Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 5, 2008

Bài 5: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam

BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CSVN ĐÃ THÔNG QUA CHỦ TRƯƠNG “TỊCH THU TÀI SẢN” CỦA MỌI NGƯỜI ĐỂ CỨU CHẾ ĐỘ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ? DÂN CHÚNG VIỆT NAM NÊN TIN AI VÀ LÀM GÌ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG?

TS. Trần Minh Hoàng

 

Những tin tức của thế giới về “khủng hoảng” kinh tế ở Việt Nam diễn ra dồn dập.

Trong tuần lễ vừa qua từ 27 đến 31 tháng 5 năm 2008, đồng loạt trên các phương tiện thộng tin đại chúng có uy tín và lớn trên thế giới như : BBC, RFA, VOA, BLOOMBERG … đều đưa tin bài về các thông tin và nhận xét của các tổ chức kinh tế, tư vấn, ngân hàng, tài chính và các chuyên gia có uy tín trên thế giới đã đề cập và chính thức dùng từ “khủng hoảng” để đánh giá và nhận định về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đang xấu đi từng giờ, từng ngày…

Theo khái niệm về “khủng hoảng”, thì nền kinh tế của một quốc gia có tốc độ tăng trưởng âm trong 3 tháng liền thì nền kinh tế của quốc gia đó được gọi và đánh giá trước tiên là “suy thoái”. Sau suy thoái, nếu nền kinh tế quốc gia đó tiếp tục không tăng trưởng hay tăng trưởng âm tiếp theo nhiều tháng sau suy thoái với những dấu hiệu xấu, đi xuống từ tài chính, lạm phát, nhập siêu, sản xuất, tiêu dùng…và dẫn đến những tình huống xấu hơn, thì nền kinh tế quốc gia đó bước vào và được gọi khủng hoảng.

Trường hợp Việt Nam thì khủng hoảng kinh tế có thể khác hơn khái niệm và tiêu chí đánh giá khủng hoảng kinh tế như nói trên.

Việt Nam sự thật chưa phải là nền kinh tế thị trường thực sự như CSVN rêu rao và mọi người vẫn nhầm tưởng như vừa qua.

Nguyên do đường lối kinh tế Việt Nam là đường lối kinh tế kiểu cộng sản, một kiểu kinh tế thị trường XHCN nửa vời, mang nặng màu sắc cộng sản độc tài kinh tế, độc đoán kinh doanh, điều hành kinh tế theo kiểu đảng trị, vì mục đích cục bộ quyền lợi theo kiểu cộng sản, thiếu dân chủ, bưng bít thông tin sự thật về kinh tế.

Cho nên khi nền kinh tế quốc gia gặp khó khăn và “xuống dốc” sẽ xuống rất nhanh, mà không có gì để phanh hãm hay kềm giữ được, giai đoạn suy thoái có thể bỏ qua để kinh tế lao thẳng vào khủng hoảng do các tố thành nội tại của nền kinh tế đã tiềm ẩn từ lâu.

Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương tịch thu tài sản, hay nói theo ngôn từ hoa mỹ là “Trưng thu, trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân trong ngoài nước có trên lãnh thổ Việt Nam” khi có khủng hoảng xảy ra.

Ngay từ bài viết đầu tiên của loạt bài này, tác giả đã đưa ra nhận định khá chính xác về nguy cơ và nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam.

Do có quan hệ mật thiết và hữu cơ giữa kinh tế và chính trị trong xã hội, đặc biệt là ở thể chế cộng sản nên một khi có khủng hoảng kinh tế ắt sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị.

Những cuộc khủng hoảng ở các thể chế chính trị dân chủ khi có xảy ra khủng hoảng kinh tế hay chính trị chỉ đơn thuần dẫn đến sự thay đổi đảng chính trị cầm quyền này sang đảng chính trị khác, và chính sách kinh tế được thay đổi nhanh chóng cho phù hợp để đất nước vượt qua khủng hoảng dưới sự lựa chọn và quyết định của người dân, thông qua lá phiếu dân chủ.

Còn ở Việt Nam và chính thể cộng sản cầm quyền khi khủng hoảng kinh tế xảy ra sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị, lúc đó mọi điều xấu nhất và hoảng loạn đều có thể xảy ra?

Lý do trước tiên là mất lòng tin. Khủng hoảng lòng tin và sự hoảng sợ của quần chúng.

Điều này dưới chính thể cộng sản Việt nam đã tìm ẩn và chất chứa tự bao giờ rồi. Chính điều này sẽ dẫn đến:

Một là thay đổi thể chế chính trị: Đây là thời cơ tốt nhất để chuyển hóa dân chủ cho đất nước Việt Nam, thay đổi thể chế chính trị cộng sản độc tài và thay đổi đường lối kinh tế thị trường dân chủ thực sự cho đất nước. Những điều kiện cần và đủ để thực hiện việc thay đổi chính trị này trong trường hợp này ở Việt Nam sẽ ra sao ? (Chi tiết nội dung này sẽ được đề cập trong các bài tiếp theo).

Hai là để bảo vệ đảng cộng sản độc tài và chính phủ phi pháp do cộng sản Việt Nam lập nên hiện nay, hay nói cách khác là bảo vệ chính thể cộng sản. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ đưa nhân dân và tổ quốc Việt Nam vào một cuộc tỷ thí kinh tế chính trị tiếp theo hoặc khác nữa, sau cuộc thí nghiệm đầy nước mắt về kinh tế thị trường có định hướng XHCN sai lầm lần này mà cả dân tộc VN phải gánh chịu, trừ những tên cộng sản tham nhũng được hưởng lợi lớn lao.

Thông tin tối mật, mới nhất và độc ác nhất

Mới đây nhất để bảo vệ đảng và chính thể cộng sản VN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chính trị. Bộ chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam đã họp bí mật tại Hà Nội vào một đêm cuối tháng 5.2008 trước khi Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc và Nguyễn Minh Triết đi Châu Âu để thảo luận và thông qua chủ trương “Trưng thu, hay trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân”.

Việc trưng thu hay trưng mua tài sản của người dân hay doanh nghiệp lần này được giao quyền cho đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thực hiện .

Thực chất, đây sẽ là một kế hoạch cướp bóc có tổ chức qui mô lớn bằng bàn tay đỏ sắt máu của CS trong thế kỷ XXI”.

Mới nhất, kỹ lưỡng và nguy hiển lẫn tàn bạo nhất so với những kế hoạch tương tự mà CSVN đã từng có rất nhiều kinh nghiệm và đã làm sau 1945, 1954 và 1975 cho dân tộc Việt Nam và ngoại kiều ở VN lúc đó.

Mục đích chính đáng được ngụy biện đưa ra sẽ là để bảo vệ an ninh quốc gia, khi có khủng hoảng xảy ra. Thực chất hành động cướp bóc này là để bảo vệ thành quả cách mạng của đảng, để bảo vệ đảng CS và chính thể phi pháp CSVN hiện nay trước cơn khủng hoảng đang xảy ra.

Một quyết định quan trọng và được yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối do Trương Tấn Sang, Ủy viên bộ Chính trị, Thường trực ban bí thư trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị và được bộ tứ là Nông Đức Mạnh lẫn Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng bảo trợ tán thành hết mình. Trừ Phạm Gia Khiêm Bộ trưởng Ngoại giao còn chần chừ do lo ngại các quan hệ quốc tế WTO…. Quyết định quỷ quái hay còn gọi là quyết định Ngũ quỷ, do (5 người) quỷ quái chóp bu của CSVN hiện nay quyết định thông qua.

Một quyết định mang tính chất phi pháp, đậm màu sắc của kẻ cướp bóc, theo kiểu độc tài cộng sản và được giữ tối mật, đã được CSVN trù tính và quyết định xong vào cuối tháng 5 vừa qua.

Trước đó, vấn đề này CSVN cũng đã dọn đường pháp lý để chuẩn bị cho hành động phi pháp của mình bằng một Dự thảo luật đã được chỉ thị cho một Viện Nghiên cứu Pháp luật của Quốc hội và một Viện nghiên cứu tư pháp của Bộ Tư pháp chuẩn bị Dự thảo thành luật và dự định trình ra Quốc hội trong đợt này, nhưng tình hình chưa cho phép, nên CSVN đành cho hoãn lại.

Khi thông qua quyết định này, Bộ chính trị đảng CSVN đã tính đến khả năng thực hiện bí mật theo các qui định lãnh đạo điều hành đất nước của Đảng CS mà không cần có một Luật do Quốc hội thông qua.

Bất kể Luật Pháp quốc tế, Công ước quốc tế, Hiệp định đã ký kết với các nước, với WTO, Hiến Pháp 1992 vốn là Hiến Pháp phi pháp của Việt Nam và các Luật pháp XHCN khác trong nước do CSVN nặn ra trước nay

Nhưng dù không cần, không có luật, thì đảng Cộng sản và chính phủ cộng sản vốn phi pháp của Việt nam cũng có thể thực hiện bằng một nghị quyết của Bộ chính trị có thể ban hành và cộng bố trên toàn bộ hệ thống thông tin của mình vào cuối buổi chiều và được thực hiện ngay trong đêm ? Một quyết định mà Chính phủ phi pháp và quốc hội bù nhìn của CSVN phải chấp hành theo đúng cơ chế chính trị ở VN tất cả đều do đảng CS lãnh đạo.

Chúng ta cũng nên nhớ, với ưu thế độc tài, độc đảng, độc ác, CSVN hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì, dù phi pháp, phi nhân, phi nghĩa, như họ đã từng làm trong suốt lịch sử tồn tại của đảng CSVN vừa qua. Mục đích chỉ để họ (CSVN) được tồn tại, mà bất chấp tất cả.

Cứu kinh tế sụp đổ cứu dân tộc hay cứu đảng CS : Bộ chính trị đảng CSVN quyết định chỉ cứu đảng CS mà thôi, và sẵn sàng đưa đất nước và dân tộc vào thời kỳ lầm than mới dưới gót giầy và họng súng và nhà tù của cộng sản Việt Nam.

Họ chấp nhận quay lại bản chất cộng sản, không như mọi người nghĩ là họ đã từ bỏ khi hội nhập quốc tế và chấp nhận cuộc chơi , khi tha thiết vào WTO và tha thiết xin được hưởng Quy chế PNTR của Hoa Kỳ

Không nên tin vào những gì cộng sản nói

Điều này đa số người dân Việt Nam, nhất là những người có hiểu biết về suốt qúa trình hình thành đảng cộng sản và chiếm quyền lãnh đạo đất nước của cộng sản Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở miền bắc và 1975 ở miền nam và sau đó là cả nước.

Bản chất cộng sản muôn đời là lừa bịp nhân dân, mỵ dân chủ. CSVN đã từng lừa bịp và mỵ dân cả trong chính trị và kinh tế, như họ (CSVN) đã từng làm qua nhiều giai đoạn trong suốt quá khứ đến hiện nay. Và ngày nay vẽ ra đường lối kinh tế thị trường XHCN bản chất là kinh tế cộng sản thì thủ đoạn mỵ dân của CSVN tiếp tục mang ra để lừa bịp nhân dân và cả thế giới. Thực chất đó là nền kinh tế cộng sản, và nay qua thực tế đã lộ rõ bản chất đó là nền khi tế phi thị trường, phi dân chủ.

Những thông tin chính thức của chính phủ CSVN đưa ra cho công luận và được hơn 600 tờ báo các loại “là những cái lưỡi không xương” của CSVN chuyên tuyên truyền nói theo lãnh đạo CSVN. Và chỉ được tuyên truyền theo kiểu “nói láo” để gọi là đánh bóng chế độ CS.

Nói láo là nói chuyện không có, hay không đúng với sự thật. Nói láo trong chính trị có thể còn được, như CSVN đã từng thành công , nhưng nói láo trong kinh tế thì hậu quả là “ nhãn tiền”.

Nói láo : Trong khi cuối tháng 5.2008 CSVN đã nói láo khi đưa ra chỉ số lạm phát là 25,2% của tháng 5 so cùng kỳ năm trước. Con số này đã bị lãnh đạo CSVN “duyệt” và cắt bỏ để hạ xuống rất thấp, những mong trấn an và lừa bịp, mỵ dân cũng như thế giới, nhưng không qua được mắt của các chuyên gia kinh tế nước ngoài.

Ví dụ như ngài Martin Rama là chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam mới đây đã xác nhận lại khi trả lời báo chí bên thềm Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ và đầu tư vàoViệt Nam tại Hà Nội ngày hôm qua 02.06.2008, đã cho biết chỉ riêng gạo là mặt hàng chiến lược quan trọng hàng đầu cho người dân Việt Nam chỉ trong tháng 5 và mấy tháng đầu năm nay đã tăng hơn 80%. Và các mặt hàng khác theo đánh giá và thông tin lẽ tẻ trên các báo của CSVN đưa tin gần đây thì đã tăng ít nhất 40% đến 200%.

Chỉ số lòng tin và tín nhiệm vào chính phủ và kinh tế ở Việt Nam theo một tổ chức nước ngoài khảo sát mới đây cũng đưa ra con số mới nhất trong tuần qua từ 74% cuối năm 2007 đến cuối tháng 5.2008 xuống chỉ còn 37%.

Chúng ta cũng không quên, CSVN miệng luôn nói vì dân, nhưng đứng trước tình trạng giá cả sinh hoạt leo thang hàng ngày làm cho đời sống công nhân, nông dân, hay nói chung đa số người dân đang lâm vào cảnh cùng cực.

Đặc biệt là công nhân viên chức nhà nước cấp thấp cũng cùng chung tình trạng, nhưng chính phủ CSVN đại diện là Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội Nguyễn thị Kim Ngân đã hiển nhiên trả lời trước diễn đàn quốc hội CSVN ngày 31.05.2008 khi có nhiều đại biểu chất vấn về vấn đề nâng lương cho khu vực hưởng lương nhà nước để bù đắp cuộc sống khó khăn do giá cả leo thang thì được Bộ trưởng này trả lời theo toàn văn : “ Tôi chưa có suy nghĩ để đẩy nhanh lộ trình (tăng lương NV) ngay trong năm nay”, bà Ngân nói.

“Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi” đó là câu nói dân gian Viêt Nam có từ lâu đời để chỉ phường người ăn trên ngồi trước, vong ân bội nghĩa, nay lại hoàn toàn đúng đối với hàng ngũ lãnh đạo CSVN hiện nay trước tình hình giá cả leo thang và đời sống người dân và viên chức cấp thấp đang lâm vào cảnh bần cùng.

Đến nay số hộ dân thiếu đói do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tăng lên gấp đôi cùng kỳ năm trước và đang tăng nhanh hàng ngày, theo nhìn nhận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ CSVN Nguyễn Xuân Phúc. Đến 58 huyện trong cả nước có tỷ lệ người dân đói nghèo trên 50%, theo báo cáo của Chính phủ CSVN trong tháng 6.2008.

Những cuộc bãi công chính đáng của công nhân khắp nơi trong cả nước gần đây để đòi quyền lợi với giới chủ nhằm đòi thêm lương bổng để bớt đói khổ, thì được chính phủ cho phép lực lượng công an, kết hợp bảo vệ và câu kết với lưu manh côn đồ bên ngoài đàn áp đánh đập dã man và bắt bớ bỏ tù nhiều công nhân. Với mục đích để giữ vững ổn định kinh tế chính trị?

