát tất cả các định chế chính trị cũng như các công ty, xí nghiệp của nước Nga. Người ta gọi chế độ Putin là Tổ Hợp Kremlin (Kremlin Incorporation = Kremlin Inc.) để chỉ tính cách tập quyền của nó, nhưng có lẽ chưa diễn tả đúng tình trạng. Đúng nhất nên gọi nước Nga hiện nay là chế độ cộng sản không có đảng CS. Một thể chế hỗn hợp Mỹ Nga như thế đúng là cái VGCS mong muốn. Nó mặc bên ngoài cái vỏ dân chủ, nhưng bên trong là sự toàn quyền thao túng của CS.

Một thế chế đa đảng như thế đưa đến hai hệ quả quan trọng. Thứ nhất, đảng CS cho dù đã biến thái vẫn là một trung tâm quyền lực vô địch. Những đảng phái cơ hội sẽ biến thành ngoại vi của đảng CS để kiếm chút cháo. Các đảng phái yêu nước kết cưộc đành phải chịu bất lực trong cái ao tù dân chủ giả hiệu này mà thôi. Thứ hai, người dân sẽ không còn lý do chính đáng nếu muốn tranh đấu cho quyền lợi của mình, vì một chế độ như thế là đạt qui luật trò chơi dân chủ rồi. Nó đã được thế giới đóng ấn thừa nhận. Kiểu mẫu dân chủ tiền chế này hiện đang được trưng bầy để quảng cáo tại nước láng giềng Cambốt của chúng ta.   (còn tiếp)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Bài đã đăng: Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI (1)

May 4, 2008

Vấn đề HÒA-HỢP và HÒA-GIẢI (1)

Filed under: Chính trị, xã hội, hòa giải hòa hợp — tudo @ 8:46 pm

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

 

 Nếu hòa hợp hòa giải (HHHG) Dân Tộc là con đường lý tưởng đưa đến phát triển đất nước thì tại sao cộng sản Việt Nam (CSVN) lại ban hành Nghị Quyết 36 ?nếu HHHG là giải pháp tốt đẹp để giải quyết các vấn đề của Việt Nam (VN) thì tại sao các nhà hoạt động chính trị tại hải ngoại lại không công khai tuyên truyền và cổ võ nó ? HHHG dân tộc, vấn đề đã xưa cũ, nó chỉ là chuyện của dân gian và của báo chí.

 

Tuyệt nhiên không thấy người ta công khai đề cập đến trong các cuộc hội họp chính trị, và ngay cả những nhà tranh đấu đòi dân chủ cũng thường tỏ ra úy kị nó. Như vậy có phải HHHG chỉ là hiện tượng ảo của một âm mưu đen tối nào đó làm người ta bị nhột khi phải đối diện với nó? Từ ngữ thời trang các nhà hoạt động chính trị thường sử dung hiện nay là đa nguyên đa đảng thay vì HHHG.

 Có lẽ vì thế dư luận mới cho rằng HHHG và đa nguyên đa đảng chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Loại giấy bạc này do CS Hànội in ra và dùng nó để mua sự khờ dại của những nhà hoạt động chính trị loại school smart (xin tạm dịch là mọt sách). Những người thực sự chủ trương HHHG với Việt gian cộng sản (VGCS) cũng không có ai giải thích vấn đề một cách tường tận. Chung quanh có rất nhiều câu hỏi cần phải được đặt ra. Tại sao phải HHHG với VGCS ? Phải hiểu thế nào là HHHG ? Những ai chủ trương HHHG ? Những ai chống ? Tại sao người ta không minh danh đặt vấn đề ra một cách công khai cho mọi người thảo luận để tìm ra chân lý, mà cứ phải úp úp mở mở, nói một đàng, làm một nẻo. Lấy cái gì để nói chuyện HHHG với VGCS ? Hậu quả của việc HHHG sẽ ra sao ? Vân vân và vân vân. Nếu không minh bạch hóa vấn đề thì HHHG hay đa nguyên đa đảng hơn kém chỉ nên coi là một màn xiệc mà chủ gánh là bọn chóp bu Hànội, không ai khác vào đây cả. Có nhiều màn trình diễn hấp dẫn. Chủ gánh không cần quảng cáo mà người hiếu kỳ vẫn tấp nập mua vé vào xem. 

HHHG trong một tình trạng rất ư là mơ huyền … mờ như thế đấy. Bài viết xin được đóng góp một vài ý kiến nhỏ hy vọng soi sáng được phần nào những hóc hiểm đầy ảo thuật tính của màn xiệc hấp dẫn này. Mong những ai còn tha thiết đến vận mệnh của đất nước quan tâm hơn đối với vấn đề.

I. Sơ Lược Về Tình Hình Đấu Tranh Hiện Nay 

1. Gió Đã Đổi Chiều 

Khái niệm về chiến tranh đã thay đổi trong thời đại ngày nay, và hình như định nghĩa về chiến tranh cũng đang là độc quyền của một vài quốc gia có sức mạnh áp đảo. Ngày xưa du kích VC giật mìn xe đò, pháo kích trường học, nổ rạp hát, bắt người đi mò tôm v.v. chả thấy ai kết tội chúng là khủng bố cả. Nhưng bây giờ thì khác, chuyện lớn như ôm bom tự sát, chuyện nhỏ như liệng một trái phá tự chế không có ngòi nổ ở đâu đó, cãi cọ rồi xô xát với nhân viên của một phái đoàn ngoại giao, rải truyền đơn chống cộng v.v. tất cả đều được ghép chung vào một loại tội phạm gọi là tội “khủng bố”. Chữ “khủng bố” và chữ “chiến tranh” có nghĩa khác nhau một trời một vực. Chiến tranh xem ra còn ẩn tàng một một chút gì nhân đạo. Hai bên đánh nhau còn có cơ hội để thương lương hòa giải. Nhưng khủng bố thì không. Dù nặng hay nhẹ, biện pháp là tuyệt đối không tha, phải đuổi tận giết tuyệt. Điều trớ trêu là ngày nay bọn giật mìn xe đò, pháo kích trường học, chôn sống thường dân vô tội v.v. lại đang bô bô kết tội những hành động chống lại chúng là khủng bố. Và thật là tồi tệ, luật pháp nước Mỹ cũng thường khi y án phụ họa.

Sự đổi chiều quan điểm này đã khiến tất cả mọi khuynh hướng đấu tranh của chúng ta, trong cũng như ngoài nưóc nhất loạt thay đổi đường lối theo. Đấu tranh vũ trang tất nhiên bị dẹp bỏ vì đó là khủng bố. Tất cả các tổ chức tranh đấu đều đồng loạt tuyên bố đấu tranh bất bạo động. Đến như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước kia hung hăng đông tiến đem âm binh về giải phóng VN, nay đứa con quí tử là Việt Tân (VT) cũng sợ co vòi, chỉ còn dám nói canh tân để giải phóng đất nước. Lý Thái Hùng Tổng Bí Thư đảng VT tuyên bố: “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng chủ trương tiến hành một cuộc đãu tranh toàn diện, để xây dựng tự do dân chủ và để canh tân Việt Nam . Nghĩa là đấu tranh để ưu tiên chấm dứt ách độc tài hiện nay nhưng cũng đồng thời tiến hành những nỗ lực canh tân một cách chọn lọc và tích cực, đáp ứng nhu cầu chung và dài hạn của đất nước.” (Chủ trương và đường lối của đảng VT – Lý Thái Hùng , Berlin , Đức Quốc 19-9-2004). 

Cương lĩnh, tuyên ngôn v.v. của các đảng phái và tổ chức mới ra đời lúc gần đây đều có cùng luận điệu như thế cả:

- Đảng Dân Chủ VN của ông Hoàng Minh Chính: Xây dựng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, bầu cử tự do và công bằng. Xây dựng cơ cấu quốc gia tam quyền phân lập (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều có thẩm quyền độc lập.) Sinh hoạt chính trị lành mạnh. Các đảng chính trị bình đẳng với nhau. Hoạt động của các đảng phái chính trị và nhà nước phải riêng biệt. Bộ máy hành chính quốc gia phải gọn nhẹ để phục vụ nhân dân một cách hữu hiệu. 

- Đảng Dân Chủ Nhân Dân: Mục tiêu đấu tranh là hình thành một lực lượng đối lập công khai, để kịp thời ngăn chặn những hành động của nhà cầm quyền gây tổn hại cho đất nước và cho nhân dân……. Đấu tranh với chính quyền độc tài sửa đổi Hiến pháp và Pháp luật để phù hợp với ý nguyện nhân dân, hướng tới việc xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền.

- Đảng Thăng Tiến VN: Trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), nhằm mục đích xây dựng một Hiến pháp mới, để người Dân thực hiện quyền làm chủ Đất nước của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do với sự tham gia tranh cử bình đẳng của tất cả các Chính đảng ; qua đó nắm quyền lãnh đạo và quản lý Đất nước. 

- Khối 8406: Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu

Khối 8406 nói có phần hơi mạnh mẽ hơn, nhưng cũng chưa đủ để xác định rõ sự khác biệt. Nhờ được tiếp xúc với một số người hiểu biết về Khối 8406, người viết tin tưởng rằng nhiều quí vị lãnh đạo nòng cốt của tập hợp chính trị này là những người rất đáng tin tưởng cả về mặt đạo đức cá nhân lẫn xã hội, có tinh thần dấn thân, can đảm và đầy nhiệt huyết. Tuy nhiên trong hành động, quí vị đó đã vấp phải một số sai lầm nguy hiểm, đến nỗi có dư luận coi khối 8406 cũng là dân chủ cuội. Đàng khác, Khối 8406 đã để Việt Tân xâm nhập và lũng đoạn nhiều quá khiến mất đi rất nhiều cảm tình và tin tưởng của người Việt hải ngoại. Đấy là chưa nói đến tình trạng nghi ngờ có chuyện cài người của VGCS. Ở trong nước chuyện này khó tránh khỏi. Tuy nhiên, thật sự là điều bất công nếu cứ vơ đũa cả nắm khẳng định rằng Khối 8406 là một tổ chức dân chủ cuội. Đành rằng cá thể có cuội trong đó, nhưng toàn thể thì nhất định không. 

- Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN: Mục tiêu của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam là đấu tranh nhằm vận động sức mạnh của Toàn Dân để giải quyết dứt khoát sự lũng đoạn của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến thay thế triệt để thể chế chính trị độc đảng toàn trị lạc hậu hiện nay bằng thể chế chính trị đa đảng tiến bộ, nghĩa là thay thế sinh hoạt chính trị không công bằng, không chấp nhận cạnh tranh bằng sinh hoạt công bằng, có cạnh tranh trong sáng. 

- Tổ Chức Phục Hưng VN: Tổ Chức PHVN chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên song hành với nỗ lực phục hưng Văn Hóa Dân Tộc.

- Liên Đảng Lạc Hồng: Xây dựng một Liên Minh Chính Trị đối lập có thực lực đối trọng với đảng CSVN. Liên Đảng Lạc Hồng quyết tâm thúc đẩy tiến trình đấu tranh chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị, góp phần phục hưng Dân Tộc và phát triển một quốc gia thực sự có đạo đức, dân chủ, tự do, hạnh phúc và văn minh.

- Lộ Trình 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thỉnh thoảng được nhóm Cao Trào Nhân Bản của ông tại Mỹ giới thiệu với chính giới Hoa Kỳ. BS Quế cũng chủ trương như các đảng phái trên, không có gì khác lạ. Gọi phương thức tranh đấu của nhóm này là chính trị sa-lông không sai. Họ đứng riêng lẻ, tranh đấu không có gốc, tức là không dựa vào quần chúng, mà chủ yếu là dựa vào cách bắt mạch xem cái ngọn tức đường lối của Hoa Kỳ rồi theo đó mà phất cờ. Nhóm Cao Trào Nhân Bản chỉ thấy tranh đấu đâu đó chung quanh Quốc Hội Hoa Kỳ, không thấy xuất hiện ở những chỗ đông người tỵ nạn như xuống đường hay biểu tình v.v. Nó biểu lộ cái quán tính của một số chính khách và đảng phái của nhiều chánh khách miền Nam xưa kia.

Sự trùng hợp hoặc giống nhau đến nỗi người ta có thể tưởng tượng là tất cả các cương lĩnh và đường lối đều do cùng một tác giả viết ra. Mỗi đảng, mỗi tổ chức chỉ cần đem về sao chép, xào nấu lại, sửa lời văn đôi chút là đã có một bản cương lĩnh riêng của mình rồi. Đọc qua một số trích yếu từ các văn kiện chính thức của các đảng và tổ chức chính trị hiện nay, chúng ta thấy được hai điểm quan trọng: một là họ không minh nhiên lập trường tiêu diệt chế độ CS. Hai là họ chủ trương chế độ mà CS cũng được công nhận là một thành phần tham gia sinh hoạt trong đó. Rõ ràng đây là một hình thức hòa hợp. Sự hòa hợp này không hẳn đã có hòa giải nên chắc chắn sẽ lại đem đến xung đột về sau. Điều thiếu sòng phẳng là các đảng phái và tổ chức chính trị kia chủ trương HHHG với VGCS nhưng họ lại không dám tự nhận là mình có chủ trương đó. Chuyện này cũng dễ hiểu thôi vì đại đa số đồng bào tỵ nạn không chấp nhận HHHG. Nếu họ tự nhận, họ sẽ mất cảm tình của đồng bào và sẽ bị đồng bào tẩy chay. Trường hợp của Việt Tân là một thí dụ. 

2. Những Thành Phần Trong Bàn Cờ Chính Trị VN

Ở đây dĩ nhiên chúng tôi chỉ đề cập đến người Việt Nam . Có 4 thành phần. Nhìn qua lăng kính chính trị, và dù đứng dưới bất cứ góc độ nào cũng rất dễ dàng nhận ra.
- Thứ nhất: CS chuyên chính. Gọi là CS chuyên chính hay CS chính chuyên cũng đồng một ý nghĩa. Thành phần này đều là đảng viên đang tham gia vào cơ cấu chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. Bọn này tuyệt đối trung kiên và trung thành với đảng vì quyền lợi và vì đang có điều kiện hưởng thụ mà thường là bất hợp pháp. Ngoài ra còn phải kể đến vài nhóm và cá nhân ở hải ngoại. Loại này không phải là CS “chính chuyên”, nhưng tự đông làm việc nhiều khi không công cho VGCS, ngày trước còn làm vụng trộm, nhưng bây giờ ít thấy còn e dè lén lút nữa.

- Thứ hai: Nhân dân trong nước và đặc biệt đại đa số đồng bào tỵ nạn tại hải ngoai. Thành phần này không đội trời chung với CS, và tuyệt đối không chấp nhận sự có mặt của VGCS dưới bất cứ hình thức nào trong cơ cấu chính quyền vì họ đã và đang là nạn nhân trực tiếp của chế độ.

- Thứ ba: Cộng sản phản tỉnh. Dùng chữ phản tỉnh thực ra chỉ là miễn cưỡng. Gọi cho có cái tên mà thôi. Phản tỉnh là xét lại tư tưởng để tìm sai lầm mà sửa chữa. Câu hỏi đặt ra là đã có người CS nào thực tâm đi tìm sai lầm để sửa chữa chưa. Chủ nghĩa CS là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử con người. Hàng núi tài liệu và sách vở với vô số bằng chứng đã chứng minh rồi đấy. Lịch sử và thực tế đã công nhận rồi đấy. Các văn kiện đảng viết rõ ràng đảng CSVN là một chi bộ của CS Liên Sô, Hồ Chí Minh (HCM) là một cán bộ lãnh lương và hoạt động cho đảng CS Liên Sô. Đảng CS đã bán đất bán biển cho ngoại bang. Thế mà đã có ai trong số 3 triệu đảng viên CS dám nhìn nhận những tội ác và sai lầm đó không? Hoàng Minh Chính (HMC) chỉ là một tên CS theo chủ nghĩa xét lại. Ông ta chủ trương chống đảng để cứu đảng. Dân chủ mà HMC đòi là thứ dân chủ được lãnh đạo bởi phe CS của HMC. Tất cả chỉ có thế. Tôn HMC lên hàng “tổ tông” của phong trào dân chủ VN là chẳng hiểu gì về HMC. Xem phương án Tiểu Diên Hồng của ông ta tất sẽ hiểu ông ta. Ông ta không bao giờ phản đảng cả. Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang vẫn ca ngợi Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Trần Khuê phong thánh cho Hồ và gọi là đức thánh Hồ. Thánh Hồ còn ngồi trên cả quốc tổ Hùng Vương. Hà Sĩ Phu nói Trời cho dân và đảng hai bên chọn được nhau và sẽ còn là của nhau cho đến trăm năm đầu bạc. Lê Hồng Hà khẳng định đây là cuộc đấu tranh chấm dứt vai trò độc đảng, đảng trị của đảng CSVN, chớ không phải là cuộc đấu tranh để đánh đổ và xoá bỏ đảng CSVN. Còn nhiều và rất nhiều như thế lắm. Lê Hồng Hà đưa ra tuyên ngôn trên là lời giải thích rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa nhất thay cho cả bọn gọi là phản tỉnh này. Tất cả các thành phần được coi là phản tỉnh cốt cán trên đã có thấy ai nhìn nhận sai lầm và sửa sai chưa? Như thế thì làm sao gọi là phản tỉnh. 

- Thứ tư: Thành phần thứ 3. Thành phần này đa số thuộc giới trí thức, già có, trẻ có. Tiếc rằng giới trẻ có học mà sao họ không biết gì về lịch sử và nhất là phong trào CS trên thế giới. Chuyện thật đáng lo ngại, nhưng không trách họ được vì nhà trường đã đào tạo họ như thế. Nhưng còn những người lớn tuổi, có học? Điều này mới thực là kỳ lạ. Hơn ba mươi năm trước họ sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng lại xu hướng CS. Sau 30-4-75 họ phải bỏ miền Nam vượt biên ra nước ngoài vì không thể sống được với CS. Ở hải ngoại họ lại ngoảnh đầu về trong nước và trông đợi ở những người CS phản tỉnh. Họ học cao và đã dầy dạn kinh nghiệm mà không thể hiểu rằng người CS phản tỉnh không bỏ đảng và cũng không chống đảng, chỉ chống ngững người CS đang cầm quyền mà thôi. Họ cũng không tiên đoán được rằng một chế độ đa đảng hậu CS sẽ đưa đất nước đi về đâu. Con đường đấu tranh của nhóm thuộc thành phần thứ ba này có thể tìm thấy qua lá thư của GS Nguyễn Chánh Kết viết gởi cho một người bạn của ông. Lá thư này ông gởi qua mạng internet có đoạn viết: “Hiện nay, điều quan trọng là chúng ta phải đoàn kết với tất cả những ai có khuynh hướng tranh đấu cho tự do dân chủ, cho đa nguyên đa đảng, bất kể họ là ai. Chúng ta phải tiến từng bước một, và tiến được tới đâu thì chấp nhận tới đó đã, rồi lại tiếp tục tiến tới nữa. Không nên chủ trương Tout ou rien, non à peu près, everything or nothing, not nearly (được ăn cả, ngã về không)”. Ông Nguyễn Chánh Kết kể là người ở trong nước. Còn ở hải ngoại, nhiều nhà trí thức cũng đã bầy tỏ bằng những luận điệu tương tự. Chẳng hạn BS Nguyễn Xuân Ngãi nói “đảng cuội (tức đảng Dân Chủ VN của Hoàng Minh Chính) cũng được đi, ủng hộ lầm có mất mát gì đâu”. Hoặc các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Trọng Việt, Nguyễn Ngọc Bích cũng đồng ca một giọng: cờ nào cũng là cờ, cả hai lá cờ không tốt sao

3. Ôn Lại Một Chút Lịch Sử Để Rút Kinh Nghiệm

Tưởng cũng nên ôn lại vài bài học lịch sử Dân Tộc về HHHG cho những ai trí nhớ không được tốt. 

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc Hội đầu tiên của nước Vietnam họp khoáng đại ra mắt toàn dân tại Nhà Hát Lớn, Hànội. Cũng tại đây, ngày này, một chánh phủ liên hiệp kháng chiến được đưa ra trình diện Quốc Hôi. Chính Phủ này gồm đủ mặt các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, Dân Chủ, và nhân sĩ độc lập. Tình trạng hợp tác giữa các phe phái chính trị này ngày xưa gọi là liên hiệp, ngày nay nếu có ai gọi là đa nguyên đa đảng hay hoà hợp hoà giải chắc cũng không sai.

Chỉ 4 ngày sau khi Quốc Hội họp khoá đầu tiên, chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh cầm đầu đã ký với Pháp một văn kiện quan trọng gọi là Hiệp Ước Sơ Bộ, và sau đó ít tháng, Tạm Ước ngày 14-9-46. Ký hai văn kiện này, Hồ Chí Minh tạm coi như được rảnh tay đối phó với Pháp để dồn nỗ lực vào công việc thanh toán các đảng phái quốc gia và những thành phần chống đối Việt Minh. Thời kỳ này có thể ví như một đêm tối kinh hoàng trong lịch sử Dân Tộc. Hàng ngàn, hàng vạn những cuộc ám sát, bắt cóc, thủ tiêu bí mật trên khắp mọi miền đất nước do Việt Minh chủ động. Không có toà án nào xét xử

Màn liên hiệp này thực tế đã cho thấy chỉ là trò bịp bợm do Hồ dàn dựng. Những người đứng về phe Quốc Gia có thể nói đã học được một bài học đắt giá về chuyện liên hiệp, hay đa nguyên đa đảng, hay hoà hợp hoà giải với CS. 

Năm 1975, trong khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đang đổ xương máu chống lại sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc, thì một số chính khách tại miền Nam tự nhận là thành phần thứ ba tôn Dương Văn Minh làm thủ lãnh, công khai chiếm chánh quyền để thực hiện âm mưu bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Nhưng “thiên bất dung gian”, cái chính quyền vô năng bất lực này đã phải cay đắng bẽ mặt khi cả đám đứng lên nghênh đón tên sĩ quan CS bước vào phòng họp chính phủ tại dinh Độc Lập để nghe tên VC này hách dịch ra lệnh cho họ: “Dơ tay lên đầu hàng. Các anh có còn gì đâu mà đòi bàn giao”. Quân dân miền Nam mất tất cả đã đành. Những kẻ ôm mộng HHHG với CS cũng đã tiêu tán tất cả chì lẫn chài. Lần thứ hai người quốc gia lại học được bài học HHHG với CS. Nhưng lần này thì đau hơn nhiều Người quốc gia đã mất trắng tay, còn bị lưu đầy, tù tội, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán…! 

Hai lần kinh nghiệm xương máu như thế đó mà ngày nay nhiều người vẫn chưa tởn. Nhiều người đang tự bôi xóa thân phận tỵ nạn của mình, đội mồ dựng dậy cái thành phần thứ 3 để đứng vào trong đó. Xem ra lịch sử lại đang tái diễn? Điểm đáng lưu ý là vấn đề HHHG tại hải ngoại thực tế không được các chính khách và đảng phái minh thị quảng diễn, nhưng lại được biểu lộ ra bằng rất nhiều hành động hai mặt để đánh lừa dư luận. Chẳng hạn đảng Việt Tân một mặt phái người về trong nước cho CS bắt để chứng minh ta đây chống cộng. Nhưng mặt khác, chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm lại cố tình trình bầy sai tình hình nhân quyền tại VN mà mục đích là để làm thất bại Dự Luật Nhân Quyền VN tại Quốc Hội Mỹ. Tình trạng đang diễn ra tại hải ngoại cũng gần giống như ngày trước khi miền Nam rơi vào tay CS Bắc Việt. Điều đáng lo ngại là người Việt tỵ nạn xem ra chẳng mấy cảnh giác về chuyện đó. Có phải họ đã qua sông nên đấm cò vào sóng!

(còn tiếp)
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

(VNE)
——
ý kiến đọc giả:
- Quyền thẩm định  lịch sử thuộc về độc giả trước những kinh nghiệm, sự thật và bản chất … và đặt quyền lợi tổ quốc lên trên hết, trên bất kỳ đảng phái nào.
- Lịch sử đã chứng minh:
Trong quá trình xây dựng xã hội tự do dân chủ (đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập), sự xây dựng này dễ đi đến đỗ vỡ, không bền lâu, khi :
1/ người dân không thật sự có tự do: ngôn luận, thông tin, báo chí tư nhân, đi lại, hội họp, … (nghiã là nhà nước phải tôn trọng Hiến chương LHQ về nhân quyền, về công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, hiến pháp VN; luật pháp/nghị định không đước vi hiến, vi công ước ;  dân không chấp nhân cơ chế  XIN / CHỜ / KHÔNG CHO, vì đó là quyền bẩm sinh con người; nếu cần, dân chỉ thông báo mà thôi);
2/ Khi chưa xóa bỏ điều 4 HP, và / hoặc viết lại HP khác, …
3/ đảng cs còn nắm độc quyền quyền lực: chính trị, kinh tế, truyền thông, công an, quân đội, những tổ chức ngoại vi tay sai.

4/ Công an, quân đội, chưa thực sự trở về tay nhân dân, độc lập với đảng phái, hay những nhóm quyền lực trong bóng tối.
5/ khi chưa có sự công khai hoạt động hợp pháp của những đảng phái khác
6/ đồng thời chưa nâng cao trình độ hiểu biết của từng người dân (hoặc còn ngụy biện bưng bít, kiểm duyệt thông tin, internet) về: chính trị, tình hình thế giới, khu vực, lợi ích của chế độ dân chủ tự do, lợi ích của tự do thông tin, hiểm họa và tội ác của cncs; …

(…)
Khi mà những điều kiện trên chưa được bảo đảm ở mức cần thiết và đủ thì sự hiện diện song song của đcs sẽ là mầm mống của sự chia rẻ, bất ổn định của xã hội, sự thất bại việc xây dựng xã hội tự do dân chủ thật sự, và rất có khả năng một số lãnh tụ dân chủ sẽ bị “đe dọa, khủng bố, ám sát”. Đó là lý do mà Liên Xô, các nước Đông âu ĐÃ loại đcs ra ngoài vòng pháp luật (từ 1991) vì họ đã quá hiểu bản chất của cs !!

Ngược lại, khi đã được bảo đảm và tôn trọng, lúc này sự sinh hoạt của đcs có thể chấp nhân được, khi xã hội dân chủ đã THẬT SỰ đi vào ổn định, dân trí đã được nâng cao về chính trị, xã hội, quyền con người, dân quyền, sự thật lịch sử (VN, khu vực, thế giới), giá trị của tiến trình tiến hóa nhân loại.  Những buổi học tập (nhiều giờ) này cần khoảng 6-12 tháng là khá đủ ở bước đầu, sau đó được duy trì liên tục có chương trình phương pháp hẳn hoi, với một số thời gian nhất định (ít giờ hơn) mỗi tháng.

May 1, 2008

Việt-Nam Đổi Mới & Hòa Hợp Hòa Giải

Đinh Lâm Thanh


VIỆT NAM ĐỔI MỚI

Nhiều người đi du lịch về thường nói rằng Việt Nam lúc nầy hoàn toàn đổi mới, đôi lúc còn hết lời ca tụng thành quả của nhà cầm quyền Cộng sản đã thực hiện trong những năm vừa qua. Nghe một cách khách quan thì có phần đúng nhưng thiết nghĩ chúng ta cần phải nhìn một vài khía cạnh khác của những gì gọi là đổi mới do tập đoàn Cộng sản đã thực hiện để có một kết luận vui hay buồn ?

Chúng ta không thể căn cứ vào hạ tầng cơ sở đã xây cất trong các thành phố lớn cũng như xem những cuốn phim vidéo thương mãi, trong đó giới thiệu nào là khách sạn cao từng, khu nhà ở sang trọng, 1001 kiểu ăn chơi, những nơi du dịch vừa khai trương đến những món ăn quyến rũ đặc sản ba miền để mời gọi Việt kiều về thăm quê hương, rồi kết luận một cách vội vàng và hời hợt rằng nhờ chế độ Cộng sản, Việt Nam ngày nay đã trở thành thiên đường hạ giới.

Chúng tôi đã tiếp xúc khá nhiều khách du lịch về từ Việt Nam, trong đó đa số là Việt kiều và một ít người ngoại quốc. Khi được hỏi về nếp sống hiện tại ở quê nhà, câu trả lời của những người nước ngoài đều giống nhau : Họ không trở lại lần thứ hai và giải thích rằng, mục đích đến Việt Nam du lịch với dụng ý tìm lại những dấu tích kỷ niệm những nơi mà con, chồng, cha, ông họ đã chiến đấu, tù tội hoặc bỏ mình trong các cuộc chiến vừa qua. Họ đến đây một lần như để chia sẻ những nỗi đau buồn tủi nhục của người đã góp mồ hôi xương máu bảo vệ tự do cho một đồng minh.

Nhưng họ hoàn toàn thất vọng. Lý do rõ ràng nhất, chính quyền Việt Nam ở đây không có tình người và thiếu hẵn sự tôn trọng tối thiểu đối với khách du lịch, hơn nữa còn lợi dụng xương máu những người chết để làm tiền kẻ sống. Trên các chặng đường tham quan, cán bộ tuyên truyền chế độ thường nhân cơ hội để lồng vào những thành tích vẻ vang đấu tranh, chiến thắng thần thánh và đôi lúc huênh hoan khoe khoang tới độ thiếu liêm sỉ bằng cách dẫn khách du lịch, bà con thân nhân của nạn nhân thăm viếng các bảo tàng viện trưng bày những cái gọi là tội ác do con chồng cha ông họ đã gây ra !

Ngoài ra khách du lịch còn được dẫn đi xem các hố bom, bãi mìn còn sót lại trong thời kỳ chiến tranh cũng như các hậu quả do Mỹ và VNCH để lại với những lời giải thích còn sặc mùi máu căm thù. Tiếp đến du khách còn bị đưa đến các hang ổ, địa đạo do chúng dựng lên rồi khiêu hãnh và trắng trợn cho biết rằng nơi đây đã giết được hàng trăm hàng ngàn tên ‘giặc’! Đứng trước những dấu tích ngày xưa, thân nhân của những người đã nằm xuống tại đây không được một lời an ủi chia buồn mà còn bị những con người không có trái tim, huênh hoan trên xương máu người chết để hưởng lợi, thì thử hỏi, có ai chịu bỏ tiền đến đây để nghe xỉ vả người thân mình ! Trên địa cầu nầy không có nơi nào ngu si tàn nhẫn và vô nhân đạo hơn chế độ Cọng sản Hà Nội, dù là những bộ lạc trong các rừng rậm còn ăn lông ở lổ nhưng họ cũng còn biết xử sự một chút tình người khi đối diện với những kẻ đang đau khổ trong lúc họ đến thăm xứ mình.

Theo thống kê, mỗi năm có hàng triệu người du lịch đến Việt Nam và tỷ lệ Việt kiều về thăm gia đình chiếm đại đa số, có thể đến chín mươi phần trăm. Nếu tính lượng Việt kiều về thăm thân nhân để nâng tổng số khách gọi là du lịch lên thật cao thì không đúng. Nếu không còn bà con tại Việt Nam, chắc chắn chẳng bao giờ thấy cảnh Việt kiều sắp hàng mua visa về thăm bà con trong các dịp hè hoặc Tết âm lịch. Việt kiều trở lại quê hương hàng năm không hẵn là đi du lịch mà mục đích kết chặt thân tình với gia đình bà con bạn bè và nhân cơ hội giúp đở một ít tài chánh cho họ hàng ruột thịt.

Hơn một triệu người đã mang trực tiếp về một số ngoại tệ khổng lồ nhưng trước sau gì cũng chui vào túi nhà nước. Mặc dù sau đó tiền sẽ chạy ngược ra xứ ngoài, biết vậy, nhưng phải chấp nhận vì thân nhân trong nước cần phương tiện để sống. Bất cứ ai về thăm quê hương cũng là một điều tốt, chỉ đáng tiếc, một số đông sau những chuyến về Việt Nam đều nức nở khen rằng, quê hương bây giờ đã đổi mới, vui lắm, khá lắm. Đôi lúc còn khuyên tất cả nên về thiên đường để tận hưởng những thú ăn chơi do Cọng sản kinh doanh. Đi đến đâu cũng thấy lầu đài, khách sạn, nhà hàng, quán ăn, vũ trường, tắm hơi, bia ôm, động đĩ…

Chỉ cần lon bia là tự do ôm gái thả giàn, một tô phở dư sức ngủ bất cứ với ai, vào quán vào tiệm là máy lạnh chạy suốt ngày, làm vua một đêm trong khách sạn chỉ bằng lương một buổi. Tấm tắt khen rồi kết luận, dưới chế độ Cọng sản bây giờ đã đổi mới rất nhiều chứ không còn quê mùa buồn tẻ như ngày trước ! Mới nghe qua tưởng chừng đúng với những gì đang xảy ra tại thủ đô, các thành phố cũng như quận lỵ, nhưng nghĩ lại thì thấy trái tim quặn đau và đôi lúc tưởng chừng như có một cái gì xuyên qua lồng ngực. Việt kiều trở lại du lịch trên quê hương mình để có dịp thăm viếng và giúp đở gia đình là việc cần khuyên khích, nhưng với lối nhìn một chiều, vô tình và hời hợt như một người nước ngoài thì đáng buồn thật.

