Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 5, 2008

Chính sách lương thực vì quyền lợi của ai?

Sông Lô

Hiện tượng tăng giá lương thực thực phẩm hiện nay ở Việt Nam, nhất là gạo, chẳng những chỉ riêng các bà nội trợ mà ngay cả các đấng ông chồng cũng bắt đầu để con mắt đến, xắn tay áo mà nhập cuộc, vì nó tăng với tốc độ hoa cả mắt.

Sự thật là vậy, người tiêu thụ nói chung, chỉ sau một đêm, bừng con mắt dậy đã thấy giá cả chênh lệch một cách đáng sợ. Có thể đêm hôm trước giá gạo là 4000/kg nhưng đến sáng hôm sau nó đã vượt rào nhảy lên đến 5000/kg. Biến động giá cả này đã làm đảo lộn và gây hệ lụy nhiều mặt trong sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng. Lẽ dĩ nhiên, chỉ riêng những kẻ kinh doanh đầu cơ tích trử ở “mặt hàng“ này mới thật sự là người cầm trịch đứng ngoài hưởng lợi nhiều nhất.

Sự kiện trên chỉ xảy ra sau khi nhà cầm quyền Cộng sản (CS) Việt Nam (VN) chỉ đạo dừng ký hợp đồng xuất khẩu gạo cho đến hết tháng sáu. Theo thông báo chính thức, mục đích của việc ngưng xuất khẩu gạo của nhà cầm quyền này là nhằm góp phần đảm bảo an ninh lương thực của VN.

 

Chính phủ “của dân, do dân và vì dân“ nào cũng vậy, chính sách quan tâm đến mặt an ninh lương thực thực phẩm cho toàn dân của nhà cầm quyền là một chính sách đúng đắn và cần được sự hỗ trợ của toàn dân. Nhà cầm quyền CS Việt Nam chỉ đạo dừng ký hợp đồng xuất khẩu gạo cho đến hết tháng sáu có thật sự là nhằm đảm bảo an ninh lương thực của VN hay không? Trước mắt cũng như tới đây Việt Nam có thật sự thiếu lúa gạo hay không?

Thật ra thị trường lúa gạo ở VN xét trên góc độ cung và cầu thì hoàn toàn không có chuyện thiếu hụt khi mà sản lượng thu hoạch vụ lúa vừa qua của đồng bằng sông Cửu Long chẳng những đã không giảm sút mà còn bội thu nữa là khác.

Hiện nay đồng bằng sông Cửu Long thu họach xong rất trúng mùa, được mùa hơn từ trước tới nay. Vụ Đông Xuân thu hoạch hơn 9 triệu tấn lúa, rõ ràng gạo không hề thiếu“, Tiến Sĩ Lê Văn Bảnh Viện Trưởng Viện Lúa vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã cho biết như vậy.

Qua các thông tin báo chí trong nước những nghi vấn về quyết định bất ngờ ngưng ký hợp đồng xuất khẩu gạo của thủ tướng chính phủ đang dần có câu giải đáp:

Để bù lỗ khoảng 1 triệu đô la cho những lô hàng mà những công ty quốc doanh đã ký xuất khẩu sang Phi Luật Tân với giá bán cuối năm 2007 và đầu năm 2008. Đi vào chi tiết của việc ký hợp đồng mua bán này báo chí trong nước đã đưa ra bằng chứng cụ thể là vì tới khi giao hàng những nhà doanh nghiệp phải mua lúa với giá cao hơn. Thí dụ khi ký hợp đồng giá lúa trong nước 2.800đ/kg khi mua để giao hàng giá lúa đã lên 3.500đ/kg sau đó lên 4.000 đ/kg. Hiện nay giá lúa ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 5.000đ/kg, lúa tốt giá còn cao hơn mà những nhà doanh nghiệp này là ai? Nông dân hay nhóm quyền lợi? Ngoài ra hạn chế xuất khẩu gạo còn có thể giúp một phần nào trong việc kềm vật giá leo thang, chống lạm phát mà nhóm cầm quyền của nhà nước Cộng Hòa XHCNVN này như đang ngồi trên đống lửa.

Ngày 22/4 Vietnam Net đưa lên mạng bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân. Ông Võ Tòng Xuân là chuyên gia nghiên cứu lúa gạo nổi tiếng Đông Nam Á, ông gắn bó với Đồng Bằng Sông Cửu Long từ trước 1975. Theo bài phỏng vấn được đưa lên mạng, giáo sư Võ Tòng Xuân nhận định rằng sẽ thiệt thòi nếu không xuất khẩu gạo lúc này. Theo lời ông, khi các nước vào vụ thu họach mới, giá có thể không còn ở mức như hiện nay và Việt Nam nên ký hợp đồng xuất khẩu nếu được giá.

Tại sao không tranh thủ xuất khẩu gạo để thu lợi, nhất là khi gạo phẩm cấp trung bình từ 300 đô la/tấn hồi đầu năm nay đã lên 700 đô la mấy ngày gần đây?

Theo Vietnam Net, tại cuộc đấu thầu ở Manila ngày 17/4/2008, 4 doanh nghiệp thuộc Tổng Công Ty Lương Thực Miền Nam đã chào bán 102 ngàn tấn gạo 25% giá trung bình từ 1.190 đô la tới 1.220 đô la/ tấn, bán theo điều kiện bao gồm giá gạo và cước tàu biển giao hàng tại cảng bên Philippines. Số gạo này sẽ giao hàng trong thời gian từ tháng 5 tới tháng 6 sắp tới. Như vậy là doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục chào bán để ký các hợp đồng chính phủ.

Tuy nhiên những thông tin về khủng hoảng lương thực trên toàn thế giới được các cơ quan truyền thông trong nước liên tục đề cập đến trong thời gian qua đã khiến cho người tiêu thụ VN tin rằng thế giới đang và sẽ rơi vào trình trạng thiếu gạo trầm trọng và lẽ dĩ nhiên tin đồn này lập tức lan truyền theo tốc độ của vòng quay trái đất.

Để rồi các bà nội trợ biến nỗi lo sợ thiếu gạo trong nhà của mình thành hành động cụ thể là đổ xô nhau „tích cốc phòng cơ“ khiến con buôn thừa nước đục thả câu.

Về vấn đề ai được hưởng lợi do giá gạo tăng cao, TS Lê Văn Bảnh Viện Trưởng Viện Lúa vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nhận định:

Giá vật tư xăng dầu, phân bón các khoản khác đều tăng. Nông dân nói là nước lên thuyền lên, lúc trước bán lúa 3 ngàn/kg thì chi phí khoảng 1.800đ/kg, bây giờ bán lúa 5 ngàn thì chi phí khoảng 2.200 tới 2.500đ/kg thí dụ vậy. Ứơc tính chi phí khoảng phân nửa. Bây giờ bán lúa cao hơn nhưng chi phí đầu vào cũng cao hơn. Giá gạo xuất khẩu 500 đô, 700 đô 1 tấn thì chỉ doanh nghiệp được lợi, người khác được lợi nhiều chứ người nông dân được lợi chẳng có là bao.

Trả lời câu hỏi hầu hết lượng gạo nằm trong tay thương lái, trong tay các doanh nghiệp, các nhà máy xay xát và những người buôn bán, việc giá gạo khắp nơi trong nước nhất là ở thành phố tăng gần gấp đôi, thế thì những người đó được lợi chứ không phải người nông dân được lợi? Tiến sĩ Lê Văn Bảnh nói:

Vâng, đúng vậy. Ở VN hiện nay có Hiệp Hội Lương Thực. Hiệp hội này là của các doanh nghiệp mà người ta hay nói là liên kết bốn nhà, nhưng ông doanh nghiệp và nông dân lại liên kết không chặt chẽ lắm, thành ra nông dân làm xong là bán, còn doanh nghiệp thì lưu giữ lúa gạo.

Vừa qua có cơn sốt là do sốt ảo, do đầu cơ. Bởi vì hiện nay đồng bằng sông Cửu Long thu họach xong rất trúng mùa, được mùa hơn từ trứơc tới nay. Vụ Đông Xuân thu hoạch hơn 9 triệu tấn lúa, rõ ràng gạo không hề thiếu.

Có vấn đề là từ trứơc tới nay có sự cân đối giữa gạo xuất khẩu và gạo nội địa. Thí dụ khi xuất khẩu giá 300 đô la/tấn, thì giá gạo nội địa bao giờ cũng cao hơn giá xuất khẩu, giá gạo khỏang 8 tới 9 ngàn đồng/kg. Nghĩa là nội địa khỏang nửa đô la một Kg, một đô la mua được 2 kg gạo. Còn xuất khẩu thì phải 3 kg gạo mới được 1 đô la.

Mấy ngày qua thông tin thị trường gạo thế giới lên tới 1.000 đô la/tấn nên thương nhân chuẩn bị gom gạo đầu cơ để bán. Vì vậy tạo nên cơn sốt. Bởi vì 1.000 đô la tính tương đương giá đô la = 16 ngàn đồng thì có chênh lệch vì trứơc nay giá gạo nội địa cao hơn giá xuất khẩu. Chuyện này do tư thương, doanh nghiệp đầu cơ làm giá, chứ thực tế vùng Đồng Bằng sông Cửu Long không thiếu gạo.

Cũng theo Tiến sĩ Lê Văn Bảnh là sau khi có lệnh ngưng xuất khẩu của chính phủ, giá gạo chựng lại còn từ 4.000 đến 4.500 đồng /kg để rồi sau đó chính phủ đã tìm cách giúp cho nông dân có nguồn vốn chuẩn bị vụ Hè Thu, cũng như ký được hợp đồng với một số nơi thì giá lúa đã nhích lên như hiện nay là 5.000 đồng/kg. Sự kiện như Tiến sĩ Lê Văn Bảnh đã nêu có đúng với thực tế hay không lại là việc khác

Riêng tâm sự sau đây của một nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cho ta thấy được thực tế là như thế nào.

“Ông Nguyễn Tấn Dũng ngưng cho tới tháng 6 mới cho xuất khẩu, ngày trước mỗi ngày 50, 60 chiếc ghe vô mua bây giờ thì vắng hoe luôn, lâu lâu mới có một chiếc ghé vô mua. Tất cả vật giá đều lên làm cho người nông dân chúng tôi thiệt thòi. Nghe nói giá lúa lên sự thật phân bón lên cái gì cũng lên, tiền đóng học phí cho con cũng lên, thành thử vẫn như hồi xưa, tôi cũng đâu có được hưởng lợi gì đâu, thấy cũng vậy à.”

Như thế so sánh với giá xuất khẩu 700 đô la /tấn thì giá lúa thu mua có tương ứng không, hay là vì chính phủ có biện pháp kềm giá làm nông dân không được hưởng lợi.

Thông tin mới nhất cho biết là Hiệp Hội Lương Thực VN đã giải quyết xong tình trạng sốt gạo giả tạo hiện tại. Tuy vậy nhiều chuyên gia thị trường cho rằng, việc điều hành lúa gạo của VN đang có vấn đề.

Cơn sốt gạo mấy ngày qua được đạo diễn bởi ai? Và ai là người được hưởng lợi nhiều nhất. Điểm đáng chú ý là Tổng Công Ty Lương Thực Miền Nam của chính phủ là cơ quan chi phối phần lớn thị trường lúa gạo ở các tỉnh phía Nam.

Người ta nghi ngờ rằng việc tạm ngừng ký hợp đồng xuất khẩu của thủ tướng chính phủ làm giá lúa trong nước hạ nhiệt, giúp nhóm quyền lợi giảm lỗ.

Có một điều cần nêu rõ là chính quyền Việt Nam ra lệnh ngừng xuất khẩu gạo, nhưng 4 doanh nghiệp Nhà nước vẫn được phép dự thầu ở Manila vào hôm 17/4, chào bán khoảng một trăm ngàn tấn gạo 25% tấm cho Phi Luật Tân với giá trung bình 1.200 đô la một tấn theo điều kiện CIF, tức bao gồm giá gạo và cước vận chuyển tàu biển giao hàng tại cảng người mua.

Câu hỏi nhà cầm quyền của giai cấp nông dân này đang phục vụ cho ai? Quyền lợi của một nhóm hay quyền lợi của nông dân nói riêng và quyền lợi của người dân nói chung? Cho đến nay cái chắc người dân ai mà không trả lời được.

© DCVOnline
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4991
————–
Ý kiến:
vì quyền lợi của ai?
- vì quyền lợi của nhóm quyền lực !
- Nông dân và người dân thiệt thòi trước tiên !
Một vài tính toán của nhóm quyền lực :
- vâng lệnh quan thầy TC !
- gạo lúa, đất đai của nông dân VN đã và sẽ bị TC thao túng, áp lực qua csvn;
- tước rước đuốc Olympics tại Saigon, thân cận quan chức cs (NTD, …) thu mua gạo ở nông dân miền tây; VN ngưng xuất cảng gạo để kềm giá (nông dân không hưởng lợi khi gia lương thực tăng); bù lỗ cho doanh nghiệp nhà nước (đã ký bán gạo trước đó);
- vào thời điểm trước trước ngày rước đuốc Olympics ô nhục tại Saigon 2, 3 ngày, tung tin khan hiếm gạo; giá gạo tăng để chỉa mủi dùi dư luận vào lương thực (bao tử), dân khỏi tập trung vào việc biểu tình chống rước đuốc.
- 1 ngày trước và ngay ngày rước đuốc, gạo được nhà nước bán ra, với giá đầu cơ khá cao;
- sau ngày rước đuốc, gạo được nhà nước bán ra, với “giá thấp hơn” (giá đầu cơ) nhưng vẫn hơn giá bình thường trước đó !!
Trước sau gì, quan chức quyền lực chính trị, bí thư tỉnh, …  cũng thu lợi :  mua rẻ bán đắt; khi hạ giá cũng còn lời, lại được tiếng là “hạ giá” không khan hiếm gạo;  dân không chú tâm vào việc csvn khuất phục TC qua việc để TC thao túng tại Saigon ngày rước đuốc : VN đã mất độc lập, mất chủ quyền, không tự do !!
Bạn khác có thể kiểm tra, góp ý, thông báo.

April 18, 2008

Nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đang âm mưu biến đại lễ Vesak LHQ thành „một APEC„ thứ 2 !

 

Trích Tạp chí Dân chủ & Phát triển số 35, tháng 1.2008

 

·        Các ý đồ biến Đại lễ Phật đản LHQ 2008 thành nơi ca tụng chính sách „tự do tôn giáo“ cho chế độ độc tài toàn trị

·        Âm mưu thâm độc trong việc dùng Phật giáo đánh Phật giáo

·        Cảnh báo về nguy cơ „một  Apec“ thứ 2 đối với các tôn giáo và những người dân chủ!

 ÂU DƯƠNG THỆ

Cuối tháng 11 vừa qua Ban ban Tôn giáo Chính phủ, một cơ quan của chính phủ có nhiệm vụ thi hành các chỉ thị của Bộ chính trị (BCT) Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) trong việc kiểm soát tôn giáo, đã mở một Hội nghị quan trọng ở Hà nội trong ngày 28.11 để chuẩn bị tổ chức đại lễ Phật đản  tại Việt Nam vào giữa tháng 5.2008  dưới chiêu bài của Liên hiệp quốc (LHQ). Sau khi hội nghị này vừa kết thúc thì ngày 29.11 tờ Cộng sản điện tử, cơ quan ngôn luận của ĐCS, đã đưa một bài bình luận quan trọng với tựa đề „Một minh chứng cho chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam“. Không chỉ cái tựa đề đã nói lên thâm ý của họ, bài bình luận lại còn nêu rất rõ các mục tiêu chính của chế độ độc tài toàn trị muốn nhắm tới trong đại lễ này:

 „Việc đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak Liên hiệp quốc 2008 tại Việt Nam thể hiện đường lối đối ngoại rộng mở, chính sách tôn giáo đúng đắn của Nhà nước Việt Nam, đề cao vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, góp phần đấu tranh có hiệu quả với các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam lợi dụng vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam. „[1]

          Qua đó mọi người thấy rõ, mượn danh nghĩa của LHQ để tổ chức Đại lễ Phật đản Vesak 2008, nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đã vạch ra ba mục tiêu rất rõ ràng: 1. Trương ngọn cờ “tự do tôn giáo” để khoa trương bộ mặt của chế độ trước dư luận quốc tế là tại VN đang có tự do tín ngưỡng! 2. Đề cao tính chính thống và duy nhất của tổ chức Giáo hội Phật giáo VN (GHPGVN), một tổ chức do chế độ dựng lên từ đầu thập niên 80 của thế kỉ trước hoạt động tôn giáo theo tiêu chí „Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa Xã hội“[2], vì thế vẫn thường bị dư luận gọi là Giáo hội quốc doanh. 3. Dùng Phật giáo đánh Phật giáo, dùng một số tu sĩ, cư sĩ và nhân sĩ Phật giáo đã chạy theo chế độ để đánh phá, chia rẽ và đàn áp Phật giáo.

