Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản : Phần 5: CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT

Chương 14: Chiến-dịch Giảm-tô

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 5

CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT
“Muốn chữa một tình trạng bất công thì
vượt qua giới-hạn của công-bằng”.

Mao-Trạch-Ðông
(Bá-cáo về vụ Nông-dân bạo động tại Hồ-Nam)

 

Chương 14

CHIẾN-DỊCH GIẢM-TÔ

Vài tháng sau cuộc “Ðấu tranh Chính-trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung-quốc giả dạng làm nông-dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa-phương mách mối họ làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà (mà không lấy công), cùng ăn với chủ nhà (nhưng góp phần mình), và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán-bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán-bộ ngủ với ông chồng.

Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông-dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi công việc, cày bừa hoặc gặt hái, tùy theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh khổ cực của mình. Chẳng bao lâu người nông-dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. Tỉ dụ trường hợp một anh nông-dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán-bộ giải-thích ngay rằng : “Giá anh không bị tên địa-chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh !”. Tóm lại, theo cán-bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông-dân đã phải chịu đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa-chủ lang sói.

Ðấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà. Sau đó họ bày vẽ cho nông-dân biết rằng chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Ðảng, đứng vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa-chủ cường hào ác bá trong làng. Công-tác tích-cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông-dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn-sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông-dân được giác ngộ gọi là cái “rễ”, và công-tác kể trên được gọi là “bắt rễ”. Tới giai đoạn này, người cán-bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miệt trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán-bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh, mà anh cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián-điệp thường xuyên. Anh cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v…, được gọi là “cốt-cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình két nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra. “Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán-bộ khác, đang công-tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt-cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình-trạng sở-hữu ruộng-đất và tài-sản, thái-độ chínhtrị, hoạt-động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một (Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục-đích đặc biệt : người đàn bà nào thời còn là con gái, có “dính líu” với một địa-chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa-chủ kia “hãm hiếp”). Sau vài ba tháng hoạt-động như vậy, người cán-bộ thu-thập được đầy đủ chi-tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo-cáo trước một phiên họp bí-mật của Ðoàn Cải-cách

Ruộng-đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Ðoàn, anh cán-bộ đề nghị qui định thành-phần cho tất cả dân làng, đặc-biệt là thành phần địa-chủ, và gán cho người nào những “tội” gì ?

Tới lúc đó Ðội Cải-cách Ruộng-đất mới ra mắt công khai, Ủy-ban hành chính xã và chi-bộ Ðảng ở xã tức thì bị giải tán. “Ðội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội công-an mới gồm toàn nông-dân cốt án, và ra lệnh phong tỏa làng. Thường thường mỗi làng ở Bắc-Việt có một lũy tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác xuốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Ðội Cải-cách Ruộng-đất. Ðội liên lạc với Ðoàn bằng một đường giây điện-thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre còn đang xanh mang giây điện-thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu giây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường giây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng. Chiến-dịch chính-thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước liên tiếp, mà bước cuối cùng là “phiên xử án”.

Bước 1: Phân-định Thành-phần

Nông-dân thuộc thành-phần bản-bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc-biệt để học cách phân-định thành phần tất cả dân làng. Những tài-liệu học tập gồm có bản Ðiều lệ Phân-định Thành-phần ở Nông-thôn, các văn-kiện về thể-thức áp-dụng bản điều-lệ này cùng những tiêu-chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu-chuẩn khác nhau mà báo-chí cộng-sản không hề nói đến. Thí dụ trong một tỉnh, những tiêu-chuẩn phân-định các loại trung nông như sau :

a) Trung nông cứng : Những trung nông có một con bò, một con heo và một đàn gà.

b) Trung nông vừa : Những trung nông có một con heo và một đàn gà.

c) Trung nông yếu : Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết.

Không những tiêu-chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích-cực học-tập và “bình-nghị dân-chủ”, các học viên biểu-quyết một bản phân-định thành-phần mà thường thường là in hệt tài-liệu cán-bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo-luận mọi người đều chấp-thuận ý-kiến của cán-bộ. Ðiều này chẳng cógì lạ vì thực-tế chứng tỏ cán-bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng.

Bước 2 : Phân loại địa-chủ

Ngay sau khi Ðội Cải-cách Ruộng-đất (thường gọi tắt là Ðội Cải-cách, hoặc Ðội) ra mắt công-khai, tức là mười ngày trước khi thành-lập danh-sách địa-chủ, những người sẽ bị quy là địa-chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt-cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa-chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau.

Trên lý-thuyết và theo lời ông Trường-chinh tuyên-bố trong bản bá-cáo của ông thì có ba loại địa-chủ chính: địa-chủ việt-gian phản-động, cường-hào, gian ác, địa-chủ thường và địa-chủ kháng-chiến. Ngoài ra còn một loại nữa gọi là “nhân-sĩ tiến-bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan-lại hiện được cộng-sản trọng dụng, như các ông Hồ-đắc Ðiềm, Phan-kế-Toại, vân vân… Nhưng trên thực-tế loại thứ hai và thứ ba không hề có. Tất cả mọi địa-chủ, không trừ một ai, đều bị quy vào loại “địa-chủ việt-gian phản-động”. Như đã trình bày ở trên, tất cả các địa-chủ còn ở lại vùng kháng-chiến cho đến năm 1953, dù muốn dù không, đều có tham-gia ít nhiều vào công-cuộc kháng-chiến vi chính-sách của cộng-sản là tuyệt-đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công-tác”. Thanh-niên và những người tráng-kiện thì gia-nhập quân-đội hoặc làm cán-bộ chính-quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh. Những người tuổi tác thì tham-gia những tổ-chức bù-nhìn như “Phụ lão Cứu Quốc”, “Mặt trận LiênViệt” vân vân… Mọi người đã tham-gia kháng-chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa-chủ kháng-chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa-chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông-dân. Ðành rằng họ có “bóc lột” nông-dân bằng cách cho nông-dân thuê ruộng lấy tô nhưng họ lý-luận rằng đấy chẳng qua là tính-chất của chế-độ cũ, và từ ngày lên cầm chính quyền, cộng-sản cũng vẫn dung túng lối “bóc lột” đó trong bao nhiêu năm rồi. Nhưng đến khi chiến-dịch Cải-cách Ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “việt-gian phản-động” và bị tố đủ thứ tội. Ngay cả những người tích-cực phục-vụ chính-quyền kháng chiến và đã được ông Hô-chí-minh tuyên-dương công trạng cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ-quan của Ðảng và chính-phủ để phá-hoại Cách-mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông-dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa-chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ để lên án địa-chủ đó là việt-gian, làm gián-điệp cho Pháp.

Loại địa-chủ này, cũng gọi là địa-chủ đầu xỏ, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B và C. Cán-bộ không tuyên bố cho địa-chủ biết là họ bị xếp vào hạng này nhưng chỉ cần một chút thông minh cũng đoán biết ngay. Nếu đám biểu-tình hô “Ðả đảo tên địa-chủ X, việt-gian phản-động cường-hào, gian-ác !” (4 danh-từ kèm theo chữ “địa-chủ”) thì có thể biết chắc X là địa-chủ hạng A. Nếu đám biểu-tình chỉ hô “Ðả đảo tên địa-chủ Y cường-hào gian-ác!” (2 danh-từ) thì chắc chắn Y là địa-chủ hạng B. Còn nếu họ chỉ hô : “Ðả đảo tên Z địa chủ ngoan-cố !” (1 đanh-từ) thì Z thuộc hạng C. Mỗi hạng sẽ có một số-phận khác nhau. Ðịa-chủ hạng A bị đưa đến một trại giam tạm-thời, thiết-lập tại một làng kế cận, và những người “nguy-hiểm” nhất trong cùng hạng có thể bị nhốt trong một cái cũi gỗ, in hệt cũi nhốt thú dữ. Ðịa-chủ hạng B phải đi dự một lối cải-tạo đặc-biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục-đích của lớp cải-tạo này là khủng-bố tinh-thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn dấu vàng bạc. Họ bị khủng-bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẳn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán-bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ dấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông-hội. Ngoài ra họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền nông. Họ khai ra người nào thì lập tức Ðội Cải-cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho Nông-hội. Vì địa-chủ mất tinh-thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương-gia tự-nhiên bị “vạ vịt”, mất sạch cơ-nghiệp dù không có liên-quan trực-tiếp đến Cải-cách Ruộng-đất. Ðịa-chủ hạng C bị giữ trong một nhà nông-dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công-an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác.

Một điều đáng chú ý là việc quy-định thành-phần lúc nào cũng chỉ có tính-cách tạm-thời, và địa-chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tùy theo thái-độ của đương-sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Vì cán-bộ có giao hẹn trước, rõ ràng như vậy, nên phần đông các địa-chủ tỏ ra khúm núm và sợ sệt. Nhưng vì Ðảng đã ấn-định một số tử hình tối-thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa-chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử. Nhưng nói chung, khúm núm vẫn có lợi hơn là bướng bỉnh, và người dân Việt, đã từng biết phải khúm núm như thế nào đối với quan lại và thực-dân, nên sớm nhận thấy giờ đây họ còn phải khúm núm hơn nữa đối với “giai-cấp mới”.

Bước 3 : Tống-tiền công-khai

Sau khi chủ gia-đình bị bắt và điệu đi, cán-bộ Ðội Cải-cách gọi vợ con địa-chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức-khắc một số tiền gọi là “thoái tô”, hoặc nợ nông-dân. Trước đấy bốn năm năm, chính-quyền cộng-sản có ra một thông cáo buộc địa-chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng-chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và sau khi ban hành bản thông-cáo, chính-quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, Nông-hội cho rằng tất cả địa-chủ đều không tuân luật và đòi gia-đình địa-chủ phải “thoái tô”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm. Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo thông cáo hoặc sợ chế-độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng-đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên-lai, sổ sách. Dù sao đi nữa bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa-chủ đều phải nhận “trả”. Số “thoái tô” phải mang nộp cho Nông-hội, một tổ-chức do Ðội Cải-cách thành lập để núp sau ra lệnh.

Cán-bộ Cải-cách thường phán như sau : “Anh em nông-dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng !” Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa-chủ phải ký nhận. Việc “đòi nợ” này còn một vài điểm đáng chú ý.

Theo cán-bộ thì “số nợ” được tính theo lời khai của mỗi tá-điền cộng lại, nhưng thực ra thì cán-bộ không hề để ý tới lời khai của ai cả, và cũng không hề làm tính cộng. Việc bắt tá-điền khai báo là chỉ cốt để có cớ “đòi nợ”. Còn số “nợ” là do cán-bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về khả năng có thể trả được của mỗi địa-chủ : liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ-trang, vân vân… và bao giờ cũng ấn-định một mức tối đa. Mục-đích của “thoái tô” là làm cho địa-chủ và gia-đình chỉ còn hai bàn tay trắng, trừ ruộng-đất, nhà cửa và đồ đạc trong nhà. Những thứ này không thể thoát đi đâu được và sẽ bị tịch thu trong chiến-dịch sau. Việc làm cho toàn thể giai-cấp địa-chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi mọi cách “văn hoa” là “làm giảm uy-thế kinh-tế của địa-chủ”. Chủ tâm bần cùng hóa địa-chủ cho tới mức-độ cuối cùng biểu hiện trong việc tăng giảm số “nợ” tùy theo khả năng tột bực của “con nợ”. Nếu địa-chủ hoặc gia-đình địa-chủ trả hết số “nợ” trong thời-gian hạn-định thì thế nào cán-bộ cũng dở giọng nói : “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… (thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước). Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ-hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố-gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa khất vừa nần nì để chứng tỏ cả thiện-chí lẫn sự bất-lực của mình, thì cán-bộ có thể bớt lần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Không phải vì cán-bộ thương tình nhưng vì Ðảng muốn tỏ cho nhân dân biết quả thực đã có nhiều địa-chủ trả đủ số nợ, việc đòi nợ hợp tình hợp lý và con số nợ cũng đúng với khả năng địa-chủ. Nhưng nếu địa-chủ cứ ì ra, không trả gì hết hoặc chỉ trả một số không đáng kể hoặc vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên, không tăng không giảm. Trong trường-hợp ấy, đòi nợ không còn là vấn-đề nữa, và địa-chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn.

Trong khi địa-chủ phải chạy tiền trả nợ . hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc . thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì. Tất cả từ nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân-dân. Những thức này sẽ bị tịch-thu sau, nên địa-chủ không được phép bán. Mục-đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thức địa-chủ có mà có thể giấu được . như tiền mặt, vàng bạc, v.v… Mỗi khi địa-chủ, hoặc vợ địa-chủ chậm trả thì Nông-hội phái một nhóm hội-viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc dục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như : “Ðôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi ?” (đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc : “Mày bảo mày không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết ?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước).

Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa-chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa-chủ ngoan cố”. Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi và đứa nào cũng bị dọa nạt cho tới khi chúng cung khai đúng hoặc không đúng . những nơi cha mẹ chúng chôn dấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu, hễ chúng khai chỗ nào là cốt-cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy. Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa-chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông-dân, sau trận đấu tố, được lĩnh nhà địa-chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nền nhà cho bằng phẳng.

Bước 4 : Tố Khổ

Trong khi địa-chủ bị “tống-tiền” một cách hợp-pháp thì nông-dân được triệu-tập đi học một lớp đặc-biệt về “Tội ác của giai-cấp địa-chủ”. Mục-đích của lớp học là giảng cho nông-dân hiểu địa-chủ đã phỉnh-phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp-bức họ như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình ít nhất là một tội đối với mình. Ðể ôn lại trí nhớ cho nông-dân, giảng-viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu-thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông-dân trước kia vẫn từ-tốn đối với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng-viên đã đọc cho họ nghe.

Những người “tố khổ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm có những người mong có địa-vị trong chế-độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là của lấy của địa-chủ chia cho nông-dân. Họ tố hăng vì Ðội Cải-cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích-cực đấu-tranh sẽ được kết nạp vào các tổ-chức của Ðảng”.

Loại thứ hai gồm những người cầu an bảo mạng, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập-trường với giai-cấp địa-chủ” và đứng hẳn “về phe Ðảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử thành-tích bất hảo, trước kia có phạm một tội nào đó mà cán-bộ làm ngơ chưa hỏi đến. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa-chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu-diệt. Ðoạn văn sau đây, trích ở tờ Thời Mới, số 8 tháng 5, 1957, nói lên sự thông-đồng giữa bố mẹ và con cái về việc con cái “tố khổ” chính bố mẹ mình.

CỨ TỐ HĂNG VÀO
… Sau khi “Ðội” (Cải-cách) rút, người con dâu đi kể lể với bà con hàng xóm rằng :
- Tôi nào có phải là hạng xấp mặt lên tố bố mẹ chồng. Khi “Ðội” người ta phát-hiện (quy là địa-chủ) rồi, thì hai mẹ con thì thầm suốt đêm. Tôi định ra kêu với “Ðội”, nhưng bà cháu cứ gàn đi :
“Tao già bảy, tám mươi rồi, có lên địa-chủ thì cũng gần kề miệng lỗ. Mày mà kêu thì chả tránh khỏi tiếng liên quan, rồi thì cả hai mẹ con tay trắng. Mày cứ tố hăng vào để giữ lấy số ruộng mà cày…”

Loại thứ ba là những người tố chỉ vì sợ hãi. Tuy địa-chủ là mục-tiêu chính nhưng nhiều người dù không có ruộng-đất cũng có thể bị quy là địa-chủ, hoặc có liên-quan với địa-chủ, nếu cán-bộ xét thấy họ có “tư-tưởng địa-chủ”. Liên-quan là một danh từ rất mơ hồ, có nghĩa là quyến thuộc, bạn bè, hoặc chỉ là chỗ quen biết, lui tới. Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, ngày 2 tháng 6 năm 1956, nói rõ dân-chúng sợ bị quy là liên-quan tới mức nào :

VỢ CHỒNG TÔI TỪ NAY THẬT HẾT LO
… Mọi người đang đứng quanh xem giỏ tép của anh Tý vừa đơm đó ở đồng về, nghe nói đến chuyện liên-quan đều quay lại. Bà Bền tiếp luôn : Bà con hàng xóm láng giềng ai còn lạ gì nhà tôi, mấy đời khổ cực, phiêu bạt ra giữa cánh đồng, vợ chồng già ngày đêm đơm đó kiếm ăn. Mong đợi mãi, Ðội Cải-cách Ruộng-đất về làng, vợ chồng tôi được kết nạp vào Nông-hội. Thế rồi hôm họp xóm, ông Bền nhà tôi được cử làm đại-biểu đi dự đại-hội nông-dân xã. Chả biết đầu đuôi thế nào đang dự đại-hội, ông cụ nhà tôi bỏ về, trông như người mất hồn, mấy ngày đêm liền không ăn không ngủ. Tôi gặng mãi ông cụ chỉ nói : “Thế là khổ tao, bà mày tính thế nào chớ không thì nguy lắm”. Rồi có đến hàng tháng ông ấy không dám đi họp hành gì cả, cứ nằm lần thần bấm đốt ngón tay; nào là ” nhà ta một thằng rể, có họ hàng với địa-chủ nữa. Thế là liên-quan nhất định liên-quan rồi”.
Một người hỏi : “Thế bà có sợ liên-quan không ?”
Bà Bền cười : “Anh bảo ai không sợ mới thật là tài…”
… Ðứng dậy ra đi, bà còn nói thêm một câu : “Vợ chồng nhà tôi từ nay mới thật hết sợ liên-quan.”
Một người mỉm cười nhìn theo bà nói : “Chả phải mình bà sợ, xóm tôi khối người lo sợ như thế !..”

Có ba loại liên-quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau :

1. . Loại có “liên quan nặng” với địa-chủ, gồm những người “có tư-tưởng địa-chủ”, có thái-độ bênh-vực địa-chủ. Những người này sẽ bị đối xử in hệt địa-chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vòng pháp-luật, bị bao vây kinh-tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết.

2. – Loại có “liên-quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa-chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia-đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên-quan vừa” với địa-chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng.

3. . Loại có “liên-quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập-trường đối với địa-chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông-hội. Sau khi giai-cấp địa-chủ bị tiêu-diệt thì chỉ có Nông-hội là nơi mà nông-dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông-hội. Mặc dù những hình-phạt ghê gớm kể trên, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố” những người cùng làng bị quy là địa-chủ. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép hoặc phỉnh phờ vì, dù ít học, họ cũng tiêm nhiễm ít nhiều luân thường đạo-lý, và ở Việt-nam cũng như ở khắp mọi nơi, tố cáo người khác vẫn bị coi là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác. Trong phong trào Trăm Hoa Ðua Nở, Phùng-Quán đã làm một bài thơ đả-kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan-đề “Lời Mẹ Dặn” có mấy câu như sau :

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai ngon ngọt nuông chìu
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Báo Văn số 21, ngày 27-9-1957

Vì bài thơ kể trên Phùng-Quán bị đưa lên mạn ngược “học-tập lao-động” cùng với nhiều văn-nghệ-sĩ khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao.

Bước 5 : Ðấu Ðịa-Chủ

Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa-chủ, những người được chỉ-định ra “đấu-trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Ðấu địa-chủ là “trò” then chốt của cả chiến-dịch, nên cần phải chuẩn-bị hết sức chu đáo. In hệt các diễn-viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân-khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện-tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán-giả có cảm-tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa-chủ là có thực. Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, dã gạo, vừa lắp đi lắp lại một câu để thuộc lòng. Ðóng vai trò “đạo diễn” cán-bộ phụ-trách còn bày vẽ giáng-điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa-chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc. Sau khi chuẩn-bị đầy đủ, Ðội công-tác Cải-cách Rưộng-đất công bố ngày “đấu”.

Vì có ba hạng địa-chủ, A, B và C, nên cũng có ba loại đấu.

Ðịa-chủ hạng A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành-chính gồm từ mười đến mười lăm làng.

Ðịa-chủ hạng B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa-chủ hạng A, nhưng tương-đối nhẹ hơn.

Ðịa-chủ hạng C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông-dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi nào tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng-kê các tội ác mà các tá-điền . chỉ có tá-điền của địa-chủ mới được dự cuộc đấu này . đã “tố” cho họ. Nghe xong, địa-chủ phải tuyêp-bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa-chủ phải ký tên vào biên-bản buổi họp. Ðảng giải-thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Ðảng muốn khoan-hồng đối với những “phản-động phụ”, những phần-tử mà Ðảng còn hy-vọng cải hoán được. Vì còn hy-vọng họ sẽ cải hoán nên Ðảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họï, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý-do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa-chủ hạng C là những người buôn bán ở thành-thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng là “bỏ làng”. Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực-tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Ðảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sụ người tố có thể ấp-úng, làm mất uy-tín “anh em nông-dân” và gián-tiếp mất uy-tín Ðảng. Vì vậy nên Ðảng tổ-chức “đấu lưng”, giấu địa-chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Chỉ có tá-điền nói cho tá-điền nghe nên dù họ có ấp-úng, ngượng ngùng cũng chẳng sao. Thật vậy đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa-chủ, khi thấy nông-dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười.

Mỗi lần đấu một địa-chủ hạng A thì toàn thể nhân-dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa-chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa-chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cầy vì một khi ngồi vào chỗ trong hội-trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại. Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Ðịa-chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm tay hô “Ðả đảo !”.

Mọi cuộc đấu đều tổ-chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn. Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới có 14 “thư ký” ngồi, 13 người là bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa đoàn gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ-tịch nông-hội làm chủ-tọa cuộc họp và một phụ-nữ đóng vai công-an trưởng. (Tác-giả nhận thấy vai trò công-an trưởng bao giờ cũng do phụ-nữ đóng, trong năm cuộc đấu tác-giả có dịp tham dự. Tác-giả có cảm-tưởng Ðảng dành vai trò này, có tính cách hống hách, cho phụ-nữ để đề cao uy quyền chính-trị của phụ-nữ trước công chúng). Người đàn-bà này chỉ huy tự-vệ xã, và cứ năm phút một lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, dơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v… Trên tầng cao nhất của khán-đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ-chí-Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao-Trạch-Ðông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh-tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán-đài là những biểu-ngữ rất lớn mang những khẩu-hiệu như “Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh giảm tô (hoặc đấu-tranh Cải-cách Ruộng-đất)”, và “Ðả đảo tên địa-chủ… việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác”. Trong thời-kỳ kháng-chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ-chức về đêm để tránh máy bay oanh-tạc. Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng trong ác mộng. Người tham dự có cảm-tưởng chứng-kiến một cảnh quỷ-sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa-ngục. Khán-đài soi sáng bằng đèn điện. Ðôi khi có máy phá điện nhỏ nhưng thường là di-na-mô xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán-đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán-bộ Ðội Cải-cách Ruộng-đất nấp phía sau khán-đài để nhắc và ra lệnh cho chủ-tọa đoàn. Ðôi khi có cố-vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ. Chủ-tịch chủ-tọa đoàn khai-mạc hội-nghị và tuyên-bố lý-do cuộc họp. Sau đó là một bài thuyết trình về ý-nghĩa và sự cần-thiết của cuộc đấu-tranh chống địa-chủ ; đại-khái là vai trò chính-yếu của nông-dân trong kháng-chiến, tính cách bội-phản của giai-cấp địa-chủ, v.v… Sau đó người đàn bà giữ chức công-an trưởng ra lệnh cho tự-vệ xã lôi tên địa-chủ việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác ra để “anh chị em nông-dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng-thanh hô : “Ðả đảo thằng việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác (tên họ người địa-chủ bị lôi ra)”. Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán-đài. Phía trước khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán-giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông.

Ðịa-chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục gia-tô giáo, hoặc một hòa-thượng phật-giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu-sĩ hoặc áo nhà chùa). Cộng-sản thanh-minh rằng đương-sự bị đấu với tư-cách cá nhân là địa-chủ, không dính dáng gì về tôn-giáo nên không cho mặc áo tôn-giáo, nhưng sự-thực thì cộng-sản cố ý tránh quang cảnh một cuộc khủng-bố tôn-giáo công-khai và quá lộ liễu.

Chủ-tịch chủ-tọa đoàn gọi “anh chị em nông-dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa-chủ, hỏi : “Mày có nhớ tao là ai không ?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn : “tao là. . . ở làng. . . đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong. . . năm”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “mày có nhớ tao là ai không” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu-sử” của mình. Cán-bộ bắt họ làm như vậy để công chúng biết qua loa về quan-hệ giữa người đấu và người bị đấu. Người ngồi xem nhớ lại những buổi diễn tuồng tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh : “Mỗ đây tên tự là… ” Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “việt-gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v… Ðiều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu ; hình như cán-bộ xui họ chửi rủa địa-chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy-tín” địa-chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”. Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản-ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm : “Ðả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị công-an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi. Mỗi người được phép tố địa-chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng-hồ, thì người địa-chủ bị điệu đến trước “thư-ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư-ký hý hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa-chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước.

Ðịa-chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Ðêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông-dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v… Ðêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh-phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa-chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu nguời đấu là đàn-bà). Ðêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Ðịa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông-dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng. Ðêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa-chủ về các tội có tính cách chính-trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ-chức phản-động, dò thám tin tức quân sự, nói với người này người kia rằng Pháp sẽ cho mình làm tỉnh-trưởng, huyện trưởng, v.v… Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến, cuối cùng, sẽ phải đưa ra tòa án nhân-dân đặc-biệt, kết án tử-hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa-chủ có khôn-ngoan đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Ðảng đã ấn-định một số tối thiểu phải chịu tử-hình tại mỗi xã. Ðúng ra thì Ðảng chỉ ấn-định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan-cố” thì số tử-hình có thể tăng thêm.

Thực ra thì Ðảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, vì phương châm của Ðảng là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Hơn nữa, nếu nhiều địa-chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có thể có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều là nói điêu. Trái lại nếu địa-chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông-dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Vì uy-tín của nông-dân và của Ðảng, nên Ðảng chỉ cần địa-chủ nhận tội và sẽ nới tay, không xử bắn quá mức ấn-định. Trong đợt đầu, nhiều địa-chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi-hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do Ðảng bày đặt ra và bắt mỗi người phải đóng một vai, không ai được phép trái ý Ðảng.

Ðịa-chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là : treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông-dân liếm đờm, ăn phân (chỉ khác nhau ở thứ phân : bò, gà, người v.v..), đốt nhà nông-dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết (bất cứ trước kia có đứa trẻ nào chết đuối thì bây giờ cũng là chết do địa-chủ dìm), bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông-dân, giết người (bất cứ ai chết bệnh cũng tố là do địa-chủ giết), hãm hiếp, v.v… Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự :

Ở xã Nghĩa-khê, thuộc tỉnh Bắc-Ninh, bọn địa-chủ tổ-chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài-liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông-dân. Ở Liễu-Sơn, chúng dùng một em thiếu-nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông-dân kịp ngăn được: Thâm độc hơn, ở Liễu-Hà, chúng cho mấy em thiếu-nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân-Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Ðức-Phong (Hà-Tỉnh) chúng mua bài tu-lơ-khơ (bài Trung-Cộng mang sang) cho các em mãi chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng.

Ðiều đáng chú ý là địa-chủ càng đạo-đức bao nhiêu, như thể linh-mục, hòa-thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp-dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa-chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa-chủ lên trước khán-đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con ; biết là bố thế nào cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để . theo lời cán-bộ . được quy là trung nông, và như vậy có hy-vọng sống yên nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa-chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu. Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết. Bác-sĩ Nguyễn-đình-Phát, chủ đồn-điền ở Phủ-Quỳ, Nghệ-An và đại-biểu Quốc Hội Việt Minh, đã bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn-điền của ông ta. Trong một buổi đấu tố cụ Cử Lê-trọng-Nhị, làng Cổ-Ðịnh, tỉnh Thanh-hóa, một lãnh tụ phong-trào Văn Thân năm 1907-8 đã từng bị đầy ra Côn đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố : “Mày có biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày ? Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp-dâm tao rồi tao sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng làm tính nhẫm và nhớ lại, hồi mụ này sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà-lim Côn đảo, cách xa hai nghìn cây số.

Có nhiều địa-chủ tỏ ra rất bình-tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ-An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại : “Xin anh em một viên đạn !” Ở Thanh-Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ : “Mày có nhớ tao là ai không ?” Ðịa-chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ ! Mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp của tao con gà”. Chủ-tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ-chức đấu lại, địa-chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ béo bổ khác, chè tầu, cà-phê. Ðịa-chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày hoặc ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau ba ngày đấu-tố, địa-chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân-dân đặc-biệt xét xử ? Trong khoảng thời gian đấu-tố, mỗi tỉnh xuất bản một tờ báo địa-phương lấy tên là “Lá Rừng” (ngụ ý tội ác của địa-chủ nhiều như là rừng) để tường thuật những vụ đấu tố trong toàn tỉnh. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan” nghĩa là về các làng có đấu tố để quan-sát chính-sách Cải-cách Ruộng-đất. Ðảng muốn họ đi sát với “anh em nông-dân” để am-tường nỗi khổ của anh em nông-dân và công-nhận chính-sách tiêu-diệt giai cấp địa-chủ của Ðảng là “hợp tính hợp lý”. Họ cũng “ba cùng” với nông-dân, nhưng chỉ được quan-sát, không được phát biểu ý kiến. Tuy-nhiên việc có mặt của họ cũng có phần lợi cho địa-chủ. Vì muốn tỏ cho họ thấy chính-sách của Ðảng rất đúng, nên cán-bộ cố gắng thận trọng hơn nên do đó, địa-chủ cũng được nới tay hơn. Một phần nào những người tới tham quan cũng là “thần bảo mạng của họ”.

Bước 6 : Xử án địa-chủ

Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc-biệt tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến-thức về luật-pháp và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công-cáo ủy-viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nôngd ân đã làm chủ-tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo thu một phần hoặc toàn bộ tài-sản. Tịch-thu tài-sản chỉ là một việc “lấy lệ”, vì dù tòa không tuyên án tịch-thu thì sau này, tới chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất đích thực, toàn-bộ tài sản của mỗi địa-chủ cũng sẽ bị tịch-thu.

Những người bị kêu án tử-hình bị bắn ngay sau khi tuyên án và hố chôn đã đào sẵn, trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên-bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to : “Hồ-chí-Minh muôn năm ! Ðảng Lao-động muôn năm !” thì thủ tục “tư-sản” này bị bãi bỏ. Từ đó về sau, hể tòa tuyên án tử-hình thì tức khắc một cán-bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi. Một điều đáng thương cho những người bị hành-quyết là những tự-vệ xã cầm súng bắn phần nhiều mới cầm súng lần đầu, nên bắn trật bậy trật bạ. Nhiều nạn nhân bị lôi đi chôn chưa chết hẳn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa-chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu-tình. Công-chúng vỗ tay hoan-hô khi nạn nhân ngã gục dưới lằn đạn. Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng-sản đối với địa-chủ cũng in hệt như vậy. Mang địa-chủ ra đấu-tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa-chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục-đích : thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín và gieo khiếp đảm vào trong tâm hồn toàn thể nhân-dân.

Cảì-cách Ruộng-đất còn một hình-thức khác cần phải nói tới là chính sách “cô-lập địa-chủ”. Số người chết vì chính-sách này còn đông gấp mười số người bị Tòa án Nhân-dân Ðặc-biệt kêu án tử-hình.

Chính-sách “Cô-lập địa-chủ”

Hễ bị quy là địa-chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa-chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến-dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến-dịch thứ hai, địa-chủ và gia-đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra ủy-ban có việc. Vì chính-sách “cô-lập” này, phần lớn gia-đình địa-chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau. Mục-đích của chính-sách vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu-diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông-thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống-kê về số người bị chết đói vì chính-sách “cô-lập địa-chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành-phần giai-cấp “địa-chủ” đã bị chết như vậy. Trong bài diễn văn đọc trước Ðại-hội Toàn quốc của Mặt-trận Tổ-quốc, luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường đã nói : “Trong khi đập tan giai-cấp địa-chủ, ta không phân-biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu-diệt”. Cũng về mục này Nguyễn-hữu-Ðang, Bộ-trưởng bộ Văn-hóa trong chính-phủ Việt-minh đầu tiên, đã viết trong báo Nhân-Văn như sau :

“Trong Cải-cách Ruộng-đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch-thu tài-sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu-nhi vô tội trong các gia-đình địa-chủ, hoặc chính là nông-dân bị quy sai thành-phần”.

Quả thực ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai-cấp địa-chủ không khác Ðức Quốc-xã diệt chủng người Do-Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do-Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách-nhiệm về quyết-định của họ trước công-luận và trước lịch sử. Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai-cấp địa-chủ một cái “chết tự nhiên”, không ai mang tiếng giết họ, bắt họ phải “bất đắc kỳ tử”. Ngay cả sau Cải-cách Ruộng-đất, nếu ốm đau, địa-chủ và thân-thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men, trong khi người Do-Thái dưới chế-độ Quốc-xã vẫn có bác-sĩ Do-Thái trông nom. Tình trạng này đã được luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường tóm tắt như sau :

“Khi đưa tới bệnh-viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn-đề mang ra thảo luận trước tiên là : Bệnh-nhân thuộc thành-phần giai-cấp nào ? Chữa cho địa-chủ thì “mất lập-trường”. Ðể nó chết mới chứng minh mình có “lập-trường giai-cấp”.

Những địa-chủ còn sống sót tới phong-trào Sửa Sai . sau phong-trào hạ-bệ Stalin ở Nga . là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia-đình khỏi chết.

(còn tiếp)
 

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem

Phần 1 Cái Vinh & Cái Nhục Của Một Tiểu Nhược Quốc

Phần 2 Nước Mất Lại Còn

Phần 3 Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Phần 4 Cải Tạo Tư Tưởng

Phần 5 Cải Cách Ruộng Đất
           
- Ðại cương về cải-cách ruộng-đất

May 4, 2008

Đất nước này là của ai?

Song Chi

Trả lời: Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Đất nước này là của nhân dân Việt Nam, sao còn phải hỏi một câu vớ vẩn như thế. Và chính quyền này cũng vậy, là của dân, do dân và vì dân.

Có phải như vậy không?

Cái khối nhân dân trừu tượng đó là ai?Là những thành phần nào?

Trong bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy trước đây, ống kính của máy quay đã nhiều lần chĩa vào những chữ “nhân dân” xuất hiện ở khắp mọi nơi trên đất nước này: Tòa Án Nhân Dân tỉnh…, quận…, Viện Kiểm sát Nhân Dân tỉnh…, Bệnh viện Nhân Dân, Nhà thuốc Nhân Dân, Cửa hàng Nhân Dân

Cái khối nhân dân trừu tượng được quan tâm ưu đãi tuyệt vời đó là bao gồm những ai?

Có phải là công nhân-giai cấp tiên phong, lực lượng nòng cốt của Đảng CSVN trong những cuộc cách mạng thần thánh vừa qua như những người lãnh đạo Đảng vẫn tiếp tục ca mãi bài ca này?

Xin hãy nhìn thử xem hiện nay giai cấp công nhân ở nước này đang sống như thế nào? Họ đang phải vắt kiệt sức mình trong những công ty, nhà máy của Nhà Nước hoặc liên doanh với nước ngoài, với một mức lương bèo bọt trên dưới một triệu đồng/tháng, thường xuyên làm việc trong những điều kiện rất khe khắt căng thẳng do chủ đặt ra, thường xuyên bị đe dọa trừ lương, cắt lương, đuổi việc, bị la mắng và trong một số trường hợp còn bị các ông chủ người nước ngoài xúc phạm bằng lời lẽ hoặc bằng vũ lực. Và khi hàng trăm hàng ngàn công nhân ở nơi này nơi kia chịu không nổi vùng dậy biểu tình đòi tăng lương, đòi những quyền lợi nhỏ bé và cụ thể mà phải khó khăn lắm họ mới đạt được một phần nhỏ thắng lợi, thì gần đây nhất Chính phủ và Vị Thủ tướng nhân dân đã cho họ một đòn đau khi ra Nghị định số 12/2008/NĐ-CP ngày 30/1/2008 quy định buộc ngừng đình công và xử phạt những người đình công nếu những cuộc đình công đó gây thiệt hại đến kinh tế…Còn đối với những người không sống nổi với mức lương bèo bọt trong nước, cắn răng tìm con đường xuất khẩu lao động đem thân đi làm thuê ở xứ người mà chua chát thay,cũng là mang ngoại tệ về cho đất nước, khi có chuyện thiệt thòi hay bị đối xử tệ, chính phủ Việt Nam làm được gì để can thiệp và bảo vệ cho họ? Câu chuyện về những nữ công nhân bị đàn áp ở Jordan gần đây hay công nhân Việt Nam làm việc trong điều kiện khắc nghiệt ở Malaysia và theo BBC Vietnamese “ từ 2004 tới nay đã có trên 300 công nhân VN chết khi làm việc ở Malaysia. Riêng năm ngoái con số này là 107. Đa số các trường hợp được ghi nhận là ‘đột tử’.” Đất nước này do vậy không thể là của họ.

Đất nước này là của ai? Có phải là nông dân-lực lượng nòng cốt thứ hai của Đảng, tầng lớp đông đảo nhất ở Việt Nam từ trước đến nay?

Xin hãy nhìn thử xem hiện nay người nông dân ở nước này đang sống như thế nào? Bản thân họ trực tiếp làm ra hạt gạo nuôi sống dân tộc Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng đời sống của người nông dân cho đến tận bây giờ vẫn rất nghèo, đất đai của nông dân ở khắp mọi nơi đang bị giải tỏa và đền bù với giá rẻ mạt để giải phóng mặt bằng cho những dự án về kinh tế, quy hoạch…Nhưng thực chất là bọn đầu cơ kinh doanh về địa ốc kết hợp với đám quan chức địa phương gần như cướp ngang của người dân để mua đi bán lại đất đai, làm giàu nhanh chóng, đẩy hàng ngàn hàng triệu nông dân vào cảnh bần cùng.Và khi họ chịu không nổi bồng bế nhau vác đơn đi khiếu kiện từ quê ra tỉnh lên tới thành phố thì chẳng ai trong đám “công bộc, đầy tớ của nhân dân” giải quyết cho họ. Thậm chí chính quyền còn vu cho họ tội “gây rối trật tự công cộng” và ra lệnh bắt tạm giam họ. Vụ việc công an bắt bớ hàng loạt dân oan quận 9 trong đêm 2.3.2008 vừa qua là một ví dụ. Xuất phát của mọi chuyện là do đâu? Nếu như chính quyền khi triển khai dự án Khu Công nghệ cao ở quận 9 đã không giải tỏa bao nhiêu đất đai của người dân rồi đền bù với một mức giá bèo bọt, phi lý và bất công thì đâu có chuyện gì xảy ra? Người dân đâu có lý do gì để phải bức xúc đi khiếu kiện xảy ra xô xát, để rồi bị khép tội gây rối trật tự và bị bắt? Đất nước này do vậy không thể là của họ.

Đất nước này là của ai? Cũng không phải là của hàng triệu người dân nghèo ở khắp nơi đang phải kiếm sống bằng những gánh hàng rong, chạy xe ba gác, xe lôi đi chở hàng…khi chính quyền vừa ra lệnh dẹp tất cả xe ba gác, xe tự chế, các loại hàng rong …mà không hề có một sự chuẩn bị và hỗ trợ chu đáo cho họ để chuyển đổi sang một phương cách mưu sinh khác. Người ta đã đơn giản gạt họ và con cái họ sang một bên để lạnh lùng tiến lên phía trước.

Đất nước này là của ai? Cũng không phải là của tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ, vốn là thành phần rất được ưu ái, xem trọng trong bất cứ một xã hội dân chủ nào. Bởi vì hãy thử nhìn xem, cũng như dân chúng, trí thức văn nghệ sĩ có đựơc hưởng những quyền công dân chính đáng ví dụ như quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp biểu tình một cách ôn hòa bất bạo động…không? Có được quyền sáng tác theo tiêu chí tôn trọng sự thật khách quan, theo lương tâm người nghệ sĩ và trách nhiệm công dân là phải phản ánh những mặt trái của xã hội, của chính quyền và đứng về phía nhân dân, về phía nước mắt? Hay là mỗi khi có một tác phẩm nào dám đụng chạm đến những vấn đề gai góc của xã hội, của lịch sử, đụng chạm đến Đảng…thì lập tức bị cấm phát hành, bị thu hồi, người sáng tác bị làm khó dễ, bị cô lập, vùi dập, thậm chí bắt bớ? Hay là mỗi khi muốn nói một điều gì là sự thật, các nhà văn nhà thơ nhà báo đành phải tìm đến các trang báo mạng bên ngoài, blog hoặc bằng con đừơng xuất bản độc lập? Đất nước này do vậy không thể là của họ.

Đất nước này cũng không phải của ngay cả một số những con người thụôc thành phần có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sĩ…trước đây đã từng đào hầm che giấu cán bộ, góp công góp gạo nuôi cán bộ, từng hy sinh xương máu để góp phần tạo dựng nên chế độ, nhưng vì vẫn còn lương tri và biết xấu hổ nên không mua quan bán tước, tìm mọi cách leo cao leo sâu vào hàng quan chức, ăn trên ngồi trốc, trở thành tầng lớp có chức quyền hoặc tư bản đỏ làm giàu nhanh chóng bằng cách tham nhũng lũng đoạn kinh tế, phù phép của công thành của riêng, làm nghèo đất nước một cách nhanh chóng với những dự án siêu lỗ, thất thoát hàng ngàn tỷ đồng…Không, trong số hàng đoàn người lầm lũi đi khiếu kiện kia hay trong số những người dân oan ở quận 9 bị bắt vừa rồi chẳng hạn, có rất nhiều người thuộc thành phần có công với cách mạng, thương binh liệt sĩ, cựu chiến binh…Đất nước này bây giờ cũng không phải là của họ như họ đã từng lầm tưởng là như vậy.

Đất nước này cũng không thuộc về các tầng lớp nhân dân nói chung bởi vì khi một phần lãnh thổ và lãnh hải của Tổ Quốc bị ngang nhiên chiếm đoạt, khi lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam bị xúc phạm nặng nề, người dân đã không được quyền lên tiếng!

Vậy thì đất nước này là của ai, thuộc về ai?

Vậy thì đất nước này là của ai, thuộc về ai?

Vậy thì đất nước này là của ai, thuộc về ai?

 

April 18, 2008

Mấy năm gần đây Tắc kè csvn tưởng niệm vua Hùng nhằm thủ đoạn gì ?

Sau nhiều năm dài csvn TÔN THỜ thánh MAC-LE-Mao ở khắp mọi nơi trên đất nước VN, quên đi các Vua hùng VN (đọc di chúc HCM), csvn đã bắt đầu ĐỔI MÀU để LỪA BỊP người dân, để đối phó với tình hình mới khi CNCS đã sụp đỏ trên quê hương của nó, khi cái mặt nạ bán nước cầu vinh đã rơi xuống qua công hàm bán nước của TT Phạm Văn Đồng (12/2007) và lời tuyên bố sát nhập HS TS của TQ vào huyện Hải Nam TQ, qua thái độ nhu nhược ngụy biện của csvn, và qua việc đàn áp thanh niên yêu nước biểu tình phản đối TQ …

Csvn đã hiện nguyên hình là thái thú của TC, là cai thầu của tư bản đối với giai cấp công nông và đồng bào VN !
Chúng ta đang mất nước !!!


Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương tại TP.HCM
http://www4.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/4/15/234650.tno
http://www4.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/4/16/234729.tno

Chừng nào TC trả lại VN Hoàng Sa Trường Sa thực sự ?
Đcsvn làm gì cụ thể để lấy lại HS TS  ??
Tại sao csvn lại đàn áp, khủng bố sinh viên biểu tình phản đối TC v/v chiếm HS TS ??
Đài Loan không cho TC rước đuốc qua ĐL, trong khi csvn lại chấp nhận cho TC rước đuốc tại Saigon, Hoàng Sa, đang có tranh chấp chủ quyền về hải đảo này và TC lợi dụng Olympics để giới thiệu với công luận là HS TS thuộc TC và  gài nhân dân VN “ủng hộ”  (thể thao Olympics = công nhận HS TS là của TC) !!

Chừng nào csvn quốc tế hóa vụ TC lấy HS TS của VN ??
Trước Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế ! 

Vì “thương lượng” ngoại giao song phương là vô ích  :
ăn nói làm sao với cái công hàm PVĐ 14/9/1958 ?  (dù không giá trị về luật pháp, nhưng giá trị giữa 2 đcs !!)
Csvn cần ô dù của csTQ để tồn tại, cầm quyền !