Du lịch đến một xứ nào du khách có thể thấy ngay trình độ văn minh giàu sang của dân địa phương qua các phượng tiện sinh sống cũng như những cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống từ lớp người giàu có tại các thành phố đến tận giai cấp nghèo khó ở thôn quê. Nhưng đối với Việt Nam, nếu dựa vào các phương tiện căn bản hạ tầng để đánh giá sự giàu sang của trên tám chục triệu dân chúng thì đó là một điều lầm lẫm. Sự giàu sang tại đây chỉ dành cho giới thống trị của tập đoàn Cọng sản nắm quyền và một số người xu thời cấu kết với giới lãnh đạo để tận tình bóc lột dân nghèo. Không vơ đũa cả nắm, trong số người giàu có hiện tại cũng phải kể đến những người đã bỏ công sức làm ăn góp gió thành bão, những người có nguồn thu nhập lương thiện hay những thân nhân của một số Việt kiều, nhưng tính cho kỹ số người nầy chỉ là một lượng thật khiêm nhượng trong tổng số tỷ phú ‘đỏ’ đang tràn ngập từ hang cùng ngõ hẻm đến trung tâm thủ đô Hà Nội.

Chúng tôi nghe có người khen rằng, Việt Nam ngày nay, điện đã kéo đến tận các làng xã xa xôi, truyền thanh truyền hình về tới từng thôn xóm. Nhưng họ quên rằng các phương tiện nầy đã có từ trước năm 1975. Thật vậy những phương tiện phục vụ quần chúng nông thôn dưới thời Việt Nam Cọng Hòa vừa đưa đến đâu thì Việt cọng phá hoại liền sau đó. Ra khỏi khu vực chung quanh thành phố quận lỵ vài ba cây số, các trạm biến điện bị đặt chất nổ, cột trụ thì cắt dây. Cầu cống đường sá vừa đắp trong ngày, tối đến chúng đặt mìn giật sập.

Nếu so sánh những gì có được ngày hôm nay với hoàn cảnh Việt Nam sau thời kỳ chấm dứt chiến tranh 1975 thì thấy có nhiều thay đổi. Hoặc không nói đâu xa, so với Việt Nam Cộng sản năm mười năm về trước với thực tại ngày hôm nay thì thật đúng. Nhưng phải nhớ điều nầy, không thể đem tình trạng đất nước giữa hai thời điểm, trước năm 1975 và ngày nay để so sánh với nhau. Một miền Nam trong chiến tranh loạn lạc, kẻ thù phá hoại quanh năm từ thành thị đến thôn quê, tất cả nguồn nhân lực vật tài lực quốc gia đều phải tập trung để chống nội thù thì không thể so sánh với một miền Nam ngày nay, sau hơn ba mươi năm chấm dứt chiến tranh hoà bình được vãn hồi. Tiền rừng bạc biển của miền Nam cọng thêm hàng trăm tỷ dollars từ ngoài đổ vào thì những gì đổi mới của Cộng sản ngày hôm nay chỉ là hạt cát nhỏ xíu trên sa mạc.

Thử tính nhẩm xem, trên ba mươi năm hòa bình, nếu Cộng sản không tham nhũng, không vơ vét đưa về Bắc, không trả nợ Nga Tàu, không chuyển ra nước ngoài mà nhà nước chỉ cần xử dụng một phần nhỏ để kiến thiết đất nước phục vụ dân chúng thì quê hương Việt nam ngày nay đã trở nên giàu mạnh gấp bao nhiêu lần so với các quốc gia lân cận. Phi luật Tân, Thái lan, Mã Lai thường ước mơ có được mười lăm tỷ dollars để phát triển xứ họ thành một quốc gia tân tiến hiện đại nhưng không đào đâu ra, trong lúc Việt nam có sẵn trong tay gần một trăm tỷ do vay mượn quốc tế và Việt kiều gởi về từ 30 năm nay (dưới hình thức chui cũng như chính thức) trở thành mây khói. Trong khi đó hạ tầng cơ sở xây dựng được tại Việt Nam đều do tiền viện trợ từ các quốc gia trong khối tự do!

Người giàu ở Việt Nam

Không ai phủ nhận tại thủ đô cũng như các thành phố lớn trong thời gian sau nầy đã mọc lên hàng trăm, hàng ngàn biệt thự đắt giá, những cao ốc chục từng lầu, những khách sạn bốn năm sao, những quán ăn hàng ngàn chỗ ngồi, vũ trường đúng tiêu chuẩn quốc tế, những đại công ty với vốn hàng chục triệu dollars… nhưng chủ nhân là ai ? Xin thưa ngay, chính là các cán bộ đảng viên của đảng Cộng sản từ cấp làng xã cho đến những tên bí thư trung ương, chủ tịch trong bộ máy quyền hành nhà nước. Còn lại một số nhỏ thì nằm trong tay những tay kinh tài của đảng, các tên mua gian bán lận và cuối cùng, một số rất nhỏ, là của Việt kiều hay thân nhân của họ. Tóm lại giới giàu có tại Việt nam hiện nay không ai ngoài cán bộ đảng viên Cộng sản. Cứ tính trung bình, dù ở ngành nghề hay chức vụ nào, khi đã lọt vào đảng dù thuộc hạng chí mén, trong tay cũng có năm ba mẫu đất, một hai ngôi nhà là ít.

Ngay từ lúc vừa kéo quân vào cai trị, bọn Cộng sản đã dùng súng đạn, quyền thế chia nhau xẽ thịt đất đai của miền Nam. Từ những lô đất vàng trong thành phố, các bất động sản của dân chúng vùng ngoại ô đến những đồng ruộng vườn tược tại thôn quê, nơi nào có lợi chúng không bao giờ bỏ qua. Với quyền lực trong tay chúng làm giầu không phải mất một giọt mồ hôi hay đồng bạc nào. Chúng trưng dụng, tịch thu rồi bán lại hoặc ăn chia với các nhà thầu để xây những căn phố lầu, khu nhà ở, các cửa tiệm. Từ tên bần cố nông khố rách áo ôm nhưng vừa chiếm xong miền Nam chúng đã trở thành triệu phú một cách thần thánh trong một sáng một chiều. Hàng trăm hàng ngàn cây vàng vào túi một cách dễ dàng trong lúc đồng bào miền Nam bị đẩy vào tình trạng đói khát rách nát, người chế độ cũ phải bỏ tài sản bồng bế nhau ra biển hay lên vùng kinh tế.

Điều nầy không những xảy ra chung quanh Tân Sơn Nhất Sàigòn mà ngay trên toàn lãnh thổ miền Nam, từ trung ương xuống tận làng xã quận huyện. Nhất là thời gian sau nầy, trong chương trình nới rộng thành phố, tỉnh, quận lỵ, các cán bộ từ nhỏ đến lớn đua nhau chiếm đất cho chính bản thân mình, phần bán, phần cho vợ lớn vợ bé, con cháu bà con đứng tên hoặc giao móc nối các công ty xây cất nước ngoài. Dễ thấy nhất là các khu vực chung quanh thành phố Sàigòn cũng như hàng trăm ngàn mẫu đất trên toàn quốc nằm trong dự án phát triển, các cán bộ tự động ăn cắp tài nguyên quốc gia để cấp phát cho mình hoặc lên kế hoạch mua rẻ của dân.

Gọi là mua nhưng lại quỵt sau đó, để thành lập những khu đô thị mới hay những trung tâm du lịch. Mối lợi đầu tiên, chúng hưởng ngay tiền đút lót của các công ty xây cất nước ngoài khi tổ chức đấu giá, sau đó hưởng trọn nguồn lợi mà không mất một đồng bạc. Tóm lại, đất đai thì cướp của miền Nam, chất xám tiền bạc do nước ngoài chu cấp, sức lực lao động thì bắt dân đóng góp. Xây xong, các cán bộ lấy sáu, bảy mươi phần trăm công trình rồi bán lại cho dân chúng, trong đó một số là Việt kiều, thu hàng ngàn hàng chục ngàn lượng vàng. Gom hết vào túi, chúng tìm cách chuyển dần ra nước ngoài, mua lâu đài đất đai cơ sở thương mãi phòng thân khi bí đường trốn chạy.

Trong việc chiếm đất làm của riêng một cách công khai, xin ghi ra nguyên văn đây một bản tin đầy đủ chi tiết để dẫn chứng (theo tài liệu của Effet, Paris 3/2006) : Bé Nguyễn trọng Bằng đứng tên hai lô đất với diện tích 38.000 m2 lúc mới lên mười. Cậu Huỳnh tấn Trạng cũng đứng tên làm chủ 24.780 m2 khi vừa đúng mười hai tuổi. Cả hai đều là con (1 đứa con vợ lớn, 1 dứa con vợ nhỏ, đứa sau lấy họ mẹ) của cán bộ Nguyễn Thanh Liêm (!!!) chủ tịch ủy ban nhân dân quận Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho). Đảng viên ‘thanh liêm’ nầy đã công khai đổi quyền sở hữu 146.000 m2 đất của miền Nam thành của riêng cá nhân mình. Trong đó ông trực tiếp đứng tên khoảng 42.700 m2, vợ ông là Huỳnh thị Thanh Hồng đứng tên hơn 65.000 m2 còn lại do hai đứa con đứng tên như đã nói ở trên.

Chỉ là một chủ tịch huyện mà đã dùng quyền thế ngang nhiên cướp đất của miền Nam tới 146.000 m2 làm của riêng thì cứ tưởng tượng những tên cán bộ từ tỉnh trở lên cho đến các cấp đứng đầu các sở, bộ, chính phủ cho đến bọn trung ương đảng thì trong tay chúng của chìm của nổi bao nhiêu giấy tờ cho đủ để ghi chép.

Người ta còn nhớ, sau khi Cộng sản chiếm được miền Bắc, phong trào ‘Cải cách ruộng đất’ do Hà Nội phát động, chúng đã quy tội những ai có quá hai mẫu đất sẽ bị khép vào thành phần phú hào địa chủ bị đem ra xử bắn khiến cho hàng trăm ngàn người phải chết oan. Người ta cũng chưa quên sau năm 1975, cũng chính luật lệ của chúng đem ra áp dụng cho người miền Nam, những ai có trên 5 mẫu đất sẽ bị kết án là thành phần tư sản, bị tịch thu ruộng đất và đưa đi vùng kinh tế mới, làm cho hàng triệu người miền Nam sống trong cảnh lầm than khốn khổ.

Ngày từ rừng chui ra, chân dép râu đầu nón cối, trên hàm răng dưới quần xà lỏn, nhờ tài ăn cướp nay trở thành tỷ tỷ phú, trong tay tên nào cũng vài ba ngôi nhà vài chục mẫu đất và hàng triệu dollars nằm ở nước ngoài. Thử đi một vòng từ Nam chí Bắc, đừng bỏ sót hang cùng ngõ hẻm nào, nếu thấy bất cứ nơi đâu nhà cao cửa rộng sang trọng quý phái, cứ vào hỏi thử xem thì biết ai là chủ nhân ! Thấy những khu du lịch đắt tiền từ trên đỉnh núi xuống tận đáy biển, cứ nghiên cứu để biết người nào đứng tên ! Chính là những tên Cộng sản lớn nhỏ, dân nghèo chẳng một người nào có phước lọt được vào đây.

Dưới chế độ đảng trị, cá nhân nào muốn làm giàu nhanh chóng và an toàn thì phải làm tay sai để được lọt vào đảng. Chúng nó có đến trên hai triệu đảng viên, thử làm một bài tính, trung bình mỗi người có vài ba căn nhà và một hai mẫu đất thì bao nhiêu diện tích đất đai của quê hương đã nằm trong tay gia đình chúng nó, bao nhiêu ngôi nhà từ thành thị đến thôn quê đứng dưới tên vợ lớn vợ bé mèo chuột con ruột con rơi ?.

Người dân lương thiện chắt chiu từ đời ông đời cha chưa xây được căn nhà trú mưa tránh nắng, nhưng với bọn cướp có cầu chứng chỉ cần dí súng vào lưng người dân vô tội là trở ngay thành triệu phú tỷ phú. Danh từ ‘người bóc lột người’ ngày trước Cọng sản gán cho chế độ miền Nam nghe ra thật buồn cười và sau nầy dân chúng đổi lại thành câu ‘đảng bóc lột người’ thì thật chính xác trăm phần trăm. Chỉ có đảng mới đủ quyền lực ra lệnh, tổ chức và bao che các hành động cướp bóc một cách trắng trợn nhân miền Nam. Hành vi tham nhũng, cướp bóc có lúc man ri mọi rợ, cũng có khi khôn ngoan xảo quyệt, nhưng tựu chung vẫn chưa bao giờ thấy xảy ra từ một xứ thiếu văn minh cho đến những quốc gia độc tài quân phiệt. Cảnh ‘đảng bóc lột người’ chỉ còn ở các xứ Cộng sản. Nhưng Việt Nam còn nổi tiếng hơn nữa vì đây là nơi mà Cộng sản thường vỗ ngực khoe khoang là ‘cái nôi nhân loại’, ‘đỉnh cao trí tuệ’ của loài người và là tấm gương soi sáng để cho toàn thể nhân loại noi theo !

Việt Nam đã đổi mới được gì ?

Những tòa lâu đài cao, những con lộ rộng lớn, những chiếc cầu với 4, 6 lối đi hai chiều những khu vực giải trí, những nhà hàng khách sạn nguy nga, Hà Nội dàn dựng mục đích đánh bóng chế độ. Những phương tiện thiết thực nâng cao đời sống dân chúng không nằm trong chủ trương của đảng. Đường lối Cộng sản trước sau như một : Dùng bao tử sai khiến con người, bần cùng hóa để cai trị dân chúng. Dân có nghèo đói có ngu dốt thì mới ngoan ngoãn nghe lời Cộng sản.

Từ ba chục năm qua, ngoại trừ vài ba bệnh viện lớn do nước ngoài xây cất, Việt nam đã làm gì cho dân nghèo trong các chương trình y tế công cọng ? Có tăng thêm các trường trung tiểu học cho các thành phố, quận lỵ hay thôn xã ? Có dùng tiền của Việt kiều gởi về để nâng cấp trình sinh sức khỏe quần chúng hay chỉ chăm chú vào việc phát triển cơ sở du lịch ăn chơi để quảng cáo chế độ, móc túi giới giàu có, khách nước ngoài và ru ngủ lớp trẻ ? Ngay tại thủ đô và các vùng phụ cận Hà Nội cũng như thành phố Sàigon vấn đề nước và điện là hai nhu cầu thiết yếu hằng ngày của dân chúng nhưng hiện nay vẫn còn ô nhiễm và thiếu hụt, có nơi còn bị hạn chế xử dụng.

Quan chức lớn hay những người có tiền được ưu đãi vào những bệnh viện của người nước ngoài. Đối với dân nghèo nhà cầm quyền Hà Nội có chú trọng xây cất thêm bệnh viện, đào tạo và giáo dục nhân viên y tế, trang bị dụng cụ để tiếp đón mọi người mỗi khi đau ốm cần nơi săn sóc chửa trình độ giáo viên và miễn phí cho học sinh không ? Có nghĩ đến môi trường ô nhiễm, chương trình y khoa phục vụ dân nghèo không ? Tự xưng là một nước tiên tiến nhưng còn thua một xứ chậm tiến của Phi Châu, bệnh nhân bị xem như những người ăn mày đến xin huệ của đảng.

Chuyện xảy ra hằng ngày trong tất cả nhà thương dưới chế độ Cộng sản Hà Nội, từ bác sĩ y tá nhân viên phục dịch xuống đến các tay gác cổng hay làm vệ sinh nhà cầu đều xem bệnh nhân như con chó không hơn không kém. Nếu bệnh nhân và gia đình nào không biết ‘thủ tục đầu tiên’ áp dụng ngay từ lúc vào cổng, lấy số thứ tự, khám bệnh, chích thuốc cho đến lúc xin toa ra về thì đừng hòng lết tới bệnh viện. Trường hợp bệnh nặng phải nằm điều trị, ngoài các thủ tục kể trên còn phải thông suốt tiền giường, chăn, gối, thử nghiệm chụp hình hoặc để được chích một chút thuốc mê trước khi lên bàn mổ. Thậm chí bệnh nhân khi vào quan tài cũng phải tuân theo quy định tiền bạc rõ ràng bằng không thì nằm tạm góc nào đó đợi thân nhân đem tiền chuộc về chôn cất. Chính chế độ Cọng sản Hà Nội đã biến nhà thương thành nhà ghét, thành nơi mua bán từng tờ giấy, miếng vải, viên thuốc, chỗ nằm đến cách săn sóc chữa trị bệnh nhân và mặc cả ra giá luôn với xác chết.

Các người trách nhiệm trong chính phủ trung ương hay những tay đầu sỏ trong bộ y tế có dám trừng trị những tên bác sĩ, y tá vô lương tâm trong các cơ quan y tế nhà nước ? Hay sợ dồn chó vào chân tường thì chúng sẽ quay trở lại cắn, gây trở ngại đường giây tham nhũng ?

Dân nghèo đâu cần những nơi ăn chơi trác táng, sòng bạc trường đua, trung tâm nghỉ mát. Họ cần được chữa trị mỗi khi đau ốm, được khám bệnh miển phí, cần được ngày hai bữa, cần chỗ cho con em đi học, cần một việc làm trả công xứng đáng…Những gì đổi mới từ hạ tầng cơ sở đến chương trình mở cửa của Cọng sản đã đem cho họ được gì ? Hoàn toàn không, đã nghèo thì lại càng nghèo thêm.

Một chính phủ biết thương dân thì phải nghĩ đến ba vấn đề căn bản : Lo cho dân ăn no mặc ấm, săn sóc bệnh tật và mở mang trí tuệ, nhất là cho lớp trẻ. Cả ba điều trên không được tập đoàn Cộng sản thực hiện, vì sau ba mươi năm chiếm xong miền Nam, một nửa dân số vẫn thiếu ăn thiếu mặc trong đó hàng chục triệu người trên người chỉ một bộ áo, ngày bữa cơm độn ngô khoai, bệnh không có thuốc, trẻ con thất học đi bụi đời. Chế độ Cộng sản Việt Nam ngày nay chủ trương ưu đãi đảng viên cán bộ, người nước ngoài và lớp nhà giàu mới nổi lên không ai hơn là gia đình con cháu của họ.

Ngoài ra, Việt kiều du lịch thường diễn tả cảnh ăn uống tấp nập ngày đêm từ các nhà hàng sang trọng đến những khách sạn tầm cỡ quốc tế. Người ta chi hàng triệu cho bữa ăn hoặc trả một đêm tiền phòng bằng hai tháng lương của một công nhân, rồi kết luận rằng dân chúng Việt Nam lúc nầy giàu có tột bực, Việt kiều không còn có giá như trước kia. Điều họ nói đúng, bây giờ bên quê nhà người ta chỉ nói đến tiền triệu, tiền tỷ, nhưng thật ra đó là những số tiền lừa bịp, ăn cắp, quỵt nợ, cướp giật chứ không phải đồng tiền do mồ hôi nước mắt làm ra một cách lương thiện. Ngay cả cán bộ cao cấp đồng lương thật sự cũng không đủ để bao gái một đêm lấy gì để ăn chơi ba mươi ngày một tháng !

Đọc các tin của Việt Nam, ngay trên các nhật, tuần báo cũng như các mạng internet của chế độ, người ta biết được những chuyện liên quan đến hàng tỷ đồng và cũng bên cạnh đó, cũng có những bản tin thật đau lòng : Người ta giết nhau vì vài ba ngàn đồng bạc. Hàng đêm mẹ phải làm điếm kiếm tiền sữa cho con. Em học sinh bị đuổi vì không đóng nổi học phí. Nợ chừng trăm ngàn đồng bạc, gái quê bán mình xuất khẩu làm vợ…

Lương công nhân không nghề nghiệp chưa tới bốn trăm ngàn một tháng trong lúc gia đình năm bảy miệng ăn. Muốn sống còn, ngày làm việc tối về chồng đạp xe, vợ nhắm mắt ‘nhảy dù’, con đi bới thùng rác. Những hình ảnh nầy không ở đâu xa mà đầy dẫy ngay trong lòng thủ đô Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố lớn. Nói đến Việt Nam người ta chỉ nghe tiền triệu tiền tỷ ăn chơi của cán bộ đảng viên nhà nước mà ít ai nghĩ đến ba bốn trăm ngàn đồng của một gia đình đông con. Xã hội nào cũng có người giàu kẻ nghèo, nhưng sự cách biệt quá chênh lệch về phẩm cũng như lượng giữa hai thành phần tại Việt Nam là một hiện trạng không thể chấp nhận vì vấn đề tham nhũng quá độ của giới cầm quyền.

Những người đang ở trong các biệt thự sang trọng, đi xe đời mới, sáng trưa cao lầu chiều phòng trà ca nhạc, tối ôm gái trong khách sạn…chính là bản thân và thân nhân gia đình đảng viên cán bộ nhà nước và những tên sống bám vào đáy quần của Cộng sản. Không phải chỉ một vài tên mà đồng loạt từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, từ chủ tịch nhà nước đến tên quét cầu tiêu trong bệnh viện. Trung ương thì miệng lúc nào cũng hô hào diệt tham nhũng nhưng chỉ là trò hề để bịp trẻ con.

Tham nhũng là căn bệnh có thể chữa trị một cách dễ dàng nếu các cấp lãnh đạo trong sạch và nghiêm chính. Nhưng ở Việt Nam thì ngược lại. Không thế ngăn chận một anh công an đút túi lộ phí vài chục ngàn, cấm một viên chức xin vài trăm ngàn tiền trà nước trong khi những tay đầu sỏ ăn cắp hàng chục tỷ dollars để ở các ngân hàng nước ngoài. Cá mè một lứa thì làm sao có thể trở mặt trị tội lẫn nhau. Lâu lâu trung ương đưa ra một vài tên cán bộ cỡ trung ra tế thần sau khi đã vắt hết nuớc hết cái hoặc đổ bể vì ăn chia không đồng đều. Cả thế giới phải bịt mũi khi thấy chúng đánh trống thổi kèn trình diễn lấy lệ mấy vở hài kịch vừa qua.

Chính cán bộ, thân nhân và thuộc hạ của chúng đã đưa đời sống của nhân dân VN từ nghèo khó đến bần cùng đói rách. Hãy nghĩ xem, những bà mẹ buôn thúng bán bưng ngày kiếm vài ba ngàn đồng bạc, công nhân viên mỗi tháng lãnh chừng vài ba trăm ngàn, tính ra trung bình hơn ngàn bạc mỗi ngày, làm sao giới nghèo khó có thể đua chen trong cái xã hội nhiểu thương bên cạnh những tỷ phú đỏ. Cấp nhỏ thì tiền vào ngã sau trung bình cả triệu mỗi sáng, cao hơn thì vàng lượng vàng cây người ta dâng tận cửa ban đêm. Tiền bạc tiêu xài năm nầy tháng nọ cũng không ăn nhằm so với những số tiền tham nhũng bất chính. Đất đai nhà cửa xe cộ đầy đủ, tiền bạc đã nằm yên xứ ngoài, bây giờ họ chỉ việc tranh thủ thời gian để hưởng thụ. Do đó không lạ gì các quán đấm bóp, nhà hàng, khách sạn hạng sang nay đã trở thành phòng tắm, nhà bếp và phòng ngủ thường trực của cán bộ đảng viên cũng như gia đình.

Theo tài liệu gần đây của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế thì Việt Nam đứng hàng đầu thế giới về tham nhũng. Tính sơ sơ một số hồ sơ do tổ chức nầy có trong tay là 217.571 vụ tham nhũng từ cấp nhỏ đến cấp lớn. Hồ sơ tham nhũng nhỏ nhất ghi nhận tối thiểu 10.000 dollars và lớn có nhiều hồ sơ lên đến hàng trăm triệu dollars (ví dụ chỉ tính 217.571 hồ sơ nhỏ nhất, mỗi hồ sơ chỉ 10.000 dollars thì con số cũng lên đến 2.175.710.000 dollars). Ngoài ra tập đoàn Cộng sản đã vơ vét đục khoét, tẩu tán và làm thất thoát tài sản quốc gia trung bình mỗi năm 130 tỷ dollars (tài liệu Effet tháng 3/2006).

Tham nhũng dưới hai chế độ VNCH và CS

Cách đây vài tháng, cò mồi Nguyễn cao Kỳ trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng miền Nam trước kia cũng tham nhũng, ngoại trừ một mình ông ta mà thôi ! (Thật không ông Kỳ ? Nếu có một chút liêm sĩ thì đừng nói câu nầy), rồi hô hào quên đi tất cả, tha thứ cho bọn Cộng sản tội tham nhũng đồng thời xóa bỏ những gì chúng đã vơ vét để tỏ thiện chí cùng nhau tiến tới việc hòa hợp hòa giải. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã nhổ nước bọt vào bộ mặt lì lợm ông ta nhiều lần, thiết tưởng không cần đối thoại với một cá nhân đã mất nhân cách và liêm sĩ.

Nói đến tham nhũng dưới chế độ cũ, chúng tôi xin phép trở lại vấn đề nầy để trình bày với thế hệ trẻ hải ngoại và tất cả những ai sinh ra và lớn lên dưới sự nhồi sọ của chế độ Cộng sản ngay từ lúc mới lọt lòng để tất cả có một chút nhận định về chế độ cũ mà Cộng sản đã bôi bác bóp méo sự thật.

Vẫn biết rằng vấn đề tham nhũng dưới chế độ nào cũng có, (ngoại trừ một số quốc gia ở Bắc Âu) không nhiều thì ít, nhất là đối với những nước đang phát triển. Nhưng đem vấn đề tham nhũng của miền Nam trước kia so sánh ngang hàng với việc tham nhũng của Cộng sản ngày nay thì thật là một sỉ nhục đối với chế độ cũ và những người có trách nhiệm trong guồng máy chính quyền cũng như quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước kia.

Từ nền Cộng hòa đệ nhất đến đệ nhị, miền Nam đã trải qua nhiều thời tổng thống, bộ trưởng và các quan chức điều hành guồng máy hành chánh cũng như hàng trăm tướng lãnh đã phục vụ dưới cờ. Chúng tôi không khẳng định các nhà lãnh đạo, các tổng bộ truởng cũng như các tướng lãnh hoàn toàn trong sạch trăm phần trăm, nhưng nếu một vài cá nhân nào đó có tham nhũng thì cũng chỉ là những chuyện nhỏ nhặt, chút tiền để vui chơi qua ngày chứ không đủ tích lũy nuôi gia đình giòng họ từ đời nầy qua đời khác hay chuyển ra nước ngoài những số tiền lớn của Cọng sản ngày nay. Một tài liệu đã vạch trần cho thấy gởi hàng chục tỷ dollars của các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng sản nằm rải rác trong các ngân hàng trên thế giới (32 tỷ dollars, con số có được vào năm 2004)

Tôi chưa thấy một vị lãnh đạo, quan chức hay tướng lãnh nào làm chủ, đừng nói gì nhiều, một dinh thự, lâu đài, cao ốc hay một đại công ty nào trong nước cũng như ở ngoại quốc. Cộng sản là bọn to mồm nhưng chưa nghe chúng rêu rao tịch thu tài sản của vị nầy ông kia thuộc chế độ cũ bao giờ. Trong lúc cò mồi Kỳ, ngày trước đã bị xếp vào loại lem nhem lại lên tiếng nhập nhằng vấn đế tham những cũ và mới thì không ai tin lời một tiểu nhân vô liêm sĩ. Một bằng chứng cho thấy, sau ngày mất nước, các bộ trưởng, dân biểu, quan chức cũng như các tướng lãnh lên đường đi tù ra Bắc, vợ trong Nam phải buôn thúng bán bưng nuôi con, có người phải bán ngay cả đồ đạc trong nhà để đủ tiền đi thăm nuôi chồng một vài chuyến.

Hơn nữa, sau ngày mất nước các lãnh tụ cũng như hàng ngàn cựu quan chức, tướng lãnh ra định cư nước ngoài, đến xứ người họ cũng sắp hàng đi lãnh trợ cấp. Trong số nầy không biết có cò mồi Kỳ hay không ! Chúng ta còn nhớ, một thời gian người ta bàn tán đến mười sáu tấn vàng do cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu mang đi làm của riêng vào phút chót trước khi Cộng sản tiến chiếm miền Nam. Lúc còn sống không nghe cựu tổng thống Thiệu thanh minh đính chính. Nhưng dưới bầu trời tự do không có gì có thể bưng bít sau một thời gian dài, chuyện gì cũng được phơi bày ra ánh sáng. Cựu tổng thống Thiệu không thể tay xách vai mang số vàng một mình mà, nếu có thật, thì phải cần một đoàn người tiền hô hậu ủng để hộ tống vàng bằng một chiếc máy bay lớn. Chuyện ăn lén đã qua tay hàng chục người trước sau gì cũng đổ bể, đám đàn em của cựu tổng thổng Thiệu vì lòng tham và ganh ghét mà tố giác lẫn nhau, nhất là cò mồi Kỳ là người có nhiều ân oán với ông Thiệu, nếu không được chia chác thì tên cò mồi nầy đã nhảy đỏng lên tố cáo từ lâu.

Nhưng chuyện vàng vẫn chìm xuồng cho đến lúc cựu tổng thổng Thiệu qua đời thì đùng một cái, báo chí đăng tin cho biết chính ông Bùi Tín xác nhận, bộ chính trị trung ương đảng Cộng sản đã cho nhiều chuyến bay chở cấp tốc toàn bộ số hiện vật dự trữ trong ngân khố chính phủ miền Nam ra Bắc ngay trong những ngày đầu tháng 6 năm 1975, trong đó gồm số vàng nói trên, và những tay trong bộ chính trị trung ương đảng cấu kết chia nhau bỏ túi. Bây giờ chúng tôi đưa ra yêu cầu : Hãy trả lại số vàng trong ngân khố của VNCH cho dân chúng miền Nam bằng cách xây bệnh viện trường học cho miền Nam từ quận huyện đến thủ đô Sàigòn.

Trở lại vấn đề đổi mới và mở cửa của Cộng sản, nếu xét về khía cạnh nhân bản thì ít ra một số người dân bình thường thấp cổ bé miệng nhân cơ hội nầy cũng kiếm được miếng cơm manh áo. Trong số này là đồng bào miền Bắc đáng thương, họ qua được kiếp nghèo khó sau hơn hai chục năm đói rách dưới bàn tay sắt máu của Cộng sản. Tiếp đến, gia đình thân nhân của Việt kiều trở thành ‘gà đẻ trứng vàng’ có phương tiện sống nhờ những liên hệ ruột thịt từ nước ngoài, và sau cùng, một số ít người thành thị có cơ may ăn nên làm ra tránh được cảnh nghèo đói. Nhưng mỗi lần nghĩ đến quê hương đau thương, đến đại đa số người dân hiền lành chất phác còn đói khổ, những người thua trận, anh em thương phế binh, kẻ sa cơ thất thế, những người bị kềm kẹp trong vòng tù tội thì những ai còn nặng lòng với đất nước cũng không thể nào tránh khỏi những giây phút xao xuyến suy tư.

Tóm lại tám mươi phần trăm dân chúng Việt Nam đâu cần nhà lầu hai ba chục từng, khách sạn năm sao, cửa hàng sang trọng, vũ trường quốc tế, trường đua tân tiến…mà họ chỉ ao ước những chuyện rất tầm thường : Ngày hai bữa no bụng, đau ốm có nơi chăm sóc chữa trị miễn phí và trẻ em đến trường không phải đóng tiền học. Ba vấn đề căn bản và cần thiết để phục vụ con người sao không thấy đổi mới mà đời sống dân chúng càng ngày càng đi vào lạc hậu. Thật ra những hạ từng cơ sở đổi mới hiện nay chỉ là những cơ quan kinh tài của chế độ và mục đích phục vụ cho giới tư bản đỏ. Nếu những ai ca tụng những gì tại Việt Nam hiện nay tức là vô tình trở thành những người tuyên truyền không công cho Cọng sản.