          Trong cuộc họp báo chiều 28.11 để thông báo về kết quả của Hội nghị nói trên, Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo của chế độ, cũng đã nhấn mạnh hai mục tiêu đầu và đã được tờ Nhân dân, cơ quan ngôn luận của ĐCS, đăng tải:

          „Ông Nguyễn Thế Doanh cho biết: Việc Việt Nam đăng cai  tổ chức Ðại lễ  Phật đản VESAK năm 2008, thể hiện đường lối đối ngoại rộng mở, chính sách tôn giáo đúng đắn của Nhà nước Việt Nam, đề cao vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.“ [3]

           Còn mục tiêu thứ ba đã được người thực hiện chính sách đàn áp tôn giáo của ĐCS dùng các mĩ từ bọc đường „bảo đảm“ và „hữu nghị“ nhưng đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của „Ban Điều phối Quốc gia“ vừa được dựng lên trong hội nghị này để thực hiện các chỉ thị của BCT cho đại lễ này:

           „Các cơ quan chức năng của Việt Nam phối hợp T.Ư GHPGVN  và IOC, đã và đang chuẩn bị mọi mặt để bảo đảm cho Ðại lễ Phật đản được diễn ra một cách trang trọng, hữu nghị. Chính phủ đã thành lập Ban điều phối Quốc gia Ðại lễ Phật đản  năm 2008, nhằm làm cho Ðại lễ  được thành công tốt đẹp.“ [4]

           Câu cuối của Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ và Trưởng ban Điều phối Quốc gia Đại lễ Phật đản „nhằm làm cho Ðại lễ  được thành công tốt đẹp“ ở đây phải hiểu là, thành công tốt đẹp cho chế độ độc tài toàn trị! Vì thế không lấy làm lạ là, trong các bản tin của nhiều báo ở trong nước tên GS Lê Mạnh Thát (tức nguyên TT Trí Siêu), Chủ tịch Ủy ban Tổ chức quốc tế  đại lễ Vesak (IOC), đã hoàn toàn không được nhắc tới mặc dầu ông có mặt trong cuộc họp báo. Trong khi đó HT Thích Thanh Tứ, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự GHPGVN, bên cạnh Nguyễn Thế Doanh đã là cái đinh trong cuộc họp báo này.[5]

Nắm thời cơ:  Đứng cai đại lễ Phật đản LHQ để biến thành lễ rửa mặt cho chế độ

           Sau một số vận động ngoại giao khá thành công trong các năm qua, như Hội nghị cấp cao ASEAN 1998, Hội nghị Cấp cao Á-Âu (ASEM) 2005 và cao điểm nhất là Hội nghị cấp cao Diễn đàn Kinh tế Thái bình dương (APEC) vào cuối 2006 với sự tham dự của nguyên thủ của trên 20 nước, trong đó có Chủ tịch Trung quốc Hồ Cẩm Đào, TT Nga W. Putin và nhất là TT Mĩ G. Bush. Do những hứa hẹn của nhóm cầm đầu CSVN nên trước khi sang Hà nội tham dự APEC  TT Bush đã đồng ý để VN vào WTO, bỏ VN ra khỏi danh sách các nước quan tâm đặc biệt vì đàn áp tôn giáo…Cho nên trước và suốt trong thời gian Hội nghị Cấp cao APEC chế độ CS đã được chính phủ Mĩ nương nhẹ và không kết án các vi phạm nhân quyền. 

          Tuy nhiên các hội nghị thượng đỉnh trên đã được tổ chức ở Hà nội mới chỉ có tính cách khu vực, chưa phải là hội nghị quốc tế rộng rãi với sự tham dự của nhiều nước từ nhiều khu  vực trên thế giới để chế độ CSVN có thể trưng bày thành tích đối với nhân dân VN cũng như dư luận quốc tế. Các thủ lãnh độc tài bảo thủ của ĐCS thấy rằng, bây giờ họ có thể  mở rộng vận động ngoại giao sang cả lãnh vực tôn giáo.  Họ đã chiếu cố tới LHQ, một tổ chức mà họ biết là trong năm 2008 họ sẽ trở thành một hội viên không thường trực trong Hội đồng Bảo an.

Vì thế ngày 17.5.07 Bộ Ngoại giao VN đã gởi công hàm cho chính phủ Thái và Ban tổ chức đại lễ Phật đản 2007 xin đứng cai đại lễ này ở VN vào năm 2008.[6] Ngày 23.5.07 trong tư cách là Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng đã công khai xác nhận đứng cai đại lễ Phật đản ở VN trong năm 2008[7]. Ngày 29.5.2007 tại phiên bế mạc của Đại lễ Phật đản LHQ 2007 tại Thái lan, đại diện sứ quán Việt Nam tại đây, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và thành viên của Ủy ban Tổ chức quốc tế tại Việt Nam tiếp nhận chuyển giao quyền tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ năm 2008. [8]

          Được biết, năm 1999 theo đề nghị của nhiều quốc gia hội viên nên LHQ đã đồng ý từ năm 2000 tổ chức đại lễ Phật đản LHQ, thường được gọi là đại lễ Vesak. Đây là một lễ văn hóa và tôn giáo của Phật giáo để tưởng niệm ngày sinh nhật Phật Thích Ca, ngày thành đạo cũng như ngày ngài nhập niết bàn. Vì thế còn gọi là lễ Tam hợp. Đại lễ Vesak đầu tiên được tổ chức ở ngay trụ sở của LHQ tại New York vào năm 2001. Từ đó tới nay Ấn độ và nhất là Thái lan nước có đông Phật tử đã đứng ra tổ chức các đại lễ Vesak trong các năm qua.[9]

          Như vậy sau thủ tục làm đăng cai, nhóm cầm đầu chế độ đã tiến hành các bước cần thiết để tổ chức đại lễ này từ một lễ Phật giáo của LHQ trở thành một lễ rửa mặt cho chế độ độc tài toàn trị về tự do tín ngưỡng.

Từ nắm độc quyền nhân sự và tổ chức

          Để chuẩn bị cho đại lễ Vesak 2008 trong tháng 11.07 đã có hai hội nghị quan trọng được tổ chức ở VN. Hội nghị của Ủy ban Tổ chức Quốc tế (IOC) họp trong hai ngày 8-9.11 ở Sài gòn dưới sự chủ tọa của Chủ tịch ban này là GS Lê Mạnh Thát.[10] Gần ba tuần sau một hội nghị quan trọng hơn đã được tổ chức ở Hà nội trong ngày 28.11 để thành lập „Ban Điều phối Quốc gia tổ chức đại lễ Vesak LHQ 2008“.  Đáng chú ý về thành phần nhân sự của Ban mới được thành lập: Đứng đầu Ban này cũng là Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Nguyễn Thế Doanh. Ba Phó Trưởng ban là một số nhà sư trong Hội đồng Trị sự của GHPGVN: các HT Thích Thanh Tứ, Thích Hiển Pháp và Thích Trí Quảng.  Điều đáng đề ý nữa là, trong bài bình luận của tờ CS đã viết về cách tổ chức của Ban này như sau:

           „Chính phủ lập Ban Điều phối Quốc gia tổ chức Đại lễ Vesak Liên hiệp quốc năm 2008 gồm đại diện của hàng giáo phẩm cao cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, của lãnh đạo Uỷ ban Tổ chức Quốc tế (IOC) và của một số cơ quan chức năng của Nhà nước để chủ trì việc điều hoà và phối hợp công việc thực hiện giữa các cơ quan Nhà nước với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Uỷ ban Tổ chức Quốc tế (IOC) để vừa thể hiện trách nhiệm hỗ trợ cao của Nhà nước, vừa nâng cao vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, vừa tôn trọng và hợp tác với Uỷ ban Tổ chức Quốc tế (IOC).“ [11]

           Với cách xếp đặt có dụng ý như thế người ta thấy rõ các đặc tính của Ban này: 1. Đây là một cơ quan của chính phủ phụ trách việc tổ chức đại lễ Vesak 2008. Trong thực tế Ban này đứng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của nhóm lãnh đạo ĐCS. Ban này phải thực thi các quyết định của Bộ chính trị về nội dung, chương trình, khách mời… của đại lễ Vesak 2008. Cho nên người đứng đầu của Ban này cũng chính là Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ.  2. Các thành viên của GHPGVN và của Ủy ban Tổ chức Quốc tế (IOC) chỉ giữ vai trò làm cây kiểng và thừa hành. Tuy nhiên họ vẫn được long trọng hóa làm như họ sẽ đóng vai quan trọng trong Ban này. Chính vì thế khi đọc đoạn trên trong bài bình luận của báo CS, người ta thấy nhóm độc tài bảo thủ đã lập lại cách nói vá lí luận như cách họ thường lập lại mỗi khi nói tới Mặt trận Tổ quốc hiện nay, hay Mặt trận Giải phóng miền Nam trước đây, là các tổ chức do ĐCS dựng lên.

Tới độc quyền về nội dung và chương trình

           Như vậy chứng cớ đã rõ ràng là, về mặt tổ chức và nhân sự thì ĐCS, cụ thể là nhóm cầm đầu độc tài bảo thủ hiện nay, đã nắm hoàn toàn độc quyền và nắm đằng chuôi việc tiến hành đại lễ Vesak 2008. Theo tư duy và quán tính độc tài họ biết rằng, chỉ có như vậy thì mới bảo đảm là các nội dung và chương trình của đại lễ này theo đúng ý muốn của họ. Từ nắm độc quyền trong tổ chức và nhân sự đến độc quyền về nội dung, chương trình và khách mời là một bước tiếp theo tất yếu.

           Vì thế, trong cuộc họp báo trình bầy về kết quả của Hội nghị của IOC ngày 10.11 GS Lê Mạnh Thát đã cho biết, Chủ đề của Đại lễ này là “Sự đóng góp của Phật giáo trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Ông Thát còn nhấn mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sẽ đọc diễn văn khai mạc đại lễ và TT Nguyễn Tấn Dũng đọc diễn văn bế mạc! Chu đáo thêm nữa là, chế độ đã dành cả khu „Trung tâm Hội nghị Quốc gia“ ở Hà nội để tổ chức đại lễ Vesak 2008.[12] Cũng chính nơi đây vào cuối tháng 11.2006 Hội nghị Cấp cao APEC đã diễn ra và khi kết thúc các thủ lãnh các quốc gia được nước chủ nhà cho mặc  áo dài khăn đống! Dành Trung tâm Hội nghị quốc gia để tổ chức đại lễ Phật đản LHQ nhóm cầm đầu chế độ toàn trị muốn mua lòng các tu sĩ và các cư sĩ Phật giáo theo phe của chế độ. Những người này cảm thấy hả dạ vì đã được trọng vọng, một tâm lí tự ti vẫn được theo đuổi trong tâm tư của nhiều người này.

           Nhóm cầm đầu độc tài còn tinh ranh hơn nữa khi chọn thời điểm tổ chức đại lễ Vesak của LHQ đúng vào dịp lễ sinh nhật của người sáng lập chế độ! Đại lễ Vesak sẽ được tổ chức từ 13-17.5. 2008 (một số bản tin khác đưa ra từ 13-18 .5. 2008).[13] Đại lễ vừa kết thúc thì cũng là dịp các phái đoàn và khách VN và quốc tế dự lễ sinh nhật của HCM một cách tự nhiên hay bắt buộc!

            Trước các chứng cớ rõ ràng về việc độc quyền trong tổ chức và nhân sự tại đại lễ tôn giáo trên, dư luận trong và ngoài nước còn đang rất lo ngại và thắc mắc về các bằng chứng khác vạch rõ sự độc quyền của chế độ cả trong chủ đề, chương trình và thời điểm của đại lễ Vesak 2008.

1.Tại sao hai buổi lễ quan trọng nhất của một đại lễ tôn giáo là lễ khai mạc và bế mạc lại để cho hai Ủy biên BCT  Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đọc diễn văn? Đây là hai nhân vật chính trong nhóm lãnh đạo độc tài toàn trị hiện nay, một chế độ đã chọn và trung thành với ý thức hệ Marx-Lenin, một chủ nghĩa phủ nhận các giá trị của tôn giáo trong xã hội, từng coi tôn giáo là thuốc phiện cho nên đã đưa ra các chủ trương đàn áp, chia rẽ để tiêu giệt tôn giáo. Dành cho hai ủy viên BCT chủ trì hai buổi lễ quan trọng nhất của đại lễ, cách làm trắng trợn như thế có khác gì biến đại lễ  Phật đản LHQ thành như Đại hội ĐCSVN từ trước tới nay. Vì trong các Đại hội đảng thì một vài người có địa vị quan trọng nhất đọc diễn văn khai mạc và bế mạc!  Nếu họ thực sự tin và tôn trọng GHPGVN và IOC thì tại sao lại không để HT Thích Thanh Tứ và Lê Mạnh Thát đọc diễn văn khai mạc và bế mạc cho đúng với tính cách của đại lễ tôn giáo VN và quốc tế?

          Có lẽ chưa có một đại lễ tôn giáo nào trên thế giới lại để tổ chức rất  kì quặc và quái đản như thế. Ở Đức chẳng hạn, hai tôn giáo lớn là Công giáo và Tin lành cứ luân phiên tổ chức hai năm một lần đại lễ tôn giáo của họ. Trong các dịp này hàng triệu tín đồ các nơi ở Đức và các nước lân bang  đổ về tham dự. Tổng thống Đức, Thủ tướng hay các chính khách khác có thể được mời tới, nhưng họ chỉ là khách. Trong những dịp này nhiều nhân vật quốc tế trong tôn giáo hay trong các lãnh vực khoa học, xã hội cũng được mời. Gần đây cả đức Đạt Lai Lạt Ma cũng được mời. Tất cả khách mời có thể phát biểu, nhưng không được quyền nói trong hai lễ khai mạc và bế mạc. Chủ nhân các buổi lễ chính vẫn là hàng giáo phẩm của hai tôn giáo đứng ra tổ chức các đại lễ tôn giáo này. Đó là biết duy trì và tôn trọng nguyên tắc độc lập và tự chủ của các tôn giáo.

2. Câu hỏi rất quan trọng khác cũng đang được dư luận nêu ra liên quan tới Chủ đề của đại lễ. Tại sao lại chọn “Sự đóng góp của Phật giáo trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” làm Chủ đề cho đại lễ của Phật giáo? Nếu bỏ 8 chữ đầu đi và thay vào các chữ “Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương” vào thì khẩu hiệu trên sẽ trở thành “Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng  một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Đây chính đã là khẩu hiệu của ĐCSVN trong Đại hội 10 đã được triệu tập vào tháng 4.06!  Cần phải lưu ý ở đây nữa là, cụm từ “xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” ở đây không thể được hiểu theo ý nghĩa phổ quát mà phải được hiểu theo cách hiểu và nói của những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị. Nghĩa là “xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” phải theo nội hàm “định hướng XHCN”, tức là dưới sự lãnh đạo độc quyền của ĐCS như Điều 4 Hiến pháp đã qui định! Nếu những người cầm đầu CS thực sự tôn trọng sự độc lập của GHPGVN thì tại sao lại dùng một tiêu chí trên của ĐCS làm khẩu hiệu cho đại lễ Phật giáo?

          Chả lẽ PGVN không có nhu cầu cấp thiết nào khác và các nhân sĩ uyên bác PG không còn từ nào khác thích hợp làm chủ đề cho đại lễ tôn giáo? Qua việc chọn chữ và ngôn từ cho chủ đề của đại lễ Vesak 2008 người ta lại càng thấy rõ hơn, các thủ lãnh chế độ toàn trị không chỉ chủ trì các buổi lễ chính của đại lễ, mà còn nắm cả nội dung và hướng đi của đại lễ này nữa!

3. Đấy là chưa kể tới việc chọn thời điểm tổ chức Đại lễ cũng đang là một dấu hỏi rất lớn. Những người tổ chức đang theo đuổi thâm ý, mưu đồ gì khi chọn thời gian tổ chức từ 13-18.5.08. Ngày 19.5 là sinh nhật của người sáng lập chế độ độc tài toàn trị và thường được tổ chức rất linh đình, mọi người phải tham dự. Vì thế nhiều người lo ngại là, ngay sau khi kết thúc đại lễ Phật đản LHQ thì là lễ sinh nhật HCM, nhiều đoàn thể và khách được mời bị bó buộc hay trở thành bị cưỡng ép tham dự lễ sinh nhật này. Các cơ quan tuyên truyền của chế độ sẽ đưa bài và hình ảnh của các phái đoàn và nhân sĩ đã “hoan hỉ” dự lễ sinh nhật  người sáng lập chế độ độc tài toàn trị!

