Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 17, 2008

Âm mưu của CSVN để tiêu diệt tôn giáo

Hạnh Siêu

Theo như Hòa Thượng Thích Quảng Độ, đã viết rất rõ trong Nhận Định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với Phật giáo Việt Nam thì cộng sản là những người vô thần duy vật, chủ trương tiêu diệt các tôn giáo, vì Marx cho tôn giáo là thuốc phiện của loài người mà “bọn” tư bản dùng làm công cụ ru ngủ nhân dân lao động bằng cách khuyên họ cố gắng chịu những khổ cực ở đời này rồi sẽ được đền bù một thiên đường ở kiếp sau để dễ bề bóc lột, trong khi chủ nghĩa cộng sản chủ trương xây dựng thiên đường cộng sản ngay trên mặt đất này. Bởi vậy, cộng sản cho tôn giáo là một trở lực cần phải tiêu diệt.

Tại Việt Nam có hai tôn giáo chính là Thiên chúa giáo và Phật giáo. Cộng sản gọi Thiên chúa giáo là Công giáo mà tiếng lóng của họ là “cứt gà”, còn Phật giáo thì tiếng lóng của họ là “phân gà”.

Tại sao họ lại gọi là cứt gà và phân gà? Tức họ cho Công giáo khó tiêu diệt hơn Phật giáo. Họ phân tích rất kỹ và vì nhiều lý do, nhưng quá dài không thể kể hết ra ở đây, tôi chỉ tóm tắt sự phân tích của họ như sau:

- Cộng sản đánh giá Công giáo tuy là số ít, nhưng là những con sư tử, khó tiêu diệt, cũng như cứt gà sáp (cứt gà ướt sền sệt) đã dính vào quần áo thì chỉ còn cách cắt bỏ chỗ ấy đi thôi, chứ giặt khó sạch lắm; còn Phật giáo tuy là số nhiều, nhưng chỉ là những con cừu, dễ tiêu diệt, cũng như phân gà khô, chỉ cần gạt một cái là sạch! Nhưng dù khó hay dễ thì cuối cùng cũng phải tiêu diệt. Nhưng cách thức tiêu diệt thì tùy từng giai đoạn, tùy từng nơi chỗ.

Người cộng sản có đường lối gọi là “biện chứng”, nghĩa là mục tiêu họ đã đặt ra là phải đạt cho bằng được; nhưng trên đường đi đến mục tiêu ấy mà êm xuôi thì đi đến ngay, còn nếu gặp trở ngại thì tạm thời dừng lại, nếu cần phải lùi thì lùi, cần phải rẽ ngang cũng rẽ ngang, nhưng cuối cùng vẫn phải đạt mục tiêu, châm ngôn của họ là “lùi một bước tiến ba bước”.

Đối với việc tiêu diệt các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, cũng vậy, nếu nơi nào xóa bỏ được ngay mà không gặp chống đối hoặc phản ứng bất lợi, thì họ làm ngay, nếu thấy trở ngại thì họ ngưng lại. Không những ngưng lại, mà nếu xét thấy tôn giáo trong giai đoạn ấy có lợi cho cộng sản thì họ lại lợi dụng tôn giáo tối đa.

Trong chủ trương tiêu diệt Phật giáo Việt Nam cũng không ngoài đường lối ấy.

Chẳng hạn, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, cộng sản Việt Nam cần phải đoàn kết toàn dân, hơn nữa, cũng chưa rảnh tay để nghĩ đến việc tiêu diệt Phật giáo, cho nên họ lại lợi dụng Phật giáo bằng cách lập ra cái gọi là Phật Giáo Cứu Quốc nằm trong mặt trận Liên Việt. Lúc đó “sư cụ” Phạm Thế Long trụ trì chùa Cổ Lễ tại phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, đưa ra lời kêu gọi thanh niên tăng “Tạm xếp cà sa khoác chiến bào”, nghĩa là hãy tạm thời cởi bỏ áo nhà tu để đi cầm súng giết Tây. Thế là hàng loạt sư trẻ bỏ chùa bỏ Phật để đi “yêu nước”. Đây là chính sách dùng một mũi tên bắt hai con chim một lúc: trước mắt có thêm người cầm súng, đồng thời, lại được cái lợi (mà cái lợi này mới là chủ yếu) là tiêu diệt mầm non của Phật giáo trong tương lai! Mà lại dùng chính sư ra lời kêu gọi để tiêu diệt mầm non Phật giáo mới hợp thức, ai trách được cộng sản bắt sư đi lính! Điều đó cũng dễ hiểu thôi: “nếu muốn bắt cò thì phải dùng con cò làm chim mồi, muốn bắt cu thì phải dùng con cu làm chim mồi, chứ nếu muốn bắt cò mà dùng cu làm chim mồi thì bắt sao được”.

Đó là tình hình của nhiều thập niên về trước, nhưng xét lại trong hoàn cảnh hiện tại, thì chúng ta thấy rõ bản chất của CSVN vẫn không có gì thay đổi, mà lại càng siêu vi hơn trong vấn đề tiêu diệt tôn giáo, mà trong đó Phật giáo cũng là đích nhắm.

Đặt phương án để tiêu diệt
CHXHCNVN đánh phá tôn giáo có muôn ngàn cách, có ba loại hình tiêu biểu rõ nét cần biết đó là:
- Trường lớp đào tạo giáo gian: A 25;
- Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian;
- Và những loại hình giáo gian để phục vụ cho guồng máy đảng trị nhằm thống trị con người.

• Trường Lớp đào tạo Giáo Gian XHCN
Ngân sách quốc phòng dành chi cho ngành công an thật là khủng khiếp! Điều đáng nói là guồng máy công an trị kia lập ra là để phục vụ cho Đảng chứ không phải để lo cho Dân. Có cả cơ quan A 25 là Cục Bảo vệ An ninh – Văn hóa – Tư tưởng mà cũng là trường đào tạo Sư giả (đọc thêm Dương Thu Hương, Tôi là Phật tử theo cách của riêng tôi)

• Những Loại Hình Giáo Gian XHCNVN
Thời-Thế-Lực cộng sản nay đã hết. Cho nên họ không dạy gì trực diện đánh phá tôn giáo như cái thưở kiêu binh sau 1975 nữa, chiến lược “dùng con đại bàng nầy khống chế con đại bàng khác” được Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (XHCNVN) áp dụng triệt để trong đánh phá tôn giáo. Rằng có bao nhiêu cột đèn đường trên khắp phố thị là cũng có bấy nhiêu loại hình công an, “ăn teng” công an, để áp chế người dân; Cũng như có bao nhiêu loại hình đói nghèo, bệnh hoạn trong sinh hoạt XHCN đều được cộng sản tận dụng để làm công cụ, đặc tình tôn giáo vận đánh phá tôn giáo. Từ xe ôm đến em bé bán vé số đến quán nước lề đường đến bán dạo, đến xin xâm, bói quẻ, đến ông từ dâng hương đình chùa, đền miếu, đến cán bộ về hưu thậm chí cho đến thành phần “đầu trôm, đuôi cướp” cũng đều là “ăng ten”: chỉ điểm công an. Công an cùng với chỉ điểm công an được rãi dầy đặc khắp quán trọ, nhà ga, sân bay, bến tàu, trường học, bệnh viện. Nói chung mạng lưới công an trị của XHCNVN thì có đến 1001 loại hình giáo gian đánh phá tôn giáo.

• Những Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian
Có mấy Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian, đơn cử một vài phương thức tiêu biểu:
1. Dùng người tù trị người tù (Dĩ tù trị tù).
2. Dùng người tù giết người tù (Dĩ tù diệt tù).
3. Dùng tuổi tù giảm án tù.
4. “Mưa dầm thấm đất”
5. “Sa bẫy-vào tròng”…

Việc cài cắm nhân sự: Trong hàng lãnh đạo GHPGVNTN tại Hoa Kỳ 1988 , trong số 14 thành viên buổi đầu thì đã có mặt Thượng toạ Thích Tín Nghĩa (1988 ) trong chức danh Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên và GĐPT, Thích Pháp Châu (1988 ) trong chức danh Tổng Thư ký, Bùi Ngọc Đường – (1992); Trần Quang Thuận (1992), họ vốn là đặc tình tôn giáo vận Hà Nội nay đã lộ rõ ra rồi. Để khi đủ mạnh, phát triển thành tổ chức rộng rãi như Hội Thân Hữu Già Lam, Tổ chức Tăng Ni hải ngoại; Tổ chức Tăng Ni Việt Nam hải ngoại, họ đứng lên Xoá Sổ GHPGVNTN theo ba bước: ly khai, tiếm danh, xoá sổ GHPGVNTN theo hướng phục vụ đảng cộng sản.

Chiến lược
* Chiến Lược Cộng Sản Âm Mưu Mượn Tay Giáo Gian Xoá Tên GHPGVNTN
Vận dụng cả guồng máy nhà nước với nhân sự, tiền của không giới hạn vào việc đánh phá GHPGVNTN, diễn biến nầy thật muôn vẻ, muôn màu mà trong số đó, chiến lược: mượn tay Giáo gian Thân Hữu Già Lam tổng tấn công GHPGVNTN theo chiến lược ba bước Ly Khai GHPGVNTN; Tiếm Danh GHPGVNTN; Xoá Tên GHPGVNTN, đây là chiến lược mới trong sách lược đánh phá GHPGVNTN của cộng sản trong giai kỳ mới 2007, việc Thiếu Tướng Trần Tư cùng với phái đoàn Bộ công an ra Tu Viện Nguyên Thiều gặp Đức Tăng thống Thích Huyên Quang hôm 28-08-2007 vừa qua cũng là năm trong ÂM MƯU như thế.

• Ly Khai Giáo Hội Thống Nhất, con đường Phục vụ cộng sản.
Hiện tượng ly khai GHPGVNTN đã nhen nhúm từ những năm 2001 do những cá nhân chủ nghĩa, bè phái, địa phương nhất là những cái đầu địa phương Hoàng triều cương thổ. Cho đến những năm 2003 nhận thấy đủ mạnh, nắm chắc Thế: trong ngoài, Lực: nhân sự áp đảo đối với hai Thầy Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, họ bèn chủ quan tiến hành ly khai GHPGVNTN do Thích Tuệ Sĩ làm chủ soái.

• Tiếm Danh Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất
Chánh nghĩa Phật giáo Thống Nhất luôn sáng ngời cùng đạo pháp-dân tộc trong suốt hơn 30 năm qua, được cả thế giới, kiều bào, tín đồ trong ngoài nước ủng hộ. Ngay đến những kẻ đánh phá GHPGVNTN cũng phải giả xưng Giáo hội Phật giáo Thống Nhất, tiếm danh Giáo hội Phật giáo Thống Nhất để lừa người. Từ nhiều năm qua cho đến nay, có không ít người tiếm danh Thống Nhất qua nhiều loại hình phi pháp mà điển hình gần đây là tiếm danh GHPGVNTN quyên góp tiền bạc từ các cá nhân, tổ chức để xây dựng Viện Đại học Khuông Việt tại Saigon cũng như lạm xưng thành viên GHPGVNTN tham gia Ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2008 tại Hà Nội. Từ tiếm danh Thống Nhất họ tạo nên một thế và lực khác với tên gọi Thân Hữu Già Lam. Để khi con chim sẻ Thân Hữu Già Lam đủ lông cánh khả dĩ lướt gió tung mây thì bước tiếp theo là Xoá tên GHPGVNTN để thỏa hiệp và đầu thú cộng sản.

• Âm mưu Xoá tên GHPGVNTN của cộng sản
Chiến dịch xoá tên GHPGVNTN do CHXHCNVN phát động từ nhiều năm nay qua chiêu bài, nào là:

a. Thống Nhất mà không Thống Nhất,
b. theo mô hình Thống Nhất không Huyền Quang không Quảng Độ;
c. Rồi nào là bỏ danh xưng Thống Nhất, v.v…

Rồi từ “Hội thảo Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thử thách” năm 2006 của Lê Mạnh Thát-Tuệ Sỹ đến Phãt giáo Nhà nước sang dự tổ chức quốc tế Phật đản 2007 tại Thái Lan đến dự kiến Tổ chức quốc tế Phật Đản 2008 tại Việt Nam…, những diễn trạng điển hình trên đây đều là nằm trong mô hình dùng con chim sẻ Giáo hội Phật giáo nhà nước khống chế con đại bàng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) của cộng sản. Nói cho cùng, đây cũng là sách lược mượn danh hoà hợp XHCN để xoá tên Thống Nhất mà thôi.

5 phương thức CS đã tận dụng tối đa, hiện nay họ đang thực hiện phương thức thứ 4 và thứ 5 một cách nhuần nhuyễn, đó là dùng tiền viện trợ và hỗ trợ cho việc phát triển đất nước vào việc thực hiện việc “mưa dầm thấm đất” và “Sa bẫy vào tròng” để hòng lung lạc những vị chân tu và có thực tài cũng như hủ hoá, sử hư cho bị sa đoạ đối với những vị có tiếng tăm và nhiều đệ tử, để thành nô sư mà bảo vệ cho Đảng và Nhà nước được lâu bền. Dùng danh lợi hoặc những vọng tưởng cao xa, để hòng lừa những vị có học vị và bằng cấp vào tròng,

Người Cộng Sản đã, đang và sẽ dùng mọi thủ đoạn, ngay cả gian ác và khủng bố, đến khi nào còn một mình để trọn hưởng và xây dựng thành công Thiên đường Cộng sản tại trần gian nầy mới thôi.

Nhìn cảnh Phật giáo ở miền Bắc VN trước năm 1975 và tại Trung Quốc theo như cuốn sách “Đường mây qua cõi mộng” Nguyên Phong dịch thì sẽ hiểu rõ, chùa không còn Thầy trẻ mà chỉ còn lại một vài “Bà vãi già”, vào chùa với toàn là những hình thức mê tín dị đoan. Cảnh mua quan bán chức, rồi mua Thần, bán Thánh, buôn Phật , như các tượng Phật lớn nhất, cao nhất,…tại TQ cũng do Nhà nước chủ trương để thu hút khách du lịch hòng thu lợi, và che mắt thế giới gạt gẩm mọi người. chứ đâu phải thật tình gì đối với Phật giáo, bây giờ đến CSVN đang dùng Nô sư để chia rẽ lên án rồi tranh chấp xâu xé, hảm hại lẫn nhau mà lấy việc mừng Lễ Tam hợp Phật Đản 2551 để gọi là đánh bóng cho chế độ, khiến cho bất đồng quan điểm, sinh ra đối đầu, nghi kỵ, triệt hạ… trong nội bộ, huynh đệ, tông phái lẫn nhau rồi. Đúng vào tội ác ngũ nghịch “phá hoà hợp tăng” và làm mất niền tin nơi Tam bảo, CS đã thành công phần nào rồi, ngày đền trả chắc cũng không còn bao lâu, xin cảnh tỉnh cho những vị có trình độc hãy cảnh giác kẽo sẽ sụp hố, mắc bẫy của CSVN mà tiêu tan sự nghiệp.