Ru ngủ, lừa mị dân !!
(trong giai đoạn nhân dân phản nộ về vụ csvn dâng HS TS cho TC, và phản đối rước đuốc Olympics tại Saigon, Hoàng Sa, TS)

“Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng,

Bác mang 1 nước qua nô lệ,

Tôi dẫn 5 châu đến đại đồng

Bác có linh thiêng cười 1 tiếng,

rằng tôi cách mạng đã thành công”

(HCM đọc thơ trước tượng đức thánh Trần)

NGHỀ CHỤP MŨ

Đinh Lâm Thanh

Ba triệu người Việt Tự Do định cư tại nước ngoài chỉ là một số nhỏ so với trên tám chục triệu trong nước, nhưng chính là mối lo sợ hàng đầu đối với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Đây là một cộng đồng đầy đủ thực lực, từ nguồn chất xám, tinh thần đoàn kết, khả năng tài chánh đến vai trò chính trị…

Ngoại trừ tại Hoa kỳ, còn lại một số nhỏ định cư rải rác khắp toàn thế giới, nhưng cộng đồng người Việt chẳng những đã thu hút được cảm tình người bản xứ mà còn thay đổi được lối nhìn, quan niệm và thái độ của thế giới tự do đối với những người đã bỏ xứ ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tinh thần đoàn kết dưới màu cờ Vàng Ba Sọc Đỏ dù ở bất cứ nơi nào, người Việt Tự Do cũng đã giúp người dân bản xứ nhận ra sự hiểu biết thô sơ, lệch lạc cũng như những sai lầm của họ trước kia về chế độ Cộng sản Việt Nam.

Ngoài ra cần phải nói thêm, các nỗ lực và thành quả tốt đẹp của người Việt trong việc hội nhập vào xã hội mới cũng như tinh thần chống Cộng triệt để đã vô hiệu hóa tất cả những lời tuyên truyền, bịp bợm, láo khoét của các cơ quan ngoại giao Cộng sản từ trong nước cũng như ở hải ngoại. Khi vừa chiếm đoạt Miền Nam, Hà Nội đã vội vàng cướp tài sản, bỏ tù, đày đi kinh tế và xua ra đại dương những người mà Cộng sản cho là biếng nhác, ăn hại, phản động, tay sai, đánh thuê và là mầm mống nguy hiểm cho chế độ.

Nhưng chỉ một thời gian sau, chính Hà Nội lại âu yếm gọi bằng “khúc ruột ngàn dặm” và trân trọng trải thảm đỏ, mời những người bị chúng đã xua ra biển nên quên hận thù, quay về đùm bọc lấy anh em ruột thịtxây dựng lại quê hương! Vừa van lạy xin “tiền khúc ruột ngàn dặm”, vừa lo sợ trước tinh thần đoàn kết cũng như những thành công về kinh tế và chính trị của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Trên bình diện quốc tế, tập đoàn Cộng sản đã thua hẳn cộng đông người Việt tự do tại hải ngoại về mọi phương diện.

Muốn đánh bại cộng đồng, con đường tốt nhất là phải phá thối và gây chia rẽ nội bộ… Do đó, để phá hoại cộng đồng, Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu và dành một ngân khoảng lớn để huấn luyện, tổ chức và tưởng thưởng cho điệp viên, cán bộ nằm vùng và những ai đã lỡ “dính chàm” phải cúi đầu chờ lệnh.

Chỉ có hai sức mạnh khả dĩ đánh đổ được tập đoàn bạo quyền Hà Nội mà thôi, đó là tinh thần Đoàn Kết và Ngoại Tệ của cộng đồng người Việt hải ngoại mà tinh thần đoàn kết của người Việt hải ngoại mới đích thực là mối lo trầm trọng của tập đoàn Cộng sản Việt Nam. Do đó, chúng ta không lạ gì khi Cộng sản Việt Nam chi ra nửa tỷ dollars cho âm mưu kiều vận và phá hoại qua nghị quyết 36.

Nghị quyết này gồm nhiều tiết mục nhưng chung quy có thể thu gọn trong 3 phần với 3 mục đích chính: Lường gạt, tuyên truyền và phá hoại!

- Lường gạt :

Kêu gọi chất xám và tiền của người Việt nước ngoài. Đây là phần nổi của nghị quyết. Làm một công hai việc, vừa đánh bóng chế độ trong tinh thần hoà giải hòa hợp dân tộc và kêu gọi khúc ruột ngàn dặm đem hết khả năng và của cải về phục vụ đất nước. Nhưng thực chất là một sự lường gạt trắng trợn những người dễ tin để đem chất xám về phục vụ củng cố một tập đoàn thối nát, bất tài và tham nhũng, đồng thời khai thác tình thâm ruột thịt, liên hệ gia đình của những “con gà để trứng vàng” trong nước hầu móc túi thân nhân nước ngoài.

- Tuyên truyền:

Lợi dụng truyền thông, văn hóa để len lỏi vào Cộng đồng bằng cách ru ngủ, mua chuộc, lôi kéo từ người lớn xuống trẻ em dưới nhiều hình thức, từ sách báo, ca nhạc, cải lương đến các hoạt động xã hội, tôn giáo và nhất là chú trọng vào chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ nhỏ.

Các tòa đại sứ Cộng sản được cấp những ngân sách khổng lồ để thi hành nghị quyết bằng cách tổ chức những đội ngũ cán bộ, mục đích len lỏi vào các cơ sở của người nước ngoài như báo chí, truyền thanh truyền hình, lập ra nhiều trang báo điện tử, diễn đàn hoặc dùng tiền mua chuộc từ cá nhận đến tập thể trong các tổ chức này. Đây là phần chìm mà các cơ quan ngoại giao tại hải ngoại phải thi hành theo lệnh của bộ chính trị của đảng. Nhưng trong năm qua Cộng sản Việt Nam đã thất bại, các cơ quan ngoại giao nước ngoài không đạt chỉ tiêu cho năm 2006 trong chương trình xâm nhập vào toàn bộ các hiệp hội, đoàn thể, đảng phái của người Việt hải ngoại.

Quan trọng nhất là cuối năm 2006 chúng đã hoàn toàn thất bại trong âm mưu dùng tiền mua chuộc hoặc thay thế các chức vụ chủ tịch của cộng đồng bằng các cán bộ nằm vùng hay những tên cò mồi dễ dạy.

- Phá hoại :

Len lỏi vào cộng đồng, đảng phái, đoàn thể để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ, phá rối Cộng đồng người Việt hải ngoại… đồng thời huấn luyện, nuôi dưỡng đám “chó săn” để chúng theo dõi, bôi xấu, hù dọa, chụp mũ những ai có hành động gây phương hại cho chế độ Cộng sản. Đây mới là chính phần trọng tâm của nghị quyết 36!Phần nổi và phần chìm chúng tôi đã có dịp trình bày trong những bài trước, trong phạm vi lần này xin đề cập đến một đòn ma giáo thuộc phần trọng tâm của nghị quyết 36, là chụp những chiếc mũ Cộng sản cho những ai mà Hà Nội xem là thành phần cực kỳ phản động ở nước ngoài.Chụp mũ hay đội nón cối lên đầu những người quốc gia có tinh thần chống Cộng kiên trì, đối với Cộng sản là thượng sách, vừa ít tốn tiền nhưng lại tạo được nhiều kết quả thật quan trọng. Bất cứ ai có tên trong sổ đỏ thuộc thành phần “cực kỳ phản động” ở hải ngoại mà Cộng sản Việt Nam không thể mua chuộc, hù dọa hay bắt bớ được thì cứ việc ra lệnh cho đàn em đội ngay lên đầu họ một vài chiếc nón cối thật lớn là xong chuyện!

Vì Cộng sản biết rằng, cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại chẳng những căm thù người Cộng sản chính hiệu mà còn xa lánh, tẩy chay những tên tay sai ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản như trường hợp Trần Trường ở Cali cách đây vài năm. Cứ việc đội lên đầu người nào một vài cái nón cối thì trước sau gì danh dự của nạn nhân cũng bị tổn thương không nhiều thì ít. Đúng vậy, một khi dùng nón cối quật ngã được người nào thì xem như Cộng sản đã thắng một trận đánh lớn mà không mất một viên đạn.

Điều tệ hại quan trọng nhất là một số ít người trong cộng đồng thiếu suy tư phán đoán, thiếu tìm hiểu nạn nhân để chận đứng và vạch trần âm mưu của Cộng sản, do đó họ đã vô tình nối giáo cho giặc bằng sự im lặng của mình. Nói chống Cộng, ngồi lại với nhau thì hùng hổ nói thật hay, nhưng khi có việc thì rút vào bóng tối…

Chỉ một việc nhỏ như đi biểu tình chống Cộng trước tòa đại sứ Việt Cộng hằng năm vào ngày 30.4 thì thật đáng buồn khi so sánh số người tham dự với khách trong các buổi tiệc liên hoan, kỷ niệm của các hội đoàn chống Cộng!

Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức lúc nào cũng tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu, vì những người này thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn… dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại khó khăn khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những “tên phản động”.

Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người này đó, Cộng sản cứ đà tiến tới chụp mũ người này đến người kia. Do đó, vừa mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xả thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!

Thành phần chuyên nghiệp hành nghề chụp mũ là những ai?

Có thể là một trong ba hạng người sau đây: Cán bộ điệp viên đội lốt người tỵ nạn. Người nhẹ dạ đã-đang-sẽ hưởng bổng lộc của Cộng sản Việt Nam. Người bị “dính chàm” của Cộng sản vì một vấn đế nào đó và một khi vết “chàm” của Cộng sản đã dính lên người thì không bao giờ gội rửa được!

Cái bẫy giăng ra thật đơn giản là khi ban ân huê cho một cá nhân nào, Cộng sản chỉ cần ghi lại tất cả dấu vết để sau đó áp lực nạn nhân phải thi hành những yêu cầu của chúng. Nhiều trường hợp đi tù, một vài cá nhân nào đó đã bán đứng đồng đội mục đích kiếm điểm với kẻ thù, để được làm “cai tù” ăn trên ngồi trước, để chạy tội hay hy vọng rút ngắn thời gian cải tạo trở về đoàn tụ với gia đình… Lúc cần thì Cộng sản xử dụng những bút tích đó để hù dọa, bắt chẹt và ép buộc phải tìm cách đội lên đầu cái nón cối cho những ai mà Cộng sản cần phải thanh toán! …

Đó là trò đểu của Hà Nội đang mang ra áp dụng tại hải ngoại để tách rời những người chống Cộng ra khỏi cộng đồng người Việt. Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chửi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chửi bới hăm dọa. Phương thức này chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chửi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật, nhưng những người này thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối rỉ tai người này người khác.

Trường hợp này mới nguy hiểm vì cộng sản đã thành công trong việc gây xao trộn cộng đồng, tạo chia rẽ giữa người này người kia… Nhân cách của những kẻ thường dùng kỹ thuật rỉ tai đã là xấu vì nói lén sau lưng người khác, người “bị” nghe thường không chú ý, nhưng nghe mãi nghe hoài cũng thấm vào đầu óc họ.

Đó là chiến thuật tuyên truyền của Cộng sản, cứ nói mãi, thế nào cũng còn lưu lại trong đầu người nghe không nhiều thì ít! Những người đội tên giả chửi bới vô liêm sĩ thật ra không nguy hiểm bằng hạng người rỉ tai người này người kia thì chúng ta cần phải cảnh giác.

Kết quả Cộng sản đã thắng bằng lối tuyên truyền cố hữu, chỉ một viên đạn bắn ra đã sát hại nguyên cả đàn chim.Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh… muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng, khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ…

Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức lúc nào cũng tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu, vì những người này thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn… dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại khó khăn khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những “tên phản động”. Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người này đó, Cộng sản cứ đà tiến tới chụp mũ người này đến người kia. Do đó, vừa mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xả thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!

Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chửi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chửi bới hăm dọa. Phương thức này chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chửi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật, nhưng những người này thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối rỉ tai người này người khác.

Hành động của thành phần này đã tạo ra những môi trường thuận lợi cho kế hoạch phá hoại của nghị quyết 36. Để kết nạp thành phần này, địch có thể cung cấp nhân lực cũng như tài chánh mục đích tạo ra thật nhiều hiệp hội, nhiều đoàn thể, đảng phái nhằm chia xẻ tinh thần đoàn kết của cộng đồng.

Vô tình thành phần này trở thành công cụ không công cho địch, rồi một lúc nào đó, với một ân huệ hay hứa hẹn nào đó, những người này trở thành những tay đắc lực phụ vụ cho quyền lợi của đảng Cộng sản Việt Nam.

Chụp mũ là thủ đoạn của Cộng sản, hành động này là nghề nghiệp của các điệp viên, những tên cán bộ công an núp bóng trong hàng ngũ tỵ nạn.

Những người quốc gia chân chính, đừng vì ganh ghét cá nhân, đừng vì một chút lợi lộc tiền bạc hay những lời hứa hẹn của địch mà nhắm mắt làm theo lệnh quan thầy, đánh lung tung người này đến người khác. Một khi Hà Nội chỉ thị phải đánh một người nào thì phải nghĩ rằng người đó là cái gai trước mặt mà chúng cần phải nhổ bỏ, nếu đánh gục họ thì xem như một người quốc gia đã dùng vũ khí Cộng sản đánh thẳng vào cộng đồng người Việt Tự Do ở hải ngoại.

Việc vạch mặt chỉ tên những tên Cộng sản nằm vùng phá hoại cộng đồng là một việc phải làm của tất cả mọi người, nhất trong giai đoạn này để loại ra khỏi cộng đồng những phần tử đang ráo riết gây rối và phá hoại cộng đồng trong nhiều lãnh vực. Nhưng tuyệt đối đừng nghe lời của những người có thành tích bất hảo, miệng chống Cộng vung vít nhưng đàng sau chúng đưa tay nhận tiền bạc lợi lộc của kẻ thù để đội lên đầu những người chống Cộng chân chính và nhiệt huyết những cái nón cối.

Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thật chính xác về đời tư, quá trình hoạt động của hai đối tượng, người hành nghề chụp mũ cũng như nạn nhân để tránh việc xét đoán lầm người.

Chỉ một hành động chuyền miệng rỉ tai bôi xấu một người nào đã là hành động của kẻ tiểu nhân, chưa kể đến những chuyện bày đặt buồn cười vô căn cứ thì chúng ta nên xét lại và ngăn chận kịp thời, tránh chuyện “tam sao thất bổn” nhỏ biến thành lớn, chuyện ruồi bu thành vấn đề quan trọng.

Không có chuyện gì có thể bưng bít lâu dài, không nhanh thì chậm, tất cả sự thật sẽ được phơi bày dưới ánh mặt trời, chừng đó người đời sẽ phê phán hành động của những người hành nghề chụp mũ và con cái cháu chắc sẽ tủi nhục vì những hành động của cha ông mình. Nhưng hiện tại nếu không mau trừ khử những người hành nghề chụp mũ kịp thời thì trong giai đoạn quyết liệt này cộng đồng chúng ta sẽ thiếu hoặc mất đi những người tiên phong chống Cộng.”,[1]

Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh… muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng, khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ…

Chụp mũ là công việc của bọn công an, điệp viên nằm vùng, nếu là người quốc gia, những ai đã bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản thì xin hãy dừng tay, đừng vì cá nhân, tiền bạc, phe nhóm mà nhắm mắt chụp mũ những người đang tranh đấu nhiệt tình trong lòng cộng đồng người Việt. Một điều khẳng định rằng, một khi Cộng sản ra lệnh chụp mũ một người nào thì chắc chắn rằng Hà Nội muốn bịt miệng và tách rời người đó ra khỏi cộng đồng bằng trò chia rẻ.

Cũng xin nhắc nhở những người đang hành nghề chụp mũ, không phải ai cũng sợ chiếc nón cối, mà một số người chống cộng nhiệt tình, có lý tưởng từ trong máu huyết mà họ đã chứng minh bằng những hành động bất vụ lợi từ lúc cắp sách đến trường cho đến ngày nay thì không bao giờ cái nón cối đánh gục được họ. Đối với những người này, càng bị chụp mũ, họ càng đứng dậy, hiên ngang tiếp tục con đường tranh đấu cho đến ngày nhắm mắt.

Mong rằng những người trong hàng ngũ quốc gia thường xử dụng đòn chụp mũ hãy lấy lương tâm tìm hiểu nạn nhân. Thật tình mà nói, những người chống Cộng thật cô đơn, chính vợ con họ phản đối vì đã gây cho gia đình biết bao lo lắng buồn phiền mà còn bị những người thường về Việt Nam như bà con, thân nhân, bạn bè cũng như đồng hương, đồng chí… tránh né vì sợ Cộng sản khám phá ra có liên hệ thân thiết với những tên “cực kỳ phản động”ở nước ngoài!

Tóm lại, người trí thức quân tử dám nói dám làm, tôn trọng sự thật và sẵn sàng chấp nhận sai lầm của mình… Tiểu nhân, ngửa tay nhận ân huệ tiền bạc của bất cứ ai để thi hành bất cứ tội ác nào được giao phó từ ném đá giấu tay, mang tên ảo, rỉ tai, bôi xấu đến chụp mũ những người bị đối phương xếp vào loại “phản động”. Thế thì nuôi dưỡng bao che cho tiểu nhân làm gì để chúng tiếp tay Hà Nội, bôi nhọ những phần tử Quốc gia… để rồi cộng đồng sẽ thiếu nhiều chiến sĩ tiền phong trong hàng ngũ chống Cộng sản. Nếu còn chút lương tri, xin hãy nghĩ lại xem…

April 15, 2008

Chiến tranh, bản chất và mục đích

 Mâu thuẫn và xung đột là những hiện tượng thường thấy trong xã hội loài người. Đó cũng là một khía cạnh căn bản của nhân tính được biểu lộ rõ rệt nhất trong mối tương quan giữa người với người. Từ những kết hợp nhỏ như gia đình đến những tổ chức lớn lao vĩ đại như xã hội, dân tộc, quốc gia, nhân loại … đều có dấu vết của mâu thuẫn và xung đột. Tùy theo mức độ nghiêm trọng, tùy theo lãnh vực xảy ra mâu thuẫn và xung đột mà chúng ta có những ngôn từ thích hợp.

Bài viết này chỉ đề cập đến chiến tranh, tức là ở phần cao nhất của mối mâu thuẫn giăng mắc giữa Quyền và Lực của những thực thể như xã hội, quốc gia, dân tộc… Chiến tranh là điều ai cũng e sợ, kinh khiếp vì bản chất tàn nhẫn gây giết chóc đỗ vỡ của nó , nhưng ở một khía cạnh khác tích cực hơn, chiến tranh lại là một nhu yếu của nhân loại, có mục đích dùng để giải quyết những bế tắc căn bản mà những vận dụng ngoại giao chính trị đã không đạt được kết quả như dự ước. Với thành quả chiến tranh, (chiến thắng hay chiến bại) mối tương quan quyền lợi giữa những đối thủ được sắp xếp lại theo một trật tự mới căn cứ vào khả năng võ lực hiện có. Cũng trong bài viết này, giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam từ 1945 – 1954 sẽ được dùng như một điển hình để minh chứng bản chất và mục đích của chiến tranh.

Để tránh ngộ nhận, có một điều cần phải xác quyết đây là cuộc chiến tranh quật khởi của toàn dân Việt Nam chống đế quốc thực dân Pháp để dành độc lập, tự do, hạnh phúc. Sức mạnh cảm xúc vô biên của lòng yêu nước thương nòi, đã thúc đẩy đại khối dân tộc gạt bỏ những tị hiềm thua thiệt cá nhân, để đoàn kết chấp nhận hy sinh xương máu cho sự vinh quang của tổ quốc và lý tưởng cao đẹp Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, chứ không phải chủ nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít với đấu tranh giai cấp làm suy yếu nước nòi. Dân tộc Việt Nam đã thật sự chiến thắng thực dân Pháp, nhưng dân tộc Việt Nam cũng đã bị dối gạt bởi những người Cộng Sản giả danh Quốc Gia. Họ đã phản bội lý tưởng “Tổ Quốc Trên Hết”, định đề của những hệ luận Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc khi đưa tổ quốc Việt Nam vào quỹ đạo nô lệ để phục vụ tham vọng của đế quốc Cộng Sản bằng những dịch vụ xương máu, được gọi một cách hoa mỹ là “làm nghĩa vụ quốc tế cao đẹp” …

2). Chiến Tranh
A. Định nghĩa chữ chiến tranh

 

Chiến tranh là một danh từ kép gồm hai chữ Chiến và Tranh. Riêng chữ Chiến có nghĩa là đánh nhau, hai bên bày trận để phân thắng bại, hơn thua. Phân tích tự dạng theo lối chiết tự thì Chiến ( ) gồm bộ Qua ( ) là cái mác một loại binh khí thời cổ và chữ Đơn ( ) là cô đơn, lẻ loi, trái nghĩa với chữ Phúc rất nhiều. Kết hợp hai ý trên thì Chiến là dùng võ lực để loại đối thủ đoạt địa vị chí tôn, vì một nước không thể có hai Vua. Còn chữ Tranh có nghĩa là giành giật, cãi cọ để được hơn người. Chữ Tranh ( ) thuộc bộ Trảo ( ) tức là móng chân, móng tay ở loài người hay là móng vuốt của loài thú dùng để tự vệ hay sát hại con mồi.

Vậy chiến tranh là mức độ cao nhất của mối mâu thuẫn giữa hai hay nhiều thực thể phải tất yếu giải quyết bằng sức mạnh của gươm giáo, súng đạn. Ở đó, kẻ chiến thắng bao giờ cũng áp chế kẻ chiến bại bằng “công lý” của sức mạnh võ lực.

B. Bản chất của chiến tranh

Riêng trong thế kỷ hai mươi vừa qua, nhân loại cũng đã chứng kiến hai cuộc thế chiến và vô vàn các cuộc chiến tranh địa phương có tính chất cục bộ. Hơn ai hết, người Việt chúng ta trong cái bất hạnh phải chấp nhận sống trong tình trạng chiến tranh thường trực, kéo dài từ năm 1940 đến nay, tất phải nhìn rõ cái khuôn mặt khủng khiếp của chiến tranh. Hai trái bom nguyên tử nổ ở Hiroshima và Nagasaki vào thượng tuần tháng 8 năm 1945, đã làm cho cả nhân loại kinh hoàng vì tính chất phá hoại tàn khốc và quy mô của loại vũ khí khoa học hiện đại. Qua những tài liệu báo cáo về tổn thất nhân mạng và tài sản, chắc chắn cũng đã không tạo được những ấn tượng hãi hùng trong tâm khảm người Việt Nam bằng những kinh nghiệm đẫm máu như Đại Lộ Kinh Hoàng, Mậu Thân Huế và những cuộc “di tản chiến thuật” hay các cuộc tháo chạy của người dân miền Nam khi Cộng Sản tiến chiếm Sài Gòn vào năm 1975 (sẽ có một bài viết khác cho cuộc chiến năm 1975 đến nay). Lý do thật giản dị, vì nó có liên hệ sâu sắc và có ảnh hưởng trực tiếp đến thân phận chúng ta.

Bản chất của chiến tranh là chém giết, đốt phá, tróc nã … và vũ khí, gươm đao, bom đạn là những thứ vô tình. Một khi đao kiếm đã hoa lên, tên đã rời khỏi dây cung, đạn đã bắn ra khỏi nòng, bom (hỏa tiễn) đã rời dàn phóng bay lên, thì mọi sự xét lại đều quá chậm so với độ bay của hỏa tiễn. Lúc đó tất cả đều tuân theo những luật tắc của khoa học chính xác đến độ lạnh lùng và không bao giờ có trường hợp ngoại trừ.

Nhân loại từ cổ chí kim vẫn đề cao con người như một linh thiêng đứng đầu vạn vật, “linh ư vạn vật”. Người Cộng Sản duy vật cũng luôn miệng đề cao “Người là vốn quý”, nhưng trong thực tế tàn nhẫn của thời chiến cả con người lẫn nhân phẩm đều bị Cộng Sản hủy hoại, chà đạp một cách thô bạo.Có một cuộc chiến nào mà không có nhà cháy, người chết những mất mát vật chất, những đổ vỡ tình cảm, những suy sụp tinh thần?. Đứng trên nhiều phương diện, người ta có thể đồng ý với nhau coi chiến tranh là một thảm họa để kết tội và xua đuổi chiến tranh; nhưng chiến tranh vẫn còn đó, vẫn gần gũi với chúng ta nhiều hơn nửa, tồn tại thường trực như một nhu cầu thực tiễn không thể loại bỏ, như một cây cầu chênh vênh tất yếu phải vượt qua để đi đến đích điểm: Lý tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc trong hòa bình mà loài người mơ ước.

Vì lòng yêu chuộng hòa bình, hay nói đúng ra vì lòng yêu sống và ghét chết nên loài người đã e sợ chiến tranh và ảo tưởng coi chiến tranh như một tình trạng bất thường, trong khi đó chính hòa bình mới là một sự hãn hữu, một tình trạng mong manh. Câu nói thời danh vẳng lại từ ngàn xưa ở phương trời Âu: “Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” vẫn còn đúng tận đến giờ.

Phương ngôn Việt Nam có câu “mềm cắn rắn buông” phản ảnh sự thấu triệt nhân tính của ông cha ta trong thuật trị quốc. Văn Mô bao giờ cũng đi kèm với Võ Lược “Văn dìu cánh phượng yên trăm họ, Võ thét oai hùng dẹp bốn phương”, với một triều đình gồm đủ hai hàng Văn quan, Võ tướng, với một sách lược phối hợp hành động thật nhịp nhàng “Tiên Lễ Hậu Binh”. Nói đến quân binh tất là nói đến bộ máy chiến tranh. Tôn Tử binh gia lừng danh kim cổ, đã đưa ra những quy luật chiến tranh được quan niệm đúng đắn như quy luật khoa học xây dựng trên định đề căn bản “Binh là việc lớn của quốc gia”. Nước nguy hay an chủ yếu là ở khả năng tự vệ bằng võ lực. Vì trọng đức hiếu sinh nên tổ tiên người Việt tự ngàn xưa, đã coi việc dùng binh là hung khí và không dám khinh xuất lạm dụng, nhưng không có nghĩa là không dám chấp nhận chiến tranh với những quy luật tàn bạo của nó. Trương Dự một trong mười nhà chú giải binh pháp đã làm rõ ý của Tôn Tử về bản chất chiến tranh như sau:

“Nhân Nghĩa có thể trị nước mà không thể trị quân. Quyền Biến có thể dùng trị quân mà không thể dùng trị nước. Cái lẽ nó phải như thế. Quắc Công không làm điều từ ái mà bị nước Tấn diệt mất. Tấn Hầu không chịu giữ bốn đức mà bị nước Tần đánh thua. Ấy là không lấy nhân nghĩa để mà trị nước đó. Tề Hầu không bắn người quân tử mà bị hại với nước Tấn. Tống Công không bắt người hai thứ tóc mà bị thua với Sở. Ấy là không lấy quyền biến mà trị quân vậy. Cho nên đáng nhân nghĩa mà dùng quyền quyệt thì nước tất nguy, như nước Tấn nước Quắc đó; đáng biến trá mà chuộng lễ nghĩa thì binh tất bại, như nước Tề nước Tống đó. Vậy cái đạo trị quốc vốn không thể đem dùng trị quân được”.

Sự ngộ nhận Đạo trị quốc với Thuật làm chiến tranh đã đưa đến những ngộ nhận vô cùng tai hại, cũng là nguyên nhân diệt vong của nhiều nước nòi. Đành rằng tín nghĩa là điều phải trọng, lừa người là chuyện đáng chê trách, nhưng Khổng Minh cả một đời chuyên dùng mưu thuật lừa ngưòi sao lại được nhân dân Tứ Xuyên ngàn năm hương khói, được sử sách ghi lại như gương sáng của một trung thần lương đống?. Đại Vương Trần Hưng Đạo hai lần thắng cường địch bằng những quỷ kế, mưu thần, chém Phạm Nhan, giết Ô Mã Nhi mà lúc chết lại được muôn dân thờ phụng?. Có phải chăng đó là cái hơn người của bậc đại trí biết phân biệt nên không, tùy lúc, tùy nơi, tùy người mà ứng dụng không câu nệ tiểu tiết, khuôn sáo!. Riêng Dực Tông tức vua Tự Đức, khi đọc đến việc giết Ô Mã Nhi của Hưng Đạo Vương có hạ bút phê bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa”. Dực Tông là ông vua nhân từ hiếu thuận, giỏi văn thơ … nhưng những phẩm tính đó chưa đủ để làm một người của một dân tộc đang phải đối đầu với hiểm họa ngoại xâm và sự phân hóa nội bộ. Bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa” mà Tự Đức phê cho Đại Vương Trần Hưng Đạo đã chứng tỏ là Tự Đức thiếu một nhãn quan chính trị sắc bén, không nhìn được xa, không trông được rộng để phát hiện kẻ thù, phân loại kẻ thù và thiết kế dự mưu đối phó. Tự Đức đã lẫn lộn giữa Đạo trị quốc và Thuật làm chiến tranh. Đó là sự ngộ nhận tai hại đưa đến nguyên nhân trực tiếp của hơn 80 năm nước Việt Nam bị Pháp đô hộ.

Bản chất của chiến tranh là phá hoại, triệt hạ gây chết người, mất của, đói rét, nghèo khổ, ngu dốt, trụy lạc và bệnh tật … rồi đi đến diệt vong. Hiểu được bản chất của chiến tranh tất hiểu được thể dụng của chiến tranh. Chiến tranh là một phương tiện, một phương tiện tối hậu để thực hiện một mục tiêu, đạt được một mục đích sau khi những phương tiện khác đã được xử dụng nhưng thất bại.

C. Mục Đích Của Chiến Tranh

 

 

là một phương tiện và như một phương tiện, chiến tranh tự nó không tốt, không xấu. Tốt hay xấu là tùy theo người làm chiến tranh và mục đích mà chiến tranh nhằm thực hiện. Cũng như một khẩu súng được xử dụng trong mục đích tự vệ chính đáng hay được dùng để uy hiếp dọa người, cướp của. Trước công lý loài người, không phải là chiến tranh mà là kẻ dùng chiến tranh phục vụ cho mưu đồ đen tối cá nhân và bè nhóm bị xét xử rồi kết tội. Tòa án quốc tế Nuremberg đã xử tử, xử tù những tội phạm chiến tranh người Đức trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Nhưng điều đáng cho chúng ta suy nghĩ là Hitler và những cộng sự viên chỉ trở thành tội phạm xét xử sau khi họ đã là kẻ chiến bại, đã thua trận.

Trên thế giới hiện nay vẫn còn biết bao nhiêu những bạo chúa, độc tài phạm đủ loại tội lỗi trong chiến tranh cũng như trong hòa bình. Họ đang sống phè phỡn trong kiêu sa, sống thừa thãi trên nỗi thống khổ, đói rét, bệnh tật của toàn dân họ. Thực tế , họ đã là tội phạm ít ra là đối với dân tộc họ. Nhưng làm sao xét xử họ theo công lý của loài người khi quyền uy còn nằm trong tay họ và tiếp tục lan rộng, vươn dài theo khả năng tác xạ của tầm bom, đạn khi họ còn được bảo vệ bởi cả một hệ thống chính quyền? ! …

Để chống lại những thế lực đã có đó tất nhiên phải tạo ra một thế lực mới. Để chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược tất nhiên cũng phải thực hiện một cuộc chiến tranh tự vệ. Mục đích xâm lược và mục đích tự vệ, tự bản chất đã nói lên được mục đích tốt xấu của cuộc chiến và phủ lên cuộc chiến một ý nghĩa bẩn thỉu, hay một lý tưởng xứng đáng cho sự hy sinh xương máu của nhân dân và sự đồng tình hổ trợ của cả loài người.

Lý tưởng là một mục đích cao đẹp dùng để hướng dẫn hành động. Lý tưởng chính nó đã là sức mạnh có hấp lực quấn hút và thuyết phục lẽ phải, chính nghĩa và chân lý. Vì nhu cầu biện minh cho mục đích của hành động, nên chiêu bài cũng được đặt ra. Chiêu bài là bảng hiệu quảng cáo thương mại được treo cao để tạo sự chú ý của quần chúng và chiêu dụ khách hàng. Trong chính trị chiêu bài là một lý tưởng giả mạo, vì thực chất không dùng đúng danh xưng, chủ ý là để lừa gạt đám đông nhẹ dạ cả tin kiểu gian thương “treo đầu dê bán thịt chó”. Vì vậy ta phải sáng suốt phân biệt chân, giả, đâu là thực chất, đâu là chiêu bài để khỏi bị lừa dối đau thương:

*. Đạo nghĩa gớm cho quân lợm khẩu,

*. Nhân quyền khiếp cả lũ xanh ngươi !

(Đạo trường ngâm – X. Y. Thái Dịch Lý Đông A)

 Lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc là một lý tưởng vô cùng cao đẹp nhưng nó đã bị những người Cộng Sản xử dụng như một chiêu bài trong cuộc kháng chiến chống Pháp để tạo danh: có chính nghĩa, để tạo lực: có sự đoàn kết tạo thế: nắm chính quyền. vì là chiêu bài nên Lý Tưởng Quốc Gia chỉ được xử dụng tùy giai đoạn và như một hậu quả tất yếu, những người Quốc Gia tham gia kháng chiến đã bị thủ tiêu, tù đày, bôi nhọ hay phải trốn chạy. Vì lòng yêu nước nhiệt thành mà biết bao nhiêu kẻ đã ngộ nhận về bản chất người Cộng Sản và mục đích tối hậu của con người Cộng Sản là để làm cho chúng ta phải sống đau, chết hận với những lỗi lầm đã trót phạm phải mà ăn năn một đời khôn nguôi:

! Tôi là một kẻ ngu trung

Thân chiến sĩ đi a tòng lang sói …

(Kỷ Niệm Vào Thu – Chu Phụng Kỳ)

Dưới ngọn cờ của chính nghĩa, chiến tranh là một phương tiện để thực hiện lý tưởng. Chiến tranh là phải hao tổn tài sản, xương máu của toàn dân. nhưng đó là sự hy sinh cao cả, cần thiết và được mọi người chấp nhận. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình là những thứ hiếm có trên đời, không thể bỗng nhiên mà có như lượm được của rơi, cũng không ai có dư để có thể đem phát cho không cho mọi người. Trái lại, đó là thứ phải Chiến để mà có, phải Tranh để mà được. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình là những kết quả trực tiếp hay gián tiếp của sự đấu tranh, giữa những hệ thống quyền lực giăng mắc chằng chịt khắp thế giới của những thực thể quốc gia, của những liên minh chính trị, của những khối quân sự. Quyền và Lực bao giờ cũng tạo tương xứng. Lực là điều kiện cơ bản để tạo Quyền. Vô lực tức sẽ vô quyền. Đó là một chân lý đúng ở bất cứ nơi nào, ở bất cứ thời đại nào được phản ảnh rõ rệt trong những điều khoản luật quy định về sự vô năng lực của cá nhân. Trong đấu tranh, chiến tranh là hình thức cao độ và hữu hiệu nhất để hai bên lâm chiến, có cơ hội để duyệt xét lại quyền lực của mình một cách thực tế và rồi sẽ thiết lập lại một mối tương quan xứng hợp. Do đó bản chất hòa bình chỉ là một sự thăng bằng về quyền lực giữa hai thực thể đối nghịch nhau.

Với những người bị áp bức, đè nén, dối gạt, phản bội, chiến tranh là một sự cần thiết, một giải pháp tất yếu, một thời cơ thuận lợi để đánh đổ kẻ thù bằng Lực đòi lại Quyền sống, quyền làm người. Giá của việc thực hiện lý tưởng là giá máu xương của những người đã giác ngộ, quyết làm và dám chết một cách hiên ngang như những kẻ chịu chết để bảo vệ lòng tin yêu. Không đổ máu tất không xoay chuyển được vận mạng của dân tộc mình, cho chính mình và cục diện thời đại. Vì chỉ có đồng đẳng con người mới có bình đẳng thật sự, sự kỳ thị vẫn là một thực tế đang tồn tại trong nhiều xã hội.

Không có những cuộc chiến tranh tự vệ thời Đinh, Lê, Lý, Trần, không có cuộc chiến tranh quật khởi của Lê Lợi …, thì Việt Nam chẳng còn tới ngày nay, mà chịu chung số phận bị đồng hóa như những chi Việt khác ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây

. Khi tổ quốc đã không còn dân tộc đã bị diệt vong thì lý tưởng Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình chỉ là những sáo ngữ, trơ trẽn vô duyên.

Nhưng chiến tranh chỉ là một phương tiện, như là một phương tiện, chiến tranh có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau tùy theo mưu tính của người nắm quyền lực. Phát xuất từ những mưu tính này là những Chính Lược căn bản có tính cách toàn diện, ở đó chiến tranh và chiến lược chỉ đạo và chiến thuật áp dụng chỉ được coi là thành phần, nhưng tùy hoàn cảnh sẽ giữ vai trò hổ trợ, phụ thuộc hay sẽ trở thành chủ yếu trong số các mặt trận ngoại giao, kinh tế, gián điệp, tuyên truyền … Với khối trục Đức-Ý-Nhật, chiến tranh đã được coi như là phương tiện chính để bành trướng quyền lực hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Với khối Cộng Sản và các cường quốc Anh, Pháp …, cuộc chiến tranh Việt Nam với sự tham dự của Hoa Kỳ cho tới tháng 4/1975, chỉ là cục bộ có tính cách hổ trợ dùng làm suy yếu tiềm năng kinh tế và uy tín Hoa Kỳ trên toàn cầu. Nghĩa là chiến tranh được dùng như một phương tiện kéo Hoa Kỳ xuống để họ lên xấp xỉ ngang hàng.

Và với chúng ta, trường hợp Việt Nam hiện giờ chỉ có thể giải quyết bằng một Cuộc Chiến Tranh Cách Mạng Dân Tộc và Nhân Chủ được thực hiện từ Bắc chí Nam với sự hổ trợ của các mặt trận ngoại giao, tuyên truyền …, và mục đích tối hậu của cuộc chiến tranh đó là: Để đạt một nền hòa bình công chính, không những cho riêng Việt Nam mà cho cả Đông Nam Á và Á Châu, tạo ra một trật tự mới cho thế giới, ở đó đóa hoa lý tưởng Độc Lập, Tự Do, Bình Đẳng, Ấm No và Hạnh Phúc sẽ đời đời tươi thắm.

3). Kinh Nghiệm Lịch Sử

 

 

* – Thời lai đồ điếu thành công dị

* – Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

(Đặng Dung)

Cuộc chiến Việt Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946 và kết thúc ngày 20 tháng 7 năm 1954 bằng hội nghị Genève chia đôi đất nước ngang vĩ tuyến 17. Dưới cái nhìn bao quát toàn thể, trong bối cảnh của một thế giới đang phân cực và tranh giành ảnh hưởng, cuộc chiến Việt, Pháp trở nên phức tạp với những âm mưu can thiệp của các thế lực quốc tế luôn luôn khuynh loát lẫn nhau. Lý tưởng giành độc lập, tự do cho tổ quốc, xây đắp một tương lai no ấm trong hòa bình cho dân tộc, là một mục đích tối thượng đối với những người quốc gia, thì trái lại với người Cộng Sản, đó chỉ là một chiêu bài có tính giai đoạn. Mục đích của họ vươn ra ngoài biên cương quốc gia và dẫm lên quyền lợi dân tộc, để phục vụ cho chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít, tạo lập một siêu đế quốc thống trị toàn thế giới. Sự khác biệt sâu sắc về lập trường chính trị, đã tất yếu đưa đến sự xung đột Quốc – Cộng và sau năm 1954 là sự hình thành của hai nước Việt Nam.

Tuy nhiên trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, giai đoạn lịch sử 1945 – 1954 được nhìn lại chỉ để tìm hiểu xem người Cộng Sản trong vai trò “lãnh đạo” đã khôn khéo dùng chiến tranh như một phương cách để loại bỏ những người Quốc Gia ra sao?. Họ đã đạt được những mục đích gì?. Người Pháp tại sao lại thua trận?. Họ đã phạm vào những sai lầm căn bản nào trên phương diện chính trị cũng như trong lãnh vực quân sự?.

A. Chiến Tranh và Người Cộng Sản

Người Cộng Sản đã tỏ ra khôn khéo khi vận dụng chiến tranh như một phương tiện tạo nên uy tín chính trị cho chính họ, một phương tiện để thủ tiêu và vô hiệu hóa kẻ tử thù là người Quốc Gia và kẻ thù giai đoạn là thực dân Pháp. Họ chính là người đã đuợc lãnh nhận tất cả những “vinh quang” do chiến thắng đưa lại. Họ thành công trong chiến tranh nhưng người Cộng Sản đã thất bại trong hòa bình. Sự đói nghèo, chậm tiến, lạc hậu của miền Bắc sau hơn 50 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa và cũng như miền Nam sau gần 30 năm “giải phóng”, là một bằng chứng tỏ rõ tính cách tay sai mà người Cộng Sản chỉ là công cụ của Đảng, đảng Cộng Sản Hà Nội trong vai trò “cai thầu lãnh đạo” một dân tộc, để cung ứng những dịch vụ xương máu cần thiết cho âm mưu bành trướng thế lực Cộng Sản quốc tế. Mặt nạ của đảng Cộng Sản Hà Nội đã rơi xuống để toàn dân Việt nhìn rõ chân tướng sài lang của bọn Hồ, Duẫn, Chinh, Đồng và giới cầm quyền chóp bu nội thù hiện tại, chỉ là những kẻ buôn dân, bán nước, làm tay sai, tôi mọi cho ngoại xâm.

B. Những Nhận Định Sai Lầm Về Người Cộng Sản

Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, mọi phong trào quần chúng và các tổ chức chính trị đều bị đàn áp thẳng tay và trừng trị nặng nề bằng sự giết chóc, tù đày, khổ sai. Trong sự khao khát độc lập, tự do, quần chúng đã quan niệm một cách giản dị là: “làm cách mạng chống Pháp là yêu nước”.người Cộng Sản với những thành tích xách động quần chúng chống Pháp, những thành phần bất hảo bị tù đày, cũng được Cộng Sản coi là những người yêu nước. Trong thập niên 1940′s, chủ nghĩa Cộng Sản là một cái gì xa lạ không riêng với quần chúng, mà ngay cả giới trí thức có hoạt động đảng phái hay đã từng tham gia chính quyền. Bằng chứng là Trần Trọng Kim với tư cách thủ tướng chính phủ, đã hết lòng can thiệp với Bộ Tổng Tư Lệnh Nhật ở Hà Nội để xin tha cho những cán bộ Cộng Sản bị Nhật bắt giữ. Bà Cả Tề một nhân sĩ đã hết lòng che chở cho các đảng viên cao cấp Cộng Sản, khi họ hoạt động ở ngoài và đi thăm nuôi khi họ bị bắt cầm tù. Hình như tất cả đã cố tình quên đi những sự thật lịch sử phủ phàng đáng suy gẫm về bản chất tráo trở của các lãnh tụ Cộng Sản. Cụ Phan Bội Châu đã bị bán cho mật vụ Pháp bắt với giá mười vạn đồng vào ngày 30 tháng 6 năm 1925, người chủ mưu bán Cụ Phan không ai khác hơn là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này và Lâm Đức Thụ một đảng Viên Cộng Sản. Ngoài Cụ Phan Bội Châu, các thanh niên thuộc các đảng phái Quốc Gia không theo Cộng Sản đều bị Cộng Sản mật báo cho Pháp bắt khi những người này lén lút trở về Việt Nam tổ chức cơ sở và hoạt động quần chúng (Đây là những kinh nghiệm bằng Máu và nước mắt của những người đi trước để cảnh tỉnh giới trẻ ở hải ngoại và những người đang tranh đấu nhưng thiếu kinh nghiệm hiện nay, phải nhìn cho thật rõ đâu là chính nghĩa đâu là gian tà, kẻo sa chân vào cạm bẩy của kẻ nội thù Cộng Sản và ngoại xâm phương Bắc đang giương ra). Đây là một sách lược thủ lợi đôi đường vừa hiểm độc mượn tay Pháp diệt được các đảng viên trung kiên, nòng cốt của những đảng phái Quốc Gia đối thủ của đảng Cộng Sản khi thời cơ đến cùng ra tranh thủ quần chúng, mà cũng vừa là một hình thức kinh tài (của Cộng Sản) để hoạt động và cũng để giữ được mối giao hảo ngấm ngầm với thực dân Pháp. Sau này vào năm 1943 lại chính Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội đã can thiệp với Trương Phát Khuê, một tướng lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa để tha cho Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh lúc đó đang bị bắt giam vì hoạt động Cộng Sản. Trương Phát Khuê đồng ý nhưng bắt Hồ Chí Minh phải từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản và gia nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội tức Việt Cách.

 Đại để là người Quốc Gia đã quá khinh xuất không phân định được ai là kẻ đồng hội, ai là người đồng thuyền, ai là thành phần chủ lực trung kiên, ai là đồng minh giai đoạn, ai là tối hậu địch nhân, ai là tương đối địch nhân, ai là người Quốc Gia, ai là kẻ nội thù Cộng Sản, chúng ta phải phân biệt, thẩm định và xếp loại kẻ thù

 

 

 C. Những Cơ Hội Thuận Lợi Dành Cho Cộng Sản Việt Nam

 

 

 Ngày 23 tháng 8 năm 1939 trùm Cộng Sản Stalin ký với Hitler một thỏa ước bất tương xâm giữa Nga và Đức. Với hiệp ước này, Cộng Sản Nga mở rộng biên cương về phía Tây bằng cách sát nhập một nửa nước Ba Lan và một số đất đai quanh vùng. Cộng Sản Nga ngồi nhìn thế giới chiến tranh, đóng vai trò ngư ông thủ lợi.