 

Biến đại lễ Phật giáo thành phương tiện dùng Phật giáo chống Phật giáo, dùng một số tu sĩ và nhân sĩ Phật giáo đánh phá, chia rẽ và đàn áp Phật giáo

          Các việc làm và diễn tiến trên đã cho thấy, tuy Đại lễ Phật đản LHQ còn nửa năm mới diễn ra, nhưng những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị đang rốt ráo chuẩn bị rất kĩ lưỡng và họ rất thỏa mãn với việc nắm được độc quyền trong tổ chức, nhân sự, chủ đề, nội dung và chương trình của đại lễ này. Họ sẽ mời đại diện của LHQ, các phái đoàn Phật giáo các nước, một số nhân vật quốc tế tên tuổi và hàng ngàn Phật tử từ nhiều nước sang VN để chứng kiến đại lễ này như „Một minh chứng cho chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam“! Đúng như tựa đề lớn của bài bình luận báo Cộng sản điện tử ngày 29.11.

           Vì độc quyền tổ chức nên nhà cầm quyền ĐCS sẽ chỉ để GHPGVN, một tổ chức Phật giáo do họ dựng lên, được độc tôn đứng ra tiếp xúc với các khách mời cá nhân và đoàn thể VN cũng như quốc tế như mục tiêu thứ hai của đại lễ này mà tờ CS ngày 29.11 trên đây đã vạch rõ: “đề cao vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”. Qua đó họ muốn khoe với thế giới rằng, tại VN Phật giáo vẫn được tự do hoạt động và GHPGVN là tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho các Phật tử ở trong và ngoài nước!

          Như vậy, nếu họ tổ chức thành công đại lễ này thì cũng là cách họ “đấu tranh có hiệu quả với các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam lợi dụng vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam. “. Mục tiêu quan trọng này cũng đã được tờ CS nhấn mạnh trong bài bình luận 29.11 sau khi kết thúc Hội nghị thành lập „Ban Điều phối Quốc gia tổ chức đại lễ Vesak LHQ 2008, như đã trình bày ở phần trên.

          Ở đây chúng ta thấy nhóm cầm đầu độc tài toàn trị rất nham hiểm thực hiện sách lược “gậy ông đập lưng ông”, dùng một tổ chức Phật giáo do chính họ dựng lên và một số tu sĩ và nhân sĩ Phật giáo đã ngả theo họ làm mũi nhọn tấn công hai mặt: Dành độc quyền cho tổ chức được gọi là “GHPGVN” được tự do khoa trương trước dư luận quốc tế là đang có tự do tín ngưỡng ở VN, đồng thời cũng dùng giáo hội tay sai này và các nhân sĩ Phật giáo đang chạy theo chế độ để chống lại những tổ chức Phật giáo, các cư sĩ và trí thức Phật giáo đang đấu tranh để đòi tự do tôn giáo thực sự, đòi Giáo hội Phật giáo VN phải đứng độc lập không nằm trong Mặt trận Tổ quốc, một cánh tay dài của chế độ độc tài toàn trị. Trong số này đối tượng hàng đầu mà chế độ độc tài toàn trị muốn tiêu diệt chính là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) do Tăng thống HT Thích Huyền Quang và Viện trưởng Viện hóa đạo HT Thích Quảng Độ lãnh đạo, cũng như các tăng ni, cư sĩ và trí thức Phật giáo VN ở trong và ngoài nước đã can đảm và kiên cường đấu tranh suốt từ sau 1975.

          Mục tiêu tấn công GHPGVNTN và các vị lãnh đạo của Giáo hội này đã là trọng điểm trong chính sách đàn áp tôn giáo của chế độ toàn trị trong suốt ba thập kỉ qua, đặc biệt trong thời gian gần đây. Từ tháng 7. 2007 nhóm độc tài bảo thủ đã ra lệnh cho báo chí mở một cuộc vận động dư luận mới rộng lớn nhằm chụp mũ, bôi đen và mạ lị GHPGVNTN và những người lãnh đạo của Giáo hội này. Tiếp theo đó, mới đây Ủy viên Trung ương đảng, Thứ trưởng Công an phụ trách công tác an ninh chiến lược, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã tuyên bố trong cuộc gặp phái đoàn Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mĩ là “ “Giáo Hội phật giáo VN Thống nhất” là không hợp pháp”.[14]  Nếu đã không hợp pháp thì GHPGVNTN phải bị tiêu diệt và những người lãnh đạo của Giáo hội này sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Đây là thông điệp của nhóm cầm đầu độc tài bảo thủ đã được Nguyễn Văn Hưởng nhắn nhủ với dư luận trong và ngoài nước!

           Chỉ hơn một tháng sau thông điệp này của người chỉ huy công tác an ninh của chế độ toàn trị đã được Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự GHPGVN, HT Thích Thanh Tứ, nhấn mạnh trong cuộc họp báo giới thiệu lễ ra mắt của “Ban điều phối Quốc gia Ðại lễ Phật đản  năm 2008” ngày 29.11: “Giáo Hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Tăng Ni và tín đồ Phật tử Việt Nam“ [15]

          Như vậy cơ hội thuận tiện nhất để chế độ độc tài toàn trị khai tử GHPGVNTN sẽ là Đại lễ Phật đản LHQ vào tháng 5.2008 ở Hà nội. Thâm độc hơn nữa là họ sẽ để cho GHPGVN, một tổ chức do họ dựng lên từ 1981, thực hiện việc này!

          Âm mưu thâm độc của chế độ độc tài toàn trị trong việc tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ sắp tới thật rất rõ ràng, là dùng Phật giáo chống Phật giáo, dùng các tu sĩ, cư sĩ và nhân sĩ Phật giáo đang chạy theo chế độ để phân hóa, chia rẽ và bôi nhọ các vị lãnh đạo PGVNTN, các cư sĩ và trí thức Phật giáo ở trong và ngoài nước đang đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền. Đây là một âm mưu vô cùng xấu xa và nham hiểm của nhóm cầm đầu độc tài bảo thủ của chế độ toàn trị hiện nay!

           Mọi người đều biết, để thành lập tổ chức GHPGVN theo “Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa Xã hội” và thu phục các tu sĩ, cư sĩ và nhân sĩ Phật giáo các thủ lãnh độc tài toàn trị đều dùng phương pháp chia để trị, khai thác các nhược điểm, nhu cầu và ước vọng của các đối tượng mà họ muốn nhắm để dùng danh vọng, tiền bạc, phương tiện và cả các quỉ kế thấp hèn khác để mua chuộc, bịt miêng hay trung lập các đối tượng. Những tu sĩ, nhân sĩ Phật giáo có uy tín nhưng không thuyết phục được thì họ bắt giam, tra tấn, thậm chí cả thủ tiêu!

          Phương pháp này đã được lập đi lập lại bao nhiêu lần từ khi ĐCS nắm được chính quyền ở VN trên 6 thập kỉ vừa qua với nhiều đối tượng khác nhau, từ trong chính trị, báo chí, văn nghệ, khoa học, tôn giáo… Giữa thập niên 40 khi chính quyền CS mới còn yếu đuối thì nhóm cầm đầu ĐCS lúc đó đã dùng các thủ đoạn, một mặt họ mua chuộc các nhân sĩ, trí thức không CS bằng cách dựng lên các Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội làm bung xung và cò mồi, nhưng đồng thời thanh toán và giết hại nhiều chính khách tên tuổi của các chính đảng khác! Sau khi đã củng cố được miền Bắc, để mở rộng chế độ độc tài toàn trị xuống cả phía Nam, nên cuối thập niên 50 của thế kỉ trước nhóm cầm đầu ĐCS đã qui tụ một số nhân sĩ miền Nam yêu nước theo cảm tính đứng ra thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam để đánh lừa dư luận nhân dân miền Nam và thế giới.

           Từ đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, sau khi Liên xô và thế giới CS sụp đổ, nhóm cầm đầu độc tài bảo thủ ĐCSVN nhận ra nguy cơ cũng có thể bị tiêu vong, cho nên họ bắt buộc phải bắt tay với Mĩ và các nước phương Tây, đồng thời tìm cách vỗ về các tôn giáo ở trong nước và gần ba triệu người Việt ở nước ngoài. Vì thế gần đây nhóm cầm đầu độc tài bảo thủ đã ban bố Pháp lệnh Tôn giáo và Nghị quyết số 36 của BCT về chính sách với kiều bào!

          Mọi người đều đã chứng kiến, trong từng giai đoạn chính trị sau khi chế độ toàn trị đã chiến thắng thì các tổ chức được họ dựng lên đều bị giải tán ngay và những nhân vật đã được họ chiều chuộng, nâng nui một thời đều bị loại trừ, cùng lắm chỉ để làm cây kiểng cho nhóm lãnh đạo độc tài! Ngay chính một số người này cuối cùng đã ân hận, phải tự than rằng, chính sự ngây thơ khờ dại…. đã làm họ trở thành nạn nhân của chế độ toàn trị, để cho nhóm lãnh đạo độc tài dùng làm ông bình vôi và tự làm ô danh trong lịch sử!

Những người biết quí tự do tín ngưỡng và nhân quyền phải quyết tâm đứng lên đòi hỏi

          Vì các mưu đồ dùng Phật giáo chống Phật giáo, dùng các tu sĩ và nhân sĩ Phật giáo để đánh phá, chia rẽ và đàn áp GHPGVNTN đã hiển hiện trước mắt. Từ nay tới Đại lễ Phật đản LHQ vào giữa tháng 5. 2008 ở Hà nội, nhóm độc tài toàn trị sẽ còn tung ra nhiều thủ đoạn và bửu bối để đạt được ba mục tiêu họ đã nói rất rõ trong bài bình luận „Một minh chứng cho chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam“ trên đây. Đại hội 6 của GHPGVN, một tổ chức Phật giáo của chế độ, được tổ chức vào 13.12.07 sẽ cho biết thêm các tín hiệu của ý đồ này.[16]

          Nguy cơ cho Phật giáo cũng là nguy cơ chung cho cả những người dân chủ đa nguyên. Thắng lợi của chế độ toàn trị sẽ là một thách đố lớn lao cho tất cả những ai yêu chuộng tự do, dân chủ và nhân quyền! Vì thế, trách nhiệm của chúng ta là phải tố cáo mạnh mẽ trước dư luận trong nước và quốc tế về các chủ trương sai lầm và những ý đồ đen tối, thâm độc của nhóm cầm đầu chế độ độc tài toàn trị trong việc tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008.

          Bằng phương pháp phi bạo lực, những người dân chủ ở trong nước và các cộng đồng VN ở nước ngoài cần phải đấu tranh kiên cường để tố cáo các chủ trương sai lầm và bẻ gẫy các ý đồ thâm độc này. Căn cứ theo chủ trương của Đại hội đồng LHQ 1999 về việc tổ chức Đại lễ Phật đản Vesak chỉ thuần mang tính cách tôn giáo và văn hóa, không được chính trị hóa đại lễ tôn giáo này, lại càng không thể để đại lễ biến thành nơi tuyền truyền cho một chế độ tôn thờ chủ thuyết phủ nhận tôn giáo, đồng thời cương quyết chống lại ý đồ thấp hèn của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị dùng Phật giáo chống Phật giáo, dùng một số tu sĩ và nhân sĩ Phật giáo chạy theo chế độ để đánh phá, chia rẽ và đàn áp Phật giáo!

          Là những người dân chủ đa nguyên và chủ trương đấu tranh phi bạo lực, bất kể thuộc thành phần tôn giáo giáo nào, bất kể khuynh hướng chính trị, chúng ta cần tập trung trí tuệ, sức lực và phương tiện sát cánh cùng nhau vận động chống lại các chủ trương sai lầm và các các thủ đoạn độc hại của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị. Đối với đại lễ Vesak 2008 sắp được tổ chức ở VN chủ trương minh bạch và kiên định của chúng ta là:

1.      Đại lễ Vesak LHQ 2008 ở VN phải là một đại lễ Phật đản của LHQ theo đúng chủ trương của Đại hội đồng LHQ đã đề ra. Đây phải là một đại lễ tôn giáo của Phật giáo VN và Phật giáo quốc tế. Chính quyền và các tổ chức chính trị phải giữ đúng tinh thần trung lập, tuyệt đối không được can thiệp vào các công việc của đại lễ.

2.      Để thể hiện tinh thần đoàn kết và từ bi hỉ xả, mọi khuynh hướng và tông phái của Phật giáo VN, dù ở trong và ngoài nước, đều có quyền tham gia một cách tự nguyện và bình đẳng trong đại lễ này. Không một tổ chức nào được nhân danh gì để loại những khuynh hướng và tông phái khác.

3.      Ban Tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008 ở VN phải được hoàn toàn độc lập và tự chủ, tuyệt đối không bị ràng buộc bởi bất cứ một thế lực nào. Các thành viên trong Ban này phải bao gồm đại diện các khuynh hướng và tông phái Phật giáo trong và ngoài nước, được đề cử một cách dân chủ và công khai dưới sự chứng minh của đại diện LHQ và các đặc phái viên các tổ chức quốc tế khác.

4.      Cương quyết chống lại mọi ý đồ của những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị đang chủ trương độc quyền thao túng Đại lễ Phật đản LHQ 2008 và đang muốn biến đại lễ này thành một diễn đàn quốc tế để ca tụng “ tự do tôn giáo” giả hiệu ở VN!

5.      Đây là một đại lễ tôn giáo quốc tế của Phật giáo VN, cho nên từ lễ khai mạc tới bế mạc đều phải do các đại diện của các khuynh hướng Phật giáo VN làm chủ lễ. Đại diện chính quyền, các đoàn thể VN và quốc tế tham dự chỉ với tư cách là khách được mời.

6.      Thiết tha kêu gọi LHQ, chính phủ, chính giới và các giáo hội ở Hoa kì, EU, Gia nã đại, Úc… hãy lên tiếng bảo vệ mục tiêu và nội dung đúng đắn cho Đại lễ Vesak LHQ 2008, đồng thời làm giám sát cho đại lễ này tổ chức thành công tốt đẹp.

7.      Các Cộng đồng VN ở nước ngoài và các tổ chức cũng như nhân sĩ và trí thức trong cộng đồng hãy tích cực đấu tranh để Đại lễ Phật đản LHQ 2008 ở VN không để chế độ độc tài toàn trị lợi dụng làm sai trái mục tiêu. 

8.      Phải để cho các tôn giáo ở VN được tự do hoạt động và hoàn toàn độc lập, không phải vào Mặt trận Tổ quốc, một tổ chức ngoại vi của ĐCS.

9.      Để thể hiện tinh thần từ bi của Phật Thích Ca, chậm nhất từ nay cho tới Đại lễ Phật đản LHQ 2008 phải trả tự do cho tất cả tu sĩ các tôn giáo và những người đấu tranh cho nhân quyền, tự do tín ngưỡng và dân chủ đang bị giam giữ và quản thúc tại gia.

 

Hãy coi chừng về một “nguy cơ APEC” thứ hai !

          Nói tóm lại, hiện nay nhóm cầm đầu chế độ độc tài toàn trị đang huy động mọi phương tiện để tổ chức Đại lễ Vesak LHQ 2008 tại „Trung tâm Hội nghị Quốc gia“ ở Hà nội với mục tiêu rửa mặt cho chế độ trước dư luận quốc tế và đánh phá Phật giáo, cũng như tìm cách bẻ gẫy các cuộc vận động cho tự do tôn giáo và dân chủ. Cũng chính tại nơi đây những người cầm đầu chế độ toàn trị đã tổ chức rất đình đám Hội nghị Cấp cao APEC vào cuối tháng 11.2006.

            Không một ai có thể quên được những chuyện gì đã xẩy ra trước, trong và sau Hội nghị này. Những tuần lễ trước Hội nghị họ đã cố nín, chưa vội ra tay đàn áp một số tổ chức mới ra đời và cũng chưa bắt giam các người đứng đầu các tổ chức này. Họ mềm mỏng, xuống nước với chính phủ Mĩ và xoa dịu dư luận Hoa kì để TT Bush sang dự, đồng thời chấp thuận VN trở thành hội viên WTO, bỏ VN ra khỏi danh sách các nước bị theo dõi vì đàn áp tôn giáo. Trên 20 phái đoàn các nước với các nguyên thủ cầm đầu và hàng ngàn kí giả ngoại quốc đã sang VN tham dự và theo dõi hội nghị.

          Nhưng khi Hội nghị Cấp cao APEC bắt đầu họp, nhóm đứng đầu chế độ một mặt tiếp đãi ân cần, cởi mở các khách quí, nhưng đồng thời tăng cường canh gác nghiêm ngặt nhiều người dân chủ, các con đường dẫn tới tư gia các người này đều bị công an chìm nổi bao vây, các bảng cấm không cho kí giả ngoại quốc xâm nhập được dựng lên! Các dàn cảnh này đã tạo một ấn tượng sai lầm và vô cùng nguy hiểm trong dư luận quốc tế là chế độ độc tài toàn trị đang trụ rất vững và không có đối lập dân chủ ở VN!