Lừa bịp quốc tế và mỵ dân về dân chủ song song với kinh tế

Thứ trưởng Bộ công an CSVN Nguyễn văn Hưởng trong cuộc làm việc và đối thoại về nhân quyền với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Kramer trong ngày 30.05.2008 tại Việt Nam vừa qua đã “dạy” cho Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về luật pháp kiểu CSVN, khi ông Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ hỏi về những trường hợp công dân VN bị bắt bớ giam cầm. Cụ thể như hai nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, cũng như trường hợp của Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân hay Luật sư Bùi Kim Thành. Ông Hưởng, Thứ trưởng công an CSVN bảo rằng : “Quan điển chung của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản rằng Việt Nam là một đất nước có chủ quyền và có luật pháp, và việc bắt giữ bỏ tù công dân đều theo pháp luật” , toàn văn BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080602_usvietdialogue.shtml

Việc bắt giữ phi pháp và gán ghép tội lệ cho những tù nhân nói trên thì mọi người và công luận đã rõ. Sự thật đó là những hành động chụp mũ, mà công an cộng sản VN đã quen làm, để đàn áp những tiếng nói dân chủ xây dựng đất nước. Một thứ dân chủ thực sự mà cộng sản VN không bao giờ chấp nhận, cũng như một nền kinh tế thị trường thực sự, hay kinh tế dân chủ thực sự thì cộng sản Viêt Nam đã, đang và sẽ không bao giờ chấp nhận theo “lý luận cùn”, theo thứ triết lý bịp bợm của họ ?

Việt Nam thực sự có chủ quyền không qua vụ việc Hoàng Sa Trường Sa với Trung Quốc mới đây? Mọi người cũng đã biết rõ rồi.

Luật pháp XHCN của Việt Nam theo ông Thứ trưởng bộ Công an CSVN Nguyễn văn Hưởng nói với Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 30.05.2008 là thứ “luật pháp cộng sản”, một loại luật pháp “phi dân chủ”.

Với thứ “luật pháp cộng sản” này, CSVN và cả hệ thống chính trị ở VN hiện nay đã thừa nhận là mục đích và bản chất của nó là để bảo vệ đảng và chế độ phi pháp do đảng CSVN nặn ra, hay thường gọi là “Luật pháp XHCN”. Luật pháp này không nằm trong các khái niệm về luật pháp của thế giới cho các quốc gia và dân tộc hiện đang có mặt trên thế giới hiện nay, mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ cho một nhón nhỏ theo cộng sản trong nước và không phải luật pháp để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ công dân.

Thực chất luật pháp XHCN hiện nay ở VN là một thứ luật pháp “phi pháp”, được sản sinh ra chỉ để bảo vệ cộng sản, hay nói đơn giản là “luật rừng xanh”. Không phải là luật pháp của một quốc gia hay của một dân tộc có độc lập chủ quyền và tự do dân chủ thực sự.

Luật pháp thông thường phải đại diện cho quyền lợi quốc gia dân tộc, cho ý chí nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Nhưng luật pháp gọi là XHCN của CSVN này do bản chất và mục đích của nó chỉ phục vụ cho hơn 3 triệu đảng viên CSVN, thì không thể nào đại diện cho Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam được.

Vậy mà thứ luật rừng này đã được lãnh đạo CSVN đưa ra rêu rao khắp nơi, hết lừa bịp mỵ dân VN, nhân dân và lãnh đạo nhiều nước, tuần qua lại được lãnh đạo Bộ công an Việt Nam đưa ra “giảng giải” cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, trước mặt Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Michael Michalak.

Đúng là cộng sản. Trước sau, trên dưới, trong ngoải thì bản chất vẫn là cộng sản, là bịp bợp, khoát lác, bất kể lẽ phải, sự thật.

Tin ai và nên làm gì lúc này?

Lòng tin là một thứ vô hình, nhưng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống.

Chỉ lòng tin. Tôi không nói đến đức tin, vì đức tin trong tôn giáo là điều tốt đẹp.

Lòng tin phài có cơ sở và điều kiện cần thiết để hình thành.

Càng hiểu biết sâu về cộng sản thì lòng tin chẳng những không còn, mà thay vào đó là lòng oán hận. Oán hận ít nhất do đã bị cộng sản lừa bịp…

Oán hận là một thứ để phán ảnh lòng tin bị phản bội, và là sự trừng trị lòng tin khi bị kẻ khác lợi dụng hay ăn cắp mất.

Với CSVN, thì lòng tin vào CS có lẽ nhiều người không lạ, mà phần trên của bài viết này cũng chỉ bổ sung thêm một phần nhỏ.

Trước bản chất và hành động độc tài gian xảo trong suốt thời gian dài vừa qua cho đến mới ngày hôm qua đây, có lẽ lòng tin dành cho CS sẽ tùy mọi người nhận thức và quyết định.

Nhưng với kinh tế và quyền lợi thiết thân của mình, cũng như dân gian nói “ đồng tiền đi liền khúc ruột”, thì mong rằng có dịp mọi người dân Việt Nam, cả những nhà đầu tư và công dân nước ngoài có quan hệ kinh tế làm ăn tại Việt Nam có dịp suy nghĩ.

Tác giả bài viết này không có ý định kêu gọi mọi người tin ai, tin nguồn thông tin cụ thể nào cả. Vì mọi người có thể tự tìm cho mình những thông tin khả tín trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay.

Hiện nay, đứng trước khủng hoảng. Điều qua trọng chúng tôi muốn nói là mọi người không nên nghe theo những thông tin một chiều, bị bưng bít, cường điệu do cộng sản VN đưa ra, thông qua bộ máy thông tin của họ.

Về việc nên làm gì trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam:

Chúng tôi chỉ xin được phép nhắc nhở mọi người rằng : hãy tự tỉnh táo để bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình trước cơn khủng hoảng kinh tế này.

Việc bảo vệ này không đi đôi với những gì mà chính phủ CSVN đưa ra kêu gọi mọi người hưởng ứng, vì đó chỉ là những sự lừa bịp, qua mặt mọi người tiếp theo, những mong cứu giúp cho CSVN kéo dài thêm sự sụp đổ về kinh tế và chính trị, để tiếp tục thực hiện các tội ác với tổ quốc và nhân dân VN, mà chắc chắn sẽ không bao giờ giải quyết được cái gốc vấn đề là giải quyết khủng hoảng kinh tế được trong lúc này.

Những việc quý vị có thể tự làm để bảo vệ quyền lợi của mình, và làm nhanh không chần chừ, nhỡ lỡ cơ hội và thiệt hại cho quyền lợi của bản thân. Đó là:

1. Nên rút hết tiền đã gởi ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam ngay:

Mọi người hãy rút toàn bộ những khoản tiền để dành, tích lũy hay kinh doanh ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam, nếu không muốn bị CSVN lấy đi hết trong những ngày sắp tới. CSVN sẽ lấy tiền của mọi người bằng cách gì ? Đơn giản họ chỉ cho phá giá VND và đổ thừa cho lạm phát, thì giá trị thực của đồng tiền và tài sản của quý vị sẽ giảm đi, hay mất đi tức thì chỉ trong 1, 2 ngày nhanh chóng. Có thể mất là 50, 70 hay 90% giá trị tài sản chỉ qua một đêm, hay chỉ trong một vài ngày.

Chẳng hạn như: chỉ sau 3 tháng thì giá trị tài sản của những người đầu tư chứng khoán ở Việt Nam đã mất đi 70% và còn tiếp tực mất đi nữa. Do thị trường chứng khoán VN bị sụp đổ. Hay tài sản của những người đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam, chỉ sau 3 tháng qua cũng đã bị mất từ 60 đến 80% tùy trường hợp. Do 2 thị trường này sụp đổ hoàn toàn mới đây. Điều này sẽ kéo theo Thị trường tài chính ngân hàng ở VN cũng sẽ sụp đỗ trong nay mai. Đó chính là sự thật và lời khuyên cho quý vị ở phần này.

2. Nên mua ngay vàng hoặc ngoại tệ có giá và chuyển sang gởi các ngân hàng nước ngoài để giữ tài sản: Để bảo đảm giá trị tài sản của mình, khi rút hết tiền ở các ngân hàng Việt Nam ra quý vị nên mua lại vàng, hay các loại ngoại tệ có giá khác để giữ, và gởi vào các ngân hàng nước ngoài.

3. Tuyệt đối không tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam: Không mua công trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán, hay tham gia vào canh bạc là Thị trường chứng khoán của Việt Nam vì nó đã đang đổ vỡ thực sự và còn tiếp tục bị chôn vùi sâu hơn, không còn mấy cơ hội gượng dậy nữa.

4. Không gởi tiền, vàng (cả ngoại tệ) vào các ngân hàng Việt Nam nếu vì tham lãi suất cao:

Đây là chiêu dụ lãi suất cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam để lừa mọi người đưa tiền hay tài sản vào để ngân hàng được thoi thóp sống, trong khi đồng tiền VN mất giá nhanh và quý vị sẽ không lấy ra được khi diễn biến kinh tế xấu hơn, lúc đó VND mất giá, quý vị sẽ bị thiệt, thậm chí trắng tay. Như đã đề cập ở phần 1 trên đây.

Chưa kể khả năng nhà nước CSVN sẽ truy tìm và tịch thu hay gọi với từ ngữ hoa mỹ hơn là “trưng thu hay trưng mua” các tài sản của quý vị phục vụ cho lợi ích .. quốc gia trá hình của CS mà chính phủ CSVN có thể biết và kiểm soát được.

Do cần phân tích sâu và cập nhật tình khủng hoảng kinh tế của Việt Nam cho bạn đọc trong nước nên các nội dung về khủng hoảng chính trị Việt Nam xin được tiếp tục trong các bài viết tiếp theo của loạt bài này.

TS. Trần Minh Hoàng
Sài gòn, ngày 03.06.2008

Nguon: http://tiengnoitudodanchu.org   

May 13, 2008

Tuần làm việc trước ngày 29/4/08 của PV Hải với công an “nhân dân”

Tối hôm Thứ Sáu, tôi nhận một cuộc điện thoại của anh Trường Giang (từ Vương quốc Anh). Anh cho biết có nghe tin một blogger bị đàn áp vì các bài viết trên blog nên đã phone để hỏi thăm.

Tôi cảm ơn anh Trường Giang và tất cả mọi người trong nước cũng như hải ngoại đã quan tâm và chia sẻ cho chủ nhân của trang blog này. Đồng thời, tôi cũng đính chính là không phải bị đàn áp, chỉ được “mời lên làm việc” và bị thu giữ một số thiết bị computer.

Mặc dù rất ngại ngồi viết bài ngay tại dịch vụ NET công cộng, nhưng tôi nghĩ nên có một bài tường thuật về tuần làm việc trước ngày 29/4 với cơ quan an ninh.

Cố gắng này của tôi chỉ để rộng đường dư luận, hy vọng là không vi phạm nghị định nào của Nhà nước!

7:58 sáng 22/4/2008, tôi có mặt tại phòng đợi trước cổng CA Tỉnh Khánh hòa (80, Trần Phú, NT) theo giấy mời trước đó 4 ngày.
Vài phút sau, một anh còn rất trẻ mang quân hàm thiếu úy đến và đưa tôi lên thẳng Phòng Bảo vệ chính trị PA38.
Tôi được gặp người mang quân hàm Thượng tá, tôi nhìn bảng tên và thấy đúng như đã ghi trong giấy mời. Ngày làm việc bắt đầu.

- Anh có biết chúng tôi mời anh lên đây vì chuyện gì không?
- Không. Tôi không biết. Trong giấy mời chỉ ghi là lên làm việc…
- Tôi biết. Nhưng anh có đoán là vì chuyện gì không?
- Đoán thì khó chính xác, nhưng tôi nghĩ là vì các bài viết của tôi trên mạng.

Tôi quan sát kỹ người đối diện, vị Thượng tá này tóc đã hoa râm, chắc khoảng chừng trên dưới 50. Tôi đoán tuổi rất kém nhưng cũng cố đoán vậy.
Ngoài ra, trong phòng còn có một nữ CA còn rất trẻ ghi biên bản và 3 người khác đều mang hàm Trung tá. Về sau có thêm một người khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ cấp bậc. Suốt buổi làm việc, họ luân phiên hỏi tôi rất nhiều câu hỏi liên quan đến các bài viết trên blog.

- Anh có thấy các bài viết của mình gây hậu quả như thế nào không? – Vị Thượng tá tiếp tục hỏi.
- Tôi thấy các viết của mình không có gì sai trái cả. Đó chẳng qua là quan điểm cá nhân của tôi và tôi thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Giọng ông ta bắt đầu hơi gắt lại:
- Thế mà anh bảo không có gì sai? Anh có biết nó đã gây xôn xao dư luận như thế nào không?
- Tôi chỉ nêu những sự kiện có thật và viết theo cảm xúc của mình, còn hiểu nó như thế nào, tốt hay xấu là do nhận thức của người đọc. Tôi không biết được.

Đến phiên làm việc của một anh Trung tá khác còn trẻ, dáng người đậm và chắc.
- Đây có phải là các bài viết của anh không?
Tôi nhận một xấp giấy cỡ A4 in một số bài viết từ blog của mình.
- Nếu đúng thì anh hãy ghi rõ vào từng tờ: “Bài này do tôi viết và đưa lên mạng”, rồi ký và ghi đầy đủ họ tên vào đó!

Tôi bắt đầu viết và ký vào từng tờ. Đến bài “Tôi tự hào mình được gọi là ‘phản động’”, tôi nói: – Bài này không đủ, còn mất một đoạn sau!
- Phòng bên có máy vi tính nối mạng, anh sang đó tự mình in lại và ký!

Từ phía đầu bàn bên trái, vị Thượng tá bỗng nhiên hỏi:
- Anh có biết trình độ lập trình như anh ở Nha trang này có khoảng bao nhiêu người không?
- Không có số liệu nào thống kê, nên tôi không thể biết được!
- Thật uổng công nhà nước và bố mẹ cho anh ăn học đến trình độ như thế mà anh lại…
Tôi bắt đầu hơi mất bình tĩnh và ngắt lời:
- Chính vì tôi được ăn học đàng hoàng nên tôi mới chường mặt ra để viết những bài như vậy. Nếu không thì ngư dân bị bắn chết như thế nào, đảo bị chiếm làm sao tôi cũng không thèm quan tâm.

- Theo anh đánh giá thì các bài viết của anh có ảnh hưởng như thế nào?
- Tôi nghĩ sự thật hay mất lòng, tôi viết quá thẳng thắn nên có thể đụng chạm, mất lòng ai đó…
- Cụ thể là ai?
- Trước mắt là anh và anh, tôi chỉ vào hai người ngồi đối diện!
- Không phải là chúng tôi mà là Chính phủ, là Nhà nước này!
- Đành chịu thôi vì đó là cảm xúc thật của mình, tôi không nói khác được!

Đến phiên một vị Trung tá khác hỏi tôi, nhưng chỉ là những câu hỏi xã giao về nhân thân và gia đình. Chỉ có một câu mà sau này ngẫm lại tôi mới biết đó chính là sự chuẩn bị cho việc khám xét nhà tôi vào cuối buổi chiều hôm đó.

Lại đến phiên làm việc của một người khác, bây giờ phòng đã có thêm một người mà tôi không nhớ rõ cấp bậc như đã nói ở trên. Vì họ luân phiên hỏi, nên từ đây về sau trong bài tường thuật, tôi không thể nhớ rõ chính xác ai đã hỏi mình – tạm dùng danh xưng chung là “bên an ninh”.

- Anh tự hào mình là “phản động” lắm hả? Có gì đáng tự hào anh nói xem!
- Chuyện đó tôi đã phân tích rất rõ ràng trong bài viết trên blog!

- Các bài viết của anh dùng toàn là những từ nhạy cảm, “điên đảo” như thế nào mà anh dám gọi cái xã hội này điên đảo?
- Tôi thấy nó điên đảo thì tôi gọi là điên đảo!

Bên an ninh bắt đầu lớn tiếng:
- Anh phải nói rõ! Cụ thể ra!
- Cái này mấy trăm tờ báo trong nước đã nói quá nhiều. Tôi chỉ đơn cử một lĩnh vực là giáo dục: giáo dục tuột dốc như thế thì xã hội không điên đảo là gì?
- Chỉ một mặt cỏn con thế mà anh dám đánh giá cả xã hội này?
- Còn nhiều mặt nữa như tham nhũng, hối lộ… nhưng vì trước đây tôi đã từng là thầy giáo nên tôi chỉ nhấn mạnh vấn đề giáo dục. Theo tôi nghĩ, giáo dục là cái gốc của xã hội…
- Anh đã từng là thầy giáo mặc kệ anh, không thể vì một mặt nhỏ mà đánh giá cả xã hội được!
- Nhưng đó là nhận thức của tôi!