Vào tháng 6 năm 1941, Hitler bất thần tung quân xâm chiếm Nga. chỉ trong khoảng 5 tháng Đức đã chiếm được một phần lớn nước Nga, kiểm soát 40% dân số, khai thác hơn 60% tổng sản lượng than và thép của Nga. Nga tổ chức kháng chiến chống Đức. Trước đó ít lâu, Hồ Chí Minh được lệnh rời Mạc Tư Khoa về nước hoạt động, phát triển đảng và bắt liên lạc với Đồng Minh. Vào năm 1943 khi được Trương Phát Khuê phóng thích, Hồ Chí Minh đã cam kết dùng người của mình đi thu thập tin tức về quân Nhật cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Hồ Chí Minh cũng đã bắt liên lạc với một số sĩ quan tình báo Hoa Kỳ (OSS thời đó), nhận công tác đưa những phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi trốn sang Trung Hoa. Để trả công, Hoa Kỳ đã cho lại một số máy truyền tin và vài chục khẩu súng. Với sự lệ thuộc vào Đệ Tam Quốc Tế về đường lối chính lược và chiến lược, người Cộng Sản đã tỏ ra am hiểu tình hình quốc tế hơn những người Quốc Gia. Họ đã mạnh dạn tung biểu ngữ khẩu hiệu “chống thực dân Pháp, diệt phát xít Nhật” và đã thành công, vì nói lên được sự căn hờn của quần chúng về nạn đói năm Ất Dậu đã gây ra hơn 2 triệu người chết. Lý do đói là vì thực dân Pháp đã tận thu lúa gạo để cung cấp cho quân Nhật ở Đông Dương và bán sang Đông Kinh theo hiệp ước 40 – 41 để Nhật thừa nhận Pháp ở Đông Dương, lý do nửa là cũng vì Nhật bắt phá lúa trồng đay để xử dụng trong chiến tranh. Với uy danh “cách mạng” trước quần chúng qua một số hành động bắt cóc, ám sát được thổi phồng qua sự tuyên truyền đồn đãi rỉ tai, ngày 18 tháng 8 năm 1945 cán bộ Cộng Sản đã cướp cuộc biểu tình tụ tập trước nhà hát thành phố Hà Nội, để tuần hành hoan hô chính phủ Trần Trọng Kim, đã thu hồi chủ quyền toàn vẹn từ tay người Nhật (Nhật Hoàng đầu hàng vào ngày 15/8/1945) và biến cuộc tuần hành thành hoan hô giải phóng, hoan hô Việt Minh với cờ đỏ sao vàng dẫn đầu và đôi ba người mang súng đi kèm. Cộng Sản gấp rút thành lập ủy ban nhân dân rồi tổ chức quần chúng đến chiếm các công sở, tòa Đốc Lý và Bắc Bộ Phủ mà không gặp trở ngại nào. Quần chúng với sự háo hức đổi đời được thúc đẩy gia nhập các đoàn thể như Phụ Lão Cứu Quốc, Thanh Niên Cứu Quốc, Thiếu Nhi Cứu Quốc. Mỗi khu phố đều có ban điều hành và một toán tự vệ, bằng đường lối nửa đe dọa nửa hứa hẹn, Cộng Sản yêu cầu chính phủ Trần Trọng Kim từ chức và vua Bảo Đại thoái vị.

 Thế là trong sự ngơ ngác, hoang mang hay sợ sệt của mọi người, Cộng Sản đã chiếm được thời cơ, đoàn ngũ hóa quần chúng và tiến lên địa vị lãnh đạo

 

 

 . Sự xuất hiện của các đảng phái để công khai tranh thủ nhân dân và phản ứng đối với việc Cộng Sản cướp chính quyền có thể coi là chậm chạp, chỉ khởi sự khi Quốc Quân Trung Hoa tiến vào Hà Nội để giải giới Nhật theo đúng quy định của hiệp ước Postdam. Với sự có mặt của Quốc Quân Trung Hoa (thời đó dân chúng thường gọi là quân Tàu Phù, vì đa số bị phù xưng sốt rét, phù thủng ghẻ Tàu), các đảng phái đã áp lực Cộng Sản phải nhượng bộ cải tổ chính phủ và dành một số ghế, 70 trong tổng số 444 ghế trong quốc hội cho các đảng phái. Nhưng dưới con mắt nghi kỵ của quốc dân, hậu quả của hơn ngàn năm lệ thuộc Tàu và hơn tám mươi năm lệ thuộc Pháp, hào quang cách mạng yêu nước của các đảng phái đã bị hoen ố phần nào vì dựa thế quân ngoại quốc quá lộ liễu.

 Sau bao khó khăn, quốc hội Việt Nam đầu tiên đã họp khoáng đại vào ngày 8/11/1946 tại Hà Nội, để nhất trí chấp nhận bản dự thảo luật căn bản làm hiến pháp. Tất cả những thủ tục có tính cách nghi lễ trên được hoàn tất trong một ngày và quốc hội tự giải tán trao quyền lại cho ủy ban thường trực quốc hội gồm 15 người do chính phủ đề cử và học giả Nguyễn Văn Tố không thuộc đảng phái nào làm trưởng ban.

Về phía hành pháp, các người Quốc Gia nắm ghế bộ trưởng như: Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính) nắm ngoại giao, Trương Đình Trị (Việt Cách) nắm y tế, Bồ Xuân Luật (Việt Cách) nắm canh nông và kể cả Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) làm Phó Chủ Tịch nhà nước, đều chỉ nắm hư vị, ngồi chơi xơi nước. Mọi việc từ nhỏ đến lớn đều do người Cộng Sản giải quyết. Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và tổng đảng bộ Cộng Sản họp bàn hoạch định đường lối và điều động việc thi hành. Hồi đó, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản gồm có: Hạ Bá Cang, Nguyễn Lương Bằng, Bùi Lân, Trường Chinh tức Đặng Xuân Khu, Bùi Công Trừng và hai đảng viên Cộng Sản quốc tế, một người Tàu tên Pô, một người Nhật tên Tiêu Xung (cả hai đều dấu Họ).

Sự có mặt hư vị của các đảng phái Quốc Gia trong chính quyền được người Cộng Sản tính toán và chấp nhận như một chiến thuật: Là chia xẻ trách nhiệm trước quốc dân và tạo một bộ mặt Quốc Gia cho chính họ, để tránh sự có thể bị đàn áp bằng võ lực của Quốc Quân Trung Hoa. Kinh nghiệm về những cuộc đàn áp Cộng Sản thẳng tay của Quốc Quân Đảng Trung Hoa còn quá mới đối với những người Cộng Sản và nhất là Hồ Chí Minh, mà cuộc tháo chạy tơi tả dài cả vạn lý của Mao Trạch Đông là một điển hình.

Đối với người Cộng Sản, trở ngại lớn nhất trên đường thực hiện chủ nghĩa không phải là thực dân Pháp mà là người Quốc Gia Chân Chính, vì thực dân Pháp là “thời địch” có tính giai đoạn sẽ qua đi

 

 

 

  Chính người có tinh thần Quốc Gia mới là kẻ tử thù, “tối hậu địch nhân” của Cộng Sản, khi mà họ nhận ra được bản chất của Cộng Sản là đế quốc cực quyền chủ trương độc tài và áp chế. Chỉ cần xét qua bản điều lệ gồm 21 điểm quy định tổ chức Comintern, Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản thì đủ rõ. Điểm 6 triệt để ngăn cấm các đảng viên Cộng Sản địa phương không được có khuynh hướng quốc gia. Điểm 14 buộc các đảng viên Cộng Sản địa phương phải triệt để và vô điều kiện ủng hộ Liên Bang Cộng Hòa Sô Viết. Điểm 16 buộc các đảng viên Cộng Sản địa phương phải tuyệt đối trung thành chấp hành toàn bộ mệnh lệnh của vô sản quốc tế, trong đó đảng Cộng sản Nga nắm quyền quyết định tối hậu.

Tổ chức Đệ Tam Quốc Tế do V. I. Lenin triệu tập tại Mạc Tư Khoa năm 1919, với khẩu hiệu “Vô sản các nước hãy đoàn kết lại”, đã bị Stalin giải tán vào năm 1943 sau khi bị Đức đánh chiếm gần nửa lãnh thổ. Tuy nhiên, đây chỉ là một chiến thuật của Stalin với mục đích làm an lòng “đế quốc” Mỹ, để Mỹ rộng tay viện trợ cho Nga thêm nhiều quân trang, quân dụng, vũ khí, thực phẩm … Sau khi cùng đồng minh thắng Đức, Nga đương nhiên bước lên địa vị siêu cường chia vùng ảnh hưởng với Mỹ, thì Stanlin lại tái thiết lập Cộng Sản đệ tam quốc tế vào năm 1948, với danh xưng mới Comintern để kiểm soát chặc chẻ hơn các đảng Cộng Sản địa phương.

Chiến Thuật của Stalin vào năm 1943 cũng đã được đảng Cộng Sản Đông Dương áp dụng vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, khi tuyên bố tự giải tán để trấn an dư luận quần chúng, để giải tỏa sự chống đối càng ngày càng gia tăng của các đảng phái Quốc Gia và nhất là để dành cảm tình của Hoa Kỳ. Trong nhiều cuộc tiếp xúc với các đảng phái và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn luôn chứng tỏ, cam kết và dùng tới cả lời thề độc để làm cho những người được Hồ Chí Minh tiếp xúc tin rằng, họ Hồ là người Quốc Gia hay ít ra cũng đã dứt khoát với quá khứ Cộng Sản của mình. Cố vấn chính phủ giám mục Lê Hữu Từ là một trong những nhân vật đã được Hồ Chí Minh vận dụng tình cảm theo kiểu này, để yêu cầu Thiên Chúa Giáo cộng tác với Cộng Sản vào những ngày đầu tiên khi Cộng Sản lên nắm chính quyền.

Vì những áp lực chống đối nặng nề, nhất là từ phái các đảng phái qua thế lực Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản đã tính đến việc đưa công dân Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại, đang giữ chức cố vấn tối cao cho chính phủ liên hiệp ra lập chính phủ. Nhưng vì sự tham nhũng của các tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Cộng Sản đã khôn khéo dùng vàng quyên góp được của dân chúng để xây dựng tổ quốc, hối lộ những người có quyền hành như tướng Tiêu Văn và Lư Hán. Được vàng của Cộng Sản, Quốc Dân Đảng Trung Hoa bỏ rơi các đảng phái Quốc Gia và để người Cộng Sản rộng tay hoạt động tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, những người nhẹ dạ ngây thơ tin vào sự giúp đỡ vô vị lợi của ngoại bang. Đây cũng là cái gương để cho người Cộng Sản Hà Nội hiện nay soi lại và đừng tin vào những gì kẻ ngoại xâm nhất là người Tàu hứa hẹn giúp đỡ, trong giờ phút thập tử này khi mà chế độ không còn đường sinh lộ.

 D. Chiến Tranh, Phương Tiện Hoàn Hảo Thực Hiện Chủ Nghĩa Cộng Sản

 

 

Hòa ước Trùng Khánh ký ngày 28/2/1946 giữa Pháp và Trung Hoa

đã cho Pháp tiến quân lên phía trên vĩ tuyến 16 thay thế Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật. Đổi lại Pháp nhượng cho Trung Hoa đường xe lửa Lào Kay – Vân Nam, trả lại các tô giới cũ và hứa ưu đãi Hoa kiều ở Đông Dương. Thâm ý của Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) là rút quân về dồn lực tiêu diệt Trung Cộng đang được Nga giúp tiếp thu đất Mãn Châu từ tay Nhật, và dùng tay Pháp trấn áp Cộng Sản Việt Nam rồi làm phên dậu che an toàn mặt biên giới phía Nam cho Trung Hoa.

 Sự rút quân Trung Hoa khỏi Việt Nam đã làm cho Việt Quốc và Việt Cách mất một thế dựa và sau đó bị Cộng Sản bao vây tiêu diệt nếu không kịp tháo chạy sang Tàu. Tuy nhiên đó là một may mắn vô cùng đối với người Cộng Sản. Từ nay họ được rộng tay hành động đối với thời địch bây giờ là thực dân Pháp và đối với tối hậu địch nhân là các đảng phái Quốc Gia Việt Nam. Trước một kẻ thù chung của cả dân tộc là thực dân Pháp đang cố tâm tái lập nền bảo hộ, người Cộng Sản đã lớn tiếng hô hào thống nhất ý chí, thống nhất lực lượng với khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”, “Đoàn kết để kháng chiến chống ngoại xâm”. Bằng những kỹ thuật tuyên truyền khôn khéo Cộng Sản đã kích động được tình tự yêu nước của toàn dân, đặc biệt ở tầng lớp thanh niên đầy nhiệt tình và lý tưởng. Bằng sự lý luận ngụy biện, Cộng sản đã đưa ra một tiền đề của tam đoạn luận đầy sai lạc Đánh Pháp là yêu nước”. Họ không định rõ lý do đánh Pháp trên lập trường nào, nhưng với lòng yêu nước bồng bột mọi người đã nhắm mắt chấp nhận không thắc mắc, như chấp nhận tiền đề đầy sai lạc này là: đã ủy nhiệm toàn quyền hành động cho Cộng Sản trong vai trò lãnh đạo cuộc chiến. Các đảng phái quốc gia bị đẩy vào một tình thế khó khăn, tiến thoái lưỡng nan. Nếu chống Cộng là bị mang tiếng là phản động chia rẽ, làm Việt gian tiếp tay với thực dân Pháp phản đồng bào, bán nước – đó là một điều sỉ nhục lớn nhất đối với những người đã từng hiến dâng cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc, từng chấp nhận chết chóc, tù đày, đánh đập, hành hạ, đói rét, nghèo khổ Nếu chống Pháp để thực hiện lý tưởng hằng đeo đuổi và phù hợp với “nguyện vọng của toàn dân”, tránh được tiếng Việt gian bán nước đầy ô nhục, thì tất yếu phải gia nhập hàng ngũ kháng chiến, chịu sự lãnh đạo của Cộng Sản. Và cộng tác với Cộng Sản là một việc cực kỳ nguy hiểm, mà những người có kinh nghiệm đấu tranh đều đã ít nhiều thể nghiệm bằng xương máu của chính mình và các đồng chí. Cộng tác, liên hiệp với Cộng Sản chỉ có hai điều có thể xảy ra: Một là bị Cộng Sản nhuộm đỏ, có giá trị như sự đầu hàng, để trở thành Cộng Sản phục vụ tổ chức Cộng Sản quốc tế, coi tổ quốc, dân tộc chỉ là phương tiện như: Bồ Xuân Luật, Đinh Chương Dương của Việt Cách … Hai là bị thủ tiêu trong bí mật hay là bị chụp mũ gián điệp, Viêt gian, bị hủ hóa để làm nhục rồi cũng bị giết đi để trừ hậu họa, có giá trị như một sự tự sát vô ý thức. Với các lãnh tụ đảng phái quốc gia đã nổi danh, đa số chọn giải pháp tiêu cực. Họ không chấp nhận Pháp, cũng không theo Cộng Sản. Họ chạy ra ngoại quốc hoặc trốn tránh nằm im đợi thời. Dưới cái nhìn tích cực của người đấu tranh cách mạng, thì đó là thái độ bất lợi, gây nhiều ngộ nhận, dễ bị lên án … Như mọi người đã thấy qua những bài báo, sách vở xuất hiện cả hai phía Cộng Sản và Tự Do. Nhưng nếu nhìn ra cái thế kẹt của người Quốc Gia nằm trên đe dưới búa, đứng giữa hai lằn đạn thù của hai thế lực quốc tế, đó là Cộng Sản đế quốc thực dân mới, và Pháp đế quốc thực dân cũ, tất sẽ thông cảm nỗi đau nhục, xót xa này của những người muốm làm một cái gì, nhưng bị mắc cứng trong sự trói buộc của Thời và Thế, chỉ có thể an ủi như Ngô Thời Nhiệm, người lỡ thời, thất thế trả lời Đặng Trần Thường kẻ đắc thời, đắc thế và đầy tự mãn khi ra câu đối:

* – Ai Công hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai !

(Đặng Trần Thường)

* – Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

(Ngô Thời Nhiệm)

 Người Cộng Sản cố mềm mỏng trong việc điều đình với Pháp để mua thời gian củng cố lực lượng và phát triển cơ sở tổ chức. Cộng Sản đã ký hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 với Pháp, thừa nhận sự đóng quân của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam

. Với hiệp ước này, Cộng Sản đã bị người Quốc Gia chỉ trích và quần chúng mất tin tưởng. Dư Luận đã xôn xao, nghiêm khắc lên án kết tội Việt Minh là kẻ rước Pháp vào tái lập chế độ thực dân, như xưa Hồ Chí Minh đã từng cộng tác với mật vụ Pháp để điềm chỉ bắt người Quốc Gia, nên thời đó có thơ rằng:

Đánh tan cái lũ bất nhân,

Đánh tan cái lũ rước quân Pháp về.

Cùng nhau hẹn một lời thề,

Đã làm cách mạng chẳng hề sợ chi.

Nhớ lời mạnh bước chân đi

Diệt quân Cộng Sản bỏ khi cực lòng”

Và ngay cả những người thiên tả trong nhóm thợ thuyền Việt Nam tại Pháp cũng tỏ lộ sự phẫn nộ, công khai đã kích Hồ Chí Minh. Tờ Paria xuất bản tại Ba Lê vào những ngày đầu tháng 7/1946, đã đăng một bức thư ngỏ gởi Hồ Chí Minh như sau:

 Hội nghị Đà Lạt họp vào tháng 4 và tháng 5/1946 và Fontainebleau vào tháng 3 tháng 7, 8 và tháng 9/1946 để cố gắng sửa lại thiếu sót đó, để đòi hỏi hoàn toàn độc lập cho Việt Nam đã bị thất bại. Hồ Chí Minh đích thân đi Ba Lê vận động qua đường dây Cộng Sản Pháp nhưng cũng không xong.

Sợ mất quyền lực chính trị với quần chúng, họ Hồ đành phải ký một Tạm Ước với tổng trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại, Marius Moutet, đảng viên xã hội (đã quen biết họ Hồ từ hai mươi năm qua) vào ngày 14/9/1946. Tạm Ước này chỉ là sự tái xác nhận nhiều đặc quyền của thực dân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam.Trào lưu chính trị thế giới đã biến đổi với sự hình thành của các thế lực siêu cường và những vùng ảnh hưởng. Người Pháp đại diện bằng De Gaulle và các chính khách thực dân vẫn chủ quan nuôi tham vọng tái lập toàn vẹn thuộc địa, được gọi là Pháp Quốc Hải Ngoại. Chính sách duy trì toàn vẹn đế quốc thực dân dưới danh hiệu mới Liên Hiệp Pháp được chấp thuận tại hội nghị Brazzaville, thủ đô Congo thuộc Pháp vào tháng 4/1945, mà sự áp dụng đầu tiên là cuộc tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.

Với chính lược đã quy định, việc Pháp tái chiếm Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian

. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn cho Cộng Sản, ngoài thì bị kẻ thời địch là thực dân Pháp lấn át, đòi những điều kiện không thể chấp nhận được, trong thì bị những đảng phái quốc gia lật mặt nạ chỉ trích và dân chúng bắt đầu nghi kỵ là thỏa hiệp bắt tay với Pháp, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản sau những suy tính hơn thiệt đã chấp nhận giải pháp chiến tranh như con bài gỡ thế bí. Hồ Chí Minh hạ lệnh “Tiêu Thổ Kháng Chiến”. Súng nổ vào tối ngày 19/12/1946.

 Với chiến tranh người Cộng Sản lấy lại được uy thế chính trị, nắm được hào quang chính nghĩa quốc gia. Chiến tranh như một phương tiện tuyệt hảo được người Cộng Sản dùng để thực hiện mục tiêu ngắn hạn thuộc chiến thuật, cũng như những mục tiêu dài hạn nằm trong chiến lược và cả những mục tiêu tối hậu nằm trong chính lược toàn cầu của Cộng Sản quốc tế, Cộng Sản luôn luôn tâm niệm dùng cách mạng bạo lực để thực hiện một chế độ vô sản chuyên chính. Chém giết là phương tiện tốt nhất để trấn áp chống đối và đạt thắng lợi, trong một xã hội mà bản chất đấu tranh và sinh tồn giữa những con người làm nên giai cấp xung đột nhau trong mối tương quan Quyền, Lực. Với người Cộng Sản chủ trương chiến tranh toàn diện để đạt được mục đích, tối hậu của chiến tranh là hoàn toàn tiêu diệt được quân địch với tất cả năng lực Công cũng như Thủ và không để kẻ thù khôi phục tiềm năng, vì hòa bình chỉ được coi là một giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới.

Trong cuộc chiến tranh Pháp Việt 1945-1954, chiến tranh đã là một duyên cớ chính đáng được Cộng Sản triệt để vận dụng để biện minh cho những hành động áp chế dân chúng của họ, quần chúng đã cúi đầu chấp nhận chiến tranh như chấp nhận số phận hẩm hiu của chính họ. Với chiến lược tiêu thổ kháng chiến, người Cộng Sản đã cho lệnh đốt phá thẳng tay nhiều thành phố, cầu cống, nhà máy trước khi rút lui. Nằm trong chiến lược trên, Cộng Sản cũng đã lùa dân triệt để tản cư về thôn quê, ra ngoại thành. Dụng ý xấu xa của Cộng Sản khi cho đốt phá triệt hạ các thành phố và lùa dân đi không chỉ đơn thuần trong mục tiêu quân sự là: Di tản chiến thuật tạo khó khăn cho quân Pháp, không cho chúng xử dụng các cơ sở, tiện nghi vật chất để làm chiến tranh, cũng không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu chính trị giai đoạn: Tranh thủ dân với Pháp để Pháp không có dân cai trị và xử dụng trong các dịch vụ … Đành rằng các mục tiêu kể trên là những mục tiêu thực tế và cấp thời, vì yếu tố cơ bản để làm chiến tranh là nhân dân. Không có dân không có chiến tranh, không có dân không có người cầm súng. Không có dân không có lương thực nuôi quân. Không có dân không có tình báo để thấu triệt tình địch. Không có dân không có chổ nương náu an toàn. Dân là nước và quân là cá. Nhưng hành động đốt phá thành phố của Cộng Sản nó còn mang thêm một ý nghĩa cao hơn của chính lược Cộng Sản: vô sản hóa quần chúng bằng chiến tranh, chuẩn bị nền móng khai quang đất địa để xây dựng chế độ vô sản chuyên chính. Người dân thành phố sau khi bị cắt đứt với những liên hệ tài sản của họ ở thành thị, họ chỉ còn hai bàn tay trắng, và họ phải lệ thuộc vào chính quyền về đồng lương nếu họ là công chức, về thuế khóa nếu là người dân buôn bán. Họ trong tình trạng vô sản tất sẽ dễ dàng chấp nhận những biện pháp cải cách của chính quyền Cộng Sản hơn cả những nông dân thiếu ăn, thiếu mặc nhưng thừa đầu óc tư hữu.

Sau khi Mao Trạch Đông thống nhất Hoa Lục, tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân vào ngày 1/10/1949, Cộng Sản Việt Nam cũng để lộ nguyên hình, họ không cần dùng tới mặt nạ ngụy trang quốc gia như trước nửa. Với họ, tư tưởng Quốc Gia Dân Tộc bị kết án là hẹp hòi, lạc hậu và … phản động. Lòng yêu nước chân chính (suy nghĩ theo kiểu Cộng Sản) phải là phục vụ lý tưởng Cộng Sản và giai cấp vô sản quốc tế. Đảng Cộng Sản được tái lập với danh xưng mới: Đảng Lao Động Việt Nam vào ngày 3/3/1951. Chủ trương của đảng được sửa đổi lại, không chỉ chú trọng đánh đế quốc thực dân Pháp (Phản Đế) như những ngày đầu kháng chiến khi đảng còn yếu, phải giải tán và Cộng Sản phải đội danh Quốc Gia. Họ đã kết hợp đồng thời phản Đế với phản Phong (tức đánh phong kiến, cường hào ác bá, tư sản mại bản … ). Sự xuất hiện của Đảng Lao Động là nguyên nhân trực tiếp của những vụ học tập chính trị, đường lối trong bộ máy quân đội, bộ máy chính quyền và các tổ chức quần chúng. Đảng đã thiết kế và điều động thi hành những vụ thanh trừng, thủ tiêu, đấu tố khủng khiếp sau đó tại những vùng Cộng Sản kiểm soát, trong mục đích bần cùng hóa nhân dân và thủ tiêu những phần tử có tư tưởng Quốc Gia đang nắm những chức vụ chỉ huy trong các tổ chức chính quyền, quân đội và quần chúng để diệt trừ hậu họa.

Được sự giúp đỡ tận tình của Cộng Sản Trung Cộng như một hậu phương lớn, vững chắc và an toàn, Cộng Sản Việt Nam đã phản công Pháp và dần dần đẩy Pháp vào thế bị bao vây. Sự chênh lệch đã quá rõ rệt khi đem cân lực lượng đôi bên, giữa thế lực quốc tế đang lên là Cộng Sản và thế lực đã suy tàn của đế quốc thực dân Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Minh ký hiệp định Genève chia đôi Việt Nam, trên Vĩ Tuyến 17 Cộng Sản tiếp tục công việc đang làm dang dở qua phương tiện chiến tranh: Cải tạo nhân dân, cải tạo xã hội mà điển hình là cuộc cải cách ruộng đất thực hiện từ 1953 – 1956 với trên nửa triệu người dân bị Cộng Sản giết chết oan uổng, vì những ý niệm mơ hồ trong một nội dung co dãn như Địa Chủ, Phú Nông, Tư Sản … Vì những tội danh chụp mũ như: hút máu mủ nhân dân, chống phá cách mạng, Việt gian bán nước … để bắt ép cả nước vững chắc tiến nhanh, tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, bảo đảm hoàn tất tốt đẹp nghĩa vụ quốc tế vô sản được Mạc Tư Khoa giao phó: là tiền đồn của Xã Hội Chủ Nghĩa.

4). Chiến Tranh Và Người Pháp

 

 

Ngày 16/6/1940 Đức chiếm Ba Lê. Thống chế Pétain được sự ủy nhiệm của quốc hội Pháp để cộng tác với Đức, thành lập chính phủ Vichy. Đức để cho Pháp giữ nguyên các thuộc địa. Jean Decoux, Tư Lệnh Hạm Đội Viễn Đông được cử làm toàn quyền Đông Dương thay tướng Catroux bỏ theo phe kháng chiến De Gaulle.

Ngày 25/4/1944 lực lượng kháng chiến của De Gaulle theo chân Đồng Minh vào giải phóng Ba Lê. De Gaulle cử Đô Đốc Thierry D’Argenlieu làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương. Nhưng vì những khó khăn chính trị De Gaulle tự ý rút lui, Georges Bidault lên làm thủ tướng. Sự rút lui của De Gaulle không thuần lý do nội bộ mà còn có những lời hứa tốt đẹp đối với các thuộc địa khi De Gaulle còn cần sự giúp đỡ về nhân lực và vật lực của các thuộc địa để kháng chiến chống Đức (Thủ đoạn chính trị này lại được thấy vào năm 1973 sau khi Mỹ và Việt Cộng ký hiệp định Ba Lê. Tổng Thống Richard Nixon phải từ nhiệm vì vụ Watergate. Nhìn dưới khía cạnh chính trị, đây chỉ là một vụ trốn thi hành những mật ước mà Mỹ đã hứa với Việt Cộng như: viện trợ tái thiết cầu cống, cơ sở kỹ nghệ và Kinh Tế. Bằng chứng dù bị báo chí bôi bẩn, Nixon vẫn được Tổng Thống Reagan chính thức nhờ đại diện đi dự đám tang của Tổng Thống Saddat và lãnh những sứ mạng đặc biệt đi Trung Cộng).

Tháng 4/1945, hội nghị Brazzaville tại thủ đô Congo thuộc Pháp, quyết định chính lược của Pháp chấp nhận canh tân, nhưng vẫn duy trì đế quốc dưới danh hiệu Liên Hiệp Pháp.

 Cuối tháng 8/1945, Anh đổ quân giải giới Nhật theo hiệp ước Postdam từ vĩ tuyến 16 trở xuống. Với sự đồng ý và sự giúp đỡ của Anh, Pháp đã theo chân Anh vào tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.

 

 

 Ngày 28/2/1946 Pháp ký hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa và thay thế Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật từ trên vĩ tuyến 16 trở lên.

Ngày 6/3/1946 Sainteney đại diện D’Argenlieu ký với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh hiệp định sơ bộ. Hiệp định này thừa nhận quyền đóng quân của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam thay quân Trung Hoa. Do đó ngày 18/3/1946 sư đoàn cơ giới của Tướng Leclerc và bộ binh Pháp từ Hải Phòng lên đóng tại Hà Nội.

Trong hai tháng 4 và 5/1946, hội nghị Đà Lạt bàn tiếp về hiệp định sơ bộ. Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn, Võ Nguyên Giáp làm phụ tá. Hội nghị bế tắc vì thái độ cứng rắn của Pháp.

Ngày 4/6/1946 Pháp tách rời Nam Bộ, đưa bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng lập chính phủ Nam Kỳ tự trị.

Trong ba tháng 7, 8 và 9/1946 hội nghị Fontainebleau tiếp tục, hội nghị Đà Lạt bàn về hiệp định sơ bộ cũng bế tắc và ngày 12/9 một số nhân viên phái đoàn Việt Nam bỏ về nước trước.
Ngày 14/9/1946 một mình chủ tịch nhà nước là Hồ Chí Minh đến gặp riêng Bộ Trưởng Moutet tại tư gia vào nửa đêm để ký bản tạm ước tái xác nhận hiệp định sơ bộ 6/3/1946.

Ngày 20/11/1946 Pháp đánh chiến Hải Phòng.
Ngày 19/12/1946 chiến tranh Việt Pháp bùng nổ.

Ngày 5/6/1948 hiệp định Hạ Long được ký kết. Cao Ủy Bollaert đại diện Pháp long trọng tuyên bố thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp
. Cựu Hoàng Bảo Đại, chỉ định thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ trung ương lâm thời. Giải pháp Quốc Gia đã được người Pháp nói đến từ lâu nay mới được thành hình.

Ngày 8/3/1949 thỏa ước Elyseé ký giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại tái xác nhận hiệp định Hạ Long, thừa nhận Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp.

Ngày 20/7/1954 chiến tranh kết thúc bằng hiệp ước Genève giữa Pháp và Việt Minh chia đôi Việt Nam bằng vĩ tuyến 17.

5). Những Sai Lầm Chính Lược Của Pháp
 

 

 Sau Đệ Nhị Thế Chiến, đế quốc thức dân Pháp hoàn toàn suy yếu, trong một bối cảnh thế giới đã có những đổi thay tận gốc rễ với những thế lực đang hình thành và chia vùng ảnh hưởng. Sự thân thiết có tính chiến lược của Mỹ với Nga qua Roosevelt và Stalin đã nói lên sự kém vế của Anh, Pháp dù được xếp vào hàng cường quốc. Chủ nghĩa thực dân đã trở thành lỗi thời và là mục tiêu công kích của toàn thế giới với sự hổ trợ của hai siêu cường Mỹ (tự do), Nga (Cộng Sản). Nhìn được trào lưu chính trị của thời đại, Anh đã khôn khéo sớm trao trả độc lập cho các thuộc địa và chân thành cộng tác với họ để thành lập khối thịnh vượng chung Liên Hiệp Anh. Trái lại, Pháp còn muốn cố gắng duy trì đế quốc thực dân, dùng thuộc địa như những phương tiện hữu hiệu để phục hồi mẫu quốc Pháp đã bị tàn phá sau những năm bị Đức chiếm đóng. Hội nghị Brazzaville đề ra chính lược tương lai của Pháp là lỏng tay hơn đối với các thuộc địa, chấp nhận canh tân nhưng vẫn duy trì thuộc địa dưới danh hiệu mới là Liên Hiệp Pháp. Bằng chứng là Pháp có riêng một bộ coi về thuộc địa được gọi một cách hoa mỹ là Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại. Bằng chứng nửa là De Gaulle đã phải rút lui để tránh không thực hiện những gì đã hứa với các thuộc địa và khi có những khuynh hướng cấp tiến trong chính trường muốn Pháp bắt chước Anh thực tâm trao trả độc lập cho các thuộc địa, thì chính De Gaulle lại ra thông báo nghiêm khắc cảnh cáo: “Người Pháp nào làm cho nước Pháp mất đi một phần lãnh thổ trong Pháp Quốc Hải Ngoại, thì sớm muộn cũng bị xét xử trước tòa án tối cao”. 

Pháp ngoan cố

muốn đi ngược lại tiến trình hướng thượng của nhân loại, với một chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời được ngụy trang dưới chiêu bài “khai hóa” đã bị tố cáo và lật tẩy, Pháp đã bị chống đối đương nhiên bởi các thuộc địa, là đối tượng để công kích của toàn thể loài người yếu và của thế lực quốc tế nay đã trở thành siêu đế quốc thực dân kiểu mới (kiểu Cộng Sản).

6). Pháp Sai Lầm Chiến Lược Trong Cuộc Chiến Đông Dương 1945-1954

Trong tầm mức chiến lược, Pháp đã sai lầm nghiêm trọng trên cả hai phương diện chính trị lẫn quân sự. Sự thua trận của Pháp chỉ là một kết quả đã thấy trước và tất yếu phải đến (hiện tại Pháp đã và đang sai lầm một lần nửa trên phương chính trị khi tự cho mình là siêu cường và muốn đối đầu với Hoa Kỳ, khi pháp bắt tay với Trung Cộng đối đầu với Mỹ trên bàn cờ chiến lược tại Á Châu).

A). Phương diện chính trị

 

 

Vì thiếu một chính lược đúng đắn nên thái độ chính trị của người Pháp cũng trở nên bất nhất. Nền Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp với những chia rẽ nội bộ và là những chính phủ yếu kém đã là nguyên do chính của thái độ chính trị không dứt khoát đó. Pháp đã thật sự thất bại trong việc tạo một chiêu bài Quốc Gia cho cuộc chiến tranh chống Cộng Sản. Bộ mặt thực dân quá lộ liễu của Pháp đã đẩy một số lớn dân chúng Việt Nam về phía Cộng Sản và làm cho những người Quốc Gia Việt Nam bị bế tắc. Họ bị chết đứng giữa hai gọng kềm Thực Dân – Cộng Sản và họ là điểm ngắm giữa hai lằn đạn thù.Giải pháp Quốc Gia đã được giới chính trị lẫn quân sự Pháp đề cập đến từ lâu, nhưng chỉ thành hình vào ngày 5/6/1948 với khuôn mặt Bảo Đại. Vì sự không thực tế với người Pháp và thêm vào đó là sự phá hoại của Cộng Sản Pháp tại ngay nghị trường, điển hình là dân biểu Cộng Sản Maurice Thorez (Maurice Thorez một cấp trên của Hồ Chí Minh, được Stalin giao quyền trông coi Đông Dương Cộng Sản Đảng khi Hồ Chí Minh bị gọi về Mạc Tư Khoa khiển trách về vụ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1932, đã tố cáo Bollaert với âm mưu làm sao ép buộc được cả năm quốc gia Đông Dương vào Liên Hiệp Pháp ngay khi Bollaert được đề cử làm Cao Ủy Đông Dương ngày 5/3/1947) đã làm cho chiêu bài Quốc Gia mà họ dựng lên, thiếu hấp dẫn đối với những người Cách Mạng có tinh thần Quốc Gia đã có thành tích chống Cộng và chống cả thực dân Pháp. Chiêu bài Quốc Gia đó cũng kém hấp dẫn ngay cả những người dân Việt Nam đang khao khát một nền độc lập, tự do và hòa bình cho tổ quốc.

Không phải Pháp không có những người nhìn ra sự cần thiết phải có một chính nghĩa Quốc Gia để chống lại Cộng Sản, trong một cuộc đấu tranh chính trị để tranh thủ quần chúng, nhưng những người nhìn được vấn đề, đưa được giải pháp lại không phải là những người nắm nhiệm vụ giải quyết vấn đề. Hơn ai hết, với hơn 80 năm kinh nghiệm đô hộ Việt nam, người Pháp tất hiểu tinh thần đấu tranh kiên cường của những đảng phái cách mạng ra sao!. Và cũng hơn ai hết, những người Pháp có kinh nghiệm cai trị tất hiểu rằng Cộng Sản đã e sợ và thù ghét người Quốc Gia như thế nào!. Vì trên bản chất, người Việt Nam Quốc Gia với lý tưởng “Tổ Quốc Trên Hết” đã, đang và vĩnh viễn sẽ là kẻ thù của bất cứ thế lực xâm lược nào dù lộ liễu, lạc hậu như đế quốc thực dân kiểu cũ , dù họ có trá hình khôn khéo dưới một chủ thuyết (Cộng Sản) được tôn xưng là khoa học, là đỉnh cao trí tuệ như siêu đế quốc thực dân kiểu mới.

Vì e sợ giải pháp Quốc Gia được trao phó cho những Người Quốc Gia Chân Chính (người quốc gia chân chính là những người không thỏa hiệp, không nhân nhượng, không xem tổ quốc mình như một món hàng để trao trao đổi) nên Cộng Sản đã xuống tay thủ tiêu nhà văn Khái Hưng, đảng viên của Đại Việt Dân Chính Đảng năm 1947. Nhà văn Nhượng Tống, đảng viên Quốc Dân Đảng bị ám sát năm 1947. Nguyễn Văn Sâm, sáng lập viên phong trào Quốc Gia Thống Nhất bị bắn chết tại Sài Gòn năm 1947. Bác Sĩ Trương Đình Tri, Chủ Tịch Hội Đồng An Dân Bắc Việt, bị bắn chết tại Hà Nội năm 1947 (Bác Sĩ Trương Đình Tri đã từng làm Bộ Trưởng Y Tế trong chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945) và còn biết bao nhiêu các đảng viên trung kiên và nòng cốt của các đảng phái Quốc Gia khác, đã bị Cộng Sản cầm tù, tra tấn, xử bắn với tội danh Cộng Sản gán cho họ là Việt gian bán nước, trong mục đích bôi xấu các đảng phái Quốc Gia rồi có cớ giết đi để trừ hậu họa.

Năm 1948, vụ phá hoại chiến hạm Amio D’Inville ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) là một vụ phản gián của tình báo Cộng Sản phá giải pháp Quốc Gia, khi Pháp cố liên lạc với các đảng phái Quốc Gia tìm người cộng tác. Hoàng Đạo, một tên gián điệp Cộng Sản mạo danh đại diện của Việt Nam Dân Tộc Cách Mệnh Đảng (một đảng có thành tích chống Cộng quyết liệt ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định đã bị Cộng Sản đàn áp, bắt giam cả ngàn đảng viên), để điều đình với Pháp tổ chức một cuộc nổi dậy bằng võ trang ở Liên Khu IV với sự yểm trợ của Pháp ở vùng biển. Hoàng Đạo có nhờ Pháp mang gia đình về Hải Phòng trên chiến hạm Amio D’Inville. Những va ly hành lý chứa toàn chất nổ của gia đình Hoàng Đạo đã gây thiệt hại khá nặng cho chiếc tàu này.

Trong một cuộc công du Hoa Kỳ để yêu cầu tăng quân viện vào ngày 20/9/1951, Đại Tướng De Latre de Tassigny, Cao Ủy Kiêm Tổng Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương, đã đề cao sự hy sinh của quân Liên Hiệp Pháp đang giúp đỡ quân đội Quốc Gia Việt Nam chống kẻ thù chung của thế giới tự do là Cộng Sản. Nhưng báo chí Mỹ đã chỉ trích Pháp và đặt câu hỏi: Tại sao những người Việt Nam chiến đấu cho tổ quốc họ khỏi họa Cộng Sản, khi tử trận người Pháp lại đề trên mộ họ những hàng chữ ô nhục “Mort pour la France” (chết cho nước Pháp? ! )

Chiến tranh cũng cần có khôn khéo như trong chính trị, nghĩa là cũng cần những lý do chính đáng để biện minh cho hành động. Vì như một tiến trình, chiến tranh chỉ là một sự kế tiếp của đấu tranh chính trị, dưới hình thức bạo lực trên một tầng cấp cao có tính cách quyết liệt, triệt để và toàn diện.

B) Phương Diện Quân Sự

Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Hòa là những yếu tố cần thiết để tạo nên sự chiến thắng. Nhưng không phải lúc nào ba yếu tố đó cũng đi với nhau. Vì đó mà kẻ tài trí phải tranh, phải mượn, phải tạo, phải đợi … để đạt chiến thắng. Và xét cho cùng, địa lợi là việc quan trọng hơn cả đối với việc dùng binh. Có một yếu tố địa lợi là cũng đủ thắng người, tranh hơn với thiên hạ. Địa Lợi là thứ phải tranh mới được, không như Thiên Thời phải chờ mới có, không như Nhân Hòa phải tạo mới thành. Nói đến chiến tranh tất nói đến trận mạc với cách thế hành quân đánh địch, thủ thành. Chiến tranh phải căn cứ thực tế đất địa mà ứng biến thích nghi. Người xưa vẫn thường nói Trận Địa là có ý đó. Có thể khẳng định là không có đất địa, không có trận thế … và do đó có thể nói nguyên do thất trận của Pháp ở Việt Nam là Pháp đã không nhìn ra được bản chất và thực lực của đối thủ để từ đó chọn chiến trường, chọn lối đánh và ấn định thời gian dứt điểm.

Nếu người Pháp nhìn ra được vùng tam giác Hồng Hà và vùng Thanh Hóa như là đất tranh và dùng toàn lực để tranh và giữ vùng đó, thì cuộc chiến Đông Dương sẽ ra sao?

Đất Tranh theo binh pháp của Tôn Tử là vùng đất mà ta chiếm được thì ta lợi lớn, địch chiếm được thì địch cũng lợi vô cùng, đất tranh vì thế không thể nhường, mà phải xuất tận lực nhanh tay mà lấy.

Những ngày đầu của chiến tranh, lực lượng của Cộng Sản không có gì đáng so sánh với quân đội Viễn Chinh Pháp, thế mà Pháp không biết lợi dụng ưu thế để tốc chiến tốc thắng, Pháp đã để cho Cộng Sản lấy thời gian mua không gian, “dùng thời gian như thần hộ vệ của kẻ yếu như Clausewitz một chiến lược gia Âu Châu đã nhận định”. Cốt nhiên vấn đề không thuần quân sự, nhưng nếu nắm được vùng đông dân cư thuộc sông Hồng và Thanh Hóa, tức là nắm được nguồn tiếp tế chiến tranh, người và vật lực của Cộng Sản. Dân chúng cũng giống như nước, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Hiểu được bản chất bất định của quần chúng, Cộng Sản đã đổ khuôn, đóng dấu quần chúng bằng chiến dịch tản cư để lùa dân về vùng do Cộng Sản kiểm soát, đó là Cộng Sản đã phá cái thế Địa Lợi của Pháp.

Nếu những ngày đầu của chiến tranh Pháp chiếm trọn vùng đông dân cư châu thổ sông Hồng và sông Mã, rồi võ trang cho các đảng phái và tôn giáo để chống Cộng Sản, như Pháp đã làm tại vùng châu thổ sông Cửu Long, với giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo … thì Cộng Sản không thể vẫy vùng một mình một chợ. Nhưng Pháp đã để uổng phí cơ hội tốt đó, đến lúc Pháp nhìn ra được vấn đề là phải gom dân giữ đất, thì mọi việc đã quá chậm. Cộng Sản đã có cả một hậu phương vĩ đại tiếp tế nhân sự, vũ khí, lương thực đó là lục địa Trung Cộng. Kể từ đó, Cộng Sản (Tàu và Việt Cộng) bắt đầu phản công Pháp và đánh bật Pháp ra khỏi những đất sát biên giới Việt – Hoa mà Pháp đã tốn công sức rải quân trấn đóng từ những ngày đầu của cuộc chiến Đông Dương. Để cứu vãn tình thế, Pháp cử Đại Tướng De Latre làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương vào tháng 12/1950. Với tài năng quân sự, De Latre đã chận được địch, giải tỏa áp lực địch quanh vùng tam giác sông Hồng Hà và gây nhiều tổn thất nặng nề cho địch. Võ Nguyên Giáp được lịnh phải trở về du kích chiến. Tài năng của De Latre được biểu lộ rõ rệt nhất trong các trận: Tô Vũ ở vùng Hòa Bình, với cách nhử địch để diệt địch. Trận non nước Ninh Bình, chống chiến thuật cài răng lược của Cộng Sản và hệ thống pháo đài bê tông dây thép gai bảo vệ hữu hiệu vùng châu thổ. Nhưng vì lý do sức khỏe, De Latre phải trở về Pháp chửa bệnh vào cuối năm 1951 và chết vào đầu năm 1952. Cùng với cái chết của De Latre niềm hy vọng giữ vững miền châu thổ sông Hồng Hà như ngọn đèn tàn đã lóa lên rồi tắt liệm …

Chiến dịch đổ bộ Bùi Chu, Phát Diệm với ý định giúp Thiên Chúa Giáo tự trị cũng thất bại vì quá chậm. chỉ được thực hiện vào năm 1952, nghĩa là vào lúc tình thế đã ung thối đến tột độ.