Miếng mồi Quốc sư, Hợp nhất Phật giáo để phát triển, và GĐPT Trên Thế Giới để tiến đến thành một “Tổ chức phi chính phủ”… đang treo lơ lửng, và sẽ thành chiếc thòng lọng, siết cổ những ai đưa đầu vào. Hãy lo tĩnh tâm mà Tu niệm cho miên mật, rồi sự nhiệm mầu của Phật Pháp sẽ vận chuyển cho được tốt, chứ đừng vì muốn tõ ra ta tài giỏi hay co uy tín mà trổ tài, thì không tránh khỏi cái bẫy của các thế lực vô minh đang giăng sẵn. hay là theo Đạo là sẽ bị tám ngọn gió thổi bay mất, uổng lắm thay, tiếc lắm thay!

Nay kính
Hạnh Siêu
———

Ghi nhận:Cộng sản khống chế tiêu diệt tôn giáo để xóa bỏ nhân tính, hủy hoại đạo lý, che đậy tội ác

April 15, 2008

Chiến tranh, bản chất và mục đích

 Mâu thuẫn và xung đột là những hiện tượng thường thấy trong xã hội loài người. Đó cũng là một khía cạnh căn bản của nhân tính được biểu lộ rõ rệt nhất trong mối tương quan giữa người với người. Từ những kết hợp nhỏ như gia đình đến những tổ chức lớn lao vĩ đại như xã hội, dân tộc, quốc gia, nhân loại … đều có dấu vết của mâu thuẫn và xung đột. Tùy theo mức độ nghiêm trọng, tùy theo lãnh vực xảy ra mâu thuẫn và xung đột mà chúng ta có những ngôn từ thích hợp.

Bài viết này chỉ đề cập đến chiến tranh, tức là ở phần cao nhất của mối mâu thuẫn giăng mắc giữa Quyền và Lực của những thực thể như xã hội, quốc gia, dân tộc… Chiến tranh là điều ai cũng e sợ, kinh khiếp vì bản chất tàn nhẫn gây giết chóc đỗ vỡ của nó , nhưng ở một khía cạnh khác tích cực hơn, chiến tranh lại là một nhu yếu của nhân loại, có mục đích dùng để giải quyết những bế tắc căn bản mà những vận dụng ngoại giao chính trị đã không đạt được kết quả như dự ước. Với thành quả chiến tranh, (chiến thắng hay chiến bại) mối tương quan quyền lợi giữa những đối thủ được sắp xếp lại theo một trật tự mới căn cứ vào khả năng võ lực hiện có. Cũng trong bài viết này, giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam từ 1945 – 1954 sẽ được dùng như một điển hình để minh chứng bản chất và mục đích của chiến tranh.

Để tránh ngộ nhận, có một điều cần phải xác quyết đây là cuộc chiến tranh quật khởi của toàn dân Việt Nam chống đế quốc thực dân Pháp để dành độc lập, tự do, hạnh phúc. Sức mạnh cảm xúc vô biên của lòng yêu nước thương nòi, đã thúc đẩy đại khối dân tộc gạt bỏ những tị hiềm thua thiệt cá nhân, để đoàn kết chấp nhận hy sinh xương máu cho sự vinh quang của tổ quốc và lý tưởng cao đẹp Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, chứ không phải chủ nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít với đấu tranh giai cấp làm suy yếu nước nòi. Dân tộc Việt Nam đã thật sự chiến thắng thực dân Pháp, nhưng dân tộc Việt Nam cũng đã bị dối gạt bởi những người Cộng Sản giả danh Quốc Gia. Họ đã phản bội lý tưởng “Tổ Quốc Trên Hết”, định đề của những hệ luận Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc khi đưa tổ quốc Việt Nam vào quỹ đạo nô lệ để phục vụ tham vọng của đế quốc Cộng Sản bằng những dịch vụ xương máu, được gọi một cách hoa mỹ là “làm nghĩa vụ quốc tế cao đẹp” …

2). Chiến Tranh
A. Định nghĩa chữ chiến tranh

 

Chiến tranh là một danh từ kép gồm hai chữ Chiến và Tranh. Riêng chữ Chiến có nghĩa là đánh nhau, hai bên bày trận để phân thắng bại, hơn thua. Phân tích tự dạng theo lối chiết tự thì Chiến ( ) gồm bộ Qua ( ) là cái mác một loại binh khí thời cổ và chữ Đơn ( ) là cô đơn, lẻ loi, trái nghĩa với chữ Phúc rất nhiều. Kết hợp hai ý trên thì Chiến là dùng võ lực để loại đối thủ đoạt địa vị chí tôn, vì một nước không thể có hai Vua. Còn chữ Tranh có nghĩa là giành giật, cãi cọ để được hơn người. Chữ Tranh ( ) thuộc bộ Trảo ( ) tức là móng chân, móng tay ở loài người hay là móng vuốt của loài thú dùng để tự vệ hay sát hại con mồi.

Vậy chiến tranh là mức độ cao nhất của mối mâu thuẫn giữa hai hay nhiều thực thể phải tất yếu giải quyết bằng sức mạnh của gươm giáo, súng đạn. Ở đó, kẻ chiến thắng bao giờ cũng áp chế kẻ chiến bại bằng “công lý” của sức mạnh võ lực.

B. Bản chất của chiến tranh

Riêng trong thế kỷ hai mươi vừa qua, nhân loại cũng đã chứng kiến hai cuộc thế chiến và vô vàn các cuộc chiến tranh địa phương có tính chất cục bộ. Hơn ai hết, người Việt chúng ta trong cái bất hạnh phải chấp nhận sống trong tình trạng chiến tranh thường trực, kéo dài từ năm 1940 đến nay, tất phải nhìn rõ cái khuôn mặt khủng khiếp của chiến tranh. Hai trái bom nguyên tử nổ ở Hiroshima và Nagasaki vào thượng tuần tháng 8 năm 1945, đã làm cho cả nhân loại kinh hoàng vì tính chất phá hoại tàn khốc và quy mô của loại vũ khí khoa học hiện đại. Qua những tài liệu báo cáo về tổn thất nhân mạng và tài sản, chắc chắn cũng đã không tạo được những ấn tượng hãi hùng trong tâm khảm người Việt Nam bằng những kinh nghiệm đẫm máu như Đại Lộ Kinh Hoàng, Mậu Thân Huế và những cuộc “di tản chiến thuật” hay các cuộc tháo chạy của người dân miền Nam khi Cộng Sản tiến chiếm Sài Gòn vào năm 1975 (sẽ có một bài viết khác cho cuộc chiến năm 1975 đến nay). Lý do thật giản dị, vì nó có liên hệ sâu sắc và có ảnh hưởng trực tiếp đến thân phận chúng ta.

Bản chất của chiến tranh là chém giết, đốt phá, tróc nã … và vũ khí, gươm đao, bom đạn là những thứ vô tình. Một khi đao kiếm đã hoa lên, tên đã rời khỏi dây cung, đạn đã bắn ra khỏi nòng, bom (hỏa tiễn) đã rời dàn phóng bay lên, thì mọi sự xét lại đều quá chậm so với độ bay của hỏa tiễn. Lúc đó tất cả đều tuân theo những luật tắc của khoa học chính xác đến độ lạnh lùng và không bao giờ có trường hợp ngoại trừ.

Nhân loại từ cổ chí kim vẫn đề cao con người như một linh thiêng đứng đầu vạn vật, “linh ư vạn vật”. Người Cộng Sản duy vật cũng luôn miệng đề cao “Người là vốn quý”, nhưng trong thực tế tàn nhẫn của thời chiến cả con người lẫn nhân phẩm đều bị Cộng Sản hủy hoại, chà đạp một cách thô bạo.Có một cuộc chiến nào mà không có nhà cháy, người chết những mất mát vật chất, những đổ vỡ tình cảm, những suy sụp tinh thần?. Đứng trên nhiều phương diện, người ta có thể đồng ý với nhau coi chiến tranh là một thảm họa để kết tội và xua đuổi chiến tranh; nhưng chiến tranh vẫn còn đó, vẫn gần gũi với chúng ta nhiều hơn nửa, tồn tại thường trực như một nhu cầu thực tiễn không thể loại bỏ, như một cây cầu chênh vênh tất yếu phải vượt qua để đi đến đích điểm: Lý tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc trong hòa bình mà loài người mơ ước.

Vì lòng yêu chuộng hòa bình, hay nói đúng ra vì lòng yêu sống và ghét chết nên loài người đã e sợ chiến tranh và ảo tưởng coi chiến tranh như một tình trạng bất thường, trong khi đó chính hòa bình mới là một sự hãn hữu, một tình trạng mong manh. Câu nói thời danh vẳng lại từ ngàn xưa ở phương trời Âu: “Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” vẫn còn đúng tận đến giờ.

Phương ngôn Việt Nam có câu “mềm cắn rắn buông” phản ảnh sự thấu triệt nhân tính của ông cha ta trong thuật trị quốc. Văn Mô bao giờ cũng đi kèm với Võ Lược “Văn dìu cánh phượng yên trăm họ, Võ thét oai hùng dẹp bốn phương”, với một triều đình gồm đủ hai hàng Văn quan, Võ tướng, với một sách lược phối hợp hành động thật nhịp nhàng “Tiên Lễ Hậu Binh”. Nói đến quân binh tất là nói đến bộ máy chiến tranh. Tôn Tử binh gia lừng danh kim cổ, đã đưa ra những quy luật chiến tranh được quan niệm đúng đắn như quy luật khoa học xây dựng trên định đề căn bản “Binh là việc lớn của quốc gia”. Nước nguy hay an chủ yếu là ở khả năng tự vệ bằng võ lực. Vì trọng đức hiếu sinh nên tổ tiên người Việt tự ngàn xưa, đã coi việc dùng binh là hung khí và không dám khinh xuất lạm dụng, nhưng không có nghĩa là không dám chấp nhận chiến tranh với những quy luật tàn bạo của nó. Trương Dự một trong mười nhà chú giải binh pháp đã làm rõ ý của Tôn Tử về bản chất chiến tranh như sau:

“Nhân Nghĩa có thể trị nước mà không thể trị quân. Quyền Biến có thể dùng trị quân mà không thể dùng trị nước. Cái lẽ nó phải như thế. Quắc Công không làm điều từ ái mà bị nước Tấn diệt mất. Tấn Hầu không chịu giữ bốn đức mà bị nước Tần đánh thua. Ấy là không lấy nhân nghĩa để mà trị nước đó. Tề Hầu không bắn người quân tử mà bị hại với nước Tấn. Tống Công không bắt người hai thứ tóc mà bị thua với Sở. Ấy là không lấy quyền biến mà trị quân vậy. Cho nên đáng nhân nghĩa mà dùng quyền quyệt thì nước tất nguy, như nước Tấn nước Quắc đó; đáng biến trá mà chuộng lễ nghĩa thì binh tất bại, như nước Tề nước Tống đó. Vậy cái đạo trị quốc vốn không thể đem dùng trị quân được”.

Sự ngộ nhận Đạo trị quốc với Thuật làm chiến tranh đã đưa đến những ngộ nhận vô cùng tai hại, cũng là nguyên nhân diệt vong của nhiều nước nòi. Đành rằng tín nghĩa là điều phải trọng, lừa người là chuyện đáng chê trách, nhưng Khổng Minh cả một đời chuyên dùng mưu thuật lừa ngưòi sao lại được nhân dân Tứ Xuyên ngàn năm hương khói, được sử sách ghi lại như gương sáng của một trung thần lương đống?. Đại Vương Trần Hưng Đạo hai lần thắng cường địch bằng những quỷ kế, mưu thần, chém Phạm Nhan, giết Ô Mã Nhi mà lúc chết lại được muôn dân thờ phụng?. Có phải chăng đó là cái hơn người của bậc đại trí biết phân biệt nên không, tùy lúc, tùy nơi, tùy người mà ứng dụng không câu nệ tiểu tiết, khuôn sáo!. Riêng Dực Tông tức vua Tự Đức, khi đọc đến việc giết Ô Mã Nhi của Hưng Đạo Vương có hạ bút phê bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa”. Dực Tông là ông vua nhân từ hiếu thuận, giỏi văn thơ … nhưng những phẩm tính đó chưa đủ để làm một người của một dân tộc đang phải đối đầu với hiểm họa ngoại xâm và sự phân hóa nội bộ. Bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa” mà Tự Đức phê cho Đại Vương Trần Hưng Đạo đã chứng tỏ là Tự Đức thiếu một nhãn quan chính trị sắc bén, không nhìn được xa, không trông được rộng để phát hiện kẻ thù, phân loại kẻ thù và thiết kế dự mưu đối phó. Tự Đức đã lẫn lộn giữa Đạo trị quốc và Thuật làm chiến tranh. Đó là sự ngộ nhận tai hại đưa đến nguyên nhân trực tiếp của hơn 80 năm nước Việt Nam bị Pháp đô hộ.

Bản chất của chiến tranh là phá hoại, triệt hạ gây chết người, mất của, đói rét, nghèo khổ, ngu dốt, trụy lạc và bệnh tật … rồi đi đến diệt vong. Hiểu được bản chất của chiến tranh tất hiểu được thể dụng của chiến tranh. Chiến tranh là một phương tiện, một phương tiện tối hậu để thực hiện một mục tiêu, đạt được một mục đích sau khi những phương tiện khác đã được xử dụng nhưng thất bại.

C. Mục Đích Của Chiến Tranh

 

 

là một phương tiện và như một phương tiện, chiến tranh tự nó không tốt, không xấu. Tốt hay xấu là tùy theo người làm chiến tranh và mục đích mà chiến tranh nhằm thực hiện. Cũng như một khẩu súng được xử dụng trong mục đích tự vệ chính đáng hay được dùng để uy hiếp dọa người, cướp của. Trước công lý loài người, không phải là chiến tranh mà là kẻ dùng chiến tranh phục vụ cho mưu đồ đen tối cá nhân và bè nhóm bị xét xử rồi kết tội. Tòa án quốc tế Nuremberg đã xử tử, xử tù những tội phạm chiến tranh người Đức trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Nhưng điều đáng cho chúng ta suy nghĩ là Hitler và những cộng sự viên chỉ trở thành tội phạm xét xử sau khi họ đã là kẻ chiến bại, đã thua trận.

