Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 3: Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 3

Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài
“Thà phụ người còn hơn để người phụ ta”
Phương-châm xử-thế của
Tào Tháo trong Tam Quốc Chí.

Chương 6

BẦN-CÙNG-HÓA TOÀN DÂN

Sau khi ông Hồ vi hành sang Bắc-Kinh về thì hành động đầu tiên của ông là ban hành “Thuế Nông Nghiệp” một thứ thuế đã áp dụng ở Trung-Hoa từ hai năm trước. Cả Trung-Cộng lẫn Việt-Cộng đều khoe khoang rằng chính sách thuế khóa của họ vừa giản-dị vừa hợp tình hợp lý nhất, hơn tất cả mọi hình thức thuế từ xưa đến nay. Kể ra so với các thứ thuế của Pháp ở Ðông-Dương và của Quốc-dân-đảng ở Trung-hoa thì thuế của Cộng-sản quả có giản-dị thật, vì Cộng-sản chỉ đặt có năm thứ thuế: thuế nông-nghiệp, thuế công-thương-nghiệp, thuế sát-sinh, thuế lâm-thổ-sản và thuế xuất-nhập cảng.

Vì Việt Nam là một nước căn-bản nông-nghiệp nên dĩ nhiên thuế nông-nghiệp là thuế chính. Thứ nhì là thuế công-thương-nghiệp đánh lên đầu một số thương-gia và thủ-công-nghiệp kiếm sống theo lối lấy công làm lãi. Thuế sát-sinh cũng chẳng được là bao vì thiếu trâu bò cày nên không được phép làm thịt. Tuy nhiên, mặc dầu thiếu đến nỗi ở nhiều nơi người phải kéo cày thay bò, Việt Minh cũng cho phép “xuất cảng” một số bò đực vào trong vùng Pháp chiếm đóng để đổi lấy một vài thứ hết sức cần-thiết.

Như vậy thành ra có sát-sinh thì chỉ sát sinh trong vùng Pháp kiểm soát và thuế sát-sinh do Pháp thu, không phải Việt Minh thu. Thuế lâm thổ-sản cũng chẳng được là bao, còn thuế xuất-nhập cảng thì thực ra chỉ có trên giấy tờ, vì hồi ấy, Việt Minh chẳng có “cảng” nào cả, nên chẳng có “xuất-nhập”.

Thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp đánh vào thu-hoạch hoặc lợi-tức, nhưng cán-bộ không hề điều tra thu-hoạch hoặc lợi-tức, chỉ ước-định rồi bắt dân chúng “bình”. “Lợi-tức bình” bao giờ cũng cao hơn lợi-tức thực. Thuế tính theo một số phần trăm lợi-tức và cao đối với tất cả mọi thành-phần nhân dân, không trừ một ai. Ðấy là chủ-tâm của chính-phủ vì đối với cộng-sản đánh thuế không chỉ cốt để thu tiền cho nhà nước mà chính là lợi dụng thuế để công khai bần cùng-hóa những thành-phần khá giả ở thành phố cũng như ở thôn quê. Thực ra, thuế chỉ là một biện-pháp đầu-tiên sửa-soạn cho việc thiết-lập nền vô-sản chuyên-chính.

THUẾ NÔNG-NGHIỆP

Thuế nông-nghiệp là thứ thuế lũy-tiến, nghĩa là đánh từ 5 đến 45 phần trăm tùy theo thu-hoạch nhiều ít.

THUẾ-BIỂU CHÍNH-THỨC của THUẾ NÔNG-NGHIỆP
(Ðăng trong tờ CỨU-QUỐC, số 2080, ngày 6-7-1952)

 

1 Chị đội – Chị nữ đội-trưởng “Ðội Cải-cách Ruộng-đất”
2 Bồi-dưỡng – Bồi-dưỡng lý-luận, giải-thích chính-sách, xui nghe theo đường lối của Ðảng.