- Đây nữa, ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước mà anh dám gọi là “biến cố” hả?
- Ủa, biến cố là một sự cố gây nên một bước ngoặt, một biến đổi của lịch sử. Đúng quá còn gì, sao không thể dùng từ biến cố? Anh cũng nên biết ô. Võ Văn Kiệt có nói một câu đại ý rằng: Ngày 30/4 có mấy triệu người vui cũng có mấy triệu người buồn!
- Anh có biết ô. Võ Văn Kiệt là ai không?
- Có. Ông là cựu Thủ tướng! Nhưng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng như nhau. Tại sao tôi không được quyền nói?
- Nhưng ông ta được Nhà nước cho phép!
- Trời! Thế trong hiến pháp nói mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận là sao?
- Anh nên biết tự do ở đây phải nằm trong khuôn khổ quy định của luật pháp!
- !!!

- Cái đám ngụy quân mà anh lại dùng từ “binh sĩ Việt nam CH” hả?
- Họ là những người ngã xuống vì đất đai Tổ quốc, bất kể là ai tôi cũng ngưỡng mộ họ. Anh dùng từ “ngụy quân” là đi ngược lại chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, bây giờ phải gọi là “Khúc ruột ngàn dặm” hoặc…
- Khúc ruột gì bọn phản động…

Không khí trở nên căng thẳng do cả hai phía đều muốn ngắt lời nhau. Tôi đã tự nhủ trước buổi làm việc là phải bình tĩnh, không được ngắt lời người đối thoại, nhưng lại không kìm chế được.

Đối thoại tạm dừng, bên an ninh đưa ra một tập giấy in Nghị định của Chính phủ, lật đến một trang và nói:
- Anh đã vi phạm điều 41 khoản 5 điểm h của Nghị định 55/CP

Tôi xem thấy nội dung: “Đưa vào Internet để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Tôi gạch dưới cụm từ nội dung thông tin và nói:
- Có văn bản nào hướng dẫn cho biết nội dung thông tin nào là được phép và nội dung nào vi phạm không? Vì tôi thấy nội dung các bài viết của tôi không có gì sai trái cả.
- Thế mà anh bảo không có gì sai?
- Tôi chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân và cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc!
- Rõ ràng là quan điểm chính trị của anh có vấn đề. Hồi trước ở đại học môn chính trị anh được mấy điểm?
- Tôi tốt nghiệp mười mấy năm rồi, làm sao nhớ được? Không riêng gì môn chính trị mà các môn khác tôi cũng không nhớ. Nếu cần các anh có thể xem bảng điểm ở trường…

Tôi ăn trưa ngay tại bàn làm việc cùng với 4 an ninh PA38. Cơm hộp do phía an ninh cung cấp.
Tôi điện thoại về báo cho mẹ tôi biết mình phải ở lại trưa vì làm việc chưa xong, chiều làm tiếp!
Không khí nghỉ trưa thoải mái, chỉ là những câu chuyện xã giao đời thường giữa tôi và 2 an ninh trẻ, một anh là viên thiếu úy đã ra đón tôi tại cổng trực ban lúc sáng.

Buổi chiều, tiếp tục chất vấn vì tôi nhất định không ký vào biên bản vi phạm Nghị định 55CP ở trên.

- Anh có gửi bài cho báo Đàn Chim Việt ?
- Đúng vậy.
- Anh có biết ĐCV là tờ báo của tổ chức khủng bố Việt Tân không?
- Không, tôi không nghĩ như vậy
- Anh không biết gì về ĐCV mà lại gửi bài cho họ?
- Đơn giản vì tôi thấy đó là tờ báo của Người Việt hải ngoại, nội dung đọc cũng hay và vừa phải (ý tôi muốn nói lời lẽ trang này không nặng nề như một số trang khác), thì tôi gửi vậy thôi.
- Anh có biết Nhà nước đã cấm không được truy cập các trang web đen không?
- Tôi có biết. Nhưng tôi thấy trang DCVOnline không phải là trang web đen. Nếu theo quan điểm của nhà nước đó là trang web đen thì nên đưa ra một danh sách cụ thể gồm những trang nào để chúng tôi được biết!
- Anh vào trang ĐCV có gặp trở ngại gì không?
- Có lúc vào được, có lúc không.

- Anh có biết Đài RFA là đài chuyên nói xấu xuyên tạc chế độ không?
- Tôi không nghĩ vậy. Tôi thấy đài này đưa tin khách quan và đúng sự thật. Một số giáo sư, tiến sỹ trong nước cũng có trả lời phỏng vấn trên đài.
- Quan điểm chính trị của anh quá lệch lạc, tôi khuyên anh nên đi bác sỹ tâm lý!
- ???

- Anh có tham gia các cuộc biểu tình ở LSQ TS cuối năm 2007?
- Đúng vậy. Tôi có tham gia!
- Anh có biết việc biểu tình như vậy là vi phạm pháp luật không?
- Hiến pháp có ghi công dân được tự do hội họp, lập hội, biểu tình…
- Nhưng phải nằm trong quy định của luật pháp. Anh có xin phép không?
- Tôi nghe mọi người nói nước ta chưa có luật biểu tình nên không biết thủ tục tiến hành như thế nào. Với lại tôi không phải là người tổ chức biểu tình, tôi chỉ tham gia trong đoàn biểu tình để bày tỏ thái độ phản đối nhà cầm quyền BK…

Cuộc đối thoại còn khá dài nhưng càng lúc càng bế tắc vì quan điểm chúng tôi bất đồng.
Phía an ninh cũng nhận thấy điều đó nên khoảng hơn 15h cùng ngày, họ thực hiện phương án B. Họ yêu cầu tôi lên xe về nhà làm việc. Tôi từ chối vì lý do cả ngày làm việc mệt bây giờ đau đầu, mà quả thật tôi cũng đã quá mệt mỏi. Họ nói cứ về nhà đã, còn làm việc tiếp hay không là tùy anh!

Chiếc xe 12 chỗ với khoảng một chục an ninh PA38 tỉnh và Phòng ANND thành phố theo đường Trần Phú trực chỉ hướng bắc thành phố. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ tôi khi thấy số lượng lớn CA mặc cảnh phục trước cổng nhà mình, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán: Sóng biển Nha trang chiều nay thật xanh êm nhưng tôi còn tâm trí nào mà ngắm, tôi phải chuẩn bị làm sao cho sóng gió ở nhà mình sắp đến sẽ ở cấp độ nhỏ nhất!

http://pvhai.blogspot.com/2008/05/aweekbefore29042008.html
——
Ý kiến:
Kêu, mời lên “làm việc” :  kiếm cớ, ép buộc làm việc, hạch họe, đe dọa, gài bẩy kết án một cách độc đoán độc tài !   Thói này rất thường xảy ra ở những nước độc tài, vi phạm quyền con người, dân quyền !! Rất ít khi thấy ở những nước tự do dân chủ, tôn trọng pháp quyền hợp lý đúng đắn, thực sự ! 
Thiệt tình cái CA ngụy luận xhcn đỉnh cao trí tuệ, làm việc như cái robot !
Thế này thì dân không điên, không hèn, không nuốt nhục, không ấm ức, xã hội không băng hoại, nước không (sẽ) mất thì xã hội có gì thật không bình thường !  Yêu nước là cái “tội” ! Đúng là một xã hội đảo điên cai trị bởi lũ điên đảo, bán nước buôn dân cầu vinh !!
Mọi giá trị đúng đắn về công bằng, chân lý, lẽ phải, đạo lý, tự do, dân chủ đều bị cơ chế bóp méo, đảo ngược dưới thời xhcn VN !
Cả nước buộc phải luồn lách, nói dối theo để tồn tại vì cơ chế độc đoán độc tài, lừa bịp !!
Phải chăng đó là sự kém trí tuệ, mù quáng, ngông cuồng, tham tàn trí trá, ngoan cố vĩ đại … mãi tự chồng chất nghiệp chướng ?  Nếu không là tội ác là cái gì ??
29/4/2008 tại Saigon, HN cho thấy : VN đã mất chủ quyền, mất độc lập, mất tự do ! VN đã và đang bị ngoại bang xâm thực : giặc nội xâm và ngoại xâm, đúng như nhận định của Hà Si Phu, …vv !

Tài liệu liên quan:
Nghị quyết EU 1481 25/1/2006
Quốc tế nhân quyền, công ước
Hiến pháp   ( và luật rừng vi hiến, làm bởi QH bù nhìn của đảng không tính, không giá trị !)

May 10, 2008

Đạo diễn Song Chi mất hợp đồng làm phim vì biểu tình chống Trung Quốc

Trà Mi, phóng viên đài RFA
2008-05-10


Nữ đạo diễn Song Chi vừa bị khước từ hợp đồng với hãng phim truyền hình TFS thuộc đài truyền hình HTV (TP.HCM) vì đã tham gia biểu tình chống Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa-Trường Sa, cũng như có các bài viết thẳng thắn thể hiện quan điểm trên trang blog cá nhân.

Phần âm thanh

Tải xuống âm thanh

Người dân Việt Nam biểu tình chống ngoại bang thì bị gây khó như trường hợp nữ đạo diễn Song Chi.

Đạo diễn Song Chi từng hợp tác với hãng TFS trong hai bộ phim ; “Nữ bác sĩ” đoạt giải vàng Liên Hoan Phim Truyền Hình Toàn Quốc Tháng 1-2008, và phim “Phố Hoài” được giải khuyến khích Hội Điện Ảnh Việt Nam 2002. Đạo diễn Song Chi bất ngờ bị yêu cầu ngưng công tác đạo diễn cho bộ phim truyền hình nhan đề “Ai?” sắp khởi quay vào tháng 7 tới đây sau nửa năm hợp tác chuẩn bị cho bộ phim bấm máy.

Nhà đạo diễn trao đổi với phóng viên đài RFA Trà Mi những chi tiết liên quan:

Nữ đạo diễn Song Chi : Ngày mùng 2 vừa qua thì tôi có lên gặp ông Nguyễn Việt Hùng – Giám Đốc hãng phim TFS, ông Nguyễn Việt Hùng có thông báo cho tôi biết rằng là bên an ninh họ đến làm việc với Tổng Giám Đốc Đài và Ban Giám Đốc của hãng phim, đề nghị là không mời đạo diễn Song Chi cộng tác nữa vì lý do như họ nói là “có vấn đề về chính trị, có viết bài gửi các trang web bên ngoài, trả lời báo đài và có những mối quan hệ với những phần tử phức tạp về chính trị.

Trà Mi : Quyết định của hãng phim như vậy thì phản ứng của chị ra sao?

Nữ đạo diễn Song Chi : Hôm đó tôi có trình bày là từ hồi nào tới giờ thực tế tất cả những việc mà tôi đã làm, cái chuyện có là cái chuyện tham gia cùng với một số người bạn trong buổi biểu tình phản đối Trung Quốc về vụ Trường Sa – Hoàng Sa ngày 19-1-2008 trước cửa Nhà Hát Thành Phố. Ngay hôm đó tất cả chúng tôi đều được mời về công an, người bị giữ nhanh nhất là một ngày, người bị giữ lâu nhất là 30 tiếng.

Biểu tình để mà phản đối một quốc gia khác có hành động xâm lược đối với đất nước mình, thì chuyện đó là chuyện hoàn toàn hết sức bình thường ở bất cứ một quốc gia nào khác. Nhưng mà ở Việt Nam thì biểu tình là chuyện không được phép, dù biểu tình ôn hoà.
đạo diễn Song Chi

Chuyện thứ hai là tôi có viết một số bài trên blog bày tỏ quan điểm chính kiến của mình trước một số tình hình xã hội của đất nước. Thực tế là tôi không gửi các bài của tôi đi đâu cả. Còn cái chuyện trả lời báo đài thì cho tới lúc ngồi trước mặt Ban Giám Đốc TFS thì tôi chưa trả lời báo đài nước ngoài bao giờ cả. Nhưng mà sau hôm nay thì tôi cũng nói rằng chắc là tôi sẽ phải lên tiếng, phải đính chính rằng việc mình không được làm nghề nữa là vì lý do an ninh và lý do chính trị, chứ hoàn toàn không phải vì năng lực hay vì lý do nào khác.

Tôi cũng nói thẳng với Ban Giám Đốc rằng blog của tôi là công khai chứ không có ẩn danh và toàn bộ (những bài viết) đó là những bức xúc của người công dân thôi, đó là một thái độ chính trị chứ hoàn toàn đó chưa phải là một hành động chính trị. Một người công dân có những suy nghĩ, những cái bức xúc, những trăn trở trước cái tình hình chung của xã hội và lên tiếng với trách nhiệm của một công dân thôi. Đó là chuyện mà tôi thấy nó rất là bình thường trong bất cứ xã hội nào khác.

“Nỗi buồn mang tên Việt Nam”

đề mục blog của Song Chi

Vậy mà cái chuyện biểu tình ôn hoà, mà hơn nữa đây là biểu tình để mà phản đối một quốc gia khác có hành động xâm lược đối với đất nước mình, thì chuyện đó là chuyện hoàn toàn hết sức bình thường ở bất cứ một quốc gia nào khác. Nhưng mà ở Việt Nam thì biểu tình là chuyện không được phép, dù biểu tình ôn hoà. Và quý vị đã biết là trình bày những ý kiến như vậy cũng rất là mệt mỏi.

Trà Mi : Chị hiểu rõ những bất lợi đó, vì sao mà chị có thể vượt lên những nếp nghĩ cố hữu của số đông như vậy để bày tỏ chính kiến của mình và có những hành động gọi là thẳng thắng bày tỏ quan điểm của mình như vậy?

Nữ đạo diễn Song Chi : Tôi nghĩ thế này, không lẽ mình lại không lên tiếng khi mà trong cái xã hội có quá nhiều những vấn đề như vậy, mặc dù rõ ràng là ở Việt Nam số lượng người im lặng nhiều hơn rất nhiều. Cái điều này tôi đã nói trong cái bài viết “Nỗi buồn mang tên Việt Nam”, đó là khi chúng tôi đứng chống Trung Quốc chứ chưa phải là chống phá nhà nước Việt Nam. Phản ứng từ phía chính quyền, cái điều đó thì ai cũng biết.

Đến một lúc nào đó thì xã hội cũng sẽ phải dịch chuyển sang một chiều hướng tốt đẹp hơn. Chắc chắn là nó sẽ phải thay đổi thôi.
đạo diễn Song Chi

Nhưng mà cái điều đáng buồn hơn nhiều khi nó từ phản ứng của những người chung quanh. Con người ta có thể nhìn những người như mình mà cho là hơi điên rồ, đi làm những chuyện nó không có lợi, nhưng mà không lẽ không ai lên tiếng hay sao? Thì tôi nghĩ rằng vẫn còn có bạn bè, vẫn còn có nhiều người khác, và càng ngày thì cũng càng có nhiều người hơn nữa sẽ phải nói lên thôi.

Trà Mi : Trên báo chí Việt Nam thì đôi khi cũng xuất hiện những bài viết được gọi là lên tiếng để phê phán, chỉ trích nhà nuớc trong nhiều lãnh vực như là hành chánh, tham nhũng, v.v…, thì phải chăng những bài viết của chị nó quá thẳng khiến cho người ta cảm nhận là một sự đả kích?

Nữ đạo diễn Song Chi : Những bài bêu xấu trên tờ báo chính thống của nhà nước thì thực tế là cũng chỉ nói trong một phạm vi, mức độ nào đó thôi, chứ còn không bao giờ dám nói đến chuyện là vẫn còn chưa có được tự do dân chủ, hay là mình vẫn còn vi phạm nhân quyền. Những cái đó là những cấm kỵ.