          Trong buổi lễ bế mạc Hội nghị APEC, nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đã tặng các khách quí áo dài khăn đống và tuyên truyền rầm rộ về thắng lợi ngoại giao. Giữa khi ấy theo lệnh của họ, Bộ Công an đã được lệnh chuẩn bị các kế hoạch để thẳng tay thanh toán những người dân chủ nhằm bẻ gẫy ngay từ trong trứng nước các mầm mống có thể gây khó khăn và nguy hiểm cho chế độ. Cho nên chỉ một thời gian ngắn sau khi Hội nghị Cấp cao APEC kết thúc thì họ đã ra tay, vì thấy không còn phải ngại một thế lực nào cả!  Do đó từ Tết Đinh Hợi họ đã tay bắt giam hàng loạt trên 20 chục người dân chủ tên tuổi, trong đó có cả một số tu sĩ, các phụ nữ và những người dân chủ trí thức trẻ tuổi. Báo chí thế giới đã phải xác nhận, đây là lần khủng bố tàn bạo và rộng lớn trong nhiều năm qua của chế độ độc tài toàn trị.  Sau khi các cuộc khủng bố những người dân chủ vừa kết thúc thì nhóm độc tài toàn trị đã ung dung cho bầu cử Quốc hội bù nhìn khóa 12 vào tháng 5.2007. Họ hô hoán rằng, 99% cử tri đã đi bỏ phiếu và gần như 99% đảng viên ĐCS đã trúng cử!

          Chính cơ quan tư tưởng của chế độ, tờ Tạp chí Cộng sản vào đầu năm đã xác nhận các biện pháp sắt máu để đối phó với những người đối kháng ở trong nước là rập khuôn mẫu chủ trương „ổn định là trên hết“, giống như chủ trương của bạo chúa Đặng Tiểu Bình trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của sinh viên Trung Hoa vào mùa Xuân 1989:

„Kịp thời và kiên quyết loại trừ những nhân tố có khả năng gây mất ổn định chính trị-xã hội trong suốt quá trình đổi mới; đặc biệt, trong những năm đầu đất nước gia nhập WTO, khi chúng ta chưa có đầy đủ những điều kiện thuận lợi và kinh nghiệm hòa nhập với „sân chơi“ quốc tế.“ [17]

          Hiện nay những mưu đồ tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ 2008 cũng đã chứng minh rằng, nhóm đứng đầu chế độ toàn trị đang chuẩn bị một cuộc khủng bố thứ hai tàn bạo và rộng lớn như sau Hội nghị Cấp cao APEC vào cuối năm qua nhằm „Kịp thời và kiên quyết loại trừ những nhân tố có khả năng gây mất ổn định chính trị-xã hội”. Nếu chế độ toàn trị thành công trong việc mượn danh nghĩa LHQ biến Đại lễ này thành dịp tung hô chế độ, ca tụng “tự do tôn giáo” cả trong dư luận VN và quốc tế thì sẽ diễn ra một phong trào khủng bổ toàn diện và trắng trợn hơn nữa đối với GHPGVNTN và các nhà lãnh đạo của Giáo hội này. Vì bản án tử hình đã được chính tướng Nguyễn Văn Hưởng, người chỉ huy công tác an ninh của chế độ độc tài toàn trị, mới đây nhấn mạnh rõ ràng: “Giáo Hội phật giáo VN Thống nhất” là không hợp pháp”!  Không những thế, bộ máy công an mật vụ sẽ siết chặt hơn nữa đối với các tôn giáo khác và cả những người dân chủ.

          Nếu mọi người không cảnh giác và cương quyết đấu tranh thì nguy cơ này sẽ trở thành mối họa khủng khiếp cho các tôn giáo và các cuộc vận động dân chủ trong giai đoạn trước mắt! ♣


GHI CHÚ

[1] . “Một minh chứng cho chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam”, Cộng sản điện tử (CS) 29.11.07

[2] . Thư của Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch MTTQVN, gởi GPPGVN nhân dịp Phật đản 2007, Nhân dân (ND) 25.5.

[3] . ND 2911

[4] . ND 2911

[5] . So sánh các bản tin trên tờ CS (28.11),  ND và Công an Nhân dân (CAND) 29.11 với bản tin của IOC „Họp báo về Đại lễ Vesak ở Hà nội“, www.vesakday2008.com

[6] . ND 30.5.07,CAND 29.11

[7] . ND 29.11

[8] .CA 29.11.

[9] . www.vesakday2008.com

[10] . www.vesakday2008.com

[11] CS 29.11

[12] .  Lao động điện tử 11-12.11, Hà nội mới 11.11, www.vesakday2008.com

[13] . CAND 29.11, CS 28-29.11, bản tin của IOC Họp báo về Đại lễ Vesak ở Hà nội, www.vesakday2008.com

[14] . Thanh niên 24.10

[15] . CS 29.11

[16] . ND 27.11

[17]. „Giữ vững ổn định chính trị-xã hội để phát triển đất nước trong thời kì mới“, Nhật Tân, Tạp chí Cộng sản, số 2.07, tr. 91.

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

April 4, 2008

Hồ Chí Minh, cuộc tước đoạt lòng yêu nước

Ho Chi Minh, le détournement du patriotismecủa Jean – François REVEL

Hồ Chí Minh, cuộc tước đoạt lòng yêu nước Bùi Tín (dịch)Lời người dịch : Một số bạn trong nước khuyên tôi không nên đụng đến ông Hồ, vì đó vẫn còn là thần tượng, là khu vực cấm, số đông trong nước còn chưa tỉnh. Tôi nghĩ khác.Sự thật luôn cứng đầu và có sức thuyết phục. Sau khi nước ta vào WTO, sự công khai minh bạch trong sáng là nếp sống mới. Đã đến lúc không thể tiếp tục lừa dối nhân dân.Phải nói lên sự thật, dù với ai đó, đó là những sự thật đau lòng, chua chát, cay đắng. Phục vụ đảng hay nhân dân? trung thành với đảng hay với nhân dân? Tôi đã lựa chọn, tôi đã dứt khoát chọn nhân dân, cho dù bộ máy công an và tư tưởng cuả đảng CS lại sẽ chụp mũ tôi là phản bội.

Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả bài này J.F.Revel, một trí thức chân chính, đầy trí tuệ và nhân cách.Hồ Chí Minh đã có thể được coi là anh hùng sáng lập nên nước Việt nam hiện đại và dân chủ, đã có thể được coi là nhà lãnh đạo đã đưa đất nước của ông ra khỏi cảnh thuộc địa để bước lên nền văn minh mới, kết hợp truyền thống với đổi mới.

Nhưng khốn thay, mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt nam, mà là sự hội nhập vào quốc tế cộng sản. Mục tiêu của ông Hồ không phải là giành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và lối sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả đặc điểm của nó: những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong ‘’cải tạo ‘’, quần chúng chết đói và tham nhũng của kẻ lãnh đạo.Hồ Chí Minh là một trong những người kiên định nhất trong áp dụng phương thức cai trị kiểu cộng sản suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược với những khát vọng ấp ủ bởi quần chúng đã bị ông ta lợi dụng.

Khi quần chúng nhận được ra sự lừa đảo thì đã quá muộn, họ đã bị cầm tù, chính quyền độc đóan đã được thiết lập, cũi đã khóa chặt. Thật không có gì ma quái hơn là sự tước đoạt những tình cảm cao quý, những sự dấn thân đông đảo, những ý nguyện sâu sắc và chính đáng đầy nhân tính để đưa đến sự đầy đọa, bần cùng, ô nhục và đơn giản là Tội Ác . Chúng ta chớ quên rằng chế độ cộng sản là một trong những chế độ đẫm máu nhất, – cũng có thể là đẫm máu nhất, của toàn bộ Lịch Sử, bởi vì không một chế độ nào đã cai trị đồng thời nhiều nước đến vậy . Vào những năm 1980, hơn 2 tỷ người đã sống dưới ách cai trị dã man tàn bạo, và cũng bất lực vì ngu xuẩn của nó.Dựa vào khát vọng tự do để ngư trị, đó là phương pháp Hồ Chí Minh, rất mực trung thành tuân theo phương pháp của nhân vật tồi tệ Lênin. Phương pháp này đã tàn phá những nơi khác : Cambốt, Êthiôpi, Môzambich, Algiêri, Cuba, Angôla. Đằng sau cuộc chiến tranh giải phóng, một cuộc chiến đấu giành quyền sống bình đẳng, trong đó các chiến sỹ thành thật hiến thân, luôn ẩn dấu âm mưu của những kẻ cầm đầu chống lại tự do và quyền con người.

Hồ Chí Minh có thật lòng tin ở sự tốt đẹp trong tương lai của chủ nghĩa cộng sản ? Tôi nghi ngờ điều này, bởi vì ông ta đã thấy chế đó đó vận hành ra sao trong nhiều nước. Có lý tưởng và cực đoan, có thể ông ta không tự đặt ra câu hỏi ấy. Và cũng như tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán, ông ta vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ ông ta đã lựa chọn. Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người! mà là của hành đông của họ. Mà những hệ quả thì sờ sờ ra đó, cảnh đọa đầy, máu chảy, chết chóc và nạn đói. Người ta không thể xin lỗi sau khi đã tước đoạt cuộc chiến đấu chống thực dân của quần chúng để dẫn đến cảnh tàn phá đến vậy. Trái lại, đó là một cuộc ăn cắp, một cuộc lừa đảo, với hoàn cảnh tăng thêm phần nghiêm trọng cho kẻ phạm tội.( Trích từ bài:Ho Chi Minh, l’homme et son héritage Ho Chí Minh, con người và di sản

của Jean–François Revel, nhà văn, nhà triết học Pháp, từng đứng hàng đầu cánh tả, mất ngày 30-4-2006, 82 tuổi, bài đăng trên Viet nam infos , số 36, ra ngày 15-05-2006 ) ./.Hô Chi Minh, le détournement du patriotisme

Jean-François Revel (*)

Hô Chi Minh aurait pu être le héros fondateur d’un Viêt-Nam moderne et démocratique, l’homme qui aurait guidé son pays à la fois hors de la subordination coloniale et vers la civilisation contemporaine, une synthèse des traditions et d’une nouvelle identité nationale.Malheureusement, son objectif n’était pas l’indépendance du Viêt-Nam, c’était son intégration à l’internationale communiste. Ce n’était pas de donner au peuple le droit de se déterminer, de voter, de choisir ses dirigeants, ses lois et sa manière de vivre ; c’était de lui imposer par la contrainte, le totalitarisme stalinien, avec toutes ses composantes : les exécutions sommaires, les camps de concentration, la dégradation de l’homme par la « rééducation », la famine des masses et la corruption des chefs (…).

Hô Chi Minh fut aussi l’un des plus implacables praticiens d’une méthode que le communisme a utilisée tout le long du vingtième siècle. Cette méthode consiste à capter l’énergie contenue dans les désirs naturels des hommes, désir de liberté, de prospérité, de progrès, d’indépendance nationale, pour détourner cette énergie au service de buts qui constituent le contraire exact de ceux espérés et poursuivis par les populations abusées. Lorsque ces populations s’aperçoivent de la supercherie, il est trop tard, elles sont prisonnières, le pouvoir totalitaire est constitué, la cage est fermée. Rien de plus diaboliquement pervers que cette captation de sentiments généreux et de dévouements innombrables, des élans les plus profonds et les plus légitimes de la nature humaine, au bénéfice de la servitude, de la misère, de l’humiliation et aussi du crime pur et simple ; puisque, n’oublions pas, le système communiste est l’un des plus meurtriers de toute l’histoire, peut-être même le plus meurtrier, puisque nul autre n’a régné simultanément sur autant de pays ; Aux alentours de 1980, plus de deux milliards d’ hommes étaient encore asservis à ce système aussi barbare et destructeur que stupidement inefficace.S’appuyer sur le désir de liberté pour asservir, telle est la méthode Hô Chi Minh, très fidèlement copiée sur celle du sinistre Lénine. Elle a fait des ravages ailleurs : au Cambodge, en Ethiopie, au Mozambique, en Algérie, à Cuba, en Angola. Derrière une guerre de libération, un combat pour l’égalité des droits, dont les troupes sont sincères, peut se cacher un complot de chefs contre la liberté et les droits de l’homme.

Hô Chi Minh croyait-il honnêtement aux bienfaits futurs du communisme ? J’en doute, puisqu’il l’avait vu fonctionner dans d’autres pays. Idéologue et fanatique, il ne se posait probablement même plus la question ; et, comme tous les dirigeants totalitaires, il avait la faculté de garder bonne conscience, tout en constatant les ravages du système auquel il avait fait le sacrifice de son intelligence. L’histoire est le résultat non des intentions des hommes, mais de leurs actions. Or les résultats sont là : la servitude, le sang, la mort et la famine. Avoir confisqué la lutte anticoloniale pour aboutir à ce champ de ruines ne constitue nullement une excuse. Au contraire, c’est une circonstance aggravante, un vol, une escroquerie.(Ho Chi Minh, l’homme et son héritage, DUONG MOI LA Voie Nouvelle, Paris, mai 1990)

(*) Ecrivain et philosophe, J-F Revel nous a quittés le 30 avril 2006, à l’âge de 82 ans.

March 28, 2008

Đàn áp ở Tibet – Lưỡi gỗ giữa Paris

Tối thứ năm 27-3, đài truyền hình Pháp TF 2 tổ chức một cuộc đối thoại công khai về chủ đề nóng hổi : ” Thái độ đối với Trung quốc nên như thế nào ? ”.

Cuộc đối thoại dài hơn 1 giờ nằm trong chuyên mục rất ăn khách của TF2 : ”Mời bạn xem vô tuyến đánh giá ” ( à vous juger ).

Tham gia đối thoại có ” Cô ” Quốc vụ khanh trong Bộ ngoại giao Pháp đặc trách về nhân quyền Rama Yade, người Pháp gốc Sénégal, mới 32 tuổi; nguyên thủ tướng Pháp Laurent Fabius; vận động viên Roman Mesnil chủ tịch công đoàn các vận động viên Pháp.

Đặc biệt phía Trung quốc, ông Qu Xing đại diện Sứ quán Trung quốc ở Pháp cũng được mời dự. Nhà báo Arlette Chabot giám đốc TF 2 trực tiếp điều khiển.

Sau khi bà Arlette Chabot tóm tắt tình hình : những cuộc đàn áp của cảnh sát và quân đội Trung quốc ở Lhassa, phong trào phản đối đàn áp lan rộng khắp thế giới, những kiến nghị lên án chính sách đàn áp các nhà sư và nhân dân Tibet, đòi Bắc kinh chấm dứt bạo lực, mở ra cuộc đối thoại với Ngài Đat lai Lạt ma; những gợi ý nên tẩy chay Đại hội Olympic 2008 nều như Bắc kinh không từ bỏ chính sách đàn áp tại Tibet; cũng có nhiều ý kiến đề nghị các nhà lãnh đạo các nước dân chủ nên tẩy chay buổi lễ khai mạc chính thức tại Bắc kinh, coi đó là ”một thông điệp mạnh gửi đến một chế độ đàn áp lớn nhất còn tồn tại lẻ loi trên thế giới”. Bà mong mọi người có mặt phát biểu và bạn xem vô tuyến truyền hình cả nước góp ý.

Rama Yade nói rõ ý kiến của tổng thống Nicolas Sarkosi là nên nghĩ đến tẩy chay lễ khai mạc và Pháp sớm đặt vấn đề cả 27 nước trong Liên hiệp châu Âu cùng có lập trường thống nhất như thế, vì từ tháng 7-2008 Pháp sẽ đảm nhận chức vị chủ tịch EU. Cô bác bỏ những lời lên án không căn cứ của Bắc kinh đối với Đức Đat lai Lat ma, rằng Ngài gây nên cuộc nổi dậy đòi độc lập; Cô tỏ lòng ngưỡng mộ Ngài, hân hạnh đón Ngài đến thăm nước Pháp trong thời gian tới.

Vận động viên Roman nhắc đến tôn chỉ của J.O.- Đua tài Olympic là ” tôn trọng con người ”, ” tôn trọng thành tích của nhau ”, một nội dung cốt lõi của Nhân quyền. Ông nhấn mạnh đến lời cam kết long trọng của Chính quyền Bắc kinh khi tiệp nhận trách nhiệm đăng cai J.O. 2008 là : cải tiến việc tôn trọng nhân quyền trong nước mình. Ông nói rõ nếu tham dự các cuộc thi tài, ông sẽ có sáng kiến bất thần đưa ra những dấu hiệu tiêu biểu cho nhân quyền nhằm tuyên truyền cổ vũ cho quyền con người, một trách nhiệm cao quý của vận động viên quốc tế. Ông nhắc đến tại một J.O. trước đây, có vận động viên đã dơ cao đôi găng đánh ”bốc” đen để chống phân biệt chủng tộc.