HÒA GIẢI HÒA HỢP

Hòa giải hòa hợp là chiến dịch được Cộng sản Hà Nội và những tay cò mồi trong cũng như ngoài nước, những tên năm vùng và một số chính trị gà mờ ở Mỹ tung ra để mưu đồ một giải pháp chính trị hầu cứu vãn chế độ

Cộng sản đang trên đà tuột dốc. Từ chiêu bài ‘kiềng ba chân’ Hà Nội đã chuẩn bị giải pháp nầy từ năm 1995 để đánh lừa cụ Hoàng Minh Chính, (một người thiết tha tự do, nhưng rất tiếc đã mất niềm tin của một số người ái mộ sau chuyến đi Mỹ của cụ) đưa qua bày hàng tại Mỹ trong năm vừa qua, đến ‘thế hai cẳng’ do cò mồi Nguyễn Cao Kỳ sau hai năm học tập trong khách sạn, về Mỹ vội vàng đưa ra họp báo thăm dò dư luận. Nhưng cộng đồng người Việt tự do đâu ngu xuẩn như cò mồi Kỳ đã ám chỉ trong bài phỏng vấn. Dù ở phe cánh hay đảng phái nào cuối cùng cũng sáng suốt vứt ngay hai lá bài ‘kiềng ba chân’ và ‘thế hai cẳng’ vào ngay sọt rác.

Cộng sản Hà Nội đã tính, mưu đồ chính trị hai lá bài ‘Ba chân’ hay ‘Hai Cẳng’ kết qủa trước sau gì cũng quy về nằm gọn trong tay của bọn chúng. Hà Nội lộ ra bộ mặt khôn lỏi khi đưa ra giải pháp ‘ba chân’, gồm chính chúng nó và hai nhóm trí thức trong và ngoài nước. Trí thức trong nước thì gồm đa số đang cúi đầu hưởng lộc, bám sát đáy quần Cọng sản sẽ là chân thứ hai. Giới trí thức chống đối trong nước thì bị cô lập, tù đày, cơm không có ăn áo không đủ mặc, miệng bị khóa, còn ai để đại diện cho người dân thấp cổ bé miệng. Trí thức nước ngoài thì chúng biết rằng không thể bịp bợm qua mặt một cách dễ dàng, Hà Nội chỉ còn nhắm vào mấy tên đón gió, núp bóng cò mồi, chính trị gà mờ sẽ ‘hồ hởi’ sẽ chạy theo. Chúng tính toán kỹ, đường nào giải pháp ba chân do cụ Hoàng Minh Chính hô hào cổ võ cũng quy tụ được tay sai của chúng nhằm chống đở cho quyền lực và tạo cơ hội huênh hoang với thế giới bên ngoài bằng giải pháp hòa giải hòa hợp dân tộc.

Sau khi thất bại thế ba chân, Hà Nội quay qua dùng cò mồi Kỳ, đánh bóng thành nhân vật chính trị quan trọng và phong cho Kỳ nhiệm vụ ‘đại diện nhân dân miền Nam’ để chiêu dụ dân trong nước và thăm dò phản ứng Mỹ cũng như cộng đồng người Việt. Cò mồi Kỳ được cấp đầy đủ phương tiện du hí và hưởng lạc, được đặc ân ‘học tập’ trong khách sạn năm sao. Sau hai năm thông suốt thế ‘Hai Cẳng’ cò mồi Kỳ được lệnh trở về Mỹ họp báo ra chiêu, nhưng chẳng làm nên trò trống gì khi kêu gọi một chế độ lưỡng đảng cho Việt Nam.

Trong đó một đảng là Cộng sản, một đảng sẽ do Kỳ lãnh đạo trong bóng tối (Kỳ xác nhận nhiều lần vì sức khởe không ra mặt). Kỳ sẽ tuyển chọn, cân nhắc và giới thiệu đàn em với Hà Nội, bước đầu từ dân biểu quốc hội tiến đến việc thành lập chính phủ lưỡng đảng. Thì ra ‘ba chân’ hay ‘hai cẳng’ đều là giải pháp để chống đở cho đảng Cộng sản trước ngày xuống lỗ. Cộng sản Hà Nội, theo cò mồi Kỳ, (có lúc nổi máu cao bồi lên Kỳ không kiểm soát được lời nói của mình) đang chết đói, cần phải hợp tác đưa tiền đưa của và chất xám về giúp đảng. Đúng là cao bồi ngây thơ khi vô ý phóng ra câu nầy, đảng Cộng sản đâu chết đói, chúng đã quá no nhưng lòng tham vô đáy, vẫn kêu gào tiền của Việt kiều để vơ vét chuyến chót trước khi đâm đầu tháo chạy.

Thù hận, chống đối quá khích

Nhiều người trong đó có một vài nhà trí thức, những tay chính trị đón gió, bọn cò mồi và những tên nằm vùng thường lặp lại luận điệu của Hà Nội cho rằng, một số người Việt trong cộng đồng hải ngoại vẫn còn mang thù hận trong lòng và thường quá khích chống đối Việt Nam. Tôi mượn trang giấy nầy để trả lời rõ ràng và dứt khoát như sau :

Đừng bóp méo sự thật, người Việt tự do hải ngoại không thù hận Việt Nam, hay nói thật chính xác và rõ ràng hơn, không thù hận Đất Nước, không thù hận bất cứ người Việt Nam nào dù là Bắc hay Nam, mà mục đích chính là hô hào cổ võ để đánh đổ cho bằng được những tay đầu sỏ trung ương đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội. Bọn chúng chỉ là một tập đoàn nhỏ, số lượng đếm trên đầu ngón tay nhưng từ mấy chục năm qua đã luân phiên cai trị, đàn áp bóc lột tám chục triệu người vô tội. Những đảng viên cấp nhỏ, sĩ quan quân lính trong quân đội chính quy, trong đạo quân công an kềm kẹp, anh chị em công nhân viên nhà nước đều là những người đáng thương, chẳng qua vì sinh kế và mạng sống buộc họ phải phục tùng. Đối tượng của người Việt tự do chính là những tay đầu nảo Cộng sản cần phải đạp đổ để dành lại tự do hạnh phúc cho toàn dân chứ không phải là người Việt gốc miền Bắc, miền Nam hoặc cán bộ công nhân viên cấp nhỏ của nhà nước.

Ai căm thù ai ? Ai vẫn xử dụng trò đểu giả để lừa bịp dư luận ? Hà Nội thường rêu rao rằng một số người Việt nước ngoài vẫn còn căm thù đồng thời nhóm người nằm vùng, đón gió trở cờ lợi dụng diễn đàn tự do kêu gọi hãy tha thứ quên đi quá khứ để bắt tay hòa giải. Tôi thấy làm lạ khi Hà Nội vẫn còn dùng những nơi trưng bày tội ác Mỹ-Ngụy để rêu rao bôi xấu chế độ tự do và luôn luôn lợi dụng các dịp lễ lộc để khơi lại căm thù…Chiến tranh nào không tàn bạo, không đổ máu không chết chóc. Tội ác do Cộng sản gây ra tại miền Nam hàng hà sa số gấp ngàn gấp vạn lần những gì do Đồng minh và Việt Nam Cộng Hòa gây ra vì nhầm lẫn hoặc vì tình thế bắt buộc khi đối đầu với chiến thuật dã man mỗi khi Cộng sản Hà Nội lùa dân làm bia đở đạn cho chúng.

Chỉ một vài bức hình như cảnh một bé gái chạy giặc trong vụ Mỹ đánh vào một khu xôi đậu ở miền Trung hoặc tên đặc công bị vị chỉ huy Cảnh sát bắn bỏ ngay giữa đường phố, Cộng sản Hà Nội và tay sai cũng như các phần tử phản chiến thường đưa lên các cơ quan truyền thông quốc tế. Hình ảnh nầy đâu có thể so sánh cảnh hàng ngàn người dân vô tội bị chúng chôn sống tập thể trong Tết Mậu Thân 1968, những cảnh hàng trăm thường dân bị pháo giết hại hoặc cảnh những tên đặc công ném mìn lựu đạn vào giữa chợ búa lúc đông người. Cũng chưa đủ, Hà Nội dùng đủ phương tiện để vận động Mã Lai đập bỏ bia tưởng niệm thuyền nhân tại quốc gia nầy là một hình thức gây hấn, chà đạp lên sự đau khổ của những người đã trốn chạy chế độ khát máu lúc chúng vừa kéo vào ngự trị miền Nam.

Bề mặt vuốt ve Việt kiều nhưng Hà Nội vẫn đểu giả huấn luyện hàng ngàn người, gởi ra xứ ngoài để tuyên truyền gây chia rẻ và phá hoại. Chúng dùng tiền của Việt kiều để gầy dựng cơ sở, nuôi dưỡng và yểm trợ bọn nằm vùng để phá lại cộng đồng người Việt tại các xứ tự do.

Thù hận chất hứa trong lòng, ai hơn ai ? Đối với người tỵ nạn xứ ngoài, giòng giống con cháu Lạc Hồng từ Bắc chí Nam đều là anh em máu mủ kể cả chị nông dân, anh bộ đội, cán bộ, công an nhà nước. Tất cả đều là nạn nhân bị tập đoàn Cọng sản mượn danh rồi bóc lột lại chính họ đến tận xương tủy. Chúng tôi không hận thù, không quá khích mà dùng phương tiện báo chí truyền thông để lột mặt nạ và dùng ngòi bút vạch trần những xảo quyệt của tập đoàn Cộng sản đồng thời tiếp tay với những người yêu nước đánh cho bằng được đám người thiểu số cầm quyền. Chúng chỉ vỏn vẹn vài ba trăm trong bộ chính trị trung ương và guồng máy hành chánh, nhưng chúng đã thay phiên nhau trị vì trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân Việt Nam từ hơn năm chục năm nay (1954-2005, tính đến lúc viết bài nầy).

Bỏ qua, hợp tác và xây dựng

Trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo weeklly, cò mồi Nguyễn Cao Kỳ đã nhắc đi nhắc lại rằng chúng ta nên bỏ qua qua khứ để hàn gắn vết thương dân tộc sau ba mươi năm đau thương. Chúng tôi đồng ý hận thù nào cũng phải biến dần theo thời gian nếu hai đối tượng đều có thiện chí để nối lại vòng tay, đau buồn nào cũng phai nhạt theo ngày tháng nếu được vỗ về an ủi. Điều quan trọng và cần thiết để mở đầu trang sử mới là kẻ gây ra tội ác phải biết nhận trách nhiệm và phần lỗi về mình, cụ thể bằng những lời xin lỗi chính thức, bồi thường chiến tranh hay bày tỏ thiện chí dưới những hình thức nào đó. Chuyện nầy đâu mới lạ gì, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta ngay từ thời trung thượng cổ đến hai trận đại chiến hay những cuộc chiến tranh trong thời gian vừa qua mà cuộc Nam-Bắc phân tranh của Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình. Đàng nầy Cộng sản cứ lên tiếng kêu gọi bỏ quá khứ để hợp tác trong lúc họ vẫn ngang nhiên xem những thành phần chế độ cũ là thù địch, vẫn ngang nhiên đàn áp bốc lột tận xương tủy của nhân dân miền Nam, vẫn ngày đêm tuyên truyền bôi nhọ phá rối Cộng đồng người Việt nước ngoài, thì thử hỏi Hà Nội còn chút liêm sĩ gì khi đề nghị xóa bỏ bất đồng trong quá khứ ?

Sở dĩ Cộng sản và cò mồi đàn em chịu xuống nước van xin tất cả hãy bỏ qua quá khứ cùng nhau hợp tác và xây dựng đất nước vì chúng cần giải quyết ba vấn đề :

1. Chế độ Hà Nội đang trên bờ vực thẳm :

Thuyết Cộng sản đã bị đào thải từ khuya, Liên sô và khối Đông Âu đã liệng vào sọt rác không thương tiếc. Thế giới chỉ còn bốn xứ lì lợm trong đó có Việt Nam, vẫn ngoan cố dùng bao tử con người, hàng rào kẽm gai và vũ lực súng đạn làm phương tiện đàn áp, bám lấy danh lợi, ngự trị ngai vàng từ đời cha đến đời con cháu. Một chủ thuyết không nhân bản, không tình người, đi ngược với trào lưu văn minh tiến bộ và phát triển khoa học kỹ thuật nhưng Cộng sản Hà Nội vẫn hy vọng giải pháp hòa giải hòa hợp với đồng ngườiViệt tự do để cứu vớt đảng Cộng sản và giúp chúng vững chắc trên ngai vàng. Hơn nữa tình hình chính trị trong nước đã bắt đầu biến chuyển mạnh mẽ, nội bộ chia thành nhiều nhóm, dân chúng đã tỉnh thức bất chấp súng đạn xuống đường đòi quyền sống và nhất là thành phần trẻ nòng cốt tương lai của chế độ đã đặt vấn đề với chính phủ qua nhiều truyền đơn, đình công xuống đường.

2. Áp lực quốc tế về kinh tế và nhân quyền. Quốc tế

áp lực mạnh trên các vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo qua các quan hệ giao dịch trao đổi thương mãi. Cộng sản Hà Nội bị dồn vào giữa chân tường buộc lòng phải kiếm một lối thoát : Đó là lấy Cộng đồng người Việt tự do hải ngoại làm chân chống đở dưới hình thức hòa giải hòa hợp với các thành phần của chế độ cũ Việt Nam Cọng Hòa đồng thời dùng làm ô dù để bao che và hợp thức hóa số tài ản quốc gia và tiền của của nhân d ân Việt Nam đã cướp được.

3. Hợp thức hoá tham nhũng và tiếp tục rút ruột

Việt kiều : Vay mượn tiền quốc tế dưới danh nghĩa cứu đói giảm nghèo và xây dựng đất nước và tham nhũng không cần để ý đến hậu quả, Cộng sản vơ vét tài nguyên của cải như một đám ăn mày lọt vào nhà phú hộ, lớn nhỏ gì nhắm mắt cũng nhét đầy túi. Hơn ba mươi năm qua chiếm đất, chiếm nhà, xem tài sản của dân chúng và đất nước là của riêng, ngang nhiên phân phối cho gia đình, bán cho ngoại quốc và cất giấu ở nước ngoài. Đến nay thì dân chúng đã bừng tỉnh, xem thường súng đạn và bắt đầu đứng lên để chất vấn đòi lại. Tức nước vỡ bờ, một ngày nào đó, những thành phần mà Cộng sản thường đề cao là nòng cốt của chế độ sẽ gậy gộc xâm vào phủ bí thư, phủ chủ tịch để hỏi tội.

Hà Nội đã thấy trước ngày nầy đành xuống nước hô hào tiếp tay giúp sức bao che của chế độ cũ mà nòng cốt là cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Một điều cần khẳng định, nếu trong nước không còn một thân nhân nào của những người đã ra đi thì chắc chắn Hà Nội không kiến được một đồng xu của Việt kiều. Phải nói thẳng ra rằng bốn tỷ dollars của Việt kiều gởi về hằng năm không phải mục đích để xây dựng đất nước hay tiếp tay cho Hà Nội, mà vì mạng sống, cơm ăn áo mặc cho gia đình thân nhân còn kẹt lại. Hà Nội biết rõ điều nầy nên vẫn bày những trò đểu giả gọi Việt kiều là ‘khúc ruột ngàn dặm’ và xem thân trong nhân trong nước là ‘gà đẻ trứng vàng’.

Một ngày nào đó Việt kiều đồng loạt ngưng gởi tiền về thì Việt Kiều sẽ được Cộng sản Hà Nội đổi tên thành bọn ‘Việt kiều phản loạn’ và thân nhân trong nước biến thành ‘sâu bọ ăn bám’, và dĩ nhiên sẽ bị gậy lên đường đi kinh tế mới. Tiền tham nhũng gởi ra nước hàng chục tỷ dollars nhưng Cộng sản Hà Nội vẫn tìm mọi cách kích động lòng nhân đạo thế giới, nhân danh xây dựng tái thiết đất nước, cứu đói giảm nghèo, chận đứng bệnh tật, mở mang trí tuệ để vay mượn vô tội vạ hàng chục tỷ dollars. Nợ cũ chưa trả đồng nào đã chồng thêm nợ mới khác, mai kia bị hạ bệ, những tay lãnh đạo bôi mặt đổi tên chui rúc xứ ngoài, ai là kẻ phải gánh chịu hậu quả nầy ? Xin thưa, đó là con cháu của chúng ta !

Khi đưa ra lời kêu gọi tha thứ và hợp tác, người Việt tự do nước ngoài đã thấy ngay thâm ý Cộng sản muốn mượn chiếc dù để xí xóa bỏ qua việc tham nhũng đồng thời hợp thức hóa việc ăn cắp vĩ đại của chúng. Chúng biết rằng một khi bị đá xuống ngựa nhân dân miền Nam sẽ hỏi tội và yêu cầu quốc tế niêm phong những số tiền bất chánh trong các trương mục ngân hàng. Thứ khôn lỏi nầy chỉ bịp được những tay chính trị gà mờ như cở cò mồi Nguyễn cao Kỳ và vài ba trí thức trốn quân dịch trước đây hoặc thứ mất gốc sau nầy mà thôi.

Tóm lại, người Việt tự do hải ngoại không thể nối giáo cho giặc. Chúng là những con rắn độc, người có lương tri và biết suy nghĩ thì không thể đối thoại với chúng chứ đừng nói đến bắt
tay hòa giải cọng tác. Không thể giúp chúng hợp tức hóa những gì đã vơ vét của nhân dân của đất nước mà phải bắt chúng trả lại những gì của miền Nam cho miền Nam. Cũng không thể bắt tay phục hồi sức lực để chúng tiếp tục đặt ‘búa rìu’ lên đầu lên cổ người dân cũng như trên mảnh đất thân yêu của chúng ta.

Muốn nói chuyện về hòa giải hoà hợp dân tộc, Cộng sản Hà Nội phải tỏ thiện chí trước bằng cách trả lại toàn bộ những gì đã vơ vét của dân chúng cũng như tài nguyên của đất nước để chuộc lỗi lầm của mình bằng cách : Thu hồi những số tiền khổng lồ trong các trương mục để xây cho dân nghèo vài trăm bệnh xá nhà thương, vài ngàn trường trung tiểu học rải đều trên toàn lãnh thổ từ Bắc chí Nam, đồng thời miễn phí hoàn toàn cho dân nghèo có phương tiện săn sóc chữa trị mỗi khi đau ốm và trẻ em có nơi học hành miển phí, lập quỹ trợ cấp cho nhà nghèo đông con, cho người già bệnh tật cô đơn. Những dự án tôi đề nghị ra đây trông thì lớn nhưng chẳng thấm vàođâu so với những số tiền mà đảng đã ăn cắp của quốc gia và móc túi dân chúng, chỉ nói riêng về khoảng tiền Hà Nội rút ruột Việt kiều mấy chục năm qua thì cũng chưa đáng gọi là muối bỏ biển.

Kết luận

Nhiều người trông chờ một vài thay đổi sau Đại Hội thứ X của Cộng sản nhưng cá nhân tôi chắc chắn không có gì mới lạ. Chỉ là chuyện xoay vần nội bộ của tập đoàn Cộng sản, thay đổi nhân sự luân phiên nắm quyền cai trị. Trước sau gì cũng những bộ mặt quen thuộc trong bộ chính trị, phe nầy đã no đủ rồi thì nhường chỗ cho phái kia đến phiên nhảy lên vơ vét. Đàng nào cũng những bộ mặt thiếu khả năng, tham lam vô độ trong đảng Cọng sản lên nắm bộ máy độc tài tham nhũng, như vậy trước sau gì đảng Cộng sản cũng đưa dân tộc Việt Nam vào con đường đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại.

Họa chăng sẽ có một vài thay đổi nho nhỏ, vá víu hầu tìm con đường sống, nhưng cốt lỏi Cộng Sản vẫn là Cộng Sản. Mà đã là Cộng Sản thì không bao giờ có thể hòa giải hòa hợp, chung vai sát cánh với Tự Do. Giữa hai đối thủ chỉ có con đường độc nhất là ‘Một Mất Một Còn’, đó là điều khẳng định như đinh đóng cột. Điều mong ước ngày đêm của tôi là áp lực của các đảng phái, phong trào chống đối càng ngày càng lớn của từng lớp dân chúng trong nước sẽ tạo một khí thế mạnh mẽ, là môi trươờng thuận lợi cho một cuộc thanh toán nội bộ, không ồn ào, không đổ máu, nhanh chóng và hiệu quả như một cuộc cách mạng xanh mà Liên sô cũng như các xứ Đông Âu cũ đã làm./.

April 22, 2008

Tháng tư đen, trở lại vấn-đề : VIỆT-NAM ĐỔI MỚI và HÒA GIẢI HÒA HỢP

Nhiều người đi du lịch về thường nói rằng Việt Nam lúc nầy hoàn toàn đổi mới, đôi lúc còn hết lời ca tụng thành quả của chính quyền Cọng sản đã thực hiện trong những năm vừa qua. Nghe một cách khách quan thì có phần đúng nhưng thiết nghĩ chúng ta cần phải nhìn một vài khía cạnh khác của những gì gọi là đổi mới do tập đoàn Cọng sản đã thực hiện để có một kết luận vui hay buồn ?
        Chúng ta không thể căn cứ vào hạ tầng cơ sở đã xây dựng trong các thành phố lớn cũng như xem những cuốn phim vidéo thương mãi, trong đó giới thiệu nào là khách sạn cao từng, khu nhà ở sang trọng, 1001 kiểu ăn chơi, nơi du dịch vừa khai trương đến những món ăn quyến rũ đặc sản ba miền để mời gọi Việt kiều về thăm quê hương, rồi kết luận một cách vội vàng và hời hợt rằng nhờ chế độ Cọng sản, Việt Nam ngày nay đã trở thành thiên đường hạ giới.

        Chúng tôi đã tiếp xúc khá nhiều khách du lịch về từ Việt Nam, trong đó đa số là Việt kiều và một ít người ngoại quốc. Khi được hỏi về nếp sống hiện tại ở quê nhà, câu trả lời của những người nước ngoài đều giống nhau : Họ không trở lại lần thứ hai và giải thích rằng, mục đích đến Việt Nam vừa du lịch vừa dụng ý tìm lại những dấu tích kỷ niệm những nơi mà con, chồng, cha, ông họ đã chiến đấu, tù tội hoặc bỏ mình trong các cuộc chiến vừa qua. Họ đến đây một lần như để chia sẻ những nỗi đau buồn tủi nhục của người đã góp mồ hôi xương máu bảo vệ tự do cho một đồng minh. Nhưng họ hoàn toàn thất vọng. Lý do rõ ràng nhất, chính quyền Việt Nam ở đây không có tình người và thiếu hẵn sự tôn trọng tối thiểu đối với du khách, hơn nữa còn lợi dụng xương máu những người chết để làm tiền kẻ sống. Trên các chặng đường tham quan, cán bộ tuyên truyền chế độ thường nhân cơ hội để lồng vào những thành tích vẻ vang đấu tranh, chiến thắng thần thánh và đôi lúc huênh hoan khoe khoang tới độ thiếu liêm sỉ bằng cách dẫn khách du lịch, bà con thân nhân của nạn nhân thăm viếng các bảo tàng viện trưng bày những cái gọi là tội ác do con chồng cha ông họ đã gây ra ! Ngoài ra khách du lịch còn được dẫn đi xem các hố bom, bãi mìn còn sót lại trong thời kỳ chiến tranh, các hậu quả do Mỹ và VNCH để lại với những lời thuyết minh còn sặc mùi máu căm thù. Tiếp đến du khách còn bị đưa đến các hang ổ, địa đạo do chúng dựng lên rồi khiêu hãnh và trắng trợn cho biết rằng nơi đây đã giết được hàng trăm hàng ngàn tên ‘giặc’! Đứng trước những dấu tích ngày xưa, thân nhân của những người đã nằm xuống tại đây không được một lời an ủi chia buồn mà còn bị những con người không có trái tim, huênh hoan trên xương máu người chết để hưởng lợi.
 
        Trên quả đất nầy không có nơi nào ngu si tàn nhẫn và vô nhân đạo hơn chế độ Cọng sản Hà Nội, dù là những bộ lạc trong các rừng rậm còn ăn lông ở lổ nhưng họ cũng biết xử sự một chút tình người khi đối diện với những kẻ đang đau khổ trong lúc họ đến du lịch tham quan.

        Theo thống kê, mỗi năm có hàng triệu người du lịch đến Việt Nam, nhưng tỷ lệ Việt kiều về thăm gia đình chiếm đại đa số, có thể đến chín mươi phần trăm. Tính lượng Việt kiều về để nâng tổng số khách gọi là du lịch lên thật cao thì không đúng. Nếu không còn thân nhân tại Việt Nam, chắc chắn chẳng bao giờ thấy cảnh Việt kiều sắp hàng mua visa về thăm bà con trong các dịp hè hoặc Tết âm lịch. Việt kiều trở lại quê hương hàng năm không hẵn là đi du lịch mà mục đích kết chặt thân tình với gia đình bà con bạn bè và nhân cơ hội giúp đở một ít tài chánh cho họ hàng ruột thịt. Gần triệu người đã mang trực tiếp về một số ngoại tệ khổng lồ nhưng trước sau gì cũng chui vào túi nhà nước. Mặc dù sau đó tiền sẽ chạy ngược ra xứ ngoài, biết vậy, nhưng phải chấp nhận vì thân nhân trong nước cần phương tiện để sống. Bất cứ ai về thăm quê hương cũng là một điều rất tốt, chỉ đáng tiếc, một số đông sau những chuyến về Việt Nam đều nức nở khen rằng, quê hương bây giờ đã đổi mới, vui lắm khá lắm. Đôi lúc còn khuyên tất cả nên về thiên đường để tận hưởng những thú ăn chơi do Cọng sản kinh doanh. Đi đến đâu cũng thấy lầu đài, khách sạn, nhà hàng, quán ăn, vũ trường, tắm hơi, bia ôm, động đĩ… Chỉ cần lon bia là tự do ôm gái thả giàn, một tô phở dư sức ngủ bất cứ với ai, vào quán vào tiệm là máy lạnh chạy suốt ngày, làm vua một đêm trong khách sạn chỉ bằng lương một buổi. Tấm tắt khen rồi kết luận, dưới chế độ Cọng sản bây giờ đã đổi mới rất nhiều chứ không còn quê mùa buồn tẻ như ngày trước ! Mới nghe qua tưởng chừng đúng với những gì đang xãy ra tại thủ đô, các thành phố cũng như quận lỵ, nhưng nghĩ lại thì thấy lòng mình quặn đau và đôi lúc tưởng chừng như có một cái gì xuyên qua lồng ngực. Việt kiều trở lại du lịch trên quê hương mình để có dịp thăm viếng và giúp đở gia đình là việc cần khuyên khích, nhưng với lối nhìn một chiều, vô tình và hời hợt như một người nước ngoài thì đáng buồn thật.

        Du lịch đến một xứ nào du khách có thể thấy ngay trình độ văn minh giàu sang của dân chúng qua các phượng tiện sinh sống cũng như những cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống con người từ giàu có trong các thành phố đến tận giai cấp nghèo khó ở thôn quê. Nhưng đối với Việt Nam, nếu dựa vào các phương tiện căn bản hạ tầng để đánh giá sự giàu sang của trên tám chục triệu dân chúng thì đó là một điều lầm lẫm. Sự giàu sang tại đây thực chất dành cho giới thống trị của tập đoàn Cọng sản nắm quyền và một số người xu thời cấu kết với giới lãnh đạo để tận tình bóc lột dân nghèo. Không vơ đũa cả nắm, trong số người giàu có hiện tại cũng phải kể đến những người đã bỏ công sức làm ăn góp gió thành bão, những người có nguồn thu nhập lương thiện hay những thân nhân của một số Việt kiều, nhưng tính cho kỹ số người nầy chỉ là một lượng thật khiêm nhượng trong tổng số tỷ phú ‘đỏ’ đang tràn ngập từ hang cùng ngõ hẻm đến trung tâm thủ đô Hà Nội.

         Chúng tôi nghe có người khen rằng, Việt Nam ngày nay, điện đã kéo đến tận các làng xã xa xôi, truyền thanh truyền hình về tới từng thôn xóm. Nhưng họ quên rằng các phương tiện nầy đã có từ trước năm 1975. Thật vậy những phương tiện phục vụ quần chúng nông thôn dưới thời Việt Nam Cọng Hòa vừa đưa đến đâu thì Việt cọng phá hoại liền sau đó. Ra khỏi khu vực chung quanh thành phố quận lỵ vài ba cây số, các trạm biến điện bị đặt chất nổ, cột trụ thì cắt dây. Cầu cống đường sá vừa đắp trong ngày, tối đến chúng đặt mìn giật sập. Nếu so sánh những gì có được ngày hôm nay với hoàn cảnh Việt Nam sau thời kỳ chấm dứt chiến tranh 1975 thì thấy có nhiều thay đổi.  Hoặc không nói đâu xa, giữa Việt Nam Cọng sản năm mười năm về trước với thực tại ngày hôm nay thì thật đúng. Nhưng phải nhớ điều nầy, không thể đem tình trạng đất nước giữa hai thời điểm, trước năm 1975 và ngày nay để so sánh với nhau. Một miền Nam trong chiến tranh loạn lạc, kẻ thù phá hoại quanh năm từ thành thị đến thôn quê, tất cả nguồn nhân lực vật tài lực đều phải tập trung để chống nội thù thì không thể so sánh với một miền Nam ngày nay, sau hơn ba mươi năm chấm dứt chiến tranh hoà bình được vãn hồi. Tiền rừng bạc biển của miền Nam cọng thêm hàng trăm tỷ dollars từ ngoài đổ vào thì những gì đổi mới của Cọng sản ngày hôm nay chỉ là hạt cát nhỏ xíu trên sa mạc. Thử tính nhẩm xem trên ba mươi năm hòa bình, nếu chính quyền không tham nhũng, không vơ vét đưa về Bắc, không trả nợ Nga Tàu, không chuyển ra nước ngoài mà nhà nước chỉ cần xử dụng một phần nhỏ để kiến thiết đất nước phục vụ dân chúng thì quê hương Việt nam ngày nay đã trở nên giàu mạnh gấp bao nhiêu lần so với các quốc gia lân cận. Phi luật Tân, Thái lan, Mã Lai thường ước mơ mười lăm tỷ dollars để phát triển xứ họ thành một quốc gia tân tiến hiện đại nhưng không đào đâu ra, trong lúc Việt nam có sẵn trong tay gần một trăm tỷ do Việt kiều gởi về dưới hình thức chui cũng như chính thức trở thành mây khói. Trong khi đó hạ tầng cơ sở  xây dựng được tại Việt Nam đều do tiền viện trợ hoặc vay mượn quốc tế !

Người giàu ở Việt Nam

        Không ai phủ nhận tại thủ đô cũng như các thành phố lớn trong thời gian sau nầy đã mọc lên hàng trăm hàng ngàn biệt thự đắt giá, những cao ốc chục từng lầu, những khách sạn bốn năm sao, những quán ăn hàng ngàn chỗ ngồi, vũ trường đúng tiêu chuẩn quốc tế, những đại công ty với vốn hàng chục triệu dollars… nhưng chủ nhân là ai ? Xin thưa ngay, chính là các cán bộ đảng viên của đảng Cọng sản từ cấp làng xã cho đến những tên bí thư trung ương, chủ tịch trong bộ máy quyền hành nhà nước. Còn lại một số nhỏ thì nằm trong tay những tay kinh tài của đảng, các tên mua gian bán lận và cuối cùng một số rất nhỏ là của Việt kiều hay thân nhân của họ. Tóm lại giới giàu có tại Việt nam hiện nay không ai ngoài cán bộ đảng viên Cọng sản. Cứ tính trung bình, dù ở ngành nghề hay chức vụ nào, khi đã lọt vào đảng trong tay cũng có năm ba mẫu đất, một hai ngôi nhà là ít.