Trước kia chính-quyền Việt Minh chi sống về lạm-phát, nhưng sau khi ban bố thuế nông-nghiệp bỗng nhiên trở thành chủ-nhân-ông toàn thể ruộng-đất của nhân dân, biến tất cả trung-nông và bần-nông thành tá-điền của mình. Số phận địa-chủ lại càng đen tối bội-phần. Trên nguyên tắc thì cho đến 1954 địa-chủ vẫn có quyền thu tô, nhưng thực-tế thì họ không thu được hột nào từ 1951 trở đi. Vì phần lớn bần cố nông là tá-điền của họ đã thành ông nọ bà kia trong ủy-ban Hành-chính Kháng-chiến xã nên không một địa-chủ nào có gan giám đòi họ nộp tô mặc dầu họ cứ vẫn phải ráng sức kiếm đủ thóc để nộp thuế nông-nghiệp.

Thiếu thóc để nộp thì họ phải ra chợ đong thêm. Vì trước kia họ đã tích cực ủng-hộ nào là “tuần lễ vàng” nào là “ủng-hộ bộ-đội địa-phương”, nên hầu hết đã hoàn toàn khánh-kiệt. Dần dà họ phải bán đến trâu bò rồi hết trâu bò phải bán đến vòng xuyến, hoa tai, nồi niêu. Vào khoảng từ 1952 đến I954 đồ cổ bán đầy chợ. Một chiếc độc-bình đời Tống bán rẻ hơn một chiếc chậu nhôm buôn lậu tự vùng tề vào.

Một kỳ thu thuế nông-nghiệp là một chiến dịch. Chính-quyền Việt-minh hô hào thi đua nộp nhanh và “phơi khô quạt kỹ”. Vì hồi Nhật thu thóc (hồi Nhật chiếm đóng) cán-bộ Việt-minh xui dân ngâm thóc vào nước cho nặn cân, nên lần này, dân cũng ngâm thóc, cho nặng cân. Nhưng cán-bộ Việt-minh không chịu bị lừa, nhất thiết bắt phải “phơi khô quạt kỹ”. Muốn làm nhục địa-chủ, cán-bộ thu bắt địa-chủ phải gánh thuế đi nộp, nhiều khi cách nhà chừng 15 cây số. Ðến nơi thì cán-bộ cân cho bần-cố-nông trước, còn phú-nông, địa-chủ thì phải chờ hết ngày hết buổi, có khi ngày này sang ngày khác. (Bần-cố-nông được biệt đãi trong mọi trường hợp, tỉ-dụ như ở bệnh-viện, bần cố nông bao giờ cũng được khám bệnh trước mọi người).

Bị phá sản về thuế nông-nghiệp, nhiều địa-chủ tìm cách bán bớt ruộng hoặc đem cúng cho chính-phủ. Nhưng 1953 trở đi thì cấm ngặt không được phép bán, và đồng thời hủy bỏ những vụ bán ruộng đất cho bần-cố-nông. Ruộng đã chót bán cho bần-cố-nông, thì người mua cứ việc giữ ruộng, nhưng ngườI bán phải hoàn lại tiền. Những địa chủ đã hiến ruộng cho chính-phủ, thì chính-phủ cứ giữ ruộng nhưng địa-chủ phải tiếp tục nộp thuế nông-nghiệp. Chỉ riêng những người thành-thị tản cư về nông thôn và theo lời “Cụ Hồ” tậu một vài sào ruộng để “tự lực cánh sinh” và “hòa mình với nhân dân” là được phép hiến ruộng, nhưng muốn “được” nông-hội địa-phương chiếu-cố nhận “giùm cho” thì người hiến ruộng phải hiến thêm trâu bò cày, đầy đủ nông cụ và một số vốn để mua thóc giống.

THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

Trong mấy năm đầu, Việt-Minh phong tỏa những vùng Pháp chiếm đóng, để ngăn cản không cho quân đội Pháp mua lương-thực và mua vật liệu để sửa chữa lại những nơi bị chiến tranh tàn phá. Vì vậy nên việc buôn lậu giữa hậu phương và vùng tề bị cấm ngặt, và hàng lậu bắt được bị tịch thu và đem đốt trước công chúng, trừ thuốc lá thơm và một vài xa-xí phẩm thì đem biếu cán-bộ cao cấp.