Cựu thủ tướng Laurent Fabius lên tiếng ca ngợi Đức Dat lai Lat ma do nhiều lần từng gặp và nói chuyện với Ngài, một con người hiểu biết sâu sắc về tôn giáo và quyền con người, rất ôn hòa, chỉ đòi quyền tự trị và bảo tồn văn hóa, chống cưỡng bức Hán hóa.

Đến lượt đại diện của Sứ quán Trung quốc, ông Qu Xing. Với một thứ tiếng Pháp chưa trôi chảy, chắp nối khó khăn, nhưng ông tỏ ra thuộc bài. Một kiểu học thuộc lòng, không đi sát vào từng câu hỏi. Ông nói:

     - Đat lai Lat ma là nguồn gốc của sự rối loạn. Đat lai Lat ma là kẻ tội phạm.

Đạt lai lat ma không hoạt động tôn giáo, ông ta hoạt động chính trị.

    -  bọn đòi độc lập (indépendentistes) là do Đạt lai Lạt ma kích động.

    -  Trung quốc bây giờ đã khác trước, không như 10 năm trước, càng không như 20, 30 năm trước.

    -  mỗi năm có 20 triệu khách du lịch nước ngoài và trong nước đi du lịch đến Tibet; [ có câu hỏi : có phải trong đó hàng triệu người gốc Hán ở lại để Hán hóa, làm cho người Tibet nay là thiểu số trên đất Tibet?  - không trả lời ]

    -  cảnh sát chúng tôi chỉ trừng phạt những kẻ gây rối, giết người, đốt nhà .

[ màn ảnh lớn chiếu cảnh cảnh sát Trung quốc cầm súng và gậy, bắn và đánh đập dân và các vị sư, rồi cảnh hàng đoàn xe tăng phóng trên đường phố với tiếng súng nổ, khói bụi, tiếng nhân dân kêu la.  Câu hỏi : Ông giải thích ra sao khi chỉ có cảnh sát và quân đội có vũ trang?  Tại sao hơn 1 tỷ người các ông lại sợ chỉ có vài triệu dân Tibet tay không đến thế ?   - không trả lời. ]

[ màn ảnh lại chiếu lại cảnh Thiên an môn tháng 6-1989 , đoàn xe tăng dừng trước một sinh viên, được coi là bức ảnh của thế kỷ , với câu hỏi : các ông có rút ra được bài học gì sau sự kiện Thiên an môn 89?    - không trả lời ]

[  màn ảnh lại chiếu  cảnh lể châm lửa ngọn đuốc Olympic ở Hy lạp, một số nhà đấu tranh RSF (Phóng viên không biên giới) trưng ra hình 5 vòng xích khi thị trưởng Bắc kinh đọc diễn văn;  - mời ông bình luận sự kiện này .

       - Qu Xing : ” Scandale” (chuyện bê bối)

Cười ồ to trong hội trường. Câu hỏi : nếu ở Bắc kinh xảy ra sự kiện tương tự, việc tự do thông tin, truyền hình, truyền ảnh có bị kiểm duyệt hay cấm đoán không?  Qu Xing lúng túng, ngập ngừng, rồi nói: chúng tội sẽ theo điều lệ chung của CIO.  Nguyên thủ tướng Laurent Fabius : ” chúng tôi yêu cầu truyền đi mọi tin tức, không che dấu, không kiểm duyệt, cho nhân dân Trung quốc, thế giới và vận động viên khắp nơi ”.

Buổi đối thoại ngừng một lát để xem trên màn hình và nghe ý kiến của nguyên thủ tướng Leonel Jospin về vấn đề trên; ông nói : theo tôi, Trung quốc đang giương bẫy cho thế giới, buộc thế giới nhân J.O. đánh bóng một chế độ chà đạp nhân quyền nặng nề nhất. Ta cần chuyển cái bẫy ấy thành sức ép quốc tế mạnh mẽ nhằm dành lại nhân quyền cho nhân dân Trung quốc.

Khi cô Rama Yade nhận xét về chế độ độc quyền đảng trị ở Trung quốc, Qu Xing lại dùng lưỡi gỗ cãi lấy được rằng : không! nói vậy là không hiểu rõ tình hình Trung quốc hiện đã có nhiều đảng (!).

Nhiều người lắc đầu, cười ồ lớn. Từ đó chủ tọa không mời ông ” lưỡi gỗ ” nói thêm nữa. Chỉ có người Pháp nói với nhau. Họ trao đổi với nhau rằng tổng thống Sarkosi cần tỏ ra kiên quyết, có bản lĩnh trên cương vị chủ tịch khối châu Âu để xử lý vụ Olympic này, khôi phục uy tín của ông đang xuống thấp. Một số ý kiến khác cho rằng châu Âu không nên vì một số lợi ích kinh tế mà giảm nhẹ cuộc đấu tranh cho nhân quyền.

Cho đến khi kết thúc, chủ tọa hỏi đại diện Trung quốc rằng nếu như J.O. Bắc kinh bị thế giới tẩy chay thì các ông có thái độ ra sao? Loay hoay một hồi, Qu Sing viện Khổng tử ra để cứu nguy : ” chớ làm cho người khác điều gì mà mình không muốn người ta làm cho mình ”. 

Một thanh niên Pháp đáp ngay : nước Trung quốc khác hẳn với nước Pháp. Nên hiểu câu ấy theo nghĩa Bắc kinh không nên hà hiếp Tibet nếu như Trung quốc không muốn bị nước khác hà hiếp.

Bùi Tín – Ghi nhanh.

Paris 27-3-2008.  23 giờ.

March 22, 2008

Cơ chế khiến người Việt nói dối

Những khuyết tật trong hệ thống nhà nước ở Việt Nam đang khiến người Việt phải ‘tự nói dối với nhau để sống’, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội thừa nhận.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn thẳng thắn trên báo Thanh Niên, ông Trần Quốc Thuận nói tham nhũng ở Việt Nam không chỉ gây ra thiệt hại vật chất mà còn khiến đạo đức của cả xã hội suy thoái.

“Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Không tham nhũng mới là lạ! Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ.”

“Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.”

Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhận xét nói dối đã trở thành thói quen hàng ngày trong xã hội Việt Nam.

Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.

Ông Trần Quốc Thuận

“Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành “đạo đức”, mà cái “đạo đức” đó là rất mất đạo đức. Đấy là một cái nguy, nhưng tôi thấy ít người quan tâm, chỉ chăm chăm vào vụ tham nhũng này, vụ tham nhũng kia.”

Ông cho rằng bộ máy hiện tại quá cồng kềnh, chồng chéo và cần phải có một cuộc đại phẫu.

“Phải làm triệt để giống như chúng ta chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường.”

“Quốc hội phải thực sự đại diện cho nhân dân, vì quyền lợi nhân dân…Thực tế là đại biểu QH đều biết rằng số phận của họ không gắn với sự tín nhiệm của cử tri, nó gắn với tín nhiệm của một nơi khác. Vậy thì làm sao họ làm theo ý kiến của cử tri được?”

Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội kêu gọi mở rộng quyền tự do ứng cử, bầu cử.

“Phải mở rộng quyền tự do ứng cử, bầu cử, tranh cử. Phải để cho Quốc hội có thực quyền. Thực quyền mới quyết được các vấn đề. QH phải có cơ quan chuyên trách, tổ chức điều tra tới nơi tới chốn. QH đâu phải là diễn đàn để nói cho xả hơi. Anh ra đây báo cáo rồi xin lỗi là xong, đâu có được!”

Gần đây, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, người được dự kiến sẽ sớm chuyển giao chức vụ của mình, cũng lên tiếng rằng ‘cần sửa lỗi hệ thống.’

Trích BBC 2007

- Hồng Y Phạm Minh Mẫn:
“Kinh nghiệm giải phóng nô lệ da đen trong lịch sử nước Mỹ dạy cho tôi bài học nầy.
+ Được tự do mà không được “ăn học”, nhiều người không thể sống xứng với phẩm cách làm người. Vì lẽ không được “học”, nhiều người chỉ biết “ăn”. Ăn mày, ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp. Khi có thế lực, thì ăn hiếp, ăn gian, ăn hối lộ. Khi có tiền, thì ăn xài, ăn chơi…
+ Vậy để có thể sống xứng với phẩm cách làm người, cần có sự giáo dục toàn diện. Giáo dục toàn diện gồm có trí dục, thể dục, kỹ dục và đức dục. Đối với người công giáo, phải cộng thêm dưỡng dục đức tin”

March 19, 2008

Yêu sách của nhân dân An Nam 1919

Yêu sách của nhân dân An Nam (tiếng Pháp: Revendications du peuple annamite) là bản yêu sách được gửi ngày 19 tháng 6 năm 1919, của Hội những người An Nam yêu nước, gồm tám điểm được viết bằng tiếng Pháp, được ký bằng cái tên chung là “Nguyễn Ái Quốc[1] và gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles.

Mục lục

[giấu]

//

[sửa] Hoàn cảnh

Mùa hè năm 1919, Nguyễn Tất Thành thành lập một tổ chức mới cho những người Việt sống tại Pháp: Hội những người An Nam yêu nước (Association des Patriotes Annamites). Nguyễn Tất Thành khi đó vẫn chưa được nhiều người biết, do đó, Phan Châu TrinhPhan Văn Trường giữ vị trí lãnh đạo hội. Tuy nhiên, với vai trò thư kí, Nguyễn Tất Thành gần như là động lực chính của hội[2].

Cũng trong thời gian này, tại Quốc hội Pháp thường kỳ diễn ra các cuộc thảo luận về vấn đề thuộc địa, vấn đề cũng đã được nêu lên từ tháng 1 năm 1919, khi lãnh đạo của các nước Đồng Minh thắng trận trong Thế chiến thứ nhất họp nhau tại Lâu đài Versailles để đàm phán về một hiệp định hòa bình với phe thua trận và đặt ra các nguyên tắc cho các quan hệ quốc tế sau chiến tranh. Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã khuyến khích nhiệt tình của các nước thuộc địa trên khắp thế giới bằng bản tuyên bố 14 điểm nổi tiếng của ông, trong đó kêu gọi quyền tự quyết cho mọi dân tộc.

Đến đầu mùa hè năm 1919, nhiều tổ chức dân tộc chủ nghĩa với trụ sở tại Paris đã đưa ra các bản tuyên ngôn để công khai hóa các mục tiêu của mình. Nguyễn Tất Thành và những người trong Hội những người An Nam yêu nước quyết định tận dụng tình thế và đưa ra bản tuyên bố của mình.

Với sự giúp đỡ của Phan Văn Trường, người đề nghị hoàn thiện trình độ tiếng Pháp khi đó còn yếu của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tất Thành đã thảo bản yêu sách gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á[3]. Bản yêu sách có tên Revendications du peuple annamite (Yêu sách của nhân dân An Nam).

[sửa] Nội dung

Bản yêu sách gồm 8 điểm:

  • Tổng ân xá tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị.
  • Cải cách nền pháp lí Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm pháp lí như người châu Âu. Xóa bỏ hoàn toàn những tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam.
  • Tự do báo chítự do ngôn luận.
  • Tự do lập hội và hội họp.
  • Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.
  • Tự do họp tập, thành lập các trường kĩ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ.
  • Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
  • Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ.

[sửa] Tác giả

Bản yêu sách được ký tên như sau[4]:

thay mặt Hội những người An Nam yêu nước
[kí tên]
Nguyễn Ái Quốc.

Theo tác giả Trần Dân Tiên[5] thì ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn (Nguyễn Ái Quốc) đề ra, và luật sư Phan Văn Trường là người viết, lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Một số tài liệu khác[6] cũng nêu thông tin như trên.

[sửa] Sự kiện kèm theo

Nguyễn Tất Thành, người mà trong vòng vài tháng sẽ được biết đến với cái tên Nguyễn Ái Quốc, đại diện cho cả nhóm gửi bản yêu sách này đến Hội nghị Versailles, ông chịu trách nhiệm chính cho việc công bố bản yêu sách này. Nguyễn Tất Thành trao bản yêu sách đến tận tay các nhân vật quan trọng trong Quốc hội Pháp và tới Tổng thống Pháp. Ông đi dọc các hành lang của điện Versailles, trao cho các đoàn đại biểu của các nước lớn. Để đảm bảo ảnh hưởng tối đa của bản yêu sách, ông sắp xếp để nó được đăng trên tờ L’Humanité, một tờ báo cấp tiến ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Ông còn được sự giúp đỡ của các thành viên Tổng hội Công nhân để in 6000 bản và phân phát trên đường phố Paris[7].

Chiến dịch kêu gọi này không nhận được phản ứng chính thức từ chính phủ Pháp. Mặc dù vấn đề thuộc địa vẫn là một chủ đề chính trong các cuộc thảo luận tại Quốc hội và là chủ đề gây tranh cãi đáng kể trong Hội nghị Hòa bình Versailles, nhưng cuối cùng không thành viên nào thảo luận đến đề tài của bản yêu sách.

Ngoài việc phân phát và phổ biến bản yêu sách này, Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư riêng kèm theo bản yêu sách cho các đoàn đại biểu Đồng Minh dự hội nghị, nhưng không gây được sự chú ý[8].

Tuy nhiên, cuộc vận động này đã gây một sự kinh ngạc đối với các quan chức Paris. Ngày 23 tháng 6, Tổng thống Pháp báo cho Albert Sarraut rằng mình đã nhận được bản yêu sách và đề nghị ông xém xét vấn đề và xác định danh tính tác giả của bản yêu sách. Tháng 8, Albert Sarraut điện từ miền Bắc Việt Nam sang Paris, báo rằng bản yêu sách đã được lan truyền trên đường phố Hà Nội và gây ra các bình luận của báo chí. Tháng 9, Nguyễn Tất Thành kết thúc việc suy đoán về tác giả bản yêu sách, trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Mỹ của một tờ báo tiếng Trung ở Paris, ông công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6 tháng 9, Nguyễn Tất Thành được gọi đến Bộ thuộc địa để phỏng vấn, tại đây, cảnh sát mật của Pháp chụp ảnh và bắt đầu tìm kiếm thông tin về danh tính thực của ông[9].

[sửa] Tham khảo

  • Hồ Chí Minh toàn tập, dẫn lại trong Đại cương lịch sử Vệt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, 2006.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Dương Trung Quốc, Nhân sự phá sản của Đề án 112, Báo Lao Động cuối tuần số 37 ngày 23/09/2007 (Xem được đến ngày 15/1/2008)
  2. ^ Duiker William, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000. tr. 57-58
  3. ^ Duiker, tr. 58
  4. ^ Bản tiếng Anh gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Robert Lansing
  5. ^ Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh
  6. ^ LÒNG YÊU NƯỚC, ÁNH SÁNG VÀ TINH THẦN QUỐC TẾ
  7. ^ Duiker, tr. 59
  8. ^ Một trong những bức thư đó, bức mà Nguyễn Ái Quốc gửi cho ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing, được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hoa Kì và có thể được đọc tại [1]. Bức thư này nguyên khởi được viết bằng tiếng Pháp, bản lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ là bản dịch tiếng Anh. Có thể coi nội dung tiếng Việt và tiếng Anh tại Thảo luận:Yêu sách của nhân dân An Nam
  9. ^ Duiker, tr. 60http://vi.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAu_s%C3%A1ch_c%E1%BB%A7a_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_An_Nam

Liên quan:
- Thực chất HCM
http://www.geocities.com/whoishochiminh/thuc_chat_cua_hcm1.htm

http://www.toquocth.com/inhalt/toiacVC/2.htm

http://www.toquocth.com/inhalt/toiacVC/8.htm
http://www.geocities.com/whoishochiminh/hcm_cai_chet_nong_thi_xuan.htm
- Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_M%E1%BA%A1nh_T%C6%B0%E1%BB%9Dng_%28lu%E1%BA%ADt_s%C6%B0%29 
ttp://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_M%E1%BA%A1nh_T%C6%B0%E1%BB%9Dng
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4412&rb=07
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4412&rb=07
- Yêu sách 1919
Bản lưu tại http://www.soc.ucsb.edu/projects/casemethod/beamish.html  chỉ có 7 điểm.
Nguồn:
http://www.soc.ucsb.edu/projects/casemethod/beamish.html
http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=8621
http://www.archives.gov/global-pages/larger-image.html?i=/historical-docs/doc-content/images/ho-chi-minh-telegram-truman-l.jpg&c=/historical-docs/doc-content/images/ho-chi-minh-telegram-truman.caption.html
http://arcweb.archives.gov/arc/action/ExternalIdSearch?id=305263
http://www.ena.lu/lettre-chi-minh-harry-truman-28-fevrier-1946-010702990.html (site chính phủ Pháp)

obj02990-hcm_truman1.jpg
Điện thư HCM gởi TT Mỹ Truman

March 15, 2008

Việt Nam phản đối báo cáo nhân quyền của Hoa Kỳ

DCVOnlineTin ngắn

Việt Nam phản đối báo cáo nhân quyền thường niên của Hoa Kỳ

HÀ NỘI, Việt Nam: Ngày 11/3/2008, trong bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền trên thế giới, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã nêu tên Việt Nam như một nước chưa đạt được những tiêu chí nhất định về vấn đề nhân quyền.