Trà Mi : Làm thế nào để có thể vượt qua “Nỗi buồn mang tên Việt Nam” như tựa đề báo chí của chị? Chị có gì muốn chia sẻ với những người đã cũng như là chưa đồng cảm với chị?

Nữ đạo diễn Song Chi : Tôi nghĩ là thời gian vừa qua, do tình hình diễn ra cuộc rước đuốc thì cũng rất nhiều những người văn nghệ sĩ cũng bị phiền nhiễu. Bản thân tôi thì lúc này công việc như bạn thấy chắc chắn không phải chỉ một bộ phim đâu mà có lẽ là trong một thời gian hay có thể là nhiều khi mà không được làm nữa luôn, thì điều đó tôi không thể biết được.

Trà Mi : Quả thực là một nỗi buồn mang tên Việt Nam, phải không chị ?!

Nữ đạo diễn Song Chi : Nhưng mà không. Chị không làm chuyện này thì chị làm chuyện khác, miễn là nó lương thiện. Tôi tin rằng dần dần thì mọi người cũng sẽ phải bày tỏ những cái suy nghĩ của mình. Đến một lúc nào đó thì xã hội cũng sẽ phải dịch chuyển sang một chiều hướng tốt đẹp hơn. Chắc chắn là nó sẽ phải thay đổi thôi.

Trà Mi : Trước khi chị có những bài viết thể hiện quan điểm như vậy, chị có lường trước đựơc những sự việc sẽ xảy ra như thế này hay không ạ?

Nữ đạo diễn Song Chi : Tôi không nghĩ về phía chính quyền là phức tạp như vậy, nhưng mà vì đã lớn lên, sống ở Việt Nam bao nhiêu năm, thì thành ra cũng không có gì là ngạc nhiên cả.

Trà Mi : Thế sau khi mọi việc đã xảy ra như thế thì chị có cảm thấy hối hận về những việc làm của mình vừa qua hay không?

Nữ đạo diễn Song Chi : Không đâu. Và nếu như quay trở lại thì chắc chắn là tôi cũng sẽ phản ứng như mọi người trong ngày 19 tháng 1 ấy, bởi vì điều đó là điều hoàn toàn tôi thấy không có gì là sai trái cả.

Trà Mi : Sau những gì đã xảy ra với chị thì một người có thể rút ra một kết luận riêng cho bản thân mình như thế này, có nghiã là khi mà vượt qua cái nỗi buồn chung thì để chỉ nhận lấy cho mình một nỗi sầu riêng thôi, cũng là một hạt cát ở sa mạc thôi, thì ý kiến của chị như thế nào?

Nữ đạo diễn Song Chi : Có lẽ là nhu vậy. Trong một số đông im lặng thì rõ ràng là chỉ có một thiểu số thì chắc chắn là rất mệt mỏi. Nhưng mà tối thiểu những điều mình làm có nhỏ xíu đi chăng nữa thì cũng vẫn phải làm. Nếu không thì mọi chuyện nó sẽ lại càng chậm hơn nữa.

Vừa rồi là cuộc trao đổi với nữ đạo diễn Song Chi về việc bà bị khước từ hợp đồng với hãng phim truyền hình TFS vì những bài viết thẳng thắn bày tỏ quan điểm trên blog cá nhân, cũng như là tham gia biểu tình phản đối hành động bành trướng của Trung Quốc tại Trường Sa – Hoàng Sa. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn với Ban Việt Ngữ BBC, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc hãng TFS lại không nêu rõ lý do đó. Trả lời thắc mắc của đạo diễn Song Chi về lý do tại sao không nói đúng nguyên nhân khiến bà bị ngưng việc , ông Hùng nói rằng trả lời thế nào là quyền của ông, và ông nhấn mạnh:

“Đó là những vấn đề mà nhà nước này và người ta có đặt yêu cầu với trách nhiệm của Đài. Trong tiêu chí đó có rất nhiều, tiêu chí đó rất nhiều chuyện, thì trong đó đó là một ý kiến của người ta. Người ta không muốn thì người ta yêu cầu mình ngưng cộng tác thôi.”

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/director_Song_Chi_denied_film_contract_for_anti-China_protest_TMi-05092008182648.html

April 30, 2008

Bản tin khẩn cấp về việc gia đình cô Lư Thị Thu Duyên

Bản tin khẩn cấp về việc gia đình cô Lư Thị Thu Duyên lại bị công an CSVN dung túng cho băng nhóm giang hồ xã hội đen dàn cảnh chém thành thương tại Sài Gòn chiều tối ngày 26/4/2008

Vào hồi khoảng 18 giờ 15’ tối ngày 26/4/2008 có một phụ nữ lạ mặt đến xem căn nhà toạ lạc trên khu đất thuộc khu thổ mộ của gia đình dòng tộc họ Lư đang khiếu kiện tại dãy số nhà 77 đường Trần Bình Trọng, phường 1, quận Gò Vấp, TP Sài Gòn theo báo Mua và Bán đã đăng tin do một gia đình gồm toàn băng nhóm giang hồ xã hội đen đưa lên mặt báo. Căn nhà này xây dựng trái phép được là nhờ sự che chắn của chính quyền và công an CS địa phương trên mảnh đất thuộc sở hữu hợp pháp của dòng tộc họ Lư đã bị chúng lấn chiếm trái phép và được chánh quyền CS quận, phường nơi đây dung túng bao che rồi cấp giấy tờ chứng nhận đàng hoàng cho chúng, mặc dù bằng khoán điền thổ cùng các giấy tờ gốc chứng minh sở hữu hợp pháp khu đất này hiện mang tên nhà Họ Lư và được gia đình chị em cô đang cất giữ !!!

Chị em nhà cô Thu Duyên còn cho biết kẻ gây ra vụ tiếp tay cho bọn người giang hồ lưu manh trên và một số cơ quan nhà nước đã tiến hành cướp đoạt trắng trợn khu đất trên của gia đình cô chính là tên quan tham CSVN cựu chủ tịch UBND quận Trần Kim Long đã bị đi tù từ năm 2005 !

Sau khi giả đò xem xong căn nhà và đất đai xung quanh, kẻ nữ giới kia chủ động tìm đến lân la hỏi thăm lai lịch về mảnh đất và căn nhà mà thị đã vừa coi trước đó tại ngay cổng ngõ nhà cô Lư Thị Thu Duyên tại địa chỉ số nhà 13B/77 cùng con đường trên. Lúc đó gia đình cô Thu Duyên đang ăn cơm tối và cô thật thà cho người phụ nữ khoảng 30 tuổi kia biết tình trạng khu đất đang là sở hữu hợp pháp của dòng họ mình như sau :

” Chị mua căn nhà này của họ thì cứ mua, nhưng về khu đất của căn nhà ở trên đó thì là thuộc chủ quyền của gia đình chúng tôi đang thưa kiện nhiều năm để đòi với nhà nước. Vì vậy khi bỏ tiền ra mua nhà thì chị phải cân nhắc kỹ và thận trọng kẻo bị kiện cáo oan uổng mất tiền đó nghen ! “

Sau khi nghe xong cô Thu Duyên nói vậy thì 1 tên phụ nữ đứng cạnh có tên Thuỷ, chính thị là người trong căn nhà đang muốn bán đã rút dép đánh ngay vào mặt cô Thu Duyên, nhưng do nhanh lẹ cô đã tránh được và ngay liền đó từ trong nhà có tới 4 tên lưu manh cầm các hung khí như dao, gậy, gạch…rượt đánh và chém cô Thu Duyên. Đáng chú ý là trên tay chúng đã cầm sẵn mấy tờ báo “Công an thành phố Hồ Chí Minh” có đăng bài và hình cô Thu Duyên bị công an CSVN vu cáo là thành phần phản động đang tích cực chống phá đảng CSVN và nhà nước CHXHCN Việt Nam…

Một tên nam giới có tên là Mười đã nhằm chém cô Thu Duyên nhưng may mà cô đã được người chị ruột sinh năm 1966 tên là Thu Vân lẹ tay đỡ được tránh cho cô em út Thu Duyên vụ án mạng chỉ trong gang tấc… Do đó hậu quả là chị Thu Vân đã bị tên côn đồ chém đứt tay phải gây thương tích nặng và chị đã phải vào bệnh viện quận Bình Thạnh khâu 8 mũi. Trong khi đó, sau khi tốp lưu manh gây tội ác cho chị em nhà họ Lư xong xuôi chúng liền chủ động chạy thẳng vào đồn công an phường 1 để báo và nhờ cậy bọn công an CS ở đây che chắn cho hành vi phạm tội của mình vừa gây ra cho dân lành !!!

Tại đồn công an này ban chỉ huy công an phường do tên thiếu tá Lê Văn Sang chỉ đạo đã “mời” đểu nhằm giữ chân cô Thu Duyên ở lại đồn để lập biên bản về sự việc đã xảy ra và kiên quyết không hề cấp giấy giới thiệu cho cô Thu Vân vào bệnh viện cấp cứu. Nhưng do vết chém làm đứt tay và máu ra rất nhiều nên chồng chị Thu Vân đã phải nhanh chóng đưa cô đi bệnh viện để cưú chữa mà không cần giấy tờ của công an phường 1 nơi xảy ra vụ việc này nữa. Công an CS phường này còn dung túng để 2 tên lưu manh trực tiếp gây tội ác cho chị em Thu Vân chạy thoát và hiện nay dang nhởn nhơ đi lại trong thành phố như không có gì xảy ra, đồng thời họ đã chỉ đạo bệnh viện quận Bình Thạnh không cấp giấy chứng thương cho cô Thu Vân ngay trong tối hôm đó cũng như gây rất nhiều trở ngại xung quanh việc thủ tục hành chính quá đơn giản và tối thiểu này với mục đích giúp bọn côn đồ phi tang và tránh bị tố cáo lên công luận nhất là Mạng lưới internet toàn cầu….

Trong khi chém và đánh 2 chị em nhà họ Lư đám du côn lưu manh trên hùng hổ tuyên bố công khai : “Chúng mày là gia đình phản động, công an và chánh quyền cho phép tao thoải mái tự xử lý tội bán nước của chúng bay thật đáng đời nhất !!!….”

Cô Thu Duyên đã đáp lại : ” Đúng rồi , ông nội tao ( tức nhà cách mạng lão thành CSVN Lư Đồng Sắt ) đã sai lầm đi theo bọn phản động bán nước hại dân suốt từ năm 1936 đến nay một cách quá dại dột và ngây thơ nên đã để mất hết đất đai, mất tài sản với tụi bay và mất hết với bọn đích thị phản động đang có chức quyền hiện nay đó ! Bây giờ chúng tao phải đấu tranh để chuộc lại sai lầm do ông nội tao đã nhẹ dạ cả tin vào bọn phản động đó đấy và đòi cả bọn bay phải trả lại cho gia đình chúng tao tài sản đã bị cướp đoạt nữa !….”

Trước sự trả lời đanh thép rắn rỏi như vậy của cô Lư Thi Thu Duyên thì cả lũ lưu manh vô học, côn đồ vốn là tay sai công cụ của công an CS đồn sở tại và của cả an ninh chính trị thành phố Sài Gòn mà lũ chúng rất thường xuyên gây sự kiếm cớ đánh đập chị em nhà họ Lư tàn bạo đều phải câm như thóc không nói được gì thêm nữa !!!….

Về phía công an địa phương có ngươì tốt bụng cho biết toàn bộ màn kịch trên do cơ quan bảo vệ an ninh chính trị PA – 38 thuộc quận Gò Vấp của sở công an “thành phố mang tên bác” dàn dựng và sắp đặt từ trước. Bởi vì hiện nay cô Thu Duyên đang nạp đơn tố cáo bác bỏ vụ công an CSVN đã tổ chức đấu tố rồi quản chế cô 6 tháng hoàn toàn trái pháp luật. Và toà án quận Gò Vấp thuộc thành phố này cũng đang thụ lý hồ sơ vụ khiếu kiện đó, đồng thời có mời cô lên làm việc để trả lời kết quả cho cô đúng vào 1 ngày rước đuốc Bắc Kinh ô nhục 2008 tại thành phố này vào ngày mai 29/4/2008 !!!

Cũng cần nhắc lại chính cô Lư Thị Thu Duyên tuy là 1 dân oan nhưng cô còn là thành viên của Khối đấu tranh dân chủ 8406 và của Phong trào dân chủ Việt Nam khá gan dạ. Cô đã viết nhiều bài kêu gọi dân chủ hoá đất nước mà dư luận trong và ngoài nước đều đã từng biết đến từ khi cô tham gia vào công cuộc chung tranh đâu từ năm 2006 đến nay.

Hiện nay tính mạng của chị em các cô nhà họ Lư, nhất là Thu Duyên đang bị đe doạ rất nghiêm trọng. Vì vậy mọi hiểm nguy ra sao về sức khoẻ và tính mạng của cô thì chánh quyền và công an CSVN tại đây phải hoàn toàn chịu trách nhiệm !

Trong bản tin chúng tôi kèm 2 hình ảnh, một là hình cô Thu Vân bị chém và một là hình ảnh một góc tờ báo Mua và Bán đã có đăng mẩu tin bán nhà của gia đình lũ lưu manh côn đồ kia những kẻ đã gây tội ác cho chị em cô Thu Duyên tối hôm 26/4/2008 để dư luận tỏ tường.

Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh Vì Công Lý tại Sài Gòn thực hiện & phổ biến bản tin này

Ngày 28/4/2008

(Doi-thoai)

http://www.doi-thoai.com/baimoi0408_420.html

April 29, 2008

Ngày Đuốc TVH tại Saigon: 8 Người Hà Nội Được Thả

Chị Lê Thị Kim Thu, Nhà Văn Nguyễn Xuân Nghĩa Đã Được Thả – Nhà Giáo Vũ Hùng Bị Công An Đánh Nặng Nhất!!!!

Công an bắt nhóm 8 biểu tình tại chợ Đồng Xuân (sáng ngày 29/4/08 tại Hanoi)

Nguồn hình: Trắng Đen online – TDOL

Theo tin mối nhất chúng tôi nhận được thì chị Lê Thi Kim Thu, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Vi Đức Hồi, Nguyễn Anh Sơn, nhà giáo Vũ hùng, Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Văn Nhứt và sinh viên Ngô Quỳnh đã được thả vào lúc 11 giờ đêm ngày 29 tháng 04, 2008. (giờ Hà Nội)

 

Cũng theo tin chúng tôi nhận được thì nhà giáo Vũ Hùng đã bị công an đánh đập nặng nhất; rồi đến nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi tin tức và cập nhật đến quý bạn đọc trong thời gian sớm nhất
(VNE)

April 27, 2008

Phát Biểu Của LM Phan Văn Lợi Nhân 30-04

PHÁT BIỂU CỦA LINH MỤC PHAN VĂN LỢI NHÂN LỄ TƯỞNG NIỆM 33 NĂM NGÀY QUỐC HẬN 30-04 và CẦU NGUYỆN CHO CÔNG LÝ TẠI VIỆT NAM
do Uỷ Ban YTPTDCVN/ Washington tổ chức tại Seattle, Washington ngày 26-04-2008

Kính thưa – Quý Lãnh đạo Tinh thần các Tôn giáo, – Quý Lãnh đạo Cộng Đồng Tỵ Nạn bang Washington, Quý Tổ chức, Đoàn thể, Cộng đồng người Việt sở tại,-Quý Ủy ban Yểm trợ Phong trào Dân chủ VN bang Washington-Quý Thân hào Nhân Sĩ cùng toàn thể Quý Đồng bào Tỵ Nạn.

Hôm nay, chúng ta cùng nhau tụ họp nơi đây để tưởng niệm 33 Năm Ngày Quốc Hận và thắp nến cầu nguyện cho Công Lý tại Việt Nam. Từ trong nước, chúng tôi rất hân hạnh được ban Tổ chức cho phép hiệp thông cùng Quý vị trong buổi lễ thiêng liêng và trang trọng này. Vậy trước hết chúng tôi xin kính chào toàn thể Quý vị và hết lòng cảm ơn Ban Tổ chức.