Trên thế giới hiện nay vẫn còn biết bao nhiêu những bạo chúa, độc tài phạm đủ loại tội lỗi trong chiến tranh cũng như trong hòa bình. Họ đang sống phè phỡn trong kiêu sa, sống thừa thãi trên nỗi thống khổ, đói rét, bệnh tật của toàn dân họ. Thực tế , họ đã là tội phạm ít ra là đối với dân tộc họ. Nhưng làm sao xét xử họ theo công lý của loài người khi quyền uy còn nằm trong tay họ và tiếp tục lan rộng, vươn dài theo khả năng tác xạ của tầm bom, đạn khi họ còn được bảo vệ bởi cả một hệ thống chính quyền? ! …

Để chống lại những thế lực đã có đó tất nhiên phải tạo ra một thế lực mới. Để chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược tất nhiên cũng phải thực hiện một cuộc chiến tranh tự vệ. Mục đích xâm lược và mục đích tự vệ, tự bản chất đã nói lên được mục đích tốt xấu của cuộc chiến và phủ lên cuộc chiến một ý nghĩa bẩn thỉu, hay một lý tưởng xứng đáng cho sự hy sinh xương máu của nhân dân và sự đồng tình hổ trợ của cả loài người.

Lý tưởng là một mục đích cao đẹp dùng để hướng dẫn hành động. Lý tưởng chính nó đã là sức mạnh có hấp lực quấn hút và thuyết phục lẽ phải, chính nghĩa và chân lý. Vì nhu cầu biện minh cho mục đích của hành động, nên chiêu bài cũng được đặt ra. Chiêu bài là bảng hiệu quảng cáo thương mại được treo cao để tạo sự chú ý của quần chúng và chiêu dụ khách hàng. Trong chính trị chiêu bài là một lý tưởng giả mạo, vì thực chất không dùng đúng danh xưng, chủ ý là để lừa gạt đám đông nhẹ dạ cả tin kiểu gian thương “treo đầu dê bán thịt chó”. Vì vậy ta phải sáng suốt phân biệt chân, giả, đâu là thực chất, đâu là chiêu bài để khỏi bị lừa dối đau thương:

*. Đạo nghĩa gớm cho quân lợm khẩu,

*. Nhân quyền khiếp cả lũ xanh ngươi !

(Đạo trường ngâm – X. Y. Thái Dịch Lý Đông A)

 Lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc là một lý tưởng vô cùng cao đẹp nhưng nó đã bị những người Cộng Sản xử dụng như một chiêu bài trong cuộc kháng chiến chống Pháp để tạo danh: có chính nghĩa, để tạo lực: có sự đoàn kết tạo thế: nắm chính quyền. vì là chiêu bài nên Lý Tưởng Quốc Gia chỉ được xử dụng tùy giai đoạn và như một hậu quả tất yếu, những người Quốc Gia tham gia kháng chiến đã bị thủ tiêu, tù đày, bôi nhọ hay phải trốn chạy. Vì lòng yêu nước nhiệt thành mà biết bao nhiêu kẻ đã ngộ nhận về bản chất người Cộng Sản và mục đích tối hậu của con người Cộng Sản là để làm cho chúng ta phải sống đau, chết hận với những lỗi lầm đã trót phạm phải mà ăn năn một đời khôn nguôi:

! Tôi là một kẻ ngu trung

Thân chiến sĩ đi a tòng lang sói …

(Kỷ Niệm Vào Thu – Chu Phụng Kỳ)

Dưới ngọn cờ của chính nghĩa, chiến tranh là một phương tiện để thực hiện lý tưởng. Chiến tranh là phải hao tổn tài sản, xương máu của toàn dân. nhưng đó là sự hy sinh cao cả, cần thiết và được mọi người chấp nhận. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình là những thứ hiếm có trên đời, không thể bỗng nhiên mà có như lượm được của rơi, cũng không ai có dư để có thể đem phát cho không cho mọi người. Trái lại, đó là thứ phải Chiến để mà có, phải Tranh để mà được. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình là những kết quả trực tiếp hay gián tiếp của sự đấu tranh, giữa những hệ thống quyền lực giăng mắc chằng chịt khắp thế giới của những thực thể quốc gia, của những liên minh chính trị, của những khối quân sự. Quyền và Lực bao giờ cũng tạo tương xứng. Lực là điều kiện cơ bản để tạo Quyền. Vô lực tức sẽ vô quyền. Đó là một chân lý đúng ở bất cứ nơi nào, ở bất cứ thời đại nào được phản ảnh rõ rệt trong những điều khoản luật quy định về sự vô năng lực của cá nhân. Trong đấu tranh, chiến tranh là hình thức cao độ và hữu hiệu nhất để hai bên lâm chiến, có cơ hội để duyệt xét lại quyền lực của mình một cách thực tế và rồi sẽ thiết lập lại một mối tương quan xứng hợp. Do đó bản chất hòa bình chỉ là một sự thăng bằng về quyền lực giữa hai thực thể đối nghịch nhau.

Với những người bị áp bức, đè nén, dối gạt, phản bội, chiến tranh là một sự cần thiết, một giải pháp tất yếu, một thời cơ thuận lợi để đánh đổ kẻ thù bằng Lực đòi lại Quyền sống, quyền làm người. Giá của việc thực hiện lý tưởng là giá máu xương của những người đã giác ngộ, quyết làm và dám chết một cách hiên ngang như những kẻ chịu chết để bảo vệ lòng tin yêu. Không đổ máu tất không xoay chuyển được vận mạng của dân tộc mình, cho chính mình và cục diện thời đại. Vì chỉ có đồng đẳng con người mới có bình đẳng thật sự, sự kỳ thị vẫn là một thực tế đang tồn tại trong nhiều xã hội.

Không có những cuộc chiến tranh tự vệ thời Đinh, Lê, Lý, Trần, không có cuộc chiến tranh quật khởi của Lê Lợi …, thì Việt Nam chẳng còn tới ngày nay, mà chịu chung số phận bị đồng hóa như những chi Việt khác ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây

. Khi tổ quốc đã không còn dân tộc đã bị diệt vong thì lý tưởng Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình chỉ là những sáo ngữ, trơ trẽn vô duyên.

Nhưng chiến tranh chỉ là một phương tiện, như là một phương tiện, chiến tranh có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau tùy theo mưu tính của người nắm quyền lực. Phát xuất từ những mưu tính này là những Chính Lược căn bản có tính cách toàn diện, ở đó chiến tranh và chiến lược chỉ đạo và chiến thuật áp dụng chỉ được coi là thành phần, nhưng tùy hoàn cảnh sẽ giữ vai trò hổ trợ, phụ thuộc hay sẽ trở thành chủ yếu trong số các mặt trận ngoại giao, kinh tế, gián điệp, tuyên truyền … Với khối trục Đức-Ý-Nhật, chiến tranh đã được coi như là phương tiện chính để bành trướng quyền lực hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Với khối Cộng Sản và các cường quốc Anh, Pháp …, cuộc chiến tranh Việt Nam với sự tham dự của Hoa Kỳ cho tới tháng 4/1975, chỉ là cục bộ có tính cách hổ trợ dùng làm suy yếu tiềm năng kinh tế và uy tín Hoa Kỳ trên toàn cầu. Nghĩa là chiến tranh được dùng như một phương tiện kéo Hoa Kỳ xuống để họ lên xấp xỉ ngang hàng.

Và với chúng ta, trường hợp Việt Nam hiện giờ chỉ có thể giải quyết bằng một Cuộc Chiến Tranh Cách Mạng Dân Tộc và Nhân Chủ được thực hiện từ Bắc chí Nam với sự hổ trợ của các mặt trận ngoại giao, tuyên truyền …, và mục đích tối hậu của cuộc chiến tranh đó là: Để đạt một nền hòa bình công chính, không những cho riêng Việt Nam mà cho cả Đông Nam Á và Á Châu, tạo ra một trật tự mới cho thế giới, ở đó đóa hoa lý tưởng Độc Lập, Tự Do, Bình Đẳng, Ấm No và Hạnh Phúc sẽ đời đời tươi thắm.

3). Kinh Nghiệm Lịch Sử

 

 

* – Thời lai đồ điếu thành công dị

* – Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

(Đặng Dung)

Cuộc chiến Việt Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946 và kết thúc ngày 20 tháng 7 năm 1954 bằng hội nghị Genève chia đôi đất nước ngang vĩ tuyến 17. Dưới cái nhìn bao quát toàn thể, trong bối cảnh của một thế giới đang phân cực và tranh giành ảnh hưởng, cuộc chiến Việt, Pháp trở nên phức tạp với những âm mưu can thiệp của các thế lực quốc tế luôn luôn khuynh loát lẫn nhau. Lý tưởng giành độc lập, tự do cho tổ quốc, xây đắp một tương lai no ấm trong hòa bình cho dân tộc, là một mục đích tối thượng đối với những người quốc gia, thì trái lại với người Cộng Sản, đó chỉ là một chiêu bài có tính giai đoạn. Mục đích của họ vươn ra ngoài biên cương quốc gia và dẫm lên quyền lợi dân tộc, để phục vụ cho chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít, tạo lập một siêu đế quốc thống trị toàn thế giới. Sự khác biệt sâu sắc về lập trường chính trị, đã tất yếu đưa đến sự xung đột Quốc – Cộng và sau năm 1954 là sự hình thành của hai nước Việt Nam.

Tuy nhiên trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, giai đoạn lịch sử 1945 – 1954 được nhìn lại chỉ để tìm hiểu xem người Cộng Sản trong vai trò “lãnh đạo” đã khôn khéo dùng chiến tranh như một phương cách để loại bỏ những người Quốc Gia ra sao?. Họ đã đạt được những mục đích gì?. Người Pháp tại sao lại thua trận?. Họ đã phạm vào những sai lầm căn bản nào trên phương diện chính trị cũng như trong lãnh vực quân sự?.

A. Chiến Tranh và Người Cộng Sản

Người Cộng Sản đã tỏ ra khôn khéo khi vận dụng chiến tranh như một phương tiện tạo nên uy tín chính trị cho chính họ, một phương tiện để thủ tiêu và vô hiệu hóa kẻ tử thù là người Quốc Gia và kẻ thù giai đoạn là thực dân Pháp. Họ chính là người đã đuợc lãnh nhận tất cả những “vinh quang” do chiến thắng đưa lại. Họ thành công trong chiến tranh nhưng người Cộng Sản đã thất bại trong hòa bình. Sự đói nghèo, chậm tiến, lạc hậu của miền Bắc sau hơn 50 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa và cũng như miền Nam sau gần 30 năm “giải phóng”, là một bằng chứng tỏ rõ tính cách tay sai mà người Cộng Sản chỉ là công cụ của Đảng, đảng Cộng Sản Hà Nội trong vai trò “cai thầu lãnh đạo” một dân tộc, để cung ứng những dịch vụ xương máu cần thiết cho âm mưu bành trướng thế lực Cộng Sản quốc tế. Mặt nạ của đảng Cộng Sản Hà Nội đã rơi xuống để toàn dân Việt nhìn rõ chân tướng sài lang của bọn Hồ, Duẫn, Chinh, Đồng và giới cầm quyền chóp bu nội thù hiện tại, chỉ là những kẻ buôn dân, bán nước, làm tay sai, tôi mọi cho ngoại xâm.

B. Những Nhận Định Sai Lầm Về Người Cộng Sản

Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, mọi phong trào quần chúng và các tổ chức chính trị đều bị đàn áp thẳng tay và trừng trị nặng nề bằng sự giết chóc, tù đày, khổ sai. Trong sự khao khát độc lập, tự do, quần chúng đã quan niệm một cách giản dị là: “làm cách mạng chống Pháp là yêu nước”.người Cộng Sản với những thành tích xách động quần chúng chống Pháp, những thành phần bất hảo bị tù đày, cũng được Cộng Sản coi là những người yêu nước. Trong thập niên 1940′s, chủ nghĩa Cộng Sản là một cái gì xa lạ không riêng với quần chúng, mà ngay cả giới trí thức có hoạt động đảng phái hay đã từng tham gia chính quyền. Bằng chứng là Trần Trọng Kim với tư cách thủ tướng chính phủ, đã hết lòng can thiệp với Bộ Tổng Tư Lệnh Nhật ở Hà Nội để xin tha cho những cán bộ Cộng Sản bị Nhật bắt giữ. Bà Cả Tề một nhân sĩ đã hết lòng che chở cho các đảng viên cao cấp Cộng Sản, khi họ hoạt động ở ngoài và đi thăm nuôi khi họ bị bắt cầm tù. Hình như tất cả đã cố tình quên đi những sự thật lịch sử phủ phàng đáng suy gẫm về bản chất tráo trở của các lãnh tụ Cộng Sản. Cụ Phan Bội Châu đã bị bán cho mật vụ Pháp bắt với giá mười vạn đồng vào ngày 30 tháng 6 năm 1925, người chủ mưu bán Cụ Phan không ai khác hơn là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này và Lâm Đức Thụ một đảng Viên Cộng Sản. Ngoài Cụ Phan Bội Châu, các thanh niên thuộc các đảng phái Quốc Gia không theo Cộng Sản đều bị Cộng Sản mật báo cho Pháp bắt khi những người này lén lút trở về Việt Nam tổ chức cơ sở và hoạt động quần chúng (Đây là những kinh nghiệm bằng Máu và nước mắt của những người đi trước để cảnh tỉnh giới trẻ ở hải ngoại và những người đang tranh đấu nhưng thiếu kinh nghiệm hiện nay, phải nhìn cho thật rõ đâu là chính nghĩa đâu là gian tà, kẻo sa chân vào cạm bẩy của kẻ nội thù Cộng Sản và ngoại xâm phương Bắc đang giương ra). Đây là một sách lược thủ lợi đôi đường vừa hiểm độc mượn tay Pháp diệt được các đảng viên trung kiên, nòng cốt của những đảng phái Quốc Gia đối thủ của đảng Cộng Sản khi thời cơ đến cùng ra tranh thủ quần chúng, mà cũng vừa là một hình thức kinh tài (của Cộng Sản) để hoạt động và cũng để giữ được mối giao hảo ngấm ngầm với thực dân Pháp. Sau này vào năm 1943 lại chính Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội đã can thiệp với Trương Phát Khuê, một tướng lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa để tha cho Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh lúc đó đang bị bắt giam vì hoạt động Cộng Sản. Trương Phát Khuê đồng ý nhưng bắt Hồ Chí Minh phải từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản và gia nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội tức Việt Cách.