Vì bị Việt-Minh phong tỏa nên Pháp thực sự thiếu lương thực. Lúa gạo phải mang bằng đường thủy từ trong Nam ra, còn thịt phải tải từ Cam-bốt đến Hà-Nội bằng máy bay. Giá sinh-hoạt trong vùng tề cao hơn giá sinh-hoạt trong vùng Việt-Minh kiểm soát rất nhiều. Nhưng chính sách phong tỏa còn gây một ảnh-hưởng khác. Vì hàng hóa công-nghệ không lọt được vào vùng Việt Minh, nên hàng nội-hóa bán rất chạy. Nhiều nhà công nghệ nghĩ cách chế được nhiều mặt hàng tương đối giản dị như vỏ xe đạp, các đồ phụ-tùng xe đạp, một số máy móc đơn sơ, như máy in tay chẳng hạn. Một số chuyên-viên chế được những hóa-phẩm căn bản như acide sulfurique, carbonate de soude, rượu 90 độ, và nhờ những thức này chế thêm được nhiều thức khác. Kết quả là dù bị cắt đứt với thế-giới bên ngoài, dân chúng trong vùng Việt-minh vẫn tự lực cánh-sinh, sống tương-đối đầy đủ. Họ có, nào là sà-phòng, sà-phòng đánh răng, diêm, giấy các-bon, ống tiêm chích thuốc (nhưng không làm được kim), éther, pénicilline nước, vân vân…

Tóm lại, công-nghệ hậu-phương chỉ còn thiếu hai thứ : kim-khí và nguyên động-lực. Nhưng nhờ ở sáng-kiến cá-nhân vấn-đề này cũng giải-quyết được một phần. Máy xe-hơi và máy xe lăn đường, vì không còn đường nữa, dùng để kéo máy tiện, máy cưa v.v… Thác nước thuộc hệ-thống nông-giang biến thành máy thủy-điện và một nhóm kỹ-sư thành-công trong việc xây một “lò cao” sản-xuất mỗi ngày ba tấn gang. Ðặc điểm của lò cao này là chỉ cao có 9 mét, trong khi theo nguyên tắc, lò cao thấp nhất cũng phải cao 13 mét. Một phái đoàn Ðông Ðức tới thăm, vào năm 1954 tỏ ý hết sức thán phục kỹ-thuật của các chuyên viên phụ-trách. Ðường rầy xe lửa cùng “tà vẹt” trở thành một nguồn thép vô tận, vỏ bom napan và xác máy bay bắn rơi biến ngay thành nồi niêu xoong chảo bằng nhôm. Mặc dầu so với mức sống tân tiến, tình hình hậu phương không có gì là “khả quan”, nhưng ngoại trừ công chức bị túng-thiếu vì mỗi tháng chỉ được có mấy chục cân gạo, còn ngoại giả dân chúng đều sống tương đối dễ dàng, không một ai thất-nghiệp. Nhưng chẳng bao lâu Việt-Minh đình chỉ chính sách khuyến khích công nghệ nội hóa, vì sau khi cố-vấn Trung Cộng sang, họ giảng cho Việt-minh hay là nếu có khuyến khích công nghệ tư nhân thì tức là gây mầm cho chế-độ tư-bản. Từ đấy Việt-minh đổi ngược lại chính sách, làm khó dễ những người sản-xuất hàng nội hóa và đồng-thời mở rộng kiểm soát cho hàng Pháp tràn vào. Nhiều thủ-công nghiệp bắt buộc phải đóng cửa vì không thể nào cạnh tranh lại hàng hóa của Pháp, và trong nhiều trường hợp, cả chủ lẫn thợ kéo vào các thị-trấn do Pháp kiểm-soát để kiếm kế sinh nhai, vì từ ngày Việt-minh đình chỉ việc phong-tỏa kinh tế, đời sống trong vùng Pháp chiếm đóng bỗng nhiên phồn thịnh hẳn lên.

Ðể tiến tới xã-hội chủ-nghĩa, chính-phủ Hồ-chí-minh áp dụng hai chính-sách mới : đánh thuế “Công Thương Nghiệp” và thành lập “Mậu-dịch Quốc-doanh”. Dĩ-nhiên Mậu-dịch Quốc-doanh chỉ có nghĩa là chính-quyền nắm độc quyền thương-mại trong toàn quốc.