Kính thưa Quý vị

Chúng ta hôm nay tưởng niệm 33 năm Ngày Quốc hận 30-04, không phải trong niềm đau thương và tủi nhục do sự thất trận quá khứ. Nếu không vì thân phận nhược tiểu của đất nước trên bàn cờ chính trị quốc tế thời ấy, và nếu không vì hành động ngu xuẩn của tập đoàn lãnh đạo CSVN ở miền Bắc nhằm mục đích mở rộng đế quốc đỏ theo lệnh của Đệ tam Quốc tế, thì lịch sử đất nước đã chẳng có ngày 30-04-1975 đầy đau thương và tủi nhục.

Chúng ta hôm nay tưởng niệm 33 năm Ngày Quốc hận vì những gì xảy ra trên Quê hương kể từ sau ngày đó và mãi tới hôm nay. Cái gọi là cuộc giải phóng miền Nam đã chỉ là sự nô dịch hóa toàn thể dân tộc. Cái gọi là chiến thắng Mỹ Ngụy đã chỉ là sự thất bại hoàn toàn của CS trong mọi lãnh vực của đời sống nhân dân và đất nước. Quả thế, sau ngày đó, Cộng đảng Việt đã đem một chủ nghĩa hết sức phi nhân và sai lạc đầu độc trí óc và lương tâm con cháu Lạc Hồng. Những gì là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đã và đang bị cái chủ nghĩa Mác-Lê tồi tệ đó xóa sạch. Ngày nay, xã hội VN là một môi trường trong đó chỉ có dối gian, bạo hành, con người dẫm đạp lên nhau mà sống và kiếp nhân sinh chỉ còn là cuộc tranh đua vơ vét và thụ hưởng, nhất là nơi những kẻ nắm quyền lực. Thói gian dối và bạo hành này thậm chí còn len lỏi vào những nơi mà người ta tưởng chỉ phải có sự chân thật và lòng nhân ái, tức là học đường, bệnh viện và nhiều cộng đoàn giáo hội.

Cũng sau ngày đó, Cộng đảng Việt đã đem một chế độ hết sức hà khắc và độc đoán khống chế toàn bộ xã hội và hết thảy mọi cộng đoàn. Những gì là tự do, dân chủ, công bằng, pháp trị mà miền Nam Việt Nam đã bắt đầu hưởng nếm trong hơn 20 năm -từ 1954 đến 1975- đã bị cái chế độ rừng rú kiểu Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh loại bỏ. Ngày nay, đất nước VN là một trại lính khắc nghiệt, một nhà tù khổng lồ trong đó người dân chỉ còn có hai quyền là quyền vâng lời đảng và quyền xin phép nhà nước, cán bộ đảng viên tại địa phương là những ông trời con còn tập đoàn lãnh đạo Việt cộng là chúa tể tối thượng, nắm trong tay mọi tài nguyên đất nước, giữ trong tay mọi nhân quyền và dân quyền. Luật đảng, luật rừng, luật tiền thay thế luật pháp. Xã hội VN rơi vào cơn khủng hoảng mọi mặt: văn hóa biến chất, đạo đức suy đồi, giáo dục băng hoại, kinh tế tụt hậu, luật pháp bá đạo, y tế tang thương, môi sinh ô nhiễm, chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng… Tất cả những gì hào nhoáng cơ ngơi chỉ là nhờ vay mượn ngoại tệ mà nhân dân sẽ phải nai lưng trả nợ. Tất cả những gì rình rang lễ hội chỉ là do sự lèo lái của đảng CS nhằm mục đích củng cố chế độ độc tài. Và nguy hiểm nhất là tổ quốc mất dần từng mảng lãnh hải và lãnh thổ to lớn vào tay kẻ thù truyền kiếp Bắc phương xâm lược, do sự đồng lõa của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản buôn dân bán nước, vong bản vô tổ quốc!

Nói tóm lại, quê hương ta đang thiếu công lý trầm trọng! Chính vì ý thức được việc này mà bao con cái Mẹ Việt trong nước đã đứng lên, cách cá nhân lẫn cách tập thể, với sự hỗ trợ của bao con cái Mẹ Việt khắp bốn phương trời. Điển hình là Khối 8406 mà trong những ngày này đang kỷ niệm 2 năm thành lập, là nhiều tổ chức công dân, chính đảng dân chủ từ Khối đó phát xuất, là nhiều cộng đoàn tôn giáo đang đấu tranh đòi lại quyền lợi của mình…. Nhưng cũng chính vì công lý đó mà biết bao nhà đối kháng đang phải gánh chịu đủ thứ gian lao, nếm đủ đòn thù của độc tài đảng trị: giam cầm trong ngục, quản chế tại gia, đe dọa sinh mạng, bao vây kinh tế, cấm cản hoạt động, ngăn chận tiếp xúc…. Thành thử thật là ý nghĩa việc chúng ta thắp nến cầu nguyện cho công lý tại Việt Nam hôm nay. Lời cầu nguyện này sẽ giúp chúng ta lặp lại ý thức, củng cố ý chí, thể hiện ý định đóng góp vào công cuộc đấu tranh ở quê nhà.

Ấy là bấy nhiêu tâm tình mà chúng tôi mạn phép đại diện các nhà đấu tranh quốc nội xin được gởi đến toàn thể Quý vị, như một sự hiệp thông chân tình. Xin cảm ơn Quý vị đã lắng nghe. Và như người Do thái lưu vong thường từ giã nhau với câu nói: “Hẹn gặp nhau sang năm tại Giêrusalem”, chúng tôi cũng xin thưa với Quý vị: “Hẹn gặp nhau sang năm tại Sài Gòn”! Dĩ nhiên trong một Sài Gòn và một Việt Nam đầy tự do dân chủ. Nguyện xin Thiên Chúa ban phúc lành cho tất cả Quý vị.

Phát biểu tại Huế ngày 22-04-2008
Chúng tôi, linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

April 23, 2008

”Vụ án vu oan” : Đảng Cộng sản VN – có còn chính nghĩa?

23.04.2008


Thật sự đọc tin này thấy vừa buồn vừa tức cười không chịu nổi. Một cựu chiến binh hết lòng lên tiếng đòi giữ vững toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải cho Tổ quốc, một thành viên của CLB Nhà báo tự do luôn viết những điều trung thực với nhân dân (còn tờ báo Nhân Dân của Đảng thì chuyên viết linh tinh đến mức chẳng ai thèm đọc) – lại bị vu oan thế này:

 

http://www7.congan.com.vn/trat_tu_xa_hoi/mlfolder.2007-12-28.6251781353/mlfol

Sao không nói thẳng ra là quan chức chính phủ bị chính quyền Trung Quốc mua hết rồi, bán đảo bán biển nhưng phải giấu nhân dân. Nước Phi-líp-pin kia, Tổng thống cũng bán đảo bán biển nhưng bị Thượng nghị viện và nhiều tướng lĩnh vạch mặt và đứng ra tổ chức điều tra nên vẫn còn đang lúng túng…

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh coi thường nhân dân quá chăng? Nghĩ rằng nhân dân dễ tin vào những lời hứa suông, những câu khẩu hiệu giả tạo hàng chục năm nay và những lời vu cáo với những người thực sự có tâm huyết với đất nước chăng? Nghĩ rằng chỉ có Đảng là có trí tuệ ưu việt còn nhân dân chỉ toàn là “dân trí thấp” chăng?

Kẻ nào càng không còn chính nghĩa, kẻ đó càng phải giả dối và vu khống!
Trần Dương

 http://blog.360.yahoo.com/blog-uLfTJpslaaIT2U_cEjOEBpH4mA–?cq=

********************************

Lên án CSVN huy động truyền thông bôi nhọ anh Điếu Cày

Cộng Sản VN đang tìm cách gán ghép tội cho anh Điếu Cày . Tờ Công an Tp HCM đưa tin là CSVN khởi tố anh Điéu Cày về tội trốn thuế cho thuê nhà . Sic. Bây giờ nó đang tung những tay bút nô như Xuân Hồng này để tiếp tục dẫn đất nước VN vào con đường dối trá của nó. Tay bút nô Xuân Hồng này chỉ để lại lời nguyền rủa chết chóc cho con cháu mình mà thội. Tội gì thì mọi người đều biết rồi, anh Điếu Cày chỉ có mỗi “tội” duy nhất là yêu nước, không chấp nhận làm nô lệ cho Tàu Cộng như chính quyền CS VN hiện nay và không thỏa hiệp với chế độ chà đạp nhân quyền của CSVN.

Đất nước và con người VN tiếp tục chứng kiến những kiểu kết tội và những bản án thô bỉ, chỉ tồn tại trong những chế đố độc tài, chà đạp luật pháp và lương tâm con người. Đất nước VN tiếp tục chứng kiến một chế độ phi nhân đang hành xử theo kiểu thói côn đồ, lý của kẻ mạnh, chà đạp công lý. Những kiểu hành xử như thế chỉ đẩy xã hội VN vào sự mâu thuẫn sâu đậm hơn giữa người dân và đảng cầm quyền thối nát.

Lịch sử VN sẽ nhớ đến anh Điếu Cày như một tấm gương yêu nước và bảo vệ quyền con người. Lịch sử VN sẽ ghi lại giai đoạn ô nhục của sự cai trị của đảng CS VN đang sản sinh ra những dạng “người khuyển” “đánh hơi văn hóa”, đánh hơi đất đai, đánh hơi dân chủ nhân quyền, đánh hơi sơ hở…để cướp bóc, chèn ép,chà đạp công lý và phẩm giá con người.

Nhà cầm quyền VN tiếp tục thực hiện chính sách từ bao đời của nó là tạo nên một xã hội với tâm lý sợ hãi hòng dễ bề cai trị. Thế nhưng, xã hội vẫn tiếp tục sản sinh ra những con người anh hùng như Điếu Cày, Nguyễn Tiến Trung, Lê Văn Đài, Lê thị Công Nhân, Lm Nguyễn Văn Lý, HT Thích Quảng Đô …Điều đó chứng tỏ rằng sự thật và công lý mới có sức mạnh thu hút và thu phục lòng người chứ không phải là sự dối trá, bạo tàn.

Nhà cầm quyền VN bắt anh Điếu Cày để dập tắt , đánh phủ đầu cuộc xuống đường phản đối rước đuốc Olympics ô nhục, mà họ huy động cả một hệ thống chính trị để “hộ giá”. Chưa bao giờ đất nước và con người VN lại sống trong một giai đoạn ô nhục như thế, khi mà niềm tự hào dân tộc bị đàn áp và hiếp dâm bởi một chế độ tay sai và bán rẻ giang sơn cho Tàu Cộng. Còn rất nhiều “Điếu Cày” yêu nước khác sẽ xuống đường thay anh để “đưa đám” cuộc rước đuốc ô nhục này. Lòng yêu nước khôngbao giờ tắt chỉ có sự độc tài , dốt nát, dối trá, bạo tàn sẽ mai một với thời gian. Thưa anh Điếu Cày, mọi người sẽ đứng bên anh lúc gian nan khó khăn và đồng thời phỉ nhổ và lên án một hệ thống chính trị và pháp lý ô nhục của CSVN.

Blogger Nhân Quyền & Công Lý

April 22, 2008

Bình thường và bất bình thường!

http://blog.360.yahoo.com/blog-xHHl4WUidKhoJ3Ce.agDycCVSA–?cq=1&p=859  


Cho đến nay, ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 đã đi qua hơn nửa chặng đường với nhiều vất vả, nhọc nhằn khi thường xuyên phải đối diện với làn sóng biểu tình mạnh mẽ của người dân tại các quốc gia khác nhau, người Tây Tạng lưu vong, cộng đồng người Hoa và người Việt ở hải ngoại, cũng như các nhóm Pháp Luân Công, tổ chức Nhà báo không biên giới…nhằm phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc với những lý do khác nhau. Hình ảnh ngọn đuốc Olympic-một biểu tượng đẹp đẽ của tinh thần thể thao thượng võ, của hòa bình, hữu nghị và niểm mong nước về một thế giới tốt đẹp hơn, nhấn bản hơn… bây giờ “được chào đón” bởi những lá cờ Tây Tạng là nhiều nhất và những biểu ngữ phản đối; đuốc phải rước đi giữa hàng an ninh Trung Quốc dày đặc bao quanh, rồi cảnh sát sở tại, mô tô đi trước đón sau, đuốc có lúc bị giựt khỏi tay vận động viên, bị xịt nước. bị dập tắt, có lúc phải leo lên xe bus lánh nạn; hành trình của đuốc nhiều nơi phải bị thay đổi, cắt ngắn, phần lễ lạc chào đón cũng như kết thúc đều phải bị giản lược hoặc cắt bỏ …Chính quyền của các quốc gia nơi ngọn đuốc đi qua được một phen tất bật ngược xuôi huy động lực lượng cảnh sát, an ninh để giữ trật tự. Còn chính quyền Bắc Kinh thì ra sức huy động lực lượng sinh viên du học, người Hoa ở nước ngoài để biểu tình ủng hộ! Thật là một đám rước “vất vả”! Đó là điều không bình thường cho một cuộc hành trình rước đuốc Olympic lẽ ra phải là một sự kiện thể thao lớn, mang tính chất phi chính trị này.

Nhưng mặt khác, nó cũng lại là bình thường bởi vì lễ hội Olympic năm nay sắp diễn ra ở Trung Quốc-một quốc gia đang đựơc điều hành bởi một thể độc tài toàn trị về đối nội thì nổi tiếng là cứng rắn, về đối ngoại thì không hề che dấu những tham vọng bành trướng bá quyền- do vậy đây là thái độ, là phản ứng của nhân dân thế giới đối với những đường lối , chính sách đối nội, đối ngoại trong bao lâu nay đó của Trung Quốc.

Nhìn những hình ảnh người dân biểu tình phản đối Trung Quốc ở các nước để thấy sống ở một đất nước có tự do dân chủ là như thế nào. Một trong những cái quyền cơ bản nhất của nhân dân là quyền đựơc phép biểu tình ôn hòa để bày tỏ những thái độ, nguyện vọng phong phú khác nhau với Nhà Nước và với toàn thế giới. Người Trung Quốc ủng hộ Olympic Bắc Kinh 2008 cầm cờ Trung Quốc đứng bên cạnh người biểu tình phản đối Trung Quốc cầm cờ Tây Tạng hoặc cờ nước họ, đôi bên cứ việc bày tỏ thái độ, chính kiến…tất cả là chuyện hết sức bình thường, chỉ có điều đừng dẫn đến xô xát, bạo động, lúc đó cảnh sát sẽ can thiệp ngay.

Trong khi đó thì ở Việt Nam-mọi hành vi của người dân dù là nhỏ nhất, để bày tỏ thái độ phản đối, tẩy chay Olympic Bắc Kinh của một chính quyền đã từng xua quân sang tấn công Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 cũng như đã và đang ngang nhiên xâm lược hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam-mọi hành vi đó nếu có chắc chắn sẽ bị dập tắt ngay. Trong những ngày này ngành an ninh, công an Việt Nam đang phải họat động hết sức tích cực để bảo vệ cho cái ngày rước đuốc Olympic đi ngang qua thành phố Sài Gòn vào 29.4 này. Không chỉ có quân đội, công an và an ninh Việt Nam mà cả an ninh Trung Quốc cũng vào cuộc. Tất cả những văn nghệ sĩ, trí thức, các blogger, sinh viên… đã từng biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa tháng 12.07 và tháng 1.08 vừa rồi hoặc đã từng bày tỏ thái độ, lên tiếng về tình hình chính trị-xã hội ở Việt Nam… đều bị sách nhiễu, đe dọa, đàn áp ở các mức độ khác nhau.