        Ngay từ lúc vừa kéo quân vào cai trị, bọn Cọng sản đã dùng súng đạn, quyền thế chia nhau xẽ thịt đất đai của miền Nam. Từ những lô đất vàng trong thành phố, các bất động sản của dân chúng vùng ngoại ô đến những đồng ruộng vườn tược tại thôn quê, nơi nào có lợi chúng không bao giờ bỏ qua. Với quyền lực và súng đạn chúng làm giầu không phải mất một giọt mồ hôi hay đồng bạc nào. Chúng trưng dụng, tịch thu rồi bán lại hoặc ăn chia với các nhà thầu để xây những căn phố lầu, khu nhà ở, các cửa tiệm. Từ tên bần cố nông khố rách áo ôm nhưng vừa chiếm xong miền Nam chúng đã trở thành triệu phú một cách thần thánh trong một sáng một chiều. Hàng trăm hàng ngàn cây vàng vào túi một cách dễ dàng trong lúc đồng bào miền Nam trong tình trạng đói khát rách nát, người chế độ cũ phải bỏ tài sản bồng bế nhau ra biển hay lên vùng kinh tế. Điều nầy không những xãy ra chung quanh Tân Sơn Nhất Sàigòn mà ngay trên toàn lãnh thổ miền Nam, từ trung ương xuống tận làng xã quận huyện. Nhất là thời gian sau nầy, trong chương trình nới rộng thành phố, tỉnh, quận lỵ, các cán bộ từ nhỏ đến lớn đua nhau chiếm đất cho chính bản thân mình, phần bán, phần cho vợ lớn vợ bé, con cháu bà con đứng tên hoặc giao móc nối các công ty xây cất nước ngoài. Dễ thấy nhất là các khu vực chung quanh thành phố Sàigòn cũng như hàng trăm ngàn mẫu đất trên toàn quốc nằm trong dự án phát triển, các cán bộ tự động ăn cắp tài nguyên quốc gia để cấp phát cho mình hoặc lên kế hoạch mua rẻ của dân. Gọi là mua nhưng lại quỵt sau đó, để thành lập những khu đô thị mới hay những trung tâm du lịch. Mối lợi đầu tiên, chúng hưởng ngay tiền đút lót của các công ty xây cất nước ngoài khi tổ chức đấu giá, sau đó hưởng trọn nguồn lợi mà không mất một đồng bạc. Thật vậy, đất đai thì cướp của miền Nam, chất xám tiền bạc do nước ngoài chu cấp, sức lực lao động thì bắt dân đóng góp. Xây xong, các cán bộ lấy sáu, bảy mươi phần trăm công trình bán lại cho dân chúng, trong đó một số là Việt kiều, thu hàng ngàn hàng chục ngàn lượng vàng.  Gom hết vào túi, chúng tìm cách chuyển dần ra nước ngoài, mua lâu đài đất đai cơ sở thương mãi phòng thân khi bí đường trốn chạy.

        Trong việc chiếm đất làm của riêng một cách công khai, xin ghi ra nguên văn đây một bản tin đầy đủ chi tiết để dẫn chứng (theo tài liệu của Effet, Paris 3/2006) :  Bé Nguyễn trọng Bằng đứng tên hai lô đất với diện tích 38.000 m2 lúc mới lên mười. Cậu Huỳnh tấn Trạng cũng đứng tên làm chủ 24.780 m2 khi vừa đúng mười hai tuổi. Cả hai đều là con (1 đứa con vợ lớn, 1 dứa con vợ nhỏ, đứa sau lấy họ mẹ) của cán bộ Nguyễn Thanh Liêm (!!!) chủ tịch ủy ban nhân dân quận Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho). Đảng viên ‘thanh liêm’ nầy đã công khai đổi quyền sở hữu 146.000 m2 đất của miền Nam thành của riêng cá nhân mình. Trong đó ông trực tiếp đứng tên khoảng 42.700 m2, vợ ông là Huỳnh thị Thanh Hồng đứng tên hơn 65.000 m2 còn lại do hai đứa con đứng tên như đã nói ở trên. 
      
        Chỉ là một chủ tịch huyện mà đã dùng quyền thế ngang nhiên cướp đất của miền Nam tới 146.000 m2 làm của riêng thì cứ tưởng tượng những tên cán bộ từ tỉnh trở lên cho đến các cấp đứng đầu các sở, bộ, chính phủ cho đến bọn trung ương đảng thì trong tay chúng của chìm của nổi bao nhiêu giấy tờ cho đủ để ghi chép.
 
        Người ta còn nhớ, vào những năm 1955-1958, phong trào ‘Cải cách ruộng đất’ do Cọng sản phát động trên toàn miền Bắc, quy tội những ai có quá hai mẫu đất sẽ bị khép vào thành phần phú hào địa chủ bị đem ra xử bắn khiến cho hàng trăm ngàn người phải chết oan. Người ta cũng chưa quên sau năm 1975, cũng chính luật lệ của chúng đem ra áp dụng cho người miền Nam, những ai có trên 5 mẫu đất sẽ bị kết án là thành phần tư sản, bị tịch thu ruộng đất và đưa đi vùng kinh tế mới, làm cho hàng triệu người miền Nam sống trong cảnh lầm than khốn khổ.

        Ngày từ rừng chui ra, chân dép râu đầu nón cối, trên hàm răng dưới quần xà lỏn, nhờ tài ăn cướp nay trở thành tỷ tỷ phú, trong tay tên nào cũng vài ba ngôi nhà vài chục mẫu đất và hàng triệu dollars nằm ở nước ngoài. Thử đi một vòng từ Nam chí Bắc, đừng bỏ sót hang cùng ngõ hẻm nào, thấy bất cứ nơi đâu nhà cao cửa rộng sang trọng quý phái, cứ vào hỏi thử xem thì biết ai là chủ nhân ? Thấy những khu du lịch đắt tiền từ trên đỉnh núi xuống tận đáy biển, cứ nghiên cứu để biết người nào đứng tên ? Chính là những tên Cọng sản lớn nhỏ, dân nghèo chẳng một người nào có phước lọt được vào đây. Dưới chế độ đảng trị, cá nhân nào muốn làm giàu nhanh chóng và an toàn thì phải làm tay sai để được lọt vào đảng. Chúng nó có đến trên hai triệu đảng viên, thử làm một bài tính, trung bình mỗi người có vài ba căn nhà và một hai mầu đất thì bao nhiêu diện tích đất đai của quê hương đã nằm trong tay gia đình chúng nó, bao nhiêu ngôi nhà từ thành thị đến thôn quê đứng dưới tên vợ lớn vợ bé mèo chuột con ruột con rơi ?. Người dân lương thiện chắt chiu từ đời ông đời cha chưa xây được căn nhà trú mưa tránh nắng, nhưng với bọn cướp có cầu chứng chỉ cần dí súng vào lưng người dân vô tội là trở ngay thành triệu phú tỷ phú. Danh từ ‘người bóc lột người’ ngày trước Cọng sản gán cho chế độ miền Nam nghe ra thật buồn cười nhưng sau nầy dân chúng đổi lại thành câu ‘đảng bóc lột người’ thì thật chính xác trăm phần trăm. Chỉ có đảng mới đủ quyền lực ra lệnh, tổ chức và bao che các hành động cướp bóc một cách trắng trợn nhân miền Nam. Vành vi tham nhũng, cướp bóc có lúc man ri mọi rợ cũng có khi khôn ngoan xảo quyệt nhưng tựu chung vẫn chưa thấy xãy ra từ một xứ thiếu văn minh cho đến những quốc gia độc tài quân phiệt. Cảnh ‘đảng bóc lột người’ chỉ còn ở các xứ Cọng sản. Nhưng với Việt Nam còn nổi tiếng hơn nữa, nơi mà Cọng sản thường vỗ ngực khoe khoang là ‘cái nôi nhân loại’, ‘đỉnh cao trí tuệ’ của loài người và là tấm gương soi sáng để cho toàn thể nhân loại noi theo !

Việt Nam đã đổi mới được gì ?

        Những tòa lâu đài cao, những con lộ rộng lớn, những chiếc cầu với 4, 6 lối đi hai chiều những khu vực giải trí, những nhà hàng khách sạn nguy nga, Hà Nội dàn dựng mục đích đánh bóng chế độ. Những phương tiện thiết thực nâng cao đời sống dân chúng không nằm trong chủ trương của đảng. Đường lối Cọng sản trước sau như một : Dùng bao tử sai khiến con người, bần cùng hóa để cai trị dân chúng. Dân có nghèo đói có ngu dốt thì mới ngoan ngoãn nghe lời Cọng sản. Từ ba chục năm qua, ngoại trừ vài ba bệnh viện lớn do nước ngoài xây cất, Việt nam đã làm gì cho dân nghèo trong các chương trình y tế công cọng ? Có tăng thêm các trường trung tiểu học cho các thành phố, quận lỵ hay thôn xã ? Có dùng tiền của Việt kiều gởi về để nâng cấp trình trình độ giáo viên và miễn phí cho học sinh ? Có nghĩ đến môi trường ô nhiễm, chương trình vệ sinh sức khỏe quần chúng hay chỉ chăm chú vào việc phát triển cơ sở du lịch ăn chơi để quảng cáo chế độ, móc túi giới giàu có, khách nước ngoài và ru ngủ lớp trẻ ? Ngay tại thủ đô và các vùng phụ cận Hà Nội cũng như thành phố Sàigon vấn đề nước và điện là hai nhu cầu thiết yếu hằng ngày của dân chúng nhưng hiện nay vẫn còn ô nhiễm và thiếu hụt, có nơi còn bị hạn chế xử dụng.  Quan chức lớn hay những người có tiền được ưu đãi vào những bệnh viện của người nước ngoài. Đối với dân nghèo chính phủ Hà Nội có chú trọng xây cất thêm bệnh viện, đào tạo và giáo dục nhân viên y tế, trang bị dụng cụ để tiếp đón mọi người mỗi khi đau ốm cần nơi săn sóc chửa trị ? Tự xưng là một nước tiên tiến nhưng còn thua một xứ chậm tiến của Phi Châu, bệnh nhân bị xem như những người ăn mày đến xin ân huệ của chính phủ.

        Chuyện xãy ra hằng ngày trong tất cả nhà thương dưới chế độ Cọng sản Hà Nội, từ bác sĩ y tá nhân viên phục dịch xuống đến các tay gác cổng hay làm vệ sinh nhà cầu đều xem bệnh nhân như con chó không hơn không kém. Nếu bệnh nhân và gia đình nào không biết ‘thủ tục đầu tiên’ áp dụng ngay từ lúc vào cổng, lấy số thứ tự, khám bệnh, chích thuốc cho đến lúc xin toa ra về thì đừng hòng lết tới bệnh viện. Trường hợp bệnh nặng phải nằm điều trị, ngoài các thủ tục kể trên còn phải thông suốt tiền giường, chăn, gối, thử nghiệm chụp hình hoặc để được chích một chút thuốc mê trước khi lên bàn mổ. Thậm chí bệnh nhân khi vào quan tài c ũng phải tuân theo quy định tiền bạc rõ ràng bằng không thì nằm tạm góc nào đó đợi thân nhân đem tiền chuộc về chôn cất. Chính chế độ Cọng sản Hà Nội đã biến nhà thương thành nhà ghét, thành nơi mua bán từng tờ giấy, miếng vải, viên thuốc, chỗ nằm đến cách săn sóc chửa trị bệnh nhân và mặc cả ra giá luôn với xác chết.

        Các người trách nhiệm trong chính phủ trung ương hay những tay đầu sỏ trong bộ y tế có dám trừng trị những tên bác sĩ, y tá vô lương tâm trong các cơ quan y tế nhà nước hay sợ dồn chó vào chân tường thì chúng sẽ quay trở lại cắn, gây trở ngại hư bột hư đường.

        Dân nghèo đâu cần những nơi ăn chơi trác táng, sòng bạc trường đua, trung tâm nghỉ mát.  Họ cần được chửa trị mỗi khi đau ốm, được khám bệnh miển phí, cần được ngày hai bữa, cần chỗ cho con em đi học, cần một việc làm trả công xứng đáng…Những gì đổi mới từ hạ tầng cơ sở đến chương trình mở cửa của Cọng sản đã đem cho họ được gì ? Hoàn toàn không, đã nghèo thì lại càng nghèo thêm.

         Một chính phủ biết thương dân thì phải nghĩ đến ba vấn đề căn bản : Lo cho dân ăn no mặc ấm, săn sóc bệnh tật và mở mang trí tuệ nhất là cho lớp trẻ. Cả ba điều trên không được tập đoàn Cọng sản thực hiện, vì sau ba mươi năm chiếm xong miền Nam, một nửa dân số vẫn thiếu ăn thiếu mặc trong đó hàng chục triệu người trên người chỉ một bộ áo, ngày bữa cơm độn ngô khoai, bệnh không có thuốc, trẻ con thất học đi bụi đời. Chế độ Cọng sản Việt Nam ngày nay chủ trương ưu đãi đảng viên cán bộ, người nước ngoài và lớp nhà giàu mới nổi lên không ai hơn là gia đình con cháu.

        Ngoài ra Việt kiều du lịch thường diễn tả cảnh ăn uống tấp nập ngày đêm từ các nhà hàng sang trọng đến những khách sạn tầm cỡ quốc tế. Người ta chi hàng triệu cho bữa ăn hoặc trả một đêm tiền phòng bằng hai tháng lương của một công nhân, rồi kết luận rằng dân chúng Việt Nam lúc nầy giàu có tột bực, Việt kiều không còn nghĩa lý gì nữa. Điều họ nói đúng, bây giờ bên quê nhà người ta chỉ nói đến tiền triệu, tiền tỷ, nhưng thật ra đó là những số tiền lừa bịp ăn cắp quỵt nợ cướp giật chứ không phải đồng tiền do mồ hôi nước mắt làm ra một cách lương thiện. Ngay cả cán bộ cao cấp đồng lương thật sự cũng không đủ để bao gái một đêm lấy gì để ăn chơi ba mươi ngày một tháng !

        Đọc các tin của Việt Nam, ngay trên các nhật, tuần báo cũng như các mạng internet của chế độ, người ta biết được những chuyện liên quan đến hàng tỷ đồng và cũng bên cạnh đó, cũng có những bản tin thật đau lòng : Người ta giết nhau vì vài ba ngàn đồng bạc. Hàng đêm mẹ phải làm điếm kiếm tiền sữa cho con. Em học sinh bị đuổi vì không đóng nổi học phí. Nợ trăm ngàn, gái quê bán mình xuất khẩu làm vợ… Lương công nhân không nghề nghiệp chưa tới bốn trăm ngàn một tháng trong lúc gia đình năm bảy miệng ăn. Muốn sống còn, ngày làm việc tối về chồng đạp xe, vợ nhắm mắt ‘nhảy dù’, con đi bới thùng rác. Những hình ảnh nầy không ở đầu xa mà đấy dẫy ngay trong lòng thủ đô Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố lớn. Nói đến Việt Nam người ta chỉ nghe tiền triệu tiền tỷ ăn chơi của cán bộ đảng viên nhà nước mà ít ai nghĩ đến ba bốn trăm ngàn đồng của một gia đình đông con. Xã hội nào cũng có người giàu kẻ nghèo, nhưng sự cách biệt quá chênh lệch về phẩm cũng như lượng giữa hai thành phần tại Việt Nam là một hiện trạng không thể chấp nhận vì vấn đề tham nhũng quá độ của giới cầm quyền.

        Những người đang ở trong các biệt thự sang trọng, đi xe đời mới, sáng trưa cao lầu chiều phòng trà ca nhạc, tối ôm gái trong khách sạn…chính là bản thân và thân nhân gia đình đảng viên cán bộ nhà nước và những tên sống bám vào đáy quần của Cọng sản, không phải chỉ một vài tên mà đồng loạt từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, từ chủ tịch nhà nước đến tên quét cầu tiêu trong bệnh viện. Trung ương thì miệng lúc nào cũng hô hào diệt tham nhũng nhưng chỉ là trò hề để bịp trẻ con. Tham nhũng là căn bệnh chửa trị một cách dễ dàng nếu các cấp lãnh đạo trong sạch và nghiêm chính. Nhưng ở Việt Nam thì ngược lại. Không thế ngăn chận một anh công an đút túi lộ phí vài chục ngàn, cấm một viên chức xin vài trăm ngàn tiền trà nước trong khi những tay đầu sỏ ăn cắp hàng chục tỷ dollars để ở các ngân hàng nước ngoài. Cá mè một lứa làm sao có thể trở mặt trị tội lẫn nhau. Lâu lâu trung ương đưa ra một vài tên cán bộ cỡ trung ra tế thần sau đã vắt hết nuớc hết cái hoặc đổ bể vì ăn chia không đồng đều. Cả thế giới phải bịt mũi khi thấy chúng đánh trống thổi kèn trình diễn lấy lệ mấy vở hài kịch vừa qua.
       
        Chính cán bộ, thân nhân và thuộc hạ của chúng đã đưa đời sống của nhân dân VN từ nghèo khó đến bần cùng đói rách. Hãy nghĩ xem, những bà mẹ buôn thúng bán bưng ngày kiếm vài ba ngàn đồng bạc, công nhân viên mỗi tháng lãnh chừng vài ba trăm ngàn, tính ra trung bình hơn ngàn bạc mỗi ngày, làm sao giới nghèo khó có thể đua chen trong cái xã hội nhiểu thương bên cạnh những tỷ phú đỏ.  Cấp nhỏ thì tiền vào ngã sau trung bình cả triệu mỗi sáng, cao hơn thì vàng lượng vàng cây người ta dâng tận cửa ban đêm. Tiền bạc tiêu xài năm nầy tháng nọ cũng không ăn nhằm so với những số tiền tham nhũng bất chính. Đất đai nhà cửa xe cộ đầy đủ, tiền bạc đã nằm yên xứ ngoài, bây giờ họ chỉ việc tranh thủ thời gian để hưởng thụ. Do đó không lạ gì các quán đấm bóp, nhà hàng, khách sạn hạng sang nay đã trở thành phòng tắm, nhà bếp và phòng ngủ thường trực của cán bộ đảng viên cũng như gia đình.

        Theo tài liệu gần đây của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế thì Việt Nam đứng hàng đầu thế giới về tham nhũng. Tính sơ sơ một số hồ sơ do tổ chức nầy có trong tay là 217.571 vụ tham nhũng từ cấp nhỏ đến cấp lớn. Hồ sơ tham nhũng nhỏ nhất ghi nhận tối thiểu 10.000 dollars và lớn có nhiều hồ sơ lên đến hàng trăm triệu dollars (ví dụ chỉ tính 217.571 hồ sơ nhỏ nhất, mỗi hồ sơ chỉ 10.000 dollars thì con số cũng lên đến 2.175.710.000 dollars). Ngoài ra tập đoàn cọng sản đã vơ vét đục khoét, tẩu tán và làm thất thoát tài sản quốc gia trung bình mỗi năm 130 tỷ dollars (tài liệu Effet tháng 3/2006).

Tham nhũng dưới hai chế độ VNCH và CS

        Cách đây vài tháng, cò mồi Nguyễn cao Kỳ trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng miền Nam trước kia cũng tham nhũng, ngoại trừ một mình ông ta mà thôi (Thật không ông Kỳ ? Nếu có một chút liêm sĩ thì đừng nói câu nầy), rồi hô hào quên đi tất cả, tha thứ cho bọn Cọng sản tội tham nhũng đồng thời xóa bỏ qua những gì chúng đã vơ vét để tỏ thiện chí cùng nhau tiến tới việc hòa hợp hòa giải. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã nhổ nước bọt vào bộ mặt lì lợm ông ta nhiều lần, thiết tưởng không cần đối thoại với một cá nhân đã mất nhân cách và liêm sĩ.
        
        Nói đến tham nhũng dưới chế độ cũ, chúng tôi xin phép trở lại vấn đề nầy để trình bày với thế hệ trẻ hải ngoại và tất cả những ai sinh ra và lớn lên dưới sự nhồi sọ của chế độ Cọng sản ngay từ lúc mới lọt lòng.
        
         Vẫn biết rằng vấn đề tham nhũng dưới chế độ nào cũng có, (ngoại trừ một số quốc gia ở Bắc Âu) không nhiều thì ít, nhất là đối với những nước đang phát triển. Nhưng đem vấn đề tham nhũng của miền Nam trước kia so sánh ngang hàng với việc tham nhũng của Cọng sản ngày nay thì thật là một sỉ nhục đối với chế độ cũ và những người có trách nhiệm trong guồng máy chính quyền cũng như quân đội Việt Nam Cọng Hòa trước kia.

        Từ nền Cọng hòa đệ nhất đến đệ nhị, miền Nam đã trải qua nhiều thời tổng thống, bộ trưởng và các quan chức điều hành guồng máy hành chánh cũng như hàng trăm tướng lãnh đã phục vụ dưới cờ. Chúng tôi không khẳng định các nhà lãnh đạo, các tổng bộ truởng cũng như các   tướng lãnh hoàn toàn trong sạch, nhưng nếu một vài cá nhân nào đó có tham nhũng thì cũng chỉ là những chuyện nhỏ nhặt, chút tiền của vui chơi qua ngày chứ không đủ để tích lũy nuôi gia đình giòng họ từ đời nầy qua đời khác hay chuyển ra nước ngoài những số tiền lớn như bọn Cọng sản ngày nay đã gởi hàng chục tỷ dollars nằm rải rác trong các ngân hàng trên thế giới (32 tỷ dollars con số có được vào năm 2004)

        Chúng tôi chưa thấy một vị lãnh đạo, quan chức hay tư ớng lãnh nào làm chủ, đừng nói nhiều, một dinh thự, lâu đài, cao ốc hay một đại công ty nào trong nước cũng như ở ngoại quốc. Cọng sản là bọn to mồm nhưng chưa nghe chúng rêu rao tịch thu tài sản của vị nầy ông kia
thuộc chế độ cũ bao giờ. Trong lúc cò mồi Kỳ ngày trước đã bị xếp vào loại lem nhem lại lên tiếng nhập nhằng vấn đế tham những cũ và mới. Một bằng chứng cho thấy, sau ngày mất nước, các bộ trưởng, dân biểu, quan chức cũng như các tướng lãnh lên đường đi tù ra Bắc, vợ trong Nam phải buôn thúng bán bưng nuôi con, có người phải bán ngay cả đồ đạc trong nhà để đủ tiền đi thăm nuôi chồng một vài chuyến. Hơn nữa, sau ngày mất nước các lãnh tụ cũng như hàng ngàn cựu quan chức, tướng lãnh ra định cư nước ngoài, đến xứ người họ cũng sắp hàng đi lãnh trợ cấp. Trong số nầy không biết có cò mồi Kỳ hay không ! Có một thời gian người ta bàn tán đến mấy chục tấn vàng do cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu mang đi làm của riêng vào phút chót trước khi Cọng sản tiến chiếm miền Nam. Lúc còn sống không nghe cựu tổng thống Thiệu thanh minh đính chính. Nhưng dưới bầu trời tự do không có gì có thể bưng bít sau một thời gian dài, chuyện gì cũng được phơi bày ra ánh sáng. Cựu tổng thống Thiệu không thể tay xách vai mang số vàng một mình mà, nếu có thật, thì phải cần một đoàn người tiền hô hậu ủng để hộ tống vàng bằng một chiếc máy bay lớn. Chuyện ăn lén đã qua tay hàng chục người trước sau gì cũng đổ bể, đám đàn em của cựu tổng thổng Thiệu vì lòng tham và ganh ghét mà tố giác lẫn nhau, nhất là cò mồi Kỳ là người có nhiều ân oán với ông Thiệu, nếu không được chia chác thì tên cò mồi nầy đã nhảy đỏng lên tố cáo từ lâu.
      
        Nhưng chuyện vàng vẫn chìm xuồng cho đến lúc cựu tổng thổng Thiệu qua đời thì đùng một cái, báo chí đăng tin cho biết chính ông Bùi Tín xác nhận, bộ chính trị trung ương đảng Cọng sản đã cho nhiều chuyến bay chở cấp tốc toàn bộ số vàng trong ngân khố chính phủ miền Nam ra Bắc ngay trong ngày 2, 3 tháng 5 năm 1975, trong đó gồm số vàng nói trên, và những tay trong bộ chính trị trung ương đảng cấu kết chia nhau bỏ túi. Bây giờ chúng tôi đưa ra yêu cầu : Hãy trả lại số vàng cho dân chúng miền Nam.

        Xét về một phương diện khác, Việt Nam đổi mới, dù việc đổi mới chỉ là một phần nhỏ và nằm trong một khía cạnh nào đó thì ít ra một số người dân bình thường thấp cổ bé miệng nhân cơ hội nầy cũng kiếm được miếng cơm manh áo. Trong số này là đồng bào miền Bắc đáng thương, họ qua được kiếp nghèo khó sau hơn hai chục năm đói rách dưới bàn tay sắt máu của Cọng sản. Tiếp đến, gia đình thân nhân của Việt kiều trở thành ‘gà đẻ trứng vàng’ có phương tiện sống nhờ những liên hệ ruột thịt từ nước ngoài, và sau cùng, một số ít người thành thị có cơ may ăn nên làm ra tránh được cảnh nghèo đói. Nhưng mỗi lần nghĩ đến quê hương đau thương, đến những đại đa số người dân hiền lành chất phác còn đói khổ, những người thua trận sa cơ thất thế, những người bị trị trong vòng kềm kẹp thì những ai còn nặng lòng với đất nước không thể nào tránh khỏi những giây phút xao xuyến suy tư.

        Tóm lại tám mươi phần trăm dân chúng Việt Nam đâu cần nhà lầu hai ba chục từng, khách  sạn năm sao, cửa hàng sang trọng, vũ trường quốc tế, trường đua tân tiến…mà họ chỉ ao ước những chuyện rất tầm thường : Ngày hai bữa no bụng, đau ốm có nơi chăm sóc chửa trị miễn phí và trẻ em đến trường không phải đóng tiền học. Ba vấn đề căn bản và cần thiết để phục vụ con người sao không thấy đổi mới mà đời sống dân chúng càng ngày càng đi vào lạc hậu. Thật ra những hạ từng cơ sở đổi mới hiện nay chỉ là những cơ quan kinh tài của chế độ và mục đích phục vụ cho giới tư bản đỏ. Nếu những ai ca tụng những gì tại Việt Nam hiện nay tức là vô tình trở thành những người tuyên truyền không công cho Cọng sản.

HÒA GIẢI HÒA HỢP

        Một chiến dịch đã được Cọng sản Hà Nội và những tay cò mồi trong cũng như ngoài nước, những tên năm vùng và những anh chính trị gà mờ ở Mỹ tung ra để mưu đồ một một giải pháp chính trị hầu cứu vãn chế độ Cọng sản đang trên đà tuột dốc. Từ chiêu bài ‘kiềng ba chân’ Hà Nội đã chuẩn bị giải pháp nầy từ năm 1995 để đánh lừa cụ Hoàng Minh Chính, (một người thiết tha tự do, nhưng rất tiếc đã mất niềm tin của một số người ái mộ sau chuyến đi Mỹ của cụ) đưa qua bày hàng tại Mỹ trong năm vừa qua, đến ‘thế hai cẳng’ do cò mồi Nguyễn Cao Kỳ sau hai năm học tập trong khách sạn, về Mỹ vội vàng đưa ra họp báo thăm dò dư luận. Nhưng cộng đồng người Việt tự do đâu ngu xuẩn như cò mồi Kỳ đã ám chỉ trong bài phỏng vấn, họ dù ở phe cánh hay đảng phái nào cuối cùng cũng sáng suốt vứt ngay hai lá bài ‘kiềng ba chân’ và ‘thế hai cẳng’ vào ngay sọt rác.

        Cọng sản Hà Nội đã tính, hai lá bài ‘Ba chân’ hay ‘Hai Cẳng’ trước sau gì cũng quy về nằm gọn trong tay của bọn chúng. Hà Nội lộ ra bộ mặt khôn lỏi khi đưa ra giải pháp ‘ba chân’, gồm chính chúng nó và hai nhóm trí thức trong và ngoài nước. Trí thức trong nước thì gồm đa số đang cúi đầu hưởng lộc, bám sát đáy quần Cọng sản sẽ là chân thứ hai. Giới trí thức chống đối thì bị cô lập, tù đày, cơm không có ăn áo không đủ mặc, miệng bị khóa, còn ai để đại diện cho người dân thấp cổ bé miệng. Trí thức nước ngoài thì chúng biết rằng không thể bịp bợm qua mặt một cách dễ dàng, Hà Nội chỉ còn nhắm vào mấy tên đón gió, núp bóng cò mồi, chính trị gà mờ sẽ ‘hồ hởi’ sẽ chạy theo. Chúng tính toán kỹ, đường nào giải pháp ba chân do cụ Hoàng Minh Chính hô hào cổ võ cũng quy tụ được tay sai của chúng nhằm chống đở cho quyền lực và tạo cơ hội huênh hoang với thế giới bên ngoài bằng giải pháp hòa giải hòa hợp dân tộc.    
       
         Sau khi thất bại thế ba chân, Hà Nội quay qua dùng cò mồi Kỳ, đánh bóng thành nhân vật chính trị quan trọng và phong cho Kỳ nhiệm vụ ‘đại diện nhân dân miền Nam’ để chiêu dụ dân trong nước và thăm dò phản ứng Mỹ cũng như cộng đồng người Việt. Cò mồi Kỳ được cấp đầy đủ phương tiện du hí và hưởng lạc, được đặc ân ‘học tập’ trong khách sạn năm sao. Sau hai năm thông suốt thế ‘Hai Cẳng’ cò mồi Kỳ được lệnh trở về Mỹ họp báo ra chiêu, nhưng chẳng làm nên trò trống gì khi kêu gọi một chế độ lưỡng đảng cho Việt Nam. Trong đó một đảng là Cọng sản, một đảng sẽ do Kỳ lãnh đạo trong bóng tối (Kỳ xác nhận nhiều lần vì sức khởe không ra mặt). Kỳ sẽ tuyển chọn, cân nhắc và giới thiệu đàn em với Hà Nội, bước đầu từ dân biểu quốc hội tiến đến việc thành lập chính phủ lưỡng đảng. Thì ra ‘ba chân’ hay ‘hai cẳng’ đều là giải pháp để chống đở cho đảng Cọng sản trước ngày xuống lỗ. Cọng sản Hà Nội, theo cò mồi Kỳ, (có lúc nổi máu cao bồi lên Kỳ không kiểm soát được lời nói của mình) đang chết đói, cần phải hợp tác đưa tiền đưa của và chất xám về giúp đảng. Đúng là cao bồi ngây thơ khi vô ý phóng ra câu nầy. Đảng Cọng sản đâu chết đói, chúng đã quá no nhưng lòng tham vô đáy, vẫn kêu gào tiền của Việt kiều để vơ vét chuyến chót trước khi đâm đầu tháo chạy.

Thù hận, chống đối quá khích

         Nhiều người trong đó có một vài nhà trí thức, những tay chính trị đón gió, bọn cò mồi và những tên nằm vùng thường lặp lại luận điệu của Hà Nội cho rằng, một số người Việt trong cộng đồng hải ngoại vẫn còn mang thù hận trong lòng và thường quá khích chống đối Việt Nam. Chúng tôi mượn trang giấy nầy để trả lời rõ ràng và dứt khoát như sau :

         Đừng bóp méo sự thật, chúng tôi không thù hận Việt Nam, hay nói thật chính xác và rõ ràng hơn, không thù hận Đất Nước, không thù hận bất cứ người Việt Nam nào dù là Bắc hay Nam, mà chỉ mục đích chính là hô hào cổ võ để đánh đổ cho bằng được những tay đầu sỏ trung ương đảng Cọng sản và chính quyền Hà Nội. Bọn chúng chỉ là một tập đoàn nhỏ, số lượng đếm trên đầu ngón tay nhưng từ mấy chục năm qua đã luân phiên cai trị, đàn áp bóc lột tám chục triệu người vô tội. Những đảng viên cấp nhỏ, sĩ quan quân lính trong quân đội chính quy, trong đạo quân công an kềm kẹp, anh chị em công nhân viên nhà nước đều là những người đáng thương, chẳng qua vì sinh kế và mạng sống buộc họ phải phục tùng. Đối tượng của người Việt tự do chính là những tay đầu nảo Cọng sản cần phải đạp đổ để dành lại tự do hạnh phúc cho toàn dân chứ không phải là người Việt gốc miền Bắc cũng như cán bộ công nhân viên cấp nhỏ của nhà nước.