Về đại-cương thì Thuế Công Thương Nghiệp cũng giống thuế Nông Nghiệp, nhưng cũng có hơi khác về thuế biểu và về cách thức tính thuế. Thuế Công Thương Nghiệp phải nộp hàng tháng, không phải một năm hai vụ như thuế Nông Nghiệp. Thuế Công Thương Nghiệp đánh vào lợi-tức, không đánh vào thu hoạch, và mức tối đa chỉ có 28 phần trăm, trong khi mức tối đa của thuế Nông Nghiệp lên tớI 64,68 phần trăm. Trên nguyên tắc thuế Công Thương Nghiệp có phần hợp lý và nhẹ hơn thuế Nông Nghiệp. Cách tính thuế Công Thương Nghiệp như sau :

1. Ước định số “thu” của mỗi người công thương.
2. Tính số lời, bằng cách nhân số “thu” với một con số “lợi nhuận” do Bộ Tài-chính ấn-định cho từng nghề nghiệp (Thí-dụ lợi-nhuận của nghề bán tạp-hóa định là 30 phần trăm, hàng ấn định là 50 phần trăm . Việt-minh cho rằng làm những nghề ấy thì phải lãi băng ấy).

3. Sau khi tính được lợi-tức của một công, thương gia rồi thì mang bản thuế-biểu do Bộ Tài-chính ấn-định xem với số lợi-tức ấy, họ đứng vào loại nào và phải đóng bao nhiêu phần trăm, đại khái cũng như tính thuế Nông Nghiệp, Thuế Công Thương Nghiệp cùng lũy-tiến, xê dịch từ tối-thiểu 15 phần trăm đến tối đa 28 phần trăm.

Như vậy là muốn tính thuế cho một công, thương gia chỉ cần biết số thu hoạch của họ, vì một khi đã có con số này thì chỉ việc đối chiếu với ban lợi-nhuận và ban thuế biểu của chính-phủ mà nhân lên là tính được ngay. Số phận của mỗi công, thương gia đều do con số thu-hoạch chi phối.

Dưới chế-độ Việt-minh, mỗi công, thương gia phải giữ một cuốn sổ chi thu, ghi chép đầy đủ mọi việc buôn bán. Mỗi lần bán ra một món gì, dù là bán nước, bán trâu đều phải làm ba bản hóa-đơn, giữ một bản, giao cho người mua một bản và nộp cho Sở Thuế một bản. Tuy nhiên những sổ sách và hóa-đơn này chỉ cốt để tiện việc cho chính-phủ kiểm tra, nếu cần, không phải để tính thuế, vì tính thuế là công việc của nhân dân, không phải trách nhiệm của chính-quyền. Dưới chế-độ dân chủ nhân dân, chính-phủ chỉ việc giơ tay thu tiền, còn tính thuế và thu thuế là việc của nhân-dân vì Ðảng cho rằng nhân dân lúc nào cũng “sáng suốt”, không cần đến sổ sách, giấy tờ. Khẩu hiệu lúc bấy giờ là : “Phải hoàn toàn tin ở quần chúng”.

Ðảng giao việc thu thuế cho nhân dân vì Ðảng coi việc nộp thuế là một “hân hạnh” không phải là một “nghĩa vụ” như ở các nước tư-bản. Mỗi công dân phải vui vẻ đóng thuế để góp phần vào công việc xây-dựng xã-hội chủ-nghĩa. Vì đóng thuế là yêu nước nên mọi người đều nói “được đóng thuế” và không ai nói “phải đóng thuế”. Từ nguyên tắc “đóng thuế là một hân-hạnh, một đặc ân” nẩy ra hai nguyên-tắc phụ. Thứ nhất, là không phải bất cứ ai cũng được “hân hạnh” đóng thuế, và thứ hai là nhân dân sẽ sẵn sàng giúp đỡ những người không xứng đáng với “đặc-ân” đó, hoặc chạy không đủ tiền để làm trọn “hân hạnh”. Chúng ta hãy đi sâu thêm vào chi tiết của hai điểm này.