Cuối cùng chuyện đến đã đến, Pháp thua trận nhưng được an toàn rút khỏi Việt Nam bằng hiệp ước Genève 20/7/1954, dù Cộng Sản Việt Nam không muốn ngưng chiến mà muốn tiếp tục khai thác lợi thế của chiến thắng. Nhưng vì quyền lợi của Cộng Sản quốc tế, Nga và Tàu trong những giăng mắc với Anh và Pháp nên Cộng Sản Việt Nam phải buộc lòng chấp nhận. Trong cái nhìn chung của các cường quốc Nga, Tàu, Anh, Pháp trước mặt họ còn một thế lực khác đáng sợ hơn, đó là siêu cường Hoa Kỳ. Và như một chân lý ngàn đời trong chính trị không có gì là tuyệt đối, không có Bạn, không có Thù, chỉ có những mối tương quan được tạo dựng nên bởi quyền lợi và uy lực.

 7). Kết Luận

 

 

Tóm lại, chiến tranh với bản chất ngụy trá, tàn nhẫn, phá hoại và giết chóc đã là một phương tiện để thực hiện nhiều mục đích tùy theo sự mưu tính của người hoạch định

 

 

. Như đã dẫn chứng, người Cộng Sản Việt Nam đã dùng chiến tranh như một phương tiện hữu hiệu để tiêu diệt người Quốc Gia Việt Nam. Khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”, “Đoàn kết kháng chiến chống Pháp” chỉ là một chiêu bài chính trị không có thực chất. Thực dân Pháp chỉ là một lý do để biện minh cho những hành động tàn ác, mà Cộng Sản dùng để áp chế dân chúng và tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia trong tiến trình xây dựng vô sản thế giới theo đúng đường lối vạch ra của Đệ Tam Quốc Tế. Cứ nhìn những khẩu hiệu của họ đưa ra từng giai đoạn thì tất rõ. Từ “Phản Đế” họ tiến tới “Phản Phong”. Từ chống Pháp, họ tiến tới tiêu diệt giai cấp phản động và những sự cộng tác ngấm ngầm lén lút của người Cộng Sản với thực dân Pháp từ hồi còn xa xưa để tiêu diệt người Quốc Gia, đều là những yếu tố buộc tất cả mọi người chúng ta phải suy đi nghĩ lại về bản chất tráo trở của Người Cộng Sản về những gì họ đã phạm tới Tổ Quốc Việt Nam, với Dân Tộc Việt Nam, khi người Cộng Sản coi nước nòi như một phương tiện để xử dụng, chứ không như một cứu cánh cần phục vụ và một lý tưởng phải tôn thờ.

Hơn 50 năm qua Cộng Sản xây dựng miền Bắc, miền Bắc vẫn đói khổ, gần 30 năm “giải phóng” miền Nam, miền Nam đã trở thành điêu tàn và sa đọa !. 

 Đọc lịch sử không chỉ đơn thuần để lòng cười khóc với những buồn vui của người xưa, để thả hồn trôi lênh đênh qua những hưng phế thăng trầm của thời đại. Đọc lịch sử mang một ý nghĩa tích cực hơn nhiều. Đọc sử là học hỏi, suy ngẫm, bàn luận nguyên do đã tác động làm nên những biến chuyển lịch sử, để rồi lại ứng dụng vào những hoàn cảnh tương tự trong tương lai, thể hiện di huấn ngàn đời “Con phải hơn cha … để rạng rỡ giống nòi”. Những thế hệ cha anh của chúng ta, vì những bất lực của bản thân, vì những khó khăn của thời cuộc, đã để lỡ một vận hội. Còn chúng ta, những thế hệ Việt Nam trưởng thành trong máu lửa đấu tranh sẽ làm gì trước hiện tình thê thảm của đất nước, trước nỗi thống khổ của toàn dân?. Đất nước sẽ bị diệt vong nếu chúng ta không sáng suốt nhìn ra vấn đề, gát bỏ mọi thành kiến, chung lưng góp sức cứu nguy cho dân tộc. Trung Quân là tình cảm riêng tư của mỗi người, nhưng phải biết Ái Quốc. Đó là lời của Án Anh bề tôi của nước Tề trả lời với nước Sở khi nghe tin Tề Vương chết … Nghĩa Công phải trên Tình Riêng … mong thay !.

* – Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

* – Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

* – ……………..

* – Mấy ai người đem hết tâm can ?

* – Trước quân thù (Cộng Sản) hung hiểm gian ngoan

* – Biết bao kẻ mơ hồ mong hưởng lạc !

* – Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

* – ……………………

* – Ai đứng dậy diệt trừ lũ qủy ?

* – Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn

(Vì Ấu Trĩ – Thơ Vô Đề – 1975)

A. Những Thời Điểm Đáng Ghi Nhớ.

“Chúng tôi một số đồng chí ít ỏi do chính đồng chí (Hồ Chí Minh) đào tạo 1925. Những “tư tưởng?” của đồng chí đã thấm sâu vào chúng tôi. Chúng tôi xem đồng chí như biểu tượng cho tất cả tầng lớp thợ thuyền Việt Nam trẻ.

Chúng tôi không ngờ lại phải mất hết hy vọng sau thỏa ước 6/3. Đồng chí đã ký một thỏa ước chấp nhận tự trị mà không phải độc lập. Sức mạnh lòng tin tưởng của chúng tôi đặt vào nơi đồng chí là lãnh tụ phong trào cách mạng phản đế, cũng ngang ngửa với lòng căm phẫn của chúng tôi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ là đã chọn lầm lãnh tụ, nhưng nhân dân Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng. Chúng tôi sẽ tiếp tục con đường đồng chí đã chọn nhưng đã không noi theo đến cùng”.

 

April 6, 2008

Bài học Phạm Xuân Ẩn

Phạm Xuân Ẩn, tình báo chiến lược của Cộng Sản Việt Nam trong ngành truyền thông và báo chí. Chỉ nằm ở Sài Gòn mà sau năm 1975 lên đến chức Thiếu Tướng – dĩ nhiên là thiếu tướng tình báo…..vai trò Phạm Xuân Ẩn quan trọng như thế nào được Đại Dương phân tích qua “Bài học Phạm Xuân Ẩn” ….và cuối cùng Đại Dương tự hỏi Ai là Phạm Xuân Ẩn hiện nay ở hải ngoại?

Bài học Phạm Xuân Ẩn

Đại Dương


Tang thương phủ lên toàn miền Nam Việt Nam kể từ vĩ tuyến 17 vào sáng 30-4-1975. Quốc gia có tên Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử. Phố phường vắng tanh ngoại trừ

những chiếc Molotova gắn cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chất đầy cán binh với AK lăm lăm phóng vút qua. Trang bị của chiến binh Việt Nam Cộng Hoà bị vứt nằm trơ trẽn, rải rác trên các nẻo đường. Nhà nhà đóng cửa im ỉm. Người người đăm chiêu như cố dự đoán và đợi chờ một tương lai bất định. Tất cả thương binh Việt Nam Cộng Hoà bị họng súng AK thúc ra khỏi quân y viện. Họ bò, họ lết, họ dắt díu nhau trong tuyệt vọng. Ngọn đòn thù kiểu dã thú của cộng sản đã mở màn.

Hơn bao nhiêu năm sau, chúng ta còn tiếp tục bàn cãi về nguyên nhân sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà. Từ các nhà phân tích khắp thế giới cho đến anh phó thường dân Nam Bộ đều liệt kê nhiều lý do thất bại khác nhau. Tình báo chiến lược của cộng sản thao túng tại Việt Nam Cộng Hoà cũng là một yếu tố. Tất nhiên không thể thiếu phần của Phạm Xuân Ẩn.

Sinh quán ở Quảng Ngãi, Phạm Xuân Ẩn được học bổng của Mỹ cho đi du học ngành báo chí ở Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp, Ẩn cư ngụ tại đường Cô Giang và làm việc cho văn phòng tin tức tại Sài Gòn của tuần báo Times của Mỹ. Ẩn sống kín đáo và hoà nhã với mọi người, đúng tác phong công, tư chức trong khu phố yên tịnh, ít kẻ tò mò. Một chiếc vỏ bọc tuyệt hảo cho hoạt động tình báo. Ẩn đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc soạn thảo chính sách của Hoa Kỳ và VNCH cũng như trong lãnh vực dư luận.

Vai trò tình báo chiến lược của Phạm Xuân Ẩn chỉ được biết đến sau ngày 30-4-75. Trước đó, Cơ quan An ninh VNCH và CIA hầu như không biết gì về hoạt động gián điệp của Ẩn. Làng báo thủ đô Sài Gòn thường lấy tin từ Ẩn cũng không một chút nghi ngờ.

Dựa vào yếu tố nào mà Phạm Xuân Ẩn đã hoàn thành nhiệm vụ tình báo chiến lược trong lòng địch?

Thứ nhất, tâm lý “đèn nhà ai nấy rạng” của dân chúng VNCH khiến cho hoạt động của Ẩn được bảo mật tuyệt đối. Chúng ta không muốn xoi mói vào công việc hoặc vi phạm quyền tự do cá nhân của nhau. Chúng ta phó mặc tình trạng an ninh quốc gia cho các cơ quan hữu trách. Phải chăng đó là thái độ vô trách nhiệm của công dân?

Thứ hai, tâm lý “vọng ngoại” khiến chúng ta tin rằng Ẩn là người của CIA. Và những tin tức do Ẩn cung cấp xuất phát từ Hoa Thịnh Đốn. Ẩn do Mỹ đào tạo và sử dụng thì CIA là cái chắc. Tin do hắn cung cấp làm sao sai được. Khỏi lo, cứ phổ biến thả giàn. Sự quen biết rộng rãi của Ẩn khi cùng các phóng viên ngoại quốc săn tin giới chức Mỹ đến Việt Nam càng thêm xác tín vai trò CIA của ông ta. Chớ chơi dại mà chạm vào “ông CIA” có ngày vỡ mặt. Thế là, viên chức cao cấp VNCH, làng báo Sài Gòn thi nhau moi tin từ “nhân vật thạo tin” Phạm Xuân Ẩn. Chiêu thức “cáo mượn oai hùm” được Ẩn sử dụng thuần thục.

Thứ ba, tâm lý “cạnh tranh” khiến cho phóng viên ngoại quốc cố sức moi móc cho bằng được những tin tức của “phía bên kia”. Ẩn là người cung cấp loại đó. Không những thông tín viên báo Times mà hầu hết các nhà báo ngoại quốc đến Sài Gòn đều tìm gặp Ẩn để săn tin liên quan đến “phía bên kia”. Trung Ương Cục mớm cho Ẩn những tin tức mới toanh chưa hề phổ biến trên hệ thống truyền thanh của cộng sản trước đó khiến cho mấy tay phóng viên ngoại quốc cứ mê tít thò lò. Họ tưởng Ẩn đã mua được các tin tức có giá tri.. Nhưng sự thực đó là những bản tin do Trung Ương Cục chế tạo. Tại thủ đô VNCH, có rất nhiều trạm chuyển tin mà sau 1975 cộng sản “biểu dương” là “địa chỉ đỏ” (nơi nuôi, giấu cán bộ hoạt động). Do đó, Ẩn chỉ quanh quẩn ở Sài Gòn cũng nhận được đầy đủ chỉ thị…

Thứ tư, viên chức VNCH và Mỹ muốn dùng Ẩn như nhân vật trung gian để chuyển đạt cho “đồng minh” những thông điệp bán chính thức. Nhưng Ẩn lại là đài chặn bắt làn sóng để truyền về Trung Ương Cục Miền Nam. Chủ trương của VNCH và Mỹ cùng các xích mích được Trung Ương Cục nghiên cứu cẩn thận. Chiến lược chiến thuật của cộng sản được điều chỉnh thích đáng. Xích mích giữa VNCH và Mỹ được kích thích thành hiềm khích qua trung gian Phạm Xuân Ẩn.

Trong các cuộc phỏng vấn của hệ thống truyền thông cộng sản sau 30-4-75, Ẩn nói rất ít về vai trò của mình tại Sài Gòn, đúng với bản tính kín đáo. Tuy nhiên có 3 điều tác hại to lớn đối với cuộc chiến tranh Việt Nam.

1- Những nhà soạn thảo chính sách, người thực hiện và dư luận Hoa Kỳ thực sự đã hiểu khá sai lạc về cuộc chiến Việt Nam. Điển hình là những điều cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara trình bày trong cuốn “In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam” xuất bản năm 1995. McNamara thú nhận không những bản thân mà nhiều nhà vạch định chính sách Hoa Kỳ đã không am tường về mưu đồ của cộng sản quốc tế; không rõ quyết tâm của đảng cộng sản Việt Nam; mù tịt về con người và đất nước Việt Nam. Hậu quả, Hoa Thịnh Đốn coi cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam là “chiến tranh giải phóng dân tộc” và Hồ Chí Minh là “người quốc gia yêu nước”. Giở lại chồng báo cũ của Hoa Kỳ và thế giới trong những thập niên 1950-1970 chúng ta cũng thấy dư luận sai lầm (vô cùng tai hại) tương tự..

2- Dân chúng miền Nam hiểu lơ mơ về bản chất thực sự của chủ nghiã Mác-Lênin. Nó được truyền đạt qua giới khoa bảng bằng các hình dung từ đẹp đẽ song song với hình ảnh cán binh cộng sản nửa người nửa ngợm do bộ máy thông tin (dân sự) và tâm lý chiến (quân sự) VNCH thêu dệt nên khiến cho dân chúng nuôi cảm tình với lý tưởng cộng sản. Bản chất của chủ nghiã xã hội, thủ đoạn của cộng sản đã không được mô tả, phân tích tường tận, giải thích sâu rộng. Thông tin, tâm lý chiến chỉ tập trung vào việc bêu riếu sự thất học, dáng dấp quê mùa của đảng viên cộng sản mà quên rằng 80% người Việt Nam là nông dân.

3- Dư luận thế giới, kể cả VNCH, phân biệt cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là 2 thực thể độc lập. Bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Quốc Tế cộng sản và tay sai Bắc Bộ Phủ lại biến thành chiến tranh giải phóng. Cơ quan Việt Tấn Xã với bao nhiêu bằng cấp, tiếng nói chính thức của VNCH; báo chí chống cộng của miền Nam; phóng viên ngoại quốc dạn dày kinh nghiệm cũng bị cộng sản bịp đến sói đầu. Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ, cộng sản đã thắng chúng ta trên mặt trận tư tưởng. Họ đẩy chúng ta vào thế mất chính nghiã, làm cho tinh thần bạc nhược, mất ý chí chiến đấu.

Khi khối cộng còn mạnh, cộng sản Việt Nam không mấy quan tâm đến sức đối kháng của người Việt hải ngoại. Thời đó, Bắc Bộ Phủ chỉ muốn giao dịch trong khối cộng. Họ muốn dồn mọi nỗ lực để tiêu diệt tên đế quốc đầu sỏ là Hoa Kỳ. Do đó, mạng lưới tình báo cộng sản Việt Nam tại Hoa Kỳ chỉ tập trung vào việc vận động dư luận Mỹ và thu thập tin tức. Họ chỉ dùng cộng đồng Việt Nam hải ngoại như phương tiện cho các hoạt động chống Mỹ.

Họ không có kế hoạch chống cộng đồng. Khi toàn cầu bị nhuộm đỏ thì sự chống đối của người Việt hải ngoại tất phải tiêu vong. Ngày 31-1-78, FBI bủa lưới bắt Ronald Humphrey (cưới gái Việt khi phục vụ tại VNCH); Trương Đình Hùng (con trai Trương Đình Dzu) cưới gái Mỹ. Sau đó toà phạt mỗi tên 15 năm tù về tội làm gián điệp. Đinh Bá Thi, đại sứ cộng sản tại Liên Hiệp Quốc, bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Sau đó chết trong một tai nạn xe hơi ở Phan Thiết làm cho người ta ngờ đến vụ thanh toán.

Nhưng khi khối cộng tan rã, chỗ dựa mất, viện trợ không còn khiến cho Bắc Bộ Phủ phải tính đường giao thương với khối tư bản để tồn tại. Sự chống đối của người Việt hải ngoại làm cho cộng sản Việt Nam khó lòng thực hiện trót lọt mọi kế hoạch. Tiêu diệt sức chống đối của người Việt hải ngoại là ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Bắc Bộ Phủ. Cần phải chuyển hướng dư luận của người Việt hải ngoại từ chống đối sang yểm trợ cho nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam. Nhiều Phạm Xuân Ẩn khác đã được tạo ra để đáp ứng nhu cầu.

Mô hình Phạm Xuân Ẩn phải thuộc loại người có thành tích chống cộng (để dư luận không nghi ngờ), hiểu biết rành rẽ về kỹ thuật truyền thông, am tường hoạt động chính trị, giao thiệp rộng rãi trong giới truyền thông thế giới. Tin mật từ Bắc Bộ Phủ được tung ra qua nhân vật thạo tin để tạo uy tín. Phân tích, bình luận kèm theo với lập luận có lợi cho chính sách của cộng sản Việt Nam. Trước đây, người Việt hải ngoại quyết tâm lật đổ chế độ cộng sản Việt Nam, vì đó là thảm họa của đất nước và dân tộc. Ngày nay, nhiều
người chỉ nghĩ đến giải pháp dân chủ hóa chế độ do đảng cộng sản chủ trương. Chúng ta từng chê đảng viên cộng sản bất lực nhưng giờ đây lại tin rằng chỉ có họ mới làm nên lịch sử. Đến lúc nào chúng ta sẽ toàn tâm toàn ý yểm trợ cho đường lối, chính sách đảng cộng sản?!!

Ai đang thủ diễn vai trò Phạm Xuân Ẩn tại hải ngoại? Chúng ta rút tỉa được gì qua bài học cũ? Chúng ta sẽ hành động như thế nào để khỏi đi vào vết xe cũ?

Đại Dương

(VQ)

March 31, 2008

Tại Sao Cụ Phan Thanh Giản Bị CSVN Kết Tội

Thử Đi Tìm Nguyên Nhân Tại Sao

Cụ Phan Thanh Giản Bị Cộng Sản Bắc Việt Kết Tội

Trần Đông Phong

phanthanhgian.jpg

 

Ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều người ở miền Nam Việt Nam đều ngạc nhiên và sửng sốt khi thấy một trong những người đầu tiên ở miền Nam đã bị những người Cộng sản chiến thắng đánh phá một cách vô cùng hăng say, một cách vô cùng không thương xót, lại không phải là những người đã từng lãnh đạo quốc gia Việt Nam Cộng Hòa chống lại Cộng sản Hà Nội như Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là một nhân vật miền Nam đã tạ thế hơn một thế kỷ trước, đó là Cụ Phan Thanh Giản.

            Ngay vào đầu tháng 5 năm 1975, tất cả những con đường mang tên Cụ Phan Thanh Giản ở trên khắp 55 đô,ï tỉnh và thị xã ở Miền Nam Việt Nam đều bị chính quyền Cộng sản hủy bỏ và thay thế bằng những tên mới. Ngôi trường trung học lớn nhất ở miền Tây đã được mang tên cụ Phan Thanh Giản từ trước năm 1945 cũng bị đổi tên ngay lập tức và thay thế bằng tên của một cán bộ Cộng sản mà đa số mọi người dân khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh không hề được biết, ngôi tượng của Cụ Phan Thanh Giản được nhân dân Cần Thơ và học sinh trường Trung Học Phan Thanh Giản dựng lên vào đầu thập niên 1970 tại sân cờ của trường này cũng bị cán bộ Cộng sản đập phá tan tành ngay vào những ngày đầu họ mới tiếp thu thành phố Cần Thơ và pho tượng của Cụ tại châu thành Bến Tre, nơi quê hương của Cu,ï cũng bị đập phá và dẹp bỏ.

           

            Cụ Phan Thanh Giản đã có tội gì mà lại bị những người Cộng sản chỉ đáng tuổi cháu chắt mấy đời  của Cụ hận thù đến như vậy?

 

            Không có tham vọng cũng như là không có đủ khả năng để tìm hiểu nguyên nhân chính thức và rõ rệt tại sao những người Cộng sản tại Bắc Việt lại kết tội cụ Phan Thanh Giản vào thời đó, cách đây đã hơn 40 năm, tuy nhiên trong bài này người viết cũng cố gắng tìm kiếm một số tài liệu qua bài viết hay lời kể lại của một số nhân chứng để tìm hiểu thêm về những sự kiện có liên hệ đến quyết định này.

    Trần Huy Liệu và Bài Kết Luận Trong Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử Năm 1963 

Theo Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ Tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, giáo sư Sử Học thuộc trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, thì Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 55 xuất bản tại Hà Nội vào tháng 10 năm 1963 đã công bố  bài kết luận của Giáo sư Trần Huy Liệu dưới tiêu đề: Chúng Ta Đã Nhất Trí Về Việc Nhận Định Phan Thanh Giản. Quan điểm chung của bài kết luận là lên án Phan Thanh Giản: Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghiã, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, cuả nhân dân, là phạm tội dâng thành hiến đất cho giặc và từ đó phủ nhận tất cả tứ đức của ông như đức tính liêm khiết, lòng yêu nước, thương dânvì công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể.

 

Theo Tiến sĩ Phan Thị Minh Lễ, người viết nghe nói dường như bà cũng là hậu duệ của Cụ Phan Thanh Giản, thì vào năm 1963, chính phủ Hà Nội mở một chiến dịch tuyên truyền nhằm chống lại chính phủ Sài Gòn và Đế quốc Mỹ với khẩu hiệu sau đây: Đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.

            Tất cả mọi phương tiện đều có lợi cho việc đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền này. Dường như  giáo sư Trần Huy Liệu, một vị giáo sư đại học nổi tiếng và là một nhà sử học nghiêm chỉnh đã không ngần ngại dùng nhân vật Phan Thanh Giản để bôi xấu cái thái độ khuất phục trước sức mạnh của người ngoại quốc. Vào năm 1867, đó là người Pháp và vào năm 1963 thì lại là người Mỹ.

            Cũng theo Tiến sĩ Phan Thị Minh Lễâ thì tuy Trần Huy Liệu nói rằng  chúng ta nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản nhưng cũng trong tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử số 55 này, Trần Huy Liệu đã thú nhận rằng trong cuộc thảo luận này, chúng ta đã gần như giật mình vì nổi giận (choqué) vì lập trường của hai đồng chí Chương Thâu và Đặng Huy Vậân, lập trường không ai mong đợi vì hai đồng chí này vẫn chưa bỏ được cảm tình của họ dành cho Phan Thanh Giản, do đó họ đã trở thành đối tượng của sự phản đối và đã gây ra một loạt chỉ trích. 

            Giáo sư Văn Tạo, cựu Giám đốc Viện Sử Học Hà Nội đã cho biết rằng vào những năm 1962-1963, trong cuộc thảo luận trên Tạp chí Nghiên Cứu Lịch sử và trong hội thảo khoa học ở Viện Sử Học, có nhiều ý kiến khác nhau. Thậm chí sau lời tổng kết hội thảo của Giáo sư Trần Huy Liệu, nguyên Viện Trưởng Viện Sử Học, với đầu đề Chúng Ta Nhất Trí về Việc Nhận Định về Phan Thanh Giản thì ngay sau đó, Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nguyên Giám Đốc Thư Viện Khoa Học Xội,  cũng đã nói lên tình cảm chân thành của mình: Về mặt khoa học, các đồng chí nhận định như vậy là có lý, nhưng về mặt tình cảm, trí thức, Lục Tỉnh chúng tôi vẫn có nhiều băn khoăn, thấy không muốn hạ thấp Phan Thanh Giản xuống đến như thế.

            Như vậy thì việc kết án cụ Phan Thanh Giản không có nhất trí như Trần Huy Liệu viết vì ngoài  Giáo sư  Ca Văn Thỉnh, hai ông Chương Thâu và Đặng Huy Vậân, cũng là đảng viên Cộng Sản vì Trần Huy Liệu gọi là đồng chí, đã có viết một bài nhan đề  Phan Thanh Giản Trong Lịch Sử Cận Đại Việt Nam đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 48 vào tháng 3 năm 1963, trong đó hai nhân vật này còn bênh vực cho cụ Phan Thanh Giản.

 

Người viết không có cơ hội được đọc bài Phan Thanh Giản Trong Lịch Sử Cận Đại Việt Nam  của hai ông Chương Thâu và Đặng Huy Vậân, tuy nhiên trong phần mở đầu cho loạt bài bình luận về nhân vật lịch sử  Phan Thanh Giản, tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử đã cho biết chủ trương của họ như sau: Theo ý chúng tôi, trong việc bình luận  nhân vật lịch sử , nhất là những nhân vật như Phan Thanh Giản, chúng ta cần dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác, đem yêu cầu của thời đại và nguyện vọng của nhân dân để soi vào hành động  của người đó, sẽ thấy rõ có công hay có tội, đáng làm gương hay đáng chỉ trích. ..

Như vậy vào năm 1963, khi đưa ra việc thảo luận về đề tài bình luận nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, một nhân vật trí thức Việt Nam đã tử tiết vào năm 1867, tức là gần một thế kỷ về trước, mà cần phải dựa vào quan điểm của Mác, lúc đó đến ngay cả người Nga-la-tư, tứùc là người Liên Xô sau này, cũng chưa hề được biết ông Karl Marx là ai, thì rõ ràng là những người lãnh đạo trong ngành văn hóa và tư tưởng của Hà Nội, những người còn trên cả Trần Huy Liệu, đã có một lập trường rõ rệt và dứt khoát là phải đả kích, phải chỉ trích và kết tội nhân vật Phan Thanh Giản rồi.

Với những chỉ thị như vậy, Trần Huy Liệu lại còn rào trước đón sau : Trong khi bình luận về một nhân vật lịch sử nào, chúng ta phải đặt người ấy vào hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Chúng ta không đòi hỏi những người sống xa thời đại chúng ta, không cùng một giai cấp với chúng ta, cũng phải có một lập trường tư tưởng như chúng ta. Nhưng để đánh giá họ, chúng ta chỉ cần xem tư tưởng và hành động của họ có phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân đương thời không?

Rồi trong bài Chúng Ta Đã Nhất Trí Về Việc Nhận Định Phan Thanh Giản, Trần Huy Liệu đã quy trách nhiệm cho Cụ Phan Thanh Giản trong việc ký hoà ước năm Nhâm Tuất 1862 nhượng 3 tỉnh miền Đông cho người Pháp rồi sau đó lại để cho mất 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867 và kết tội cụ Phan Thanh Giản đã dâng thành hiến đất cho giặc, phản lại quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân.

Trong chiến dịch phê phán nhân vật Phan Thanh Giản hồi đó, có một số người quan niệm rằng muốn kết án thì phải kết án giai cấp phong kiến mà thủ phạm phải là  Tự Đức, còn Phan Thanh Giản chỉ là tòng phạm thôi, nhưng lập luận này đã bị Trần Huy Liệu phản bác gay gắt: Chúng ta không phủ nhận giai cấp phong kiến nhà Nguyễn hồi ấy đã hết sứ mạng lịch sử và đương đi theo chiều hướng thỏa hiệp và đầu hàng. Nhưng một sự thật mà chúng ta không được phép chối cãi là: trên bước đường phân hóa, chính trong giai cấp phong kiến hồi ấy cũng còn có phái chủ chiến và phái chủ hòa (nghĩa là phải đầu hàng.) Chưa nói đến sự cớ  lúc ấy: giặc Pháp mới để chân đến Nam Kỳ, các tầng lớp nhân dân đang hăng hái đánh giặc cứu nước, mà ngay chính Tự Đức, một tên vua phải đứng trước vành móng ngựa về tội làm mất nước ta, cũng từ chôã lưng chừng đến chỗ đầu hàng, chớ chưa phải đã cam tâm dâng nước cho giặc ngay tư øđầu.. .

Nếu ngày nay, trước từng sự kiện lịch sử phải tìm ra trách nhiệm, cái gì cũng đổ chung cho giai cấp phong kiến theo lối hầm  bà là cả, vậy thì thêá nào đêå phân biệt những người yêu Tổ quốc (Trần Huy Liệu viết chữ hoa,)  theo chính nghĩa, giết giặc cứu nước với những kẻ hàng giặc, dâng nước cho giặc? Làm thêá nào để phân biêät những người giữ thành, chết  theo thành như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Thúc Nhận v.v. với những người dâng thành hiến đất cho giặc theo kiểu Phan Thanh Giản? Không. .. Dư luận nhân dân rất sáng suốt cuũg như bản án rất công minh. Nếu vị trạng sư  nào còn muốn bào chữa cho một bị cáo đã bị bắt quả tang từ non một trăm năm trước thì chỉ là tốn công vô ích!

Trần Huy Liệu còn lên án chỉ trích cụ Phan Thanh Giản về mặt đạo đức: Tôi chỉ nhấn mạnh vào cái quan niệäm về đạo đức, tư cách của con người thế nào cho đúng. Những người có lòng chiếu cố đến Phan Thanh Giản chỉ mới nhìn vào tư đức của ông mà không nhìn vào công đức của ông. Ở  vào thời thêá nước ta hồi ấy, mỗi người công dân còn có cái đạo đức nào cao hơn là yêu nước thù giặc, hy sinh quên mình, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trái lại, còn có cái gì xấu hơn là theo giặc, chống lại cách mạng, phản lại quyền lợi tối cao của Tôå quốc? Đối với Phan Thanh Giản, công đức như thế là đã bại hoại rồi, mà công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể?

 Trần Huy Liệu lên án Phan trước sau vẫn theo chiều hướng đầu hàng, từ ký nhượng ba tỉnh miền Đông đến ký nhượng ba tỉnh miền Tây. Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân.. .

 

 Trong chế độ Cộng sản, khi một người nào đó bị kết tội là phản bội quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân thì đó là tội phản quốc và nếu còn sống thì phải bị xử tử, bị thủ tiêu hay bị đưa đi cải tạo, còn nếu đã chết rồi, một người đã mang cái  tội như vậy thì không xứng đáng được xem như là một người yêu nước, một vị anh hùng dân tộc đáng được tôn thờ như tại miền Nam vào thời từ cuối thế kỷ thứ 19 cho đến hồi đó.

 Trần Huy Liệu 

Trần Huy Liệu là người như thế nào mà bài kết tội cụ Phan Thanh Giản của ông vào năm 1963 lại có ảnh hưởng tại miền Nam 12 năm sau đó?

Trần Huy Liệu là một nhân vật rất nổi tiếng và có nhiều uy quyền ở miền Bắc, nhất là trong lãnh vực văn hóa cho đến khi ông chết vào năm 1969.

Trần Huy Liệu sinh năm 1901, nguyên quán làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Năm 1924, Trần Huy Liệu đã từ Hà Nội vào Nam Kỳ để cộng tác với nhiều tờ báo ở Sài Gòn như Nông Cổ Mín Đàm, Ngòi Bút Sắt, làm chủ bút các tờ Đông Pháp Thời báo, Pháp Việt Nhất Gia v.v. Trong thời gian ở Nam Kỳ, ông là  chi bộ trưởng Chi Bộ Đặc Biệt của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Sài Gòn. Ông có tham gia phong trào đòi hỏi người Pháp phải phóng thích Cụ Phan Bội Châu, phong trào truy điệu Cụ Phan Chu Trinh và bị Pháp bắt vào năm 1927. Sau khi ra khỏi tù, ông lại bị người Pháp bắt vào năm 1929 và đày ra Côn Đảo cho đến năm 1935. Trong thời gian bị tù ở Côn Đảo lần này, ông chịu ảnh hưởng của các tù nhân Cộng sản, do đó, sau khi dược phóng thích vào năm 1935, ông về hoạt động tại Hà Nội và chính thức gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1936. Trong thời gian này, ông chủ trương những tờ báo thân Cộng sản như Đời Mới, Thời Báo, Tin Tức, Đời Nay rồi lại bị Pháp bắt vào năm 1939, sau đó bị đày lên Sơn La. Tại nhà tù này, thực dân Pháp cũng đang giam giữ nhiều đảng viên Cộng sản khác trong đó có những người sau này nổi tiếng như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ v.v. Năm 1942, ông được thực dân Pháp giảm án tù, cho đi an trí tại Thái Nguyên và Yên Bái. Tháng 3 năm 1945, nhân cơ hội người Nhật đảo chính người Pháp, ông trốn về chiến khu Tân Trào. Trong Quốc Dân Đại Hội họp tại Tân Trào ngày 8 tháng 7 năm 1945, tuy rằng tuổi đảng chỉ mới có chưa đầy mười năm nhưng Trần Huy Liệu lại được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng, chỉ đứng sau Hồ Chí Minh nhưng lại trên cả  Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và Chu Văn Tấn v.v.

Ngày 29 tháng 8 năm 1945, Trần Huy Liệu được giữ chức Bộ trưởng Tuyên Truyền trong Chính phủ Lâm Thời và đã được Hồ Chí Minh chọn cầm đầu một phái đoàn của Việt Minh gồm có Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào Huế để nhận ấn tín và sự thoái vị của Vua Bảo Đại ngày 30 tháng 8 năm 1945. Trong những năm sau đó, Trần Huy Liệu được giữ những chức vụ quan trọng khác trong Tổng Bộ Việt Minh, Tổng Cục Chính Trị Quân Đội và  năm 1946 đã được Hồ Chí Minh cử làm Ủy viên Thường trực Quốc Hội.

Theo nhà sử học Trần Gia Phụng thì họ Hồ giao cho Trần Huy Liệu làm bộ trưởng bộ Tuyên Truyền không phải vì tín nhiệm Trần Huy Liệu mà vì họ Hồ cần uy tín của ông, vốn là chi bộ trưởng Chi bộ Đặc Biệt Quốc Đân Đảng tại Sài Gòn. Họ Hồ giao cho ông ta  làm trưởng phái đoàn trong việc chứng kiến lễ thoái vị của Vua Bảo Đại để trong trường hợp xảy những phản đối gì thì Trần Huy Liệu và Quốc Dân Đảng phải chịu trách nhiệm, trong khi Nguyễn Lương Bằng, bí danh Sao Đỏ, tuổi đảng cao hơn rất nhiều so với Trần Huy Liệu thì chỉ là một nhân viên trong phái đoàn này. ..

Vào năm 1946, khi bị Tướng Lư Hán gây áp lực đòi Việt Minh phải mở rộng thành phần chính phủ, Hồ Chí Minh nhượng bộ và đã mời những nhà lãnh đạo các đảng phái quốc gia như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam v.v. tham gia vào chính phủ liên hiệp cũng như chia 80 ghế đại biểu quốc hội cho  phe Quốc Gia, tuy nhiên một trong những điều kiện mà phe Quốc gia đòi hỏi Hồ Chí Minh là phải loại bỏ Trần Huy Liệu, lúc đó đang giữ chức Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền ra khỏi chính phủ.

Sau năm 1954, Trần Huy Liệu được nổi tiếng là một đại gia nô của đảng Lao Động khi ông tuyên bố rằng Lịch sử Việt Nam chỉ bắt đầu từ khi Đảng Cộng sản ra đời.. . và Hồ Chủ Tịch là người sáng lập ra nước Việt Nam.. . Như vậy, theo sử gia Trần Huy Liệu thì trước năm 1930, khi đảng Cộng sản Đông Dương chưa chính thức ra đời thì chưa có dân tộc Việt Nam và phải đợi cho đến tháng 9 năm 1945 khi ông Hồ Chí Minh về nước thì mới có nước Việt Nam.  Có lẽ nhờ vào sự nịnh hót và tâng bốc lố bịch đó mà Trần Huy Liệu được Đảng cho  giữ những chức vụ quan trọng trong lãnh vực văn hóa như làm Trưởng Ban Nghiên cứu Văn-Sử-Địa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện trưởng Viện Sử học, Hội trưởng Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam cho đến khi qua đời vào năm 1969. 

Đó là con người Trần Huy Liệu, một nhân vật có rất nhiều ảnh hưởng trong các lãnh vực chính trị, văn hoá và nhất là lịch sử vì vào đầu thập niên 1960, ông đang giữ chức vụ Chủ nhiệm  và Tổng Biên Tập Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử và Viện trưởng Viện Sử Học, những chức vụ  được một số người xem là không có quyền hành, tuy nhiên trong  hệ thống Cộng sản Việt Nam hồi đó thì tất cả mọi cơ quan truyền thông, báo chí đều là công cụ của Đảng, là tiếng nói của Đảng, do đó một tờ báo như là Tạp Chí Nghiên cứu Lịch Sử tất nhiên phải đăng tãi những bài về những đề tài mà Ban Văn Hóa Tư Tưởng của Đảng cho phép đăng và muốn đăng.

Về phương diện sử học, Trần Huy Liệu còn được nổi tiếng là người cha đẻ ra huyền thoại Lê Văn Tám, một nhân vật anh hùng trong lịch sử kháng chiến chống Pháp mà ngày nay có rất nhiều sách truyện được in lại để tuyên truyền trong giới thanh thiếu niên cũng như là nhiều công viên mang tên vị anh hùng này trên khắp nước, đặc biệt là công viên Lê Văn Tám tại Sài Gòn. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, một đệ tử của ông tại Viện Sử Học Hà Nội là Giáo sư Phan Huy Lê đã tiết lộ rằng nhân vật Lê Văn Tám của sử gia Trần Huy Liệu chỉ là một nhân vật tưởng tượng do Trần Huy Liệu bịa đặt ra với mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản.

 

Vào năm 1963, trong khi tình hình kinh tế miền Bắc đang gặp phải nhiều khó khăn vì nạn hạn hán, trong khi đảng Cộng sản Việt Nam đang bị chia rẽ trầm trọng vì sự xung đột về ý thức hệ rất trầm trọng giưã hai nước Cộng sản đàn anh là Liên Xô và Trung Hoa Cộng sản, trong khi tình hình chiến sự tại miền Nam đang trở nên sôi động, câu hỏi được đặt ra là tại sao cũng đúng vào thời gian đó, đảng Lao Động (Cộng sản) Việt Nam, qua sử gia Trần Huy Liệu, lại cho mở nhiều cuộc hội thảo để chỉ trích, để đánh phá, để kết tội, để bôi nhọ và hạ bệ một vị danh nhân miền Nam đã từ trần từ năm 1867 tức là đã gần 100 năm về trước?

Trong bài này, người viết sẽ chỉ phân tích một số sự kiện đã xảy ra tại miền Bắc vào năm 1963 để thử tìm hiểu nguyên nhân tại sao Giáo sư Trần Huy Liệu lại bỏ nhiều thì giờ, công sức và ảnh hưởng để làm việc này, ông ta tự ý hay là đã nhận được lệnh của những người khác cao cấp hơn ông để mở chiến dịch hạ bệ cụ Phan Thanh Giản và với mục đích gì?

 Tấn Công Khuynh Hướng Chủ Hòa Trong Đảng?  

Vào năm 1956, một biến cố xảy ra tại Mạc Tư Khoa đã làm cả thế giới Tự Do sửng sốt và gây ảnh hưởng đến  tất cả các quốc gia trong khối Cộng sản, trong đó có cả Bắc Việt Cộng sản, đóù là bài diễn văn của Nikita Khrushchev đọc tai Đại Hội lần thứ  XX của Đảng Cộng sản Liên Xô tại Mạc Tư Khoa vào ngày 25 tháng 2 năm 1956. Trong bài diễn văn này, Đệ Nhất Bí Thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã tố cáo những tội ác diệt chủng tầy đình của Joseph Stalin, cực lực lên án tệ nạn sùng bái cá nhân và đồng thời đề cập đến chủ trương sống chung hòa bình (peaceful coexistence) giữa các quốc gia thuộc cả hai khối trên thế giới.

Vũ Thư Hiên, tác giả cuốn Đêm Giữa Ban Ngày, lúc đó đang là một sinh viên du học tại Mạc Tư Khoa đã tóm lược những ý chính trong bài diễn văn quan trọng này như sau:

Đại Hội XX không phải chỉ vạch trần tệ súng bái cá nhân Sta-lin, đòi phục hồi  các chuẩn mực dân chủ trong mọi sinh hoạt xã hội, trong sinh hoạt đảng. .. Nó còn mở ra tầm nhìn mới cho cả thế giới Cộng sản. Nó bác bỏ quan điểm coi bạo lực là phương pháp dành chính quyền duy nhất cho giai cấp vô sản, coi mâu thuẫn giữa hai hệ thống thêá giới là không thể điều hòa (hòa hợp theo tiếng miền Nam). Đó là Đại hội của tinh thần hòa bình-cùng tôàn tại trong hòa bình, hợp tác hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, tinh thần giaiû quyết mọi tranh chấp bằng thương lượng, chấm dứt mọi thứ chiến tranh nóng cũng  như lạnh, giải trừ quân bị. ..

Bài diễn văn của lãnh tụ Cộng sản Liên Xô trong thời gian những năm sau đó đã gây xáo trộn, sứt mẻ và chia rẽ trầm trọng trong khối các nước Cộng sản, nhất là giũa Liên Bang Xô Viết và Trung Hoa Cộng sản. Trung Cộng đứng đầu công kích Liên Xô đi theo chủ nghĩa xét lại và Liên Xô thì kết án Trung Cộng đi theo chủ nghĩa giáo điều lạc hậu.

 Cộng sản Bắc Việt lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó xử vì cả hai nước đều là quốc gia và là đảng đàn anh, cũng như là đại ân nhân của Cộng sản Bắc Việt, do đó các nhà lãnh đạo đảng Lao Động Việt Nam (tức là Đảng Cộng sản Đông Dương được cải danh từ năm 1946) đã phải đi theo một đường lối mà ở  BắcViệt được gọi là đánh đu còn ở miền Nam thì gọi là đi giây:

Một đặc điểm của thời kỳ này là đường lối đánh đu giữa hai cọc. Trên những trang báo Nhân Dân và các báo khác cũng thế, cứ mỗi bài nói tới Liên Xô thì lại có một bài nói về Trung Quốc, với số dòng tương đương, với cỡ chữ tương đương, không bên nào được lớn hơn bên nào.

Đường lối này được giữ trong một thời gian dài trong cuộc xung đột ý thức hệ chủ yếu là nhờ ông Hôà Chí Minh. Vai trò tôi là người giữa tôi chữa đôi bên của ông, đáng tiếc, đã tỏ ra không bền. Vị thế trung dung sở dĩ  tồn tại được một thời gian còn nhờ ở tâm trạng do dự của Lê Duẩn. Một mặt Lê Duẩn sợ Mao Trạch Đông nổi nóng thấy Việt Nam  không nồng nhiệt hưởng ứng cuộc chiến tranh tư tưởng do ông ta tiến hành chống Liên Xô. Măët khác, Lê Duẩn  sợ những người chủ yếu mới của Điện Kremli lạnh luùg thắt hầu bao lại. Những ý kiến đối nghịch ở trong nước không được Lê Duẩn tiíh đến, hoặc không được tính đến một cách. nghiêm túc.. .

Thế là vào ngày 11 tháng 12 năm 1963, xuất hiện Nghị Quyết 9, một nghị quyết nưả dơi nửa chuột, không có lậäp trường rõ ràng dối với cuộc xung đột tư tưởng đang diễn ra gay gắt trong loòg phong trào Cộng sản quốc tế. Trong nghị quyết này, Đảng Cộäng sản Viêät Nam vưà nói chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, vừa nói  chống chủ nghĩa giáo điều, với câu chữ kín kẽ, rất kinh viện, trong một hệ khái niệm độc đáo, khó mà hiểu được người viết nghị quyết muốn gì. Liên Xô đọc cũng không thể bực mình, Trung Quốc đọc cũng không thể tức giận.

Ấy thế mà Nghị Quyết 9 lươn lẹo, được nhào nặn bởi chủ gánh xiếc ngôn ngữ Trường Chinh, lại ra đời không được thông đồng bén giọt như các nghị quyết khác, theo thông lệ bao giờ cũng được nhất trí thông qua bằng những cánh tay giơ cao. Khốn thay trong giai đoạn này đã xuất hiện làn sóng ngầm của xu hướng dân chủ trong Đảng, được cả một số ủy viên Trung Ương tán thành.

Nghị quyết 9 là cái Lê Đức Thọ và đàn anh Lê Duẩn cần có để trấn áp trào lưu dân chủ nọ. Nó phải được ra đời, bằng bất cứ giá nào.

Trường Chinh giải thích thêm trong một cuộc họp phổ biến Nghị quyết 9 cho các cán bộ cao cấp vào tháng Giêng năm 1964 rằng: Cần lưu ý các đồng chí một điều là Nghị quyết 9, do tình hình phức tạp trong phong trào Cộng sản quốc tế không thể viết hết ra những điều cần nói. Cần đặc biệt lưu ý rằng thực chất của Nghị quyết 9 chỉ có thể phổ biến bằng miệng, điều đó là: đường lối đối ngoại và đối nội của Đảng va øNhà Nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối nội và đối ngoại của đảng Cộng sản Trung Quốc.