 Đại để là người Quốc Gia đã quá khinh xuất không phân định được ai là kẻ đồng hội, ai là người đồng thuyền, ai là thành phần chủ lực trung kiên, ai là đồng minh giai đoạn, ai là tối hậu địch nhân, ai là tương đối địch nhân, ai là người Quốc Gia, ai là kẻ nội thù Cộng Sản, chúng ta phải phân biệt, thẩm định và xếp loại kẻ thù

 

 

 C. Những Cơ Hội Thuận Lợi Dành Cho Cộng Sản Việt Nam

 

 

 Ngày 23 tháng 8 năm 1939 trùm Cộng Sản Stalin ký với Hitler một thỏa ước bất tương xâm giữa Nga và Đức. Với hiệp ước này, Cộng Sản Nga mở rộng biên cương về phía Tây bằng cách sát nhập một nửa nước Ba Lan và một số đất đai quanh vùng. Cộng Sản Nga ngồi nhìn thế giới chiến tranh, đóng vai trò ngư ông thủ lợi.

Vào tháng 6 năm 1941, Hitler bất thần tung quân xâm chiếm Nga. chỉ trong khoảng 5 tháng Đức đã chiếm được một phần lớn nước Nga, kiểm soát 40% dân số, khai thác hơn 60% tổng sản lượng than và thép của Nga. Nga tổ chức kháng chiến chống Đức. Trước đó ít lâu, Hồ Chí Minh được lệnh rời Mạc Tư Khoa về nước hoạt động, phát triển đảng và bắt liên lạc với Đồng Minh. Vào năm 1943 khi được Trương Phát Khuê phóng thích, Hồ Chí Minh đã cam kết dùng người của mình đi thu thập tin tức về quân Nhật cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Hồ Chí Minh cũng đã bắt liên lạc với một số sĩ quan tình báo Hoa Kỳ (OSS thời đó), nhận công tác đưa những phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi trốn sang Trung Hoa. Để trả công, Hoa Kỳ đã cho lại một số máy truyền tin và vài chục khẩu súng. Với sự lệ thuộc vào Đệ Tam Quốc Tế về đường lối chính lược và chiến lược, người Cộng Sản đã tỏ ra am hiểu tình hình quốc tế hơn những người Quốc Gia. Họ đã mạnh dạn tung biểu ngữ khẩu hiệu “chống thực dân Pháp, diệt phát xít Nhật” và đã thành công, vì nói lên được sự căn hờn của quần chúng về nạn đói năm Ất Dậu đã gây ra hơn 2 triệu người chết. Lý do đói là vì thực dân Pháp đã tận thu lúa gạo để cung cấp cho quân Nhật ở Đông Dương và bán sang Đông Kinh theo hiệp ước 40 – 41 để Nhật thừa nhận Pháp ở Đông Dương, lý do nửa là cũng vì Nhật bắt phá lúa trồng đay để xử dụng trong chiến tranh. Với uy danh “cách mạng” trước quần chúng qua một số hành động bắt cóc, ám sát được thổi phồng qua sự tuyên truyền đồn đãi rỉ tai, ngày 18 tháng 8 năm 1945 cán bộ Cộng Sản đã cướp cuộc biểu tình tụ tập trước nhà hát thành phố Hà Nội, để tuần hành hoan hô chính phủ Trần Trọng Kim, đã thu hồi chủ quyền toàn vẹn từ tay người Nhật (Nhật Hoàng đầu hàng vào ngày 15/8/1945) và biến cuộc tuần hành thành hoan hô giải phóng, hoan hô Việt Minh với cờ đỏ sao vàng dẫn đầu và đôi ba người mang súng đi kèm. Cộng Sản gấp rút thành lập ủy ban nhân dân rồi tổ chức quần chúng đến chiếm các công sở, tòa Đốc Lý và Bắc Bộ Phủ mà không gặp trở ngại nào. Quần chúng với sự háo hức đổi đời được thúc đẩy gia nhập các đoàn thể như Phụ Lão Cứu Quốc, Thanh Niên Cứu Quốc, Thiếu Nhi Cứu Quốc. Mỗi khu phố đều có ban điều hành và một toán tự vệ, bằng đường lối nửa đe dọa nửa hứa hẹn, Cộng Sản yêu cầu chính phủ Trần Trọng Kim từ chức và vua Bảo Đại thoái vị.

 Thế là trong sự ngơ ngác, hoang mang hay sợ sệt của mọi người, Cộng Sản đã chiếm được thời cơ, đoàn ngũ hóa quần chúng và tiến lên địa vị lãnh đạo

 

 

 . Sự xuất hiện của các đảng phái để công khai tranh thủ nhân dân và phản ứng đối với việc Cộng Sản cướp chính quyền có thể coi là chậm chạp, chỉ khởi sự khi Quốc Quân Trung Hoa tiến vào Hà Nội để giải giới Nhật theo đúng quy định của hiệp ước Postdam. Với sự có mặt của Quốc Quân Trung Hoa (thời đó dân chúng thường gọi là quân Tàu Phù, vì đa số bị phù xưng sốt rét, phù thủng ghẻ Tàu), các đảng phái đã áp lực Cộng Sản phải nhượng bộ cải tổ chính phủ và dành một số ghế, 70 trong tổng số 444 ghế trong quốc hội cho các đảng phái. Nhưng dưới con mắt nghi kỵ của quốc dân, hậu quả của hơn ngàn năm lệ thuộc Tàu và hơn tám mươi năm lệ thuộc Pháp, hào quang cách mạng yêu nước của các đảng phái đã bị hoen ố phần nào vì dựa thế quân ngoại quốc quá lộ liễu.

 Sau bao khó khăn, quốc hội Việt Nam đầu tiên đã họp khoáng đại vào ngày 8/11/1946 tại Hà Nội, để nhất trí chấp nhận bản dự thảo luật căn bản làm hiến pháp. Tất cả những thủ tục có tính cách nghi lễ trên được hoàn tất trong một ngày và quốc hội tự giải tán trao quyền lại cho ủy ban thường trực quốc hội gồm 15 người do chính phủ đề cử và học giả Nguyễn Văn Tố không thuộc đảng phái nào làm trưởng ban.

Về phía hành pháp, các người Quốc Gia nắm ghế bộ trưởng như: Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính) nắm ngoại giao, Trương Đình Trị (Việt Cách) nắm y tế, Bồ Xuân Luật (Việt Cách) nắm canh nông và kể cả Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) làm Phó Chủ Tịch nhà nước, đều chỉ nắm hư vị, ngồi chơi xơi nước. Mọi việc từ nhỏ đến lớn đều do người Cộng Sản giải quyết. Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và tổng đảng bộ Cộng Sản họp bàn hoạch định đường lối và điều động việc thi hành. Hồi đó, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản gồm có: Hạ Bá Cang, Nguyễn Lương Bằng, Bùi Lân, Trường Chinh tức Đặng Xuân Khu, Bùi Công Trừng và hai đảng viên Cộng Sản quốc tế, một người Tàu tên Pô, một người Nhật tên Tiêu Xung (cả hai đều dấu Họ).

Sự có mặt hư vị của các đảng phái Quốc Gia trong chính quyền được người Cộng Sản tính toán và chấp nhận như một chiến thuật: Là chia xẻ trách nhiệm trước quốc dân và tạo một bộ mặt Quốc Gia cho chính họ, để tránh sự có thể bị đàn áp bằng võ lực của Quốc Quân Trung Hoa. Kinh nghiệm về những cuộc đàn áp Cộng Sản thẳng tay của Quốc Quân Đảng Trung Hoa còn quá mới đối với những người Cộng Sản và nhất là Hồ Chí Minh, mà cuộc tháo chạy tơi tả dài cả vạn lý của Mao Trạch Đông là một điển hình.

Đối với người Cộng Sản, trở ngại lớn nhất trên đường thực hiện chủ nghĩa không phải là thực dân Pháp mà là người Quốc Gia Chân Chính, vì thực dân Pháp là “thời địch” có tính giai đoạn sẽ qua đi

 

 

 

  Chính người có tinh thần Quốc Gia mới là kẻ tử thù, “tối hậu địch nhân” của Cộng Sản, khi mà họ nhận ra được bản chất của Cộng Sản là đế quốc cực quyền chủ trương độc tài và áp chế. Chỉ cần xét qua bản điều lệ gồm 21 điểm quy định tổ chức Comintern, Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản thì đủ rõ. Điểm 6 triệt để ngăn cấm các đảng viên Cộng Sản địa phương không được có khuynh hướng quốc gia. Điểm 14 buộc các đảng viên Cộng Sản địa phương phải triệt để và vô điều kiện ủng hộ Liên Bang Cộng Hòa Sô Viết. Điểm 16 buộc các đảng viên Cộng Sản địa phương phải tuyệt đối trung thành chấp hành toàn bộ mệnh lệnh của vô sản quốc tế, trong đó đảng Cộng sản Nga nắm quyền quyết định tối hậu.

Tổ chức Đệ Tam Quốc Tế do V. I. Lenin triệu tập tại Mạc Tư Khoa năm 1919, với khẩu hiệu “Vô sản các nước hãy đoàn kết lại”, đã bị Stalin giải tán vào năm 1943 sau khi bị Đức đánh chiếm gần nửa lãnh thổ. Tuy nhiên, đây chỉ là một chiến thuật của Stalin với mục đích làm an lòng “đế quốc” Mỹ, để Mỹ rộng tay viện trợ cho Nga thêm nhiều quân trang, quân dụng, vũ khí, thực phẩm … Sau khi cùng đồng minh thắng Đức, Nga đương nhiên bước lên địa vị siêu cường chia vùng ảnh hưởng với Mỹ, thì Stanlin lại tái thiết lập Cộng Sản đệ tam quốc tế vào năm 1948, với danh xưng mới Comintern để kiểm soát chặc chẻ hơn các đảng Cộng Sản địa phương.

Chiến Thuật của Stalin vào năm 1943 cũng đã được đảng Cộng Sản Đông Dương áp dụng vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, khi tuyên bố tự giải tán để trấn an dư luận quần chúng, để giải tỏa sự chống đối càng ngày càng gia tăng của các đảng phái Quốc Gia và nhất là để dành cảm tình của Hoa Kỳ. Trong nhiều cuộc tiếp xúc với các đảng phái và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn luôn chứng tỏ, cam kết và dùng tới cả lời thề độc để làm cho những người được Hồ Chí Minh tiếp xúc tin rằng, họ Hồ là người Quốc Gia hay ít ra cũng đã dứt khoát với quá khứ Cộng Sản của mình. Cố vấn chính phủ giám mục Lê Hữu Từ là một trong những nhân vật đã được Hồ Chí Minh vận dụng tình cảm theo kiểu này, để yêu cầu Thiên Chúa Giáo cộng tác với Cộng Sản vào những ngày đầu tiên khi Cộng Sản lên nắm chính quyền.

Vì những áp lực chống đối nặng nề, nhất là từ phái các đảng phái qua thế lực Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản đã tính đến việc đưa công dân Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại, đang giữ chức cố vấn tối cao cho chính phủ liên hiệp ra lập chính phủ. Nhưng vì sự tham nhũng của các tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Cộng Sản đã khôn khéo dùng vàng quyên góp được của dân chúng để xây dựng tổ quốc, hối lộ những người có quyền hành như tướng Tiêu Văn và Lư Hán. Được vàng của Cộng Sản, Quốc Dân Đảng Trung Hoa bỏ rơi các đảng phái Quốc Gia và để người Cộng Sản rộng tay hoạt động tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, những người nhẹ dạ ngây thơ tin vào sự giúp đỡ vô vị lợi của ngoại bang. Đây cũng là cái gương để cho người Cộng Sản Hà Nội hiện nay soi lại và đừng tin vào những gì kẻ ngoại xâm nhất là người Tàu hứa hẹn giúp đỡ, trong giờ phút thập tử này khi mà chế độ không còn đường sinh lộ.

 D. Chiến Tranh, Phương Tiện Hoàn Hảo Thực Hiện Chủ Nghĩa Cộng Sản

 

 

Hòa ước Trùng Khánh ký ngày 28/2/1946 giữa Pháp và Trung Hoa

đã cho Pháp tiến quân lên phía trên vĩ tuyến 16 thay thế Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật. Đổi lại Pháp nhượng cho Trung Hoa đường xe lửa Lào Kay – Vân Nam, trả lại các tô giới cũ và hứa ưu đãi Hoa kiều ở Đông Dương. Thâm ý của Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) là rút quân về dồn lực tiêu diệt Trung Cộng đang được Nga giúp tiếp thu đất Mãn Châu từ tay Nhật, và dùng tay Pháp trấn áp Cộng Sản Việt Nam rồi làm phên dậu che an toàn mặt biên giới phía Nam cho Trung Hoa.