        Ai căm thù ai ? Ai vẫn xử dụng trò đểu giả để lừa bịp dư luận ? Hà Nội thuờng rêu rao một số ngưòi Việt nước ngoài vẫn còn căm thù và được nhóm người nằm vùng, đón gió trở cờ lợi dụng diễn đàn tự do kêu gọi hãy tha thứ quên đi quá khứ để bắt tay hòa giải. Chúng tôi thấy làm lạ khi Hà Nội vẫn còn dùng những nơi trưng bày tội ác Mỹ-Ngụy để rêu rao bôi xấu chế độ tự do và luôn luôn lợi dụng các dịp lễ lộc để khơi lại căm thù…Chiến tranh nào không tàn bạo, không đổ máu không chết chóc.Tội ác do Cọng sản gây ra tại miền Nam hàng hà sa số gấp ngàn gấp vạn lần những gì do Đồng minh và Việt Nam Cọng hòa gây ra vì nhầm lẫn hoặc trong tình thế bắt buộc khi đối đầu với chiến thuật dã man của Cọng sản là trà trộn trong dân và lấy dân làm bia đở đạn. Chỉ một vài bức hình như cảnh một bé gái chạy giặc trong vụ Mỹ đánh vào một khu xôi đậu ở miền Trung hoặc tên đặc công bị một vị chỉ huy Cảnh sát bắn bỏ ngay giữa đường phố, Cọng sản Hà Nội và tay sai thường đưa lên các cơ quan truyền thông quốc tế. Hình ảnh nầy đâu có thể so sánh cảnh hàng ngàn người dân vô tội bị chúng chôn sống tập thể trong Tết Mật Thân 1968, những cảnh hàng trăm thường dân bị pháo giết hại hoặc cảnh những tên đặc công ném mìn lựu đạn vào giữa chợ búa lúc đông người.  Cũng chưa đủ Hà Nội dùng đủ phương tiện để vận động Mã Lai đập bỏ bia tưởng niệm thuyền nhân tại quốc gia nầy là một hình thức gây hấn, chà đạp lên sự đau khổ của những người đã trốn chạy chế độ khát máu lúc chúng vừa kéo vào ngự trị miền Nam.
       
         Bề mặt vuốt ve Việt kiều nhưng Hà Nội vẫn đểu giả huấn luyện hàng ngàn người, gởi ra xứ ngoài để tuyên truyền gây chia rẻ và phá hoại. Chúng dùng tiền của Việt kiều để gầy dựng cơ sở, nuôi dưởng và yểm trợ bọn nằm vùng để phá lại cộng đồng người Việt tại các xứ tự do.

        Thù hận chất hứa trong lòng, ai hơn ai ? Đối với người Việt tự do xứ ngoài, người Việt Nam đều là anh em máu mủ, từ Nam chí Bắc, từ chị nông dân đến ngay cả anh bộ đội, cán bộ, công an nhà nước. Tất cả đều là nạn nhân bị tập đoàn Cọng sản mượn danh rồi bóc lột lại chính họ đến tận xương tủy. Chúng tôi không hận thù, không quá khích mà dùng phương tiện báo chí truyền thông để lột mặt nạ và dùng ngòi bút đánh cho bằng được đám người cầm quyền. Chúng chỉ vỏn vẹn vài ba trăm trong bộ chính trị trung ương và guồng máy hành chánh, nhưng đã thay phiên nhau trị vì trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân Việt Nam từ hơn năm chục năm nay (1954-2006).

Bỏ qua, hợp tác và xây dựng

        Trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo weeklly, cò mồi Nguyễn Cao Kỳ đã nhắc đi nhắc lại rằng chúng ta nên bỏ qua để hàn gắn vết thương dân tộc sau ba mươi năm đau thương. Chúng tôi đồng ý hận thù nào cũng phải biến dần theo thời gian, đau buồn nào cũng phai nhạt theo ngày tháng, nếu hai đối tượng có thiện chí để nối lại vòng tay. Điều quan trọng và cần thiết để mở đầu trang sử mới là kẻ gây ra tội ác phải biết nhận trách nhiệm và phần lỗi về mình, cụ thể bằng những lời xin lỗi chính thức, bồi thường chiến tranh hay bày tỏ thiện chí dưới nhiều hình thức nào đó. Chuyện nầy đâu mới lạ gì, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta ngay từ thời trung thượng cổ đến hai trận thế chiến hay những cuộc chiến tranh trong thời gian vừa qua. Đàng nầy Cọng sản cứ lên tiếng kêu gọi bỏ qua để hợp tác trong lúc họ vẫn ngang nhiên xem những thành phần chế độ cũ là thù địch, vẫn ngang nhiên đàn áp bốc lột tận xương tủy của nhân dân miền Nam, vẫn ngày đêm tuyên truyền bôi nhọ phá rối Cộng đồng người Việt nước ngoài, thì thử hỏi Hà Nội còn chút liêm sĩ gì khi đề nghị xóa bỏ bất đồng trong quá khứ ?

        Sở dĩ Cọng sản và cò mồi đàn em chịu xuống nước van xin tất cả hãy bỏ qua quá khứ cùng nhau hợp tác và xây dựng đất nước vì chúng cần giải quyết ba vấn đề :

  • 1.  Chế độ Hà Nội đang trên bờ vực thẳm : Chủ thuyết Cọng sản đã bị đào thải từ khuya,

Liên sô và khối Đông Âu đã liệng vào sọt rác không thương tiếc. Thế giới chỉ còn bốn xứ lì lợm trong đó có Việt Nam, vẫn ngoan cố dùng bao tử con người, hàng rào kẽm gai và vũ lực súng đạn làm phương tiện đàn áp, bám lấy danh lợi, ngự trị ngai vàng từ đời cha đến đời con cháu. Một chủ thuyết không nhân bản không tình người, đi ngược với trào lưu văn minh tiến bộ và phát triển khoa học kỹ thuật nhưng Cọng sản Hà Nội vẫn hy vọng giải pháp hòa giải hòa hợp với đồng ngườiViệt tự do để cứu vớt đảng cọng sản và giúp chúng vững chắc trên ngai vàng. Hơn nữa tình hình chính trị trong nước đã bắt đầu biến chuyển mạnh mẽ, trong nội bộ chia thành nhiều nhóm, dân chúng đã tỉnh thức bất chấp súng đạn xuống đường đòi quyền sống và nhất là thành phần trẻ nòng cốt tương lai của chế độ đã đặt vấn đề với chính phủ qua nhiều truyền đơn, đình công xuống đường.
 

  • 2.  Áp lực quốc tế về kinh tế và nhân quyền. Quốc tế áp lực mạnh trên các vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo qua các quan hệ giao dịch trao đổi thương mãi.
 Cọng sản Hà Nội bị dồn vào giữa chân tường buộc lòng phải kiếm một lối thoát : Đó là lấy Cộng đồng người Việt tự do hải ngoại làm bia chồng đở bằng cách hòa giải hòa hợp với các thành phần của chế độ cũ Việt Nam Cọng Hòa.

 

  • 3.    Hợp thức hoá tham nhũng và tiếp tục rút ruột Việt kiều : Tham nhũng không cần biết đến hậu quả, Cọng sản vơ vét tài nguyên của cải như một đám ăn mày lọt vào nhà phú hộ, lớn nhỏ gì nhắm mắt cũng nhét đầy túi.

 Hơn ba mươi năm qua chiếm đất chiếm nhà, xem tài sản của dân chúng và đất nước là của riêng, ngang nhiên phân phối cho gia đình, bán cho ngoại quốc và cất giấu ở nước ngoài. Đến nay thì dân chúng đã bừng tỉnh, xem thường súng đạn và bắt đầu đứng lên để chất vấn đòi lại. Tức nước vỡ bờ, một ngày nào đó, những thành phần mà Cọng sản thường đề cao là nòng cốt của chế độ sẽ gậy gộc xâm vào phủ bí thư, phủ chủ tịch để hỏi tội. Hà Nội đã thấy trước ngày nầy đành xuống nước hô hào tiếp tay giúp sức của chế độ cũ mà nòng cốt là cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Nếu trong nước không còn một thân nhân nào của những người đã ra đi thì chắc chắn Hà Nội không kiến được một đồng xu của Việt kiều. Phải nói thẳng ra rằng bốn tỷ dollars của Việt kiều gởi về hằng năm không phải để xây dựng đất nước hay tiếp tay cho Hà Nội mà vì mạng sống, cơm ăn áo mặc cho gia đình thân nhân còn kẹt lại. Hà Nội biết rõ điều nầy nên vẫn bày những trò đểu giả gọi Việt kiều là ‘khúc ruột ngàn dặm’ và xem thân trong nhân trong nước là ‘gà đẻ trứng vàng’. Một ngày nào đó Việt kiều đồng loạt ngưng gởi tiền về thì Việt Kiều sẽ được đổi tên thành bọn ‘Việt kiều phản loạn’ và thân nhân trong nước biến thành ‘sâu bọ ăn bám’, và dĩ nhiên sẽ bị gậy lên đường đi kinh tế mới. Tiền tham nhũng gởi ra nước hàng chục tỷ dollars nhưng Cọng sả Hà Nội vẫn tìm mọi cách kích động lòng nhân đạo thế giới, nhân danh xây dựng tái thiết đất nước, cứu đói giảm nghèo, chận đứng bệnh tật, mở mang trí tuệ để vay mượn vô tội vạ hàng chục tỷ dollars. Nợ nầy chưa trả đồng nào đã chồng thêm nợ khác, mai kia bị hạ bệ, những tay lãnh đạo bôi mặt đổi tên chui rúc xứ ngoài, ai là kẻ phải gánh chịu hậu quả nầy ? Xin thưa, đó là con cháu của chúng ta !

        Khi đưa ra lời kêu gọi tha thứ và hợp tác, người Việt tự do nước ngoài đã thấy ngay thâm ý Cọng sản muốn mượn chiếc dù để xí xóa bỏ qua việc tham nhũng đồng thời hợp thức hóa việc ăn cắp vĩ đại của chúng. Chúng biết rằng một khi xuống ngựa nhân dân miền Nam sẽ hỏi tội và yêu cầu quốc tế niêm phong những số tiền bất chánh trong các trương mục ngân hàng. Thứ khôn lỏi nầy chỉ bịp được những tay chính trị gà mờ như cở cò mồi Nguyễn cao Kỳ mà thôi.

  Tóm lại, người Việt tự do hải ngoại không thể nối giáo cho giặc. Chúng là những con rắn độc loài người không thể ngồi chung một chiều chứ đừng nói đến bắt tay hòa giải cọng tác. Không thể giúp chúng hợp tức hóa những gì đã vơ vét của nhân dân của đất nước mà phải bắt chúng trả lại những gì của miền Nam cho miền Nam. Cũng không thể bắt tay phục hồi sức lực để chúng tiếp tục đặt ‘búa rìu’ trên mảnh đất thân yêu Việt Nam.

        Muốn hòa giải hoà hợp dân tộc, Cọng sản Hà Nội phải tỏ thiện chí trước bằng cách trả lại những gì đã vơ vét của dân chúng cũng như tài nguyên của đất nước để chuộc lỗi lầm của mình bằng cách :  Thu hồi những số tiền khổng lồ trong các trương mục để xây cho dân nghèo vài trăm bệnh xá nhà thương, vài ngàn trường trung tiểu học rải đều trên toàn lãnh thổ từ Bắc chí Nam, đồng thời miễn phí hoàn toàn cho dân nghèo có phương tiện săn sóc chửa trị mỗi khi đau ốm và trẻ em có nơi học hành miển phí. Dự án thì lớn nhưng chẳng thấm vàođâu so với những số tiền mà đảng đã móc túi, chỉ nói riêng về khoảng tiền Hà Nội rút ruột Việt kiều mấy chục năm qua thì cũng chưa đáng gọi là muối bỏ biển.

Kết luận

        Nhiều người trông chờ một vài thay đổi sau Đại Hội X của Cọng sản nhưng cá nhân tôi chắc chắn không có gì mới lạ. Chỉ là chuyện xay vần nội bộ của tập đoàn Cọng sản, thay đổi nhân sự luân phiên nắm quyền cai trị. Trước sau gì cũng những bộ mặt quen thuộc trong bộ chính trị, phe nầy đã no đủ rồi thì nhường chỗ cho phái kia đến phiên nhảy lên vơ vét. Đàng nào cũng những bộ mặt thiếu khả năng, tham lam vô độ trong đảng Cọng sản lên nắm bộ máy độc tài tham nhũng, trước sau gì cũng đưa dân tộc Việt Nam vào con đường đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Họa chăng sẽ có một vài thay đổi nho nhỏ vá víu hầu tìm con đường sống, nhưng cốt lỏi Cọng Sản vẫn là Cọng Sản. Mà đã là Cọng Sản thì không bao giờ có thể hòa giải hòa hợp, chung vai sát cánh với Tự Do. Giữa hai đối thủ chỉ con đường độc nhất là ‘Một Mất Một Còn’, đó là điều khẳng định như đinh đóng cột. Điều mong ước ngày đêm của chúng tôi là một cuộc thanh toán nội bộ, không ồn ào không đổ máu, nhanh chóng và hiệu quả như một cuộc cách mạng xanh mà Liên sô cũng như các xứ Đông Âu cũ đã làm.

Đinh Lâm Thanh

April 17, 2008

Kinh nghiệm hòa giải hòa hơp với csvn 1968-75

Filed under: hòa giải hòa hợp, ngày 30/4 đen — tudo @ 2:06 am

Kinh nghiệm hòa giải hòa hơp với csvn 1968-75

TinParis . Lý chánh Trung là một người CS nằm vùng trong GH Thiên chúa Giáo. Xin quý vị đừng cho y là một người theo đạo Thiên Chúa nhưng đường lối Dân Tộc.Khi dùng chữ sai, ý nghĩa có khác. Chúng ta nên nhớ điều đó. Chính ngay Gs Nguyễn ngọc Huy, lúc đó còn không biết LCT là ai , nên mới tham dự cuọc Hội Thảo nầy.

Trong cuộc hội-thảo về vấn-đề Hoà-Giải Dân-Tộc do Hội PAX ROMANA tổ-chức tại Nhà Thờ Tân-Định ngày 21-4-1974,Giáo-Sư Lý Chánh Trung,với tư-cách thuyết-trình-viên trong cuộc hội-thảo đã đặt ra ba câu hỏi:

1. Tại sao phải Hoà-Giải?
2. Hoà-giải với ai?
3. Làm thế nào để đi đến Hoà-Giải?

Vì thì giờ dành cho mỗi tham-luận-viên quá ngắn,mỗi người chỉ phát-biểu có 8 phút,nên Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Huy đã dùng trọn phần thời-gian này để trả lời câu hỏi thứ ba,câu quan-trọng hơn hết.Sau đây là nguyên-văn phần tham-luận của Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Huy.
*****

Chúng tôi chỉ xin đóng góp ý-kiến về câu hỏi thứ ba mà Giáo-Sư Lý Chánh Trung đặt ra là “Làm cách nào để đi đến sự Hoà-Giải?” vì những lý-do sau đây:

1.Về hai câu hỏi trên,là “Tại sao phải hoà-giải?” và “Hoà-giải với ai?” chắc là không có sự khác-biệt bao nhiêu giữa những người tham-dự cuộc hội-thảo này.

2.Câu hỏi thứ ba là câu hỏi quan-trọng và thiết-yếu hơn hết nên chúng tôi xin để phần thì giờ dành cho tham-luận-viên vào việc khai-triển câu trả lời cho đầy đủ.

Chúng tôi nghĩ rằng muốn trả lời câu hỏi thứ ba này,trước hết,chúng ta phải tìm xem những trở-lực cho sự hoà-giải ở chỗ nào.Có thấy những trở -lực đó rồi,chúng ta mới có thể tìm cách phá tan nó để thực-hiện sự hoà-giải được.
Trái với quan-niệm của một số người,chúng tôi nghĩ rằng hiện nay,trở-lực đó không phải do các cường-quốc đã và đang can-thiệp vào vấn-đề Việt-Nam mà ra.Giữa Huê-Kỳ với Nga-Sô và giữa Huê-Kỳ với Trung-Cộng,đang có xu-hướng hoà-giải và việc vãn-hồi hoà-bình ở Đông Dương nằm trong khuôn-khổ của sự hoà-giải đó.Trong thực-tế,các cường-quốc nói trên đây đã phải giảm bớt rất nhiều việc cung-cấp võ-khí và đạn dược cho các phe lâm-chiến trong vùng này.

Vậy, trở-lực chính cho sự hoà-giải hiện ở phiá người Việt-Nam chúng ta nhiều hơn.

Xét tình-thế các nước bị chia đôi,phân nửa nằm trong tay cộng-sản,phân nửa nằm trong tay những người không Cộng-sản,chúng ta có thể nhận thấy rằng chiến-tranh giữa hai bên do phe cộng-sản gây ra chớ không phải do phe không cộng-sản và phe cộng-sản chỉ gây chiến khi họ thấy rằng họ mạnh hơn phe không cộng-sản.
Ở nước Đức,phe cộng-sản yếu hơn phe không cộng-sản nên hai bên đã sống yên-ổn với nhau cho đến ngày nay.

Ở Triều-Tiên,lúc đầu phe cộng-sản ở Bắc Hàn mạnh hơn nên mở trận chiến-tranh xâm-lăng Nam Hàn.Đến khi bị đẩy lui về phiá bắc vĩ-tuyến 38 và thấy Nam Hàn có lực-lương tương-đương với mình,họ mới để cho Nam Hàn yên.

Ở Việt -Nam,cộng-sản Bắc Việt cũng cho rằng họ mạnh hơn phe không Cộng-sản.Bởi đó,họ cố gắng tranh-đoạt chánh-quyền Miền Nam Việt Nam bằng cách tổ- chức Mặt Trận Giải-Phóng,và sau này,còn mang cả quân-lực của họ từ Miền Bắc đánh vào Miền Nam Việt Nam..

Việc ký-kết Hiệp-Định Paris chưa chấm dứt chủ-trương thôn-tính Miền Nam Việt Nam của họ,vì họ nghĩ rằng sau khi Huê-Kỳ rút quân,cán cân lực-lượng quân-sự đã nghiêng về phiá họ.Bởi đó,họ vẫn còn cho xâm-nhập vào Miền Nam Việt Nam rất nhiều cán-binh và võ-khí để tiếp-tục cuộc chiến-tranh.

Với mấy trăm ngàn binh sĩ và một số luơng võ-khí đủ để đánh lớn trong mấy tháng ở Miền Nam Việt Nam,cộng-sản Bắc Việt có thể mở cuộc tấn-công qui-mô như hồi Tết Mậu Thân hay hồi năm 1972.

Người không cộng-sản ở Miền Nam Việt-Nam không thể nào chấp-nhận sự hoà-giải nếu Bắc Việt còn duy-trì một áp-lực quân-sự thường-trực và lớn như hiện nay. Bởi đó,việc rút quân Bắc Việt ra khỏi Miền Nam Việt-Nam là điều tất-yếu cho sự hoà-giải.

Nhung nếu Bắc Việt rút quân thì Mặt Trận Giải-Phóng sẽ còn quá yếu và lo sợ người không cộng-sản sẽ lấn ép và tiêu-diệt họ nên phiá cộng-sản, nếu có chịu rút quân đi nữa, thì cũng chỉ chịu rút khi nào họ tin chắc rằng sau đó, Mặt Trận Giải-Phóng sẽ còn tồn-tại trên chánh-trường Miền Nam Việt-Nam.

Vậy, điều-kiện tất-yếu để có sự hoà-giải là:

1. Phiá người không cộng-sản phải mạnh để cộng-sản hết hy-vọng thôn-tính được Miền Nam Việt-Nam bằng võ-lực và chấp-nhận rút quân Bắc-Việt về Miền Bắc.

2. Mặt khác, phiá người không cộng-sản phải chấp-nhận một chế-độ dân-chủ tự-do và cởi mở để Mặt Trận Giải-Phóng có thể sống yên-ổn trong chánh-trường Miền Nam Việt Nam mà không sợ bị thanh-toán.

Muốn đóng góp vào việc thực-hiện sự hoà-giải dân-tộc,chúng ta cần phải tạo những điều-kiện cần-thiết trên dây cho sự hoà-giải đó. Nhưng chúng ta phải làm việc gì trước?

Hiện nay,một số người chủ-trương hòa-giải đã đặt trọng-tâm vào việc làm áp-lực với chánh-phủ Việt-Nam Cộng-Hoà để đòi-hỏi chánh-phủ Việt-Nam Cộng-Hoà phải nhượng-bộ trước những đòi hỏi của cộng-sản. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một sai lầm chiến-thuật tai-hại vì những lý-do sau đây:

1°) Những người làm như vậy rất dễ bị những người cầm quyền ở Miền Nam Việt-Nam cho là về cánh với cộng-sản,dọn đường cho cộng-sản chiếm Miền Nam Việt-Nam,và chống-báng lại mạnh mẽ.Điều này làm cho phe không cộng-sản ở Miền Nam phân-hoá và yếu sức.Trong tình-thế đó,Cộng-Sản lại càng nhiều hy-vọng chiến-thắng và càng kiên-trì hơn trong ý-định thôn-tính Miền Nam Việt-Nam,chớ không thật-tâm hòa-giải.

2°) Xét cơ-cấu tổ-chức và tình-thế về mọi phương-diện của hai phe cộng-sản và không cộng-sản thì việc làm cho phe không cộng-sản nhượng-bộ tương-đối dễ-dàng hơn việc làm cho phe cộng-sản nhượng-bộ.Khi phe cộng-sản đã thực-sự chấp-nhận hoà-giải rồi thì phe không cộng-sản không thể cưỡng lại áp-lực của nhơn-dân và thế-giới mà từ-khước giải-pháp hòa-giải được.Trái lại,dầu cho phe không cộng-sản đã chấp-nhận sự hòa-giải rồi,chưa chắc ai đã ép được phe cộng-sản chấp-nhận sự hoà-giải,nếu quả-tình họ không muốn.

Trong tình-thế đó,muốn đạt mục-tiêu mong ước:

1°/Trước hết chúng ta phải thực-hiện sự hòa-giải giữa người không cộng-sản với nhau. Người không cộng-sản dầu sao cũng có những quan-niệm căn-bản về đời sống và về chánh-trị như nhau,nếu họ không hòa-giải được với nhau thì còn mong gì hòa-giải với người cộng-sản vốn có những quan-niệm căn-bản về đời sống và về chánh-trị hoàn-toàn khác biệt với mình? Người không cộng-sản hòa-giải với nhau được thì cộng-sản hết hy-vọng khai-thác những cái mà họ gọi là mâu-thuẫn trong hàng ngũ không cộng-sản và bớt tin-tưởng nơi sự thắng-lợi cuối cùng của họ.

2°/ Người không cộng-sản cũng phải hợp-tác nhau để cải-thiện tình-thế về mọi mặt: chánh-trị,xã-hội,kinh-tế để cho Miền Nam Việt-Nam mạnh hơn hiện nay.Việc làm này chỉ có thể thực hiện bằng những cuộc gặp gỡ,tiếp-xúc,trao đổi ý-kiến với nhau trong tinh-thần cởi mở và xây-dựng,chớ không thể thực-hiện bằng sự tố-cáo,bôi lọ,xỉ-vả nhau một cách hằn học và bừa bãi.

3°/Ngoài ra,chúng ta còn phải gây một áp-lực từ dư-luận để đòi hỏi cộng-sản phải rút quân Bắc-Việt ra khỏi Miền Nam Việt-Nam để cho phiá cộng-sản thấy rõ họ không thể nào đặt một giải-pháp trong đó họ có thể giành lấy phần ưu-thế.

4°/ Sau hết,chúng ta phải vận-động cho những người không cộng-sản chấp-nhận dung-nạp Mặt Trận Giải-Phóng như là một lực-lượng chánh-trị có quyền tự-do hoạt-động ở Miền Nam Việt-Nam,nếu họ từ bỏ việc dùng võ-lực để tranh-đoạt chánh-quyền.

Việc rút quân Bắc-Việt ra khỏi Miền Nam Việt-Nam và chấp-nhận quyền tự-do hoạt-động của Mặt Trận Giải-Phóng ở Miền Nam Việt-Nam có thể xem như là những điều-kiện mà hai bên trao đổi với nhau trong tinh-thần tương-nhượng và hai bên đều phải chịu tương-nhượng như vậy thì mới đi đến sự hòa-giải được.

Để kết-thúc bài tham-luận này,chúng tôi xin góp thêm ý-kiến về tánh-chất của sự hoà-giải mà chúng ta có thể đạt được.Điều mà có lẽ mọi người chúng ta ở đây mong muốn là một sự hoà-giải hoàn-toàn,phát-xuất từ tận đáy lòng mỗi người Việt-Nam.

Nhưng thành-thật mà nói,điều này rất khó thực-hiện ngày nào mà người cộng-sản còn cuồng-tín nơi chủ-nghiã của họ và còn xem là kẻ thù không đội trời chung những người không chấp-nhận chế-độ cộng-sản. Việc cải-hoán tâm-hồn người cộng-sản là một việc làm ngoài khả-năng của những người không cộng-sản. Vì đó,cái hoà-giải mà chúng ta có thể đạt được chỉ sẽ là một sự hoà-giải hình-thức bên ngoài, chấm dứt sự chém giết nhau một cách qui-mô, nhưng không chấm dứt được sự thù ghét nhau.

Nhưng mặc dầu không hoàn-mỹ, sự hòa-giải hình-thức đó cũng vẫn hơn là sự tiếp tục chém giết nhau,và dầu sao, chúng ta cũng có thể hy-vọng rằng sau một thời gian dài dặc miễn cưỡng sống chung với nhau một cách hoà-bình,hai bên cộng-sản và không cộng-sản sẽ chịu đựng sự có mặt của nhau một cách dễ dàng và từ bỏ hẳn ý-định dùng võ-lực thanh-toán lẫn nhau.

NGUYỄN NGỌC HUY
(trích DI CẢO IV , từ trang 92 đến 101)

(bản sao đánh máy xong ngày 06/04/2007,duyệt lại ngày 10/04/2007/ndhung)

(trích TinParis)

Hòa Giải

Filed under: hòa giải hòa hợp — tudo @ 2:00 am

Hòa Giải

Giáo sư Nguyễn Văn Canh

Mới đây Võ văn Kiệt nhắc lại cần phải có hòa giải với người Việt hải ngoại. Nhân dịp này, tưởng cũng nên xét xem Kiệt nói gì và cũng nên trình bày quan niệm của các quốc gia Âu Châu đang làm gì để thực hiện thực sự hòa giải dân tộc của họ, ví đó là bài học mẫu cho Việt nam trong tương lai.

HÒA GIẢI DO VÕ VĂN KIỆT ĐỀ NGHỊ

Ngày 7 tháng 12, 06 vừa qua, trả lời phỏng vấn của tờ báo Việt Weekly ở hải ngoại, Võ văn Kiệt kêu gọi: “ hòa giải là quan trọng”;

Muốn như vậy, phải “ngồi lại với nhau”, để làm cho “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.“ Cứ cố chấp với nhau, dân tộc không lớn mạnh lên được
Nguyên do: cần phải hòa giải là “vì dân tộc là tối thượng” và đặc biệt là để giúp cho dân giầu, nước mạnh.

Kiệt biện minh rằng Mỹ và Việt cộng là kẻ thù trước đây, nay đã “khép lại quá khứ” để “hòa bình hữu nghị để cùng nhau phát triển”.

Phương thức hòa giải là “gặp nhau”, và anh em bên ngoài có tiếng nói để xây dựng.
Điều kiện để hòa giải: nói chuyện sòng phẳng với nhau.

Tuy nhiên Kiệt nhấn mạnh rằng những người chống đối chỉ có ít. Nhiều người (hải ngoại) về….. đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt nam; rằng Đảng Cộng sản có công với đất nước và tất cả thể chế đều dựa vào dân và phục vụ nhân dân. Nếu đảng làm được dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì không nhất thiết phải đa đảng.

Đảng đã có vai trò đối với lịch sử của đất nước. Đảng cầm quyền như Đảng CSVN là tin cậy được. Nếu Đảng làm đầy đủ những chuyện đó ( dân giầu, công bằng,dân chủ và văn minh) để ổn định, để phát triển, để thoát nghèo, thì không cần đa đảng.

Phân tích lời tuyên bố của Kiệt.

Tôi đề cập 2 điểm mà Kiệt nêu ra. Đó là khép lại quá khứ và sòng phẳng.

Khép lại quá khứ.

Quá khứ là gì mà kêu gọi khép lại? Đó là những gì đã xảy ra, nhưng làm trở ngại cho tình trạng tốt đẹp theo ý muốn của Đảng Cộng sản, dù đã cầm quyền trên 30 năm ở Miền Nam và quá ½ thế kỷ ở Miền Bắc. Những điều ấy đã gây ra hận thù giữa hai phía: nhà cầm quyền Cộng sản và người Việt ở hải ngoại. Khi nêu vấn đề này, người ta hiểu rằng những tội ác mà Đảng Cộng sản ở vị trí thống trị đã gây ra, nên được bỏ qua, và người Việt hải ngoại thôi, đừng căm thù người Cộng sản nữa.

Những tội ác đó là đấu tố man rợ trong chương trình Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt trước đây; là giết người tập thể hồi Tết Mậu Thân và sau 1975, là đánh tư sản mại bản, tiêu diệt tư sản dân tộc, là cưỡng bách dân đi vùng kinh tế mối, là lập trại tù cải tạo để đầy ải 500,000 quân cán chính Việt nam Cộng Hòa; là buôn bán tị nạn vào thời kỳ cuối 1970 và đầu 1980 nhằm cướp bóc vàng bạc, tài sản của họ, khiến hàng triệu người phải chạy trốn khỏi chế độ tàn bạo của Công sản và làm cho khoảng 300,000 người chết trên biển cả… Vậy, theo Kiệt thì cái quá khứ đau buồn đó nên xóa đi và khép lại để bắt đầu một giai đoạn mói, cùng với Đảng xây dựng một xã hội giầu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh.

Động lực hòa giải là gì?
Đó là giúp cho ổn định về chính trị để Đảng xây dựng đất nước. Những âm mưu diễn tiến hòa bình do đế quốc và “tay sai” đế quốc thực hiện, như thế làm mất ổn định và gây ra khó khăn, cản bước tiến của Đảng trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, vì có cản trở này mà hơn 30 năm qua ( tại Miền nam) Đảng chưa đạt được mục tiêu là dân giầu nước mạnh xã hội công bằng và văn minh, dù đã được quốc tế viện trợ gần 40 tỉ Mỹ Kim, hơn 20 tỉ MK do tị nạn gửi về, và chừng 50 tỉ MK ngoại quốc đầu tư. Đảng cần khoảng 140 tỉ MK nữa mới được. Ổn định có nghĩa là đừng chống lại Đảng và mặt khác là kêu gọi tị nạn hợp tác bằng cách mang tiền của và chất xám về giúp Đảng để hoàn thành mục tiêu của xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1986, Đảng đã ý thức rằng người Việt ở hải ngoại có một tiềm năng lớn nghĩa là có nhiều tiền. Năm ngoái hơn 2 triệu người Việt hải ngoại gửi về Việt nam khoảng 4 tỉ Mỹ Kim. Đảng đã thiết lập Cơ Quan phụ trách người Việt ở nước ngoài với nhiều chương trình, hoạt động thu hút họ về giúp Đảng nhiều hơn nữa. Võ văn Kiệt nói rằng chỉ có một ít người cực đoan chống đối, làm hại cho đất nước. Càng ngày càng có nhiều người về tham gia vào lãnh vực này hay lãnh vực khác về kinh tế, văn hóa, rồi kỹ thuật, đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt nam.

Khép lại quá khứ như vậy là để anh em bên ngoài có tiếng nói xây dựng. Mỗi người đều có trách nhiệm của mình; dân tộc là của chung, không phải là của riêng người cầm quyền hiện giờ.

Tuy nhiên, trong lãnh vực chính trị, Kiệt nhấn mạnh rằng cần phải có ổn định, cần tập hợp được sức mạnh của dân tộc, phải đại đoàn kết, như vậy có nghĩa là dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kiệt nói rõ rằng không cần có đa đảng mới có thể giầu mạnh, khi đề cao Đảng Cộng sản hoạt động vì dân tộc, vì đoàn kết của dân tộc; Đảng dựa vào dân và phục vụ nhân dân. “Nếu Đảng làm đầy đủ mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh thì Đảng CSVN tín cậy được, không nhất thiết phải đa đảng mới xây dựng được đất nước của mình. Một Đảng mà làm đầy đủ hết mấy điều này, tôi nghĩ là được.” Kiệt còn nói trắng ra rằng vì dân tộc, đảng đã có công với đất nước. Vì có công đó, “thì 3 triệu Đảng viên phải có chỗ đứng trong xã hội.”