Tự do ngôn luận, tự do biểu tình bất bạo động…những điều được coi là bình thường ở các nước sẽ là bất bình thường, không được phép ở Việt Nam! Và ngược lại, sự im lặng không hề có một động thái mạnh mẽ nào từ trước đến nay của chính quyền để phản đối Trung Quốc trong hàng loạt hành động từ xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải, giết hại ngư dân người Việt cho đến một việc làm dù nhỏ nhưng đầy thâm ý: vẽ bản đồ rước đuốc với hai quẩn đào Trường Sa-Hoàng Sa như thể thuộc về Trung Quốc… lại là chuyện bình thường!

April 18, 2008

NGHỀ CHỤP MŨ

Đinh Lâm Thanh

Ba triệu người Việt Tự Do định cư tại nước ngoài chỉ là một số nhỏ so với trên tám chục triệu trong nước, nhưng chính là mối lo sợ hàng đầu đối với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Đây là một cộng đồng đầy đủ thực lực, từ nguồn chất xám, tinh thần đoàn kết, khả năng tài chánh đến vai trò chính trị…

Ngoại trừ tại Hoa kỳ, còn lại một số nhỏ định cư rải rác khắp toàn thế giới, nhưng cộng đồng người Việt chẳng những đã thu hút được cảm tình người bản xứ mà còn thay đổi được lối nhìn, quan niệm và thái độ của thế giới tự do đối với những người đã bỏ xứ ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tinh thần đoàn kết dưới màu cờ Vàng Ba Sọc Đỏ dù ở bất cứ nơi nào, người Việt Tự Do cũng đã giúp người dân bản xứ nhận ra sự hiểu biết thô sơ, lệch lạc cũng như những sai lầm của họ trước kia về chế độ Cộng sản Việt Nam.

Ngoài ra cần phải nói thêm, các nỗ lực và thành quả tốt đẹp của người Việt trong việc hội nhập vào xã hội mới cũng như tinh thần chống Cộng triệt để đã vô hiệu hóa tất cả những lời tuyên truyền, bịp bợm, láo khoét của các cơ quan ngoại giao Cộng sản từ trong nước cũng như ở hải ngoại. Khi vừa chiếm đoạt Miền Nam, Hà Nội đã vội vàng cướp tài sản, bỏ tù, đày đi kinh tế và xua ra đại dương những người mà Cộng sản cho là biếng nhác, ăn hại, phản động, tay sai, đánh thuê và là mầm mống nguy hiểm cho chế độ.

Nhưng chỉ một thời gian sau, chính Hà Nội lại âu yếm gọi bằng “khúc ruột ngàn dặm” và trân trọng trải thảm đỏ, mời những người bị chúng đã xua ra biển nên quên hận thù, quay về đùm bọc lấy anh em ruột thịtxây dựng lại quê hương! Vừa van lạy xin “tiền khúc ruột ngàn dặm”, vừa lo sợ trước tinh thần đoàn kết cũng như những thành công về kinh tế và chính trị của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Trên bình diện quốc tế, tập đoàn Cộng sản đã thua hẳn cộng đông người Việt tự do tại hải ngoại về mọi phương diện.

Muốn đánh bại cộng đồng, con đường tốt nhất là phải phá thối và gây chia rẽ nội bộ… Do đó, để phá hoại cộng đồng, Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu và dành một ngân khoảng lớn để huấn luyện, tổ chức và tưởng thưởng cho điệp viên, cán bộ nằm vùng và những ai đã lỡ “dính chàm” phải cúi đầu chờ lệnh.

Chỉ có hai sức mạnh khả dĩ đánh đổ được tập đoàn bạo quyền Hà Nội mà thôi, đó là tinh thần Đoàn Kết và Ngoại Tệ của cộng đồng người Việt hải ngoại mà tinh thần đoàn kết của người Việt hải ngoại mới đích thực là mối lo trầm trọng của tập đoàn Cộng sản Việt Nam. Do đó, chúng ta không lạ gì khi Cộng sản Việt Nam chi ra nửa tỷ dollars cho âm mưu kiều vận và phá hoại qua nghị quyết 36.

Nghị quyết này gồm nhiều tiết mục nhưng chung quy có thể thu gọn trong 3 phần với 3 mục đích chính: Lường gạt, tuyên truyền và phá hoại!

- Lường gạt :

Kêu gọi chất xám và tiền của người Việt nước ngoài. Đây là phần nổi của nghị quyết. Làm một công hai việc, vừa đánh bóng chế độ trong tinh thần hoà giải hòa hợp dân tộc và kêu gọi khúc ruột ngàn dặm đem hết khả năng và của cải về phục vụ đất nước. Nhưng thực chất là một sự lường gạt trắng trợn những người dễ tin để đem chất xám về phục vụ củng cố một tập đoàn thối nát, bất tài và tham nhũng, đồng thời khai thác tình thâm ruột thịt, liên hệ gia đình của những “con gà để trứng vàng” trong nước hầu móc túi thân nhân nước ngoài.

- Tuyên truyền:

Lợi dụng truyền thông, văn hóa để len lỏi vào Cộng đồng bằng cách ru ngủ, mua chuộc, lôi kéo từ người lớn xuống trẻ em dưới nhiều hình thức, từ sách báo, ca nhạc, cải lương đến các hoạt động xã hội, tôn giáo và nhất là chú trọng vào chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ nhỏ.

Các tòa đại sứ Cộng sản được cấp những ngân sách khổng lồ để thi hành nghị quyết bằng cách tổ chức những đội ngũ cán bộ, mục đích len lỏi vào các cơ sở của người nước ngoài như báo chí, truyền thanh truyền hình, lập ra nhiều trang báo điện tử, diễn đàn hoặc dùng tiền mua chuộc từ cá nhận đến tập thể trong các tổ chức này. Đây là phần chìm mà các cơ quan ngoại giao tại hải ngoại phải thi hành theo lệnh của bộ chính trị của đảng. Nhưng trong năm qua Cộng sản Việt Nam đã thất bại, các cơ quan ngoại giao nước ngoài không đạt chỉ tiêu cho năm 2006 trong chương trình xâm nhập vào toàn bộ các hiệp hội, đoàn thể, đảng phái của người Việt hải ngoại.

Quan trọng nhất là cuối năm 2006 chúng đã hoàn toàn thất bại trong âm mưu dùng tiền mua chuộc hoặc thay thế các chức vụ chủ tịch của cộng đồng bằng các cán bộ nằm vùng hay những tên cò mồi dễ dạy.

- Phá hoại :

Len lỏi vào cộng đồng, đảng phái, đoàn thể để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ, phá rối Cộng đồng người Việt hải ngoại… đồng thời huấn luyện, nuôi dưỡng đám “chó săn” để chúng theo dõi, bôi xấu, hù dọa, chụp mũ những ai có hành động gây phương hại cho chế độ Cộng sản. Đây mới là chính phần trọng tâm của nghị quyết 36!Phần nổi và phần chìm chúng tôi đã có dịp trình bày trong những bài trước, trong phạm vi lần này xin đề cập đến một đòn ma giáo thuộc phần trọng tâm của nghị quyết 36, là chụp những chiếc mũ Cộng sản cho những ai mà Hà Nội xem là thành phần cực kỳ phản động ở nước ngoài.Chụp mũ hay đội nón cối lên đầu những người quốc gia có tinh thần chống Cộng kiên trì, đối với Cộng sản là thượng sách, vừa ít tốn tiền nhưng lại tạo được nhiều kết quả thật quan trọng. Bất cứ ai có tên trong sổ đỏ thuộc thành phần “cực kỳ phản động” ở hải ngoại mà Cộng sản Việt Nam không thể mua chuộc, hù dọa hay bắt bớ được thì cứ việc ra lệnh cho đàn em đội ngay lên đầu họ một vài chiếc nón cối thật lớn là xong chuyện!

Vì Cộng sản biết rằng, cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại chẳng những căm thù người Cộng sản chính hiệu mà còn xa lánh, tẩy chay những tên tay sai ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản như trường hợp Trần Trường ở Cali cách đây vài năm. Cứ việc đội lên đầu người nào một vài cái nón cối thì trước sau gì danh dự của nạn nhân cũng bị tổn thương không nhiều thì ít. Đúng vậy, một khi dùng nón cối quật ngã được người nào thì xem như Cộng sản đã thắng một trận đánh lớn mà không mất một viên đạn.

Điều tệ hại quan trọng nhất là một số ít người trong cộng đồng thiếu suy tư phán đoán, thiếu tìm hiểu nạn nhân để chận đứng và vạch trần âm mưu của Cộng sản, do đó họ đã vô tình nối giáo cho giặc bằng sự im lặng của mình. Nói chống Cộng, ngồi lại với nhau thì hùng hổ nói thật hay, nhưng khi có việc thì rút vào bóng tối…

Chỉ một việc nhỏ như đi biểu tình chống Cộng trước tòa đại sứ Việt Cộng hằng năm vào ngày 30.4 thì thật đáng buồn khi so sánh số người tham dự với khách trong các buổi tiệc liên hoan, kỷ niệm của các hội đoàn chống Cộng!

Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức lúc nào cũng tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu, vì những người này thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn… dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại khó khăn khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những “tên phản động”.

Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người này đó, Cộng sản cứ đà tiến tới chụp mũ người này đến người kia. Do đó, vừa mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xả thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!

Thành phần chuyên nghiệp hành nghề chụp mũ là những ai?

Có thể là một trong ba hạng người sau đây: Cán bộ điệp viên đội lốt người tỵ nạn. Người nhẹ dạ đã-đang-sẽ hưởng bổng lộc của Cộng sản Việt Nam. Người bị “dính chàm” của Cộng sản vì một vấn đế nào đó và một khi vết “chàm” của Cộng sản đã dính lên người thì không bao giờ gội rửa được!

Cái bẫy giăng ra thật đơn giản là khi ban ân huê cho một cá nhân nào, Cộng sản chỉ cần ghi lại tất cả dấu vết để sau đó áp lực nạn nhân phải thi hành những yêu cầu của chúng. Nhiều trường hợp đi tù, một vài cá nhân nào đó đã bán đứng đồng đội mục đích kiếm điểm với kẻ thù, để được làm “cai tù” ăn trên ngồi trước, để chạy tội hay hy vọng rút ngắn thời gian cải tạo trở về đoàn tụ với gia đình… Lúc cần thì Cộng sản xử dụng những bút tích đó để hù dọa, bắt chẹt và ép buộc phải tìm cách đội lên đầu cái nón cối cho những ai mà Cộng sản cần phải thanh toán! …

Đó là trò đểu của Hà Nội đang mang ra áp dụng tại hải ngoại để tách rời những người chống Cộng ra khỏi cộng đồng người Việt. Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chửi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chửi bới hăm dọa. Phương thức này chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chửi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật, nhưng những người này thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối rỉ tai người này người khác.

Trường hợp này mới nguy hiểm vì cộng sản đã thành công trong việc gây xao trộn cộng đồng, tạo chia rẽ giữa người này người kia… Nhân cách của những kẻ thường dùng kỹ thuật rỉ tai đã là xấu vì nói lén sau lưng người khác, người “bị” nghe thường không chú ý, nhưng nghe mãi nghe hoài cũng thấm vào đầu óc họ.

Đó là chiến thuật tuyên truyền của Cộng sản, cứ nói mãi, thế nào cũng còn lưu lại trong đầu người nghe không nhiều thì ít! Những người đội tên giả chửi bới vô liêm sĩ thật ra không nguy hiểm bằng hạng người rỉ tai người này người kia thì chúng ta cần phải cảnh giác.

Kết quả Cộng sản đã thắng bằng lối tuyên truyền cố hữu, chỉ một viên đạn bắn ra đã sát hại nguyên cả đàn chim.Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh… muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng, khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ…

Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức lúc nào cũng tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu, vì những người này thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn… dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại khó khăn khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những “tên phản động”. Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người này đó, Cộng sản cứ đà tiến tới chụp mũ người này đến người kia. Do đó, vừa mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xả thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!

Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chửi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chửi bới hăm dọa. Phương thức này chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chửi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật, nhưng những người này thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối rỉ tai người này người khác.

Hành động của thành phần này đã tạo ra những môi trường thuận lợi cho kế hoạch phá hoại của nghị quyết 36. Để kết nạp thành phần này, địch có thể cung cấp nhân lực cũng như tài chánh mục đích tạo ra thật nhiều hiệp hội, nhiều đoàn thể, đảng phái nhằm chia xẻ tinh thần đoàn kết của cộng đồng.

Vô tình thành phần này trở thành công cụ không công cho địch, rồi một lúc nào đó, với một ân huệ hay hứa hẹn nào đó, những người này trở thành những tay đắc lực phụ vụ cho quyền lợi của đảng Cộng sản Việt Nam.

Chụp mũ là thủ đoạn của Cộng sản, hành động này là nghề nghiệp của các điệp viên, những tên cán bộ công an núp bóng trong hàng ngũ tỵ nạn.

Những người quốc gia chân chính, đừng vì ganh ghét cá nhân, đừng vì một chút lợi lộc tiền bạc hay những lời hứa hẹn của địch mà nhắm mắt làm theo lệnh quan thầy, đánh lung tung người này đến người khác. Một khi Hà Nội chỉ thị phải đánh một người nào thì phải nghĩ rằng người đó là cái gai trước mặt mà chúng cần phải nhổ bỏ, nếu đánh gục họ thì xem như một người quốc gia đã dùng vũ khí Cộng sản đánh thẳng vào cộng đồng người Việt Tự Do ở hải ngoại.

Việc vạch mặt chỉ tên những tên Cộng sản nằm vùng phá hoại cộng đồng là một việc phải làm của tất cả mọi người, nhất trong giai đoạn này để loại ra khỏi cộng đồng những phần tử đang ráo riết gây rối và phá hoại cộng đồng trong nhiều lãnh vực. Nhưng tuyệt đối đừng nghe lời của những người có thành tích bất hảo, miệng chống Cộng vung vít nhưng đàng sau chúng đưa tay nhận tiền bạc lợi lộc của kẻ thù để đội lên đầu những người chống Cộng chân chính và nhiệt huyết những cái nón cối.

Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thật chính xác về đời tư, quá trình hoạt động của hai đối tượng, người hành nghề chụp mũ cũng như nạn nhân để tránh việc xét đoán lầm người.

Chỉ một hành động chuyền miệng rỉ tai bôi xấu một người nào đã là hành động của kẻ tiểu nhân, chưa kể đến những chuyện bày đặt buồn cười vô căn cứ thì chúng ta nên xét lại và ngăn chận kịp thời, tránh chuyện “tam sao thất bổn” nhỏ biến thành lớn, chuyện ruồi bu thành vấn đề quan trọng.

Không có chuyện gì có thể bưng bít lâu dài, không nhanh thì chậm, tất cả sự thật sẽ được phơi bày dưới ánh mặt trời, chừng đó người đời sẽ phê phán hành động của những người hành nghề chụp mũ và con cái cháu chắc sẽ tủi nhục vì những hành động của cha ông mình. Nhưng hiện tại nếu không mau trừ khử những người hành nghề chụp mũ kịp thời thì trong giai đoạn quyết liệt này cộng đồng chúng ta sẽ thiếu hoặc mất đi những người tiên phong chống Cộng.”,[1]

Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh… muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng, khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ…

Chụp mũ là công việc của bọn công an, điệp viên nằm vùng, nếu là người quốc gia, những ai đã bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản thì xin hãy dừng tay, đừng vì cá nhân, tiền bạc, phe nhóm mà nhắm mắt chụp mũ những người đang tranh đấu nhiệt tình trong lòng cộng đồng người Việt. Một điều khẳng định rằng, một khi Cộng sản ra lệnh chụp mũ một người nào thì chắc chắn rằng Hà Nội muốn bịt miệng và tách rời người đó ra khỏi cộng đồng bằng trò chia rẻ.