 Sự rút quân Trung Hoa khỏi Việt Nam đã làm cho Việt Quốc và Việt Cách mất một thế dựa và sau đó bị Cộng Sản bao vây tiêu diệt nếu không kịp tháo chạy sang Tàu. Tuy nhiên đó là một may mắn vô cùng đối với người Cộng Sản. Từ nay họ được rộng tay hành động đối với thời địch bây giờ là thực dân Pháp và đối với tối hậu địch nhân là các đảng phái Quốc Gia Việt Nam. Trước một kẻ thù chung của cả dân tộc là thực dân Pháp đang cố tâm tái lập nền bảo hộ, người Cộng Sản đã lớn tiếng hô hào thống nhất ý chí, thống nhất lực lượng với khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”, “Đoàn kết để kháng chiến chống ngoại xâm”. Bằng những kỹ thuật tuyên truyền khôn khéo Cộng Sản đã kích động được tình tự yêu nước của toàn dân, đặc biệt ở tầng lớp thanh niên đầy nhiệt tình và lý tưởng. Bằng sự lý luận ngụy biện, Cộng sản đã đưa ra một tiền đề của tam đoạn luận đầy sai lạc Đánh Pháp là yêu nước”. Họ không định rõ lý do đánh Pháp trên lập trường nào, nhưng với lòng yêu nước bồng bột mọi người đã nhắm mắt chấp nhận không thắc mắc, như chấp nhận tiền đề đầy sai lạc này là: đã ủy nhiệm toàn quyền hành động cho Cộng Sản trong vai trò lãnh đạo cuộc chiến. Các đảng phái quốc gia bị đẩy vào một tình thế khó khăn, tiến thoái lưỡng nan. Nếu chống Cộng là bị mang tiếng là phản động chia rẽ, làm Việt gian tiếp tay với thực dân Pháp phản đồng bào, bán nước – đó là một điều sỉ nhục lớn nhất đối với những người đã từng hiến dâng cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc, từng chấp nhận chết chóc, tù đày, đánh đập, hành hạ, đói rét, nghèo khổ Nếu chống Pháp để thực hiện lý tưởng hằng đeo đuổi và phù hợp với “nguyện vọng của toàn dân”, tránh được tiếng Việt gian bán nước đầy ô nhục, thì tất yếu phải gia nhập hàng ngũ kháng chiến, chịu sự lãnh đạo của Cộng Sản. Và cộng tác với Cộng Sản là một việc cực kỳ nguy hiểm, mà những người có kinh nghiệm đấu tranh đều đã ít nhiều thể nghiệm bằng xương máu của chính mình và các đồng chí. Cộng tác, liên hiệp với Cộng Sản chỉ có hai điều có thể xảy ra: Một là bị Cộng Sản nhuộm đỏ, có giá trị như sự đầu hàng, để trở thành Cộng Sản phục vụ tổ chức Cộng Sản quốc tế, coi tổ quốc, dân tộc chỉ là phương tiện như: Bồ Xuân Luật, Đinh Chương Dương của Việt Cách … Hai là bị thủ tiêu trong bí mật hay là bị chụp mũ gián điệp, Viêt gian, bị hủ hóa để làm nhục rồi cũng bị giết đi để trừ hậu họa, có giá trị như một sự tự sát vô ý thức. Với các lãnh tụ đảng phái quốc gia đã nổi danh, đa số chọn giải pháp tiêu cực. Họ không chấp nhận Pháp, cũng không theo Cộng Sản. Họ chạy ra ngoại quốc hoặc trốn tránh nằm im đợi thời. Dưới cái nhìn tích cực của người đấu tranh cách mạng, thì đó là thái độ bất lợi, gây nhiều ngộ nhận, dễ bị lên án … Như mọi người đã thấy qua những bài báo, sách vở xuất hiện cả hai phía Cộng Sản và Tự Do. Nhưng nếu nhìn ra cái thế kẹt của người Quốc Gia nằm trên đe dưới búa, đứng giữa hai lằn đạn thù của hai thế lực quốc tế, đó là Cộng Sản đế quốc thực dân mới, và Pháp đế quốc thực dân cũ, tất sẽ thông cảm nỗi đau nhục, xót xa này của những người muốm làm một cái gì, nhưng bị mắc cứng trong sự trói buộc của Thời và Thế, chỉ có thể an ủi như Ngô Thời Nhiệm, người lỡ thời, thất thế trả lời Đặng Trần Thường kẻ đắc thời, đắc thế và đầy tự mãn khi ra câu đối:

* – Ai Công hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai !

(Đặng Trần Thường)

* – Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

(Ngô Thời Nhiệm)

 Người Cộng Sản cố mềm mỏng trong việc điều đình với Pháp để mua thời gian củng cố lực lượng và phát triển cơ sở tổ chức. Cộng Sản đã ký hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 với Pháp, thừa nhận sự đóng quân của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam

. Với hiệp ước này, Cộng Sản đã bị người Quốc Gia chỉ trích và quần chúng mất tin tưởng. Dư Luận đã xôn xao, nghiêm khắc lên án kết tội Việt Minh là kẻ rước Pháp vào tái lập chế độ thực dân, như xưa Hồ Chí Minh đã từng cộng tác với mật vụ Pháp để điềm chỉ bắt người Quốc Gia, nên thời đó có thơ rằng:

Đánh tan cái lũ bất nhân,

Đánh tan cái lũ rước quân Pháp về.

Cùng nhau hẹn một lời thề,

Đã làm cách mạng chẳng hề sợ chi.

Nhớ lời mạnh bước chân đi

Diệt quân Cộng Sản bỏ khi cực lòng”

Và ngay cả những người thiên tả trong nhóm thợ thuyền Việt Nam tại Pháp cũng tỏ lộ sự phẫn nộ, công khai đã kích Hồ Chí Minh. Tờ Paria xuất bản tại Ba Lê vào những ngày đầu tháng 7/1946, đã đăng một bức thư ngỏ gởi Hồ Chí Minh như sau:

 Hội nghị Đà Lạt họp vào tháng 4 và tháng 5/1946 và Fontainebleau vào tháng 3 tháng 7, 8 và tháng 9/1946 để cố gắng sửa lại thiếu sót đó, để đòi hỏi hoàn toàn độc lập cho Việt Nam đã bị thất bại. Hồ Chí Minh đích thân đi Ba Lê vận động qua đường dây Cộng Sản Pháp nhưng cũng không xong.

Sợ mất quyền lực chính trị với quần chúng, họ Hồ đành phải ký một Tạm Ước với tổng trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại, Marius Moutet, đảng viên xã hội (đã quen biết họ Hồ từ hai mươi năm qua) vào ngày 14/9/1946. Tạm Ước này chỉ là sự tái xác nhận nhiều đặc quyền của thực dân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam.Trào lưu chính trị thế giới đã biến đổi với sự hình thành của các thế lực siêu cường và những vùng ảnh hưởng. Người Pháp đại diện bằng De Gaulle và các chính khách thực dân vẫn chủ quan nuôi tham vọng tái lập toàn vẹn thuộc địa, được gọi là Pháp Quốc Hải Ngoại. Chính sách duy trì toàn vẹn đế quốc thực dân dưới danh hiệu mới Liên Hiệp Pháp được chấp thuận tại hội nghị Brazzaville, thủ đô Congo thuộc Pháp vào tháng 4/1945, mà sự áp dụng đầu tiên là cuộc tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.

Với chính lược đã quy định, việc Pháp tái chiếm Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian

. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn cho Cộng Sản, ngoài thì bị kẻ thời địch là thực dân Pháp lấn át, đòi những điều kiện không thể chấp nhận được, trong thì bị những đảng phái quốc gia lật mặt nạ chỉ trích và dân chúng bắt đầu nghi kỵ là thỏa hiệp bắt tay với Pháp, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản sau những suy tính hơn thiệt đã chấp nhận giải pháp chiến tranh như con bài gỡ thế bí. Hồ Chí Minh hạ lệnh “Tiêu Thổ Kháng Chiến”. Súng nổ vào tối ngày 19/12/1946.

 Với chiến tranh người Cộng Sản lấy lại được uy thế chính trị, nắm được hào quang chính nghĩa quốc gia. Chiến tranh như một phương tiện tuyệt hảo được người Cộng Sản dùng để thực hiện mục tiêu ngắn hạn thuộc chiến thuật, cũng như những mục tiêu dài hạn nằm trong chiến lược và cả những mục tiêu tối hậu nằm trong chính lược toàn cầu của Cộng Sản quốc tế, Cộng Sản luôn luôn tâm niệm dùng cách mạng bạo lực để thực hiện một chế độ vô sản chuyên chính. Chém giết là phương tiện tốt nhất để trấn áp chống đối và đạt thắng lợi, trong một xã hội mà bản chất đấu tranh và sinh tồn giữa những con người làm nên giai cấp xung đột nhau trong mối tương quan Quyền, Lực. Với người Cộng Sản chủ trương chiến tranh toàn diện để đạt được mục đích, tối hậu của chiến tranh là hoàn toàn tiêu diệt được quân địch với tất cả năng lực Công cũng như Thủ và không để kẻ thù khôi phục tiềm năng, vì hòa bình chỉ được coi là một giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới.

Trong cuộc chiến tranh Pháp Việt 1945-1954, chiến tranh đã là một duyên cớ chính đáng được Cộng Sản triệt để vận dụng để biện minh cho những hành động áp chế dân chúng của họ, quần chúng đã cúi đầu chấp nhận chiến tranh như chấp nhận số phận hẩm hiu của chính họ. Với chiến lược tiêu thổ kháng chiến, người Cộng Sản đã cho lệnh đốt phá thẳng tay nhiều thành phố, cầu cống, nhà máy trước khi rút lui. Nằm trong chiến lược trên, Cộng Sản cũng đã lùa dân triệt để tản cư về thôn quê, ra ngoại thành. Dụng ý xấu xa của Cộng Sản khi cho đốt phá triệt hạ các thành phố và lùa dân đi không chỉ đơn thuần trong mục tiêu quân sự là: Di tản chiến thuật tạo khó khăn cho quân Pháp, không cho chúng xử dụng các cơ sở, tiện nghi vật chất để làm chiến tranh, cũng không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu chính trị giai đoạn: Tranh thủ dân với Pháp để Pháp không có dân cai trị và xử dụng trong các dịch vụ … Đành rằng các mục tiêu kể trên là những mục tiêu thực tế và cấp thời, vì yếu tố cơ bản để làm chiến tranh là nhân dân. Không có dân không có chiến tranh, không có dân không có người cầm súng. Không có dân không có lương thực nuôi quân. Không có dân không có tình báo để thấu triệt tình địch. Không có dân không có chổ nương náu an toàn. Dân là nước và quân là cá. Nhưng hành động đốt phá thành phố của Cộng Sản nó còn mang thêm một ý nghĩa cao hơn của chính lược Cộng Sản: vô sản hóa quần chúng bằng chiến tranh, chuẩn bị nền móng khai quang đất địa để xây dựng chế độ vô sản chuyên chính. Người dân thành phố sau khi bị cắt đứt với những liên hệ tài sản của họ ở thành thị, họ chỉ còn hai bàn tay trắng, và họ phải lệ thuộc vào chính quyền về đồng lương nếu họ là công chức, về thuế khóa nếu là người dân buôn bán. Họ trong tình trạng vô sản tất sẽ dễ dàng chấp nhận những biện pháp cải cách của chính quyền Cộng Sản hơn cả những nông dân thiếu ăn, thiếu mặc nhưng thừa đầu óc tư hữu.

Sau khi Mao Trạch Đông thống nhất Hoa Lục, tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân vào ngày 1/10/1949, Cộng Sản Việt Nam cũng để lộ nguyên hình, họ không cần dùng tới mặt nạ ngụy trang quốc gia như trước nửa. Với họ, tư tưởng Quốc Gia Dân Tộc bị kết án là hẹp hòi, lạc hậu và … phản động. Lòng yêu nước chân chính (suy nghĩ theo kiểu Cộng Sản) phải là phục vụ lý tưởng Cộng Sản và giai cấp vô sản quốc tế. Đảng Cộng Sản được tái lập với danh xưng mới: Đảng Lao Động Việt Nam vào ngày 3/3/1951. Chủ trương của đảng được sửa đổi lại, không chỉ chú trọng đánh đế quốc thực dân Pháp (Phản Đế) như những ngày đầu kháng chiến khi đảng còn yếu, phải giải tán và Cộng Sản phải đội danh Quốc Gia. Họ đã kết hợp đồng thời phản Đế với phản Phong (tức đánh phong kiến, cường hào ác bá, tư sản mại bản … ). Sự xuất hiện của Đảng Lao Động là nguyên nhân trực tiếp của những vụ học tập chính trị, đường lối trong bộ máy quân đội, bộ máy chính quyền và các tổ chức quần chúng. Đảng đã thiết kế và điều động thi hành những vụ thanh trừng, thủ tiêu, đấu tố khủng khiếp sau đó tại những vùng Cộng Sản kiểm soát, trong mục đích bần cùng hóa nhân dân và thủ tiêu những phần tử có tư tưởng Quốc Gia đang nắm những chức vụ chỉ huy trong các tổ chức chính quyền, quân đội và quần chúng để diệt trừ hậu họa.

Được sự giúp đỡ tận tình của Cộng Sản Trung Cộng như một hậu phương lớn, vững chắc và an toàn, Cộng Sản Việt Nam đã phản công Pháp và dần dần đẩy Pháp vào thế bị bao vây. Sự chênh lệch đã quá rõ rệt khi đem cân lực lượng đôi bên, giữa thế lực quốc tế đang lên là Cộng Sản và thế lực đã suy tàn của đế quốc thực dân Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Minh ký hiệp định Genève chia đôi Việt Nam, trên Vĩ Tuyến 17 Cộng Sản tiếp tục công việc đang làm dang dở qua phương tiện chiến tranh: Cải tạo nhân dân, cải tạo xã hội mà điển hình là cuộc cải cách ruộng đất thực hiện từ 1953 – 1956 với trên nửa triệu người dân bị Cộng Sản giết chết oan uổng, vì những ý niệm mơ hồ trong một nội dung co dãn như Địa Chủ, Phú Nông, Tư Sản … Vì những tội danh chụp mũ như: hút máu mủ nhân dân, chống phá cách mạng, Việt gian bán nước … để bắt ép cả nước vững chắc tiến nhanh, tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, bảo đảm hoàn tất tốt đẹp nghĩa vụ quốc tế vô sản được Mạc Tư Khoa giao phó: là tiền đồn của Xã Hội Chủ Nghĩa.

4). Chiến Tranh Và Người Pháp

 

 

Ngày 16/6/1940 Đức chiếm Ba Lê. Thống chế Pétain được sự ủy nhiệm của quốc hội Pháp để cộng tác với Đức, thành lập chính phủ Vichy. Đức để cho Pháp giữ nguyên các thuộc địa. Jean Decoux, Tư Lệnh Hạm Đội Viễn Đông được cử làm toàn quyền Đông Dương thay tướng Catroux bỏ theo phe kháng chiến De Gaulle.

Ngày 25/4/1944 lực lượng kháng chiến của De Gaulle theo chân Đồng Minh vào giải phóng Ba Lê. De Gaulle cử Đô Đốc Thierry D’Argenlieu làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương. Nhưng vì những khó khăn chính trị De Gaulle tự ý rút lui, Georges Bidault lên làm thủ tướng. Sự rút lui của De Gaulle không thuần lý do nội bộ mà còn có những lời hứa tốt đẹp đối với các thuộc địa khi De Gaulle còn cần sự giúp đỡ về nhân lực và vật lực của các thuộc địa để kháng chiến chống Đức (Thủ đoạn chính trị này lại được thấy vào năm 1973 sau khi Mỹ và Việt Cộng ký hiệp định Ba Lê. Tổng Thống Richard Nixon phải từ nhiệm vì vụ Watergate. Nhìn dưới khía cạnh chính trị, đây chỉ là một vụ trốn thi hành những mật ước mà Mỹ đã hứa với Việt Cộng như: viện trợ tái thiết cầu cống, cơ sở kỹ nghệ và Kinh Tế. Bằng chứng dù bị báo chí bôi bẩn, Nixon vẫn được Tổng Thống Reagan chính thức nhờ đại diện đi dự đám tang của Tổng Thống Saddat và lãnh những sứ mạng đặc biệt đi Trung Cộng).