Bản báo cáo dài 52 trang về tình hình Việt Nam này cho biết, các quyền tự do cá nhân, tự do hội họp, tự do bầu cử ứng cử, tự do báo chí… ở Việt Nam vẫn chưa được tôn trọng. Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn độc quyền lãnh đạo trong khi các đảng phái khác bị cấm đoán.

Bản phúc trình cũng lên án Hà Nội trong việc trấn áp, bỏ tù những người bất đồng chính kiến, đán áp các hoạt động đối lập. Nhiều vụ xét xử trong năm qua đã không được công khai và công bằng như vụ xử Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trương Quốc Huy… Việc bắt bớ tùy tiện, không tuân thủ theo trình tự pháp luật không chỉ diễn ra với những người bất đồng chính kiến mà còn với dân oan, những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc…

Lê Dũng: “Ở Việt Nam, không có đàn áp chính trị, không có ai bị bắt vì lý do chính kiến, tôn giáo, chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định của Pháp luật Việt Nam.” Giấy mời của Tòa án Phúc thẩm

Bản phúc trình cũng than phiền về việc kiểm soát ngặt nghèo truyền thông và Internet tại Việt Nam, về điều kiện giam giữ và thăm nuôi đối với những người được cho là bất đồng chính kiến, về việc bạo hành đối với phụ nữ, việc mãi dâm trẻ em…

Lên tiếng về bản phúc trình thường niên này của Bộ Ngoại Giao Mỹ, ông Lê Dũng – phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam – cho hay: “Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn đưa ra những nhận xét thiếu khách quan dựa trên những thông tin định kiến, sai sự thật về tình hình thực tế ở Việt Nam.”

Ông nói tiếp: “Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc bảo đảm và phát huy ngày càng tốt hơn các quyền tự do của người dân trong mọi lĩnh vực, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin”

Ông cũng khẳng định: “Ở Việt Nam, không có đàn áp chính trị, không có ai bị bắt vì lý do chính kiến, tôn giáo, chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định của Pháp luật Việt Nam.”

© DCVOnline


March 14, 2008

Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992

Filed under: Hiến pháp, nói một đường làm một nẻo — tudo @ 4:19 pm

Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
(Năm 1992)

Lời nói đầu

Chương I: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam – chế độ chính trị
Chương II: Chế độ kinh tế
Chương III: Văn hoá-giáo dục-khoa học-công nghệ
Chương IV: Bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Chương V: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Chương VI: Quốc hội
Chương VII: Chủ tịch nước
Chương VIII: Chính phủ
Chương IX: Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân
Chương X: Toà án Nhân dân và Viện kiểm sát Nhân dân
Chương XI: Quốc kỳ- Quốc huy- Quốc ca- Thủ đô – Ngày quốc khánh
Chương XII: Hiệu lực của hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp

Lời nói đầu

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam. Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tiếp đó, suốt mấy chục năm, nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu, với sự giúp đỡ quý báu của bè bạn trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 7 năm 1976

Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất nước, kiên cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế.

Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.

Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.

Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chương I

Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam – chế độ chính trị

Điều 1

Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2

Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Điều 3

Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 5

Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

Điều 6

Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Điều 7

Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Điều 8

Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.

Điều 9

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.

Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.

Điều 10

Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 11

Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.

Điều 12

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.

Điều 13

Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật.

Điều 14

Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Chương II

Chế độ kinh tế

Điều 15

Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Điều 16

Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.

Điều 17

Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 18

Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.

Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.

Điều 19

Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Điều 20

Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.

Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

Điều 21

Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.

Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.

Điều 22

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ.

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Điều 23

Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.

Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.

Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Điều 24

Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Điều 25

Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.

Điều 26

Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.

Điều 27

Mọi hoạt động kinh tế, xã hội và quản lý Nhà nước phải thực hành chính sách tiết kiệm.

Điều 28

Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng.

Điều 29

Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.

Chương III

Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ

Điều 30

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục.

Điều 31

Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế giới.

Điều 32

Văn học, nghệ thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp của người Việt Nam.

Nhà nước đầu tư phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.

Nhà nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn học, nghệ thuật, khuyến khích các hoạt động văn học, nghệ thuật quần chúng.

Điều 33

Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.

Điều 34

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh.

Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh.

Điều 35

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 36

Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.

Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác.

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác.

Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.

Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

Điều 37

Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa học, công nghệ tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

Điều 38

Nhà nước đầu tư và khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, ưu tiên cho những hướng khoa học, công nghệ mũi nhọn; chăm lo đào tạo và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật nhất là những người có trình độ cao, công nhân lành nghề và nghệ nhân; tạo điều kiện để các nhà khoa học sáng tạo và cống hiến; phát triển nhiều hình thức tổ chức, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo với sản xuất, kinh doanh.

Điều 39

Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ.

Nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu số.

Nghiêm cấm tổ chức và tư nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh trái phép gây tổn hại cho sức khoẻ của nhân dân.

Điều 40

Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình.

Điều 41

Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân.

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao.

Điều 42

Nhà nước và xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế.

Điều 43

Nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao.

Chương IV

Bảo vệ tổ quốc việt nam xã hội chủ nghĩa

Điều 44

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định.

Điều 45

Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước.

Điều 46

Nhà nước xây dựng quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu trên cơ sở kết hợp xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, kết hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân với sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm với sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điều 47

Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.

Điều 48

Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.

Chương V

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Điều 49

Công dân nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.

Điều 50

ở nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.

Điều 51

Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.

Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.

Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 52

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Điều 53

Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 54

Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

Điều 55

Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.

Điều 56

Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.

Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

Điều 57

Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Điều 58

Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.

Điều 59

Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.
Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.
Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.

Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù hợp.

Điều 60

Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

Điều 61

Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.

Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.

Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.

Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

Điều 62

Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật. Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật.

Điều 63

Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.

Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật.

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.

Điều 64

Gia đình là tế bào của xã hội.

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.

Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.

Điều 65

Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

Điều 66

Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 67

Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.

Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.

Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.

Điều 68

Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

Điều 69

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Điều 70

Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

Điều 71

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.

Điều 72

Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

Điều 73

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.

Điều 74

Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.

Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.

Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Điều 75

Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 76

Công dân phải trung thành với Tổ quốc.

Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

Điều 77

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.
Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.

Điều 78

Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng.

Điều 79

Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

Điều 80
Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.

Điều 81

Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

Điều 82

Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình, hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.

Chương VI

Quốc hội

Điều 83

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Điều 84

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

2- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

3- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;

4- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

5- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước;

6- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

7- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng và an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

8- Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt;

9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

10- Quyết định đại xá;

11- Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

12- Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

13- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước;

14- Quyết định việc trưng cầu ý dân.

Điều 85

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm.

Hai tháng trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong. Thể lệ bầu cử và số đại biểu Quốc hội do luật định.

Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình.

Điều 86

Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập.

Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày bầu cử đại biểu

Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.

Điều 87

Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội.

Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định.

Điều 88

Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ các trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 7, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội quy định tại Điều 85 và sửa đổi Hiến pháp quy định tại Điều 147, thì phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua.

Điều 89

Quốc hội bầu Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội và căn cứ vào báo cáo của Uỷ ban mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội.

Điều 90

Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có:

- Chủ tịch Quốc hội;
- Các Phó Chủ tịch Quốc hội;
- Các ủy viên.

Số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới.

Điều 91

Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;

2- Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;

3- Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

4- Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao;

5- Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

6- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;

7- Chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội; 8- Trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

9- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và trình Quốc hội phê chuẩn quyết định đó tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

10- Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

11- Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

12- Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Điều 92

Chủ tịch Quốc hội chủ toạ các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.

Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.

Điều 93

Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét lại.

Điều 94

Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên.

Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số.

Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc.

Chủ tịch Hội đồng dân tộc được tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc.

Hội đồng dân tộc còn có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội quy định tại Điều 95.

Hội đồng dân tộc có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Điều 95

Quốc hội bầu các Uỷ ban của Quốc hội.

Các Uỷ ban của Quốc hội nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vị hoạt động của Uỷ ban.

Mỗi Uỷ ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Điều 96

Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và viên chức Nhà nước hữu quan khác trình bày hoặc cung cấp tài liệu về những vấn đề cần thiết. Người được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó.

Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời những kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.

Điều 97

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.

Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó.

Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.

Điều 98

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.

Điều 99

Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội.

Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định.

Điều 100

Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần thiết mà đại biểu yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu.

Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Chương VII

Chủ tịch nước

Điều 101

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

Điều 102

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.

Điều 103

Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

2- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh;

3- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

4- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

5- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá;

6- Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

7- Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

8- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

9- Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

10- Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định;

11- Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam;

12- Quyết định đặc xá.

Điều 104

Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ủy viên.

Chủ tịch nước đề nghị danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội phê chuẩn. Thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.

Hội đồng quốc phòng và an ninh động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc.

Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt.

Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 105

Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ.

Điều 106

Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 107

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch uỷ nhiệm thay Chủ tịch làm một số nhiệm vụ.

Điều 108

Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch.

Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.

Chương VIII

Chính phủ

Điều 109

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Điều 110

Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác. Ngoài Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.

Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ.

Điều 111

Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.

Điều 112

Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;

2- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;

3- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

4- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước;

5- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;

6- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;

7- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;

8- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

9- Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

10- Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

11- Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.

Điều 113

Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ mới.

Điều 114
Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp; chủ toạ các phiên họp của Chính phủ;

2- Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ; trình Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;

3- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

4- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên;

5- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;

6- Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.

Điều 115

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 116

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước, bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở.

Điều 117

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách.

Chương IX

Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân

Điều 118

Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định.

Điều 119

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

Điều 120

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước.

Điều 121

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước.

Điều 122

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước ở địa phương. Người phụ trách cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.

Điều 123

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Điều 124

Uỷ ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân.

Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Uỷ ban nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân và các văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó.

Điều 125

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Chương X

Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân

Điều 126

Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Toà án nhân dân

Điều 127

Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.

Điều 128

Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.

Chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân ở Toà án nhân dân các cấp do luật định.

Điều 129

Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.

Điều 130

Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Điều 131

Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.

Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 132

Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình.

Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Điều 133

Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.

Điều 134

Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự.

Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Toà án đó.

Điều 135

Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Chánh án Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân.

Điều 136

Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Viện kiểm sát nhân dân

Điều 137

Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định.

Điều 138

Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sư lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Việc thành lập Uỷ ban kiểm sát, những vấn đề Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định, những vấn đề quan trọng mà Uỷ ban kiểm sát phải thảo luận và quyết định theo đa số do luật định.

Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.

Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Điều 139

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Điều 140

Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Chương XI

Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca thủ đô, ngày quốc khánh

Điều 141

Quốc kỳ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

Điều 142

Quốc huy nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 143

Quốc ca nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.

Điều 144

Thủ đô nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.

Điều 145

Ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945 là ngày Quốc khánh.

Chương XII

Hiệu lực của hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp

Điều 146

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Điều 147

Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

—————————————————

Bản Hiến pháp này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nan khoá VIII, kỳ họp thứ 11 nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1992, hồi 11 giờ 45 phút.

Kịch bản “TỒI”, DIỄN VIÊN “DOOM”… VÀ NHẬN XÉT CỦA ĐẠO DIỄN TRẺ.

Câu chuyện xoay quanh bài phỏng vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng tải ngày 2 tháng 3 trên tờ Thời báo Tài chính của Anh (Financial Time) do hai cây bút kinh tế tài chính của tờ này là Amy Kazmin, phóng viên khu vực Đông Nam Á và Victor Mallet, biên tập viên khu vực châu Á thực hiện. (BBC đăng lại ở http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/03/080303_ftinterviewnguyentandung.shtml ) và bài viết : “Đất nước này là của ai?” của đạo diễn trẻ Song Chi đăng trên www.tapchidanchu.org ngày 10.3.2008.

Sân khấu lớn với diễn viên “miệt vườn” mới ra chợ.

Để “đánh bóng” hình ảnh chế độ độc tài toàn trị cộng sản Việt Nam và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến đi thăm và làm việc mới đây của ông ta tại 3 nước Tây âu là Anh, Ireland và Đức, nhà cầm quyền cộng sản đã bày trò cho ông Thủ tướng diễn kịch trên sân khấu mới ở trời Tây bằng cách cho ngài Thủ tướng Cộng Hòa XHCNVN trả lời phỏng vấn một tờ báo lớn và uy tín về kinh tế tài chánh của Châu Âu là Thời báo Tài chánh của Anh quốc Financial Time.

Nhưng với thực trạng nền kinh tế tài chánh Việt Nam đang suy sụp do chính sách độc tài toàn trị cả trong kinh tế chính trị xã hội phi dân chủ tại Việt Nam, cộng với “tài năng” thiểu phát và diễn kịch chẳng ra gì của vị Thủ tướng đương nhiệm đã làm cho nhiều người phải một phen xấu hổ và cười vỡ bụng khi đọc lại bài phỏng vấn này trên BBC.

Kịch bản “tồi”

Nền tài chánh Việt Nam đang suy kiệt nhanh chóng từ sau tết Mậu Tý và hậu quả diễn ra rất nghiệm trọng, nguy cơ có thể kéo theo một sự sụp đổ nhanh chóng của nền kinh tế “phi dân chủ” trong thời gian tới. Với tốc độ lạm phát nhanh, trong một thời gian rất ngắn đạt trên 50% đã làm cho đời sống của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam hụt hẩng và đang bị lâm vào vòng túng cùng , kéo theo sự đe dọa tương lai của cả nền kinh tế và chính trị phi dân chủ còn sót lại trong thế kỷ 21 này.

Vậy mà giọng điệu cộng sản quen thuộc “nói dối” với nhân dân nay lại được nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đem ra diễn tiếp ở một diễn đàn rộng lớn hơn là quốc tế, và do chính người cầm đầu chính phủ công sản với bản chất cố hữu là “mỵ dân” diễn xuất thì đã bị lật tẩy ngay và sớm “hạ tuồng”.

Bản chất cộng sản phi dân chủ ngàn đời không thể sửa

Không dám nhìn nhận sai trái, cố ý qua mặt, mỵ dân là điều cố chấp nguy hại nhất của một thể chế cầm quyền quốc gia.

Chạy theo thành tích để khoe khoang, khoát lác với dân trong nước và nước ngoài là điều nguy hại tiếp theo.

Đó chính là sự thật, là mặt trái, là điều dối trá của một chính phủ phi dân chủ, coi dân không ra gì, bưng bít mọi thông tin, bóp chết những sự thật trái với ý đảng CS.

Bất chấp mọi khuyến cáo đúng đắn, chính xác và có trách nhiệm của những cá nhân và tổ chức góp ý xây dựng đất nước và xã hội. Bằng mọi cách che giấu sự thật xấu xa bên trong, và quen thói “đổ thừa” mỵ dân . Tất cả đó cộng lại là dấu hiệu báo trước một sự sụp đỗ tan nát sẽ xảy đến.

Mọi thứ đều ẩn chứa tham nhũng và vịn vào quyền lực thối nát để lừa mỵ cả thế giới

Hai điều đã bị che giấu và lấp liếm rõ nhất làm cho nền tài chánh quốc gia suy kiệt và lạm phát ở Việt Nam là :

Thâm thủng chi tiêu ngân sách và thâm thủng mậu dịch vượt quá xa nền tài chính và kinh tế cho phép, đó đang là món mồi ngon để tham nhũng, là sai lầm không thể tha thứ.

Mức thâm thủng chi tiêu ngân sách và thâm thủng mậu dịch của chính phủ tạo ra đã lên đến hơn lên gấp đôi mức “giới hạn đỏ” mà các chính phủ không bao giờ dám để xảy ra. Vậy mà chính phủ Việt Nam cứ phây phây và giấu đút, phớt lờ, coi như không có chuyện gì xảy ra??? Một kiểu mỵ dân rất trơ trẻn trong thời đại ngày nay.

Sự thật ở Việt Nam thân thủng chi tiêu ngân sách không nằm ở các khoản chi ngân sách cho phúc lợi xã hội, lương bổng. Trái lại các khoản chi này ngày một giới hạn thắt chặc hơn. Nhất là đồng lương của hai giới công chức chiếm số đông trong xã hội là công chức ngành giáo dục và y tế ngày càng tệ hại hơn, đời sống và thu nhập sa sút đã vắt kiệt thể xác và tinh thần.