Cũng xin nhắc nhở những người đang hành nghề chụp mũ, không phải ai cũng sợ chiếc nón cối, mà một số người chống cộng nhiệt tình, có lý tưởng từ trong máu huyết mà họ đã chứng minh bằng những hành động bất vụ lợi từ lúc cắp sách đến trường cho đến ngày nay thì không bao giờ cái nón cối đánh gục được họ. Đối với những người này, càng bị chụp mũ, họ càng đứng dậy, hiên ngang tiếp tục con đường tranh đấu cho đến ngày nhắm mắt.

Mong rằng những người trong hàng ngũ quốc gia thường xử dụng đòn chụp mũ hãy lấy lương tâm tìm hiểu nạn nhân. Thật tình mà nói, những người chống Cộng thật cô đơn, chính vợ con họ phản đối vì đã gây cho gia đình biết bao lo lắng buồn phiền mà còn bị những người thường về Việt Nam như bà con, thân nhân, bạn bè cũng như đồng hương, đồng chí… tránh né vì sợ Cộng sản khám phá ra có liên hệ thân thiết với những tên “cực kỳ phản động”ở nước ngoài!

Tóm lại, người trí thức quân tử dám nói dám làm, tôn trọng sự thật và sẵn sàng chấp nhận sai lầm của mình… Tiểu nhân, ngửa tay nhận ân huệ tiền bạc của bất cứ ai để thi hành bất cứ tội ác nào được giao phó từ ném đá giấu tay, mang tên ảo, rỉ tai, bôi xấu đến chụp mũ những người bị đối phương xếp vào loại “phản động”. Thế thì nuôi dưỡng bao che cho tiểu nhân làm gì để chúng tiếp tay Hà Nội, bôi nhọ những phần tử Quốc gia… để rồi cộng đồng sẽ thiếu nhiều chiến sĩ tiền phong trong hàng ngũ chống Cộng sản. Nếu còn chút lương tri, xin hãy nghĩ lại xem…

April 3, 2008

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH XÂM PHẠM QUYỀN CON NGƯỜI

bitmat.jpghttp://blog.360.yahoo.com/blog-FuoEs40yd6RRny_PYSPvm1VnOVpUuw–?cq=1&p=1300

Website Chính phủ Việt Nam vừa đăng tải Dự thảo Nghị định “Quy định xử phạt hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” cho nhân dân góp ý (xem toàn văn bản dự thảo tại đây); bên cạnh những điểm tích cực của dự thảo, tôi đề nghị ban soạn thảo nên bỏ, hoặc sửa đổi những điều khoản sau:

(xem toàn văn bản dự thảo tại đây)

1. Căn cứ ban hành Nghị định trái với Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

Mở đầu dự thảo, phần viện dẫn các căn cứ pháp luật để làm cơ sở cho việc ban hành Nghị định “Quy định xử phạt hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” (gọi tắt là Nghị định xử phạt) này làCăn cứ Nghị định số …/2008/NĐ-CP ngày …/…/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” (gọi tắt là Nghị định quản lý), tôi đặc biệt nhấn mạnh vào chổ Nghị định quản lý này không số, không ngày tháng, năm ban hành là 2008, chứng tỏ Nghị định này chưa hề tồn tại trong thực tế.

Có thể hiệu rằng Nghị định quản lý là cái định khung, đề ra một chuẩn mực, một giới hạn để cho công dân theo đó mà tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp quy định pháp luật. Nếu cá nhân nào vượt quá giới hạn chuẩn mực đó sẽ bị các chế tài pháp luật điều chỉnh.

Trong trường hợp này, Nghị định quản lý còn chưa hình thành, chưa ra đời, chưa có hiệu lực… nhưng người ta đã vội vàng muốn xử phạt người dân bằng cách quy cho họ đã vi phạm vào một cái chuẩn… chưa có? Do đó, đã vi phạm vào Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tức vi phạm nguyên tắc văn bản ban hành phải hợp pháp, dùng một văn bản pháp luật chưa ra đời để làm căn cứ ban hành một văn bản pháp luật mới là không hợp pháp..

2. Quy định trái với Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự và Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền:

Khoản 2 Điều 9 dự thảo Nghị định xử phạt quy định:

“Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Khái niệm “thẩm quyền” có nghĩa là quyền xem xét, quyết định một vấn đề nào đó về mặt hành chính (thẩm quyền xét xử của toà án) hoặc tư cách về chuyên môn để xem xét, quyết định (người có thẩm quyền khoa học).

Có nhiều loại thẩm quyền, ví dụ các thẩm quyền chung là: thẩm quyền lập pháp, thẩm quyền tư pháp, thẩm quyền hành pháp; chia nhỏ ra lại có: thẩm quyền điều tra, thẩm quyền xét xử, thẩm quyền truy tố, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính…

Theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, riêng thẩm quyền điều tra đã bao gồm rất nhiều cơ quan là: Bộ Công an, Viện kiểm sát, Bộ Quốc phòng, và các lực lượng được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển;

Dự thảo Nghị định xử phạt này được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị lên Thủ tướng Chính phủ, chắc chắn Bộ Thông tin và Truyền thông cũng liệt mình vào hàng “cơ quan có thẩm quyền” chớ không thể đứng ngoài.

Chỉ riêng việc “cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ” cũng có quá nhiều “cơ quan có thẩm quyền” có quyền yêu cầu theo kiểu “mật ít ruồi nhiều”, ai cũng tự cho mình là “cơ quan có thẩm quyền” cả, gây ra tình trạng lộn xộn, rối ren, dễ dàng dẫn đến việc cán bộ lạm quyền để sách nhiễu, gây khó khăn cho người sử dụng.

Điều 73 Hiến pháp quy định: Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật”.

Điều 8 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định về: Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân như sau:

“Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện tín, khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của Bộ luật này”.

Việc đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ Internet phải cung cấp thông tin cá nhân của người sử dụng không theo trình tự quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự cũng là trái với Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tức vi phạm nguyên tắc văn bản ban hành phải hợp pháp, Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”, xét về thứ tự thì BLTTHS do Quốc Hội ban hành có giá trị pháp lý cao hơn Nghị định nên Nghị định phải phù hợp, thống nhất với Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh.

Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền quy định: Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm như vậy. Như vậy, Khoản 2 Điều 9 dự thảo Nghị định xử phạt cũng vi phạm vào luật pháp quốc tế, đi ngược lại xu hướng hội nhập của Việt Nam.

Tôi đề nghị Ban soạn thảo nên bỏ khoản 2 Điều 9 dự thảo Nghị định xử phạt này.

3. Điều khoản mù mờ, trái Luật, trái Hiến pháp:

Điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định xử phạt quy định:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Truy nhập nhiều lần vào trang thông tin điện tử có một trong những nội dung: gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá Việt Nam;”

Khái niệm “truy nhập” (truy cập) tương đương với từ Access ở tiếng Anh, là một hành động khi người sử dụng cố gắng tiếp cận với dịch vụ cụ thể trên hệ thống internet. Ví dụ khi ta muốn đọc báo, thì ta phải “truy cập” vào trang web của báo, ta muốn vô blog thì phải “truy cập” vô trang blog. Cũng theo cách hiểu thông thường, số lượng từ 2 đơn vị trở lên được gọi là số nhiều. Như vậy, bao nhiêu lần thì được xem là “nhiều lần”? 2 lần có phải là “nhiều lần”?

Như thế nào là một trang thông tin điện tử “gây phương hại đến an ninh quốc gia”? “gây phương hại đến trật tự xã hội”? “Vi phạm thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá Việt Nam”? Những trang báo nhưng có kèm theo hình ảnh các panô quảng cáo, hay giới thiệu chuyên đề “người đẹp thể thao” ăn mặc kiểu “thừa da thiếu vải” khác với truyền thống “ăn chắc mặc dày” của người Việt xưa thì có bị coi là trái với “bản sắc văn hóa Việt Nam”? Như thế nào là kín mà như thế nào là hở, hở bao nhiêu là vừa? Hoặc nam nữ hôn nhau trên phim bao nhiêu phút thì không bị coi là “Vi phạm thuần phong mỹ tục”??? v.v… v.v…

Cơ quan, tổ chức nào có quyền quy định các chuẩn mực này? Cơ quan, tổ chức đó căn cứ vào cơ sở khoa học nào để định ra các quy chuẩn này? Khi mà những chuẩn mực quy phạm đó còn chưa định hình, chưa có thì dự thảo Nghị định này căn cứ vào đâu để cho rằng có hành vi vi phạm xảy ra? Quy định chung chung, mù mờ như thế chẳng khác nào tạo điều kiện nhập nhằng, rối rắm để cán bộ lợi dụng biến pháp luật thành công cụ nhũng nhiễu dân lành.

Ngay cả Bộ Luật Hình Sự cũng không coi hành vi xem đĩa CD, phim video, tranh ảnh, sách báo khiêu dâm, trụy lạc là phạm tội thì chẳng có lý do gì để cho rằng người ta vi phạm khi lướt web. Đọc quy định này của dự thảo, tôi có cảm nghĩ ban dự thảo chắc chẳng khi nào biết cầm con chuột máy vi tính lướt web để tìm kiếm thông tin?

Điều 69 Hiến pháp Việt Nam quy định:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Khoản 2, khoản 7, Điều 5 Luật Công nghệ thông tin quy định:

“Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu”; “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin”;

Việc người dùng truy cập vào bất cứ một trang thông tin điện tử nào đó là người dùng đang thực hiện quyền tìm kiếm thông tin, thực hiện quyền được thông tin do Hiến pháp quy định; không ai có quyền đặt ra những quy định khác trái với Hiến pháp để hạn chế quyền công dân của người khác.

Mặt khác, tại Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền ghi nhận: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bầy tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới”.

Có thể thấy điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định xử phạt trái với Hiến pháp, trái với Luật Công nghệ thông tin, nên cũng trái với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trái với tinh thần chung của luật pháp quốc tế. Do đó, tôi đề nghị Ban soạn thảo nên bỏ điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định xử phạt này.

4. Quy định không khả thi, gây lãng phí, tốn kém, trái với Hiến pháp:

Điểm c khoản 3 Điều 13 dự thảo Nghị định quy định:

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

c) Sử dụng địa chỉ Internet hoặc số hiệu mạng trực tiếp từ các tổ chức quốc tế khi chưa được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép”.

Theo giải thích của một chuyên viên IT đang làm việc cho một Công ty nước ngoài tại Việt Nam thì khái niệm “địa chỉ Internet” thông thường được hiểu theo 2 nghĩa, đó là địa chỉ IP và địa chỉ URL, 2 địa chỉ này về bản chất chỉ:

a. Địa chỉ IP: bao gồm 4 dãy số, ví dụ: 203.162.4.1 là 1 địa chỉ IP, nếu địa chỉ URL của nó sẽ là hcm-server1.vnn.vn

b. Địa chỉ URL: ví dụ: http://360.yahoo.com, địa chỉ IP của nó sẽ là: 216.252.106.238

Nôm na nó giống như tên của người và số giấy chứng minh nhân dân, cả 2 đều chỉ về 1 người, cho dễ nhớ vậy.

Do đó, địa chỉ http://360.yahoo.com/ta.phongtan (tức địa chỉ blog cá nhân của tôi) thì rõ ràng là 1 địa chỉ internet dạng Tên.

Như vậy, theo quy định của dự thảo Nghị định này, nếu tôi muốn sử dụng địa chỉ blog cá nhân của tôi, hoặc ai đó muốn xem blog của tôi… cũng đều phải “được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép”.

Theo trang Điểm tin Thương mại điện tử (tuần từ 16/ đến 21/4/2007) của Bộ Thương mại, ghi nhận: “trong ba tháng đầu năm nay, theo số liệu của Trung tâm Internet VN (VNNIC), số lượng người sử dụng Internet ở VN đã tăng từ khoảng 12,2 triệu người lên hơn 15,1 triệu người (tăng 24%), chiếm khoảng 18% dân số cả nước”.

Con số 15,1 triệu người sử dụng Internet ở Việt Nam nói trên là thống kê chưa đầy đủ của 6 tháng đầu năm 2007, bình quân tăng 3 triệu người dùng Internet/năm. Hiện nay đã hết quý 1 năm 2008, vậy đến khi Nghị định này được thông qua và có hiệu lực thi hành, lượng người dùng Internet chắc chắn không dừng lại ở con số 20 triệu người. Vậy Bộ Thông tin và Truyền thông dự định sẽ duyệt bao nhiêu đơn xin và cấp giấy phép sử dụng địa chỉ Internet cho bao nhiêu triệu người?

Rõ ràng, quy định này của dự thảo Nghị định không những không có tính khả thi, gây lãng phí, tốn kém thời gian, tiền bạc cho nhiều người mà còn vi phạm nghiêm trọng vào Điều 69 Hiến pháp và Điều 5 Luật Công nghệ thông tin; tôi đề nghị ban soạn thảo cũng nên loại bỏ điểm c khoản 3 Điều 13 dự thảo Nghị định này.

* * *

Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết “Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này”.

Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1977, hiện nay còn là tư cách thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Việt Nam càng phải có nghĩa vụ thực thi và luật hóa nghiêm những điều khoản của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền, cũng như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà chính quyền Việt Nam đã ký kết ngày 24/9/1982.

Ngày 13-3, trả lời câu hỏi của phóng viên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng nhấn mạnh:

“Trong những năm qua, VN đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc bảo đảm và phát huy ngày càng tốt hơn các quyền tự do của người dân trong mọi lĩnh vực, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin.

Nhà nước VN luôn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân”.

Vậy thì không có lý do gì, Chính phủ Việt Nam lại ban hành một Nghị định xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của công dân, trái với các quy định của hệ thống luật pháp Việt Nam hiện hành và trái chuẩn mực luật pháp quốc tế.

Tạ Phong Tần

_____________________________________________________________________

 

CHÍNH PHỦ

________

Số :     /2008/NĐ-CP

 Dự thảo:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_______________________________________

Hà Nội, ngày      tháng     năm 2008

NGHỊ ĐỊNH

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

_____

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;

Căn cứ Luật Báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12 tháng 06 năm 1999;

Căn cứ Luật Xuất bản ngày 14 tháng 12 năm 2004;

Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002;

Căn cứ Nghị định số …/2008/NĐ-CP ngày …/…/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

2. Vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet quy định tại Chương II Nghị định này là hành vi của tổ chức, cá nhân cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

3. Các hành vi vi phạm hành chính trong việc cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành khác trên Internet thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet trong phạm vi lãnh thổ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam thì bị xử phạt hành chính như tổ chức, cá nhân Việt Nam. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.

2. Người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì xử lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 và Điều 7 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002.

Điều 3. Nguyên tắc xử phạt    

1. Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet phải do người có thẩm quyền quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định này tiến hành theo đúng quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

2. Mọi hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet khi được phát hiện phải đình chỉ ngay. Việc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

3. Một hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet chỉ bị xử phạt một lần. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.

4. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính để quyết định hình thức, biện pháp, mức xử phạt thích hợp.

5. Không xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Điều 4. Thời hiệu xử phạt

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet là một năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện.

Đối với hành vi vi phạm quy định về giá, phí, lệ phí, xuất nhập khẩu, sở hữu trí tuệ trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện.

2. Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt vi phạm hành chính; trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 03 tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.

3. Quá thời hạn nêu tại các khoản 1 và 2 Điều này thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này.

4. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và 2 Điều này nếu tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

Điều 5. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

c) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam.

3. Ngoài các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung nêu trên, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm có liên quan tới quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

d) Buộc tiêu hủy vật phẩm hoặc xóa bỏ nội dung thông tin điện tử trên Internet gây hại cho tinh thần, sức khỏe con người, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, có nội dung độc hại;

đ) Thu hồi hoặc buộc hoàn trả kinh phí chiếm dụng, thu sai, chi sai;

e) Thu hồi tên miền, địa chỉ Internet, số hiệu mạng.