Kiệt nhắc tới 19 lần chữ ‘dân tộc’ khi trả lời vài câu hỏi ngắn, và cũng như Hồ chí minh đã dùng chiêu bài dân tộc để lôi cuốn mọi người vào chiến đấu cho mục tiêu của Đảng.

Để biện minh là cần để cho “quá khứ qua đi”, Kiệt so sánh việc Mỹ và VC “khép lại quá khứ” Để làm gì:? “để hợp tác với nhau, cùng phát triển.”

Vậy nếu Mỹ không khép lại quá khứ, thì Mỹ sẽ không phát triển được và bị tụt hậu hay sao? Ngoài ra, tôi không biết kiến thức của Kiệt ở mức nào khi so sánh Mỹ và VC với hai bộ phận người Việt (hải ngoại và chính quyền VC) trong trường hợp này?
Không biết rằng Mỹ khép lại quá khứ hay VC khép lại quá khứ? Người ta biết rằng truớc khi được ký Thỏa Hiệp Thương Mại bình thường vào năm 2001 và nhất là trước khi Mỹ cho VC vào Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế, VC phải nhẫn nhục, đeo đẳng trong 12 năm Mỹ mới cho vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới ấy. VC đã phải chạy đua với thời gian: cam kết giải tán dần các lãnh vực quốc doanh mà Đảng độc quyền, giải tán các đại công ti mà Đảng làm chủ. Năm 2005 và 2006, Quốc hội VC phải sửa đổi hay làm ra hàng trăm đạo luật theo đòi hỏi của Mỹ. Các đòi hỏi đó làm cho thương thuyết gia VC phải kêu trời rằng “quá mức” và “quá khó khăn, bắt ép nhiều quá.” Cụ thể thì vì tuân theo các đòi hỏi của Mỹ, cán cân mậu dịch của VC vào năm 2005 được lợi hơn 5 tỉ MK. Nếu nói ngược lại, thì Mỹ thua hơn 5 tỉ. Như vậy là Mỹ hợp tác với VC để được cùng phát triển với VC hay ngược lại?

Kiệt còn nói quá trình đấu tranh của người Cộng sản là vì đất nước, dân tộc trên hết, không vì “bạn bè”. Vậy câu hỏi là tại sao Đảng Cộng sản: nhượng đất cho ngoại bang qua các hiệp ước trên bộ với 5 dãy núi tại huyện Yên Minh và Vị Xuyên, Hà Giang , và 2 dãy núi tại huyện Tràng Định và khu vực Bình Độ 400 thuộc huyện Cao Lộc, Lạng sơn? Không vì bạn bè thì tại sao Đảng CS đã hiến dâng cho Ngoại Bang 11, 000 cây số vuông trong Vịnh Bắc Việt, cho ngoại bang vào khai thác tài nguyên trong Vịnh, chưa kể đến việc ngoại bang vào trong nội lãnh hải bắn giết ngư dân Việt nam? Tại sao Đảng cho ngoại bang cùng khai thác dầu khí trên Biển Đông và đây là một hình thức nhượng ½ lãnh hải cho ngoại bang? Như vậy có phải là vì dân tộc hay vì bạn bè trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Sòng phẳng:

Kiệt nhấn mạnh tới điều kiện “sòng phẳng” khi “gặp nhau” để làm yên lòng người Việt hải ngoại., “không nên cố chấp, vì như thế là làm hại cho đất nước, dân tộc không lớn mạnh lên được”. Thế nào là sòng phẳng và Ai sòng phẳng với ai? Sòng phẳng là ngay thẳng, không lừa dối, ngồi ngang hàng đối thoại tìm ra giải pháp mà hai bên thấy công bằng. Trường hợp này, tị nạn đi về đầu tư phải tuân theo qui định kể cả các tráo trở của VC. Họ không ở vị trí có thể lừa chính quyền VC được, vì tị nạn không có quyền lực gì để mà thương thảo, để nói dối hay lừa gạt. Tị nạn chỉ có một quyền duy nhất là “mang tiền của hay chất xám về đầu tư ”, một điều mà VC rất cần, và vì thế VC mới nêu vấn đề hòa giải. Vậy, VC phải tỏ ra sòng phẳng vì nắm quyền hành trong tay hay nói khác đi ‘nắm con dao đằng chuôi, tị nạn cầm đằng lưỡi.’

Có lẽ cũng nói về vấn đề sòng phẳng, vậy câu hỏi là trong Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Kỳ IV vừa qua, Đảng Cộng Sản vẫn kiên quyết tiến lên xã hội chủ nghĩa, vẫn kiên quyết giữ nguyên quyền hành độc đảng và không thay đổi thể chế và vẫn giữ lề lối nguyên sinh hoạt của mình.Và câu hỏi là vẫn giữ nguyên trạng thì Đảng có toàn quyền như đã cướp tiền của tị nạn Trịnh vĩnh Bình ở Hòa Lan. Khi nước này bênh vực công dân của họ trong vụ kiện CHXHCNVN đòi bồi thường thiệt hại vì vụ ăn cướp này và đã thắng kiện. Câu hỏi là Nhà Nước CHXHCNVN đả trả số tiền lên đến hàng trăm triệu MK cho Trịnh vĩnh Bình chưa? Phải trả tiền cho nạn nhân mới là sòng phẳng!

Khi làm Thủ tướng ký nghị định CP/31 cho phép các cơ quan chính quyền địa phương bắt giam người vô tội vạ và giam tù người mà Đảng không thích trong một thời gian dài. Nay, Kiệt bị hất ra khỏi chính quyền thì kêu gọi hòa giải, nghĩa là không có quyền hành gì mà đòi hòa giải và hòa giải bằng cách nào? Bao nhiêu người bị bắt giam vì Nghị định này. Quốc tế phẫn nộ vì óc thủ cựu, bảo thủ muốn giữ độc quyền cai trị cho Đảng mà ban hành nghị định đó.

Rồi Đảng kêu gọi khép lai quá khứ, nghĩa là Đảng kêu gọi tị nạn làm như vậy, còn Đảng thì được miễn hay sao? Đất nước là của chung và tị nạn được quyền góp ý, đươc có tiếng nói xây dựng như Kiệt nói. Vậy làm sao góp ý hay “ có tiếng nói” được, khi Đảng cố chấp và còn biết bao nhiêu người còn bị tù và bị quản chế vì sự góp ý của mình. Ngoài ra, Đảng còn mang cả nhà nước CHXHCNVN đòi Mã Lai, Nam Dương phá hủy các đài kỷ niệm của tị nạn, dù các đài ấy nằm tại các đảo hoang vu của các quốc gia này. Con người “văn minh” không làm như Đảng CSVN làm. Vậy, Đảng không sòng phẳng hòa giải với cả nhưng vật vô tri như các đài kỷ niêm này thì làm sao hòa giải với người Việt hải ngoại?

Vừa mới đây, Đảng cũng không sòng phẳng để hòa giải với các người đã chết như xóa bỏ nghĩa trang quân đội VNCH ở Biên Hòa. Nghĩa trang ấy là vết tích của chiến tranh, do Việt nam Cộng Hòa xây để an táng những người đã bỏ mình cho chính nghĩa của dân tộc. Như vậy Đảng vẫn nhớ, vẫn còn “căm thù” những người Miền Nam khi còn sống đã chống Đảng dù nay họ đã nằm xuống. Đảng đã không quên những người ấy, dù họ nằm yên nghỉ dưới các nấm mồ, dù họ không có cách gì chống lại Đảng được. Mà thật là vô cùng nhẫn tâm khi Đảng cho dẹp nghĩa trang đó với danh nghĩa “dân sự hóa” để xây dựng một khu du lịch hay thiết lập một khu kinh tế kiếm lời!

Khi mời gọi tị nạn về hợp tác, Kiệt nhấn mạnh rằng “đất nước là của chung, không phải là của chính quyền hiện hữu, và đây là cơ hội cho “người hải ngoại có tiếng nói xây dựng.”

Vậy có 2 điều được nêu ra::

1. Tại sao kêu gọi người Việt hải ngoại ngồi nói chuyện (có vẻ như ngang bằng với chính quyền VC), cho người hải ngoại “có tiếng nói để xây dựng” trong khi đó người trong nước thì không, và còn bị đàn áp. ? Đó là các nhà tu kêu gọi Đảng là cho tự do hành đạo; các nhà báo nói với Đảng cho tự do ngôn luận, tự do báo chi; các người yêu tự do dân chủ kêu gọi có dân chủ; có người gửi đơn đến Đảng xin lập hội; còn dân oan nằm ngủ la liệt, có khi hàng năm ở vường hoa Mai xuân Thưởng nói với Đảng về tài sản đất đai của họ bị cướp đoạt trái phép hoặc đòi hỏi bồi thường đúng mức, nghĩa là công bằng xã hội; công nhân thì nói về áp bức và bóc lột của chủ nhân ngoại quốc, có sư đồng lõa của Đảng… Tất cả đều có tiếng nói xây dựng theo những gì mà Đảng tuyên bố công khai và mục đích là để tiến tới xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.Và tất cả đều bị đàn áp một cách thẳng tay, dù không có ai gây ra xáo trộn. Họ có làm gì gây bất ổn đâu.

2. Để hòa giải với người Việt hải ngoại, Đảng phải hòa giải với nhân dân trong nuớc trước đã. Tại sao không hòa giải với các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Hội trửơng Hòa Hảo Lê quang Liêm , các chức sắc Hòa Hỏa, Cao Đài, các Linh mục Nguyễn văn Lý, Nguyễn hữu Giải, Phan văn Lợi và các thành viên khối 8406, các mục sư Tin Lành, với Bác sĩ Nguyễn đan Quế, với hiệp hội đoàn kết công nông, Ls Lê thị Công Nhân., Ls Nguyễn văn Đài, nhà báo Nguyễn vũ Bình, luật gia Lê chí Quang, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, với hội Dân Oan, với BS Phạm hồng Sơn, nhà báo Nguyễn vũ Bình v.v. Cũng phải hòa giải với các người mà Cộng sản tịch thu ruộng đất và đất đai của họ một cách bất công, v.v.?

Tóm lại về thực chất thì hòa giải của Kiệt là kêu gọi người Việt hải ngoại mang tiền của về giúp VC, dù Kiệt nhân danh dân tộc, vì dân tộc, nên xóa bỏ hận thù, hãy để quá khứ qua đi để hòa giải với nhau. Như thế là thực hiện đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng trong mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa y như Hồ chí Minh đã đánh lừa cả dân tộc về vấn đề này. Những gì mà Kiệt nêu ra chỉ là lừa bịp những người hoặc là nhẹ dạ hoặc là ngu tối, y như trước kia đã có biết bao nhiêu người bị Hồ chí Minh nêu những chiêu bài dân tốc đó để đánh lừa.

HÒA GIÀI CỦA CỘNG ĐẦNG ÂU CHÂU VỚI NGHỊ QUYẾT 1096

Bây giời tôi nói tới biện pháp hòa giải của Cộng Đồng Âu Châu qua NQ 1096 mà các quốc gia cựu cộng sản Âu Châu đã và đang áp dụng.

Ngoài việc NQ 1096 đòi hỏi phải cải tổ toàn thể hệ thống để hủy diệt các di sản của tội ác do Cộng sản để lại, các quốc gia cựu cộng sản hay cựu độc tài phải thực thi một số công tac như sau:

-Tại Đông Ấu, người ta đã và đang truy tố các thủ phạm là Cộng sản đã phạm các tội ác như giết người và cướp tài sản của dân làm tài sản riêng của mình. Truy tố các thủ phạm phải đi đôi với phục hoạt đối vơi những người mà chính quyền Cộng sản đã kết án về những tội mà các xã hội văn minh không coi là hình sự; và phục hoạt cả cho những người bị kết án bất công và bồi thường thiệt hại và phục hồi nhân phẩm những người đó.

-Một biện pháp khác mà Ba Lan, Đức quốc, Lỗ Mã Ni …đang làm là mở các hồ sơ mật của những người trước kia đã làm mật vụ cho Cộng sản. Họ đã moi ra các giám mục, linh mục, các bác sĩ, nhà văn, giáo sư, luật sư v.v. và phơi bày tên của những người này cho công chúng biết. Vài tuần lễ mới đây, trường hợp Hồng Y Stanislaw Weilgus phải từ chức Tổng Giám Mục Giáo phận Cracow vì đã làm điểm chỉ viên cho Đảng Cộng sản từ thập niên 1960. Tại Đức, quốc gia này đã thu thập được một danh sách dài của những người làm mật vụ cho Cộng sản: Đến nay đã có 91,000 mật vụ viên được nêu tên và và 300,000 điểm chỉ viên cho Cộng sản Đông Đức.Phơi bày các hồ sơ ấy là đoạn tuyết với quá khứ hay nói khác đi là “để quá khứ qua đi”, khép lại quá khứ như ngôn từ của Kiệt và như thế tiến tới hòa giải thực sự.

-Trả lại tài sản của tư nhân, kể cả của tôn giáo mà cán bộ CS đã cướp của dân hay đã tịch thu bất công trước đây hay bị truất hữu, quốc hữu hóa dưới thời cộng sản trên nguyên tắc phải được giao hoàn nguyên vẹn cho chân chính sở hữu chủ nếu có thể được. Nếu không phải bồi thường cho công bằng.

-Tại Tây Ban Nha, người ta cho phá hủy tất cả những biểu tượng trưng bày tại các nơi công cộng như các tượng lãnh tụ Franco được dựng tại các nơi công cộng như công viên do chính quyền Sapatero thiên tả ở xứ này đã làm như vậy cách đây mấy tháng, dù chế độ Fanco không phải là độc tài toàn trị như độc tài Công sản.
Lý do cắt nghỉa cho việc này là các cay đắng và hận thù đó còn âm ỷ mãi mãi và như vậy làm sao hòa giải trong óc người dân, trong trí óc nạn nhân hay các thân nhân, mỗi khi ra đường họ trông thấy các biểu tượng đó?

Tôi nói rằng đây là giải pháp mà các quốc gia cựu cộng sản tại Âu Châu đang thực hiện để thực hiện hòa giải thực sự trong xã hội của họ. Chính Quốc Hội Âu Châu qua nghị quyết 1096 đã đòi hỏi và các quốc gia cựu cộng sản Đông Âu đang áp dụng giải pháp ấy.

Việt nam cũng sẽ đáp ứng lời kêu gọi chiếu theo điều 14 của Nghị quyết 1481. Điều 14 kêu gọi sưu tầm các tôi ác của vài chế độ hiện còn theo chủ nghĩa độc tài toàn trị như CHXHCNVN, để rồi tiến tới thực hiện hòa giải dân tộc trong nội bộ các quốc gia này bằng cách hủy diệt tất cả di sản tội ác do Công sản gây ra như qui định trong NQ 1096. Rồi đây tại Việt nam các biểu tượng như tượng Lênin đặt tại vườn hoa Canh Nông, Hà nội; lăng Hồ chí Minh tại Ba Đình.cũng phải phá hủy. Làm sao hòa giải được khi mà các nạn nhân còn sống hay con cháu họ nhìn thấy các biểu tượng hận thù đó đứng sờ sờ trước mắt ? Linh hồn các nạn nhân gồm hơn 2 triệu người đã chết bằng nhiều hình thức do VC gây ra đâu có siêu thoát được. Con cháu của những nạn nhân đã chết dĩ nhiên còn ngậm ngùi cay đắng về hành vi tội ác có tính cách man rợ của chế độ toàn trị này gây ra trong suốt thời kỳ mà Đảng cộng sản Việt nam đấu tranh và cầm quyền. Các biểu tượng của tội ác hàng ngày gợi trong óc họ khi phải chứng kiến và nay khêu gợi lại các cảnh những người vô sản giết người khi nắm chímh quyền và cướp đoạt tài sản của họ, chia cho các đảng viên; và các người cách mạng vô sản này lại nhân danh dân tộc, vì dân tộc như Võ văn Kiệt rao giảng.. Họ trở nên giầu có mọt cách bất chính. Có đứa như Đỗ Mười, một vô sản thuần túy, lấy tiền đâu ra mà lại bỏ ra 1 triệu dollars cho quĩ giáo dục. Có đứa lấy hơn 7 triệu MK, công quĩ là tiền viện trợ, đi đánh bạc, nhưng bị thua. Con cháu của chúng lấy máy bay đi Hồng Kông đánh bạc, ăn chơi đàng điếm, mỗi tối thua hay chi tiêu hàng trăm ngàn MK. Vậy cần có biện pháp thích đáng áp dụng đối với họ để mang lại công bằng xã hội mà chính người cộng sản to mồm kêu gọi.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam cũng sẽ phải trải qua tiến trình này. Ngày đó không còn bao xa

(vnExo)

April 11, 2008

Kinh nghiệm hòa giải hòa hơp với csvn 1968-75

Filed under: hòa giải hòa hợp, Tài liệu — tudo @ 9:16 pm

Kinh nghiệm hòa giải hòa hơp với csvn 1968-75

TinParis . Lý chánh Trung là một người CS nằm vùng trong GH Thiên chúa Giáo. Xin quý vị đừng cho y là một người theo đạo Thiên Chúa nhưng đường lối Dân Tộc.Khi dùng chữ sai, ý nghĩa có khác. Chúng ta nên nhớ điều đó. Chính ngay Gs Nguyễn ngọc Huy, lúc đó còn không biết LCT là ai , nên mới tham dự cuọc Hội Thảo nầy.

Trong cuộc hội-thảo về vấn-đề Hoà-Giải Dân-Tộc do Hội PAX ROMANA tổ-chức tại Nhà Thờ Tân-Định ngày 21-4-1974,Giáo-Sư Lý Chánh Trung,với tư-cách thuyết-trình-viên trong cuộc hội-thảo đã đặt ra ba câu hỏi:

1. Tại sao phải Hoà-Giải?
2. Hoà-giải với ai?
3. Làm thế nào để đi đến Hoà-Giải?

Vì thì giờ dành cho mỗi tham-luận-viên quá ngắn,mỗi người chỉ phát-biểu có 8 phút,nên Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Huy đã dùng trọn phần thời-gian này để trả lời câu hỏi thứ ba,câu quan-trọng hơn hết.Sau đây là nguyên-văn phần tham-luận của Giáo-Sư Nguyễn Ngọc Huy.
*****

Chúng tôi chỉ xin đóng góp ý-kiến về câu hỏi thứ ba mà Giáo-Sư Lý Chánh Trung đặt ra là “Làm cách nào để đi đến sự Hoà-Giải?” vì những lý-do sau đây:

1.Về hai câu hỏi trên,là “Tại sao phải hoà-giải?” “Hoà-giải với ai?” chắc là không có sự khác-biệt bao nhiêu giữa những người tham-dự cuộc hội-thảo này.

2.Câu hỏi thứ ba là câu hỏi quan-trọng và thiết-yếu hơn hết nên chúng tôi xin để phần thì giờ dành cho tham-luận-viên vào việc khai-triển câu trả lời cho đầy đủ.

Chúng tôi nghĩ rằng muốn trả lời câu hỏi thứ ba này,trước hết, chúng ta phải tìm xem những trở-lực cho sự hoà-giải ở chỗ nào. Có thấy những trở -lực đó rồi,chúng ta mới có thể tìm cách phá tan nó để thực-hiện sự hoà-giải được.
Trái với quan-niệm của một số người,chúng tôi nghĩ rằng hiện nay,trở-lực đó không phải do các cường-quốc đã và đang can-thiệp vào vấn-đề Việt-Nam mà ra.Giữa Huê-Kỳ với Nga-Sô và giữa Huê-Kỳ với Trung-Cộng,đang có xu-hướng hoà-giải và việc vãn-hồi hoà-bình ở Đông Dương nằm trong khuôn-khổ của sự hoà-giải đó.Trong thực-tế,các cường-quốc nói trên đây đã phải giảm bớt rất nhiều việc cung-cấp võ-khí và đạn dược cho các phe lâm-chiến trong vùng này.

Vậy, trở-lực chính cho sự hoà-giải hiện ở phiá người Việt-Nam chúng ta nhiều hơn.

Xét tình-thế các nước bị chia đôi,phân nửa nằm trong tay cộng-sản,phân nửa nằm trong tay những người không Cộng-sản,chúng ta có thể nhận thấy rằng chiến-tranh giữa hai bên do phe cộng-sản gây ra chớ không phải do phe không cộng-sản và phe cộng-sản chỉ gây chiến khi họ thấy rằng họ mạnh hơn phe không cộng-sản.
Ở nước Đức,phe cộng-sản yếu hơn phe không cộng-sản nên hai bên đã sống yên-ổn với nhau cho đến ngày nay.

Ở Triều-Tiên, lúc đầu phe cộng-sản ở Bắc Hàn mạnh hơn nên mở trận chiến-tranh xâm-lăng Nam Hàn.Đến khi bị đẩy lui về phiá bắc vĩ-tuyến 38 và thấy Nam Hàn có lực-lương tương-đương với mình, họ mới để cho Nam Hàn yên.

Ở Việt -Nam,cộng-sản Bắc Việt cũng cho rằng họ mạnh hơn phe không Cộng-sản.Bởi đó,họ cố gắng tranh-đoạt chánh-quyền Miền Nam Việt Nam bằng cách tổ- chức Mặt Trận Giải-Phóng,và sau này,còn mang cả quân-lực của họ từ Miền Bắc đánh vào Miền Nam Việt Nam..

Việc ký-kết Hiệp-Định Paris chưa chấm dứt chủ-trương thôn-tính Miền Nam Việt Nam của họ,vì họ nghĩ rằng sau khi Huê-Kỳ rút quân,cán cân lực-lượng quân-sự đã nghiêng về phiá họ.Bởi đó,họ vẫn còn cho xâm-nhập vào Miền Nam Việt Nam rất nhiều cán-binh và võ-khí để tiếp-tục cuộc chiến-tranh.

Với mấy trăm ngàn binh sĩ và một số luơng võ-khí đủ để đánh lớn trong mấy tháng ở Miền Nam Việt Nam,cộng-sản Bắc Việt có thể mở cuộc tấn-công qui-mô như hồi Tết Mậu Thân hay hồi năm 1972.

Người không cộng-sản ở Miền Nam Việt-Nam không thể nào chấp-nhận sự hoà-giải nếu Bắc Việt còn duy-trì một áp-lực quân-sự thường-trực và lớn như hiện nay. Bởi đó, việc rút quân Bắc Việt ra khỏi Miền Nam Việt-Nam là điều tất-yếu cho sự hoà-giải.

Nhung nếu Bắc Việt rút quân thì Mặt Trận Giải-Phóng sẽ còn quá yếu và lo sợ người không cộng-sản sẽ lấn ép và tiêu-diệt họ nên phiá cộng-sản, nếu có chịu rút quân đi nữa, thì cũng chỉ chịu rút khi nào họ tin chắc rằng sau đó, Mặt Trận Giải-Phóng sẽ còn tồn-tại trên chánh-trường Miền Nam Việt-Nam.

Vậy, điều-kiện tất-yếu để có sự hoà-giải là:

1. Phiá người không cộng-sản phải mạnh để cộng-sản hết hy-vọng thôn-tính được Miền Nam Việt-Nam bằng võ-lực và chấp-nhận rút quân Bắc-Việt về Miền Bắc.

2. Mặt khác, phiá người không cộng-sản phải chấp-nhận một chế-độ dân-chủ tự-do và cởi mở để Mặt Trận Giải-Phóng có thể sống yên-ổn trong chánh-trường Miền Nam Việt Nam mà không sợ bị thanh-toán.

Muốn đóng góp vào việc thực-hiện sự hoà-giải dân-tộc,chúng ta cần phải tạo những điều-kiện cần-thiết trên dây cho sự hoà-giải đó. Nhưng chúng ta phải làm việc gì trước?

Hiện nay,một số người chủ-trương hòa-giải đã đặt trọng-tâm vào việc làm áp-lực với chánh-phủ Việt-Nam Cộng-Hoà để đòi-hỏi chánh-phủ Việt-Nam Cộng-Hoà phải nhượng-bộ trước những đòi hỏi của cộng-sản. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một sai lầm chiến-thuật tai-hại vì những lý-do sau đây:

1°) Những người làm như vậy rất dễ bị những người cầm quyền ở Miền Nam Việt-Nam cho là về cánh với cộng-sản,dọn đường cho cộng-sản chiếm Miền Nam Việt-Nam,và chống-báng lại mạnh mẽ.Điều này làm cho phe không cộng-sản ở Miền Nam phân-hoá và yếu sức.Trong tình-thế đó,Cộng-Sản lại càng nhiều hy-vọng chiến-thắng và càng kiên-trì hơn trong ý-định thôn-tính Miền Nam Việt-Nam,chớ không thật-tâm hòa-giải.

2°) Xét cơ-cấu tổ-chức và tình-thế về mọi phương-diện của hai phe cộng-sản và không cộng-sản thì việc làm cho phe không cộng-sản nhượng-bộ tương-đối dễ-dàng hơn việc làm cho phe cộng-sản nhượng-bộ.Khi phe cộng-sản đã thực-sự chấp-nhận hoà-giải rồi thì phe không cộng-sản không thể cưỡng lại áp-lực của nhơn-dân và thế-giới mà từ-khước giải-pháp hòa-giải được.Trái lại,dầu cho phe không cộng-sản đã chấp-nhận sự hòa-giải rồi,chưa chắc ai đã ép được phe cộng-sản chấp-nhận sự hoà-giải,nếu quả-tình họ không muốn.

Trong tình-thế đó,muốn đạt mục-tiêu mong ước:

1°/Trước hết chúng ta phải thực-hiện sự hòa-giải giữa người không cộng-sản với nhau. Người không cộng-sản dầu sao cũng có những quan-niệm căn-bản về đời sống và về chánh-trị như nhau,nếu họ không hòa-giải được với nhau thì còn mong gì hòa-giải với người cộng-sản vốn có những quan-niệm căn-bản về đời sống và về chánh-trị hoàn-toàn khác biệt với mình? Người không cộng-sản hòa-giải với nhau được thì cộng-sản hết hy-vọng khai-thác những cái mà họ gọi là mâu-thuẫn trong hàng ngũ không cộng-sản và bớt tin-tưởng nơi sự thắng-lợi cuối cùng của họ.

2°/ Người không cộng-sản cũng phải hợp-tác nhau để cải-thiện tình-thế về mọi mặt: chánh-trị,xã-hội,kinh-tế để cho Miền Nam Việt-Nam mạnh hơn hiện nay.Việc làm này chỉ có thể thực hiện bằng những cuộc gặp gỡ,tiếp-xúc,trao đổi ý-kiến với nhau trong tinh-thần cởi mở và xây-dựng,chớ không thể thực-hiện bằng sự tố-cáo,bôi lọ,xỉ-vả nhau một cách hằn học và bừa bãi.

3°/Ngoài ra,chúng ta còn phải gây một áp-lực từ dư-luận để đòi hỏi cộng-sản phải rút quân Bắc-Việt ra khỏi Miền Nam Việt-Nam để cho phiá cộng-sản thấy rõ họ không thể nào đặt một giải-pháp trong đó họ có thể giành lấy phần ưu-thế.

4°/ Sau hết,chúng ta phải vận-động cho những người không cộng-sản chấp-nhận dung-nạp Mặt Trận Giải-Phóng như là một lực-lượng chánh-trị có quyền tự-do hoạt-động ở Miền Nam Việt-Nam,nếu họ từ bỏ việc dùng võ-lực để tranh-đoạt chánh-quyền.

Việc rút quân Bắc-Việt ra khỏi Miền Nam Việt-Nam và chấp-nhận quyền tự-do hoạt-động của Mặt Trận Giải-Phóng ở Miền Nam Việt-Nam có thể xem như là những điều-kiện mà hai bên trao đổi với nhau trong tinh-thần tương-nhượng và hai bên đều phải chịu tương-nhượng như vậy thì mới đi đến sự hòa-giải được.

Để kết-thúc bài tham-luận này,chúng tôi xin góp thêm ý-kiến về tánh-chất của sự hoà-giải mà chúng ta có thể đạt được. Điều mà có lẽ mọi người chúng ta ở đây mong muốn là một sự hoà-giải hoàn-toàn, phát-xuất từ tận đáy lòng mỗi người Việt-Nam.

Nhưng thành-thật mà nói,điều này rất khó thực-hiện ngày nào mà người cộng-sản còn cuồng-tín nơi chủ-nghiã của họcòn xem là kẻ thù không đội trời chung những người không chấp-nhận chế-độ cộng-sản. Việc cải-hoán tâm-hồn người cộng-sản là một việc làm ngoài khả-năng của những người không cộng-sản. Vì đó, cái hoà-giải mà chúng ta có thể đạt được chỉ sẽ là một sự hoà-giải hình-thức bên ngoài, chấm dứt sự chém giết nhau một cách qui-mô, nhưng không chấm dứt được sự thù ghét nhau.

Nhưng mặc dầu không hoàn-mỹ, sự hòa-giải hình-thức đó cũng vẫn hơn là sự tiếp tục chém giết nhau,và dầu sao, chúng ta cũng có thể hy-vọng rằng sau một thời gian dài dặc miễn cưỡng sống chung với nhau một cách hoà-bình,hai bên cộng-sản và không cộng-sản sẽ chịu đựng sự có mặt của nhau một cách dễ dàng và từ bỏ hẳn ý-định dùng võ-lực thanh-toán lẫn nhau.

NGUYỄN NGỌC HUY
(trích DI CẢO IV , từ trang 92 đến 101)

(bản sao đánh máy xong ngày 06/04/2007,duyệt lại ngày 10/04/2007/ndhung)

(trích TinParis)

—————

30 THÁNG 4, BA MƯƠI HAI NĂM SAU LOẠT BÀI CỦA VIỆN BẢO TÀNG VIỆT NAM SAN JOSE PHỔ BIẾN

4/2007

30 THÁNG 4, BA MƯƠI HAI NĂM SAU LOẠT BÀI CỦA VIỆN BẢO TÀNG VIỆT NAM SAN JOSE PHỔ BIẾN

1. Lời giới thiệu tài liệu.
2. 21 tháng 4-1975, Diễn văn từ chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Trao quyền cho tân Tổng thống Trần văn Hương tại quốc hội
3. 26 tháng 4-1975.Diễn văn của Tổng thống Trần Văn Hương:
Tại quốc hội: Quý vị quyết định, tôi xin trao quyền cho đại tướng.
4. 28 tháng 4-1975.Phóng sự truyền thanh lễ bàn giao lần cuối
5. Trần Văn Hương: Thưa với Đại Tướng.
6. Dương Văn Minh: Kính thưa thầy..
Nói với quốc dân, với quân đội, với bên kia, với các nước bạn, với đồng bào…
7. 29-04-75 Thủ tướng Vũ văn Mẫu: Yêu cầu người Mỹ ra đi
8. Đài Sài Gòn tổng kết tình hình tối 29-04-75
9. 29 tháng 4-75 Tổng thống Dương văn Minh ra lệnh ngưng bắn
10. 30 tháng 4-75 Tổng thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng

Tài liệu nay là di sản sưu tầm của Viện Bảo tàng Thuyền nhân và Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose gồm có các cuốn băng ghi âm đã sao lục thành văn bản. Tất cả được lưu trữ trong hồ sơ 30 tháng tư 1975 để làm tài liệu lịch sử về sau. Nếu quý vị có các tài liệụ tương tự, chúng tôi xin được liên lạc để thảo luận.

Địa chỉ 420 Park Ave, San Jose CA. 95110 tel 408 971 7878
Email irccsj@yahoo.com và giaochisanjose@sbcglobal.net.

———————————————————————————-

Tài liệu số 1: 1975 – 2007
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975 Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Trong số các kỷ vật về chiến tranh Việt Nam, chúng tôi có nhiều cuốn tape ghi lại các diễn tiến lịch sử trong những ngày cuối cùng của đài phát thanh Sài Gòn, gồm có:

• Bài diễn văn từ chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 21 tháng 4-1975.

• Bài diễn văn tổng thống Trần Văn Hương đọc ngày 26 tháng 4-1975 trước khoáng đại hội nghị lưỡng viện. Trong giờ phút này, vị nhân sĩ miền Nam lúc đó 74 tuổi đã nói những câu như sau với quốc hội: “Thưa quý vị, thương thuyết không phải là đầu hàng. Nếu là đầu hàng thì còn thương thuyết gì nữa! Thà là chết cho đến cùng chứ sao lại gọi là thương thuyết được!”