Tháng 4/1945, hội nghị Brazzaville tại thủ đô Congo thuộc Pháp, quyết định chính lược của Pháp chấp nhận canh tân, nhưng vẫn duy trì đế quốc dưới danh hiệu Liên Hiệp Pháp.

 Cuối tháng 8/1945, Anh đổ quân giải giới Nhật theo hiệp ước Postdam từ vĩ tuyến 16 trở xuống. Với sự đồng ý và sự giúp đỡ của Anh, Pháp đã theo chân Anh vào tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.

 

 

 Ngày 28/2/1946 Pháp ký hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa và thay thế Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật từ trên vĩ tuyến 16 trở lên.

Ngày 6/3/1946 Sainteney đại diện D’Argenlieu ký với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh hiệp định sơ bộ. Hiệp định này thừa nhận quyền đóng quân của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam thay quân Trung Hoa. Do đó ngày 18/3/1946 sư đoàn cơ giới của Tướng Leclerc và bộ binh Pháp từ Hải Phòng lên đóng tại Hà Nội.

Trong hai tháng 4 và 5/1946, hội nghị Đà Lạt bàn tiếp về hiệp định sơ bộ. Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn, Võ Nguyên Giáp làm phụ tá. Hội nghị bế tắc vì thái độ cứng rắn của Pháp.

Ngày 4/6/1946 Pháp tách rời Nam Bộ, đưa bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng lập chính phủ Nam Kỳ tự trị.

Trong ba tháng 7, 8 và 9/1946 hội nghị Fontainebleau tiếp tục, hội nghị Đà Lạt bàn về hiệp định sơ bộ cũng bế tắc và ngày 12/9 một số nhân viên phái đoàn Việt Nam bỏ về nước trước.
Ngày 14/9/1946 một mình chủ tịch nhà nước là Hồ Chí Minh đến gặp riêng Bộ Trưởng Moutet tại tư gia vào nửa đêm để ký bản tạm ước tái xác nhận hiệp định sơ bộ 6/3/1946.

Ngày 20/11/1946 Pháp đánh chiến Hải Phòng.
Ngày 19/12/1946 chiến tranh Việt Pháp bùng nổ.

Ngày 5/6/1948 hiệp định Hạ Long được ký kết. Cao Ủy Bollaert đại diện Pháp long trọng tuyên bố thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp
. Cựu Hoàng Bảo Đại, chỉ định thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ trung ương lâm thời. Giải pháp Quốc Gia đã được người Pháp nói đến từ lâu nay mới được thành hình.

Ngày 8/3/1949 thỏa ước Elyseé ký giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại tái xác nhận hiệp định Hạ Long, thừa nhận Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp.

Ngày 20/7/1954 chiến tranh kết thúc bằng hiệp ước Genève giữa Pháp và Việt Minh chia đôi Việt Nam bằng vĩ tuyến 17.

5). Những Sai Lầm Chính Lược Của Pháp
 

 

 Sau Đệ Nhị Thế Chiến, đế quốc thức dân Pháp hoàn toàn suy yếu, trong một bối cảnh thế giới đã có những đổi thay tận gốc rễ với những thế lực đang hình thành và chia vùng ảnh hưởng. Sự thân thiết có tính chiến lược của Mỹ với Nga qua Roosevelt và Stalin đã nói lên sự kém vế của Anh, Pháp dù được xếp vào hàng cường quốc. Chủ nghĩa thực dân đã trở thành lỗi thời và là mục tiêu công kích của toàn thế giới với sự hổ trợ của hai siêu cường Mỹ (tự do), Nga (Cộng Sản). Nhìn được trào lưu chính trị của thời đại, Anh đã khôn khéo sớm trao trả độc lập cho các thuộc địa và chân thành cộng tác với họ để thành lập khối thịnh vượng chung Liên Hiệp Anh. Trái lại, Pháp còn muốn cố gắng duy trì đế quốc thực dân, dùng thuộc địa như những phương tiện hữu hiệu để phục hồi mẫu quốc Pháp đã bị tàn phá sau những năm bị Đức chiếm đóng. Hội nghị Brazzaville đề ra chính lược tương lai của Pháp là lỏng tay hơn đối với các thuộc địa, chấp nhận canh tân nhưng vẫn duy trì thuộc địa dưới danh hiệu mới là Liên Hiệp Pháp. Bằng chứng là Pháp có riêng một bộ coi về thuộc địa được gọi một cách hoa mỹ là Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại. Bằng chứng nửa là De Gaulle đã phải rút lui để tránh không thực hiện những gì đã hứa với các thuộc địa và khi có những khuynh hướng cấp tiến trong chính trường muốn Pháp bắt chước Anh thực tâm trao trả độc lập cho các thuộc địa, thì chính De Gaulle lại ra thông báo nghiêm khắc cảnh cáo: “Người Pháp nào làm cho nước Pháp mất đi một phần lãnh thổ trong Pháp Quốc Hải Ngoại, thì sớm muộn cũng bị xét xử trước tòa án tối cao”. 

Pháp ngoan cố

muốn đi ngược lại tiến trình hướng thượng của nhân loại, với một chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời được ngụy trang dưới chiêu bài “khai hóa” đã bị tố cáo và lật tẩy, Pháp đã bị chống đối đương nhiên bởi các thuộc địa, là đối tượng để công kích của toàn thể loài người yếu và của thế lực quốc tế nay đã trở thành siêu đế quốc thực dân kiểu mới (kiểu Cộng Sản).

6). Pháp Sai Lầm Chiến Lược Trong Cuộc Chiến Đông Dương 1945-1954

Trong tầm mức chiến lược, Pháp đã sai lầm nghiêm trọng trên cả hai phương diện chính trị lẫn quân sự. Sự thua trận của Pháp chỉ là một kết quả đã thấy trước và tất yếu phải đến (hiện tại Pháp đã và đang sai lầm một lần nửa trên phương chính trị khi tự cho mình là siêu cường và muốn đối đầu với Hoa Kỳ, khi pháp bắt tay với Trung Cộng đối đầu với Mỹ trên bàn cờ chiến lược tại Á Châu).

A). Phương diện chính trị

 

 

Vì thiếu một chính lược đúng đắn nên thái độ chính trị của người Pháp cũng trở nên bất nhất. Nền Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp với những chia rẽ nội bộ và là những chính phủ yếu kém đã là nguyên do chính của thái độ chính trị không dứt khoát đó. Pháp đã thật sự thất bại trong việc tạo một chiêu bài Quốc Gia cho cuộc chiến tranh chống Cộng Sản. Bộ mặt thực dân quá lộ liễu của Pháp đã đẩy một số lớn dân chúng Việt Nam về phía Cộng Sản và làm cho những người Quốc Gia Việt Nam bị bế tắc. Họ bị chết đứng giữa hai gọng kềm Thực Dân – Cộng Sản và họ là điểm ngắm giữa hai lằn đạn thù.Giải pháp Quốc Gia đã được giới chính trị lẫn quân sự Pháp đề cập đến từ lâu, nhưng chỉ thành hình vào ngày 5/6/1948 với khuôn mặt Bảo Đại. Vì sự không thực tế với người Pháp và thêm vào đó là sự phá hoại của Cộng Sản Pháp tại ngay nghị trường, điển hình là dân biểu Cộng Sản Maurice Thorez (Maurice Thorez một cấp trên của Hồ Chí Minh, được Stalin giao quyền trông coi Đông Dương Cộng Sản Đảng khi Hồ Chí Minh bị gọi về Mạc Tư Khoa khiển trách về vụ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1932, đã tố cáo Bollaert với âm mưu làm sao ép buộc được cả năm quốc gia Đông Dương vào Liên Hiệp Pháp ngay khi Bollaert được đề cử làm Cao Ủy Đông Dương ngày 5/3/1947) đã làm cho chiêu bài Quốc Gia mà họ dựng lên, thiếu hấp dẫn đối với những người Cách Mạng có tinh thần Quốc Gia đã có thành tích chống Cộng và chống cả thực dân Pháp. Chiêu bài Quốc Gia đó cũng kém hấp dẫn ngay cả những người dân Việt Nam đang khao khát một nền độc lập, tự do và hòa bình cho tổ quốc.

Không phải Pháp không có những người nhìn ra sự cần thiết phải có một chính nghĩa Quốc Gia để chống lại Cộng Sản, trong một cuộc đấu tranh chính trị để tranh thủ quần chúng, nhưng những người nhìn được vấn đề, đưa được giải pháp lại không phải là những người nắm nhiệm vụ giải quyết vấn đề. Hơn ai hết, với hơn 80 năm kinh nghiệm đô hộ Việt nam, người Pháp tất hiểu tinh thần đấu tranh kiên cường của những đảng phái cách mạng ra sao!. Và cũng hơn ai hết, những người Pháp có kinh nghiệm cai trị tất hiểu rằng Cộng Sản đã e sợ và thù ghét người Quốc Gia như thế nào!. Vì trên bản chất, người Việt Nam Quốc Gia với lý tưởng “Tổ Quốc Trên Hết” đã, đang và vĩnh viễn sẽ là kẻ thù của bất cứ thế lực xâm lược nào dù lộ liễu, lạc hậu như đế quốc thực dân kiểu cũ , dù họ có trá hình khôn khéo dưới một chủ thuyết (Cộng Sản) được tôn xưng là khoa học, là đỉnh cao trí tuệ như siêu đế quốc thực dân kiểu mới.

Vì e sợ giải pháp Quốc Gia được trao phó cho những Người Quốc Gia Chân Chính (người quốc gia chân chính là những người không thỏa hiệp, không nhân nhượng, không xem tổ quốc mình như một món hàng để trao trao đổi) nên Cộng Sản đã xuống tay thủ tiêu nhà văn Khái Hưng, đảng viên của Đại Việt Dân Chính Đảng năm 1947. Nhà văn Nhượng Tống, đảng viên Quốc Dân Đảng bị ám sát năm 1947. Nguyễn Văn Sâm, sáng lập viên phong trào Quốc Gia Thống Nhất bị bắn chết tại Sài Gòn năm 1947. Bác Sĩ Trương Đình Tri, Chủ Tịch Hội Đồng An Dân Bắc Việt, bị bắn chết tại Hà Nội năm 1947 (Bác Sĩ Trương Đình Tri đã từng làm Bộ Trưởng Y Tế trong chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945) và còn biết bao nhiêu các đảng viên trung kiên và nòng cốt của các đảng phái Quốc Gia khác, đã bị Cộng Sản cầm tù, tra tấn, xử bắn với tội danh Cộng Sản gán cho họ là Việt gian bán nước, trong mục đích bôi xấu các đảng phái Quốc Gia rồi có cớ giết đi để trừ hậu họa.

Năm 1948, vụ phá hoại chiến hạm Amio D’Inville ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) là một vụ phản gián của tình báo Cộng Sản phá giải pháp Quốc Gia, khi Pháp cố liên lạc với các đảng phái Quốc Gia tìm người cộng tác. Hoàng Đạo, một tên gián điệp Cộng Sản mạo danh đại diện của Việt Nam Dân Tộc Cách Mệnh Đảng (một đảng có thành tích chống Cộng quyết liệt ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định đã bị Cộng Sản đàn áp, bắt giam cả ngàn đảng viên), để điều đình với Pháp tổ chức một cuộc nổi dậy bằng võ trang ở Liên Khu IV với sự yểm trợ của Pháp ở vùng biển. Hoàng Đạo có nhờ Pháp mang gia đình về Hải Phòng trên chiến hạm Amio D’Inville. Những va ly hành lý chứa toàn chất nổ của gia đình Hoàng Đạo đã gây thiệt hại khá nặng cho chiếc tàu này.

Trong một cuộc công du Hoa Kỳ để yêu cầu tăng quân viện vào ngày 20/9/1951, Đại Tướng De Latre de Tassigny, Cao Ủy Kiêm Tổng Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương, đã đề cao sự hy sinh của quân Liên Hiệp Pháp đang giúp đỡ quân đội Quốc Gia Việt Nam chống kẻ thù chung của thế giới tự do là Cộng Sản. Nhưng báo chí Mỹ đã chỉ trích Pháp và đặt câu hỏi: Tại sao những người Việt Nam chiến đấu cho tổ quốc họ khỏi họa Cộng Sản, khi tử trận người Pháp lại đề trên mộ họ những hàng chữ ô nhục “Mort pour la France” (chết cho nước Pháp? ! )

Chiến tranh cũng cần có khôn khéo như trong chính trị, nghĩa là cũng cần những lý do chính đáng để biện minh cho hành động. Vì như một tiến trình, chiến tranh chỉ là một sự kế tiếp của đấu tranh chính trị, dưới hình thức bạo lực trên một tầng cấp cao có tính cách quyết liệt, triệt để và toàn diện.

B) Phương Diện Quân Sự

Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Hòa là những yếu tố cần thiết để tạo nên sự chiến thắng. Nhưng không phải lúc nào ba yếu tố đó cũng đi với nhau. Vì đó mà kẻ tài trí phải tranh, phải mượn, phải tạo, phải đợi … để đạt chiến thắng. Và xét cho cùng, địa lợi là việc quan trọng hơn cả đối với việc dùng binh. Có một yếu tố địa lợi là cũng đủ thắng người, tranh hơn với thiên hạ. Địa Lợi là thứ phải tranh mới được, không như Thiên Thời phải chờ mới có, không như Nhân Hòa phải tạo mới thành. Nói đến chiến tranh tất nói đến trận mạc với cách thế hành quân đánh địch, thủ thành. Chiến tranh phải căn cứ thực tế đất địa mà ứng biến thích nghi. Người xưa vẫn thường nói Trận Địa là có ý đó. Có thể khẳng định là không có đất địa, không có trận thế … và do đó có thể nói nguyên do thất trận của Pháp ở Việt Nam là Pháp đã không nhìn ra được bản chất và thực lực của đối thủ để từ đó chọn chiến trường, chọn lối đánh và ấn định thời gian dứt điểm.

Nếu người Pháp nhìn ra được vùng tam giác Hồng Hà và vùng Thanh Hóa như là đất tranh và dùng toàn lực để tranh và giữ vùng đó, thì cuộc chiến Đông Dương sẽ ra sao?

Đất Tranh theo binh pháp của Tôn Tử là vùng đất mà ta chiếm được thì ta lợi lớn, địch chiếm được thì địch cũng lợi vô cùng, đất tranh vì thế không thể nhường, mà phải xuất tận lực nhanh tay mà lấy.