Chương II

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH, HÌNH THỨC

VÀ MỨC XỬ PHẠT

Điều 6. Vi phạm các qui định về giấy phép

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng quá hạn đến 30 ngày giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử;

b) Không làm thủ tục cấp lại khi giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử bị mất hoặc bị hư hỏng;

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sửa chữa, tẩy xoá làm thay đổi nội dung giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử;

b) Kê khai thông tin không trung thực để được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn giấy phép trên 30 ngày.

4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối hành vi không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn trên 30 ngày giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thiết lập hệ thống thiết bị để cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn giấy phép cung cấp dịch vụ Internet trên 30 ngày;

b) Xuất bản báo điện tử không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn giấy phép trên 30 ngày.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép không thời hạn đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại khoản 3, 4, và 5 Điều này.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, 4 và 5 Điều này.

Điều 7. Vi phạm các quy định về thiết lập mạng Internet dùng riêng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định trong giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng;

b) Chủ mạng Internet dùng riêng cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của mạng;

c) Chủ mạng Internet dùng riêng không dừng cung cấp dịch vụ truy nhập Internet khi phát hiện thấy thành viên của mạng vi phạm Điều 6 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc theo văn bản yêu cầu  của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi các mạng Internet dùng riêng kết nối trực tiếp với nhau.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép từ 30 ngày đến 90 ngày đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều này;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại điểm khoản 1, 2 Điều này.

Điều 8. Vi phạm các quy định về cung cấp dịch vụ Internet

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến  10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Ngừng hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ Internet mà không thông báo cho người sử dụng dịch vụ Internet biết trước, trừ trường hợp bất khả kháng;

b) Từ chối cung cấp dịch vụ Internet khi không có lý do chính đáng;

c) Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet;

d) Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng không cung cấp đường truyền dẫn viễn thông hoặc không phân tách mạch vòng nội hạt cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khi được yêu cầu mà không có lý do chính đáng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không ban hành hợp đồng mẫu để thực hiện thống nhất trong toàn doanh nghiệp;

b) Không chấm dứt cung cấp dịch vụ Internet đối với người sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không thiết lập đường truyền dẫn kết nối đến trạm trung chuyển Internet quốc gia đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đồng thời là doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng.

4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thông báo hoặc thông báo không đúng quy định thời điểm bắt đầu chính thức cung cấp dịch vụ và kế hoạch triển khai cung cấp dịch vụ cho Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Bộ Công an;

b) Thiết lập hệ thống thiết bị để cung cấp các dịch vụ Internet cho công cộng không đúng theo quy định của giấy phép.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tước quyền sử dụng giấy phép từ 30 ngày đến 90 ngày đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 4 Điều này.

Điều 9. Vi phạm các quy định về cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không xây dựng quy chế cung cấp, sử dụng và trao đổi thông tin theo quy định;

b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy chế cung cấp, sử dụng và trao đổi thông tin do doanh nghiệp tự ban hành.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ  theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến khi chưa có thông báo của Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận về việc đã nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ.

4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện việc ngăn chặn và loại bỏ các nội dung thông tin vi phạm quy định tại Điều 6 của Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 10. Vi phạm các quy định về sử dụng dịch vụ Internet

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng hoặc hướng dẫn người khác sử dụng các dịch vụ Internet bị cấm theo quy định của pháp luật;

b) Truy nhập nhiều lần vào trang thông tin điện tử có một trong những nội dung: gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá Việt Nam;

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng Internet để truyền bá các thông tin, hình ảnh đồi trụy, hoặc những thông tin khác trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet, mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1; khoản 2 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xóa bỏ các thông tin đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 11. Vi phạm các quy định về đại lý Internet

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi không niêm yết hoặc niêm yết không đầy đủ nội qui sử dụng dịch vụ Internet tại địa điểm cung cấp dịch vụ được qui định tại khoản 5 Điều 15 của Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

b) Không ký hợp đồng đại lý với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không bảo đảm các quy định, tiêu chuẩn về phòng cháy, chữa cháy; vệ sinh môi trường nhằm bảo vệ an toàn và sức khỏe cho người sử dụng dịch vụ;

b) Hệ thống thiết bị Internet không đáp ứng các yêu cầu về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin theo quy định;

c) Thiết lập hệ thống thiết bị Internet ngoài địa điểm đã đăng ký theo hợp đồng để làm đại lý Internet ;

d) Mở cửa cho khách hàng sử dụng dịch vụ ngoài giờ quy định.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cho phép sử dụng dịch vụ khi người sử dụng vi phạm Điều 6 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

Điều 12. Vi phạm các quy định về tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp dịch vụ Internet không thuộc danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng nhưng không tự công bố chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng trên trang tin điện tử của doanh nghiệp;

b) Công bố hoặc tự công bố chất lượng dịch vụ không đúng thời hạn theo quy định;

c) Công bố trên trang tin điện tử của doanh nghiệp hoặc niêm yết tại các điểm giao dịch không đúng với Bản công bố chất lượng dịch vụ và Danh mục các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ trong hồ sơ công bố chất lượng dịch vụ đã gửi cơ quan quản lý nhà nước;

d) Chậm ban hành quy chế tự kiểm tra hoặc quy chế tự giám sát chất lượng dịch vụ theo quy định;

đ) Chậm thực hiện việc tự kiểm tra hoặc tự giám sát theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

e) Không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ văn bản kết quả giám sát, các số liệu giám sát trong thời hạn hai (02) năm kể từ ngày lập kết quả giám sát;

f) Không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ văn bản kết quả kiểm tra, đo kiểm, đánh giá, các số liệu xây dựng kết quả kiểm tra, số liệu đo kiểm, đánh giá ít nhất là hai (02) năm kể từ ngày lập kết quả kiểm tra, số liệu đo kiểm, đánh giá.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không công bố trên trang tin điện tử hoặc niêm yết tại các điểm giao dịch của doanh nghiệp Bản công bố chất lượng dịch vụ và danh mục các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ của các dịch vụ Internet thuộc danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng;

b) Không ban hành quy chế tự kiểm tra hoặc quy chế tự giám sát chất lượng dịch vụ theo quy định;

c) Không thực hiện việc tự kiểm tra hoặc tự giám sát chất lượng dịch vụ theo quy định;

d) Không thực hiện giám sát chất lượng dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

e) Thực hiện việc tự kiểm tra hoặc giám sát chất lượng dịch vụ không đúng với quy định hoặc không đúng với yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp dịch vụ Internet thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng nhưng không có Bản công bố chất lượng dịch vụ;

b) Cung cấp dịch vụ Internet có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng dịch vụ đã công bố hoặc tự công bố.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 13. Vi phạm các quy định về tài nguyên Internet

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng tên miền cấp cao khác tên miền “.vn” không thông báo hoặc thông báo thông tin không chính xác hoặc thay đổi thông tin mà không thông báo cho cơ quan quản lý tài nguyên Internet Việt Nam;

b) Không ký hợp đồng với Trung tâm Internet Việt Nam khi cung cấp tên miền ”.vn”.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử khi cấp tên miền quốc gia “.vn”.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan Đảng, Nhà nước không sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” hoặc không lưu trữ trong các máy chủ có địa chỉ IP ở Việt Nam;

b) Sử dụng tên miền để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật;

c) Sử dụng địa chỉ Internet hoặc số hiệu mạng trực tiếp từ các tổ chức quốc tế khi chưa được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép;

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký hoạt động với Bộ Thông tin và Truyền thông khi làm đại lý cho các tổ chức cung cấp tên miền quốc tế ở nước ngoài.

5. Đối với hành vi vi phạm khác về tài nguyên Internet áp dụng theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Công nghệ thông tin.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Thu hồi tên miền đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

b) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp tên miền đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này.

Điều 14. Vi phạm các quy định về giá, cước, phí, lệ phí

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo giá cước theo quy định.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký giá cước theo quy định.

3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet thu cước không đúng với mức giá cước đã công bố.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không ban hành hoặc ban hành quyết định giá cước dịch vụ Internet không đúng thẩm quyền.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet không hạch toán riêng dịch vụ Internet;

b) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet không xác định giá thành dịch vụ Internet theo quy định.

6. Đối với hành vi niêm yết và các hành vi vi phạm khác về giá cước trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet áp dụng theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá.

7. Đối với hành vi vi phạm về phí, lệ phí trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet áp dụng theo quy định tại Nghị định Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí.

8. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Thu hồi số tiền đã thu sai đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 15. Vi phạm các quy định về trang thông tin điện tử tổng hợp, phát hành báo điện tử, xuất bản trên mạng Internet

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đưa sản phẩm quảng cáo lên Internet nhưng không gửi trước sản phẩm quảng cáo đến cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo theo quy định.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đưa lên Internet các xuất bản phẩm chưa được phép lưu hành;

b) Đưa lên Internet các tác phẩm văn học, nghệ thuật mà không được sự đồng ý của tác giả.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo hàng hoá, dịch vụ thuộc loại cấm quảng cáo trên Internet.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định trong giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi đăng nội dung không được phép thông tin nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xóa bỏ nội dung thông tin điện tử trên Internet đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này.

Điều 16. Vi phạm các quy định an toàn, an ninh thông tin

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đánh cắp mật khẩu hoặc khoá mật mã hoặc thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác;

b) Sử dụng trái phép mật khẩu hoặc khoá mật mã hoặc thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác;

c) Phổ biến mật khẩu hoặc khoá mật mã hoặc thông tin riêng của tổ chức, cá nhân bị đánh cắp.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không triển khai hoặc triển khai không đầy đủ các trang thiết bị và phương án kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Không dừng cung cấp dịch vụ khi thiết bị truy nhập đầu cuối gây mất an toàn cho hệ thống thiết bị Internet;

c) Vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng máy tính gây rối loạn hoạt động, phong toả hoặc làm biến dạng, làm huỷ hoại các dữ liệu trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng không phối hợp hoặc phối hợp không đầy đủ với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và điều tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động Internet.

4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện các nhiệm vụ khẩn cấp hoặc các nhiệm vụ công ích do cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a, b khoản 1; điểm c khoản 2 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; điểm c khoản 2 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều này.

Điều 17. Vi phạm các quy định về việc cung cấp, sử dụng thông tin tài liệu mật

Đối với hành vi vi phạm các quy định về việc cung cấp, sử dụng thông tin, tài liệu mật trên môi trường mạng áp dụng theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Công nghệ thông tin.

Điều 18. Vi phạm các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không hướng dẫn hoặc không cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ cho khách hàng; 

b) Không giải quyết khiếu nại của khách hàng về giá cước hoặc chất lượng dịch vụ;

c) Không ban hành quy trình giải quyết khiếu nại liên quan đến dịch vụ Internet;

d)Không niêm yết công khai quy trình giải quyết khiếu nại liên quan đến dịch vụ Internet tại các điểm giao dịch;

đ) Giải quyết  khiếu nại liên quan đến dịch vụ Internet không đảm bảo thời gian theo quy định;

e) Không cung cấp tên, địa chỉ, số máy điện thoại và thời gian truy nhập của thuê bao viễn thông truy nhập Internet để phục vụ việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc sử dụng trái phép dịch vụ Internet.

Điều 19. Vi phạm các quy định về chế độ báo cáo 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi chậm báo cáo theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo không đầy đủ theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo không đúng theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 20. Hành vi cản trở, chống đối nhân viên, cơ quan nhà nước thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không xuất trình hoặc xuất trình không đầy đủ các tài liệu, giấy tờ, chứng từ có liên quan theo yêu cầu của người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra;

b) Không khai báo hoặc khai báo không đúng về nội dung liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra của nhân viên, cơ quan nhà nước khi thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Tẩu tán tang vật vi phạm đang bị thanh tra, kiểm tra hoặc tạm giữ;

b) Tự ý tháo gỡ niêm phong tang vật vi phạm đang bị niêm phong hoặc tạm giữ.

4. Phạt tiền từ từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trì hoãn, trốn tránh không thi hành các quyết định hành chính về thanh tra và xử lý vi phạm hành chính của người hoặc cơ quan có thẩm quyền.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Thu hồi tang vật, phương tiện đã bị tẩu tán đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.

Chương III

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XỬ  PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Mục 1

THẨM QUYỀN XỬ PHẠT

Điều 21. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành Thông tin và Truyền thông

1. Thanh tra viên chuyên ngành Thông tin và Truyền thông đang thi hành công vụ có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 200.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

đ) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 2 Điều 46 và khoản 2 Điều 48 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Chánh thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép thuộc thẩm quyền;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

e) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 46 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Chánh thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép thuộc thẩm quyền;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

e) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 46 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 22. Thẩm quyền xử phạt của Thanh tra chuyên ngành khác

Trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước được Chính phủ quy định, Thanh tra viên và Chánh Thanh tra các cơ quan thanh tra chuyên ngành khác có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong việc cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.

Điều 23. Thẩm quyền xử phạt của Ủy ban nhân dân các cấp

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại các Điều 28, 29 và 30 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi địa bàn do mình quản lý đối với các hành vi vi phạm hành chính về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet được quy định tại Nghị định này.

Điều 24. Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, cơ quan Thuế, cơ quan Quản lý thị trường

Cơ quan Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan Thuế, cơ quan Quản lý thị trường có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại các Điều 31, 32, 33, 34, 36 và 37 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình quản lý được quy định tại Nghị định này.

Điều 25. Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

1. Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

2. Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

3. Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 42 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Mục 2

THỦ TỤC XỬ PHẠT

Điều 26. Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt chính

1. Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, người có thẩm quyền xử phạt phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính.

2. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ theo thủ tục đơn giản quy định tại Điều 54 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền trên 100.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt phải kịp thời lập biên bản về vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Nếu người lập biên bản vượt quá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì phải gửi kịp thời biên bản và các hồ sơ liên quan đến cấp có đủ thẩm quyền để ra quyết định xử phạt.

4. Quyết định xử phạt, thủ tục phạt tiền thực hiện theo quy định tại Điều 56 và 57 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

5. Tổ chức, cá nhân bị phạt tiền phải nộp tiền phạt theo quy định tại Điều 58 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 27. Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép

Thủ tục tước quyền sử dụng các loại giấy phép về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 28. Thủ tục tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

1. Khi áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản theo quy định tại Điều 60 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Việc xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 61 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 29. Thủ tục trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính

Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 97/2006/NĐ-CP ngày 15/9/2006 của Chính phủ về Quy định việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo thủ tục hành chính.

Điều 30. Thi hành quyết định xử phạt

1. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính phải thi hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hạn này được ghi rõ trong quyết định xử phạt. Quá thời hạn trên, tổ chức, cá nhân bị xử phạt không tự giác chấp hành thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành.

2. Việc hoãn chấp hành quyết định phạt tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 65 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

4. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được giao cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt hoặc thông báo cho họ đến nhận. Trường hợp đã qua một năm mà quyết định xử phạt không thể giao đến tổ chức, cá nhân bị xử phạt do họ không đến nhận, không xác định được địa chỉ của họ hoặc lý do khách quan khác, thì người đã ra quyết định xử phạt ra quyết định đình chỉ thi hành các hình thức xử phạt nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt.

Điều 31. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

1. Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và tổ chức việc cưỡng chế được thực hiện theo quy định tại Điều 67 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 32. Quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền theo quy định tại Điều 62 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Chương IV

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, XỬ  LÝ VI PHẠM

Điều 33. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại đối với quyết định xử phạt của người có thẩm quyền. Trong thời gian chờ kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân bị xử phạt vẫn phải thi hành quyết định xử phạt trừ trường hợp buộc tháo dỡ công trình xây dựng.      

2. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

3. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

4. Thẩm quyền, thủ tục, trình tự, thời hạn khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; khởi kiện hành chính thực hiện theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.    

Điều 34. Xử lý vi phạm

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt vượt quá thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Người bị xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet nếu có hành vi cản trở, chống đối người đang thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 36. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Nơi nhận:

- Ban Bí thư Trung ương Đảng;

- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Văn phòng Quốc hội;

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của QH;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

- VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ, Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

- Lưu: Văn thư

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.