 

Những người không đồng tình (với đường lối của Đảng,) lở miệng nói câu nào không giống lập trường của Đảng, lập tức bị chụp cho cái mũ xét lại hiện đại. Với Nghị quyết 9, đảng Cộng sản Việt Nam phân hóa thành hai cực: một bên là những người chủ trương chủ nghĩa dân chủ pháp trị, đòi kiến tạo một xã hội công dân có nhân quyền, bên kia là Đảng cầm quyền kiên trì một chủ nghĩa  xã hội chuyên chế.

 

Trong bản Nghị quyết 9, ngoài phần đối ngoại vừa nói ở trên còn có một vấn đề liên quan đến tình hình đối nội, đó là chính sách chiếu cố miền Nam tức là tăng cường nỗ lực đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam nhằm thực hiện thống nhất đất nước vào tay đảng Cộng sản. Vào thời gian đó, nền kinh tế Bắc Việt không lấy gì làm tốt đẹp, tình hình viện trợ từ các nước huynh đệ Cộng sản cũng không mấy khả quan vì có sự nứt rạn trong khối Cộng sản, do đó trong giới lãnh đạo Cộng sản tại Hà Nội có một số người ngả theo khuynh hướng hiếu hòa, sống chung hòa bình như lãnh tụ Liên Xô Nikita Khruschev đề nghị. Nếu chủ trương này được đa số ủy viên trong Ủy Ban Trung Ương ủng hộ thì vai trò của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ có thể bị lung lay, do đó nhóm này đã tấn công vào phe chủ hòa mà họ cho rằng một trong những người đại diện là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

Một thời gian ngắn sau khi Khruschev đọc bài diễn văn nổi tiếng tại Đại Hội XX, một biến cố vô cùng quan trọng tại Bắc Việt đã làm thay đổi vai trò lãnh đạo trong Đảng Lao Động: đó là sự thất bại của chiến dịch Cải cách Ruộng Đất và sau đó là vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Trước sự căm phẫn và bất mãn trong quảng đại quần chúng cũng như là đảng viên về sự tàn bạo, vô nhân đạo  của cải cách ruộng đất theo khuôn mẫu Trung Hoa Cộng sản, vào tháng 10 năm 1956,  Hồ Chí Minh đã phải đứng ra xin lỗi đồng bào và Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư đảng Lao Động.

 

Sau Hiệp Định Genève, Võ Nguyên Giáp được xem là Anh hùng Điện Biên Phủ và là người có nhiều uy tín nhất trong quânn đội, trong hàng ngũ đảng viên và trong quần chúng tại Bắc Việt, chỉ sau có Chủ Tịch Hồ Chí  Minh mà thôi. Mọi người ai cũng đều tưởng rằng sau khi Trường Chinh từ chức thì ngôi vị tổng bí thư phải về tay Võ Nguyên Giáp, nhưng khi Hồ Chí Minh tuyên bố cử Lê Duẩn thay thế cho Trường Chinh thì cả miền Bắc  đều chưng hửng, đa số không biết Lê Duẩn là ai vì Lê Duẩn hoạt động tại Nam Bộ từ 1945 và ngay sau Hiệp Định Genève thì lại bí mật nằm vùng ở lại miền Nam và chỉ ra Bắc khi được Hồ Chí Minh đề cử vào chức vụ này. Ngay cả sau khi được Hồ Chí Minh đề cử vào chức vụ Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam, Lê Duẩn vẫn lo ngại về cái uy thế và uy tín của Võ Nguyên Giáp trong quần chúng taiï miền Bắc, trong Đảng và nhất là trong giới trí thức và  quân đội. Lê Duẩn xem Võ Nguyên Giáp là một mối họa cho địa vị của ông ta và vì thế mà Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã tìm đủ mọi cách để hạ uy thế của Tướng Giáp.

Theo Vũ Thư Hiên thì sau khi Võ Nguyên Giáp bị thất sủng, theo những nguồn tin không chính thức, người ta mới biết rằng ông  bị mất tín nhiệm vì cơ quan tổ chức của Đảng (dưới quyền Lê Đức Thọ) đã lục được trong thư khố của Pháp một lá đơn của cậu học sinh Võ Nguyên Giáp gửi quan  Tòan Quyền Đông Dương xin học bổng du học với những lời  lẽ quỵ lụy không thêå chấp nhận được đối với người cách mạng.. . Ban Tổ chức Trung Ương không cần phân biệt cậu học trò Võ Nguyên Giáp với nhà cách mạng Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp rõ ràng tình nguyện làm tay sai cho thực dân. Đồn rằng nếu không chiếu cố tới công lao hãn mã của đại tướng từ thời kỳ còn bí mật, và đặc biệt trong chiến thắng Điện Biên Phủ thì Tướng Giáp đã bị lột lon và đưởi ngay khỏi Đảng.

Những người thạo chuyện cung đình nói rằng trong vụ này đã nhìn thấy móng vuốt của một nhân vật mới xuất hiện nhưng đã tỏ ra có bản lãnh cao cường là Lê Đức Thọ. ..

Tố cáo Võ Nguyên Giáp làm tay sai cho thực dân chưa đủ, phe Lê Duẩn còn liệt đại tướng họ Võ vào thành phần thân Nga Xô Viết, lúc đó bị xem như là thuộc vào thành phần chủ bại, chủ hòa: Tại nhiều cuộc nói chuyện với cán bộ, Lê Duẩn không bỏ lỡ dịp tốt  nào mà không công kích quan điểm xét lại của một số đồng chí sa sút lập trường, sợ đụng đầu với bọn đế quốc quốc tế, làm nô lệ cho vũ khí luận, quên mất rằng yếu tố quyết định chiến tranh là sức mạnh chính nghĩa, là sức mạnh nhân dân.

 

Bùi Tín cũng cho biết thêm một vài chi tiết về việc Lê Duẩn coi thường  và chê Võ Nguyên Giáp nhát như thỏ đế như sau:

Lúc sự kiện Vịnh Bắc Bộ diễn ra ngày 5 tháng 8 năm 1964, giữa Tổng Bí Thư Lê Duẩn và Bộ trưởng Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp cũng xảy ra sự chống chọi nhau. Khi tình hình rất căng thẳng, trong một phiên họp Bộ Chính Trị, Chủ Tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cần chuẩn bị cho tốt để đối phó với tình hình. Nhưng ta không đánh trước. Nó đánh trước thì ta đánh trả ngay. Không để bị bất ngờ.

Tàu Mỹ cứ quanh quẩn ra vào khu vực  các bờ 35 ki-lô-mét, chừng 20 hải lý. Tàu Maddox ẩn hiện trong khu vực ấy. Vì tàu Mỹ chưa vượt hẳn qua đường quy định hải phận quốc tế nên Tướng Giáp vẫn duy trì lệnh: Chưa đánh, chờ lệnh!

Cũng trong khi ấy, ông Lê Duẩn được báo cáo tình hình, liền ra lệnh thẳng cho Tổng Tham Mưu Trưởng Văn Tiến Dũng: Đánh! Được lệnh của Tổng Bí Thư, ông Dũng liền chuyển ngay lệnh ấy cho tư lệnh Hải Quân, Đô Đốc  Giáp Văn Cương. Và tàu ta nổ súng. Trận ấy được báo cáo ngay về: ta bị chìm 2 chiếc tàu nhỏ, bị thương một tàu; phía địch bị thương một tàu. Sự kiện Vịnh Bắc Việt xảy ra như vậy.

Sau đó ông Lê Duẩn thường trách cứ ông Giáp nhằm hạ uy tín của đại tướng: Không dám tiến công địch, đánh giặc mà nhát như thỏ đế!

 

Sau đó, có nhiều tin đồn đại ở Hà Nội về chuyện Tổng Bí Thư Nikita Khruschev gửi thư riêng cho Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng như là tin đồn về một âm mưu đảo chánh do nhóm xét lại hiện đại chống đảng chủ trương với sự yểm trợ của Tòa Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội. Theo Vũ Thư Hiên thì Bây giờ ai cũng biết những người bị bắt trong vụ nhóm xét lại chống Đảng không hề có liên hệ gì với Tướng Giáp trong bất cứ mưu mô nào. Việc Lê Đức Thọ đính họ vào Tướng Giáp là sự ngụy tạo hòan toàn. Âm mưu đảo chánh không hề có. Thọ làm những việc đó chỉ để vu vạ cho Tướng Giáp, để hạ bệ Tướng Giáp, hẻ thù tiềm tàng, kẻ thù khả dĩ của Duẩn-Thọ mà thôi.

Trong âm mưu triệt hạ tướng Võ Nguyên Giáp và những người theo phe ủng hộ ông, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã thành công vì chẳng bao lâu sau đó thì Võ Nguyên Giáp được đưa sang Hung Gia Lợi chữa bệnh rồi sau đó viên đại tướng người hùng Điện Biên Phủ được giữ  những chức vụ như Chủ Tịch Ủy Ban Kế Hoạch Gia Đình tức là lo về việc cai đẻ, Chủ tịch Hội Truyền Bá Quốc Ngữ v.v.

Sau khi loại được Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn trở thành nhân vật nắám  trọn quyền lãnh đạo tại miền Bắc va øtheo đuổi chủ trương hiếu chiến, đẩy mạnh chiến tranh để giải phóng Miền Nam, theo đúng kế hoạch mà Duẩn đã hoạch định trong bản Đề Cương Giải phóng Miền Nam mà ông ta đã hòan thành sau hai năm nằm vùng tại miền Nam.  Trong giới đảng viên ở Hà Nội hồi đó, ai cũng biết rằng Lê Duẩn thuộc thành phần hiếu chiến. Vũ Thư Hiên nói rằng:  Lê Duẩn thuộc loại người lớn lên nhờ chiến tranh. Không có chiến tranh, Lê Duẩn không còn là Lê Duẩn. Lê Duẩn chẳng ngần ngại  chê bai Hồ Chí Minh không dám dùng bạo lực giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Bác còn do dự, chớ khi rời miền Nam tui đã chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uýnh thôi, uýnh cho tới thắng lợi cuối cùng.

 Chuẩn Bị Cho Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa năm 1968? 

            Mới đây, Giáo sư Nguyễn T. Liên Hằng, một sử gia trẻ tuổi người Việt Nam hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Kentucky ở Hoa Kỳ đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu trong đó có các tài liệu từ các nước Xã Hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây để viết luận án tiến sĩ của cô tại Đại học Yale, nhan đề Giữa Những Cơn Bão: Lịch Sử Thế Giới về Chiến Tranh Việt Nam 1968-1973 và một phần của luận án này đã được đăng lại trong Journal of Vietnamese Studies tại Berkely số tháng 11 năm 2006. Trong bản luận án này, Tiến sĩ Liên Hằng Nguyễn đã đưa ra một vài khám phá mới về cuộc chiến tranh tại Việt Nam và một trong những khám phá đó là kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa tức là Kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân đã được hình thành từ đầu thập niên 1960.

 

Tiến sĩ  Liên Hằng Nguyễn cho biết rằng  ngay từ cuối thập niên 1950, trong nội bộ giới lãnh đạo đảng Lao Độâng tức là đảng Cộng sản Việt Nam đã chia thành hai phe: phe thứ nhất gồm có những người chủ trương tập trung mọi khả năng để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, phe này còn được gọi là phe ôn hòa cũng chủ trương đánh bại miền Nam nhưng bằng chính trị, kinh tế và ngoại giao; trong khi đó thì phe thứ hai lại chủ trương cần phải dùng vũ lực song song với đấu tranh chính trị để thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, do đó phe này được xem là phe chủ chiến. 

Tiến sĩ Liên Hằng Nguyễn cho rằng những người theo phe ôn hòa trong Bộ Chính Trị gồm có Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp v.v. và một số đảng viên hoạt động tại miền Bắc, trong khi đó thì phe chủ chiến hay phe diều hâu thì có Lê Duẩn, tân Bí thư thứ Nhất của đảng Lao Động, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Trường Chinh, Trần Quốc Hoàn v.v. và những người ủng hộ nhóm này đa số là những đảng viên hoạt động tại miền Nam.

Tại Đại hội  lần thứ  3 của đảng Lao Động Việt Nam vào tháng 9 năm 1960 thì Hồ Chí Minh và các cấp lãnh đạo đảng đã chấp thuận kế hoạch về chiến tranh với sự thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng như là thông qua bản Quy chế của Đảng Lao Động Việt Nam cải tổ cơ cấu của Bộ Chính Trị cùng Ủy Ban Trung Ương Đảng dưới quyền của Lê Duẩn.  Theo bản quy chế mới này, Bộ Chính Trị  vẫn giữ vai trò lãnh đạo đảng, tuy nhiên nay thêm vào một tổ chức mới gọi là Ban Bí Thư gồm 7 thành viên để giúp cho Tổng Bí Thư Đảng trong việc điều hành văn phòng và giải quyết các vấn đề thường nhật cửng như là kiểm soát việc thực thi những quyết định của Bộ Chính Trị. Bảy nhân vật trong Ban Bí Thư này cũng có quyền hạn tương đương với 11 nhân vật trong Bộ Chính Trị và Lê Duẩn đã đề cử đa số những người từng hoạt động ở miền Nam vào Ban Bí Thư này như Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu.

Ngoài ra Lê Duẩn cũng đưa nhân vật số hai tại Nam Bộ là Lê Đức Thọ vào chức vụ Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng, một chức vụ không được xem là quan trọng trước đây do Lê Văn Lương cầm đầu.  Tuy nhiên sau khi nắm giữ chức vụ mới này, Lê Đức Thọ đã biến tổ chức này thành một cơ quan vô cùng quan trọng vì Ban Tổ Chức Đảng có quyền kiểm soát, bổ nhiệm, đề cử đảng viên vào những chức vụ chính trị và quan trọng nhất là thanh trừng đảng viên. Với chức vụ này, Lê Đức Thọ đã loại trừ một số đảng viên thuộc phe ôn hòa ra khỏi Đảng cũng như là bỏ tù một số đảng viên quan trọng như Vũ Đình Huỳnh, cựu bí thư của Hồ Chí Minh từ năm 1945, Thiếu Tướng Đặng Kim Giang, cựu tư lệnh phó tại Điện Biên Phủ, Hoàng Minh Chính, Viện trưởng Viện Triết Học Mác Xít, Hiệu trưởng Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc v.v. trong cái gọi là vụ án chống Đảng vào năm 1967.

Về mặt quân sự, Lê Duẩn đặt Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam dưới quyền Tướng Nguyễn Chí Thanh với nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ các cấp chính ủy trong quân đội, đặt quân đội dưới quyền chỉ huy và lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nguyễn Chí Thanh được phong lên cấp đại tướng, ngang hàng với Võ Nguyên Giáp và không nằm dưới quyền Võ Nguyên Giáp.

Về mặt văn hóa tư tưởng, Lê Duẩn đặt Tố Hữu vào chức vụ Trưởng Ban Khoa Giáo và Tuyên Huấn Trung Ương với nhiệm vụ lãnh đạo giới văn nghệ sĩ và trí thức phải tuyệt đối trung thành với đường lối của Đảng. Tố Hữu là người trực tiếp lãnh đạo việc đàn áp các nhà trí thức và văn nghệ sĩ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm và một số nhà trí thức, văn nghệ sĩ đã bị bỏ tù.

Như vậy thì chỉ một thời gian ngắn sau khi được Hồ Chí Minh đề cử nắm giữ chức vụ Bí Thư thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam, Lê Duẩn đã thành công trong việc củng cố quyền lực và sau đó áp đặt chủ trương đẩy mạnh chiến tranh để giải phóng miền Nam ngay từ cuối thập niên 1950. Tiến sĩ Liên Hằng Nguyễn nói rằng Phe Lê Duẩn đã đưa đến chiến lược lớn có hệ thống Tết Mậu Thân xoay qua

ba thời điểm quan trọng sau đây: quyết định tiến tới chiến tranh vũ  lực ở miền Nam năm 1959-1960; quyết định bắt tay vào một cuộc chiến lớn hơn năm 1963-1964 và cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1967-1968.

Trong phần kết luận, Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng nói rằng: Được phác họa vào năm 1963 và hoàn chỉnh lại vào năm 1967, chiến dịch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa tức là chiến dịch tổng tấn công Tết Mậu Thân nổ ra giữa tiếng pháo giao thừa đêm 31 tháng 1 năm 1968. Đợt đầu tiên là đáng kể nhất khi bộ đội chính quy  của Cộng sản Bắc Việt (người Mỹ gọi là NVA) kết hợp với các đơn vị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (người Mỹ gọi là VC) đã bất ngờ tấn công vào 36 thủ phủ, 5 thành phố và 64 tỉnh lỵ miền Nam. Thay vì châm ngòi cho các cuộc tổng nổi dậy ở các thành phố lớn ở miền Nam như (Cộng sản) dự tính, quân Cộng sản chỉ có thể cầm cự được ở cố đô Huế cho đến ngày 24 tháng 2 và đã để lại hậu quả vô cùng thảm khốc cho người dân Huế.

Như vậy thì mục đích của Lê Duẩn trong công cuộc thanh trừng các phần tử thuộc phe ôn hòa sau khi lên nắm giữ quyền lãnh đạo đảng Lao Động là nhằm vào việc đẩy mạnh đường lối cực đoan của ông ta, một đường lối hiếu chiến tuy không được đa số cán bộ lãnh đạo tại miền Bắc ủng hộ,  nhưng ông ta vốn là cựu Bí thư Đảng Ủy Trung Ương Cục Miền Nam, trong suôát thời gian 9 năm chiến tranh chống Pháp, cộng thêm hai năm nằm vùng sau Hiệp định Genève, cho nên trong thâm tâm Lê Duẩn vẫn nghĩ răèng đường lối đẩy mạnh chiến tranh là con đường đúng nhất, do đó ông đã quyết tâm loại bỏ những người thuộc phe ôn hòa  và ông ta đã thắng.

Kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa đã không còn gặp phải sự chống đối trong giới lãnh đạo đảng Lao Động và đã được đưa ra thực hiện tại miền Nam vào đầu năm 1968.

  Khrushchev: Những Phần Tử Thân-Trung Cộng Đang Lãnh Đạo Việt Nam    

Nikita Khrushchev, Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản và Thủ tướng Liên bang Xô-viết  từ năm 1958 đến năm 1964 có viết trong hồi ký Khrushchev Remembers của ông rằng trong giai đoạn cuối cùng tại Hội Nghị Các Đảng Cộng Sản và Lao Động Quốc Tế vào năm 1960 tại Mạc Tư Khoa, tất cả mọi phái đoàn đều đồng ý ký kết một bản tuyên ngôn chung tuy nhiên có một điều khoản mà riêng phái đoàn Trung Cộng nhất định không chấp nhận. Phiá Liên Xô cũng không chịu nhượng bộ Trung Cộng vì họ xem đó là một vấn đề nguyên tắc, do đó họ không chịu thoả hiệp. Khruschev nói rằng:

Hồ Chí Minh đến gặp tôi và nói: Đồng chí Khruschev, ông phải nhượng bộ Trung Cộng về điểm này. Tôi hỏi lại: Làm sao mà chúng tôi nhượng bộ được? Đây là một vấn đề nguyên tắc.Hồ Chí Minh nói: Trung Hoa là một nước rất lớn với một đảng Cộng sản rất lớn. Tôi nói: Đồng chí Hồ Chí Minh, phái đoàn Liên Xô đang dùng hết mọi nổ lực để bảo tồn sự đoàn kết trong phong trào Cộng sản thế giới. Đồng chí cũng hiểu rằng chúng tôi không thể nào nhượng bộ về vấn đề nguyên tắc.  Đường lối của Trung Cộng đi ngược lại cả thế giới Cộng sản, nếu nhượng bộ thì cục diện sẽ đi về đâu? Đồng chí nói rằng Trung Hoa là một nước lớn, đảng Cộng sản Trung Hoa là một đảng lớn, nhưng chắc đồng chí cũng phải đồng ý rằng Liên Xô không phải là một nước nhỏ và đảng Cộng sản Liên Xô cũng không phải là một đảng Cộng sản nhỏ.

Hồ Chí Minh đồng ý với tôi nhưng mà ông ta nói thêm đối với chúng tôi thì thật là khó khăn gấp hai lần. Đồng chí đừng quên rằng Trung Hoa là nước láng giềng của chúng tôi.

Sau khi nói chuyện với tôi, Hồ Chí Minh đi gặp đại diện của Trung Cộng cũng như những đại diện Cộng sản khác và sau cùng thì tất cả đã đạt được một thỏa hiệp mà cả hai phái đoàn Liên Xô cùng Trung Cộng đều chấp thuận ký vào bản tuyên ngôn mà không phe nào bị mất mặt.

Tôi rất buồn phiền khi Trung Cộng đã cắt đứt mọi liên lạc trong sự cộng tác chính trị với Liên Xô. Khi mà sự đổ vỡ giưã hai đảng Cộng sản Trung Hoa và Liên Xô không còn che dấu được nưã, Trung Cộng đã xỏ mũi đảng Lao Động Việt Nam. Trung Cộng đã sử dụng ảnh hưởng rất mạnh của họ để gây nên những xích mích giưã Việt Nam và Liên Bang Xô Viết và đã hướng dẫn Đảng Cộng sản Việt Nam chống lại Đảng Cộng sản Liên Xô.

Một số các chức vụ trong giới lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam lúc đó đều do các đồng chí thân-Trung Cộng nắm giữ. Trong khi mà Liên Xô đang cố gắng làm tất cả những điều có thể làm để giúp cho Việt Nam thì những phần tử thân-Trung Cộng trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam lại làm tất cả những gì họ có thể làm để  làm hài lòng Trung Cộng. Nói một cách khác, giới lãnh đạo Việt Nam đã làm những điều không những để chống lại Liên Xô mà còn chống lại những quyền lợi tốt đẹp nhất cho Việt Nam nưã.

Theo báo chí thì dường như mối liên hệ giưã Việt Nam với Liên Xô có vẻ như là rất tốt đẹp. Nhưng mà có một số tin tức tôi nhận được cho thấy rằng thực ra  thì mọi sự không có trôi chảy như báo chí và tryền hình mô tả.

Theo tin tức của tôi thì phiá Cộng sản Việt Nam đang có những đường lối dè dặt khó hiểu đối với chính phủ và Đảng Cộng sản Liên Bang Xô Viết. Điều này có nghiã là vẫn còn có một số phần tử thân-Trung Cộng trong chính phủ cũng như là giới lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam. Ngoài mặt thì có vẻ như là vẫn đang có những mối liên hệ thân hữu và sự thông cảm hổ tương giưã Việt Nam và Liên-Xô nhưng rất có thể đó chỉ là cái tiền diện do giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam dựng lên, có thể là với sự cho phép của ngay cả đàn anh Trung Cộng, nhằm mục đích là không để cho mất sự viện trợ của Liên Xô và khối các đảng Cộng sản huynh đệ. Tôi thật tình hy vọng rằng điều này không đúng tuy nhiên tôi vẫn nghĩ rằng chuyện đó có thể có thật. Tôi muốn tin rằng Việt Nam thực sự muốn có những mối liên hệ tốt đẹp với Liên Xô, nhưng tôi không tin rằng Trung Cộng lại cho phép Việt Nam thoát ra khỏi những nanh vuốt của họ và những phần tử thân-Trung Cộng vẫn còn tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo tại Việt Nam. Trung Cộng sẽ làm tất cả những điều gì họ có thể làm được để cho Việt Nam phải lệ thuộc vào Trung Cộng….

Khruschev nhận xét rằng Hồ Chí Minh đã đầu tư rất nhiều ý tưởng cũng như là năng lực để đẩy mạnh tình thân hữu giưã quốc gia của ông với Liên Bang Xô Viết.

Điều đó có nghiã la,ø theo Khruschev, Hồ Chí Minh thân với Liên Xô nhưng ông ta cũng e dè Trung Cộng vì nước này là một đại cường ở sát nách Việt Nam.

            Khruschev lên lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1953 rồi kiêm luôn chức vụ thủ tướng chính phủ từ năm 1958, như vậy thì ông là người có quyền lực cao nhất tại Liên Xô cho đến khi ông bị Brezhnev hạ bệ vào năm 1964. Thời gian Khruschev nắm quyền cũng là thời gian ông Hồ Chí Minh nắm giữ những chức vụ và quyền lực cao nhất tại Việt Nam và với những phúc trình, những báo cáo do các sứ quán, do các cơ quan tình báo như KGB hay GRU của Liên Xô tại Bắc Kinh và Hà Nội gửi về, Tổng Bí Thư kiêm Thủ Tướng Nikita Khruschev tất nhiên phải hiểu rõ tình hình tại Bắc Việt hơn ai hết. Như vậy, dù biết rằng Hồ Chí Minh muốn đẩy mạnh tình thân hữu giưã Việt Nam và Liên Xô nhưng Khruschev vẫn nói rằng những phần tử thân-Trung Cộng vẫn còn tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo tại Việt Nam, điều đó có nghĩa là theo Khruschev, cho đến khi ông bị mất chức vào tháng 12 năm 1964, ông Hồ Chí Minh không hoàn toàn nắm quyền lãnh đạo ở Bắc Việt, có nghiã là nếu như không bị mất quyền thì ít ra Hồ Chí Minh cũng đã phải chia xẻ quyền lực với nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Tho, Trần Quốc Hoàn.

    Cán Binh Nam Bộ Tập Kết Làm Loạn Tại Miền Bắc 

Những người miềân Nam bị tập kết ra Bắc Việt vào năm 1954 và 1955 đều được Đảng hứa hẹn rằng sau hai năm, tức là đến tháng 7 năm 1956, thì sẽ có cuộc bầu cử theo Hiệp Định Genève và họ sẽ được trở về Nam Bộ. Nhưng sau tháng 7 năm 1956 thì cũng chẳng thấy bầu cử diễn ra và đến Tết năm 1957 thì rất đông đảo người miền Nam tập kết đã vô cùng thất vọng, vô cùng bất mãn và họ đã có những thái độ và hành động rất tiêu cực đối với Đảng và Nhà Nước, có nơi đã xảy ra những cuộc chống đối, nổi loạn và Nhà Nước đã phải sử dụng đến võ lực để dẹp tan những vụ nổi loạn này.

Ngoài ra cũng còn có một nguyên nhân khác nữa, đó là vấn đề đạo đức cách mạng. Ông Bùi Tín cho biết như sau: Tại Đại Hội Đảng lần thứ 3 (cuối năm 1960,) một số đại biểu ở các tổ chất vấn về chuyện Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lấy thêm vợ. Đây là các cán bộ tập kết từ miền Nam ra, rất muốn lấy vợ ở miền Bắc mà bị cấm, vì không liên lạc với gia đình ở miền Nam, do đó không có chứng cớ đầy đủ là vợ đã chết hoặc đã lấy chồng khác. Nếu cứ làm bừa thì họ sẽ bị kết tội vi phạm kỷ luật đảng, đạo đức xấu, hủ hóa có hệ thống, rất có thể bị khai trừ ra khỏi Đảng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh phải lên tiếng, thanh minh cho cả hai vị này rằng: Chuyện các chú ấy có hai bà là có thật, vợ cả, vợ hai, đều là vợ cả,nhưng các chú ấy đã làm chuyện này trước khi có luật hôn nhân và gia đình, cho nên xí xóa. Từ nay có luật rồi mới cấm thật sự.

Nhiều đại biểu vẫn không thông, cho rằng có hai thước đo về kỷ luật, về đạo đức: một cho trên và một cho dưới!

 

Như vậy, ngoài nguyên nhân không được trở về quê hương miền Nam sau hai năm như bộ máy tuyên truyền của Đảng vẫn hứa hẹn, ngoài nguyên nhân bị Đảng cấm không cho cán bộ miền Nam tập kết lấy vợ miền Bắc, một chuyện mà gần như hầu hết cán bộ cao cấp người miền Bắc được tự do và công khai làm tại miền Nam hồi kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Vy Thanh cũng có cho biết thêm về vấn đề này:

Mùa Xuân năm 1951, cán bộ Khu ủy 9 đồn rùm: vừa ổn định xong, Ban Tổ chức Đảng Trung Ương Cục Miền Nam có quyết định rất lạ: đồng chí lãnh đạo có công tác ở xa nhà hơn 300 cây số được quyền cưới vợ hai.

Liền sau đó mọi người thấy bác  Ba Duẩn đi cưới một cán bộ phụ nữ tên Nga ở Rạch Giá, bác Sáu Thọ cũng có thêm bà Hai sau hôm ăn chay đụng làm sập mùng cô học sinh hoa khôi trường Trung học Khu 9, Chính ủy Khu 9 Phan Trọng Tuệ lấy vợ hai tên Xuân, nữ  cán bộ trinh sát ở Bình Thủy, Cần Thơ.. .

             

Nhà văn Xuân Vũ, một người miền Nam tập kết ra Bắc vào năm 1954-1955 và đã sống ở miền Bắc trong hơn 10 năm trước khi đi B tức là lên đường vào giải phóng miền Nam, tuy nhiên khi vào đến miền Nam thì ông rời bỏ hàng ngũ Cộng sản và đã sáng tác rất nhiều tác phẩm lột trần bộ mặt thật của chế độ Cộng sản Hà Nội. Trong cuốn Cách Mạng Tháng 8, Cha Đẻ của Còng Số 8, ông Xuân Vũ có cho biết về tình hình những người Nam Bộ tập kết tại miền Bắc như sau:

 Thời năm 1956-1958, xã hội miền Bắc như một chảo dầu sôi, nơi thì dân Nam Bộ tập kết bất mãn bỏ cơ quan đi, nơi thì thương binh Nam Bộ nổi dậy đánh chính quyền, chỗ thì học sinh miền Nam đụng súng với du kích, cán bộ địa phương. Có cả một đoàn sĩ quan Nam Bộ điều dưỡng tại Sầm Sơn kéo nhau về Nam, một anh hùng quân đội, Nguyễn Văn Song, trốn đi về Nam đơn vị không tìm lại được. Trong khi đó thì trung tá Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, bị hạ ngục vì mắc tội Ban Chữa Cháy Trung Ương để ứng phó với tình thế. Có nghiã là nơi nào nổi dậy, làm loạn thì ban chưã cháy phải đến, cái Ban đó có Nguyễn Trấn đứng một chân vì ông ta là bậc trưởng thượng của dân Nam Kỳ nên tiếng nói của ông ta có tác dụng của những trận mưa dội xuống những đám cháy mới bốc.. . 

Những tên Nam Kỳ suốt 9 năm thờ lạy hung thần hang Pắc-Bó, bây giờ ra đất Bắc mới hiểu cái thắng lợi Điện Biên Phủ là cái gì. Nhiều tên thối chí chửi quá sức tưởng tượng và chui xuống tàu Arkhangels hoặc Starvoropol  để trở về Nam sau khi đặt chân lên đất Bắc chỉ có một ngày….

Ra Bắc rồi trắng con mắt ra. Đám dân Nam Kỳ được coi như những con heo thiếu vú, tức là con nái sề Hồ có hai cái vú thôi nhưng có ba đứa con. Con của mụ là Bắc và Trung đã ngoạm hết rồi, cho nên thằng Nam đành ngơ mõ lợn đứng dòm người anh em bú. Tôi nói không sai và cũng không có thêm thắt. Dân Liên khu Nem (Năm) được ưu đãi hơn dân Nam Cờ.

Nổi tiếng nhất hồi đó là vụ Ninh Bình: một số cán binh Nam Bộ tập kết vì bị cán bộ địa phương đối xử bất công nên đã nổi loạn, bắt giữ bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh và trưởng ty Công an Ninh Bình làm con tin. Cộng sản Hà Nội phải cho triệu Tướng Tô Ký về để giàn xếp. Vào tháng 8 năm 1945, Tô Ký chỉ là một cán bộ tầm thường không có gì xuất sắc nhưng nhờ được Nguyễn Văn Trấn giao cho nhiệm vụ truy lùng và thủ tiêu những nhà trí thức không theo Việt Minh và trong khoảng từ cuối tháng 9 đến tháng 10 năm 1945, Tô Ký  đã chỉ huy việc thủ tiêu hàng ngàn người trí thức tại vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Nhờ vào thành tích này, trước năm 1954, Tô Ký được Cộng sản phong làm Sư trưởng kiêm Chính ủy Sư đoàn 330 ở Nam Bộ, khi tập kết ra Bắc được phong quân hàm thiếu tướng rồi được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân Khu Tả Ngạn. Tô Ký là người được các anh em bộ đội tập kết thương yêu và kính trọng vì ông ta đối xử với đàn em rất bình dân như người Nam Kỳ, ông thường ra lệnh cho lính tráng gọi ông là anh Ba thay vì thiếu tướng như những người khác.

Khi Tô Ký đến Ninh Bình, ông đến gặp những người nổi loạn và thuyết phục họ ra đầu hàng, ông cũng hưá hẹn là Đảng và Nhà Nước sẽ khoan hồng và sẽ cứu xét thỏa đáng những điều khiếu nại của họ. Trong khi những người Nam Bộ tập kết này đang tập họp để chờ đợi anh ba Tô Ký điều đình với Đảng ở Hà Nội thì Tướng Phùng Thế Tài, Tổng Tham mưu Phó kiêm Tư Lệnh Phòng không của Không Quân Bắc Việt, một viên tướng được mệnh danh là tướng cao bồi của quân đội miền Bắc, đến Ninh Bình và đã ra lệnh cho bộ đội của ông ta mang tất cả những người miền Nam tập kết nổi loạn ra bắn bỏ tại bờ sông Đoan Vỹ tại Phủ Lý. Tướng Tô Ký đã nổi giận về việc giết người của Phùng Thế Tài và đã kiện lên Bộ Chính Trị về vụ sát nhân này nhưng Bộ Chính Trị lại ra mặt bênh vực Phùng Thế Tài vì Tài là một người thân tín của Hồ Chí Minh, đã từng làm cận vệ cho Hồ Chí Minh từ tháng 2 năm 1940 cho tới tháng 8 năm 1945, do đó Bộ Chính Trị đã quyết định rằng đó là một hành động chính đáng để đối phó với những phần tử vô kỷ  luật. Sau vụ này, đa số dân Nam Bộ tập kết đều vô cùng bất mãn và chính quyền Hà Nội phải ra lệnh cho đưa họ đi lên những nơi xa xôi trên vùng mạn ngược.

 Lê Duẩn Được Chỉ Định Làm Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam 

Trong bối cảnh đó, chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất đã làm cho nông dân miền Bắc phẩn nộ và chống đối khắp nơi khiến cho Hồ Chí Minh phải đứng ra xin lỗi, sửa sai bằng cách hạ bệ Tổng Bí thư đảng Cộng sản là Trường Chinh và ông Hồ kiêm nhiệm luôn chức vụ này.

Như vậy, vào thời gian đó, Hồ Chí Minh giữ những chức vụ sau đây: Chủ Tịch Đảng Lao Động, Tổng Bí Thư Đảng Lao Động, Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Chủ Tịch Quân Ủy Hội.. . Đó là những chức vụ quan trọng hàng đầu trong hai guồng máy đảng và nhà nước mà ông Hồ Chí Minh thì đã 70 tuổi rồi, bên phiá chính phủ thì đã có Phạm Văn Đồng là người thân tín của ông giữ chức vụ thủ tướng, còn bên đảng thì cũng cần có một người trẻ tuổi để lo việc điều hành bộ máy của đảng. Lúc bấy giờ, sau khi Trường Chinh bị mất chức, người được đảng viên và quân đội ủng hộ mạnh mẽ nhất là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Ông Võ Nguyên Giáp là một người trí thức, đã từng làm giáo sư trước khi gia nhập đảng Cộng sản rồi trở thành đại tướng, ủy viên Bộ Chính Trị, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, được báo chí thế giới ca tụng là anh hùng Điện Biên Phủ. Đối với quần chúng trong nước, ở miền Bắc cũng như là ở miền Nam và các nhà quan sát quốc tế thời đó, ai cũng nghĩ rằng người sẽ được Hồ Chí Minh chọn làm Bí thư cho Đảng Lao Động Việt Nam phải là Võ Nguyên Giáp, tuy nhiên tất cả mọi người đều ngạc nhiên, có thể nói là sửng sốt, khi Hồ Chí Minh chính thức công bố việc Lê Duẩn được chọn làm Bí Thư Thứ  Nhất cho Đảng Lao Động vào năm 1960.

 

Lê Duẩn người gốc làng Bích La, phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, trình độ văn hoá chỉ có bằng certificat (tiểu học,) tức là mới học xong lớp 5, sau đó làm công nhân bẻ ghi cho sở Hỏa xa, gia nhập đảng Cộng sản từ năm 1930 và bị Pháp bắt bỏ tù từ năm 1931 đến 1936 tại Sơn La. Sau đó dến năm 1940 lại bị tù lần nưã và bị đày đi Côn Đảo cho đến năm 1945. Sau năm 1945, Lê Duẩn phục vụ tại Nam Bộ với chức vụ khiêm nhường là Trưởng Phòng Dân Quân Nam Bộ, tuy nhiên sau khi Tướng Nguyễn Bình bị Pháp phục kích bắn chết vào năm 1951 thì Lê Duẩn mới trở thành Bí Thư Xứ Ủy Nam Bộ và người phụ tá cho Lê Duẩn là Lê Đức Thọ, Ủy viên Ban Thường vụ Trung Ương Đảng.

            Năm 1955, theo Hiệp định Genève thì tất cả các cấp cán bộ đảng Lao Động và quân đội đều phải tập kết ra Bắc thì một buổi tối quảng đầu năm 1955, trước sự chứng kiến của Ủy Ban Giám Sát Quốc Tế, anh Ba (Lê Duẫn) cùng các anh Lê Đức Thọ, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Hưởng, Phạm Văn Bạch lên chiếc tàu Ba Lan neo ở Vàm Sông Đốc (Cà Mau) để tập kết ra Bắc. Đó là chuyến tập kết áp chót. Gần nửa đêm, anh Ba bí mật xuống ca nô quay rở lại. Tôi được phân công đưa và đón anh Ba về một căn cứ đã chuẩn bị từ trước. Việc bố trí anh Ba ở lại miền Nam là một quyết định rất đứng đắn của Bác Hồ, của Trung Ương Đảng, một sự đầu tư đặc biệt lớn cho miền Nam và cả nước. Tuy nhiên phải nói rằng quyết định đó cũng có phần mạo hiểm.

            Như vậy thì sau khi bị tù ở Côn Đảo cho đến năm 1945, Lê Duẩn phục vụ tại Nam Bộ và ngay cả sau Hiệp Định Genève  thì chính Võ Văn Kiệt, ủy viên  Bộ Chính Trị và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng sau này xác nhận Lê Duẩn được Hồ Chí Minh chỉ định ở lại miền Nam, có lúc sống ngay tại thủ đô Sài Gòn (1956) và cho đến giưã năm 1957 mới ra Hà Nội.

Đối với giới lãnh đạo cũng như các đảng viên Cộng sản lão thành tại miền Bắc lúc đó, Lê Duẩn chỉ là một kẻ gần như là vô danh ít được ai biết đến vì bị ở tù trên 10 năm rồi sau đó chỉ hoạt động nhiều năm tại Nam Bộ, Lê Duẩn không có trình độ văn  hóa, không có hậu thuẫn cũng như sự ủng hộ của ai ở miền Bắc, tuy nhiên, theo Võ Văn Kiệt thì sau khi ra Hà Nội,  Lê Duẩn lại được Chủ Tịch Hồ Chí Minh chỉ định vào chức vụ Quyền Tổng Bí Thư  đảng Lao Động Việt Nam thay cho Trường Chinh, qua mặt và đánh bại những đảng viên lão thành trong đó có ông giáo sư Sử học, đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được ông Hồ Chí Minh rất thương yêu từ hồi còn ở Trung Hoa và đã được ông Hồ ưu ái đặt tên là đồng chí Văn từ ngày còn ở Tân Trào.

 

Sau khi Nhật Bản đầu hàng, một nhóm tù Cộng sản tại Côn Đảo được đưa về Cần Thơ và nhân dịp Ủy Ban Hành Kháng Nam Bộ ra lệnh tiêu thổ kháng chiến, toàn dân kháng chiến, ngày 23 tháng 9 năm 1945 một cuộc mít tinh được tổ chức  tại tỉnh lỵ Cần Thơ ở trước mặt tư dinh của cựu tỉnh trưởng Pháp trước kia và trên khán đài danh dự:

Lố nhố trên đó chẳng biết bao nhiêu quan khách. Ban Tổ chức đã giới thiệu những cái tên lạ hoắc đối với dân đã sống lâu ở tỉnh: đồng chí Tôn Đức Thắng, đồng chí Phạm Hùng, đồng chí Lê Văn Lương. ..

Một ông có tuổi, hớt tóc ngắn bạc hoa râm, lưng gù, lụ khụ bước ra giơ tay vẫy chào khi trên loa giới thiệu người thứ nhất. Kế đến một người tướng làm ruộng đặc sệt, da ngăm đen, thấp, bước đi giống như gấu, mặt vuông hàm rộng. Người thứ ba ốm. Dong dỏng cao, phong cách nho nhã như thầy thuốc bắc. Người đi dự mít tinh kẻ này ngó người kia hỏi nhau:

- Mấy ổng là ai vậy?

- Họ là tù Côn Nôn mới về.

- Mấy ổng là Cộng sản phải không?

- Chớ gì. Hổng nghe họ gọi nhau đồng chí sao?

 

Trên khán đài hôm đó có sự hiện diện của Lê Duẩn cùng về với nhóm này nhưng không hề được ban tổ chức giới thiệu vì lúc đó Lê Duẩn chưa được nhiều người, kể cả ban tổ chức, biết đến. Tác giả Vy Thanh có ghi thêm điểm này trong phần chú thích ở cuối sách:

Số đông đồng chí bị địch giam giữ ở Côn Đảo được rước về. Chuyến đầu tiên cặp bến Đại Ngãi (Sóc Trăng) lên tới gần 1, 800 người, trong số đó có nhiều cán bộ như Tôn Đức Thắng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lê Duẩn. ..

Tôn Đức Thắng được ban tổ chức buổi lễ mời vì là người trưởng thượng (ở tù17 năm, nhiêàu  tuổi đảng hơn hết,) Phạm Hùng dược danh dự vì đang giữ chức Bí Thư Đảng Bộ Côn Đảo. Lúc đó Lê Duẩn chưa nôåi bật.

(Theo tài liệu Tây Nam Bộ 30 năm Kháng Chiến Chống Pháp (1945-1975 của Ban Chỉ đạo và Biên tập Truyền thống Tây Nam Bộ, Thành phố HCM, 2000, trang 96.)

 

Như vậy thì vào năm 1945, Lê Duẩn chưa phải là một cán bộ Cộng sản cao cấp và cũng chưa nổi tiếng cho nên những người trong ban tổ chức cuộc mít tinh ở Cần Thơ cũng không biết đến ông ta. Vậy mà chỉ vào khoảng bốn năm năm sau, Lê Duẩn trở thành Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ, tức là nhân vật cao cấp nhất của Đảng Cộng sản tại Nam Bộ cho đến khi ông được lệnh ra Bắc vào năm 1957.

Chỉ trong vòng ba năm sau ngày ra Hà Nội, trong Đại Hội Kỳ 3 Trung Ương Đảng vào năm 1960, ông Hồ Chí Minh tuyên bố chính thức đề cử  Lê Duẩn làm Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam và lý do là tại vì đồng chí Lê Duẩn đại diện cho Nam Bộ, Nam Bộ là thành đồng tổ quốc và Miền Nam luôn luôn ở trong tim tôi. Tuy nhiên về sau thì những nhà phân tích mới thấy rõ cái thâm ý của Hồ Chí Minh: ông Hồ sợ một người có tài và có rất nhiều uy tín trong quân đội như Võ Nguyên Giáp vì một khi Võ Nguyên Giáp có quyền hành trong tay thì họ Võ có thể sẽ có uy tín hơn cả Hồ Chí Minh và có thể lật đổ họ Hồ, trong khi đó chọn một người ít học, không có ảnh hưởng và hậu thuẩn gì ở miền Bắc như Lê Duẩn thì sẽ không bao giờ dám phản lại Hồ Chí Minh.

Nhà văn Vũ Thư Hiên đã có nhận xét về việc Lê Duẩn được chọn làm Bí Thư Thứ Nhất như sau:  Mọi người đều ngạc nhiên trước kết qủa của Đại Hội (kỳ 3). Trong kháng chiến chống Pháp, Võ Nguyên Giáp là nhân vật lãnh đạo đứng hàng thứ ba, chỉ sau có Hồ Chí Minh và Trường Chinh. Trường Chinh ra đi, chức tổng bí thư mặc nhiên phải thuộc về Võ Nguyên Giáp, ai chả nghĩ thế.

Nhưng sự đời lại diễn ra theo cách khác. Theo nhận xét của những người Cộng sản  thuộc thế hệ đầu tiên thì cả Hồ Chí Minh lẫn Trường Chinh đều lo ngại ông tướng đã có quá nhiều vinh quang sẽ trở nên không dễ  bảo sau cuộc đảo lộn ngôi thứ. Mà cả Hồ Chí Minh lẫn Trường Chinh đều muốn giữ lại vị trí trước kia của họ về thực chất, cho dù danh nghiã không còn. Cần phải chọn một người có vị trí và uy tín kém hơn Võ Nguyên Giáp. Do biết ơn người cất nhắc mình, người đó sẽ vưà ngoan ngoãn vưà trung thành.