Những ngày đầu của chiến tranh, lực lượng của Cộng Sản không có gì đáng so sánh với quân đội Viễn Chinh Pháp, thế mà Pháp không biết lợi dụng ưu thế để tốc chiến tốc thắng, Pháp đã để cho Cộng Sản lấy thời gian mua không gian, “dùng thời gian như thần hộ vệ của kẻ yếu như Clausewitz một chiến lược gia Âu Châu đã nhận định”. Cốt nhiên vấn đề không thuần quân sự, nhưng nếu nắm được vùng đông dân cư thuộc sông Hồng và Thanh Hóa, tức là nắm được nguồn tiếp tế chiến tranh, người và vật lực của Cộng Sản. Dân chúng cũng giống như nước, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Hiểu được bản chất bất định của quần chúng, Cộng Sản đã đổ khuôn, đóng dấu quần chúng bằng chiến dịch tản cư để lùa dân về vùng do Cộng Sản kiểm soát, đó là Cộng Sản đã phá cái thế Địa Lợi của Pháp.

Nếu những ngày đầu của chiến tranh Pháp chiếm trọn vùng đông dân cư châu thổ sông Hồng và sông Mã, rồi võ trang cho các đảng phái và tôn giáo để chống Cộng Sản, như Pháp đã làm tại vùng châu thổ sông Cửu Long, với giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo … thì Cộng Sản không thể vẫy vùng một mình một chợ. Nhưng Pháp đã để uổng phí cơ hội tốt đó, đến lúc Pháp nhìn ra được vấn đề là phải gom dân giữ đất, thì mọi việc đã quá chậm. Cộng Sản đã có cả một hậu phương vĩ đại tiếp tế nhân sự, vũ khí, lương thực đó là lục địa Trung Cộng. Kể từ đó, Cộng Sản (Tàu và Việt Cộng) bắt đầu phản công Pháp và đánh bật Pháp ra khỏi những đất sát biên giới Việt – Hoa mà Pháp đã tốn công sức rải quân trấn đóng từ những ngày đầu của cuộc chiến Đông Dương. Để cứu vãn tình thế, Pháp cử Đại Tướng De Latre làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương vào tháng 12/1950. Với tài năng quân sự, De Latre đã chận được địch, giải tỏa áp lực địch quanh vùng tam giác sông Hồng Hà và gây nhiều tổn thất nặng nề cho địch. Võ Nguyên Giáp được lịnh phải trở về du kích chiến. Tài năng của De Latre được biểu lộ rõ rệt nhất trong các trận: Tô Vũ ở vùng Hòa Bình, với cách nhử địch để diệt địch. Trận non nước Ninh Bình, chống chiến thuật cài răng lược của Cộng Sản và hệ thống pháo đài bê tông dây thép gai bảo vệ hữu hiệu vùng châu thổ. Nhưng vì lý do sức khỏe, De Latre phải trở về Pháp chửa bệnh vào cuối năm 1951 và chết vào đầu năm 1952. Cùng với cái chết của De Latre niềm hy vọng giữ vững miền châu thổ sông Hồng Hà như ngọn đèn tàn đã lóa lên rồi tắt liệm …

Chiến dịch đổ bộ Bùi Chu, Phát Diệm với ý định giúp Thiên Chúa Giáo tự trị cũng thất bại vì quá chậm. chỉ được thực hiện vào năm 1952, nghĩa là vào lúc tình thế đã ung thối đến tột độ.

Cuối cùng chuyện đến đã đến, Pháp thua trận nhưng được an toàn rút khỏi Việt Nam bằng hiệp ước Genève 20/7/1954, dù Cộng Sản Việt Nam không muốn ngưng chiến mà muốn tiếp tục khai thác lợi thế của chiến thắng. Nhưng vì quyền lợi của Cộng Sản quốc tế, Nga và Tàu trong những giăng mắc với Anh và Pháp nên Cộng Sản Việt Nam phải buộc lòng chấp nhận. Trong cái nhìn chung của các cường quốc Nga, Tàu, Anh, Pháp trước mặt họ còn một thế lực khác đáng sợ hơn, đó là siêu cường Hoa Kỳ. Và như một chân lý ngàn đời trong chính trị không có gì là tuyệt đối, không có Bạn, không có Thù, chỉ có những mối tương quan được tạo dựng nên bởi quyền lợi và uy lực.

 7). Kết Luận

 

 

Tóm lại, chiến tranh với bản chất ngụy trá, tàn nhẫn, phá hoại và giết chóc đã là một phương tiện để thực hiện nhiều mục đích tùy theo sự mưu tính của người hoạch định

 

 

. Như đã dẫn chứng, người Cộng Sản Việt Nam đã dùng chiến tranh như một phương tiện hữu hiệu để tiêu diệt người Quốc Gia Việt Nam. Khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”, “Đoàn kết kháng chiến chống Pháp” chỉ là một chiêu bài chính trị không có thực chất. Thực dân Pháp chỉ là một lý do để biện minh cho những hành động tàn ác, mà Cộng Sản dùng để áp chế dân chúng và tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia trong tiến trình xây dựng vô sản thế giới theo đúng đường lối vạch ra của Đệ Tam Quốc Tế. Cứ nhìn những khẩu hiệu của họ đưa ra từng giai đoạn thì tất rõ. Từ “Phản Đế” họ tiến tới “Phản Phong”. Từ chống Pháp, họ tiến tới tiêu diệt giai cấp phản động và những sự cộng tác ngấm ngầm lén lút của người Cộng Sản với thực dân Pháp từ hồi còn xa xưa để tiêu diệt người Quốc Gia, đều là những yếu tố buộc tất cả mọi người chúng ta phải suy đi nghĩ lại về bản chất tráo trở của Người Cộng Sản về những gì họ đã phạm tới Tổ Quốc Việt Nam, với Dân Tộc Việt Nam, khi người Cộng Sản coi nước nòi như một phương tiện để xử dụng, chứ không như một cứu cánh cần phục vụ và một lý tưởng phải tôn thờ.

Hơn 50 năm qua Cộng Sản xây dựng miền Bắc, miền Bắc vẫn đói khổ, gần 30 năm “giải phóng” miền Nam, miền Nam đã trở thành điêu tàn và sa đọa !. 

 Đọc lịch sử không chỉ đơn thuần để lòng cười khóc với những buồn vui của người xưa, để thả hồn trôi lênh đênh qua những hưng phế thăng trầm của thời đại. Đọc lịch sử mang một ý nghĩa tích cực hơn nhiều. Đọc sử là học hỏi, suy ngẫm, bàn luận nguyên do đã tác động làm nên những biến chuyển lịch sử, để rồi lại ứng dụng vào những hoàn cảnh tương tự trong tương lai, thể hiện di huấn ngàn đời “Con phải hơn cha … để rạng rỡ giống nòi”. Những thế hệ cha anh của chúng ta, vì những bất lực của bản thân, vì những khó khăn của thời cuộc, đã để lỡ một vận hội. Còn chúng ta, những thế hệ Việt Nam trưởng thành trong máu lửa đấu tranh sẽ làm gì trước hiện tình thê thảm của đất nước, trước nỗi thống khổ của toàn dân?. Đất nước sẽ bị diệt vong nếu chúng ta không sáng suốt nhìn ra vấn đề, gát bỏ mọi thành kiến, chung lưng góp sức cứu nguy cho dân tộc. Trung Quân là tình cảm riêng tư của mỗi người, nhưng phải biết Ái Quốc. Đó là lời của Án Anh bề tôi của nước Tề trả lời với nước Sở khi nghe tin Tề Vương chết … Nghĩa Công phải trên Tình Riêng … mong thay !.

* – Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

* – Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

* – ……………..

* – Mấy ai người đem hết tâm can ?

* – Trước quân thù (Cộng Sản) hung hiểm gian ngoan

* – Biết bao kẻ mơ hồ mong hưởng lạc !

* – Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

* – ……………………

* – Ai đứng dậy diệt trừ lũ qủy ?

* – Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn

(Vì Ấu Trĩ – Thơ Vô Đề – 1975)

A. Những Thời Điểm Đáng Ghi Nhớ.

“Chúng tôi một số đồng chí ít ỏi do chính đồng chí (Hồ Chí Minh) đào tạo 1925. Những “tư tưởng?” của đồng chí đã thấm sâu vào chúng tôi. Chúng tôi xem đồng chí như biểu tượng cho tất cả tầng lớp thợ thuyền Việt Nam trẻ.

Chúng tôi không ngờ lại phải mất hết hy vọng sau thỏa ước 6/3. Đồng chí đã ký một thỏa ước chấp nhận tự trị mà không phải độc lập. Sức mạnh lòng tin tưởng của chúng tôi đặt vào nơi đồng chí là lãnh tụ phong trào cách mạng phản đế, cũng ngang ngửa với lòng căm phẫn của chúng tôi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ là đã chọn lầm lãnh tụ, nhưng nhân dân Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng. Chúng tôi sẽ tiếp tục con đường đồng chí đã chọn nhưng đã không noi theo đến cùng”.

 

March 31, 2008

2008, Hà Nội kỷ niệm tổng tiến công và nổi dậy 1968


DCVOnline
Tin ngắn Việt Nam diễn hành đánh dấu 40 năm ngày tấn công miền Nam năm Mậu ThânHÀ NỘI – Việt Nam đánh dấu 40 năm kể từ ngày tổng tấn công miền Nam vào mùa xuân năm Mậu Thân bởi một cuộc diễn hành của quân đội rực rỡ đầy màu sắc gồm những cựu chiến binh và tái diễn cuộc tấn công bất ngờ vào thành phố đã đánh dấu bước ngoặt làm xoay chiều cuộc chiến.Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và các tướng lãnh quân đội cao cấp duyệt đoàn quân du kích và binh sĩ diễn hành qua Dinh Thống nhất ở thành phố Hồ Chí Minh, vốn là tư dinh tổng thống của chế độ miền Nam trước năm 1975.Thanh niên với quần đen của Việt Cộng cùng AK-47 và súng phóng lựu đã tham gia cuộc diễn hành, cùng với phụ nữ gánh những giỏ trái cây trên vai, nhằm gợi nhớ cái hình ảnh vũ khí và bom đạn đã được chuyển lậu vào thành phố như thế nào.

Cựu chiến binh diễn hành đánh dấu 40 năm ngày cộng sản Bắc Việt vi phạm hiệp ước ngừng chiến ba ngày tết để tổng tấn công các thành phố và tỉnh lỵ miền Nam mùa Xuân năm 1968. Nguồn: AFP

“Cuộc tấn công Tết năm 1968 đã mở đầu một trang sử mới trong cuộc chiến tranh Việt Nam và đã giáng một đòn chí tử lên sự xâm lược của đế quốc Mỹ,” ông Lê Thanh Hải, bí thư thành ùy thành phố Hồ Chí Minh nói.

“Đó là một trong những chương thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.”

Hơn 10.000 cựu chiến binh, binh lính và thiện nguyện viên đã tham gia cuộc diễn hành, cũng nhằm đánh dấu 78 năm ngày thành lập đảng Cộng sản Đông dương vào Chủ Nhật tuần tới khi đảng CSĐD được thành lập ngày 3 tháng Hai năm 1930.

Trên khán đài là Tổng Bí thư đảng Nông Đức Mạnh, và bà Nguyễn Thị Bình là người đã ký Hiệp ước Ngừng chiến ở Paris năm 1973 cho Mặt trận Giải phóng Miền Nam và sau đó bà trở thành phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.

Cuộc tấn công Tết năm 1968 bắt đầu với nhiều cuộc tấn công rời rạc vào ngày 30 tháng Một, nhưng được xem như là chính thức tấn công vào những giờ sáng sớm ngày 31 tháng Một, 40 năm về trước.

Khoảng 70.000 cán binh cộng sản đã tấn công những mục tiêu trong hơn 100 thành phố và tỉnh lỵ ở miền Nam, bao gồm tòa đại sứ Hoa Kỳ và dinh tổng thống.

Cuộc tấn công táo bạo này, vốn vi phạm hiệp ước ngưng bắn để đánh dấu ngày Tết truyền thống cổ truyền của Việt Nam đã làm cho quân lực Hoa Kỳ và miền Nam bị bất ngờ và trở tay không kịp.

Mặc dù khoảng hàng chục ngàn cán binh cộng sản bị chết trong cuộc tấn công này, và được xem như là một thất bại về phương diện quân sự, nhưng cuộc tấn công này đã là một chiến thắng về phương diện tâm lý làm phong trào chống chiến tranh ở Hoa Kỳ vững mạnh hơn.

“Cuộc tấn công Tết năm 1968 là một thảm họa nhìn từ nhiều mặt, các lực lượng cộng sản nằm vùng ở miền Nam bị lộ diện và bị tiêu diệt. Đã không có cuộc tổng nổi dậy xảy ra (như Hà Nội mong muốn và tuyên truyền.) Theo nhận xét của một chuyên gia về Việt Nam, ông Carl Thayer, của Viện Nghiên cứu Phòng thủ Úc-đại-lợi (Australia).

“Nhưng cuộc tấn công này đã mang đến những kết qủa không ngờ trước mà nó đã không nằm trong dự kiến của người cộng sản khi họ lên kế hoạch tấn công. Cụ thể, là Tổng thống Hoa Kỳ đã ra lệnh ngưng đánh bom miền Bắc, mở màn những cuộc đàm phán ở Paris và tuyên bố là ông sẽ không ra tranh cử nữa.”

Để đánh dấu kỷ niệm 40 năm này, các pa-nô tuyên truyền đã được dựng lên khắp tất cả những thành phố lớn của Việt Nam, phát động những buổi lễ chào mừng mà đã đạt đến cực điểm của tuyên truyền là cuộc diễn hành rực rỡ, tráng lệ được truyền đi khắp nước qua đài truyền hình nhà nước hôm qua thứ Sáu ngày 1 tháng Hai, 2008.

Gần 3.000 người bị chôn sống ở Huế trong cuộc “Tổng tiến công và Nổi dậy của nhân dân ta” ở Huế năm 1968. Ảnh chụp lại những xác người bị chôn sống được tìm thấy sau Mậu Thân. Nguồn: Onthenet

Đối với một Việt Nam cộng sản, là một nhà nước độc đảng, “Lễ lạc như thế này được sử dụng để chứng tỏ đảng đã luôn luôn đúng trong chiến lược và được triển khai tuyệt hảo về phương diện quân sự,” theo ông Thayer.