• Phóng sự trực tiếp của phóng viên đài Sài Gòn mô tả buổi lễ bàn giao giữa Tổng thống Trần Văn Hương và Đại tướng Dương Văn Minh ngày 28 tháng 4-1975. Buổi chiều hôm đó Sài Gòn mưa tầm tã, cuốn băng ghi âm về diễn tiến trong Dinh Độc Lập đã lẫn trong tiếng mưa gió giông bão bên ngoài, vì có nhiều báo chí hiện diện nên cửa ra vào đóng không chặt. Tất cả những người hiện diện trong buổi lễ bàn giao đều cảm thấy nguy cơ sắp đến nhưng không một người biết được rằng thảm họa đó sẽ đến trong 2 ngày sau đó. Trong số các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa tại ngũ, chỉ có hai vị hiện diện là Trung tướng Đồng Văn Khuyên lúc đó là quyền tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Cao Văn Viên đã di tản và Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không Quân. Hai vị này, sau đó ra đi đêm 29 tháng 4-1975.

• Diễn văn của Tổng thống Trần Văn Hương trong buổi lễ bàn giao
• Diễn văn nhận chức của Đại tướng Dương Văn Minh
• Tuyên bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.
• Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi QLVNCH buông súng.
• Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng
• và sau cùng cuốn băng lịch sử ghi lại lời chứng nhận đầu hàng của Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy lữ đoàn 203 thiết giáp là đơn vị đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập sáng ngày 30 tháng 4-1975.

Đài Sài Gòn Của Vnch Ngưng Tiếng Nói
Kể Từ Trưa Ngày 30 Tháng 4-1975:

Sau khi phát thanh lời tuyên bố đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh, tiếng nói đài phát thanh Sài Gòn của VNCH không còn nữa. Buổi phóng sự và tường thuật của các phóng viên của đài này kể từ ngày 26 tháng 4-1975 cho đến trưa ngày 30 tháng 4-1975 đã trở thành tài liệu lịch sử.

Tài liệu số 2: NGUYỄN VĂN THIỆU
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử


TT MNVN Nguyễn Văn Thiệu

Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 21 tháng 4 năm 1975
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu Đọc Diễn Văn Từ Chức

Trước quý vị Lưỡng Viện Quốc Hội, trước Tối Cao Pháp Viện, trước chính phủ, trước đồng bào, trước anh chị em chiến sĩ cán bộ toàn quốc, tôi tuyên bố từ chức Tổng thống. Và theo Hiến Pháp, Phó tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức vụ Tổng thống, và chiếu điều 55 Hiến Pháp, khi nhậm chức Tổng thống trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối Cao Pháp Viện và Quốc Hội. Hôm nay vì tình hình cũng vì thời gian cấp tốc, cái sự từ chức của tôi nó cũng không được trân trọng đối với quốc dân đồng bào, cũng như đối với quý vị, đối với anh em chiến sĩ cán bộ tuy nó cũng không có cho thì giờ làm trang trọng hơn ở trong một cái khung cảnh trang trọng. Đáng lẽ ra, tôi có được cái sự tín nhiệm và ủy nhiệm của quốc dân bốn năm về trước, thì khi ra đi tôi cũng phải có ý kiến của quốc dân qua một cái hình thức nào đó. Dù trong Hiến Pháp không có dự liệu trưng cầu dân ý, không có dự liệu một hình thức nào để quốc dân nói lên cái sự bất tín nhiệm của mình đối với vị Tổng thống đương nhiệm. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi không đòi hỏi cái sự đó. Vì tình hình, vì tốn kém mà tôi nghĩ rằng một khi tôi đã lấy một cái quyết định và trách nhiệm để từ chức, tôi sẽ lãnh hết cái trách nhiệm về cái quyết định đó, và tôi lãnh hết cái trách nhiệm trước quốc dân. Và những lý do gì tôi sẽ giải thích. Thì hôm nay, trước điều 55 Hiến Pháp, đáng lẽ cái sự tuyên thệ nhậm chức Tổng thống của Phó tổng thống Trần Văn Hương phải được tổ chức trong một khung cảnh trang nghiêm. Nhưng tôi đã nói rằng tình thế không cho phép. Và cũng vì lý do rằng không thể có một cái sự thiếu nhu cầu của vị quốc trưởng. Để tránh những cái sự bất ổn chính trị, tránh những cái khoảng trống chính trị. Tránh những sự khai thác của kẻ thù, cho nên hôm nay tôi có một lời yêu cầu khẩn thiết, lời yêu cầu khẩn thiết của tôi và sẵn dịp có Lưỡng Viện Quốc Hội, sẵn dịp có Tối Cao Pháp Viện, tôi xin Lưỡng Viện Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện chấp nhận lời yêu cầu của tôi để cho Phó tổng thống Trần Văn Hương chút nữa sẽ làm lệ tuyên thệ nhậm chức ngay tại cái văn phòng này.

Thưa quý vị, thưa đồng bào và anh chị em, tôi đã cùng với đồng bào và anh chị em suốt 10 năm nay, như tôi đã nói, tôi không phải vì thiếu can đảm. Không phải một cuộc biểu tình, một cuộc xuống đường, một cuộc vu khống mà làm cho tôi nản chí, xuống tinh thần, mất nghị lực, mà ra đi một cách vô ý thức, vô trách nhiệm. Cũng không phải vì áp lực của đồng minh, cũng không phải vì sự phải chiến đấu cam go với cộng sản mà làm cho tôi phải thiếu trách nhiệm, thiếu tin thần trách nhiệm ra đi. Những vị Tổng thống ở những quốc gia lớn, người ta đã tự hào, người ta chỉ có 6, 7 hay 10 cơn khủng khoảng. Người ta đã viết được một cuốn sách, người ta tự hào là người anh hùng, chính trị gia lỗi lạc. Tôi trong 10 năm nay, ý tôi muốn nói, tử vi mà nói, năm nào cũng xấu, tháng nào cũng xấu, ngày nào cũng xấu, giờ nào cũng xấu. Chỉ nói số mạng mà nói …………….. không có lúc nào sướng, đã không sướng, đã không hưởng thụ, cũng không tìm cách hưởng thụ. Cai trị đất nước, có những cái vinh và những cái nhục. Đã chấp nhận những cái vinh và những cái nhục mới đứng ra lãnh đạo đất nước. Có những cái tốt không muốn được đồng bào khen, nhưng mà có những cái xấu, cái lỗi lầm, sẵn sàng chấp nhận cho đồng bào phê phán và buộc tội. Thì hôm nay khi tôi ra đi, tôi xin đồng bào, chiến sĩ cán bộ, tất cả các đoàn thể nhân viên tôn giáo, hãy thứ lỗi cho tôi những lỗi lầm gì đã có với quốc dân trong suốt 10 năm qua. Tôi xin cám ơn Quốc Hội, tất cả những cơ quan hiến định, tất cả các đoàn thể, các tôn giáo, những cá nhân đồng bào các giới, anh chị em chiến sĩ cán bộ, đã hợp tác với tôi, đã giúp đỡ tôi qua tất cả những thăng trầm của đất nước cho đến ngày nay. Đất nước sẽ ghi ơn đồng bào và các bạn đã đành, riêng tôi cũng sẽ ghi ơn đồng bào và các bạn. Tôi từ nhiệm chứ không phải tôi đào nhiệm. Kể từ giờ phút này tôi xin đặt mình dưới sự sử dụng của Tổng thống, của nhân dân, của quân đội. Không làm Tổng thống, hoặc Tổng thống Hương làm, thật sự đất nước cũng không mất gì. Có thể đất nước lại còn lời được một chiến sĩ ra đi. Tôi sẽ sát cánh với đồng bào với chiến sĩ để bảo vệ đất nước. Giờ đây, tôi xin cám ơn đồng bào, quý vị, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, và tôi xin từ biệt.

Tôi trở lại lời yêu cầu của tôi, yêu cầu Lưỡng Viện Quốc Hội, và Tối Cao Pháp Viện chấp nhận với sự hiện diện của quý vị đúng theo điều 55 của Hiến Pháp để cho Phó tổng thống Trần Văn Hương tuyên thệ nhậm chức Tổng thống. (Vỗ tay)

Tiếp theo đây là nguyên văn lời tuyên thệ nhậm chức của tân Tổng thống Trần Văn Hương:

Tôi trân trọng tuyên thệ trước Quốc Dân, quyết bảo vệ tổ quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc, xin tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. (Vỗ tay).

Tài liệu số 3: TÔI XIN TRAO QUYỀN
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Trần Văn Hương:
Quý Vị Quyết Định, Tôi Xin Trao Quyền

Viết Từ Băng Ghi Âm
Diễn Văn Của Tổng Thống Trần Văn Hương
Đọc Trước Quốc Hội Lưỡng Viện VNCH Ngày 26 Tháng 4 Năm 1975


TT MNVN Trần Văn Hương

LỜI NÓI ĐẦU: Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa họp để bàn về việc Tổng thống Trần Văn Hương sẽ bàn giao chức vụ cho Đại tướng Dương Văn Minh để thương thuyết với phe cộng sản, tìm một giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Cụ Hương đã tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh để mời ông Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng. Nhưng tướng Minh không chịu và đòi cụ Hương phải nhường cho ông Minh chức tổng thống Đại tướng Minh nói với cụ Hương “Thầy đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa là thầy trao trọn quyền cho tôi.”

Sau đây là nguyên văn lời trình bày của Tổng thống Trần Văn Hương trước phiên họp sáng thứ Bảy 26 tháng 4-1975 của lưỡng viện Quốc Hội tại Hội Trường Diên Hồng:

Thưa Chủ tịch Quốc Hội,
Thưa Chủ tịch Hạ Viện,
Thưa quý vị Nghị sĩ,
Thưa quý vị Dân biểu,

Tôi nhiệm chức hôm nay đã được năm ngày. Nói rằng ở đây để đọc một cái thông điệp, tôi không có cái táo bạo như vậy, bởi vì tình thế nghiêm trọng của đất nước. Vả lại như quý vị đã biết, tôi không quen nói những lời văn hoa mà không có ý nghĩa, cho nên tôi xin thưa trước quý vị đây không phải là một thông điệp. Đây chẳng qua là lời thành khẩn, thật tình của một người vì nước, đến trình bày mọi việc để quý vị rõ và quyết đoán.

Thưa quý vị, tình trạng đất nước khó khăn như thế nào, có lẽ quý vị đã biết rõ rồi. Tổng thống trao quyền lại cho tôi chẳng những là khó khăn, mà còn rất là bi đát. Bởi vì như quý vị đã biết, trong bốn vùng của chúng ta, hiện giờ chúng ta đã mất hơn hai vùng rồi, còn lại vùng III và vùng IV thì đã sứt mẻ, và sứt mẻ này có thể một ngày một lan rộng, và tình trạng khốn khổ, đau thương chẳng những là của toàn xứ mà của cả Sài Gòn và Chợ Lớn này trong những ngày gần đây.

Kính thưa quý vị, hiện giờ bên cạnh chúng ta là thành Nam Vang vừa rồi đây quý vị đã thấy. Cảnh Sài Gòn, Chợ Lớn nếu không khéo dàn xếp thế nào thì e rồi đây Sài Gòn sẽ thành một núi xương, một sông máu. Điều mà những người có lòng yêu nước không thể không nghĩ đến được, không thể chấp nhận được. Riêng tôi đây, tôi cũng không chấp nhận được. Bởi vậy cho nên, những vấn đề nói rằng chúng ta phải tiếp tục tranh đấu, vấn đề chúng ta đành phải nhận, phải làm, bất kỳ với giá nào cũng phải làm, những cái đó không thể giải quyết như vậy được.

Bởi vì vậy, khi tôi chấp nhận nhiệm vụ nối tiếp chánh quyền trước kia, thì tôi đã đưa ý rằng vấn đề phải giải quyết bằng một giải pháp chính trị, nghĩa là phải chấp nhận thương thuyết. Và đây, tôi xin công khai rằng chánh phủ của tôi và chánh phủ nào sẽ thành lập theo ý của tôi. Lẽ cố nhiên là với sự chấp thuận của Quốc Hội. Chánh phủ đó sẽ đứng ra thương thuyết.

Thưa quý vị, đã nói cái chữ thương thuyết, không phải thương thuyết là đầu hàng. Nếu thương thuyết là đầu hàng thì còn thương thuyết gì nữa! Thà là chết cho đến cùng chứ sao lại gọi là thương thuyết được! Bởi vậy cho nên đã đặt là thương thuyết, tất nhiên cũng phải chấp nhận những điều kiện gì đau đớn. Nhưng những điều kiện đó không phải là đến lúc phải hoàn toàn chúng ta đầu hàng. Nếu phải đầu hàng, thì chúng ta đây, quý vị và tôi, sẽ trao lại cho quân nhân, chứ không phải là chúng tôi quyết định chuyện đó.

Với ý nghĩa đó, nghĩa là ý nghĩ thương thuyết, tôi đã ra công dò xét tìm bên này, tìm bên nọ, hỏi thăm dò ý kiến mọi nơi. Tôi bữa nay cũng nói với quý vị là tôi có dịp đã gặp được Đại tướng Dương Văn Minh, bởi vì theo lời một số người, thì Đại tướng Dương Văn Minh có đủ điều kiện làm việc này.

Trong các cuộc gặp gỡ, trong một tư thất của một người bạn chung – bởi vì họp mặt tôi muốn tránh tiếng trước, không thể mời Đại tướng đến Dinh Độc Lập nói chuyện. Một mặt tôi cũng không thể tự mình tới nhà Đại tướng mà nói chuyện. Cho nên chúng tôi đã cùng nhau đến nhà một người bạn chung – Sau khi nói chuyện, tôi nói rằng: “Theo dư luận, một số người nói rằng Anh – xin lỗi, bởi vì giữa Đại tướng với tôi cũng còn cái thâm tình nhiều – người ta bảo rằng Anh có đủ điều kiện để thương thuyết, vậy thì xin Anh vì nước nhà, mọi tỵ hiềm qua, mọi chuyện không tốt đẹp đã xảy ra, xin Anh vui lòng xóa bỏ để cùng nhau chung lưng dựng nước. Xin Anh chấp nhận cái ghế Thủ tướng để đứng ra thương thuyết với phía bên kia.” Đại tướng, lẽ cố nhiên đối tôi lúc nào cũng giữ thái độ chẳng những là người bạn thân mà giữ cả thái độ, xin lỗi, như thể một người học trò của tôi vậy, mặc dù Đại tướng không phải là học trò của tôi, Đại tướng nói: “Thầy đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.” Nghĩa là trao cái quyền tổng thống cho Đại tướng.

Thưa quý vị, nước Việt Nam của chúng ta mặc dầu mất rất nhiều rồi, nhưng cái gọi là pháp lý, căn bản pháp lý vẫn còn. Quốc Hội vẫn còn đây, Hiến Pháp vẫn còn đây, tôi không thể làm một chuyện qua mặt được Quốc Hội và qua mặt được Hiến Pháp… (vỗ tay). Vả lại cái quyền hiện giờ gọi là ở trong tay tôi, là một cái quyền cũng do nơi Hiến Pháp mà ra. Đây không phải là một cái khăn mouchoir, đây không phải là một tờ giấy bạc từ ở trong tay tôi, tôi móc ra đưa cho Đại tướng, “Đây, cái quyền đây này.” Tôi không thể làm như vậy được. Bởi vậy cho nên tôi nói vấn đề này tôi không thể giải quyết được. Nếu có muốn giải quyết chăng nữa, rồi đây tôi phải trình lại với Quốc Hội để Quốc hội quyết định coi thế nào.

Thưa quý vị, Đại tướng cho rằng mình có thể nói chuyện với bên kia. Đại tướng nói rằng bên kia đã chấp nhận nói chuyện với Đại tướng. Cái chuyện này tôi xin phép không phải là tôi ngờ, nhưng mà tôi, khi nào tôi nắm được bằng cớ chính rồi, chừng đó tôi mới tin được là như vậy. Nhưng theo tôi thiết nghĩ, Đại tướng trong cuộc thương thuyết này là lãnh nhiệm vụ của một người do Quốc Hội chấp nhận đứng ra thương thuyết mà giao cho Đại tướng. Nếu mà Đại tướng tự nhiên đi nói chuyện với bên kia, xin lỗi, Đại tướng đến nói chuyện với danh nghĩa là gì? Đại tướng nói chuyện đại diện cho ai mà nói chuyện với bên kia? (vỗ tay)

Lại một điểm nữa, tôi nghĩ Đại tướng đã có cái gì mà cam đoan rằng những điều kiện Đại tướng sẽ thâu thập được đó là điều kiện, tôi không nói là hoàn toàn thuận lợi, mà là điều kiện ít đau khổ, ít nhục nhã cho nước Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, nghĩa là của chung chúng ta. Ở đây có cái gì bảo đảm chuyện đó hay không?

Một điểm nữa… hai chính phủ thương thuyết với nhau, có thể nào chính phủ này kêu chính phủ kia: “Nói anh phải chỉ định người này, người này nè, ra thương thuyết tôi mới chấp nhận, bằng không phải như vậy, tôi không chấp nhận.” Có thể nào có được như vậy không? (vỗ tay)

Bởi vậy, đây cái chuyện, xin lỗi, đã thật là khó hiểu nổi. Lấy cái lý trí của con người, dẫu mà sơ đẳng thế nào, cũng không thể hiểu được.

Hôm nay đến trước mặt Quốc Hội, tôi trình bày vấn đề, thì như đã nói khi nãy, đây là một điểm mà Quốc Hội toàn quyền quyết định. Nếu nghĩ rằng tôi phải giao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh, tôi xin phép vâng lời Quốc Hội, tôi sẽ giao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh. Còn như nếu quý vị tính cái chuyện khác, đó là toàn quyền của quý vị, tôi không chen vào đó.

Một điểm sau, nhiều khi người ta nghĩ rằng tôi bị áp lực, áp lực chỗ này áp lực chỗ nọ, thì thưa quý vị, đây không phải là tự mình vẽ bùa để cho mình đeo, tôi bình sanh tới thuở giờ, không chấp nhận một áp lực của ai hết, mặc dù là áp lực của người gọi là bạn của mình hay là người tưởng là có quyền cho mình cái lịnh đó. Xin lỗi quý vị, tôi không có cái điểm đó. Vả lại đây là việc nước chung, việc nước chung nếu may ra trong cuộc thương thuyết này chúng tôi được những điều kiện nó còn phần nào, vì nó là vấn đề nhân đạo, hai là vấn đề lương tâm, ba là vấn đề thể diện. Chúng ta còn có thể chấp nhận được, thì thưa với quý vị, chừng đó dầu thế nào cái quyền quyết định là quyền của Quốc Hội, không phải quyền của tôi. Đây tôi xin xác nhận lại một lần nữa.

Bởi vậy cho nên khi tôi xin với quý vị, lát nữa đây những việc cho tôi trọn quyền chỉ định người đi thương thuyết này trong căn bản mà tôi mới vừa nói tới. Nếu được, tôi sẽ trình lại với Quốc Hội coi chấp nhận hay là không chấp nhận. Còn như quý vị nghĩ rằng không chấp nhận, bởi vì đây là một điều kiện khắt khe, một điều kiện của người thắng trận viết cho người bại trận, thì chúng ta không còn nước gì khác hơn là lúc đó chúng ta cứ việc chết tới cùng, không còn biết làm sao hơn được (vỗ tay) … thì chừng đó dầu cái thành Sài Gòn này sẽ biến thành một biển (?), tôi nghĩ rằng người Việt Nam vì thể diện của mình, không thể nào từ chối được, trừ một số người không đáng gì (vỗ tay) nói là không thể nào chấp nhận được chuyện đó.

Thôi tôi không dám nói dài làm mất thời giờ của quý vị. Tôi chỉ nhắc lại một điểm, là xin quý vị quyết định. Nếu tôi phải trao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh, tôi xin sẵn sàng vâng lời quý vị, tôi sẽ trao lại cho Đại tướng Dương Văn Minh. Như thế quý vị chấp nhận rằng tôi có thể chỉ định một chính phủ nào gọi là chính phủ để đứng ra thương thuyết trong căn bản vãn hối hòa bình, trong tinh thần hiệp định Paris, để cho hai nước, cái chuyện vì lẽ cố nhiên một chuyện chúng ta đã mất rồi, theo những chuyện chúng ta đã biết trong hai ngày…

Ghi chú: Sau bài diễn văn của Tổng thống Trần Văn Hương, Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết với đa số đồng ý giao quyền cho Đại tướng Dương Văn Minh. Hai ngày sau, 28 tháng 4-1975 lễ bàn giao đã diễn ra tại Dinh Độc Lập.

Tài liệu số 4: PHÓNG SỰ TRUYỀN THANH LẦN CUỐI
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Phóng sự của Đài Phát Thanh Sài Gòn:
Buổi lễ bàn giao tổng thống tại Dinh Độc Lập

Lời của phóng viên Đài Sài Gòn. “Thưa quý thính giả, bây giờ là 17 giờ thiếu 5 phút, và phóng viên hệ thống truyền thanh vẫn có mặt tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập. Nơi đây, buổi lễ giao tổng thống Việt Nam Cộng Hòa sẽ diễn ra trong vòng năm phút tới. Bên trong phòng khánh tiết Dinh Độc Lập hiện giờ đèn sáng choang và các dân biểu, nghị sĩ, cũng như tất cả nội các xử lý thường vụ của Thủ trưởng Nguyễn Bá Cẩn hiện có mặt bên trong hội trường này.

Thưa quý vị thính giả, chúng tôi đã nhận thấy ở trên hàng ghế đầu cùng là Phó thủ tướng Trần Văn Đôn, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Phó thủ tướng Dương Kích Nhưỡng, quý vị cố vấn đoàn trong đoàn chính phủ. Chúng tôi cũng nhận thấy Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm kiêm Trưởng phái đoàn hòa đàm tại Ba Lê là ông Nguyễn Xuân Phong ngồi ở hàng ghế thứ nhì.

Phòng khánh tiết Dinh Độc Lập này là nơi xưa kia nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn thường tổ chức các cuộc họp báo, và như quý vị đã biết, ở trên cùng của phòng khánh tiết là một bức tranh diễn tả cảnh Quốc Tổ Hùng Vương hội họp các bộ tướng thời xưa. Ở hai bên bức tranh đó là quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và quốc huy của chế độ. Đó là hình hai con rồng bay trên lá cờ Việt Nam.

Tiếp đến, chúng tôi nhận thấy là diễn đàn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và cách diễn đàn đó khoảng mười thước là ghế dành cho các nhân vật trong chính phủ, các nhân vật thuộc đoàn cố vấn của chính phủ và các dân biểu nghị sĩ. Chúng tôi cũng nhận thấy một số các giám sát viên thuộc giám sát viện và quý vị thẩm phán tối cao pháp viện.

Thưa quý thính giả, bên trong phòng khánh tiết Dinh Độc Lập cũng được kê khoảng gần 200 ghế và hiện giờ thì những ghế đó đã kín chỗ. Chúng tôi cũng nhận thấy một số các nhân vật được nhiều người biết tới ở trong Quốc Hội như ông Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm, Nghị sĩ Tôn Thất Đính, Nghị sĩ Nguyễn Văn Ân, Dân biểu Trần Văn Tuyên, Trưởng Khối Dân Tộc Xã Hội. Chúng tôi cũng nhận thấy Dân biểu Nguyễn Ngọc Nghĩa, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Dân biểu Trần Cao Đế, Dân biểu Mã Sái, Dân biểu Nguyễn Bá Lương, Dân biểu Đỗ Xuân Tứ, Nguyễn Minh Đăng, Trương Tất Thịnh, Trương Xuân Bào, Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Quang Phụng, Đinh Văn Đệ, Nhan Minh Trang, Nguyễn Tuấn Anh. Ở trong dãy ghế dành cho quý vị Nghị sĩ chúng tôi cũng còn nhận thấy Nghị sĩ Khế Thiện Kế, Nghị sĩ Trần Văn Đôn, Nghị sĩ Tôn Thất Đính, và Nghị sĩ Huỳnh Văn Cao.

Thưa quý vị thính giả, quang cảnh trong phòng khánh tiết Dinh Độc Lập hiện nay đông nghẹt các phóng viên nhiếp ảnh trong ngoài nước. Có đến khoảng gần 100 phóng viên nhiếp ảnh đã đứng ở phía trước cửa phòng khánh tiết, tức là đứng ở hai bên và vì thế rất khó để quan sát toàn thể hội trường.

Theo như chương trình thì lễ trao nhiệm chức Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giữa Tổng thống đương nhiệm Trần Văn Hương và cựu Đại tướng Dương Văn Minh sẽ bắt đầu vào lúc 17 giờ ngày 28 tháng 4-1975. Nhìn qua cửa kính bên phải phòng khánh tiết, chúng tôi nhận thấy cựu Đại tướng Dương Văn Minh trong âu phục mùa xám tro đã tiến vào một trong các phòng làm việc của Dinh Độc Lập ở phía cánh trái của Dinh Độc Lập. Và giờ này thì có thêm các dân biểu và nghị sĩ vẫn còn tới để dự lễ trao nhiệm chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giữa tổng thống Trần Văn Hương và tổng thống chỉ định Dương Văn Minh.

Chúng tôi vừa nhận thấy nghị sĩ Nguyễn Văn Hương và nghị sĩ Vũ Văn Mẫu vừa bước vào phòng khánh tiết. Chúng tôi cũng nhận thấy ông thẩm phán tối cao Trần Văn Tiết cũng vừa bước vào phòng khánh tiết. Nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền sau một thời gian từ chức để phản đối chế độ, nay đã trở lại nghị trường để sinh hoạt cùng với các bạn đồng viên của ông.

Như quý vị khán giả đã biết, đất nước chúng ta đã trải qua một chuỗi dài đau thương của lịch sử, và kể từ ngày nguyên tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút lui khỏi Kontum và Pleiku, những chuỗi ngày đen tối tiếp theo nhau và đã đưa đến khung cảnh chính trị và quân sự rất u ám hiện tại. Như quý vị đã biết, vào thứ Hai 21 tháng 4, tức là cách đây một tuần, nguyên tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức cũng ngay tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập này, và anh bạn phóng viên của chúng tôi cũng đã trực tiếp truyền thanh hầu quý vị buổi lễ từ chức lịch sử đó. Phó tổng thống Trần Văn Hương, theo hiến pháp, đã lên đảm nhiệm chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và nếu tính đến ngày hôm nay thì tổng thống Trần Văn Hương giữ chức vụ nguyên thủ quốc gia được đúng bảy ngày.

Và hôm nay là ngày 28 tháng 4, tổng thống Trần Văn Hương với sự chuẩn chấp của Quốc Hội lưỡng viện, sẽ trao quyền thổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho đại tướng Dương Văn Minh trong một vài phút tới đây. Tổng thống Hương đã được Quốc Hội chỉ thị tìm kiếm đường lối và biện pháp vãn hồi hòa bình, mà rồi thì ông đã giao trách nhiệm đó cho Quốc Hội để tìm kiếm người thay ông có thể tìm thấy đường lối và biện pháp vãn hồi hòa bình cho miền Nam Việt Nam. Nghị quyết ngày 26 tháng 4-1975 của lưỡng viện Quốc Hội đã quyết định như vậy, và ngày hôm sau, Quốc Hội lưỡng viện một lần nữa họp khoáng đại và bỏ thăm với số phiếu đa số tuyệt đối chấp thuận thổng thống Trần Văn Hương trao quyền tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho đại tướng Dương Văn Minh. Nói như vậy có nghĩa là Hiến Pháp đã có một vài điều khoản không được thi hành nữa.

Trong hàng ghế dành cho nội các, thì khuất sau một chiếc camera của đài truyền hình chúng tôi cũng nhận thấy ông tổng trưởng phát triển sắc tộc Narouet, ông bộ trưởng phủ thủ tướng. Chúng tôi xin nhắc lại, là ở hàng ghế trên cùng chúng tôi nhận thấy phó thủ tướng đặc trách tổng thanh tra kiêm tổng trưởng quốc phòng, trung tướng hồi hưu Trần Văn Đôn trong âu phục màu đậm. Bên cạnh ông là tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách sản xuất kiêm tổng trưởng canh nông và kỹ nghệ. Phó thủ tướng Hảo mặc y phục bốn túi màu xanh nước biển và bên cạnh phó thủ tướng Hảo là phó thủ tướng Dương Kích Nhưỡng đặc trách các chương trình cứu trợ và định cư.

Phía sau hàng ghế, chúng tôi nhận thấy linh mục Cao Văn Luận, chúng tôi cũng nhận thấy ông quốc vụ khanh Lê Trọng Quát, ông quốc vụ khanh Nguyễn Văn Ái, ông quốc vụ khanh Phạm Thái và ông Nguyễn Xuân Phong, quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm kiêm trưởng phái đoàn hòa đàm.

Thưa quý thính giả, vào lúc này thì bên ngoài Dinh Độc Lập chúng tôi đã nhận thấy là trời bắt đầu mưa và Sài Gòn đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước.

Đây là phóng viên hệ thống truyền thanh Việt Nam. Tôi xin nhắc lại, là quý thính giả đang theo dõi buổi trực tiếp truyền thanh về lễ trao nhiệm chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giữa tổng thống Trần Văn Hương và cựu đại tướng Dương Văn Minh. Tổng thống Trần Văn Hương đã rời khỏi ghế ngồi của ông. Tổng thống đang tiến tới trước bục máy vi âm ở phía trước bức tranh quốc tổ và ông bắt đầu nói…”

Tài liệu số 5: Trần Văn Hương
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

THƯA VỚI ĐẠI TƯỚNG
Diễn Văn Của Tổng Thống Trần Văn Hương
Trao Quyền Tổng Thống VNCH Cho Đại Tướng Dương Văn Minh
Lúc 5 Giờ Chiều Ngày 28 tháng 4 Năm 1975 Tại Dinh Độc Lập


Tướng Dương Văn Minh ngày 5-1-1971. AFP PHOTO

Thưa ông Chủ tịch Thượng Viện, thưa ông Chủ tịch Hạ Viện, thưa quý vị Nghị sĩ, Dân biểu. Thưa quý vị, bữa nay là cái ngày đã từ lâu rồi quý vị phải có, mà ngày nay đã có, tức là đã đáp ứng được nguyện vọng của tôi từ lâu rồi.

Khi Tổng thống tiền nhiệm trao nhiệm vụ cho tôi, tôi vẫn biết sức già, dầu muốn dầu không, tuổi trời đã cao, sức lực đã mòn, tức nhiên là không thể nào đảm trách được một nhiệm vụ lớn lao trong khi mà nước nhà đã trải qua một buổi khó khăn vô cùng không thể tưởng tượng được. Bởi vậy cho nên trong lòng tôi vẫn mong mỏi rằng dầu thế nào cũng phải có được một người ra lãnh cái trách nhiệm này để lo cho việc nước. Gọi là cú vét phần nào, cái gì gọi là quyền lợi, cái gì gọi là danh dự của nước Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.

Khi tôi đến trao đổi ý kiến với Đại tướng Dương Văn Minh, điểm làm tôi thắc mắc là điểm pháp lý, bởi vì nếu tự nhiên tôi đem cái quyền của tôi trao lại cho Đại tướng thì như vậy về phương diện pháp lý không hợp lý chút nào. Điểm đó tôi cùng Đại tướng đã có thảo luận. Sau khi ra ngoài lưỡng viện, tôi cũng có trình bày, và lưỡng viện sau khi thảo luận hai ngày thì tìm ra được giải pháp mà đây tôi tin là giải pháp đáp lại với chỗ mong mỏi của mọi người.

Thưa quý vị, điểm thắc mắc về pháp lý hết rồi, thì về mặt đó chúng ta không còn băn khoăn chi nữa, thì dầu muốn dầu không cái chuyện lớn lao hiện giờ không còn là chuyện pháp lý nữa, thì việc làm sao cho nước Việt Nam Cộng Hòa dẫu tình hình có khó khăn đến đâu đi nữa, thì cũng phải giữ phần nào để bảo tồn được. Nếu không toàn vẹn hết thì cũng là phần nào cái danh dự của tổ tiên chúng ta.