Tại sao được nộp thuế lại là một đặc ân ? Ở dưới chính thể dân-chủ nhân-dân, người công-dân không có quyền tự-do kinh-doanh, và đây là đặc-điểm quan-trọng nhất làm cho chế-độ dân-chủ nhân-dân khác hẳn chế-độ dân-chủ tư-sản”. Muốn mở một công-nghệ hoặc một hiệu buôn thì trước tiên phải nộp đơn xin phép Mậu dịch vì Mậu-dịch kiểm soát tất cả công thương trong vùng. Khi Mậu-dịch cho phép rồi, lại phải làm đơn xin phép Ủy-ban Hành-chính địa-phương, vì có một số nghề mà một số người không được làm. Ðịa-chủ, chẳng hạn, không được phép bán hàng cơm và làm nghề cắt tóc. Ðơn nộp cho ủy-ban Hành-chính, nhưng chi-bộ cho hay không, là quyền bí-thư chi-bộ Ðảng, vì chỉ có Ðảng mới biết rõ thái-độ chính-trị của đương sự. Nếu đương sự được phép mở cửa hàng rồi, mà sau này chi-bộ mới tình nghi là “phản-động” thì công-an ăn mặc thường-phục túc trực trước cửa, hỏi giấy thông hành của tất cả người mọi ra vào. Vì vậy nên ai được “hân hạnh” nộp thuế tức là còn được tự-do kinh doanh, một thứ tự-do quý báu gấp bội tự-do chính-trị mà báo-chí tư-sản vẫn thường ca tụng, vì mất thứ tự-do này thì toàn gia phải chết đói. Chính vì mọi người sợ mất “hân hạnh nộp thuế” mà toàn dân không dám cưỡng lại chính-quyền Cộng-sản.

Nhân dân giúp đỡ như thế nào ? Mặc dầu Ðảng đã giảng dậy rất kỹ lưỡng và nhắc đi nhắc lại là nộp thuế là một “hân hạnh”, lác đác vẫn có những người không hiểu rõ tầm quan trọng của cái “hân hạnh” ấy và không tích-cực nộp thuế như Ðảng đã dặn, không chịu khai đúng con số thu-hoạch, hoặc là không khai đúng với sự ước lượng của cán-bộ. Trong những trường hợp như vậy thì nhân dân trong phố, hoặc trong làng sẽ giúp những người “đảng trí” nhớ lại con số thu-hoạch của mình.

Việc giúp đỡ này thể-hiện bằng hai hình-thức, hai cuộc “bình”.

Bắt đầu là một cuộc họp của tất cả những người cùng hành một nghề trong địa-phương, cùng một xã hoặc cùng một khu phố. Họ mổ xẻ công việc buôn bán của mỗi người rồi lập một danh sách kể từ người thu-hoạch nhiều nhất xuống dần đến người thu-hoạch thấp nhất. Công việc xếp đặt theo thu-hoạch nhiều ít này được gọi là “bình dọc” vì mục-đích chỉ là lập một danh sách “dọc” từ trên xuống dưới, từ người thu-hoạch nhiều nhất đến người thu-hoạch ít nhất. Ðảng nói rằng “bình dọc” như vậy rất đúng vì chỉ có những người cùng hành một nghề mới rõ ai hơn ai kém. Nhưng chủ tâm của Ðảng là bắt những người cùng hành một nghề “bình” lẫn nhau thì họ sẽ vì ghen tị mà tố cáo lẫn nhau không cần phải tra khảo, tự nhiên mọi gian lận sẽ lòi ra hết.

Sau đấu là một cuộc họp thứ hai, nhưng lần này tất cả công, thương gia trong một phố, hoặc trong một xóm đều dự, bất luận là hành nghề gì. Họ thảo luận và bình xem mỗi người trong bọn họ thu-hoạch được bao nhiêu, rồi cuối cùng giơ tay “biểu-quyết” con số. Cuộc bình này gọi là “bình ngang”. Mỗi công, thương gia trong phố, hoặc trong xóm đã biết trước là phố mình, hoặc xóm mình sẽ phải đóng bao nhiêu thuế, nên mọi người đều cố tình “tố” người khác, để người khác phải nộp nhiều hơn thì bản-thân mình có hy-vọng nộp ít hơn. Việc “bình ngang” này mang tới hai kết quả :