Lê Duẩn thích hợp hơn cả với vai trò đó.

 

Hồ Chí Minh đã phạm một lỗi lầm vô cùng tai hại cho ông ta vì Lê Duẩn không có ngoan ngoản và trung thành như  ông ta tưởng, chỉ trong vòng có hơn 3 năm, với sự trợ giúp của người đồng chí từ miền Nam là Lê Đức Thọ trong cương vị Trưởng Ban Tổ Chức Đảng, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã thu tóm được nhiều quyền lực và Hồ Chí Minh bị hai đồng chí họ Lê tước mất nhiều  quyền hành, chỉ còn ngồi chơi xơi nước từ cuối thập niên 1960. Theo nhà văn Vũ Thư Hiên thì ông Hồ bị mất quyền lực vào khoảng trước năm 1965, sau khi ông Ngô Đình Diệm bị giết:

            Năm 1965, trong một cuộc nói chuyện với cán bộ tuyên giáo ở Hưng Yên, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương Tố Hữu nói: Ông Cụ lẫn cẩn (có lẽ là lẩm cẩm theo tiếng miền Nam) rồi, mọi việc bây giờ đều do anh Ba (Lê Duẩn) và tụi tôi giải quyết. 

Hơn 40 năm sau, gần 30 năm sau khi Cộng sản Bắc Việt chiến thắng và thôn tính trọn Miền Nam, bà Dương Thu Hương, một nhà văn nổi tiếng hàng đầu tại Hà Nội, đã xác nhận việc ông Hồ Chí Minh bị mất quyền. Trong một bài viết được phổ biến vào tháng 6 năm 2004, nhà văn Dương Thu Hương tái xác nhận nguồn tin về chuyện ông Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn-Lê Đức Thọ cướp hết quyền hành hồi thập niên 1960, tuy nhiên bà không nói rõ xuất xứ của nguồn tin này:

             Điều miả mai là chính Chủ Tịch Hồ Chí Minh lại là người thứ nhất phản bác lại cuộc chiến tranh này trong Đại Hội Đảng lần thứ Ba. Do ông tuyệt đối thiểu số nên đã phải phục tùng tuyệt đại đa số phe chủ chiến dưới sự lãnh đạo của hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Phần cuối đời, vị chủ tịch nước đã phải hành động như một con múa rối dưới những ngón tay giật dây của hai nghệ sĩ họ Lê thay vì chịu bị giam vĩnh viễn trong một nhà nghỉ mát sang trọng nào đó ở Quảng Đông hoặc Quảng tây chẳng

hạn.

 

            Theo A. J. Langguth, cựu Trưởng Văn Phòng của Nhật báo New York Times tại Sài Gòn hồi 1965, cựu giáo sư về môn báo chí tại Trường Báo Chí và Truyền Thông Annenberg thuộc Viện Đại học University of Southern California, thì chính Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cũng cho biết tương tự như vậy.

Trong cuốn sách Our Vietnam: the War 1954-1975, Giáo sư Langguth cho biết rằng vào năm 1967, một người Pháp là ông Raymond Aubrac được Tiến sĩ Henry Kissinger, lúc bấy giơ chưa tham chánh, yêu cầu sang Hà Nội để thăm dò Cộng sản Bắc Việt về triển vọng thương thuyết nhằm tiến đến một giải pháp hòa bình cho Việt Nam . Ông Raymond Aubrac được xem như là một trong những người bạn thân của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vì vào năm 1946, khi sang Paris để điều đình với chính phủ Pháp thì ông Hồ Chí Minh đã sống trong gia đình của ông Aubrac và  ông ta cũng nhận làm cha đỡ đầu cho con trai của ông Aubrac.

Trong thời gian ở Hà Nội, ông Aubrac đến thăm Hồ Chí Minh và ông ta sửng sốt khi thấy ông Hồ có vẻ quá già yếu . Ông ta mace một bộ quần áo theo kiểu người Tàu và đi đứng can phải chống gậy, tuy nhiên mắt ông ta vẫn còn linh mẫn và đầu óc vẫn còn sáng suốt. Ông Hồ nói với Aubrac rằng ông ta rất tiếc nghe tin căn nhà của ông Aubrac ngày xưa đã bị bán đi rồi và nói tiếp: Như vậy thì lần sau sang Paris, tôi còn biết ở chỗ nào?

Sau khi nói chuyện khào với Hồ Chí Minh chừng gần 50 phút, Phạm Văn Đồng tiễn ông Aubrac ra xe và nói rằng: Bác Hồ bây giờ đã  già rồi. Chúng tôi muốn cho ông ta sống  để được nhìn thấy đất nước thống nhất nhưng chúng tôi cố gắng dấu không cho ông ta biết càng nhiều chi tiết chừng nào càng tốt chừng đó.. .    

Như vậy thì qua các sự kiện kể trên, vào những năm cuối đời trước khi từ trần vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, tuy chỉ mới ngoài bảy mươi nhưng ông Hồ Chí Minh gần như không biết gì về mọi chuyện vì nhóm người lãnh đạo lúc đó đã nắm hết quyền lực và chính Phạm Văn Đồng đã thú nhận là dấu không cho ông ta biết nhiều chi tiết.

Lúc đó, Hồ Chí Minh đã bị mất quyền dù rằng vẫn còn giữ chức vụ Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Chủ Tịch Đảng Lao Động Việt Nam. Những kẻ nắám  thực quyền lúc đó là nhóm Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

 Giới Trí Thức Nam Bộ Coi Thường Lê Duẩn và Lê Đức Thọ

            Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Việt Minh chia nước Việt Nam thành 9 khu và Nam Bộ được chia thành 3 khu: vùng miền Đông được gọi là Khu 7, vùng ở giưã hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang được gọi là Khu 8 và vùng từ sông Hậu giang về tận Cà Mau được gọi là Khu 9. Lê Duẩn là người gốc Trung Kỳ cùng với Lê Đức Thọ gốc Bắc Kỳ nắm quyền chỉ huy của cả Nam Bộ, dù có một số người Nam Kỳ vẫn còn được giao cho quyền chỉ huy một vài vùng như Huỳnh Văn Nghệ được làm tư lệnh Khu 7, Nguyễn Văn Trấn được làm tư lệnh kiêm chính ủy khu 8, và Huỳnh Phan Hộ làm tư lệnh Khu 9 v.v., tuy nhiên về sau, khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đưa Dương Quốc Chính vào Nam Bộ thì những người lãnh đạo gốc miền Nam gần như là không còn có ảnh hưởng gì nhiều.

            Trong thời kỳ trước năm 1945, số đảng viên Cộng sản được huấn luyện tại Liên Xô, Trung Quốc rất là hiếm hoi, có thể nói là chỉ được đếm trên đầu ngón tay, đại đa số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đều được huấn luyện ở trong nước, đa số là trong những nhà tù của thực dân Pháp và trình độ văn hóa cũng như chính trị cuả nhóm này thì rất tầm thường, chẳng có gì đáng kể. Tuy nhiên có một số đảng viên Cộng sản rất trí thức, trình độ văn hoá rất cao, ngay cả về chủ thuyết Cộng sản, họ cũngï học còn cao hơn cả Hồ Chí Minh, hơn cả Võ Nguyên Giáp, hơn cả Phạm Văn Đồng, hơn cả Trường Chinh v.v., đa số những đảng viên này là những người đã từng du học ở Pháp, có người là đảng viên của đảng Cộng sản Pháp chứ không phải đảng Cộng sản Đông Dương và gần như hầu hết những người này đều là người Nam Bộ. Trong tổng số 20 đảng viên Cộng sản người Việt Nam được đào tạo tại Trường Lao Động Đông Phương ở Liên Xô, vào thập niên 1960 chỉ có 5 người còn sống sót, ngoài Nguyễn Khánh Toàn là người Huế, 4 người còn lại đều là gốc Nam Bộ: đó là Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn và Trần Văn Giàu.

            Đối với Trần Văn Giàu và nhóm đảng viên Cộng sản người Nam Bộ đang nắm giữ những vai trò chủ chốt trong Lâm Ủy Hành Chánh hồi năm 1945, Lê Duẩn còn có một mối hận mà có lẽ ông ta không bao giờ quên được: sau khi từ Côn Đảo trở về Nam Bộ, một đảng viên lão thành với hai cái án tù khổ sai ở Sơn La và sau đó ở Côn Lôn như Lê Duẩn mà Trần Văn Giàu chỉ dành cho một chức vụ hữu danh vô thực là Trưởng Phòng Dân Quân Nam Bộ mà trụ sở được đặt tận trong Đồng Tháp Mười. Phải đợi đến khi Tướng Nguyễn Bình bị giết mấy năm sau thì Lê Duẩn mới được Hồ Chi Minh phong cho làm Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ rồi đưa thêm những cán bộ Bắc Kỳ như Lê Đức Thọ, Dương Quốc Chính v.v. vào Nam phụ tá cho Lê Duẩn, đa số những cán bộ Cộng sản chỉ có trình độ học vấn chưa tới mức trung bình, chẳng hạn như Lê Duẩn chỉ mới học tới lóp Nhất tiểu học.

Bởi vậy, ngay từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến sau khi tập kết ra Bắc, đám trí thức Nam Bộ này vẫn coi thường Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và đám tay chân của họ cho nên sau khi hai người này nắm được quyền hành thì họ bắt đầu có những âm mưu triệt hạ ảnh hưởng của đám đảng viên người Nam Bộ trí thức này và cơ hội đã đến khi Đảng Cộng sản họp Hôị Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Lần Thứ 9, gọi tắt là Hội Nghị 9 vào tháng 12 năm 1963 để thảo luận về vấn đề lập trường của Đảng Lao Động Việt Nam trước cuộc tranh chấp giưã hai nước đàn anh là Liên Xô và Trung Quốc.

Nạn nhân đầu tiên là Dương Bạch Mai, cựu học viên trường Lao Động Đông Phương tức là trường Staline ở Mạc Tư Khoa.

Dương Bạch Mai là người gốc Bà Rịa, gia nhập đảng Cộng sản Pháp thời còn rất trẻ, ông sang Liên Xô theo học trường Lao Động Đông Phương trong 2 năm 1930-1931, rồi sang học ở Paris  khoảng 1936, 1937. Ông ra ứng cử và đắc cử vào Hội Đồng Thành phố Sài Gòn năm 1937 rồi bị Pháp bắt giam vào năm 1940. Năm 1945, Dương Bạch Mai giữ chức Thanh Tra Chính trị Miền Đông kiêm Tổng Giám Đốc Công An trong Lâm Ủy Hành Chánh của Trần Văn Giàu và trong chức vụ này, Dương Bạch Mai là người chịu trách nhiệm về việc hàng chục ngàn người bị Công an Việt Minh thủ tiêu vào năm 1945. Năm 1946. Dương Bạch Mai đắc cử vào quốc hội rồi đi theo kháng chiến và vào đầu thập niên 1960 được giữ chức Ủy viên Ban Thường vụ Quốc Hội và Phó Chủ tịch Hội Việt-Xô Hữu Nghị.

Con trai của ông Vũ Đình Huỳnh, bí thư của chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945, là nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết về ông Dương Bạch Mai như sau:

Ông Dương Bạch Mai nói với tôi rằng ông không được lòng Hồ Chí Minh. Dương Bạch Mai có cái tật sống quá thẳng. Ông ngang tàng, không chịu gò mình vào tôn ti trật tự phong kiến, ông bạt mạng trong lời ăn tiếng nói. Đã quen với những lời tâng bốc, xưng tụng, ông Hồ Chí Minh có không ưa ông cũng phải.

Trường Chinh cũng không ưa Dương Bạch Mai. Điều này không khó hiểu. Trong Trường Chinh có mặc cảm của kẻ ngã ngưạ. Sau sai lầm Cải cách Ruộng đất ông đinh ninh ai cũng coi thường mình. Dương Bạch Mai phản đối Nghị quyết 9 thì Trường Chinh lại coi ông phản đối mình.

Lê Duẩn đặc biệt không ưa Dương Bạch Mai. Theo nhận định của những người từ Nam Bộ ra Bắc tập kết thì sự không ưa này không phải vì nguyên do chính trị. Cái chính là là Lê Duẩn biết mình chẳng bao giờ có được cái mà Dương Bạch Mai có-sự nổi tiếng với tư cách một thủ lĩnh có trí tuệ. Dương Bạch Mai nói với tôi về Lê Duẩn: cháu để ý tới cái thằng cha ấy làm chi! Tâm trí bậc nam nhi là để cho sự nghiệp, thằng này thì thời chỉ lo kiếm chác vinh quang và quyền lực, lúc nào cũng nơm nớp sợ người khác hơn mình. Sự nghiệp và vinh quang là hai thứ khác nhau, như ngôi nhà với nước vôi phủ bên ngoài nó, cháu à!

Dương Bạch Mai, nếu còn sống, chắc sẽ chịu chung số phận với chúng tôi (ghi chú: Vũ Thư Hiên và thân phụ là Vũ Đình Huỳnh đều bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ giam ở nhà tù Hỏa Lò trong bảy tám năm trời mà không hề bị đưa ra toà xét xử.) Không phải chắc, mà chắc chắn. Từ khi có cuộc đấu tranh giữa hai đường lối (giữa Liên Xô và Trung Cộng,) ông chống lại việc đưa nước Việt Nam vào quỹ đạo chủ nghiã Mao. Ông gọi chủ nghiã Mao là món tạp-pí-lù của thổ phỉ. Giưã lúc ngành tuyên truyền Việt Nam đưa Mao Trạch Đông lên hàng thánh sống thì ông ngang nhiên gọi Mao là tên đao phủ của đại pháp trường Trung Quốc.

Những nhận định ngược đời của Dương Bạch Mai làm cho các nhà lãnh đạo Việt Nam hết hồn. Sở dĩ ông chưa bị đụng tới là vì ông có danh tiếng, có uy tín lớn trong quần chúng.

Dương Bạch Mai qua đời khi ông là ủy viên Ban Thường vụ Quốc Hội. Với Nghị quyết 9, đảng Cộng sản Việt Nam phân hoá thành hai cực-một bên là những người theo chủ nghiã xã hội dân chủ pháp trị, đòi kiến tạo một xã hội  công dân có nhân quyền, bên kia là Đảng cầm quyền kiên trì một chủ nghiã xã hội chuyên chế. Đó là những ngày không thể nào quên. Dương Bạch Mai, con hổ dữ chống lại đường lối thân Trung Quốc đột tử khi ông đang dự cuộc họp quốc hội tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Vào lúc giải lao, các đại biểu kéo nhau đi uống bia ở bar, ông Mai thết trước các bạn một chầu bia mừng sinh nhật của ông ngày hôm sau. Ông ngã xuống. Ly bia chưa cạn. Khi xe cấp cứu đến, Bác sĩ Tôn Thất Tùng (giáo sư Y khoa, y sĩ riêng của Hồ Chí Minh) định nhảy lên xe cùng đi tới bệnh viện thì bị hai thanh niên lực lưỡng áp sát ông: Mời bác sĩ quay lại tiếp tục họp Quốc Hội, việc nước quan trọng hơn. Chiếc xe cấp cứu phóng đi trước khi Tôn Thất Tùng hiểu chuyện gì xảy ra với ông, hai thanh niên kia là ai và tại sao họ lại ngăn cản ông đi cùng xe để săn sóc bạn ông?

Cái chết của Dương Bạch Mai gợi nên một nghi vấn. Ông ngả xuống đúng vào lúc ông sắp sưả đọc một diễn văn nảy lưả chống lại đường lối xây dựng xã hội trại lính của Mao, đòi Đảng phải cải thiện đời sống cho dân chúng, đòi thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng, trong xã hội và hàng loạt vấn đề khác. Bài diễn văn ông đút trong túi áo để đọc trước Quốc Hội biến mất.

Sau này, nhân vụ tướng Hoàng Văn Thái rồi tướng Lê Trọng Tấn thay nhau đột tử đúng lúc chuẩn bị nhậm chức Bộ trưởng Quốc Phòng, dư luận lại nhắc tới cái chết đáng ngờ của Dương Bạch Mai nhiều năm về trước.  

 

Nhà văn Xuân Vũ cũng có nhắc đến cái chết của Dương Bạch Mai ngay tại quốc hội ở Hà Nội như sau:

Chuông điện rung lên hết giờ giải lao, các đại biểu trở lại chỗ ngồi, nhưng Dương nghị sĩ còn hăng hái diễn thuyết, đến sực tỉnh giấc ngủ mười năm quay lại thì chỉ còn mình với cô phục vụ viên giải khát. Cô nàng đưa chai nước ngọt Hồng Hà đã khui nắp, tươi cười: Mời bác Tư (Dương Bạch Mai thứ tư) dùng. Ngài nghị sĩ hò hét hơi khan cổ nên chụp lấy trút vào mồm để chạy lên ghế chủ tịch đoàn cho kịp giờ. Nhưng than ôi, cái ghế đó không bao giờ bác Tư Mai trở lại được. Chỉ hai ngụm nốc vào, chưa nuốt xong ngụm thứ ba thì bác Tư xoay tròn và ngã đánh rật xuống nền gạch bông của tòa nhà Quốc Hội tại phiên khoáng đại hồi thập niên năm 1960. Ghê gớm thay! Một cái chuyện đời, một chuyện của cách mạng vô sản Việt Nam. Nào có khác gì cách mạng vô sản ở Liên Xô và bên Tàu. Tôi viết lại câu chuyện này để cho đồng bào Nam Bộ, những người của Muà Thu rồi và cho dòng họ, bà con nghị sĩ Dương Bạch Mai đọc với trí nhớ càng ngày càng sáng tỏ của tôi, đặc biệt là về những thảm kịch như vầy.

Như vậy thì theo cả hai nhà văn Vũ Thư Hiên, người Bắc và nhà văn Xuân Vũ, người Nam tập kết, có nhiều dư luận tại Hà Nội nghi ngờ rằng ông Dương Bạch Mai chết  khi mới có 60 tuổi vì đã bị đầu độc. Người có khả năng làm được việc đó phải có quyền, có quyền đến độ có thể giết cả bạn gái Nông Thị Xuân của Hồ Chí Minh rồi liệng xác xuống đường và người đó không ai khác hơn là Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Nội Vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết rằng Trần Quốc Hoàn là đệ tử ruột của Lê Đức Thọ vì hồi đó bộ Nội Vụ, sau này đổi lại thành bộ Công An, là trực thuộc dưới quyền Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng của Lê Đức Thọ .

 

Theo nhà văn Vũ Thư Hiên, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ Trưởng Y Tế, cựu chủ tịch Thanh Niên Tiền Phong ở Nam Bộ trước ngày kháng chiến cũng bị hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không ưa:

Ông Phạm Ngọc Thạch, trong một câu chuyện vui tại nhà tôi hồi đầu thập niên 1960, nói với ông Dương BạchMai:

-Mấy chả không ưa mầy, vì mầy thẳng ruột ngựa, nghĩ sao nói dzậy, làm mấy chả mếch lòng mới lôi cái vụ mầy hợp tác với đám Tờ-rốt-kít ra mà rêu rao.

-Thì mầy cũng bị mấy chả rêu rao là có thời thân Nhật đó nưã. Chơi với tơ-rốt-kít thì mầy cũng chơi chớ bộ.

Rồi Dương Bạch Mai cười ngất:

-Nè, cẩn thận đó, sổ đen của mấy chả chỉ có ghi thêm thôi chớ không có xóa đi đâu nghen.

Mấy chả đây là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

 

Còn Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại Giao, cũng là người Nam Bộ?

Nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết: Ung Văn Khiêm là người có học, như phần đông những nhà mác-xít đầu tiên của Nam Bộ. Uy tín của  ông trong hàng ngũ cách mạng cao hơn Lê Duẩn  nhiều. Điều này trở nên bất lợi cho ông khi Lê Duẩn trở thành tổng bí thư. Lê Duẩn không ưa Ung Văn Khiêm, luôn luôn thọc gậy bánh xe, tìm cách tống Ung Văn Khiêm về hưu. Vụ bản tuyên bố chung Hồ Chí Minh ký với lãnh tụ đảng Cộng sản Tiệp Khắc Novotny là do Ung Văn Khiêm thảo, Hồ Chí Minh duyệt rồi ký, sau bị Lê Đức Thọ đổ riệt cho một mình Ung Văn Khiêm để đưa ông ra khỏi bộ Ngoại giao. Trong việc này,  bàn tay Lê Duẩn rất rõ. Nhưng đó là chuyện về sau.

           

Ông Nguyễn Văn Trấn, cựu tư lệnh kiêm chính ủy Khu 8 tại Nam Bộ có kể lại ông Ung Văn Khiêm nói về chuyện này trong cuốn sách Viết Cho Mẹ và Quốc Hội của ông như sau:

Trước khi vào hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với ông cụ, là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny, cho ông cụ yên tâm. Vì trong bản thảo ấy ông cụ có thêm mấy chỗ, còn mang tuồng chữ của monsieur Hồ chí Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua gì cho tao, mà chỉ làm thớt cho Sáu Thọ băm ông cụ….

Hội nghị 9 này có thông qua cái  nghị quyết 9 và mấy anh ấy nói là cũng có trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm. Anh Khiêm lộ bí mật: Tao có hỏi mí ông cụ có bỏ thăm không. Ông cụ làm thinh.(Ghi chú: Ông Cụ ở dây là Hồ Chí Minh.)

            Nhà văn Xuân Vũ cũng đã mượn lời của bà vợ Ung Văn Khiêm nói về việc này như sau:

 Rồi Chị Ba nổi giận, ra bộ tịch: Chời ơi chời! Hỏi vậy, em là Chủ tịch, người ta đưa giấy cho em ký. Trước khi ký, em phải coi lại rồi mới thọc bút ký chớ! Ai biểu em nhắm mắt ký rồi chê trật, chê trúng. Người ta ỷ có quyền người ta muốn làm gì thì làm, muốn nói sao hay vậy! Nhưng Anh Ba em đâu có chịu thua. Anh Ba em cự lộn dữ lắm. Nhưng cự thì cự chớ đâu có ăn nổi tụi chó hùa.

            Người ta và tụi chó hùa mà bà vợ của Ung Văn Khiêm nói ở đây không ai khác hơn là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

 

Lê Duẩn Muốn Đập Tan Ảnh Hưởng của Nhóm Trí Thức Nam Bộ

Không riêng gì Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch, Ung Văn Khiêm, những nhân vật trí thức và cán bộ cao cấp miền Nam tập kết ra Bắc như Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Trấn, Huỳnh Văn Nghệ v.v. đều bị thất sủng vì họ không những không chịu thần phục hai người lãnh đạo của Cộng sản thời Nam Bộ Kháng chiến là anh Baø Lê Duẩn và anh Sáu Lê Đức Thọ, lúc đó được tặng thêm một tên mới nưã là Sáu Búa, mà ngược lại, dù lúc bấy giờ hai người này đã trở thành những người nắm vận mạng Đảng Cộng sản và chính quyền ở Bắc Việt, họ vẫn chống đối và coi thường, coi thường đến cái độ họ vẫn gọi cả Lê Duẩn và Lê Đức Thọ bằng thằng.

            Trong cuốn Viết Cho Mẹ và Quốc Hội, ông Nguyễn Văn Trấn kể lại lời của ông Bùi Công Trừng :

            Tao nói cho mầy nghe nha, Bùi công Trừng nói tiếp, về chuyện lão Hồ Chí Minh. Tao nghe, thằng Thọ âm mưu lật đổ ông già, và lấy Nguyễn Chí Thanh thay. Ông lão chỉ còn làm người chuyên nghiên cứu lý luận Mác- Lê nin. Chuyện nước giao cho Nguyễn chí Thanh. Việc Đảng, Status quo – Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật đổ nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong lòng.

           

 

Mầy coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói,  thì thằng Thọ lễ phép… Bắc Hà:  Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà . Tao đếm lão Hồ đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn, Khi ghét bồ hòn cũng méo.

           

Theo ông Vũ Thư Hiên thì khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, Lê Duẩn còn lâu mới được coi là ngang hàng với những nhân vật nổi tiếng trong phong trào cách mạng miền Nam như Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Dương Bạch Mai. .. Những nhà cách mạng trí thức khi ra Hà Nội họp Quốc Hội (1946) và tham gia chính phủ đoàn kết dân tộc với tư cách đại diện miền Nam thành đồng, bị kẹt lại miền Bắc vào thời điểm kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Vắng mặt họ, Lê Duẩn mới dần dần từ những chức vụ khiêm tốn bước lên địa vị người lãnh đạo kháng chiến Nam Bộä….

Cần phải thưà nhận rằng Lê Duẩn là người lãnh đạo giỏi. Những người bạn miền Nam tập kết của tôi nói về anh Ba Duẩn với giọng kính trọng và tự hào. Niềm tự hào này kéo dài không lâu. Sau khi anh Ba trở thành tổng bí thư, ông không làm gì được cho họ hơn là đẩy họ tới những vùng hoang vu để khai hoang, lập ra các nông trường, khuyến dụ họ họp thành những tập đoàn sản xuất nhỏ nhoi để tự nuôi thân. Đến lúc ấy thì họ giận dữ. Khi con người nổi giận thì lẽ công bằng không còn nưã. Thay vì ca ngợi, họ nguyền ruả ông….

Còn Lê Đức Thọ: Sáu Buá Lê Đức Thọ là người miền Bắc, được Trường Chinh cử vào Nam năm 1947 với tư cách ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng để nắm Trung Ương Cục miền Nam, nhưng Lê Đức Thọ đã không một lần tranh được chức bí thư miền Nam. Cũng có hục hặc với Lê Duẩn, nhưng sau đó ý thức được thân phận mình trên đất lạ, Lê Đức Thọ lại tìm sự liên minh với Ba Duẩn để trở thành Sáu Búa.

Lê Đức Thọ tuy là một trong những lãnh tụ kháng chiến cao cấp tại Nam Bộ nhưng ông ta lại không mấy ưa người Nam Bộ. Một số vị lão thành đã từng theo kháng chiến chống Pháp tại Nam bộ trước năm 1954 có nói với người viết rằng hồi đó có rất nhiều người trong giới kháng chiến không những không có cảm tình mà lại còn coi thường, nói theo kiểu miền Nam là khi dễ, Lê Đức Thọ vì tuy ông ta là nhân vật cao cấp số hai của Việt Minh tại Nam Bộ nhưng lại thiếu tư cách và đạo đứùc. Họ cho biết rằng Sáu Thọ có tật mê gái dù rằng những cô gái trẻ chỉ đáng tuổi con cháu thế mà ông ta cũng cứ theo đuổi, cưỡng ép do đó có nhiều người miền Nam không phục và ngược lại thì Sáu Thọ cũng không mấy ưa những người này vì họ nghĩ sao nói vậy, chẳng thèm nể nang gì đến cái chức vụ cao cấp của Thọ.

Nhà văn Xuân Vũ có kể lại một trong những chuyện này như sau:

Sáu Lưà (Lê Đức Thọ mặt dài như mặt lưà  cho nên người miền Nam đặt tên như vậy) mê đắm con bé Hoàng. Hắn chạy loanh quanh như chó tháng bảy, nhờ Hội Phụ Nữ Cứu Quốc, nhờ ông Ba Kem giúp đỡ. Ba Kem là đồng chí năm 1930, gốc điạ chủ gộc, có đưá con gái tên là Anna cũng cỡ tuổi Hoàng. Một hôm Sáu Lưà  được Ba Kem mời tới ghe ăn cơm thân mật. Sáu Lừa thấy Anna chẳng kém Hoàng là bao bèn trổ mòi. Hắn hỏi bà Ba Kem: Tui muốn kêu chị bằng má được không chị Ba? Bà Ba đang nấu cơm sau lái ghe, bèn giơ đũa bếp lên: Tui thì được rồi, chỉ sợ cặp đuã bếp này không đồng ý thôi Đồng chí Trung ương ạ! Sáu Lừa ê mặt, thụt lùi ra trước mũi ghe nơi Ba Kem đang ngồi câu cá chốt.

Tuy có chồng làm tới đại thần trong triều đình Hồ Chí Minh nhưng bà Ba Kem vẫn giữ tác phong của địa chủ Cù Lao Giêng đối với tá điền. Bà muốn nói thì nói, không ai bụm họng kịp. Bà chưa tha đồng chí Sáu Lừa: Ở ngoài Bắc Cụ Hồ gởi đồng chí vô đây để lãnh đạo kháng chiến hay để dê gái? Nếu để dê gái thì tui chỉ chỗ cho dê chớ dê bậy bạ coi chừng ăn đũa bếp. ..

Ba Kem xua tay quát: thôi thôi tôi lạy bà, không nên phạm thượng !

Bà Ba Kem quát lại: thượng hay hạ?

(Câu chuyện này tưởng vậy là qua nhưng mà không, chính sáu Lừa đã làm cho Ba Kem rơi đài cái ạch, mười năm sau rơi hết chức tước. Rồi đến sau 1975, Ba Kem phải cưởi xe đạp đi mua từng con cá lóc ở chợ Cầu Ông Lãnh và chết vô danh.)

 

Một tác giả khác cũng có viết lại một vài sự kiện liên quan đến đạo đức cách mạng của hai đồng chí Anh Ba (Lê Duẩn) và Anh Sáu (Lê Đức Thọ) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Ông Vy Thanh, tác giả cuốn sách Lớn Lên Với Đất Nước, là một học sinh tại Cần Thơ, đã bỏ ra khu theo kháng chiến sau cuộc biểu tình phản đối thực dân Pháp về vụ trò Trần Văn Ơn bị giết chết  ở Sài Gòn vào năm 1950. Mấy năm sau, ông được Bí Thư Khu Ủy Khu 9 là Vương Nhị Chi giao cho nhiệm vụ về Sài Gòn nằm vùng,  đi học trở lại để sau này phục vụ cho Đảng:

Tôi đã đề nghị với các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Cục về công tác mới của chú và được mọi người nhất trí. Đó là vận động học sinh-sinh viên và gia đình của họ đang sống trong vùng địch tạm chiếm tham gia tích cực hơn nữa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. ..Địa bàn hoạt động là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn nhưng đối tượng chính là sinh viên đại học Sài Gòn và hai trường trung học ở Mỹ Tho và Cần Thơ. ..Sau giai đoạn này, chú sẽ được kết nạp vào Đảng.

Vy Thanh đậu được cả hai bằng Tú Tài, sau đó tiếp tục học đại học và sau cùng được học bổng sang Hoa Kỳ du học dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Sau khi tốt nghiệp với văn bằng Tiến Sĩ tại San Jose State University, ông trở về giảng dạy tại một số trường đại học ở miền Nam. Ông ở lại Việt Nam sau 30 tháng 4 năm 1975, tuy nhiên chỉ một thời gian ngắn sau đó thì vượt biên sang Hoa Kỳ. Cuốn sách Lớùn Lên Với Đất Nước của Vy Thanh xuất bản vào năm 2006 được xem như là một tác phẩm rất có giá trị về giai đoạn kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ trước năm 1954. Ngoài việc tham gia kháng chiến, ông Vy Thanh còn có được may mắn phục vụ ngay tại Khu 9, địa bàn hoạt động của hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, do đó đã biết được khá nhiều chuyện xì xào được đồn đại và lưu truyền trong giới đồng bào cũng như là cán bộ trong vùng kháng chiến tại Miền Tây Nam Bộ hồi đó.

 

Vy Thanh nói đến đạo đức cách mạng của Lê Duẩn qua lời kể lại của chị Mười, đại diện Hội Phụ Nữ Cứu Quốc xã Long Mỹ (sau này là tỉnh Chương Thiện,)  có chồng vừa mới bị tử trận như sau:

Chị Mười được viên Phó Bí thư cử đi dự Đại Hội Phụ Nữ Nam Bộ và trên đường đi bằng ghe chị đã bị tên cán bộ này hiếp. Sau khi đến nơi đại hội, chị được giới thiệu với chị Mười Nguyễn Thị Thập, Hội trưởng Hội Phụ Nữ Cứu quốc Nam Bộ và chị Hội trưởng Hội Phụ nữ  Cần Thơ. Bà Hội trưởng Cần Thơ liền nắm tay chị Mười:

-Coi em mệt, chắc đi đường xa. Để chị lấy nước cam vắt cho em uống đặng khỏe lại, vui chơi chớ. Đi dự Đại hội mà xìu như vậy đâu được em?

Không lâu lắm, bà đó trở lại, ly nước cam vắt trên tay, đi cạnh một người đàn ông sồn sồn trên 50 hay 55 gì đó. Bà già trầu Mười Thập thấy người đó, lật đật đứng dậy, khúm núm:

-Thưa Anh Ba, khỏe không?

Chẳng đáp, người đó ngó chị Mười lom lom như mèo thấy chuột. Vẫn  nhìn thẳng chị, ổng nghiêng đầu về bà Hội trưởng Phụ nữ Cần Thơ hỏi, giọng Nghệ rặc:

-Vợ đồng chí Chỉ huy phó Phân đội V đấy hỉ?

-Thưa Anh Ba, dạ đúng!

-Xin chia buồn cùng chị. Tôi đã ký quyết định truy tặng anh Mười là anh hùng liệt sĩ kèm quyết định cấp dưỡng và xác nhận con gái của anh là con liệt sĩ.

-Xin cám ơn đồng chí.

Rồi chị hỏi bà Hội trưởng Phụ nữ Cần Thơ:

-Anh Ba là ai vậy?

-Bí Thư Xứ Ủy Nam Bộ.

Vừa nói xong chức danh người đó, chị Mười thở hắt ra, thật dài, như muốn trút hết uất ức nghẹn lại từ lâu. Rơm rớm nước mắt, một hồi lâu  lấy lại bình tĩnh, chị tiếp:

-Bà Hội trưởng Phụ nữ Tỉnh đưa cho chị ly nước cam. Đang khát nước, chị uống một hơi cạn ly. Bà ta một tay đỡ cái ly không trên tay chị, tay kia. .. rồi chị chẳng  chẳng biết gì nữa. Chắc em hiểu chị muốn nói gì.

 

 

Về phần Lê Đức Thọ, Vy Thanh cho biết đạo đức cách mạng của Thọ như sau qua lời kể lại của hai cô nữ sinh trường Trung học Nguyễn Văn Tố trong vùng kháng chiến là Đào và Thanh mới chừng mười sáu, mười bảy tuổi:

-Lúc đầu người ta dụ dỗ chị Thanh với em xây dựng với hai ông già (Lê Đức Thọ và Lưu Quý Kỳ, phụ tá của ông ta) đều có con đùm vợ đề ngoài Bắc. Dụ dỗ không được, họ dùng quyền lực của Chi bộ Đảng ép em và chị Thanh phải lấy mấy ổng.

Anh nghĩ coi mấy ổng nói với tụi em như vầy có nghe được không: Dẫu biết các bác đã có gia đình ngoài Bắc, nhưng do yêu cầu của Cách Mạng, các bác phải ra đi. Cho nên Đảng có nhiệm vụ phải lo cho các bác phải có người đàn bà trong nhà. Hai đồng chí là đảng viên, đã từng được dạy về đạo đức cách mạng. Bác Hồ đã nói: Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng.

Chúng em chống cự rồi họ tách chúng em mỗi người về phục vụ một văn phòng riêng khác nhau. Chị Thanh về văn phòng Bác Sáu, em về văn phòng ông Lưu Quý Kỳ. Chi bộ Đảng vẫn tiếp tục khuyên và dụ dỗ. Sau một thời gian thấy khuyên chẳng được mà dụ dỗ cũng không xong, họ làm theo lối vũ phu vô học.

Một đêm chị Thanh đang ngủ, Bác Sáu mò vô mùng chị. Chị sợ quá, tốc mùng chạy vừa la làng làm lối xóm náo động. Đội bảo vệ  bắn súng như Tây tới thiêät.

Phần em, về văn phòng ông Chín Kỳ được ba ngày, ông biêåu em đi công tác với ổng. Một đêm ôång biểu em ngủ dưới tam bản với ổng. Ổng kéo, ổng níu, ổng ôm rồi ổng đè em tính làm ẩu. Em chống cự, em đạp, em phóng xuống kinh lội, em leo lên bờ, chạy vô nhà dân trốn và cầu cứu. ..

 

Cô nữ sinh Thanh kể lại câu chuyện cô suýt bị Lê Đức Thọ hiếp  giữa đêm khuya rõ hơn:

Môät ngày kia chị Đào đi  công tác, các đôàng chí trong cơ quan thông báo vơiù em rằng chiều nay Bác Sáu đến ăn cơm và ở lại sinh hoạt vớiù chúng ta. Ngồi nói chuyện con cà con kê, Bác Sáu dài dòng chẳng có chủ đề gì hết. Ổng cứ ngó em chăm chăm, lâu lâu hỏi em một câu như là nói để  cho em nghe mà thôi. Đồng chí ngồi cạnh em cứ rót trà vô tách em hoài mời em uống. Em chỉ bưng lên làm bộ uống rồi đêå tách xuống. Dòm nước trà trong tách em không vơi, anh ấy giục trong lúc Bác Sáu ngó em lom lom. Đến 9 giờ, em buồn ngủ quá. Thấy em che miệng ngáp, Bác Sáu nói:

-Thôi, các đồng chí đi ngủ. Sáng mai công tác tỉnh táo  hơn.

Giăng mùng xong, em chui vô nằm, đắp mền, mắt nhắm liền. Cũng  không lâu lắm , em cảm thấy mí mùng được tấn dưới chiếu ở chân xê dịch như có bàn tay ai nhè nhẹ kéo. Em tỉnh ngay. Bên ngoài mùng tối mò chẳng thấy gì. Mí mùng bị kéo mạnh, lẹ hơn. Một bàn tay thọc vào đụng chân em, cùng một lúc cả góc mùng dưới chân em được vén lên để lộ cái đầu đàn ông. Người đó nói nhỏ trong lúc tính chui hẳn vô mùng:

-Tôi đây mà, đồng chí đừng làm ồn!

Đúng là giọng Bác Sáu. Chăúng còn hồn vía nào, em bật dậy phóng chạy ra khỏi mùng, ra ngoài sân trước nhà la lên:

-Bớ người ta! Cứu tôi với!

Bốn người bảo vệ chạy tới. Họ vừa băén bổng vừa hô:

-Đứng lại! Không chúng tôi bắn!

Em nghe Bác sáu ra lịnh:

-Đừng bắn! Vào ngủ hết đi!

Chị Mười hậm hực:

-Thiệt là đồ chó đẻ!   Xuống tỉnh xuống huyện ăn nói huyên thuyên, toàn đạo đức giả. Răn đe cán bộ, đâu dè tụi nó cả một bầy như chó đực tháng Tám!  

  

Các câu chuyện kể trên đã được loan truyền, kể đi kể lại khắp các địa phương, từ miền Tây cho đến miền Đông, từ các làng xã cho đến các thị thành Nam Bộ, từ giới nông dân, các bậc phụ lão, thanh niên thiếu nữ cho đến giới trí thức miền Nam vốn là những người còn rất trọng lễ nghĩa và đạo lý, do đó mà họ không có cảm tình đối với Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Dĩ nhiên là cả hai cán bộ lãnh đạo Cộng sản này cũng biết rõ điều đó, cho nên khi nắm được quyền hành tuyệt đối trong tay thì Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã tìm mọi cách trả thù, triệt hạ nhóm trí thức Nam Bộ tại Bắc Việt.

  Trần Huy Liệu: Viết Sử Theo Lối Định Đề 

Như vậy thì không những chỉ có những người trí thức Nam Bộ mà cả đại đa số những người Nam Bộ tập kết đều không có cảm tình với Lê Duẩn và Lê Đứùc Thọ. Nhà văn Xuân Vũ nhận xét rằng bọn Lê Duẩn có ba cái sợ: một là sợ trí thức, hai là sợ tôn giáo, ba là sợ dân Nam Kỳ. 

Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao những người trí thức Nam Kỳ đã bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cho ra rià,  theo cách nói của ông Xuân Vũ. Cho ra rià chưa đủ, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ còn tìm cách hạ luôn cả giới trí thức Nam Kỳ và xa hơn nưã là cả nền văn hoá đặc thù của miền Nam. Người được chọn để đảm nhiệm công việc này là một nhà báo miền Bắc đã từng sống ở Sài Gòn, đã từng cộng tác với nhiều tờ báo ở Sài Gòn hồi thập niên 1920, người đó là Trần Huy Liệu, lúc đó đang giữ chức Viện Trưởng Viện Sử Học.

            Trần Văn Giàu là một nhà trí thức Cộng sản nổi tiếng từ khi còn du học ở Pháp, ông học về Triết Lý và Sử học tại Toulouse nhưng sau đó bị đuổi về Việt Nam năm 1931. Ông lén trốn sang Nga Xô và ông được nổi tiếng vì vào năm 1933, ông tốt nghiệp thủ khoa trường Lao Động Đông Phương ở Mạc Tư Khoa mà người đậu thứ nhì là ông Maurice Thorez, sau này là Chủ tịch Đảng Cộng sản Pháp. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, Trần Văn Giàu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Lâm Thời Nam Bộ, gọi tắt là Lâm Ủy Hành Chánh, kiêm Ủy Viên trưởng Quân sự và Giàu cùng với Dương Bạch Mai là hai người chịu trách nhiệm về việc khoảng trên hai vạn người thuộc thành phần trí thức, tiểu tư sản, Cao Đài, Hòa Hảo v.v. bị Việt Minh thủ tiêu tại Nam Bộ vào tháng 9 năm 1945, trong số này có cả Luật sư, nhà báo Diệp Văn Kỳ, học trò của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ chí Minh. Sau đó, Trần Văn Giàu ra Bắc nhưng không được trọng dụng, chỉ được làm việc trong Hội Nghiên Cứu Mác-xít và đi dạy học, tuy nhiên Trần Văn Giàu cũng là người còn  có nhiều uy tín trong giới Nam Bộ tập kết. Nhà văn Xuân Vũ đã trích dẫn lời của Trần Văn Giàu nhận xét về Trần Huy Liệu như sau:

Giàu đã cãi lộn với Trần Huy Liệu. Giàu gọi là ông già Liệu (lúc đó mới khoảng 60 tuổi), có tính cách chế diễu Trần Huy Liệu là tên chỉ làm những việc do ở trên sai bảo, vì tên sử gia này viết sử theo lối định đề. Liệu còn nhận định láo rằng dân tộc Việt Nam hình thành từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương… 

            Nhà văn Vũ Thư Hiên cũng có tiết lộ thêm một vài chi tiết về Trần Huy Liệu. Ông cho biết rằng  bạn của ông là Nguyễn Trọng Luật đã có nhận xét về việc ông Vũ Đình Huỳnh bị bắt rằng: nhưng Thọ muốn thì Duẩn  cũng không ngăn, mọi việc Thọ làm từ trước tới nay đều vì lợi ích của cả hai. Thằng này làm việc đó để làm gì, nhằm mục đích gì? Anh ngờ  bên trong vụ này có điều uẩn khúc, liên quan tới thời kỳ Thọ ở Sơn La. Trong phần ghi chú, Vũ Thư Hiên nói thêm rằng Anh Luật có lý trong suy luận: trong vụ trấn áp nhóm xét lại chống Đảng, chỉ có những người tù cũ ở Sơn La cùng với Lê Đức Thọ bị bắt. Có lần tôi nghe Tướng Đặng Kim Giang nói về chuyện công sứ Coussot (tên chính thức là Cousseau) có mua chuộc được vài tên phản bội làm chỉ điểm, do đó có những kế hoạch của ban lãnh đạo tù nhân bị lộ.

            Ngoài chuyện tính cách, chắc cha tôi còn có điều nghi ngờ Lê Đức Thọ trong sự liên lạc thậm thụt với công sứ Cousseau mà ông biết trong thời gian ông làm thư ký trong nhà tù Sơn La. Vào những năm này, những cựu tù nhân Sơn La kể lại, Lê Đức Thọ một hồi được Cousseau lấy ra làm tạp dịch tại nhà y. Cũng trong thời gian này một số việc của ban lãnh đạo tù nhân bị lộ. Tướng Nguyễn

 

Kim Giang cũng có chung với cha tôi mối nghi ngờ đó. Nhưng cả hai im lặng. Với một Lê Đức Thọ quyền sinh quyền sát như thế, giữ im lặng là phải. Mặc dù cùng tù với nhau ở Sơn La nhưng cha tôi không bao giờ coi Thọ là bạn. Ông Đặng Kim Giang cũng vậy. Dưới con mắt của ông, Lê Đức Thọ là một tên hạ lưu hãnh tiến.    

Trần Huy Liệu cũng bị tù ở Sơn La cùng thời với Lê Đức Thọ (1939-1945) và theo Vũ Thư Hiên thì Thọ đã nhiều lần mưu mô hạ các đồng chí lão thành cách mạng để tôn mình lên. Việc Thọ xúi giục một số đồng chí hăng hái thái quá buộc ông Trần Huy Liệu, cựu đảng viên Quốc Dân Đảng, phải lên án đảng cũ của mình là manh động trong khởi nghiã Yên bái là một thí dụ.