Thưa với Đại tướng, dù muốn dù không, một chương lịch sử đã dở qua rồi, những chương sẽ viết tới đây sẽ do nơi tay của Đại tướng. Mà bây giờ có hỏi ngay ra rằng Đại tướng sẽ viết những gì, tôi thấy là Đại tướng cũng băn khoăn, không thể trả lời. Nhưng tôi biết rằng với thiện chí của Đại tướng đã sẵn có, thế nào việc làm sau này không đến nỗi phải phụ lòng tin cậy của tất cả đồng bào, của quốc hội đã hoàn toàn đặt nơi Đại tướng. Đường đi nó có khác, nó đã khác, bởi vì triều đại đã thay đổi. Chúng ta bây giờ không nghĩ là phải luôn luôn đổ xương máu. Chúng ta không phải nghĩ là chúng ta phải đánh tới người chiến sĩ cuối cùng, viên đạn cuối cùng, khi mà còn một biện pháp nào, một giải pháp nào có thể đem lại hòa bình mà không đến nỗi tổn thương quá sức danh dự của nước nhà. Bởi vậy cho nên đường lối có lẽ là ở trong khuôn khổ đặt sẵn như thế đó.

Thưa với Đại tướng, nhiệm vụ của Đại tướng rất là nặng, khi Đại tướng ra gánh vác chuyện này, tôi thấy rõ ràng là Đại tướng chẳng những có một thiện chí không mà thôi, Đại tướng còn phải có những can trường gì mới dám đảm nhận như vậy, và tôi cũng mong mỏi thế nào cho Đại tướng thành công. Vả lại, đặt lại vấn đề, giải pháp chiến đấu để giữ giải pháp dung hòa, ôn hòa, nghĩa là quên hết tất cả những gì gọi là căm thù để đem lại trước hết sự hòa giải, hòa hợp, rồi tới hòa bình để cùng nhau sống yên, mưu đồ chuyện tái tạo nước nhà. Theo ý tôi nghĩ, con đường là con đường đó.

Thưa với Đại tướng, xóa hận căm thù không phải là căm thù đối với ở ngoài, mà tôi cũng xin phép nói là chúng ta cũng nên xóa căm thù tất cả những gì gọi là căm thù ở trong. Trước kia có lẽ những chỗ sai biệt đâm ra nếu là người Việt Nam thành thật thương nước, thì tất nhiên người đó dù muốn dù không cũng phải lo cho nước, yêu nước. Nhưng tiếc có một nỗi đồng sàng mà có nhiều khi dị mộng, cho nên nghĩ như vậy mà cái lòng nó nghĩ khác nhau. Việc làm khác nhau, nên sanh ra xích mích, sanh ra đến cái chỗ có thể gọi là căm thù, thì tôi thành khẩn yêu cầu Đại tướng bao nhiêu những việc gì có thể gọi là căm thù nội bộ, Đại tướng vui lòng ráng thế nào xóa bỏ hết. Vả lại trong bộ máy của chế độ, đều có những người phụng sự cho chế độ đó. Nếu chế độ kế tiếp mà còn nghĩ đến những việc trước, tìm ra chuyện ân oán giang hồ, gây chuyện căm thù nữa, thì những người bất kỳ ở chế độ nào, tôi nghĩ làm sao mà dám tận tâm với chế độ đó khi nghĩ đến chế độ sau này có thể trả thù trả oán.

Cái chỗ mong mỏi của tôi là như thế, và tôi cũng hết sức thành khẩn yêu cầu Đại tướng nên nghĩ về tiền đồ của nước nhà, nên nghĩ về sinh mạng, sống còn của đất nước này, làm thế nào cho việc hòa giải khởi sự trước ở trong nước này trước khi ra tới ngoài.

Còn một điểm nữa có lẽ là điểm chót. Tất nhiên là Đại tướng sẽ ráng hết sức mình mà làm, nhưng tôi cũng nhìn nhận lòng mình dẫu có thiện chí đến đâu nhưng sức mình nó có hạn. Đại tướng cũng là người, Đại tướng không phải là một vị thiêng liêng nào có phép màu cho nên chỉ phán một lời là mọi chuyện đâu đấy như ý muốn được. Tất nhiên là Đại tướng phải ráng sức, chuyện mà Đại tướng ráng sức mà thành công hay không thành công, đó là một việc tôi tưởng phần lớn không phải tùy nơi Đại tướng. Nhưng nếu Đại tướng thành tâm vì nước để lo cho nước, ráng vãn hồi hòa bình lại để dân được sống yên, làm thể nào cho máu đừng đổ, thịt đừng rơi, thì cái công của Đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời. Dầu thế nào, tôi thiết nghĩ rằng không bao giờ mà đất nước này người ta có thể quên Đại tướng. Tôi xin cám ơn quý vị (vỗ tay).

Sau đây là lời phóng viên Đài Sài Gòn:

Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn Hương đọc bài diễn văn trao nhiệm xong, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay và thay vào đó huy hiệu Tổng thống mới là hình hoa mai năm cánh. Tân Tổng thống, Đại tướng Dương Văn Minh, ngồi ở ghế giữa bên cạnh Nghị sĩ Huyền và Nghị sĩ Mẫu bắt đầu rời khỏi ghế và lên diễn đàn.

Tài liệu số 6: Dương Văn Minh
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

ĐẠI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH:
Kính Thưa Thầy
Diễn Văn Nhận Chức Của Tổng Thống Dương Văn Minh:
Thông Điệp Gửi Người Anh Em Cách Mạng Miền Nam Việt Nam

Kính thưa Tổng thống,
Kính thưa Thầy,

Qua những lời của thầy làm cho tôi rất cảm kích. Thầy đã ghi nhận tình thế quân sự cũng như mọi mặt bi đát, làm cho tôi phần nào yên tâm vì cái sự khó khăn mà tôi gặp phải. Những lời khuyên dạy của thầy hôm nay tôi sẽ ghi mãi trong lòng và thầy hãy yên tâm. Chúng tôi đã lâu nay thấy không còn giải quyết vấn đề của chúng ta bằng võ lực không, mà không có kèm theo một giải pháp chính trị nào thì không thành công. Vì đó, anh em chúng tôi đã mấy năm nay, thảo luận tìm được giải pháp chúng tôi đã chọn lựa, giải pháp hòa giải dân tộc. Nói như thế để thầy yên tâm. Nếu có hận thù thì không thể lấy hận thù ra mà trả đối với tất cả mọi ai. Chúng tôi đã chủ trương hòa giải với đối phương, không lý do nào chúng tôi không hòa giải được với anh em một nhà. Thầy cứ yên tâm. Tôi xin hứa với thầy.

Kính thưa quý vị,

Quốc hội lưỡng viện trong khi họp khoáng đại ngày 27-4-75 đã được các vị hữu trách trong chính phủ và trong quân đội tường trình đầy đủ về tình trạng nguy ngập của Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai mặt quân sự và kinh tế. Những điều bi đát mà chúng ta được nghe người dân miền Nam Việt Nam đang phải gánh chịu từng giờ từng phút, từng phần xác và tâm hồn, đang phải trả bằng máu và bằng nước mắt. Những trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong những giờ phút này thật chẳng có gì là vui sướng. Tôi đã nhận vì đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tạo một cơ may tránh được nguy cơ sụp đổ, thực hiện ngưng bắn, mở lại hòa đàm hầu đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định thần hòa giải.

Với tinh thần đó, với tất cả thiện chí và ý thức trách nhiệm, với ý muốn trân trọng phục vụ đất nước và nhân dân, tôi xin nhận trách vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Xin cám ơn Tổng thống. (vỗ tay)

Nhân dịp này tôi cũng xin thông báo cùng toàn thể quý vị và đồng bào, là tôi đã mời luật sư Nguyễn Văn Huyền, vốn Chủ tịch Thượng Viện, đảm nhiệm chức vụ Phó tổng thống (vỗ tay) và giúp tôi về vấn đề hòa đàm. Luật sư Nguyễn Văn Huyền đã chấp nhận (vỗ tay). Tôi xin long trọng giới thiệu Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền (vỗ tay).

Tôi cũng xin thông báo cùng toàn thể quý vị và đồng bào rằng tôi đã mời Giáo sư Nghị sĩ Vũ Văn mẫu đảm nhận chức vụ Thủ tướng chánh phủ và giáo sư Vũ Văn Mẫu đã chấp nhận (vỗ tay). Xin long trọng giới thiệu Thủ tướng Vũ Văn Mẫu (vỗ tay).

TÂN TỔNG THỐNG NÓI VỚI QUỐC DÂN:

Sau đây tôi xin phép trả lời cùng đồng bào quốc dân.

Đồng bào thân mến, trong những ngày qua, trước tình thế cực kỳ nghiêm trọng, nhiều đoàn thể, tôn giáo muốn tôi đứng ra thành lập một chánh phủ mới. Tổng thống Trần Văn Hương chiếu các quyết nghị ngày 26 và 27 tháng 7-1975 của lưỡng viện Quốc Hội đã quyết định trao quyền tổng thống lại cho tôi. Tôi đã nhận trách nhiệm đó. Sứ mạng giao phó cho tôi rất là rõ rệt:

1. Đạt tới thỏa hiệp ngưng bắn càng sớm càng tốt.
2. Thương thuyết một giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trong tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc.

Tôi sẽ thành lập một chính phủ với những nhân vật tiêu biểu cho các đoàn thể tôn giáo không xu hướng chính trị tại miền nam Việt Nam vừa có đủ khả năng và đức độ để gây lại niềm tin, vừa có một lập trường hòa giải dứt khoát để không ai có thể nghi ngờ thiện chí của mình và thiện chí hòa bình.

Tôi tin tưởng sẽ thành lập được một chánh phủ như vậy trong thời gian ngắn nhất có thể mở lại một hòa đàm với chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nhận lãnh trách nhiệm trong những giờ phút khẩn trương này, tôi chỉ có một ý muốn duy nhất là đóng góp phần của tôi vào sự nghiệp hòa giải của dân tộc. Tôi gọi đó là sự nghiệp của dân tộc. Vì hòa giải chỉ có thể thành tựu khi mọi đoàn thể, mỗi cá nhân dứt khoát chấp nhận con đường hòa giải và dấn bước lên con đường đó với tất cả thiện chí của mình. Đó là điều mà tình thế đang đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta.

Những ngày sắp tới sẽ vô cùng cam go. Tôi không hứa hẹn nhiều với đồng bào, nhưng trong ngắn hạn chính phủ sẽ hết sức cố gắng và ổn định các sinh hoạt kinh tế, xã hội, cải thiện đời sống của đồng bào, cứu trợ nạn nhân chiến thuật, chính phủ bảo đảm tôn trọng các quyền tự do dân chủ được xác định căn bản bởi tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và với điều 11 của Hiệp Định Paris.

Một trong những biện pháp đầu tiên là trả tự do cho những người bị giam giữ vì lý do chính trị và chấm dứt chế độ kèm kẹp báo chí. Quan trọng hơn hết, chính phủ hòa giải hòa hợp, và riêng tôi sẽ làm hết sức mình để đạt tới một giải pháp hợp tình hợp lý, bảo đảm quyền sống của mọi thành phần dân tộc và các quyền tự do căn bản của mọi công dân. Sự thành công của chính phủ sẽ tùy thuộc một phần lớn nơi sự bình tĩnh, sáng suốt của đồng bào, nơi sự hỗ trợ tích cực mà đồng bào sẽ dành cho chính phủ.

Tôi kêu gọi tất cả các đoàn thể tôn giáo và chính trị, hãy bỏ qua những tỵ hiềm, vượt qua những nghi kỵ, đoàn kết với nhau trong tinh thần dân tộc, để tạo thành một sức mạnh hòa bình.

Tôi sẵn sàng đón nhận mọi ý kiến, mọi sáng kiến có lợi cho hòa bình, và sẵn sàng hợp tác với mọi người có thiện chí.

GỬI QUÂN LỰC VNCH:

Anh em chiến sĩ thân mến,

Tôi đã trải qua phần lớn cuộc đời trong hàng ngũ của anh em. Hơn ai hết, tôi thông cảm tất cả những gì mà anh em đã phải gánh chịu trong những tuần lễ bi thảm vừa qua, và giờ đây trang sử cũ sắp lật qua, anh em đứng trước một nhiệm vụ mới, bảo vệ phần đất còn lại, bảo vệ hòa bình. Anh em phải giữ vững tinh thần, anh em phải giữ vững hàng ngũ, anh em phải giữ vững vị trí để hoàn thành nhiệm vụ đó (vỗ tay). Khi nào có lệnh ngưng bắn, anh em phải thi hành nghiêm chỉnh, điều hành sẽ đúng với các điều khoản các hiệp định Paris gìn giữ trật tự an ninh trên phần đất của mình, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, không bỏ súng, không bỏ ngũ. Trong mọi trường hợp, một cách tuyệt đối thi hành chỉ thị của cấp trên. Mọi hành vi vô kỷ luật sẽ bị nghiêm trị ngay tức khắc, giữ vững tinh thần, giữ vững hàng ngũ, tôn trọng kỷ luật và góp phần lớn vào công cuộc vãn hồi nhanh chóng hòa bình.

Tôi cũng yêu cầu các công chức, cán bộ, và lực lượng cảnh sát tiếp tục thi hành nhiệm vụ của mình và canh phòng cẩn mật, không cho ai phá hoại.

GỬI CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG VÀ NHỮNG NGƯỜI ANH EM Ở BÊN KIA:

Sau đây, tôi có đôi lời gửi đến Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và những người anh em ở bên kia.

Chúng tôi thành thật muốn hòa giải. Anh em biết rõ điều đó, hòa giải đòi hỏi các thành phần dân tộc phải tôn trọng quyền sống của nhau, đó là tinh thần của hiệp định Paris. Anh em đã luôn luôn chủ trương thi hành hiệp định Paris và chúng tôi cũng đã luôn luôn chủ trương như vậy. Căn cứ trên hiệp định này, chúng ta hãy ngồi lại với nhau, để cùng nhau tìm một giải pháp có lợi nhất cho tổ quốc Việt Nam và cho nhân dân miền Nam. Để biểu dương thiện chí của đôi bên và để chấm dứt nhanh chóng sự đau khổ của binh sĩ và nhân dân, tôi đề nghị chúng ta ngưng tức khắc các cuộc tấn công lẫn nhau (vỗ tay). Tôi mong anh em chấp nhận đề nghị này và cuộc thương thảo sẽ khởi sự liền sau khi chính phủ được thành lập để hòa bình sớm được vãn hồi trên đất nước thân yêu của chúng ta.

GỬI CÁC NƯỚC BẠN:

Đối với các nước bạn, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mong muốn duy trì mối giao hảo và hoan nghênh mọi sự giúp đỡ không điều kiện chính trị trên bình diện kinh tế và nhân đạo. Chính phủ cũng sẵn sàng thiết lập liên hệ ngoại giao với mọi quốc gia, không phân biệt ý thức hệ trên căn bản bình đẳng đồng quyền lợi và không xen vào nội bộ của nhau. Chúng tôi thiết tha kêu gọi tất cả dân tộc trên thế giới hãy tích cực hỗ trợ chúng tôi trên công cuộc văn hối hòa bình, thực hiện hòa giải hòa hợp tại miền Nam Việt Nam.

GỬI ĐỒNG BÀO:

Đồng bào thân mến,

Trong những ngày qua, đồng bào đã hoang mang lo sợ trước những diễn tiến của tình hình, nhiều người đã âm thầm ra đi. Tôi muốn nói với tất cả đồng bào, đất nước này là quê hương của chúng ta, hãy cương quyết và can đảm ở lại, giữ thân bằng quyến thuộc, mồ mả ông bà tổ tiên ở lại, để cùng với chúng tôi, cùng với tất cả những người có thiện chí, xây dựng một miền Nam mới cho các thế hệ tương lai.

Một miền Nam độc lập, dân chủ, tự do, thịnh vượng, trên đó người Việt sẽ được sống an lành với người Việt trên tình huynh đệ (vỗ tay).

Xin cám ơn đồng bào (vỗ tay).

Tiếp theo là lời phóng viên đài Sài Gòn:
Tổng thống Dương Văn Minh vừa chấm dứt bài diễn văn nhậm chức của ông. Buổi lễ bế mạc. Chúng tôi cũng nhận thấy hai vị tướng lãnh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa là Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Tổng Tham Mưu, và Trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Không Quân. Chúng tôi vừa thấy Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền bắt tay Phó thủ tướng Dương Kích Nhưỡng, trong khi Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu bắt tay cựu Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo. Thủ tướng Mẫu cũng bắt tay linh mục Cao Văn Luận, trong khi Phó tổng thống Huyền tiếp tục chào hỏi các quý vị ở trong Nội Các cũ của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn. Phó tổng thống Huyền cũng đang trò chuyện với nguyên Tổng thống Trần Văn Hương, tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cũng tiếp tục chào hỏi các quý vị nghị sĩ, dân biểu, cũng như các quý vị ở trong Nội Các cũ.

Phóng sự chấm dứt, mưa gió bên ngoài vẫn chưa dứt

Tài liệu số 7: TỔNG KẾT
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Đài Sài Gòn, tối 29 tháng 4 năm 1975
BẢN TỔNG KẾT TÌNH HÌNH

Lời nói đầu: Đây là một chương trình phát thanh được ghi lại như là một kỷ vật đau thương của Việt Nam Cộng Hòa. Chép lại nguyên văn từ cuốn tape cũ có nhiều đoạn không rõ.

Đây là hệ thống truyền thanh Việt Nam, bây giờ mời quý thính giả nghe tổng kết tin tức trong 2 tháng từ trung tuần tháng Ba đến thượng tuần tháng Tư.

Thưa quý thính giả,

Từ 17 tháng 3, Tổng thống Thiệu ra lệnh rút quân bỏ toàn vùng cao nguyên, Komtum, Pleiku, Ban Mê Thuộc. Dân chúng bắt buộc phải di tản đường bộ theo quốc lộ số 7, một con đường bỏ hoang từ thời kỳ Pháp thuộc.

Ngày 19 tháng 3, Phú Bổn và phần còn lại của Quảng Trị thất thủ, Huế, và Đà Nẵng bị đe dọa nặng. Dân tỵ nạn đổ dồn về Đà Nẵng. Cầu không vận được thiết lập nối liền từ Sài Gòn – Đà Lạt.

Ngày 20 tháng 3, dân tỵ nạn đổ về hướng Nam tỵ nạn trong cảnh chết chóc tan thương. An Lộc thất thủ, Huế đang ở trong gọng kìm của Cộng quân. Tính đến ngày nay, cộng quân đã chiếm 8 tỉnh trong số 44 tỉnh của miền Nam.

Ngày 21 tháng 3, Huế thất thủ. Bắc Việt tấn công Quảng Đức, Gia Nghĩa, Khánh Dương. Có thể nói, tại Sài Gòn lần tấn công này của cộng quân mạnh hơn hồi Tết Mậu Thân.

Ngày 23 tháng 3, một tàu chở dân tỵ nạn Huế bị bão đánh chìm ngoài biển Đà Nẵng. Trời không tha dân lành.

Đến ngày 24 tháng 3, Tam Kỳ tức Quảng Tín bị thất thủ. Quảng Đức và Quảng Ngãi cũng rơi vào tay Cộng quân.

Ngày 25 tháng 3, dân số ở Đà Nẵng lên tới một triệu rưởi. Tổng thống Thiệu yêu cầu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cải tổ Nội Các.

Và ngày 26 tháng 3, nhiều đơn vị quân đội bắt đầu hỗn loạn, mất tinh thần trong những cuộc tháo chạy. Nhiều cảnh quân bắn nhau diễn ra tại Đà Nẵng.

Ngày 27 tháng 3, Đà Nẵng lâm nguy với các mũi dùi của Bắc Việt. Bảo Lộc, Lâm Đồng cùng chung số phận. Trong khi đó ở Sài Gòn, nhiều nhóm chính trị tái xuất hiện đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Hai Nghị sĩ, một Giáo sư, ba Tướng lãnh, và ba Ký giả bị bắt vì âm mưu đảo chánh. Dân tỵ nạn lên tới hai triệu.

Ngày 28 tháng 3, Hội An, Lâm Đồng lọt vào tay cộng quân. Đà Nẵng vô cùng nguy ngập.

Và ngày 29 tháng 3, các Tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa neo tàu ngoài khơi Đà Nẵng để chỉ huy binh lính. Dân chúng không còn đường để tháo chạy.

Và ngày 30 tháng 3, đúng 3 giờ sáng, Tổng thống Thiệu ra lệnh rút bỏ Đà Nẵng, mặc dù các đơn vị chiến đấu đang còn giao tranh ác liệt với Bắc Việt.

Cuối cùng ngày 31 tháng 3, Quy Nhơn bị tấn công, Nha Trang bị pháo kích. Dân vùng duyên hải này ùa nhau kéo vào Sài Gòn. Khối Phật giáo Ấn Quang xuống đường đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố tại Paris sẵn sàng làm trung gian cho hai bên tại miền Nam.

Thưa quý thính giả, vào ngày mùng 1 tháng 4, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang hoàn toàn đều lọt cho Bắc Việt. 14 trên 44 tỉnh miền Nam bị mất. Bắc Việt kêu gọi dân chúng tự động đứng lên lật đổ Tổng thống Thiệu.

Ngày mùng 2 tháng 4 đa số tuyệt đối Thượng nghị sĩ và Dân biểu Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh kết án Tổng thống Thiệu và đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Tại Paris, bà Nguyễn Thị Bình tuyên bố một cuộc tấn công của cộng quân vào thẳng Sài Gòn rất có thể xảy ra.

Ngày mùng 3 tháng 4, theo nhân viên phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Tân Sơn Nhất cho biết, sẵn sàng ngưng chiến và hòa đàm với một chính phủ không có Tổng thống Thiệu. Hội đồng Tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Tổng thống Thiệu từ chức.

Đến ngày mùng 4 tháng 4, Thủ tướng Khiêm từ chức. Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ tướng. Mặt trận tuyên bố, họ chỉ thương thuyết khi Tổng thống Thiệu ra đi. Một âm mưu đảo chánh khác bị lộ, nhiều người bị bắt. Cần Thơ bị pháo kích lần đầu, kể từ 7 năm nay. Và một máy bay Mỹ chở dân đi tỵ nạn rơi tại Sài Gòn.

Ngày 6 tháng 4, một đơn vị nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa tự động chiếm lại Nha Trang nhưng rồi cũng không giữ được lâu.

Đến ngày mùng 8 tháng 4, Dinh Độc Lập bị dội bom. Viên phi công lái máy bay ra vùng mặt trận mới chiếm. Xe tăng cộng quân mở cuộc tấn công Long Thành cách Sài Gòn 30 cây số.

Đến ngày mùng 9 tháng 4, chiến trường Xuân Lộc bùng nổ. Hà Nội gửi phi cơ vào những vùng mới chiếm đóng. Các phong trào nhân dân ở Sài Gòn tiếp tục đòi Tổng thống Thiệu từ chức.

Đến ngày 14 tháng 4, Nội các Nguyễn Bá Cẩn trình diện.

Ngày 15 tháng 4, kho bom lớn nhất miền Nam tại Biên Hòa, bị cộng quân đặt thuốc nổ phá tan. Phi trường Biên Hòa bị pháo tới tấp.

Ngày 16 tháng 4, Phan Rang thất thủ.

Đến ngày 17 tháng 4, Đại tướng Dương Văn Minh đòi Tổng thống Thiệu từ chức để cứu vãn tình hình.

Ngày 18 tháng 4, một sư đoàn Bắc Việt gồm các đơn vị thiện chiến chỉ còn cách Sài Gòn 19 cây số.

Ngày 19 tháng 4, phái đoàn mặt trận giải phóng đòi các quân nhân Mỹ kể cả đại sứ Martin rời khỏi Sài Gòn trước khi có thể có hòa đàm.

Ngày 20 tháng 4, Phan Thiết thất thủ.

Ngày 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu tuyên bố từ chức trao quyền cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Mặt Trận Giải Phóng không chịu và đòi chỉ nói chuyện với chính phủ không có người của Tổng thống Thiệu.

Ngày 23 tháng 4, Hàm Tân thất thủ. Căn cứ Không Quân Biên Hòa dời về Sài Gòn. 125 ngàn quân Bắc Việt và Mặt Trận đang vây 55 ngàn quân Sài Gòn quanh Biệt khu thủ đô.

Tại đại học Philadelphia ở New Island, Tổng thống Ford tuyên bố: Đối với nước Mỹ chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt.

Ngày 24 tháng 4, Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức.

Đến ngày 25 tháng 4, Tổng thống Hương định cử một phái đoàn Tổng trưởng đi Hà Nội, nhưng Bắc Việt bác đề nghị đó.

Ngày 26 tháng 4, Quốc Hội bằng lòng trao quyền Tổng thống cho bất cứ ai do Tổng thống Hương chỉ định.

Đến ngày 27 tháng 4, đường Sài Gòn – Vũng Tàu bị cắt đứt.

Đến ngày 28 tháng 4, Đại tướng Minh chính thức nhậm chức Tổng thống. Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Cộng quân vẫn không tiếp nhận đề nghị hòa đàm và vẫn đánh.

Cuối cùng vào 29 tháng 4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo dữ dội. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra lệnh người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam tức khắc, trong vòng 24 tiếng. Mặt Trận Giải Phóng đòi chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng.

Thưa quý thính giả đài tổng kết tin tức của chúng tôi đến đây chấm đứt. Xin kính chào quý khán giả.

Tài liệu số 8: VŨ VĂN MẪU
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 29 tháng 4 năm 1975
Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu: Mỹ Ra Đi 24 Giờ
Nguyên Văn Tuyên Bố Của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu
Chính Sách Hòa Giải Của Chính Phủ Và
Mỹ Rút Khỏi Việt Nam Trong 24 Giờ

Tuyên Bố Trả Tự Do Cho Tù Nhân Chính Trị Và Ký Giả,
Cho Các Báo Bị Đóng Cửa Được Xuất Bản:

(Nguyên văn lời ông Vũ Văn Mẫu): Cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đã rời Sài Gòn tối hôm qua 28 tháng 4-1975 trước khi bàn giao nhiệm vụ. Do đó tôi đã đảm nhiệm ngay chức vụ Thủ tướng, do Tổng thống Dương Văn Minh giao phó. Tôi đã có những quyết định đầu tiên sau đây trong tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc:

1. Quyết định trả tự do ngay cho tất cả các chính trị phạm, đặc biệt là sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, và các sinh viên, học sinh đã bị bắt vô cớ trong những tháng vừa qua.

2. Cho xuất bản tức khắc tất cả các tờ báo đã bị đóng cửa.

3. Trả tự do cho các ký giả đã bị bắt giữ trong vụ đóng cửa các tờ báo này.

Đài Sài Gòn tiếp tục loan báo các tuyên bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.

Tiếp theo, mời quý thính giả nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu công bố những điểm căn bản trong chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

CHÍNH SÁCH HÒA GIẢI CỦA TÂN CHÍNH PHỦ:

Sau đây là tuyên bố của ông Vũ Văn Mẫu:

Như đã nói trong thông điệp nhậm chức của Tổng thống Dương Văn Minh, tân chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chủ trương những điều căn bản sau đây trong chính sách đối ngoại và đối nội.

Về mặt đối ngoại: Chính phủ chủ trương tái lập hòa bình bằng đường lối hòa giải hòa hợp dân tộc trên căn bản hiệp định Ba Lê.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mong muốn duy trì giao hảo với các nước bạn, hoan nghênh mọi sự giúp đỡ, kinh tế nhân đạo mà không điều kiện chính trị, sẵn sàng thiết lập liên hệ ngoại giao với mọi quốc gia không phân biệt ý thức hệ.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chủ trương thi hành đứng đắn và với tất cả thiện chí hiệp định Paris, trong đó có điều 1, điều 4, và điều 9 quy định Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, và chấm dứt mọi sự dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.

Về mặt đối nội: Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bảo đảm tôn trọng các quyền tự do dân chủ được xác định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và nơi điều 11 của hiệp định Ba Lê. Điều này có nghĩa là những luật lệ tổ chức và biện pháp mâu thuẫn với các quyền tự do nói trên sẽ được hủy bỏ ngay khi chính phủ được thành lập. Toàn bộ guồng máy công quyền, từ trung ương đến địa phương, cũng sẽ được cải tổ nhanh chóng để phù hợp với một chế độ thực sự tự do.

YÊU CẦU MỸ RA ĐI TRONG 24 GIỜ:

Sau đây là công bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu về việc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu cơ quan tùy viên quân sự Mỹ và các nhân viên Mỹ rút hết khỏi Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 24 giờ kể từ ngày 29 tháng 4-1975.

Thông cáo 29 tháng 4-1975 của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 28 tháng 4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh đã yêu cầu sứ quán Mỹ đóng cửa cơ quan tùy viên quân sự Hoa Kỳ “DAO” và rút tất cả nhân viên khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29 tháng 4-1975.

Lời phát ngôn viên của đài Sài Gòn:

Quý thính giả vừa nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu công bố những quyết định quan trọng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn hiện tại nhằm đạt tới một cuộc ngưng bắn và tiến tới thương thảo một giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam.

Tài liệu số 9: NGƯNG NỔ SÚNG
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 29 tháng 4 năm 1975
Tướng Dương Văn Minh: Ngưng Nổ Súng
Nguyên Văn Lời Tổng Thống Dương Văn Minh
Kêu Gọi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Ngưng Nổ Súng

Lời Tướng Minh:
“Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam, vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận và để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.”

Lời đài Sài Gòn:
Quý thính giả vừa nghe Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố về ngưng bắn.

CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN HỮU HẠNH
PHỤ TÁ TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG QLVNCH RA LỆNH BUÔNG SÚNG:

Lời Tướng Hạnh:
“Thưa quý vị Tư lệnh quân đoàn, quân binh chủng, Địa phương quân, Nghĩa quân, Nhân dân tự vệ, tôi, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng, thay mặt Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng vắng mặt, yêu cầu tất cả quý vị tướng lãnh và quân nhân các cấp hãy triệt để thi hành lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa về ngưng bắn, các cấp chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hãy sẵn sàng liên lạc với các cấp chỉ huy quân đội của Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam, để thực hiện cuộc ngưng bắn một cách không đổ máu.”

Ghi chú về trường hợp Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh:
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thuộc Quân Lực VNCH đã về hưu từ năm 1974. Ngày 28 tháng 4-1975 từ Cần Thơ lái xe lên Sài Gòn tìm đến nhà Đại tướng Dương Văn Minh và được giao phó chức vụ Phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng, dưới quyền của Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng. Tướng Hạnh vì đã được binh vận cộng sản móc nối từ trước nên đã tìm cách ngăn chận mọi cuộc phản công, lung lạc tinh thần các cấp chỉ huy quân đội, cung cấp những tin tức sai lạc và tìm cách trải mỏng các lực lượng còn vững mạnh.

Tài liệu số 10: Đầu hàng
1975 – 2007
Viện Bảo Tàng Việt Nam, San Jose
30 THÁNG 4 – BA MƯƠI HAI NĂM SAU
Tài Liệu Về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Ghi Lại Từ Những Cuốn Băng Lịch Sử

Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975
Tổng Thống Dương Văn Minh: Tuyên Bố Đầu Hàng Sau Khi Quân Miền Bắc Chiếm Dinh Độc Lập
Dưới Áp Lực Của Cộng Sản Đại Tướng Dương Văn Minh Tuyên Bố Đầu Hàng.

Nguyên văn lời ông Minh như sau:
“Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn từ trung ương đến địa phương, trao lại cho chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”

TRUNG TÁ CỘNG SẢN BÙI VĂN TÙNG
TUYÊN BỐ CHẤP NHẬN LỆNH ĐẦU HÀNG:

“Chúng tôi đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam, long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống đương nhiệm vừa rồi.”

THỦ TƯỚNG VŨ VĂN MẪU
KÊU GỌI CÔNG CHỨC TRỞ LẠI LÀM VIỆC:

“Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường, các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng.”

Đài phát thanh Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa chính thức ngưng tiếng sau lần phát thanh kể trên:

Tài liệu này viết lại từ các cuốn tape kỷ vật để ghi nhận cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam đã chấm dứt đau thương như thế nào. Đồng thời chúng tôi xin cảm ơn các bạn phóng viên ẩn danh đã làm nhiệm vụ rất cay đắng trong những giây phút cuối và đã gửi đến chúng tôi các sử liệu này từ mùa đông năm 1975 tại Hoa Kỳ.

Tài liệu của Tin Biển San Jose gồm cả tape và bản văn đã phổ biến rộng rãi cho báo chí và radio từ nhiều năm qua.

Địa chỉ liên lạc: IRCC,INC. 420-422 Park Ave., San Jose, CA 95110.
Điện thoại: (408 ) 971-7878
Fax: (408 ) 971-7881

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.