Tưởng cũng cần nhắc lại là nhà nước Việt Nam luôn dùng chữ “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” để ám chỉ cuộc tấn công vào dịp Tết này. Nhưng trong thực tế, dân chúng miền Nam rất thờ ơ trong cuộc tấn công năm 1968 này; thêm vào đó, sự giết người bừa bãi của cán binh cộng sản Bắc Việt khi rút ra khỏi thành phố trước sự phản công của quân đội miền Nam và quân đội Hoa Kỳ đã để lại một sự sợ hãi trong lòng họ và điều này đã tạo nên một tâm lý hoảng sợ, nghi ngờ về sau này khi cộng sản chiếm miền Nam bằng vũ lực năm 1975.

Theo những tài liệu được tiết lộ sau này, cuộc tấn công năm 1968 này được thực hiện bởi cán binh cộng sản nằm vùng ở miền Nam với sự trợ lực của quân cộng sản Bắc Việt chính quy, và cụm từ “nổi dậy của toàn dân” như nhà nước thường dùng chỉ thuần là một sự tuyên truyền.

Năm 1982, Thượng tướng Trần Văn Trà có viết một cuốn sách chỉ trích cuộc tấn công này, nhưng ngay lập tức, bị Hà Nội cấm xuất bản.

© DCVOnline


2008vctongtiencong68.jpg2008baovc_mauthan68.jpg

March 19, 2008

Hòa Thượng Thích Quảng Độ trả lời phỏng vấn RFA về những chia sẻ với Tây Tạng

2008.03.19

Ỷ Lan, phóng viên đài RFA

Trước tình hình biến động tại Tây Tạng, Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã gửi một bức thư đến Đức Đạt Lai Lạt Ma để bày tỏ sự ủng hộ cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng.

Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. RFA file photo.

Hòa thượng Quảng Độ đã dành cho ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt do Ỷ Lan ghi nhận sau đây:

Ỷ Lan: Kính chào Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ. Tình hình đàn áp chư tăng và nhân dân Tây Tạng đang tới hồi kịch liệt. Mới đây, qua bưc thư gửi Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhân danh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hoà Thượng đã lên tiếng tỏ tình liên đới với cuộc đấu tranh cho tự do dân tộc của nhân dân Tây Tạng, kính xin Hoà Thượng cho biết động cơ nào khiến Hoà Thượng lên tiếng như vậy?

Hoà Thượng Thích Quảng Độ: Thưa cô Ỷ Lan, người Việt Nam đã có câu nói là “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, tức là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng đã bị đàn áp suốt 30 năm qua ở Việt Nam mà những cái nỗi đau khổ, tủi nhục, bị đàn áp mà người Việt Nam tất cả Giáo Hội cảm thấy như thế nào, thì bây giờ đây nghe bên Tây Tạng chư tăng ni và Phật tử nói chung và dân tộc Tây Tạng đang phải trải qua cái vận nạn bị đàn áp thì chắc chắn cũng đau khổ, cũng tủi nhục như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vậy thôi.

Suốt 30 năm qua ở Việt Nam mà những cái nỗi đau khổ, tủi nhục, bị đàn áp mà người Việt Nam tất cả Giáo Hội cảm thấy như thế nào, thì bây giờ đây nghe bên Tây Tạng chư tăng ni và Phật tử nói chung và dân tộc Tây Tạng đang phải trải qua cái vận nạn bị đàn áp thì chắc chắn cũng đau khổ, cũng tủi nhục như vậy thôi.

Hòa thượng Thích Quảng Độ

Chính vì thế mà Giáo Hội lên tiếng, trước hết là chia sẻ cái nỗi thống khổ của chư tăng ni Phật tử Tây Tạng và đồng thời cũng mong làm sao cho dân tộc Tây Tạng và Phật Giáo Tây Tạng sớm thoát được cái nạn đàn áp và mất nước như hiện nay. Nếu cái nạn này càng thoát được sớm bao nhiêu thì chư tăng ni Phật tử và dân tộc Tây Tạng mới trút được gánh nặng, mới được hưởng sự yên vui hạnh phúc bấy nhiêu, mà càng sớm càng tốt.

Chính vì thế, vì sự đồng cảm như thế mà Giáo Hội lên tiếng để ủng hộ, trước mắt là ủng hộ cái đường lối, cái cuộc vận động, cái cuộc tranh đấu để thoát ách thống trị của chế độ đọc tài toàn trị Trung Quốc, và thứ hai là mong cho dân tộc Tây Tạng trong tương lai cũng được hưởng mọi sự yên vui hạnh phúc như tất cả các dân tộc văn minh tiến bộ trên thế giới.

Ỷ Lan: Bạch Hoà Thượng, trong bức thư nói trên Hoà Thượng có nhắc đến sự kiện lần đầu tiên chính quyền Bắc Kinh tổ chức Đại Hội Phật Giáo Thế Giới vào Tháng 4 Năm 2006, sau 57 năm cộng sản hoá Trung Quốc là một chủ nghĩa phi tôn giáo, Hoà Thượng hoài nghi xem như Trung Quốc lợi dụng Phật Giáo để tuyên truyền cho chế độ, tại sao không nghĩ rằng Trung Quốc cộng sản muốn tỏ tình thân thiện với Phật Giáo. Hoà Thượng nghĩ sao về ý kiến này?

Một chiếc xe bị đốt cháy trên đường phố thủ đô Lhasa, Tây Tạng hôm 14-3-2008. Photo: AFP
>> View a slideshow on protests in Tibet

Hoà Thượng Thích Quảng Độ: Về ý kiến phân chia bạn và thù đối với những người cộng sản nói chung, và với người cộng sản Trung Quốc nói riêng, họ rất rõ ràng, rất dứt khoát. Anh theo tôi là bạn, mà anh không theo tôi là thù. Tôn giáo là một trong những kẻ thù chính của cộng sản thế giới chứ không riêng gì Trung Quốc, đó là họ cho tôn giáo là thuốc phiện, trước sau gì cũng phải tiêu diệt. Hiển nhiên như vậy, không thể nào, không bao giờ mà tôn giáo là bạn của cộng sản được tức là thân thiện với cộng sản được.

Cộng sản không bao giờ thân thiện với tôn giáo. Họ có chính sách là lùi một bước rồi tiến ba bước. Bây giờ chưa tiêu diệt được thì họ tạm ngừng, hoặc là họ tạm thoả hiệp để chờ cơ hội lúc nào mà họ tiêu diệt được là họ tiêu diệt, chứ không bao giờ họ thân thiện thực sự đối với tôn giáo nói chung và với Phật Giáo nói riêng. Tất cả các tôn giáo trên thế giới họ coi như là kẻ thù, bởi vậy cho nên chưa tiêu diệt được thì họ tạm thoả hiệp để chờ một cơ hội nào đó đủ điều kiện thì họ sẽ tiêu diệt.

Trong 57 năm ở Trung Quốc họ đã nhằm tiêu diệt Phật Giáo ở Trung Quốc nhưng mà chưa được thế thôi, bởi vì nền Phật Giáo ở Á Đông, ở Đông Phương này nói chung, cái nền Phật Giáo Trung Quốc là lâu đời mà rất là thịnh trong thời quá khứ. Cái nền tảng Phật Giáo Trung Quốc cả hai nghìn năm rồi, nó như một cây cổ thụ vậy cho nên khó đào tận gốc lắm. Thế nên họ mới chỉ chặt qua được những cành, những lá trên thân cây mà thôi, chứ cái gốc của nó vẫn còn. Cho nên họ tưởng là mấy chục năm trước đây họ tiêu diệt được rồi, nhưng cuối cùng không tiêu diệt được.

Tôn giáo là một trong những kẻ thù chính của cộng sản thế giới chứ không riêng gì Trung Quốc, đó là họ cho tôn giáo là thuốc phiện, trước sau gì cũng phải tiêu diệt. Hiển nhiên như vậy, không thể nào, không bao giờ mà tôn giáo là bạn của cộng sản được tức là thân thiện với cộng sản được.

Hòa thượng Thích Quảng Độ

Bây giờ chưa tiêu diệt được thì họ lợi dụng. Cái gì mà chưa tiêu diệt đựoc thì họ lợi dụng đấy. Đến giai đoạn nào mà tôn giáo có lợi cho họ, ở thời điểm nào đó mà có lợi cho họ thì họ lại lợi dụng. Do đó cho nên bây giờ, sau 57 năm mà họ chưa tiêu diệt đựơc thì bây giờ họ cần lợi dụng tôn giáo để, trứơc hết là để đánh lừa các cường quốc Tây Phương – các cường quốc kinh tế đó. Các tổ chức nhân quyền Tây Phương bây giờ họ quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc nói chung, và ở Việt Nam nữa, nên thỉnh thoảng họ có nhắc đến vấn đề yêu cầu phải tôn trọng nhân quyền.

Do đó người Trung Quốc lúc này thấy phải lợi dụng Phật Giáo để mà làm sao thu hút được những cường quốc kinh tế Tây Phương vào làm ăn, phát triển kinh tế. Rồi khi nào họ đủ mạnh được rồi và không cần nữa thì bấy giờ họ sẽ tiêu diệt sau. Đó là đường đi nước bước của chế độ cộng sản ở trên thế giới chứ không phải là họ có thiện chí muốn làm bạn với các tôn giáo đâu.

Tôn giáo là một trong những kẻ thù của họ, trong đó có “trí phú địa hào” mà họ chủ trương “đào tận gốc trốc tận rễ”. Đấy là chủ trương của cộng sản, mà ở Việt Nam cũng vậy. Do đó cho nên bây giờ đừng có thấy họ đề cao tôn giáo, họp bàn về tôn giáo mà tưởng là họ trở về với tôn giáo, họ tôn trọng tôn giáo, không có chuyện đó đâu.

Ỷ Lan: Kính xin Hoà Thượng cho thính giả được biết ý kiến về một hiện tượng tương tự là sắp tới đây vào tháng 5 năm nay nhà cầm quyền Việt Nam sẽ tổ chức Đại Lễ Phật Đản Tam Hợp Quốc Tế tại Hà Nội. Phải chăng nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu thay đổi chính sách đối với Phật Giáo, từ đàn áp chuyển qua thân thiện không.

Hòa thượng Thích Quảng Độ trong một cuộc gặp gỡ với Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ Ed Royce đầu năm 2008. Photo courtesy of IBIB.

Hoà Thượng Thích Quảng Độ: Thì cũng tương tự như câu tôi vừa trả lời đó, chị. Họ cũng lợi dụng thôi. Ở Việt Nam, từ năm 1954 họ chiếm được Miền Bắc, mấy năm đầu đi song song với cuộc cải cách ruộng đất, rồi đàn áp văn nghệ sĩ, rồi trong cái chưong trình “xét lại chống đảng”, trong thời gian đó họ cũng ra sức tiêu diệt Phật Giáo.

Bằng chứng là họ phá tất cả các ngôi chùa cổ như chùa Quỳnh Lâm, chùa Hương, Yên Tử thì họ không trực tiếp phá nhưng mà họ nhờ máy bay Pháp phá, tức là họ đưa qưân đội đến đóng ở đó, cong an đến đóng ở đó treo cờ đỏ sao vàng, rồi máy bay thám thính Pháp đến thấy có quân đội cộng sản ở đó là họ bỏ bom chỗ đó. Thành ra họ nhờ tay Pháp phá để họ lợi dụng mà lên án Pháp phá chùa. Người dân Miền Bắc lúc đó thấy Pháp phá chùa, đụng đến Phật nên họ căm thù Pháp ghê lắm. Họ kích động căm thù đến cực độ để ra sức đánh Pháp.

Thế đó là một cái lợi, cái lợi thứ hai trước khi hoà bình lập lại thì họ không phải phá ngôi chùa đó nữa. Tức là những ngôi chùa danh tiếng lịch sử mà nếu họ trực tiếp phá thì họ mang tiếng rất nhiều, do đó họ muợn tay Pháp phá đến khi hoà bình lập lại thì họ không mang tiếng.

Điển hình như ngôi chùa Một Cột ở Hà Nội, không to lớn gì nhưng mà rất có danh tiếng là ngôi chùa lịch sử làm từ đời vua Lý Thánh Tông, cho nên người ta quý trọng ngôi chùa đó. Rồi họ tìm cách phá, nhưng phá không đựoc. Rồi họ mới mượn người Pháp. Trước khi người Pháp rút thì họ lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng mà họ bỏ mìn phá ngôi chùa đó, họ đổ cho là trước khi rút Pháp phá ngôi Chùa Một Cột.

Như vậy đó là chính sách của họ mà thôi. Chẳng hạn như trước mắt đây này, trường hợp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suốt 30 năm nay mà họ cứ đàn áp liên tục cho đến bây giờ, không nới tay, không giảm bớt. Một mắt đàn áp như thế nhưng một mặt họ tổ chức Phật Đản. Có nước cộng sản nào đi tổ chức Phật Đản đâu. Họ trắng trợn như thế, ai cũng biết họ lợi dụng một cách trắng trợn nhưng họ cứ làm vì có lợi cho họ.

Thực sự một mặt họ làm lễ Phật Đản một mặt khác họ vẫn đàn áp, nhưng mà theo họ thì họ không đàn áp. Theo họ là bạn, hay tạm gọi là thân thiện. Không theo họ là thù. Bây giờ cái Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do họ lập ra làm cái công cụ phục vụ cho quyền lợi của cộng sản, thì bây giờ họ lợi dụng một cách tối đa để đánh bóng họ nhân dịp kỳ Phật Đản này, để tô son trát phấn cho cái giáo hội nhà nước đó, chứ họ không thân thiện gì mà họ làm như thế cũng vì quyền lợi của họ.

Bạn nghĩ gì về những biến động ở Tây Tạng? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: vietweb@rfa.org

Cũng vì còn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nên họ còn để giáo hội nhà nước chứ nếu bây giờ mà cộng sản mà họ chiếm toàn quyền và dẹp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nữa, tiến đến giai đoạn chủ nghĩa xã hội thực sự thì họ cũng dẹp luôn cái giáo hội Phật Giáo nhà nước. Cho nên tất cả đối với cộng sản là giai đoạn hết, giai đoạn này thì họ phải thế này, giai đoạn khác họ phải thế khác, chứ đừng có tin rằng họ đưa ra vài cử chỉ mềm dẻo mà nghĩ là họ thân thiện với mình đâu, họ tha cho mình đâu. Không có chuyện đó đâu.

Ỷ Lan: Xin cảm ơn Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ.

(Ỷ Lan, phóng viên Đài Á Châu Tự Do tại Paris.)

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.