            Nghe nói ban đầu Trần Huy Liệu không chịu đọc bản báo cáo kết tội Việt Nam Quốc Dân Đảng vì lãnh tụ Nguyễn Thái Học cùng những vị anh hùng của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã anh dũng hy sinh trên đoạn đầu đài của thực dân Pháp chỉ mới cách đó hơn hai mươi năm và còn được toàn dân Việt Nam tôn sùng kính phục, tuy nhiên sau khi Hoàng Minh Chính, Tướng Đặng Kim Giang, anh hùng Điện Biên Phủ, ông Vũ Đình Huỳnh, cựu bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những nhân vật khác như Phạm Kỳ Vân, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Học Tập, Trần Minh Việt, Phó Bí thư Thành Ủy kiêm Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội, Phạm Viết, Phó Tổng Biên tập báo Hà Nội Mới, Đinh Chân, biên tập viên báo Quân Đội Nhân Dân v.v. đều bị vào tù vì tội có liên quan đến nhóm xét lại chống đảng  thì Trần Huy Liệu phải lo thủ lấy thân vì trong quá khứ, trước năm 1936 ông ta vốn là Chi Bộ Trưởng của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Sài Gòn.

Vũ Thư Hiên cho biết rằng có một người bạn của thân phụ ông hoạt động cách mạng (tức là theo Cộng sản) từ trước năm 1945, bị tống giam vì bị vu là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, phải thắt cổ tự tử rồi để lại bức thư tuyệt mệnh: Oan cho tôi lắm, Cụ Hồ ơi! Tôi trung thành với Cụ, với Đảng. Tôi không phản bội. Hồ Chí Minh muôn năm!

Chỉ mới bị vu là đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học mà cũng đã bị bắt rồi phải tự tử thì thử hỏi Trần Huy Liệu, một cựu chủ tịch chi hội của VNQDĐ tại Sài Gòn, nếu phe cầm quyền Lê Duẩn-Lê Đức Thọ muốn kiếm chuyện thì số phận sẽ ra sao? Ngoài những cái tội đó, Trần Huy Liệu còn bị mang tội hủ hóa suýt nữa bị Trường Chinh đưa ra hội đồng kỷ luật của Ban Thường vụ Trung ương nữa. Vũ Thư Hiên cho biết: Mẹ tôi có những kỷ niệm tốt về Trường Chinh. Bà kể khi biết ông Trần Huy Liệu quá đắm đưối trong mối tình với nữ sĩ Thu Tâm ở Huế, ông Trường Chinh giận lắm, mới đưa việc này ra Thường vụ Trung ương. Sau đó ông đại diện cho Thường vụ họp với các bà: bà Trần Huy Liệu, mẹ tôi (bà Vũ Đình Huỳnh) và bà Trần Đình Long. Trong cuộc họp này, ông Trường Chinh ra quyết nghị: cho ông Trần Huy Liệu được đi chơi với cô Thu Tâm thêm một tháng nữa, sau đó phải về với vợ con, trái lệnh, Đảng sẽ thi hành kỷ luật.. .

Theo ông Việt Thường, một nhà báo tại Bắc Việt trước năm 1975 thì Trần Huy Liệu được ông Hồ Chí Minh cho vào Huế  giết cha con, cướp con dâu ông Phạm Quỳnh về làm thiếp mà cái ông sẹo đầu sẹo cổ này bẻ cong ngòi bút cũng như đồng nghiệp Phạm Huy Thông của ông và các môn đồ Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, đồng tác giả bộ Thông Sử Việt Nam.. . Như vậy thì có lẽ nữ sĩ Thu Tâm nói trên có lẽ là người phụ nữ Huế này.

Với những chuyện có tỳ vết như vậy, nếu những người có quyền như Lê Duẩn  và Lê Đức Thọ muốn thì Trần Huy Liệu khó mà tránh khỏi bị họ kết án nặng nề. Có lẽ vì bị áp lực nào đó mà  Trần Huy Liệu cuối cùng cũng phải làm những việc do ở trên sai bảo. Khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn tìm cách hạ bệ một thần tượng của giới trí thức Nam Kỳ thì họ không cần tìm đâu xa và người thích hợp và danh chính ngôn thuận nhất thì không còn  ai ngoài người đang đứng đầu Viện Sử Học của Hà Nội lúc đó. Họ có lẽ đã ra lệnh cho Trần Huy Liệu và nhà sửû học này không dám từ chối chống lại dù rằng phải viết sử theo lối định đề.

           

Với tư cách là một giáo sư  Sửû học, với tư cách là Viện Trưởng Viện Sử Học, Trần Huy Liệu đã tìm được một đối tượng đại diện cho miền Nam, đó là Cụ Phan Thanh Giản, người đã tử tiết gần một thế kỷ về trước. Đã từng sống ở Nam Kỳ, Trần Huy Liệu biết rằng người dân miềân Nam từ trên xuống dưới, từ trẻ đến già đều tôn thờ cụ Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ đầu tiên của miền Nam và cũng là đại diện cho giới trí thức, cho lòng yêu nước của người dân miền Nam.  So với uy tín của Cụ Phan Thanh Giản trong quần chúng, những người trí thức Cộng sản như  Dương Bạch Mai, như Trần Văn Giàu, như Ung Văn Khiêm, như Nguyễn Văn Trấn v.v. cùng với bao nhiêu người Nam bộ khác còn ở miền Bắc và hàng triệu người ở miền Nam đâu có quan trọng bằng, do đó chỉ cần hạ bệ cái thần tượng anh hùng của Cụ Phan Thanh Giản là có thể đập tan được cái ảnh hưởng của bọn trí thức Nam Kỳ từ Bắc chí Nam. Việc giáo sư Sử học Trần Huy Liệu chọn Phan Thanh Giản làm đối tượng để lên án và buộc tội cũng chẳng có gì mới lạ vì hồi thế kỷ thứ 19, chính vua Tự Đức cũng đã kết tội và ra lệnh đục bỏ tên của Phan Thanh Giản khỏi bia đá tiến sĩ.

Ngoài mục đích dằn mặt bọn trí thức Nam Kỳ, Trần Huy Liệu còn đạt được mục tiêu tối hậu mà hai người lãnh đạo chóp bu của Đảng lúc đó là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ nhắm vào, đó là nhóm lãnh đạo trong phe ôn hòa đang âm mưu chống lại chủ trương dùng vũ lực để giải phóng miền Nam rồi tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa của họ. Vì lý do đó mà Trần Huy Liệu đã kết tội khuynh hướng đó qua lời kết tội cụ Phan Thanh Giản:

Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghiã, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, cuả nhân dân, là phạm tội dâng thành hiến đất cho giặc.. .

 

            Theo Giáo sư Phan Huy Lê thì đó là một bài kết luận được đăng trên Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 55 vào tháng 10 năm 1963 và đến 12 năm sau thì người Cộng sản đã áp dụng những điều đã được nhất trí trong bài kết luận này, do đó có thể nói đây là một bản nghị quyết về lập trường của đảng Lao Động Việt Nam thời thập niên 1960 đối với cụ Phan Thanh Giản.

Sau năm 1975, tất cả những tên đường, những trường học mang tên Cụ Phan Thanh Giản đã bị hủy bỏ ngay sau khi Cộng sản Hà Nội chiếm được miền Nam theo lệnh của hai người lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản: Tổng Bí Thư Lê Duẩn và Uỷ Viên Bộ Chính Trị Lê Đức Thọ. Như vậy, có thể nói rằng Trần Huy Liệu đã viết sử theo lối định đề vì đã được Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ở trên sai bảo phải làm như vậy.                                                         

Sau tháng tư năm 1975, những khuôn mặt trí thức miền Nam, từ những thành viên trong  cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, từ những thành viên trong cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cho đến những phần tử trí thức đã theo Cộng sản từ năm 1945 và những phần tử đã tập kết ra Bắc vào năm 1954-1955, tất cả đều trở thành những cái bóng mờ không một tiếng nói trong một nước Việt Nam thống nhất dưới quyền lãnh đạo tuyệt đối của nhóm Lê Duẩn-Lê Đức Thọ.

Họ đã đạt được mục tiêu mà họ muốn vào lúc đó.

Người viết chỉ căn cứ vào những sự kiện đã được ghi chép lại qua một vài cuốn sách đã được xuất bản và qua những câu chuyện truyền khẩu để tìm hiểu thêm về nguyên nhân của việc Trần Huy Liệu đã kết tội Cụ Phan Thanh Giản là phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc tức là tội phản quốc và đã tìm thấy rằng một trong những nguyên nhân đó, có lẽ là hai ông cựu lãnh đạo Nam Bộ Kháng Chiến, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, căm hận giới trí thức Nam Kỳ vì dường như hầu hết toàn bộ trí thức miền Nam đã tỏ ra coi thường vai trò lãnh đạo của họ cho nên đã tìm cách trả thù.

                                                            *                                                *                 *         

Lịch sử thường được viết bởi những kẻ chiến thắng.

Vào năm 1917 tại Nga, những người Bolcheviks là những kẻ chiến thắng và sau đó tất cả những thành phố, những đền đài cung điện, những tên đường phố có mang tên những vị vua chúa, những vị anh hùng thời Nga Hoàng đều bị đổi tên. Sau năm 1991, những người Bolcheviks không còn nưã và nhân dân Nga đã lấy lại tên cũ của những thành phố, tên cũ của những vị anh hùng trong lịch sử của họ để trả lại cho những thành phố, những trường học, những công viên, những con đường đã bị mất tên hơn 70 năm về trước.

Một vị giáo sư người Mỹ có nói với người viết rằng ngày xưa Leo Tolstoy viết cuốn War and Peace với những tên đường phố thời đó và sau năm 1917 thì những con đường trong thành phố St Petersburg đều  bị đổi tên và cả thành phố này cũng bị đổi thành Leningrad, tên của người lãnh đạo cuộc cách mạng Bolcheviks của Liên Xô và là vị cha già của Xã Hội Chủ Nghiã,õ cũng giống như những người Cộng sản Việt Nam đổi tên thành phố Sài Gòn ra Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975. Tuy nhiên sau năm 1991, khi chế độ Cộng sản bị sụp đổ thì thành phố này lại được nhân dân Nga trả lại tên cũ St Petersburg sau gần 75 năm bị mất tên và tất cả những con đường trong thành phố thơ mộng này cũng đều đã được trả lại những tên cũ y chang như Leo Tolstoy mô tả vào thời cuối thế kỷ thứ 19.

Vào năm 1975, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là những kẻ chiến thắng.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả những con đường, những trường học mang tên Phan Thanh Giản tại miền Nam đều bị Cộng sản Bắc Việt xóa tên. Người Cộng sản miền Bắc còn phái hai học giả trí thức của Đảng là Giáo sư Nguyễn Công Bình và Giáo sư Nguyễn Đổng Chi vào Nam để phụ trách việc xóa tên và kết tội Phan Thanh Giản.

Ông Phan Thanh Tâm, một nhà báo tại Miền Nam trước năm 1975 và đồng thời cũng là hậu duệ đời thứ 6 của Cụ Phan Thanh Giản, mới đây có về thăm Việt Nam và sau khi trở lại Hoa Kỳ  đã viết một bài nhan đề Sau 30 năm lìa xa trong đó có đoạn cho biết về cách đối xử của đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhân vật Phan Thanh Giản và con cháu của cụ: Sau khi den Saigon mot ngày, tôi di Ben Tre tham mo Phan Thanh Gian tai ap Thanh Nghia, xã Bao Thanh, Huyen Ba Tri. Mo duoc ông Phan Thanh Nhàn trông coi sach se. Tôi không hieu dang Cong San thù han gì Phan Thanh Gian mà trong nhung ngày dau chiem mien Nam, ho dòi phai doi mo cu Phan di cho khác. Ông Phan Thanh Nhàn lúc đó đang  hoc lop chín cũng bi duoi, không cho hoc tiep. Mộ cụ Phan đã một trăm năm mà vẫn bị trừng phạt phải dời đi nơi khác, con cháu của cụ, một đứa con nít  lúc đó mới chừng 14 hay 15 tuôåi gì đó mà cũng bị đuổi không cho tiếp tục việc học, thật là một điều mà ngay cả thực dân Pháp cũng chưa hề đối xử với ai như vậy trong suốt 80 năm chúng đô hộ nước Việt Nam. Nhà báo Phan Thanh Tâm chắc là sau đó đã hiểu được lý do tại sao mà Cộng sản thù hằn gì Phan Thanh Giản cho nên ông ta đã viết tiếp:  Nhà van Lê Thi Hue rat đúng khi trong cuon Van Hóa Trì Tre Nhìn Tu Hà Noi dau The Ky 21 đã goi nhung nguoi Cộng San là  Nhung Ke Chien Thang Hèn Ha?.

 

Nhà văn Trần Hoài Thư, một nhân chứng sống đã kể lại  việc người Cộng sản đập phá và kết tội cụ Phan Thanh Giản khi ông trình diện tại trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ vào đầu tháng 5 năm 1975 như sau:

Một ngày, hình như buổi xế trưa thì phải, chúng tôi được lệnh tập trung tại sân cờ. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được lệnh tập trung. Có biến cố gì không? Có thay đổi gì trong chính sách không? Không ai có thể biết được. Rồi tay Thượng úy đứng trên thềm xi-măng của cột cờ cầm giấy đọc. Hắn đọc gì? Không. Hắn kết tội. Lần này không phải buộc tội chúng tôi, nguỵ quân, nguỵ quyền, phản động, tay sai mà hắn kết tội cụ Phan Thanh Giản, tên của một ngôi trường. Hắn không kêu là cụ, là ông mà từ đầu bài đến cuối bài là chữ tên. Tên bán nước. Tên đầu hàng. Tên có tội với nhân dân. Tên tự tử vì hèn nhát. Tôi không thể nhớ nổi bao nhiêu chữ tên mà hắn dùng. Sau đó hai tay cảnh vệ dùng búa đập tượng. Đập cuồng điên. Nhưng họ không phá hết. Họ vẫn còn chưà lại tấm thân bị thương tích, loen lở, bên chiếc đầu gảy lìa khỏi cổ, trơ vơ dưới nắng.

Chúng tôi kinh hoàng. Không phải kinh hoàng bởi vì nỗi sợ hãi. Nhưng bởi vì âm thanh từ cái búa giáng trên đầu pho tượng từng nhát một như những vết thốn đau nhức cả tim óc.

Đến một người như cụ Phan Thanh Giản mà người ta còn mang ra hành tội thì không còn một ý kiến gì nưã. Chúng tôi, không ai dám nhìn thẳng…

 

Trường Trung Học Phan Thanh Giản bị mất tên từ ngày đó.

  Cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt: Phan Thanh Giản là Người Yêu Nước, Thương Dân, Đáng Để Lại Gương Soi Cho Hậu Thế 

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây có những dấu hiệu cho thấy có một vài sự cởi mở dè dặt, tuy không chính thức, nhưng chính quyền Cộng sản Việt Nam đã không ngăn cấm việc tổ chức một số hội thảo hay là tọa đàm khoa học về nhân vật Phan Thanh Giản.

Lần đầu tiên vào năm 1994, một cuộc hội thảo về nhân vật Phan Thanh Giản đã được tổ chức tại Vĩnh Long theo sự yêu cầu của nhân dân hai tỉnh Bến Tre, quê hương của cụ Phan và Vĩnh Long, nơi cụ Phan trấn nhậm và tử tiết vào năm 1867. Cuộc hội thảo này có sự tham dự của 19 vị diễn giả, trong số đó có  Luật sư Phan Thanh Hy, hậu duệ đời thứ 5 của cụ Phan đang sống tại Pháp (vưà mới từ trần năm 2004) với bài Cái Chết của Phan Thanh Giản và Giáo sư Phan Huy Lê, một học giả về văn hoá và lịch sử Việt Nam, sau này đã xuất bản một cuốn sách về cụ Phan vào năm 1997 Phan Thanh Giản (1796-1867), Con Người, Sự Nghiệp và Bi Kịch Cuối Đời.

Trong bài kết thúc cuộc hội thảo này, Giáo Sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, giáo sư Sử học trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, đã kết luận rằng tất cả chúng ta đều nhất trí không nên và không thể gán cho ông Phan Thanh Giản cái tội bán nước hay phản tổ quốc. Đó là sự quy kết quá nặng nề không có căn cứ, vưà không đúng hành động và động cơ của ông, vưà trái với tấm lòng ngưỡng mộ kính mến mà xưa nay nhân dân quê hương đã dành cho ông….

Như vậy thì lời lẽ được sử dụng trong bài kết luận này hoàn toàn khác hẵn bài kết luận của Trần Huy Liệu, có thể nói là đã đi ngược hoàn toàn với quan điểm của Trần Huy Liệu hay là của Đảng (Cộng sản) vào năm 1963.

Điều đáng chú ý là cuộc hội thảo này lại được chính giáo sư Phan Huy Lê đúc kết, ông Lê là một trong những vị giáo sư Sử Học có uy tín đứng hàng đầu trong nước Việt Nam Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã. Thêm một điều nưã cũng rất đáng chú ý là cuộc hội thảo được tổ chức tại tỉnh Vĩnh Long. Một trong những người ở địa phương  có trách nhiệm đứng ra tổ chức cuộc hội thảo này là Nguyễn Chiến Thắng, bí danh là Sao Vàng, lúc đó giữ chức vụ Thường Vụ Tỉnh Ủy-Trưởng Ban Tuyên Giáo tỉnh Vĩnh Long. Nguyễn Chiến Thắng là người được xem như là rất thân tín của ông Võ Văn Kiệt tại Vĩnh Long, quê hương của ông Võ Văn Kiệt, lúc đó đang làm Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng tức là thủ tướng chính phủ. Trong cuộc tọa đàm khoa học vào tháng 8 năm 2003, ông Võ Văn Kiệt mới tiết lộ thêm rằng hồi đó chính ông cũng có tham dự cuộc hội thảo vào năm 1994 tại Vĩnh Long.

Tuy Cụ Phan Thanh Giản là người tỉnh Bến Tre nhưng cho đến cuối thế kỷ thứ hai mươi thì nhân dân tỉnh Vĩnh Long vẫn tôn thờ cụ như là một bậc đại anh hùng, dù rằng cụ đã uống thuốc độc quyên sinh từ năm 1867 và Cụ vẫn còn được nhân dân Vĩnh Long thờ phụng tại Văn Xương Các ở thành phố này. Không những tôn thờ cụ Phan Thanh Giản, nhân dân Vĩnh Long lại còn tôn thờ cả hai người con của cụ nưã. Trong cuốn Khởi Nghiã Nam Kỳ ở Vĩnh Long, ngay phần mở đầu có viết rằng Năm 1867, Phan Tôn và Phan Liêm đứng lên lãnh đạo phong trào kháng Pháp ở Vĩnh Long, Trà Vinh cùng các tỉnh Bến Tre, Sa Đéc.   Hai ông Phan Thanh Tôn và Phan Thanh Liêm là con trai của cụ Phan Thanh Giản.

Tuy nhiên sau cuộc hội thảo này thì tình trạng vẫn như cũ, không có gì thay đổi cho đến năm 2003 thì mới có một cuộc tọa đàm khoa học  được tổ chức một cách trọng thể tại Sài Gòn với nhiều nhân vật rất có tên tuổi tham dự.  

Nhật báo Tuổi Trẻ cho biết rằng ngày 16 tháng 8 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Xưa & Nay, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Đồng Khoa Học Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức tọa đàm khoa học Thế Kỷ 21 Nhìn Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản. Cuộc tọa đàm khoa học này là một cuộc trao đổi tiếp theo hai cuộc hội nghị tổ chức vào những năm trước cũng nhằm đánh giá về nhân vật Phan Thanh Giản.

Tới dự cuộc tọa đàm có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, sinh viên sử học…, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng có mặt suốt cuộc tọa đàm.

Ý kiến đồng thuận chung là không thể coi Phan Thanh Giản là kẻ bán nước. Nhân cách của ông, cống hiến của ông cho đất nước đã chiếm được tấm lòng ngưỡng mộ của nhân dân miền Nam.

Đại biểu nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Bến Tre… nêu nguyện vọng là Nhà Nước nên xem xét và cho phép đặt lại tên đường Phan Thanh Giản, trường học Phan Thanh Giản, sưả chưã bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản trong các sách giáo khoa, giáo trình để đông đảo đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và đặt ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong đời sống văn hóa của nhân dân ta.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan

 

Giáo sư Văn Tạo, một sử gia thuộc Viện Sử học Hà Nội có đọc một bài nhận định, trong phần kết thúc ông đã đưa ra 5 điểm sau đây: Khẳng định cụï Phan Thanh Giản là một người yêu nước, thương dân…; cụ Phan thanh Giản không có ý đồ phản bội quyền lợi dân tộc mà muốn bảo vệ quyền lợi dân tộc,  công lao xây dựng đất nước của cụ Phan thật đáng ca ngợi; cụ là một trong những nhà yêu nước đầu tiên có xu hướng canh tân và việc ký hòa ước về 3 tỉnh miền Đông cũng như việc để mất 3 tỉnh miền Tây là sai lầm nhưng trách nhiệm về sai lầm đó là thuộc triều đình Tự Đức, cụ chỉ là người thưà hành và liên đới chịu trách nhiệm.

Nhân vật đáng chú ý nhất trong cuộc tọa đàm  khoa học này là ông Võ Văn Kiệt, cựu Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng…. Tuy ông Võ Văn

 

Kiệt đã về hưu trí và năm nay đã 82 tuổi nhưng vẫn còn có rất nhiều ảnh hưởng trong giới lãnh đạo ở trong nước, nhất là ở miền Nam, kể cả trong giới trí thức vì vợ của ông Kiệt là Tiến sĩ Phan Lương Cầm, giáo sư Đại học Hà Nội và là con gái của ông Phan Tử Lăng, một nhân vật từng giữ chức vụ cao cấp nhất về quân sự trong chính phủ Trần Trọng Kim vào năm 1945.

Trong cuộc hội thảo này, ông Võ Văn Kiệt đã đọc một bài nhận định dài 3 trang trong đó ông đã nói như sau:

Tôi có được dự hai lần Hội thảo về Phan Thanh Giản. Với tôi, lần thứ hai này đã cho tôi sáng tỏ nhiều điều.

Những gì mà tôi nghe được, đọc được từ những trang sử học, những gì mà tôi nghe được, biết được trong dư luận nhân dân, Phan Thanh Giản là người thương dân rất mực, trong sáng trong đời sống riêng tư, cần kiệm, liêm chính, hết mình trong công việc. Với tôi, đây là một tấm gương mà mỗi chúng ta nên suy nghĩ và học tập….

Trong phần kết luận, ông Võ Văn Kiệt nói rằng:

Cuối cùng tôi cũng muốn nhắc lại câu nói như một tuyên ngôn của Phan Thanh Giản khi biết chắc 3 tỉnh miền Tây đã rơi vào tay giặc: Phan Thanh Giản không thể sống ở nơi mà lá cờ ba sắc phất phới bay!

Với tuyên ngôn này và với những gì tôi đã trình bày, tôi khẳng định rằng: Phan Thanh Giản là một người yêu nước, thương dân. Vì yêu nước, thương dân mà lo không tròn bổn phận, cụ đã tự làm bản án cho chính mình: đó là cái chết.

Một cuộc đời thanh sạch, thật đáng để lại gương soi cho hậu thế.

            Sau cuộc tọa đàm tháng 8 năm 2003, tôi đã về thăm mộ Phan Thanh Giản và đốt nhang lạy hương hồn cụ. Và tôi cũng quyết định xây lại khu mộ phần và nhà thờ cụ bởi mộ cụ đã bị thời gian bào mòn qúa nhiều.

            Một lần nưã tôi khẳng định Phan Thanh giản là người yêu nước, thương dân, một phẩm cách đáng kính trọng, một tấm gương để cho mọi thế hệ suy nghĩ.

           

Đúng 40 năm sau cuộc hội thảo lần thứ nhất tại Hà Nội để kết tội cụ Phan Thanh Giản, cuộc toạ đàm khoa học hay hội thảo về nhân vật Phan Thanh Giản lần thứ ba này đã cho thấy có sự tiến bộ rõ rệt, có sự thay đổi trong cái nhìn của các hội thảo viên và họ đã đều nhất trí, thực sự nhất trí, trong việc thưà nhận lòng yêu nước thương dân của cụ Phan. Hai nhân vật đặc biệt là Giáo Sư Văn Tạo cũøng như ông  cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã dùng tiếng khẳng định, có nghiã là không còn gì để phải bàn cãi, thảo luận nưã, không thể nào chối cãi được cụ Phan là một nhà ái quốc, một người yêu nước, thương dân…

Ông Sáu Dân tức là cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã có hành động cụ thể trong lập trường này và ngày 15 tháng 8 năm 2003, ông đã hướng dẫn một phái đoàn mà người viết đếm được là 15 người (theo bức hình đăng trên báo Xưa & Nay) về thăm mộ cụ Phan Thanh Giản tại Ba Tri tỉnh Bến Tre. Ông Võ Văn Kiệt nói rằng ông đã đốt nhang lạy hương hồn cụ, một việc hiếm thấy nơi một người Cộng sản cao cấp  và ông cũng còn hưá là sẽ xây lại  khu mộ phần và nhà thờ cụ…

Những tin tức người viết nghe được từ Việt Nam cho biết ông Võ Văn Kiệt đã giữ đúng lời hưá đó vì nghe nói trong một thời gian rất gần đây, một buổi lễ khánh thành mộ phần và nhà từ đường mới thờ cụ Phan Thanh Giản sẽ được tổ chức rất trọng thể tại Bến Tre với sự tham dự của đông đảo quan khách và đồng bào các tỉnh miền Tây.

Lời hưá đó đã trở thành một phần sự thật khi đền thờ của Cụ Phan Thanh Giản được khánh thành vào ngày 4 tháng 5 năm 2004 tại Ấp Thạnh Nghiã, Xã Bảo Thạnh, Huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Báo Tuổi Trẻ số ngày 5 tháng 5 năm 2004 cho biết rằng ngôi đền thờ cụ Phan Thanh Giản mỗi bề 7 mét đã được khởi công từ tháng 10 năm 2004, tức là 2 tháng sau ngày diễn ra cuộc tọa đàm khoa học về Cụ Phan Thanh Giản tại Sài Gòn và đã hoàn tất vào tháng 2 năm 2004 với kinh phí là 185 triệu đồng Việt Nam, nhưng tờ báo này không cho biết nguồn cung cấp số kinh phí này từ đâu mà ra. Tuy nhiên ở phần cuối bản tin, báo Tuổi Trẻ nói rằng ông Dương Trung Quốc có cho biết rằng thực hiện công trình này là do chủ trương của Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam cùng với nổ lực đóng góp của nhân dân địa phương và gia đình của Cụ Phan Thanh Giản.

Báo Tuổi Trẻ còn cho biết thêm rằng ngoài ngôi đền thờ, một pho tượng của Cụ Phan Thanh Giản cao 2,1 mét cũng được dựng lên trước đền. Báo này cho biết thêm bức tượng này đã có từ trước năm 1975 và dựng ngay tại trung tâm thị xã Bến Tre nhưng lâu nay cất tại bảo tàng tỉnh vì bị hư phần chân tượng và chiếc mũ cánh chuồn.  Như vậy thì pho tượng của Cụ Phan Thanh Giản được nhân dân tỉnh Bến Tre dựng lên tại trung tâm thị xã trước năm 1975 và đã bị chính quyền Cộng sản hạ xuống rồi cất tại bảo tàng.  Cất có nghiã là giữ ở trong kho chứù không phải là được trưng bày trong viện bảo tàng cho công chúng chiêm ngưỡng, cho đến năm nay thì mới được mang ra để đưa về dựng lại trước đền thờ của Cụ Phan Thanh Giản tại quận Ba Tri. Đây cũng là một việc đáng mừng vì sau khi bị cất õ gần 29 năm, lần đầu tiên pho tượng của Cụ Phan mới được trả tự do và được đưa về dựng lại dưới ánh mặt trời tại nơi quê quán của Cụ.

Về phần quan khách đến dự lễ khánh thành này, theo báo Tuổi Trẻ thì đến dự lễ có đại diện của Tạp chí Xưa & Nay, ông Trần Công Ngữ, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bến Tre và chính quyền địa phương. Ngoài ra còn có ông Dương Trung Quốc, đại biểu Quốc Hội khóa XI, Ủy viên Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam.  Không thấy tên tuổi của một vị quan chức nào của trung ương từ Hà Nội hay Sài Gòn, không thấy tên ông Võ Văn Kiệt, cũng không thấy tên ông chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bến Tre đến dự lễ, có lẽ là các vị quan chức của Đảng và Nhà Nước đều bận công vụ gì đó cho nên không đến được. Tuy nhiên, dù có hay không có sự hiện diện của các quan chức cao cấp, việc khánh thành ngôi đền thờ và bức tượng của Cụ Phan Thanh Giản tại Ba Tri ngày 4 tháng 5 năm 2004 là một tin đáng mừng cho nhân dân tỉnh Bến Tre nói riêng và toàn thể miền Nam nói chung vì đây là lần đầu tiên từ năm 1975, nhân dân quận Ba Tri mới chính thức được phép chiêm ngưỡng pho tượng và ngôi đền thờ của vị tiến sĩ đầu tiên và cũng là vị anh hùng của miền Nam đã tử tiết cách đây gần 150 năm, một con người mà cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ca ngợi là người yêu nước, thương dân, một phẩm cách đáng kính trọng, một tấm gương để cho mọi thế hệ suy nghĩ.

Như vậy thì một vài kết quả của cuộc tọa đàm khoa học Thế Kỷ 21 Nhìn Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản tại Sài Gòn ngày 16 tháng 8 năm 2003 đã được thể hiện qua lời hưá hẹn và những việc làm của ông Võ Văn Kiệt, tuy nhiên, vẫn còn có một vài nguyện vọng khác chưa thấy được thực hiện. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Văn Khoan thì trong cuộc hội thảo này, nhân dân miền Tây còn có đòi hỏi thêm một vài nguyện vọng khác: đại biểu của nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Bến Tre … nêu nguyện vọng là Nhà Nước nên xem xét và cho phép đặt lại tên đường Phan Thanh Giản, trường học Phan Thanh Giản, sưả chưả bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản trong các sách giáo khoa, giáo trình để đông đảo đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và đặt Ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong đời sống văn hóa của nhân dân ta.

 **             *  

Một giải pháp có tính cách chính trị chỉ nhằm để giải quyết cho một số nhu cầu chính trị. Nhu cầu chính trị bao giờ cũng chỉ có tính cách giai đọan và đoản kỳ chứ không trường cửu trong chiều dài lịch sử của dân tộc.

Vì nhu cầu chính trị cần phải bảo vệ và củng cố quyền lực khi mới được cơ hội nắm giữ  quyền lãnh đạo guồng máy đảng Cộng sản và chính quyền tại Bắc Việt, vì nhu cầu chính trị cần phải đập phá khuynh hướng chủ hòa, khuynh hướng sống chung hòa bình sau Đại Hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô; cần phải loại bỏ những người có khuynh hướng chỉ nên áp dụng chiến tranh du kích ở miền Nam; cần phải loại bỏ ảnh hưởng của giới trí thức Nam Bộ tại miền Bắc cho nên tập đoàn Lê Duẩn-Lê Đức Thọ mới chỉ thị cho Trần Huy Liệu phải viết sử theo lối định đề và đã kết án Phan Thanh Giản là người trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghiã, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, cuả nhân dân, là phạm tội dâng thành hiến đất cho giặc và từ đó phủ nhận tất cả tư đức của ông như đức tính liêm khiết, lòng yêu nước, thương dân…vì công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể.

Vì nhu cầu chính trị cho nên ngay từ tháng 5 năm 1975 chúng ta đổi tên đường Phan Thanh Giản ở Thành phố Hồ Chí Minh thành đường Điện Biên Phủ và một số nơi, có người đề nghị xoá bỏ hay hạn chế  bớt việc duy trì và tu tạo những di tích lịch sử về Phan Thanh Giản. 

Vì nhu cầu chính trị này nên năm 1975, Ủy Ban Khoa Học Xã Hội của Đảng Lao Động dưới quyền chỉ đạo của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã phái hai nhà trí thức của Đảng là Giáo sư  Nguyễn Công Bình và Giáo sư Nguyễn Đổng Chi vào Sài Gòn với nhiệm vụ xóa tên cụ Phan Thanh Giản trên toàn thể lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

 

Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không còn nưãõ.  Đến nay, thử hỏi có bao nhiêu người trẻ tuổi tại Việt Nam và hải ngoại vẫn còn nhớ đến hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ?

Nhu cầu chính trị quá khích của họï thời thập niên những năm 1960 và 1970 cũng không còn nưã. Kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa xã hội là đế quốc Mỹ không những đã không còn nữa mà lại còn trở thành đồng minh vớùi nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, với sự đón tiếp hai vị tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và George W. Bush một cách vô cùng trọng thể và nồng hậu chưa từng thấy vào năm 2000 và 2006.

Những vị liệt sĩ, những vị anh hùng dân tộc thì dù có chết đã ngàn đời vẫn còn được người đời sau tưởng nhớ dù có bị chỉ trích, dù có bị đả kích, bị chà đạp, bị vùi dập đến đâu chăng nữa .

Phan Thanh Giản là một trong những người đó.

  

Cho đến chừng nào các nguyện vọng của nhân dân các tỉnh miền Tây trong cuộc tọa đàm khoa học Thế Kỷ 21 nhìn Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản mới hoàn toàn được thực hiện?

Cho đến chừng nào thanh thiếu niên Việt Nam mới được dạy dỗ về nhân vật Phan Thanh Giản như những vị anh hùng trong lịch sử khác mà các thế hệ cha ông của họ đã từng được học hỏi như vậy trên toàn quốc trước năm 1945 và tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975?

Cho đến chừng nào những người lãnh đạo tại Việt Nam mới cho phép sưả chữa bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản trong các sách giáo khoa, giáo trình để đông đảo đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và đặt Ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong đời sống văn hóa của nhân dân ta như nguyện vọng của nhân dân miền Tây?

Cho đến chừng nào người dân Miền Nam mới được nhìn thấy những con đường, những trường học được mang lại những tên cũ của các vị anh hùng dân tộc của một thời xưa cũ trong đó có cảù tên Cụ Phan Thanh Giản, một trong hai vị anh hùng của xứ Nam Kỳ vào thời thế kỷ thứ 19 mà cụ Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi:

 

Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ,

Trương Tướng Quân còn cuộc nghiã binh.

Ít người đặng xem tấm bảng phong thần,

Phan Học Sĩ hết lòng mưu quốc?

                                                                        

 Trần Đông Phong

                                                           

Nguyệt san Thế Kỷ 21, California, tháng 9 năm 2004

(Được bổ túc thêm trong buổi nói chuyện nhân ngày Kỷ Niệm 140 Năm Ngày Cụ Phan Thanh Giản Tuẫn Tiết tại Viện Việt Học, thành phố Westminster, California ngày 8 tháng 4 năm 2007.)

                                                              

                                      

      TAI LIEU:

Nguyễn Văn Trấn: Viết Cho Mẹ và Quốc Hội, Văn Nghệ, California

 Xuân Vũ: Sđd, trang 202.

 Vũ Thư Hiên: Sđd, trang 270: Bùi Công Trừng (1902-1977) là một nhà cách mạng Cộng sản thuộc lớp kỳ cựu, tốt nghiệp Đại học Phương Đông, Moskva, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản, cựu tù nhân Côn Đảo, Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa Học Nhà Nước đầu thập niên 1960.

 Nguyễn Văn Trấn: Viết Cho Mẹ và Quốc Hội, Văn Nghệ, California 1995. Trang  327-328.

 Vũ Thư Hiên: Sđd, trang 324.

 Vũ Thư Hiên: Sđd, trang 327.

 Xuân Vũ: Sông Nước Hậu Giang, trang 242-243.

 Vi Thanh: sđd., trang 287.

 Vy Thanh: sđd., trang 180-181.

 Vũ Thư Hiên: Sđd., trang 284: Những anh em tập kết kể trong miền Nam, Lưu Quý Kỳ là đệ tử ruột của cả Lê Duẩn lẫn Sáu Búa.

 Vy Thanh: sđd., trang 289-294.

 Xuân Vũ: Sđd, trang 198.

 Xuân Vũ: Sđd, trang 223.

 Vũ Thư Hiên: Sđd, trang31.

 Vũ Thư Hiên: Sđd, trang 231-232.

 Vũ Thư Hiên: Sđd., trang 33.

 Vũ Thư Hiên: Sđd., trang 478.

 Phan Thanh Tâm: Sau 30 năm lìa xa, nhật báo Việt Báo, Westminster California 6 tháng 3 năm 2007.

 Trần Hoài Thư: Về Một Ngôi Trường, Giai phẩm Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm 1997

 Phan Huy Lê: bài đã dẫn, Tạp Chí Bông Sen.

 Ban Tuyên Giáo Tỉnh Vĩnh Long: Ấn Tượng Võ Văn Kiệt, nhà xuất bản Trẻ, Sài Gòn, 2003. Trang 29.

 Nhật báo Tuổi Trẻ, Sài Gòn số ra ngày 18 tháng 8 năm 2003.

 Tạp Chí Xưa & Nay, Sài Gòn, Số 146, tháng 8 năm 2003.

 Võ Văn Kiệt: Những Suy Nghĩ Sau Hai Cuộc Hội Nghị về Nhân Vật Phan Thanh Giản, Tạp chí Xưa & Nay, Sài Gòn, Số 146, tháng 8 năm 2003.

 Nhật báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 5 tháng 5 năm 2004.

 Nhật báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 18 tháng 8 năm 2003.

 Giáo Sư Văn Tạo: bài đã dẫn, Tạp chí Xưa & Nay, số 146.

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=1916

Tài Liệu: Tại Sao Cụ Phan T Giản Bị CSVN Kết Tội – 2

Chính quyền Việt Nam trả sự thật lịch sử cho Cụ Phan Thanh Giản
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/03/28/Vn_government_returns_historical_truth_of_PhanThanhGian_TGiao/

March 22, 2008

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH TÀ ÁC VÀ BẨN THỈU CỦA CỘNG ĐẢNG VIỆT NAM

Ngay từ khi còn thai nghén, đảng Cộng sản Việt Nam đã là 1 chi bộ của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Bản chất của chúng đã là 1 lũ chính trị bán nước. Khi thành lập chúng làm gì có cơ sở. Bản thân Hồ Chí Minh và những tên tay sai phải chui rúc tại hang Pắc Bó. Chúng chỉ phụ họa theo làn sóng bạo lực cách mạng của Tầu Cộng, nối tiếp theo làn sóng đỏ của Các Mác-Lê Nin tại Liên Sô. Đây là bộ đầu não tạo đảo chính tại các nước trên toàn cầu, mà chính đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng chỉ là 1 chi bộ của Cộng Sản quốc tế, phải chấp hành theo lộ tuyến do Hồng quân Liên Sô vạch ra để cướp đoạt chính quyền bằng võ trang và bạo lực cách mạng.

Ở một đất nước có truyền thống văn hóa lâu dài, có nền văn minh nông nghiệp và lối sống bình dị, hiền hòa của người Việt Nam, thì việc gieo cấy tư tưởng Cộng Sản chẳng có chút gì ăn nhập hay thích hợp với dân tộc Việt Nam. Do đó, muốn gieo rắc tà thuyết Cộng Sản ngoại lai này, Việt Cộng phải tiến hành các kế hoạch bẩn thỉu, tạo ra một qúa trình liên tục tích lũy tà ác, bất lương, vô nhân tính nhất trong lịch sử nhân loại:

1- LỪA BỊP GIAI CẤP:
Đầu tiên chúng phải khoác lên cái vỏ bọc “đấu tranh giai cấp” để lừa bịp thành phần nông dân vô sản muốn vùng lên làm chủ đất. Tuyên Ngôn của đảng Cộng Sản Việt Nam là lấy mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp làm cơ sở cho quan điểm lịch sử và là cốt lõi “triết học” nông cạn của Việt Cộng, dựa trên quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất cổ điển. Chúng đã dự đoán phiến diện và thiển cận rằng chủ nghĩa tư bản sẽ bị diệt vong. Nhưng thực tế chỉ là một hình thức dùng “bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản cướp chính quyền” và sau khi cướp được, chúng lại áp dụng một thứ công thức quái gở với định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng qua kinh tế thị trường”, là một nối dài của tư bản chủ nghĩa. Chính bạo lực khiến con người trở nên bạo ngược, nên tà thuyết này của Cộng Sản đều bị con người khắp nơi chối bỏ. Thiên tính của con người là hiền lương, tẩy chay bạo lực, mà hệ thống Cộng Sản chủ trương lấy khủng bố làm cốt lõi, là chối bỏ truyền thống của nhân loại.

Dù chúng khéo che đậy đến đâu, cũng chỉ là nhất thời. Khi bị lộ tẩy, tất nhiên phải bị đào thải. Những khẩu hiệu “giải phóng toàn nhân loại” hay “thế giới đại đồng” của Cộng Sản cũng thu hút và lừa gạt được một số người. Nhất là những kẻ duy lý cực đoan, thù hận xã hội, hay có tham vọng muốn lập chiến tích để ghi danh với lịch sử. Tuy nhiên, vì quan niệm tà ác ấy có tiền đề là đối chọi thiên nhiên, lấy sức người thách thức tạo hóa, đưa ra những thứ hoang tưởng như “thiên đàng Cộng Sản” hay “làm theo sức, hưởng theo nhu cầu” khiến chúng mù quáng tin rằng hiện đại hóa sẽ đem lại tất cả, nên miệt thị gía trị văn hóa truyền thống, coi thường đạo đức dân tộc và ổn định xã hội. Cái vỏ “cống hiến vẻ vang” của Việt Cộng thật sự là cực kỳ phản động và tà ác, đã và đang đảo ngược quan hệ giữa con người, cắt đứt chính họ với gia tộc, tổ tông, phá nát huyết mạch truyền thống tích tụ hằng ngàn năm khiến đảng viên u mê hiến thân cho chúng tạo ra sức tàn sát, phá hoại của Cộng đảng Việt Nam.

2- DỐI GẠT QUẦN CHÚNG, NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO:
Vì tà ác, Cộng Sản luôn nói một đàng làm một nẻo và dối gạt quần chúng không ngừng. Để lợi dụng công nhân thì chúng đưa ra mỹ từ “công nhân tiên tiến”, “giai cấp lãnh đạo”, “đội quân tiên phong của cách mạng” v.v… Để lợi dụng nông dân, Việt Cộng đưa ra câu: “Nông dân là cốt lõi của chuyên chính vô sản”, “không có bần nông thì không có cách mạng” và hứa hẹn “nông dân làm chủ đất nước” v.v… ngay cả giai cấp tiểu tư sản. Khi cần họ quyên tiền ủng hộ thì Việt Cộng gọi là “bạn đồng hành cách mạng” là “tư bản ái quốc”, “Tư bản Dân Tộc”. Nhưng sau khi cướp được chính quyền thì cả tiểu tư sản hay nông dân, công nhân đều bị tước đoạt đến vô sản triệt đễ chẳng còn chút sở hữu nào cả. Thậm chí giới tiểu tư sản bị biến dạng thành “địa chủ” và bị mang ra đấu tố sát hại thẳng tay. “Cải Cách Ruộng Đất” để tiêu diệt giai cấp địa chủ và sau đó “Cải Tạo Công Thương” để diệt giai cấp tư bản “Dân Tộc” sau khi dùng giai cấp này để tố cáo giai cấp “phú nông”, “địa chủ bốc lột” hay “phản
động”.

Tất cả chỉ toàn là thuật ngữ do Cộng đảng tạo ra để qui tội hay lợi dụng một thành phần nào đó trong quần chúng và sau đó, chúng tiêu diệt tất cả để chỉ còn những con vật chỉ biết suy nghĩ theo những gì mà Cộng đảng muốn họ suy nghĩ hay làm những gì mà Cộng đảng muốn họ cung phụng. Cộng đảng muốn dân chúng phải suy nghĩ rằng: Nếu không có Cộng đảng, thì không có tiến bộ. Thật tế, tất cả thành qủa trong xã hội, trong đời sống là do sự nỗ lực làm việc của toàn dân, mà nếu không có sự bức chế của Cộng Sản, thì xã hội sẽ càng tiến triển khả quan hơn. Ngay như qúa trình lập quốc của Dân Tộc Việt Nam, không cần có Việt Cộng chúng ta cũng ngăn được giặc Minh, đánh tan giặc Ân, phá quân nhà Thanh. Nhưng từ lúc Hồ Chí Minh và Cộng đảng xuất hiện, dân ta lại trở thành nô lệ cho Tầu, đàn em của Liên Xô, những thứ “đàn anh vĩ đại” thô bỉ, tham lam vô đáy. Còn “đánh Mỹ cứu nước” xong, cả nước trở thành một nhà tù vĩ đại nhất trong Việt Sử. Tù tập trung và tù chưa tập trung đều giống nhau là không biết ngày mai, không biết tương lai, chỉ lao động quần quật như trâu, bò.