Và đầu tư cho các lĩnh vực này cũng bị nhà nước cộng sản phớt lờ chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ với xã hội, với toàn dân. Thậm chi gian manh hơn cố tình đùn đẩy và phịa ra cái gọi là “xã hội hóa” để đẩy trách nhiệm cho người khác làm?

Thâm thủng lớn hơn nữa trong chi tiêu ngân sách một cách vô tội vạ là chi những khoảng chi cực lớn cho các dự án gọi là để xây dựng, phát triển kinh tế xã hội .

Nhà nước ta (cộng sản) rất vui vẻ, rất hào phóng và chi rất thẳng tay, thả cửa cho các dự án được nhà nước trực tiếp hoặc đứng sau lưng xúi giục các doanh nghiệp tiêu cực đồng lõa vẽ ra.

Với mục đich chính là tham nhũng từ những dự án này. Nhiều dự án được đua nhau phê duyệt từ cấp trung ương đến tỉnh huyện và cả xã, thông qua khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật, chưa đủ vốn, cũng được thông qua tuốt luốt.

Lý do khi thông qua dự án là đã có tiền tham nhũng ngay, mà không cần biết dự án đúng sai, thực hiện ra sao là chuyện của kẻ khác, không cần biết. Thói vô trách nhiệm.

Dân nào chọn lựa cộng sản đâu mà ngài Thủ tướng nói bậy vậy ngài, nói mà không biết xấu hổ, không biết ngượng mồm, không biết sĩ diện là gì vậy ngài.

Nến ngài Thủ tướng nói 3 triệu đảng viên cộng sản VN chấp nhận chính thể CS phi dân chủ còn sót lại trong thế kỷ này còn có thể nghe được chút xíu !

Hàng triệu Phật giáo đồ, hàng triệu tín đồ Công giáo, hàng triệu tín đồ Phật giáo Hòa hảo, hàng triệu tín đồ Cao đài giáo, hàng triệu triệu dân oan là nông dân, hàng triệu triệu công nhân đang đói khổ trong các khu công nghiệp, hàng triệu triệu con em là nạn nhân của đấu tố ruộng đất, của tập đoàn hợp tác xã ở miền nam, hàng triệu viên chức chế độ Cộng hòa miền Nam, hàng triệu triêu con cháu của nạn nhân chiến dịch X1, X2 đánh tư sản ở miền Nam và cả miền Bắc sau 1954.

Xim mời ngài Thủ tướng cộng lại sơ sơ coi có khoảng bao nhiêu người dân không ưa thích đảng và chính thể CS của ngài hiện nay.

Chỉ xin ngài hảy tỉnh táo, khôn ngoan hơn, biết mình đang ở đâu, biết người ta là ai mới may ra còn tồn tại. Còn không thì vận mệnh của đất nước và dân tộc sẽ do toàn dân đinh đoạt theo ý nguyện của toàn dân tộc mà đảng CS của ngài không thể can thiệp được đâu.

Phần 2 : Nhận xét của đạo diễn trẻ Song Chi và của các “diễn viên” quần chúng khác…

về kịch bản tồi và diễn viên dzỏm.

TS. Trần Minh Hoàng

Saigon 14.3.2008

March 13, 2008

Khi những công dân chống tham nhũng bị đàn áp (Điếu cày & Chông Tre)

Đề tài: Hồ sơ Tham Nhũng
Photobucket - Video and Image Hosting

Khi những công dân chống tham nhũng bị tham nhũng đàn áp
Điếu Cày & Chông Tre

“… Chính quyền không phải là xã hội đen nên không thể để nhân dân nghĩ rằng chính quyền lập “bẫy” hại dân …”

Phạm Đỉnh: Trong những tuần lễ qua, có một sự kiện được thông tin trên một vài trang báo điện tử cá nhân (blog) nhưng hoàn toàn không thấy xuất hiện trên các tờ báo do nhà nước kiểm soát chỉ đạo.

Đây là một cuộc khiếu kiện tập thể của khoảng 40 công dân thuộc thành phần lạo động nghèo, có những người là con cháu những gia đình nuôi giấu cán bộ “cách mạng” trong thời chiến tranh. Do tình hình đất đai đang biến chuyển mạnh theo chiều công nghiệp hoá của thành phố, những gia đình thuộc vùng bưng sáu xã “anh hùng” năm xưa nay chịu cảnh mất đất mất nhà. Những công dân này đã tổ chức khiếu kiện tập thể, mong được chính quyền địa phương giải quyết. Để đối phó với tập thể mấy chục công dân này, chính quyền Quận 9 (Tp. HCM) đã dùng lực lượng công an hùng hậu trấn áp họ, quy tội họ là những tội đồ nguy hiểm…

Trường hợp những “dân oan” mới này thật là những điển hình mới của một bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam trong thời lội ra biển lớn hôm nay.

Mời bạn đọc theo dõi sự kiện mới mẻ này qua tổng hợp một số bài trên các blog báo điện tử cá nhân

Ngày 24/10/2002 Thủ tướng CP ra quyết định thành lập khu công nghệ cao (CNC) tại quận 9, Tp HCM. Đầu năm 2003, ban bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) quận 9 bắt đầu đo đạc, kiểm kê, chuẩn bị công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để giao đất cho Ban quản lý dự án khu CNC. Điều gây tranh cãi gay gắt giữa nhân dân và chính quyền là cho đến lúc đó dự án khu CNC vẫn chưa có bản đồ quy hoạch được Thủ tướng CP phê duyệt, phương án khả thi chưa được hội đồng thẩm định quốc gia phê chuẩn, chưa có quyết định thu hồi đất của Thủ tướng. Trong khi đó thì UBND Tp HCM vội vã ra quyết định thu hồi đất trước khi Thủ tướng CP cho phép.

Bên cạnh đó, chính sách bồi thường của chính quyền tại dự án này rất bất hợp lý. Khu CNC thành lập năm cuối năm 2002 mà chính quyền vẫn cố tình ra các phương thức bồi thường trên cơ sở của luật đất đai 1993. Từ đó có thể dể dàng nhận thấy quyền lợi của người dân bị thu hồi đất thiệt hại nghiêm trọng. Về giá bồi thường thì quá thấp so với giá thị trường, tái định cư thì người có người không, hỗ trợ chuyển đổi nghành nghề thì nhiều người bị “quên”,… Và còn nhiều bất cập khác nữa.

Nhiều người dân không chấp nhận chính sách bồi thường gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của họ đã được luật pháp bảo hộ. Họ bắt đầu khiêu nại khiếu kiện chính quyền. Lúc đầu thì còn đơn lẽ, về sau càng ngày càng đông. Khoảng giữa năm 2006 thì nhân dân lập đền thờ Hồ chủ tịch tại khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9. Danh sách những người dân sáng lập đền thờ có khoảng hơn 500 người ký tên. Đền thờ ngày nằm trong khuôn viên quán cà phê Ghi ta, chủ quán cũng là người cùng hoàn cảnh nên cho mượn đất lập tạm. Nhân dân dự định sau này xong xuôi mọi chuyện sẽ xây cất nghiêm trang tề chỉnh hơn. Tại nơi này, người dân được nhiều anh em trí thức hiểu biết về luật pháp chỉ dẩn đường đi nước bước theo luật định để bà con có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong khuôn khổ pháp luật. Bằng cách thức nghiên cứu luật pháp, bà con đã khiếu kiện một cách tuần tự từ quận 9 đến Hà Nội. Chưa một cấp nào có thể trả lời giải quyết khiếu nại của bà con một cách rốt ráo, đúng theo pháp luật. Không phải vì người dân giỏi, mà vì cách thức chính quyền làm việc tại dự án khu CNC đã “lỡ sai” quá nhiều. Cán bộ chính quyền thì kiên quyết bảo thủ, không ai chịu nhận ra những sai lầm để sửa chữa. Cho nên, mọi việc ngày càng rối.

Ngày 22/11/2007 là ngày tiếp dân hàng tuần của lãnh đạo UBND quận 9. Hôm đó có nhiều bà con muốn ra quận để xin gặp lãnh đạo quận vì nhiều lý do như: đơn khiếu nại không được giải quyết đúng hạn theo luật định; tái định cư không hợp lý; tiền tạm cư bị cắt khi chưa có chổ tái định cư,…. Trong vòng một tuần trước đó bà con cũng đã nói cho anh em an ninh – lực lượng chính trị nòng cốt của chính quyền quận 9, những người luôn luôn bám sát nhân dân từ khi nhân dân bắt đầu kiện chính quyền, ăn lương của nhân dân thì rõ nhưng có phục vụ nhân dân hay không thì chưa rõ – biết là bà con sẽ đến UBND quận để gặp lãnh đạo với các lý do như trên. Những tưởng như mọi lần trước, anh em an ninh sẽ báo cho lãnh đạo quận biết trước nội dung để chuẩn bị tinh thần tiếp bà con cho hiệu quả. Nào ngờ lần này lại khác, nhiều gian nan đang chực chờ sẳn.

Ảnh lãnh tụ không cứu nổi chị Trang

Sáng hôm đó, khi vừa mở cửa thì có khoảng 20 thanh niên lạ mặt vào quán ca phê Ghi ta uống ca phê. Khoảng 10 phút sau thì có thêm vài tốp khách lạ. Nhiều người dân nhận ra trong số thanh niên này có những người làm nghề bốc mộ ở trường bắn Long Bình, một số người là lính của phường đội, lính của quận đội quận 9 mặc đồ civil uống ca phê và theo dõi động tĩnh của bà con.

Khoảng 7 giờ sáng thì nhiều người dân đến đền thờ đốt nhang như thường lệ, Một số người vô sau cho biết ngoài đường Lê Văn Việt có rất nhiều CA, AN, dân phòng,… bố trí từ ngã tư xa lộ Hà Nội 9 đến đền thờ Hồ chủ tịch ( khoảng 3 cây số), trước cổng đền thờ có rất nhiều xe của CSGT. Như vậy có thể thấy là chính quyền đã có ý định quyết tâm ngăn cản việc bà con lên quận gặp lãnh đạo, điều này vi phạm nghiêm trọng luật khiếu nại tố cáo.

Khoảng 8 giờ thì bà con bắt đầu đứng dậy đi ra UBND quận 9. Có tất cả khoảng chừng 40 đến 50 người. Có người mang theo ảnh Hồ chủ tịch, có người mang theo cờ nước, nhiều người mặc bà ba đen, khăn rằng quấn cổ, nón tai bèo,…

Khi bà con bắt đầu đi thì đám thanh niên lạ mặt cũng đi theo và có ý muốn chặn bà con lại nhưng không dám vào chặn. các lực lượng có đồng phục chặn bà con lại nhưng mọi người vẫn lách qua đi ra đường Lê Văn Việt, nơi có bến xe buýt số 55 thường xuyên có khoảng 4-5 chiếc đậu ở bến, nhưng hôm đó thì không có chiếc nào. Nhiều bà con vẩy đón xe buýt khác nhưng xe không dừng, có người nói rằng CSGT không cho xe dừng đón bà con. Vì từ đền thờ Hồ chủ tịch đến trụ sở UBND quận 9 khoảng 3 cây số nên mọi người thấy không có xe thì đi bộ.

Lúc này lượng của chính quyền rất đông, đông gấp nhiều lần số người dân, có người ước lượng tính có khoảng 400 nhân viên công lực đủ thành phần. Có thêm hai xe phóng thanh kêu gọi người dân giải tán, và nhiều xe đặc chủng khác. Sự náo loạn và lộn xộn là do xe của CA tạo ra. Trên đường đi bộ ra quận nhiều lần CA ngăn chặn bà con lại tại nên cảnh lộn xộn và rối loạn.

Ra đến UBND quận 9 thì trụ sở UBND quận 9 đón tiếp nhân dân bằng cách khoá cổng lại bằng một ống khoá thật to và toàn bộ nhân viên chính quyền ở bên trong, không ai tiếp xúc với người dân, cũng không có thông báo không tiếp dân, để mặc nhân dân ở ngoài đối phó với các lực lượng công an. Lúc này có mấy người dân căng băng rôn yêu cầu chủ tịch quận phải tiếp dân. Nhưng cũng không có tác dụng gì.

Bao giờ cho đến… ngày xưa?

Trong khi đó thì hai xe phóng thanh càng phát những lời kêu gọi mang tính kích động mọi người dân, nêu tên một số người là kẻ xấu kích động xúi giục mọi người, đừng tin họ. Bị người dân phản đối kịch liệt nên hai xe phóng thanh phải im lặng.

Một lát sau thì có nhiều thanh niên lạ mặt nhào vô giựt cờ nước, băng rôn, ảnh Hồ chủ tịch. Bà con giành giựt và đuổi đánh bọn chúng. Công an quận 9 dùng bốn máy quay phim quay lại cảnh này làm bằng chứng cáo buộc những người dân tội gây rối trật tự công cộng. Trong khi thực sự họ chỉ muốn bảo vệ băng rôn, cờ nước và ảnh Hồ chủ tịch.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút thì mọi người giải tán vì biết chắc lãnh đạo quận 9 không mở cửa tiếp dân.

Sau ngày hôm đó thì có tin CAQ9 lập chuyên án buộc tội một số người dân với danh gây rối trật tự công cộng. Đến ngày 27/02/2008 thì VKSQ9 phê duyệt lệnh bắt tạm giam để điều tra một số người. Và tiếp theo là đêm khủng bố 2/3/2008, CAQ9 đã bắt giam những người dân vô tội như những kẻ thù đặc biệt nguy hiểm của chính quyền, tạo nên một cơn sốc mạnh đối với niềm tin của nhân dân vào chính quyền. Dư luận người dân cho rằng vì không “thắng” được nhân dân về lý lẽ nên chính quyền quận 9 tìm cách dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân bằng cách gây mất trật tự để “bẩy” nhiều người qua tội “gây rối trật tự công cộng”. Đồng thời ai cũng cho rằng chính quyền thực hiện việc bắt bớ ban đêm mang tính trấn áp nhằm khủng bố tinh thần của người dân.

Các vấn đề đặt ra để kết luận những người bị bắt là vô tội như sau:

1. Ngày 22/11/2007 là ngày tiếp dân của UBND quận 9, người dân đến UBND quận 9 để yêu cầu gặp lãnh đạo là hợp pháp.

2. Người dân không dự định đi bộ biểu tình từ đền thờ Hồ chủ tịch, vì CA ngăn không cho xe buýt đón người dân nên mọi người phải đi bộ.

3. Số người dân đi kiện chỉ khoảng 40-50 người, trong khi đó số lượng nhân viên công vụ các loại lên đến 400-500. Như vậy số đông gây mất trật tự là nhân viên công vụ, không phải người dân.

4. Trên đường đi nhân viên công vụ nhiều lần cản trở người dân, tạo ra các pha kẹt xe, ùn tắc giao thông. Người dân đi trong trật tự.

5. Đến trước UBND quận 9, vì UBND quận 9 không mở cửa tiếp dân nên người dân phải đứng ở ngoài. Mọi sự ồn ào là do số lượng quá đông nhân viên công vụ, do hai xe phóng thanh kích động người dân phản ứng. Người dân chỉ đứng trong trật tự.

6. Những kẻ giật xé cờ, băng rôn, ảnh Hồ chủ tịch là ai? Nhiều người dân cho rằng đây là bọn côn đồ được ai đó sắp xếp len lỏi vào quấy rối trật tự. Vậy ai là kẻ chủ mưu sắp xếp để hại người dân? Công an có điều tra làm rõ không? Mọi sự lộn xộn bắt đầu từ bọn côn đồ này, công an đã bắt giam bọn chúng chưa?

7. Nếu không có sự ngăn chặn của các lực lượng công vụ của chính quyền quận 9 thì chắc chắn không có việc gì lộn xộn mất trật tự cả. Người dân chỉ đến gặp lãnh đạo quận theo luật định và về trong trật tự. Vậy trách nhiệm chính gây nên mọi hỗn độn mất trật tự, gây rối trật tự công cộng thuộc về các lực lượng công vụ quận 9, mà chủ yếu là công an quận 9.

Trên các cơ sở đó, chúng tôi nhận thấy rằng công an quận 9 cần phải phóng thích trả tự do ngay lập tức những người dân bị bắt oan trong đêm 2/3/2007. Mọi việc làm của chính quyền phải lấy mục tiêu phục vụ nhân dân làm trọng. Chính quyền không phải là xã hội đen nên không thể để nhân dân nghĩ rằng chính quyền lập “bẫy” hại dân. Những người bị bắt là những người dân đều bị hoàn cảnh bất công khi nhà nước thu hồi đất cho dự án khu CNC. Họ chỉ có một động cơ duy nhất là đòi lại sự công bằng cho chính gia đình họ và bà con xóm giềng của họ. Họ là cốt lõi của chính quyền, đừng để họ trở nên đối kháng với chính quyền. Sai lầm lớn nhất của bất kỳ chế độ nào là làm mất niềm tin của nhân dân đối với chế độ đó. Khi nhân dân không còn niềm tin vào chính quyền hiện tại thì họ sẽ trông chờ, hoặc hành động cho một sự thay đổi là điều hiển nhiên.