Khác nhau là tù tập trung thì có quản giáo kìm kẹp. Còn tù không tập trung thì do công an khu vực theo dõi và thêm trách nhiệm phải làm vừa lòng lũ chó săn khu vực để được an thân chăm lo tù tập trung bởi lương tâm và nhân tính bản thiện còn sót lại của truyền thống gia tộc. Tất cả đều trong tay sinh sát của Cộng đảng. Như lớp tôm cá nằm trong lưới và lớp tôm cá đã được chứa trong thùng. Nhưng tất cả đều là thận phận con mồi béo bở cho lũ Cộng đảng tùy tiện hút máu hay xẻ thịt.

3- XÚI BẨY NHÂN DÂN KÌNH CHỐNG NHAU:
Ngoài việc lừa dối để reo rắc thù hận, Việt Cộng luôn xúi bẩy nhân dân phân nhóm để đấu tố, kình chống nhau. Chúng gây oán hờn giữa chủ và thợ, gây căm phẫn giữa chủ đất và tá điền, đảo lộn tự nhiên hài hòa thành hỗn loạn, thù nghịch.
Việt Cộng học theo Tầu Cộng, chủ trương tước đoạt tài sản, vừa cướp vừa giết. Giết bản thân địa chủ rồi giết cả người nhà, rồi giết cả gia tộc của địa chủ phú nông. Chính những nông dân còn lương tính không muốn dự phần cướp đoạt, sát hại chủ điền bị Việt Cộng lên án là “xét lại” là “chưa đả thông tư tưởng”. Việt Công dụng công thức 10-1 theo cách 95-5 của Tầu Cộng. Chúng chia dân chúng ra 2 thành phần. 10 và 1. Ai rơi vào thành phần 10 thì tạm an toàn vô sự. Còn rơi vào thành phần số 1 thì bị coi như kẻ thù, cần phải thanh trừng. Vì sợ hãi và muốn an toàn nên người dân phải tự đấu đá nhau để được lọt vào thành phần 10.

Đấu đá này đã gây thù hận sâu sắc trong quần chúng. Đi từ các tổ dân phố cho đến toàn dân. Qua từng chiến dịch, Việt Cộng lần lần cô lập đối tượng, củng cố quyền lực và sau đó mới áp đặt nô dịch người dân càng ngày càng thâm, càng sâu. Ai cũng có thể trở thành một thứ “mật báo viên” không lương, không có quyền lợi, chỉ để được lọt vào thành phần số 10. Còn ai thuộc thành phần số 1 sẽ bị theo dõi, bị cô lập, bị khủng bố, bị áp đảo tinh thần và bằng những hình luật không có văn bản. Tương lai sẽ bị đưa vào các trại tập trung, các tù cải tạo không có ngày mai và không biết ngày về.

4- LƯU MANH LÀ CỐT LỎI CỦA CỘNG ĐẢNG:
Lấy kẻ lưu manh, ngu tối, cặn bã của xã hội thành lập đội ngũ cơ bản là khung thành của Cộng đảng. Những ngòi cách mạng thường xuất phát từ những phần tử này. Ví dụ “Công Xã Paris” do chính những kẻ sát nhân, tội phạm làm chủ chốt.
Thành phần này vốn là những tên đầu trộm đuôi cướp. Chúng không có ngày mai, không có tương lai để ngóng chờ, không có qúa khứ để luyến tiếc hay tài sản vật chất lẫn giá trị tinh thần để thương tổn, nên chúng thường là những tên dám làm, không chần chừ hay do dự, đắn đo.

Chính Mao Trạch Đông cũng đã thú nhận: “Lưu manh cặn bả là tầng lớp vất đi của xã hội, nhưng trong cách mạng nông thôn thì họ dũng cảm, kiên quyết, triệt đễ nhất” (Mao 1927). Theo sự dạy dỗ này của Tầu Cộng, những tên Đỗ Mười, Lê Duẩn là những phần tử xuất thân từ giới cặn bã này, đã được đưa vào Nam để gây rối, chọc thủng nề nếp nho giáo, phóng khoáng của miền Nam. Đối phó với lũ lưu manh này thường chỉ có những “anh hùng hảo hớn” hay hào kiệt phóng đãng mới khắc chế được.

Tiếc thay Đệ Nhất Cộng Hòa đã không có chính sách tùy cơ nên đã tảo thanh những lực lượng của Ba Cụt, Bảy Viễn, khiến những lá chắn cứng cáp này bị xuyên thủng. Do đó, những hành động vô lại như chửi thề, cưỡng hiếp phụ nử, dâm loạn với vợ cấp dưới, thanh trừng đẫm máu là chuyện thường sảy ra trong giới trùm Cộng đảng Việt Nam. Đối với người lương thiện thì nó thật kinh khủng và khiếp hãi. Nhưng đối với Cộng đảng thì đó là “tư cách”. Ngay sau khi chiếm miền Nam. Chính Nguyễn Hộ đã tuyên bố: “Vợ Ngụy ta chơi, con Ngụy ta sai, nhà Ngụy ta lấy, còn Ngụy thì đuổi lên rừng sâu nước độc cho tàn đời”. Đó là “chính sách” cốt lõi của Việt Cộng chứ không phải do cá nhân Nguyễn Hộ đề ra.

5- GIÁN ĐIỆP – LY GIÁN, MUA CHUỘC:
Ngoài những ngón nghề vô lại trên, Việt Cộng cũng thạo món gián điệp, phản gián, ly gián, mua chuộc. Thủ đoạn DỤ – DỖ – DỌA – DIỆT dùng nhà tù làm nơi gia nhập đảng, làm trại huấn luyện, là ngón nghề của Việt Cộng. Những cá nhân mà chúng nhắm tới thì đầu tiên chúng cho người tiếp cận, dùng lời ngon ngọt hứa hẹn, rũ rê (DỤ). Nếu ai vướng bẫy thì thôi. Còn như không nghe, thì chính chúng sẽ báo quan hay báo cho chính quyền sở tại vu khống cho họ là có quan hệ với Việt Cộng. Thế là họ bị điều tra, thậm chí bị tù đầy oan uổng do sự cứng ngắc, làm việc thiếu chính xác của chính quyền. Trong nhà tù, cán bộ Việt Cộng sẽ lân la an ủi, dỗ dành, tìm cách móc nối họ theo chúng (DỖ). Nếu họ bị lừa sụp bẫy thì thôi.

Còn như tuy ấm ức vì bị bắt oan, nhưng vẫn còn đủ lý trí để xa lánh Việt Cộng, thì khi những người này được thả ra, chúng lại mò đến dùng thủ đoạn dọa dẫm nếu họ không theo chúng, sẽ bị báo quan là có liên lạc với Việt Cộng, là điều cấm kỵ. Vì khi được thả ra mà còn tái phạm sẽ bị tù nặng hơn (DỌA). Do đó đành phải cắn răng bước theo chúng ngụp lặn dần trong hố tội lỗi, đọa đày ngày càng sâu nặng hơn không làm sao rút chân ra khỏi. Còn như tới giai đọan thứ 3 này mà ai còn không nghe theo chúng sẽ bị thủ tiêu ngay (DIỆT) rồi vu khống cho chính quyền trả thù, như một ná bắn hai chim.

Riêng ngón “gián điệp” đã được Việt Cộng học từ Tầu Cộng, qua sự chỉ đạo của Trần Canh, chủ nhiệm trường Đặc Vụ Trung Ương của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã từng dùng Tiền Tráng Phi là Bí Thư Cơ Yếu của Trung Hoa Quốc Dân Đảng báo tin tức hành quân cho
Lý Khắc Nông, cận thần của Chu Ân Lai. Hay Tầu Cộng đã cài Trung Tướng Lưu Phi, Thứ trưởng quốc phòng của Quốc Dân Đảng Trung Hoa làm mật báo cho Mao Trạch Đông, nên quân tình bị tiết lộ trước, khiến Tưởng Giới Thạch thua siểng liểng. Đầy tớ Hồ Chí Minh cũng chạy theo đuôi chủ, cũng cài Trung Tướng Nguyễn Bình vào Nam thực hiện ly gián các lực lượng võ trang của Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo. Tuy là đệ tử của Tầu Cộng.

Nhưng do Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam. Y là một gián điệp Tầu Cộng được cài vào gây chia rẽ, gây thảm sát Đông Dương, tiêu diệt sức kháng cự của những lực lượng yêu nước, nên Hồ còn ra tay ác độc hơn cả chủ. Y đã cho ám sát Nguyễn Bình để diệt khẩu. Cả Nguyễn Sơn, một tay du kích chiến lỗi lạc do chính Hồ Chí Minh phái vào Nam cũng bị y thủ tiêu trên đường triệu hồi về Bắc vì sợ uy tín của Sơn gia tăng, sẽ được Tầu Cộng tin dùng hơn, sau khi Sơn hoàn thành công tác phá vỡ các lực lượng du kích miền Nam. Hiện nay, Việt Cộng cũng đang ve vản người Việt tại hải ngoại qua những mỹ từ “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều thương nhớ quê hương”.

Mà trước đó, những Việt kiều này khi vượt biên mà bị chúng thộp được thì tàn đời. Một trong ngón bỉ ổi nhất mà Việt Công dùng để cài điệp, đó là CHỖ KÍN CỦA PHỤ NỬ. Theo tiết lộ của Thượng Tướng (VC) Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy Ban Quân Quản và Trung Tướng (VC) Đỗ Xuân Diễn, Tư Lệnh Quân Đoàn Trường Sơn, thì trong thập niên 1960, Việt Cộng thường đắp mô trên quốc lộ I chặn xe đò trong các khoảng đường gần miền rừng núi. Chờ đêm đến, chúng thả bộ đội ra hãm hiếp phụ nử để “hộ lý”. Đến sáng, khi Quân Đội VNCH đến giải tỏa thì chúng trốn về rừng. Trong số các thiếu nữ nạn nhân bị hiếp có người mang thai, phải gả lấy chồng gấp để tránh tiếng đẻ hoang. Sau khi sinh nở, thì Việt Cộng tại địa phương lần mò đến móc nối những thiếu nữ có chồng là sĩ quan hay quân đội đồng minh. Vì lo cho con mất cha, dù không biết cha của con mình là ai, những nạn nhân đó đã phải thông báo cho giặc những tin tức hành quân để chúng kịp thời đào thoát các cuộc truy kích hay dội bom. Đó là cách cài điệp bỉ ổi mà Việt Công cho là “tinh vi” nhất.

6- TRẤN LỘT NGƯỜI CÓ TÀI SẢN:
Việt Cộng còn dùng bạo lực để trấn lột những người giầu có tại địa phương để trả kinh phí, để nuôi đám công an khu vực như chó sói dòm mồi. Ngón bắt cóc, tra khảo, tống tiền là sở trường của chúng. Thủ đoạn dùng lợi nhỏ chiêu dụ và phân gián các tầng lớp nhân dân dưới những chiêu bài như “đả đảo địa chủ để lấy ruộng, giết phú hào để lấy nhà” hay “truy nã vượt biên để khảo của” là chuyện bình thường dưới mắt Việt Cộng, nếu không nói là chúng còn tự hào về những hành động côn đồ, bỉ ổi này. Nhiều gia đình bị bắt vì tội “vượt biên”, đã bị trấn lột, khảo của cho đến cạn kiệt tiền, da bọc xương. Khi được thả về đến nhà thì kiệt lực, tiêu tán tài sản, tàn hơi ngã chết.

Hệ thống công an khu vực LÀ MỘT MÀN LƯỚI theo dõi, áp đảo và trấn lột lưu manh nhất mà Cộng đảng sử dụng để khủng bố tinh thần dân chúng, biến nhân dân thành những bầy tôi trung thành, ngoan ngoãn dưới ách nô dịch của chúng. Vũ khí mà Cộng đảng dùng để trấn lột dân, duy trì hệ thống cai trị bạo ngược của chúng chính là hệ thống kiểm soát, mà “công an khu vực” chính là công cụ hữu hiệu nhất để đe dọa, áp đặt tinh thần “tuân thủ” lên mỗi người dân. Cho dù Việt Cộng có mâu thuẩn với chính nó hay liên tục thay đổi “chính sách” cũng không thành vấn đề. Vấn đề là đảng vẫn kiểm soát được nhân dân qua hệ thống công an khu vực và tổ dân phố. Sự kiểm soát này không dừng lại trong việc trấn lột, hành xác, mà còn tàn nhẫn bắt nhân dân phải sợ, phải tự hủy các khả năng suy nghĩ độc lập, phải co cụm nhát gan không dám mở miệng hay chỉ mở miệng lặp lại những gì chúng đưa ra, cung phụng những gì mà chúng để ý ham muốn.

7- TẢY NÃO DÂN CHÚNG:
Mục tiêu của Cộng đảng là tẩy não mọi công dân của nó để họ phải suy nghĩ và nói giống như đảng muốn, làm bất kể điều gì chúng tuyên truyền và phải biết cám ơn đảng vì nhờ đảng mới hưởng được những “ân huệ” này. Khi bạn được sử dụng như một phương tiện để tấn công người khác, dù là để tàn hại chính thân nhân của bạn, thì phải cám ơn đảng vì đảng đã đánh gía cao sự trung kiên của bạn. Khi bạn bị đả kích cũng phải cám ơn đảng vì đã giúp bạn phấn đấu, cải tạo. Khi bạn bị đả kích vì hiểu sai, sau đó đảng khôi phục cho bạn thì phải cám ơn đảng đã khoan dung. Những ai suy nghĩ ngoài phạm vi này thì đó là phản động, là tội ác với nhân dân. Tất cả thủ đoạn này được đưa ra để cầm tù suy nghĩ và áp chế tư tưởng của nhân dân. Sự ngu đần được đề cao là “chấp hành tốt”, hèn hạ, nhát gan được coi là “đã thông tư tưởng” và đề cao đảng như thần thánh, như cha mẹ, được gọi là “tiên tiến”. Cuối cùng, ai còn chút lương tri và lương thiện mà phải sống dưới móng vuốt Công đảng, đành phải tự che dấu nội tâm, đè nén suy tư, sống giả tạo với mọi người và lừa gạt chính họ mới có thể tồn tại.

8- PHÁ HOẠI TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC:
Ngón “phá hoại truyền thống và chế độ Quốc Gia” cũng là một trong những lộ tuyến của Việt Cộng. Nguy hiểm hơn nữa vì tuy là một đảng cướp. Nhưng Cộng đảng có tổ chức, có mục tiêu dài hạn và thủ đoạn có sách lược. Chúng không chỉ thuần thúy là một đảng cướp có vỏ trang, mà còn là một thứ vi trùng tấn công vào cơ thể nhân loại, công phá vào các tập quán, tư tưởng truyền thống của dân tộc dưới những chiêu bài “cách mạng”, “diệt cường hào, ác bá” để thanh toán các cấu trúc lâu đời trong nhân gian. “Cách mạng” theo nghĩa của Cộng Sản là bạo động, là dùng võ trang, bạo lực cướp chính quyền. Nhưng tập quán lâu đời của người nông dân Việt Nam là lối sống thâm tình, nồng hậu, hiền hòa và lương thiện. Họ rất yêu thương ruộng đồng, siêng năng cày cấy, vui với xóm làng, chan hòa với bà con lối xóm. Nếu không phá nát truyền thống khiêm cung, ôn hòa, an lạc này của nông dân, thì làm sao Việt Cộng có thể tạo được làn sóng sắt máu, dã man để đấu tố giết địa chủ cướp đất, cướp nhà nộp cho đảng. Còn kẻ đứng ra chỉ điểm hay hung hăng đấu tố giết người chỉ được tiếng là “tiến bộ” chứ không được chia chác gì cả. Mà đôi khi trong những đợt “cách mạng” kế tiếp, những kẻ này lại bị mang ra đấu tố với tội danh “phản cách mạng” hay “biến chất” để diệt khẩu.

Ngón phá hoại truyền thống lương tri và trật tự xã hội qua những “kinh nghiệm” triển khai của Cộng đảng càng ngày càng trở nên thâm độc. Nó diệt sạch tư tưởng, nhân tính và nề nếp xã hội có từ lâu đời, thay vào đó bằng cụm từ “lý tưởng cách mạng”; có nghĩa là chỉ có Cộng đảng mà thôi, không có Trời, không cần Đất, mà cũng chẳng kể đến liêm sỉ và lương tính. Có đảng thì “sỏi đá cũng thành cơm”. Nhưng đảng không ăn sỏi đá, mà đảng cần có cơm ngon, thịt ngọt và gái đẹp cung phụng. Với đảng thì “không có gì qúi hơn độc lập, tự do”. Quí cho đến nỗi không bao giờ người dân có được. Chỉ có đảng mới có “độc lập, tư do” quyết định, không cần dân ủng hộ, mà chỉ cần đàn áp để dân phải ngoan ngoản nghe theo. Nên nhớ Cộng đảng sẵn sàng thủ tiêu bạn vì bạn chống lại nó. Nhưng cũng có thể tiêu diệt bạn vì bạn ủng hộ nó, nếu nó thấy cần tiêu diệt ai, thì nó sẽ tìm cách tiêu diệt, dù là phải mềm dẻo, cận lân rồi mới tiêu diệt.

Do đó, ai đã sống với Cộng đảng hay biết chân tướng của nó đều kinh hãi Cộng đảng; vì với nó, tất cả chỉ là phương tiện để phục vụ cứu cánh duy nhất của Việt Cộng là quyền lợi và sự tồn tại của chúng.

9- DIỆT CHỦNG:

Một thủ đoạn khác của Việt Cộng là diệt chủng. Tất cả những qui trình của Cộng đảng đều xuất phát từ cơ sở lý luận diệt chủng đã học từ Tầu Cộng, đều là những chiến dịch khủng bố, mang tính diệt sạch mọi giai cấp từ trên xuống, để cuối cùng chỉ còn 1 giai cấp đó là giai cấp Việt Cộng sắt máu. Chúng dùng “tư bản DânTộc” diệt “tư sản mại bản”, dùng “tiểu tư sản” diệt “tư bản Dân Tộc”, dùng công nhân diệt tiểu tư sản và dùng nông dân để trấn áp công nhân. Cuối cùng chỉ còn tầng lớp thống trị với những nông dân “cách mạng”, là những tên vô học, dã man và sắt máu như kiểu Lê Duẫn, Đỗ Mười, là tầng lớp chí cốt của Cộng đảng.

Mỗi một chiến dịch của qúa trình Cộng đảng đều mang tính khủng bố, diệt sạch từng tầng lớp nhân dân. Từ khởi đầu, Việt Cộng đã cố hoàn chỉnh tư tưởng diệt chủng qua các lý luận có hình thức ngụy cách mạng như: “đấu tố giai cấp”, “đấu tranh cách mạng”, “bạo lực chuyên chính”, “vận động quần chúng” v.v…thực chất là chia dân chúng ra từng thành phần, rồi dùng số đông đè bẹp, tiêu diệt thiểu số.

Cuối cùng cả đám đông “quần chúng” chỉ là thân trâu bò, tôi mọi, không thoát được công an dòm ngó và họng súng canh chừng, sẵn sàng và dể dàng bị thanh trừng nếu dám thức tỉnh lương tri, mở mắt tìm hiểu sự thật về hoạt động của đảng. Hiện nay, do phải quan hệ với thế giới bên ngoài, để ve vản khách mua – bán, Việt Cộng không thể đưa những tên vô lại, dốt đặc cán mai ra nói chuyện, đành phải lôi cổ những tên có chút vỏ bọc có học như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết ra đánh bóng để lường gạt quốc tế. Như chúng đã từng nặn ra hình ảnh gỉa tạo của Hồ Chí Minh để chiêu dụ thế giới. May thay âm mưu này đã bị đồng bào chúng ta đập vỡ, đã vạch mặt tên Hồ Chí Minh chỉ là gián điệp Tầu Cộng giả mạo người Việt Nam với âm mưu thực hiện nhuộm đỏ Đông Nam Á.

Chính sự khám phá này đã kéo theo sự sụp đổ hệ thống “tư tưởng Hồ”, một thứ trò hề ăn cắp, đạo văn người khác. Tuy nhiên, dù đang là con rối cần thiết. Nhưng chính Nguyễn Tấn Dũng cũng bị răn đe không dám tự hành sự, phải chịu sự chỉ đạo của lũ gìa, dốt, khốn nạn trong nhóm quyền lực đảng. Còn Nguyễn Minh Triết, một tên dốt nát, từng mua bằng tú tài giả để xin gia nhập Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khóa 2 hầu trốn nghĩa vụ quân dịch. Bị phát giác đuổi khỏi trường, không còn chỗ ẩn náu nên y mới trốn vào bưng theo Việt Cộng. Thành phần này cũng có thể làm đến “Chủ tịch Nhà Nước XHCNVN” thì đủ hiểu gía trị của chúng tới đâu.

March 19, 2008

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh Với Âm Mưu Xuyên Tạc!

Vào lúc 7 giờ chiều ngày 19-9-2007 tại Andrew W. Mellon Auditorium – Washington, D.C., bà Dương Nguyệt Ánh, một khoa học gia người Mỹ gốc Việt, khi được vinh danh và nhận giải thưởng Sammies Services to America Medals, một giải thưởng cao quý dành cho các công dân Hoa Kỳ có thành tích xuất sắc, đã phát biểu:

“Ba mươi hai năm trước, khi đến đất nước này tôi là một người tỵ nạn chiến tranh với hai bàn tay trắng và một hành trang đầy những ước mơ tan vỡ. Tôi đã không bao giờ nghĩ sẽ có một ngày tôi được hân hạnh có mặt ở đây chung với quý vị, những công dân Hoa Kỳ ngoại hạng và những công chức tận tụy. Huy chương cao quý này không phản ảnh nhiều cho những thành quả khiêm tốn của tôi mà là phản ảnh của một thiên đường có tên gọi là Hoa Kỳ. Đất nước này là một thiên đường, không phải do nét đẹp hoặc sự giàu tài nguyên của nó, mà do người dân, những người Hoa Kỳ đầy lòng nhân ái, và hào phóng đã bảo bọc gia đình tôi 32 năm trước, đã hàn gắn vết thương trong tâm hồn chúng tôi, đã tái tạo niềm tin của tôi vào tình người, và đã thúc đẩy ý nguyện phụng sự quốc gia của tôi. Tôi muốn dành tặng huy chương này cho một nhóm người mà tôi hằng mang nợ… Đó là 58 ngàn chiến sĩ HK mà tên họ đã được khắc trên Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam và 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong cuộc chiến để cho những nguời như tôi có được tự do.”

Sau buổi lễ, ngoài hội trường, được hỏi về cảm nghĩ khi nhân giải thưởng, Dương Nguyệt Ánh đã cho biết: “Ánh rất vui mừng được lãnh một huy chương cao quý về An Ninh Quốc Gia. Ánh mặc áo dài là muốn tất cả người Mỹ ở đây nhận ra Nguyệt Ánh là một người Mỹ gốc Việt và Ánh mong chiếc áo dài của Nguyệt Ánh nhắc cho mọi người nhớ cái gốc Việt Nam của Ánh. Mặc dầu Ánh là công dân Hoa Kỳ nhưng Ánh không bao giờ quên mình là người Việt Nam .”
 Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh
 (By J Carrier, Washington Post)
Lời phát biểu khiêm nhường đầy ơn nghĩa trước cử tọa phần lớn là người Mỹ, và với chiếc áo dài truyền thống duyên dáng, Dương Nguyệt Ánh đã tạo được niềm tin cho các công dân Hoa Kỳ và tạo được niềm kiêu hãnh to lớn, không chỉ riêng cho bản thân, gia đình bà, mà còn cho cộng đồng Việt Nam tị nạn CS trên đất nước cưu mang mình. Con người nhỏ bé, với khối óc khoa học sáng tạo và trái tim ơn nghĩa cuả người phụ nữ Việt Nam mà Duơng Nguyệt Ánh đang thể hiện ở đây, đã trở thành luận điểm phong phú cho phạm trù xã hội và văn hóa tại hải ngoại.
Từ đây, người ta có thể liên tưởng đến nhiều người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, trong nhiều môi trường, nhiều lãnh vực chuyên môn khác nhau, đã và đang ngày đêm cống hiến cho xã hội, nơi mình cư ngụ những thành quả đáng kể trên đất nước tạm dung, khắp thế giới.
Lúc rời quê hương sau khi Cộng Sản Hanoi cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, Dương Nguyệt Ánh mới 15 tuổi cho nên nhận thức của bà qua thực tế bản thân về cuộc chiến và cuộc đời ở vào thời điểm đó, không đầy đủ như những người thuộc thế hệ trước. Đó là điều dĩ nhiên. Nhưng dù sao trong lời phát biểu khi nhận giải thưởng, bà cũng đã nói lên được thực tâm của mình về mối liên hệ mật thiết giữa thành quả đạt được ngày hôm nay với những hy sinh cao cả trong quá khứ của các chiến binh Việt-Mỹ. Những người đã bỏ mình trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lăng ngay trên quê hương của mình cách đây đã 32 năm. Điều này đã làm cử tọa vô cùng xúc động. Và bằng thái độ kính cẩn, họ đã đứng dậy vỗ tay khen ngợi không ngớt.
Cuộc chiến, mà Dương Nguyệt Ánh đề cập đến ở đây, là do Cộng Sản Hanoi chủ xướng với sự giúp sức tận tình của khối Cộng Sản Quốc Tế, người Mỹ gọi là “Vietnam War”, tuy đã lùi vào dĩ vãng hơn 3 thập niên, nhưng dư âm của nó chưa chấm dứt, chỉ vì người dân hiện nay sống dưới chế độ do bọn Việt Gian CS cầm quyền vẫn không được hưởng Tự Do, Dân Chủ. Cuộc chiến đó đã để lại cho lịch sử dân tộc những dấu ấn đậm nét. Nếu những người viết sử, viết sách, viết báo có lương tâm nghề nghiệp, biết tôn trọng thiên chức của người cầm bút, thì những trang sử, sách, báo, khi viết ra phải là những nguồn có giá trị, chắc chắn sẽ giúp cho các thế hệ đi sau có nhiều kinh nghiệm quý báu, sẽ tránh được những sai lầm nguy hại. Nhưng thật đáng tiếc, ngay từ thời chiến tranh Việt Nam còn đang tiếp diễn cho đến bây giờ, lịch sử vẫn bị một số bàn tay nhơ nhớp bóp méo sự thật.
Bài viết mới đây, với tựa đề “VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC” tung lên diễn đàn internet, tác giả Trần Chung Ngọc (TCN) viết về một cuộc phỏng vấn của ông Trương Sĩ Lương với bà Dương Nguyệt Ánh. Trong đó TCN đã chê bai ông Trương Sĩ Lương và lên án khoa học gia Dương Nguyệt Ánh về mặt “đạo đức trong hoạt động khoa học”. Thế nhưng TCN có thực sự muốn nhắn nhủ mọi người về mặt “đạo đức trong khoa học” hay không, hay chỉ muốn “nhân danh là một người cũng làm công tác khoa học” để lên mặt đạo đức giả, ganh tị tài năng với Dương Nguyệt Ánh và bôi nhọ cuộc chiến tự vê của Quân Dân Miền Nam trước 1975. (Xin quý vị kiểm chứng toàn bộ bài viết của TCN trong phần attachment đính kèm bên dưới.)
Qua phát biểu ngày 19-9-07 nêu trên, mọi người đều thấy khoa học gia Dương Nguyệt Ánh có lập trường Quốc Gia rõ rệt, vững chắc. Và qua sinh hoạt cộng đồng, bà đã xuất hiện nhiều lần và được xem là một trong số những người trẻ rất “nổi” và có uy tín trong hàng ngũ Quốc Gia tỵ nạn CS. Vì thế mà bọn VC nằm vùng ở hải ngoại coi đây là một cái “gai” cần phải chú ý và báo cáo về Hanoi . Chúng được lệnh phải tìm cách chiêu dụ và nếu không chiêu dụ được thì phải tìm cách “hạ” uy tín của bà xuống.
Bài “VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC” của TCN (xin mở attachment) là một phần nằm trong kế hoạch đó.
Người ta tin rằng: vì lập trường Quốc Gia vững chắc, vì lòng tự tin không gì có thể lay chuyển được, chắc chắn Dương Nguyệt Ánh sẽ còn bị bọn nằm vùng tung ra nhiều “đòn” bẩn khác nữa để hạ uy tín, chứ không thể ngưng lại ở bài viết này của TCN. Riêng đối với những vị “lão làng” trong cộng đồng tỵ nạn CS thì chẳng ai còn lạ gì những trò: khủng bố, bôi bẩn, vu cáo, tuyên truyền rỉ tai, viết báo xuyên tạc, mua chuộc bằng tiền bạc hay bằng cách này cách khác, v.v…đã có từ thời xa xưa cách đây hơn nửa thế kỷ. Những đòn bẩn thỉu này đến nay vẫn còn được coi là thượng sách của bọn Việt Gian Hanoi. Chỉ ngại cho các bạn trẻ, chưa có dịp tìm hiểu “độc kế” tuyên truyền, sẽ bị nhiễm độc, đưa đến tình trạng chia rẽ, nghi kỵ lẫn nhau.
Mục tiêu lâu dài của CS là nhắm vào việc lôi kéo lớp người trẻ ở hải ngoại về với chúng, nếu không lôi kéođược thì chúng sẽ tìm cách đạp đổ. Giả thử Dương Nguyệt Ánh chỉ hoạt động khoa học thuần tuý, không có trái tim nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của người Quốc Gia chân chính, không có khuynh hướng chống lại bọn Việt Gian CS, thì chắc chắn sẽ chẳng xảy ra chuyện bôi bẩn, chê bai như bài viết dưới đây của TCN. Qua con người của TCN, người ta càng thấy rõ hơn xã hội miền Nam trước 1975 đã chứa chấp biết bao nhiêu bọn bất nhân, bất nghĩa, bọn “ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS”, bọn nửa vời, bọn “thành phần thứ ba” nổi tiếng phản bội,… nên mới đưa đến nông nỗi mất quê hương như ngày hôm nay. Những tên vong ơn bội nghĩa của 32 năm về trước, ngày nay vẫn còn sống rải rác, lẻ tẻ, ẩn mình trong số những người tỵ nạn, đang chờ cơ hội để gieo cảnh “gió tanh mưa máu”, lợi dụng thời cơ gây cảnh chia rẽ, làm suy yếu phong trào yểm trợ cho Tự Do Dân Chủ đang diễn ra ở quê nhà. Đó là nghề chuyên môn của chúng đã có từ trước ngày mất nước và bây giờ còn đang tiếp diễn.
Nhìn lại ngày 11 tháng 9 năm 2001 trên đất nước Hoa Kỳ, bọn khủng bố đã tạo ra cái chết thảm khốc cho gần 3000 người vô tội đang làm việc tại thành phố New York, khi chúng đánh sập hai tòa nhà “World Trade Center”. Gần ba ngàn mạng sống, bỗng dưng biến mất đã kéo theo gần 3 ngàn gia đình vào cảnh tang chế, đượm màu thê lương trên khắp nước Mỹ, không khác gì màu thê lương trên quê hương Việt Nam vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 do CS Hanoi tạo ra. Trong thảm cảnh thê lương lúc đó: nào là con mất cha, mất mẹ; nào là vợ mất chồng, chồng mất vợ; nào là người thân mất nhau, thì: — Dương Nguyệt Ánh, người công dân Mỹ gốc Việt lúc ấy đang làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, đã được lệnh phải đi tìm một loại vũ khí để trừ khử loài rắn rết độc hại. Loài rắn rết độc hại này mang hình dáng của “con người”, đang chui rúc trong các ngóc ngách của vùng rừng núi hiểm trở và là thủ phạm chính đã gây ra “thảm họa 9/11″ tại New York — Và như mọi người đã thấy: loại bom “áp nhiệt” mà Dương Nguyệt Ánh cùng với nhóm sưu tầm, trong một thời gian ngắn, đã cho ra đời trong hoàn cảnh đó. Sự thực chỉ có thế, nhưng TCN và đồng bọn cảm thấy bất an, đã khuấy động lên thành đề tài “đạo đức trong hoạt động khoa học” nhằm chê bai chỉ trích Dương Nguyệt Ánh chỉ vì bà ta đã không đứng vào hàng ngũ của bọn khủng bố, bọn VC nằm vùng hay bọn “ăn cơm Quốc Gia thờ Ma CS”.
Nếu nhìn kỹ lại thì thấy loài “rắn rết độc hại 9/11″ này có đồng bản tánh với bè lũ Cộng Nô trước 1975. Bọn Cộng nô ở miền Nam Việt Nam trước 1975 cũng man rợ không kém, chúng thường đặt mìn, đắp mô,…giết hại dân lành. Bây giờ bọn Cộng Nô bị va chạm mạnh về mặt tâm lý, nên chúng phải lên tiếng bênh vực cho bọn “khủng bố 9/11″. Và để biện minh cho những tên tội phạm đang trốn tránh ở nơi rừng sâu núi hiểm, giống hệt hoàn cảnh của chúng ngày xưa. Chúng đã mượn ngòi bút của TCN, tên bồi bút của Việt Gian Hanoi lên tiếng đả kích, chê bai; lên mặt đạo đức giả để lừa bịp; đưa lời châm biếm lên các cơ quan truyền thông, internet để chế riễu Dương Nguyệt Ánh: nào là “Bà Bom”, nào là “bom là một vũ khí siêu khủng bố”, v.v…và v.v…
Đành rằng tuỳ theo quan điểm, nhận xét, nhận định; mỗi người có quyền tự do khi nói hay viết về một vấn đề. Nhưng nếu có lương tâm của người cầm bút thì sự thật của vấn đề cần phải được tôn trọng tuyệt đối. Không nguỵ biện để đánh lạc hướng, không bóp méo sự thật hay chỉ nói lên một phần sự thật.
Như mọi người đã biết, mục đích của bom “áp nhiệt” do Dương Nguyệt Ánh nghiên cứu, tìm ra là để truy tìm loài rắn rết độc hại, ẩn thân trong các khe núi hiểm trở, rừng sâu nước độc. Loại bom này không sử dụng ở nơi đông dân cư. Thế mà dưới ngòi bút lươn lẹo của TCN, đã biến nó thành một thứ “vũ khí siêu khủng bố”, hoặc biến những khu ẩn náu của bọn khủng bố dùng để tránh né bom đạn thành cái nơi “…không phải chỉ có những người Hồi Giáo khủng bố mà còn có các thường dân vô tội…”. Làm gì có thường dân vô tội nào ở chung với bọn khủng bố trong khe núi. Những người sống chung với bọn khủng bố trong khe núi, nếu không phải là phe cánh với khủng bố thì cũng là đám Cộng nô. Đám Cộng nô hèn hạ khi xưa thường lẩn trốn sau lưng phụ nữ, trẻ thơ, chùa chiền, nhà thờ, trường học…để tránh bom đạn mỗi khi bị truy lung, để dễ đổ thừa, vu cáo, tuyên truyền xuyên tạc cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như trường hợp của Kim Phúc chẳng hạn.
Thay vì dùng ngòi bút của mình để lên án bọn “khủng bố 9/11″ đã giết hại gần 3 ngàn người ngay trong thành phố mà chúng biết rất rõ là vô tội, thì TCN lại đứng về phía khủng bố và lên án người đã chế ra loại vũ khí truy tìm bọn khủng bố đang lẩn trốn ở những nơi rừng xa núi thẳm mà chúng đã chọn nơi đây làm sào huyệt để sẵn sàng tung ra các cuộc khủng bố kế tiếp. Như vậy, phải chăng TCN cũng có máu khủng bố hoặc ít ra cũng “đồng hội đồng thuyền” với bọn khủng bố, là loài rắn rết độc hại mà thế giới đang muốn trừ khử?
Phải chăng TCN muốn mọi người chối bỏ chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa, hòa hợp hòa giải với Việt Gian Cộng Sản, tuyên truyền bịt miệng giới trẻ, vô hiệu hóa các phong trào đòi hỏi Tự Do Dân Chủ đang diễn ra trong và ngoài nước khi đặt bút viết những dòng chữ hờ hững, mờ ảo, đượm vẻ châm biếm: “…Dương Nguyệt Ánh muốn các bậc phụ huynh phải nhồi vào đầu óc con em nhiệm vụ tiếp nối cuộc chiến Quốc-Cộng của trên 30 năm về trước, vinh danh chính nghĩa của VNCH qua hai chính quyền Diệm, Thiệu, và uy dũng của quân đội VNCH trong cuộc tháo chạy vì bị Mỹ phản bội…”
Như mọi người đã thấy, Chính Nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa là điều hiển nhiên, có thật, đáng được vinh danh. Chính vì thế mà mọi người đã và đang vinh danh Chính Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa trên khắp thế giới. Điển hình là quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vẫn ngạo nghễ tung bay ở khắp nơi trong suốt 32 năm qua. Trong khi cờ Việt cộng và hình Hồ thì không thể xuất hiện ở những nơi công cộng.
Còn nhiệm vụ “tiếp nối cuộc chiến Quốc – Cộng” là nhiệm vụ cần thiết hàng đầu hiện nay, cho dù thời gian có phải tiếp nối bao lâu, vì hiện tại trên quê hương Việt Nam vẫn còn bọn Việt Gian Cộng Sản cầm quyền. Quyền sống của con người hiện nay ở Việt Nam vẫn bị ngang nhiên tước đoạt. Họ không có quyền nói. Họ không có quyền viết. Dân oan đi khiếu kiện không được giải quyết, họ không nơi nương tựa, đang bị đàn áp tàn nhẫn. Phụ nữ và trẻ thơ vẫn bị đưa vào con đường mua dâm, bán dâm vì miếng cơm manh áo. Tự do tôn giáo vẫn bị chế ngự bằng thủ đoạn “quốc doanh hóa” để che mắt thế giới. Tệ nạn tham quan ô lại hầu như không có thuốc chữa.
Thật đúng như TCN đã nói: cuộc chiến Quốc-Cộng đã đi vào dĩ vãng trên 30 năm về trước. Chẳng ai muốn ôm chặt lấy quá khứ cay đắng đó làm gì. Thế nhưng TCN cần phải tìm hiểu sự thật: -Nguyên nhân của cuộc chiến đó bởi đâu? -Vì đâu? -Ai là thủ phạm chính đã gây ra cuộc chiến đó? –Đây mới là những mấu chốt lịch sử gay cấn mà TCN cần phải học hỏi và cần phải có óc phán xét công tâm thì mới phân biệt được đâu là chính, đâu là tà. TCN cũng cần phải học hỏi thêm nhiều về lịch sử xã hội để nhận biết: hai chính quyền Diệm, Thiệu cho dù có dở cách mấy đi nữa cũng vẫn còn hay hơn cái chính quyền man rợ mang danh “VNDCCH” trước đây và cái “CHXHCNVN” hiện nay rất xa.
Cái uy dũng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng là điều hiển nhiên và có thật, vì chính cái quân lực đó đã bảo vệ Tự Do cho nhân dân miền Nam suốt 20 năm qua, cũng là vấn đề mà TCN cần tìm hiểu thêm trước khi phát biểu hay viết lách để không bị cho là ngớ ngẩn. Còn tại sao người Mỹ lại bỏ dở cuộc chiến “Quốc-Cộng” ở Việt Nam là một đề tài chính trị rộng lớn, liên quan tới chiến lược toàn cầu, không thể giải thích trong vài ba trang giấy. TCN cũng cần nghiên cứu để thấy nó không dính dáng gì đến uy dũng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa cả.
Lịch sử còn đó, tài liệu lịch sử còn đó, nhiều vị lão thành nhân chứng của lịch sử còn đó. Nếu thực tâm muốn tìm hiểu sự thật về lịch sử, không mấy khó khăn. Đặc biệt ngày nay, rất nhiều người từ vùng đất gọi là “thiên đàng CS”, đã lánh sang các nước Tự Do Dân chủ, càng tạo điều kiện dễ dàng cho việc tìm hiểu lịch sử. Thế nhưng TCN đã không muốn tìm hiểu sự thật lịch sử, mà chỉ thích vu cáo. Đặc biệt là về giai đoạn chiến tranh Việt Nam , bọn CS gian manh chỉ muốn trút những nỗi bất hạnh lên đầu quân dân Việt Nam cộng Hòa mà không màng đến sự thật. Vì mang sẵn một định kiến nhỏ nhen, vì quyền lợi cá nhân thấp hèn, TCN đã tạo ra những đám mây mù che khuất sự thật lịch sử, nhằm gây hoang mang cho các bạn trẻ hải ngoại, bao che tội ác cho giặc Cộng, kéo dài sự đau khổ cho hơn 80 triệu đồng bào trong nước.
Lịch sử từ 1920 đến 1945 đã cho ta thấy: có rất nhiều đảng phái Quốc Gia nổi lên chống lại chính sách hà khắc của Thực Dân Pháp, giành độc lập chủ quyền cho dân tộc. Trong số đó, phải kể tên một số đảng chính trị nổi bật như: Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội của cụ Phan Bội Châu được thành lập ở Quảng Châu năm 1925, nhưng sau khi cụ Phan bị Lý Thuỵ (tức Hồ quốc tặc) phản bội và bị Pháp bắt, đã bị biến thành mặt trận Việt Minh và bị CS khống chế — Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Nguyễn Thái Học được thành lập ở Hà Nội năm 1927 — Đại Việt Quốc Dân Đảng của cụ Trương Tử Anh được thành lập ở Hà Nội năm 1939, v.v… Tất cả các đảng chính trị này đều có cương lĩnh khác nhau, nhưng tôn trọng lẫn nhau và hình như đã chẳng ai có tham vọng nắm giữ quyền lực, mà chỉ đưa ra các giải pháp tranh đấu cho quyền dân sinh, dân tộc, đánh đuổi thực dân Pháp. Chính vì thế nên đã bị lúng túng trước một đảng giặc gian manh, sắt máu, khi đảng này xuất hiện.
Đảng giặc gian manh chính là đảng CSVN, do Hồ quốc tặc tay sai đắc lực của Đệ Tam Quốc Tế CS thành lập và điều khiển từ1930, đã đưa chủ thuyết “Macxit-Lêninit” về Việt Nam gây ra cảnh tang thương, khốn cùng cho dân tộc. Từ khi lá cờ đỏ sao vàng, đại diện cho đảng này xuất hiện trên quê hương, luân thường đạo lý bị đảo lộn, lịch sử bị sửa chữa biến đổi tuỳ tiện, không màng gì đến sự thật. Vì thế mà nhiều người đã bị lầm lẫn về những tiêu mốc Lịch Sử, đặc biệt là về những năm tháng liên quan đến đảng giặc gian manh.
Nên nhớ rằng ngày 19-8-1945, Việt Minh (tức CS) cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim chứ không phải từ tay Pháp hay Nhật. Có nghĩa là dân tộc chúng ta đã có độc lập chủ quyền ngay từ trước ngày đảo chính Nhật 9-3-1945 với chính phủ Trần Trọng Kim chứ không phải đợi đến sau ngày 19-8 như CS thường rêu rao.

Xin đọc trích đoạn dưới đây lấy từ http://www.vietquoc .com/0007vq. htm để có thêm ý kiến:

VietNam’s Independence and Ho Chi Minh
Ghi nhận:
Báo trong nước (an ninh thế giới, công an “nhân dân”, …) cũng có vu cáo, bôi nhọ D N Ánh.

cs cung cấp hồ sơ thủ đoạn vu cáo của cs sau đây:
vc_boinho_dna.jpg

CAND.COM | Làm khoa học càng cần có đạo đức – Lam khoa hoc cang

March 6, 2008

Cuộc Chiến VN 30 Năm: Tư Bản – Cộng Sản: Kẻ Thắng Trận! Quốc Dân Hai Miền Nam Bắc: Kẻ Đại Bại !

Trần Đông Phong


Trong buổi nói chuyện hàng tuần dành cho quý bạn đọc của Vietnam Exodus, nhà biên khảo Trần Đông Phong kể cho chúng ta nghe những bí ấn chung quanh cuộc gặp gỡ giữa Chu Ân Lai và Kissinger vào năm 1971. Kissinger đã nói gì với Chu Ân Lai vào năm 1971? 2 ngày sau, Chu Ân Lai vội vã đi Hà Nội để làm gì? Chu Ân Lai nói gì với Hà Nội? Tại sao Chu Ân Lai nhắn nhủ Hà Nội là thời điểm tháng 05-1972 rất quan trọng? Thời điểm đó quan trọng như thế nào để tháng 04-1972, cộng sản Hà Nội xua quân qua vĩ tuyến 17 phát khởi trận Mùa Hè Đỏ Lửa? Nhà biên khảo Trần Đông Phong có dịp làm việc tại Tunisie – một quốc gia vùng Bắc Phi – sau năm 1975; người Tunisie khen HCM là anh hùng, ông Trần Đông Phong nói gì với họ? Xin quý bạn đọc theo dõi buổi nói chuyện.

Quý bạn đọc có thể đặt mua cuốn Việt Nam Cộng Hòa – 10 Ngày Cuối Cùng qua địa chỉ sau đây:

Tran Dong Phong P.O. Box 8524 Fountain Valley, CA 92728-8524
e-mail: trandongphong2006@yahoo.com Sách dày 458 trang, giá bán US$25.00

Tốc độ DSL/CABLE
Tốc độ 56K Modem
Tải Xuống Máy Nghe
Xin quý bạn đọc bấm vào đây để nghe tòan bộ buổi nói chuyện.
Xin quý bạn đọc bấm vào đây để nghe tòan bộ buổi nói chuyện.
Xin bấm vào đây để tải xuống máy nghe.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.