Cuộc vây bắt “tội phạm nguy hiểm”? – Chứng từ của một công dân

Chính quyền đã bắt dân oan Q9 như bắt những tội phạm nguy hiểm

Đêm 02/03/2008, lúc 21 giờ, Chính quyền quận 9 đã tung 5 cánh quân hổn hợp hùng hổ lùng bắt những người dân oan khiến kiện ở dự án công nghệ cao (CNC) như những tội phạm cực kỳ nguy hiểm.

Người đầu tiên bị bắt có lẽ là anh Lưu Quốc Luân, CA Q9 phải qua tận Nhơn Trạch, nơi anh mới cất nhà sinh sống sau khi bị quy hoạch do khu CNC ở Q9. Theo người nhà anh kể lại thì CA đến khoảng hai mươi người, nghe chó sủa anh tưởng khách, anh vùa mở cửa thì CA ập vào vật anh xuống còng tay khoá thúc ké rồi đọc lệnh bắt. Sau đó họ lục soát nhà anh lấy đi một số đơn từ khiếu kiện, đĩa CD, một bộ đồ bà ba đen, khăn rằng, nón tai bèo. Anh bị bắt nhưng vẫn vui vẻ, bình tĩnh, không có thái độ chống đối hay chửi mắng.

Người thứ hai là anh Nguyễn Anh Tuấn, anh đang uống cà phê ở nhà một người bạn thì CA ập đến còng tay đọc lệnh bắt. Sau đó họ chở anh về nhà rồi khám xét nhưng không thu giử gì cả.

Người thứ ba là ông Nguyễn Văn Năng, một giáo dân hiền lành, đang đau tim nặng. Khi CA đến, biết mình bị bắt nên ông bình tĩnh tuân theo lệnh bắt. Sau khi khám xét nhà nhưng không thu giử gì cả họ dẫn ông về trụ sở CA quận 9. Trước khi đi ông xin hôn từ biệt hai bà mẹ già trên 90 tuổi và vợ rồi vui vẽ ra đi, nhẹ nhàng như những lần vào bệnh viện trị bệnh đau tim.

Người thứ tư và thứ năm bị bắt là hai chị em bà Nguyễn thị Dung và Nguyễn thị Thơ. Họ cũng bị bắt trước sự ngơ ngác của những đứa con thơ dại. Bà Nguyễn thị Dung có ba đứa con nhỏ, bà Thơ hai đứa.

Những “tội phạm” (?) nguy hiểm cho ai?

Người thứ sáu là chị Vân, chị bị bắt khi đang ở nhà với hai con nhỏ, chồng đi vắng, khi chồng chị về thì họ đã dẫn chị đi.

Người thứ bảy là chị Trang, CA ập vào căn nhà trọ tồi tàn của chị rồi khoá tay chị dẫn đi trước những tiếng la hét khóc lóc của bốn đứa con của chị.

Người thứ tám là bà tư Hảo, CA ập vào nhà khoá tay bà một cách nhanh chóng, nhưng gặp phải sự phản đối của gia đình quyết liệt nên họ không dẩn đi được ngay. Theo một nhân chứng kể lại thì bà tư Hảo còn hỏi:” tôi tội gì mà các đồng chí bắt tôi như tội phạm nguy hiểm thế này? Muốn gì sao không để ban ngày gọi tôi lên CA quận rồi bắt? đất đai tài sản của tôi ở đây thì tôi trốn đi đâu?”. Tội nghiệp, bà là mẹ của bốn đứa con đều là đảng viên CS, chồng bà là sĩ quan đặc công hồi trước, cũng là đảng viên. Bản thân bà là một nhà giáo mẫu mực. Ngày nay vì khiếu kiện mà bị bắt như một tội phạm nguy hiểm. lực lượng hổn hợp đến nhà bà đông nhất, trên dưới trăm người. Có lẽ họ sợ ông tư Hảo giỏi võ đặc công chăng? bị bắt mà bà vẫn xưng hô với CA là “các đồng chí” như trong hội nghị đảng. Khi CA dẩn bà đi con cháu bà nhào vô giành giựt với CA. Nghe nói họ còn đang lùng bắt con trai lớn của bà là anh Biền vì đã chống lại họ.

Người thứ chín bị bắt tàn nhẫn nhẫn nhất là anh Hoà, anh không biết mình nằm trong tầm ngắm của CA nên khi nghe bà tư Hảo bị bắt, bỏ dỡ bát cơm đang ăn anh chạy xuống an ủi gia đình ông tư Hảo. Sau khi CA dẩn bà tư Hảo ra xe, họ quay vào nhà ông tư Hảo, lừa gọi anh Hoà ra rồi hơn hai mươi người bao vây quanh anh đè anh ập xuống còng tay. Vì anh rất khỏe và bị bất ngờ nên anh thét lên rồi vùng dậy, nhưng CA như đàn sói vây kín hổ nên anh cũng nhanh chóng bị không chế rồi đưa về nhà anh khám xét. Lúc này đã gần 12 giờ khuya, vợ và ba con anh đang ngủ bị dựng dậy, chị Hoà và hai con lớn quá bất ngờ nên khóc lu loa, đứa nhỏ đang bồng trên tay thì gật gà chưa tỉnh. Cảnh tình thật thê lương.

Đêm 02/03/2008, một không khí khủng bố bao trùm màn đêm vùng bưng sáu xã. Cảnh tượng không khác gì thời chiến tranh.

Tất cả những người bị bắt điều là dân địa phương. gia đình họ là cộng sản gốc. Nay chỉ vì đấu tranh đòi công băng khi nhà nước lấy đất của họ làm khu CNC đền bù không thỏa đáng mà bị CQ lùng bắt như tội phạm nguy hiểm. Thật đẹp cho xã hội này.

Các người dân bị bắt đều có liên quan đến vụ việc người dân quận 9 biểu tình vào ngày 22-11-2007. Người dân Khu công nghệ cao quận 9 cho rằng đây là một cách thức trấn át bằng bạo lực của chính quyền. Họ kêu gọi mọi sự giúp đỡ hỗ trợ từ khắp nơi và bằng mọi cách thức của công luận, của giới Luật sư, Luật gia trước tình thế khó khăn hiện nay. Họ nói ngay sáng mai sẽ cử người đến Đoàn Luật sư Tp.HCM hoặc các văn phòng hỗ trợ pháp lý khác để xin được hỗ trợ vì hầu hết người dân bị bắt đều là dân nghèo, có hoàn cảnh hết sức khó khăn.

Anh Minh có vợ là chị Trang bị CA quận 9 bắt ngày 2/3/2008 kể lại với tôi cảnh CA vào bắt vợ anh như sau:

Ngày 2/3/08 sau khi ăn bữa cơm tối của gia đình xong vợ chồng tôi cùng 4 đứa con chuẩn bị đi ngủ thì CA quận 9 đến tận nhà trọ để bắt vợ tôi là Dương Thanh Trúc. Lúc đó là 9 giờ 20 phút tối, có khoảng 30 người là CA bao vây phòng trọ vợ chồng tôi. Vợ tôi lúc đó trên người chỉ có một bộ đồ ngủ, không có đồ lót. Hai anh CA chấn xô tôi vào góc tường. Tôi nói các anh muốn bắt thì cứ bắt nhưng phải để vợ tôi mặc đồ vô chứ ăn mặc vầy coi sao được nhưng họ vẫn phớt lờ. Tôi nói các anh cứ còng tay tôi và con tôi đi chứ vợ tôi có trốn đâu mà sợ. Họ xô đẩy 4 đứa con tôi ra đường trong khi đó đứa con gái út của tôi năm nay vừa tròn bốn tuổi đã không thể chịu nổi cảnh mẹ bị bắt nên ngất sỉu ngoài đường. Tất cả người dân trong khu phòng trọ ra coi. Tiếng khóc trẻ con hoà vào câu hỏi tại sao vợ tôi bị bắt.

Tôi nói với các anh CA nếu là CA phải biết luật vậy tại sao bắt người mà không đọc lệnh bắt, lúc đó họ mới lấy giấy ra đọc.

Trong khi 4 đứa con tôi còn quá nhỏ chưa đứa nào đủ tuổi kiếm tiền phụ giúp gia đình. Con tôi quá nhỏ vợ chồng tôi phải kiếm tiền nuôi các con ăn học.

Nay vợ tôi bị bắt. Một mình tôi không thể lo hết mọi việc trong gia đình. Vã lại tôi là chồng cha đâu thể lo cho các con chu đáo như một bà mẹ. Nhà tôi bị mất đất và đi chống tham nhũng mà bị bắt là lí do như thế nào?

Nay gia đình tôi rất mong sự giúp đỡ của mọi người. Cám ơn”. [*]

Lạm dụng quyền lực?

Tôi phẫn nộ khi đọc những dòng trên. Không bàn về việc chị Trang có hành vi phạm tội hay không, phạm tội gì và mức độ phạm tội đến đâu; nhưng trong cái cách mà người ta “thi hành công vụ” đối với chị thì rõ ràng chị bị đối xử như một tên-cướp-của-giết-người-nguy-hiểm-đã-từng-có-thành-tích-chống-người-thi-hành-công-vụ cần phải dùng bạo lực khống chế ngay lập tức, chớ không phải là một phụ nữ nông dân bình thường, nên chị phải bị “bao vây”, “chấn xô” người nhà “vào góc tường”, không cho mặc quần áo kín đáo đàng hoàng dù thời tiết lạnh, không được mang theo dồ dùng cá nhân.

Ai cũng biết rằng vào khoảng thời gian này Sài Gòn trời trở lạnh, nửa đêm về sáng rét cóng tay chân. Trâu bò ở miền núi phía Bắc đều phải được đốt lửa sưởi, mặc thêm áo để chống rét. Buổi tối đi ngủ tôi phải mặc thêm chiếc áo khoác vừa to vừa dài may bằng vải ni-lông dù của Hàn Quốc để chống lạnh, nếu không sáng hôm sau sẽ biết thế nào là “viêm họng”. Một phụ nữ đã có 4 mặt con và lớn tuổi như chị Trang chắc chắn sức khỏe của chị không thể bằng tôi được; nhưng chị đã bị lôi đi chỉ với bộ quần áo ngủ mỏng manh trên người. Tôi dám khẳng định rằng trong phòng giam chị không hề có giường, gối, chăn, mền, càng không có thêm bộ quần áo ấm nào cho chị.

Lướt lại các trang báo đã đưa tin về việc chống tham nhũng thời gian gần đây, hình ảnh thi hành lệnh bắt các tên “sâu dân mọt nước” như Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến (đã có án tù) cho đến Trần Văn Khánh – nguyên Tổng GĐ TCông ti Vật tư Nông nghiệp (Vietnamnet, ngày 11/12/2007), Trần Xuân Đính – nguyên TGĐ TCông ti Miền Trung Cosevco cùng 6 cộng sự là Hoàng Công Uyên, Đặng Ngọc Thành, Hồ Sĩ Quảng, Nguyễn Anh Dũng, Lê Chơn, Nguyễn Cảnh Thương… (Lao Động, ngày 29/2/2008) do Cục C37 Bộ Công an thực hiện, các bị can tuy bị còng và dẫn giải đi nhưng đều được ăn mặc kín đáo, đàng hoàng, được cầm theo túi nhựa đựng vật dụng cá nhân.

Điều 52 Hiến pháp quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Tôi cho rằng cán bộ Cục C37 đã cư xử văn minh, đúng mực, đúng pháp luật. Đối với những kẻ góp phần đắc lực biến tham nhũng thành “quốc nạn”, gây thiệt hại cho ngân sách hàng tỷ tỷ đồng mồ hôi nước mắt của người dân, trực tiếp làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước XHCN, là một trong 4 nguy cơ làm sụp đổ chế độ XHCN (Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhận định) thì tính chất hành vi phạm tội của họ nguy hiểm hơn hành vi của chị Trang gấp nhiều lần; nhưng vẫn được đối xử như một con người thì không lý gì việc đấu tranh do bị mất đất, mất nhà (nếu cho là quá đáng) lại bị đối xử thua con vật.

Thiết nghĩ, những người thi hành lệnh bắt chị Trang không hiểu nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72 Hiến pháp) hay họ cố tình lạm dụng quyền lực được giao để thoả mãn ý thích cá nhân đối với một phụ nữ tay không tấc sắt? Không hiểu chức năng, vai trò, vị trí, quyền hạn của mình hoặc hiểu mà vẫn cố tình lạm dụng quyền lực, thì trường hợp nào họ cũng không xứng đáng ngồi ở vị trí thay mặt cơ quan công quyền thực thi pháp luật.

Hành vi độc ác đó không làm cho Nhà nước này tăng thêm uy tín mà chỉ làm cho tình hình thêm tồi tệ, gây thêm lòng căm phẫn trong lòng người nhà các bị can. Nếu trước kia, việc đấu tranh của vợ chồng anh Minh, chị Trang chỉ giới hạn ở con số 2 người, thì giờ đây, với lối hành xử phi nhân tính ấy đối với người thân của họ, con số ấy có nguy cơ sẽ tăng thêm gấp 3 lần, tức được cộng thêm 4 người con.

Chúng tôi là nạn nhân

Sáng nay trong khi ngồi chờ tin tức của thân nhân các anh Luân, Tuấn, Năng, Hoà thì có một người dân cũng bị mất đất do dự án khu CNC than thở: “Chúng ta là nạn nhân của bọn tham nhũng”. Ông này đã từng là một cán bộ nhà nước, hiện đã về hưu. Trước đây ông cũng muốn tham gia đấu tranh cùng bà con nhưng vì là đảng viên nên ông ta rất ngại. Nay trước việc chính quyền bắt bớ nhiều người dân vô tội hòng làm tan rã ý chí tranh đấu của nhân dân, ông nói phải quyết tâm cùng bà con tranh đấu cho lẽ phải.

Chúng tôi là nạn dân

Khi xuống Chí Hoà tìm các anh Năng, Tuấn, Luân, Hoà, người thân các anh rất phẫn nộ vì danh sách ghi các anh là “phạm nhân”.

Họ phẫn nộ là phải bởi họ chỉ là nạn nhân của bọn tham nhũng, bọn người lợi dụng danh nghĩa lợi ích nhân dân-lợi ích quốc gia để mưu cầu lợi ích các nhân bằng cách thu hồi đất của nhân dân với giá rẻ mạt, họ không phải là “phạm nhân”. Với chúng tôi, họ là những con người dũng cảm dám đứng lên chống lại áp bức bất công, đòi lại công bằng cho những người dân bị thu hồi đất tại dự án khu CNC quận 9, tp HCM. Mai này khi chính sách của nhà nước phải thay đổi thì đó là kết quả của những tháng ngày tranh đấu đầy gian khổ này.

Hai năm qua tranh đấu không ngừng, bước đầu chính sách của chính quyền đã phải bồi thường thêm cho người dân bị thu hồi đất 160.000đ một mét vuông đất ruộng, trước đây chỉ có 150.000đ, nay thành 310.000đ. Như vậy là đã đúng với giá thị trường. Đối với đất trong khu dân cư thì chưa có gì mới bởi đây là bài toán khó giải, giá trị đền bù sẽ tăng gấp hàng chục lần so với dự định ban đầu của chính quyền. Sự thay đổi chính sách của nhà nước có tác dụng chung cho tất cả mọi người bị ảnh hưởng bởi dự án khu CNC, không riêng những người đi khiếu kiện. Hơn 4.000 hộ dân bị ảnh hưởng, chỉ có 781 đơn kiện. Nhiều người dân đi không đi khiếu kiện, ở nhà “trùm chăn”, cũng được hưởng chung chính sách, được đền bù lần hai họ rất mừng. Trong khi đó thì 10 người dân bị bắt lần này chưa hưởng được thêm đồng nào nhờ chính sách này, bởi họ chỉ có đất trong khu dân cư.

Những người bị bắt chỉ là nạn nhân của một cơ chế lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với cơ chế thị trường. Chỉ vì nhà nước không thay đổi kịp “tư duy” mà họ bị đàn áp, trù dập, bắt bớ, tù đày. Họ là những người anh hùng thật sự của thời đại mới.

Điếu Cày & Chông Tre
Nguồn: Blog Điếu CàyBlog CLB Nhà Báo Tự Do
[*] Xem thêm về trường hợp gia đình anh Minh và chị Trang trong bài viết của Bùi Trúc Linh, “Đi tìm hiểu hoàn cảnh nhà anh Minh chị Trang” trên trang báo cá nhân Bùi Trúc Linh .

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.