Thứ nhất là những người cùng phố hoặc cùng xóm thường hay có chuyện xích-mích hoặc thù hằn lẫn nhau, và thường lợi-dụng cuộc “bình thuế” để trả thù. Thí dụ vợ anh A ngoại-tình với anh B, buôn bán cùng phố. Muốn trả thù anh B đã cho mình “mọc sừng” anh A tố là anh B thu-hoạch rất nhiều. Ðể nại chứng, anh A nói thường thấy chị B đi chợ mua gà, vịt. Ðến khi hội-nghị bàn thuế của anh A, thì em anh B muốn trả thù cho anh mình, đứng lên tố là ngày nào cũng thấy anh A ngồi nhậu cà-phê sữa (cà-phê và sữa được coi là xa-xí phẩm ở Bắc-việt) ở tiệm cà-phê gần nhà mình. Rốt cuộc là thu-hoạch của mọI người đều bị “kích” lên, và nhiều khi sở thuế thu được nhiều hơn con số dự trù.

Kết quả thứ hai là những người cùng phố, cùng xóm không biết hàng xóm láng giềng làm ăn ra sao mà chỉ biết đại khái về lề lối sinh-hoạt. Người nào mà mỗi tuần ăn một con gà, hoặc mỗi sáng uống cà-phê sữa không tránh khỏi những người xung quanh coi là “đại-phú”. Rốt cuộc không ai giám ăn gà và uống cà-phê sữa công khai. Nếu chị B muốn mua một con gà thì chị phải nhét gà xuống đáy rổ, đậy rau muống lên trên, còn anh A, nếu thèm cà phê thì đạp xe-đạp tới một nơi thật xa để uống, hoặc pha dấu trong phòng ngủ, không cho hàng xóm láng giềng ngửi thấy mùi. Vì “bình thuế” cả ngang lẫn dọc nên chẳng bao lâu mọi người đều làm ra vẻ xác xơ. Họ mang những quần áo cũ nhất và rách nhất ra mặc, để râu tóc mọc thật dài, hoặc nhờ vợ hớt bằng kéo. Tiệm cà-phê, thợ may và thợ cạo đều lần lượt đóng cửa.

Ðầu tiên vì sợ bình nên mọi người đều “dấu giầu” nhưng cuối cùng, mọi người đều phá sản thực sự. Sau khi phá sản và đóng cửa tiệm cả chủ lẫn người làm công kéo nhau vào vùng Pháp kiểm soát, để lại hậu-phương mặc sức cho Mậu-dịch xây-dựng thương-mại và công-nghệ xã-hội chủ-nghĩa. Lúc bây giờ toàn thể nhân dân đã trở thành bần cố.

Chương 7

“ÐẤU CHÍNH TRỊ”

Giữa lúc bần dân thiên hạ đương thất điên bát đảo về thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp, hai thứ thuế mà dân chúng gọi là “thuế thất-nghiệp” – thì Việt-cộng sửa soạn bí mật và bất thình-lình phát-động một chiến-dịch đại quy-mô chưa từng thấy trong lịch sử Việt-nam. Bắt đầu vào giữa tối 23 tháng Chạp âm lịch, ngày lễ ông Táo lên chầu trời, vào đầu tháng Hai dương lịch năm 1953, cuộc khủng bố này có thể ví với cuộc tàn sát Saint Barthélémy trong lịch sử Pháp. Vì Việt Cộng sửa soạn rất bí mật, và phát động rất bất thình-lình nên ngoài đảng viên cao cấp không một ai biết trước kể cả viên chức ngạch trung-ương trong chính-quyền kháng-chiến. Vì cuộc khủng-bố này có tính cách hoàn toàn chính-trị, nên sau này được dân chúng mệnh danh là “đấu chính-trị”. Chữ “đấu” bắt nguồn từ danh từ “đấu tranh”, vì Việt Cộng giải thích đấy là một cuộc “đấu-tranh” của dân-chúng.

Hồi ấy vì máy bay Pháp thường oanh tạc ban ngày nên mọi cuộc họp đều triệu tập vào ban tối, và đúng vào buổi tối hôm 23 tháng Chạp âm lịch, 1954, tất cả các xã đều triệu tập nhân dân đến hội trường để bàn về thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp. Chương-trình nghị-sự chỉ có một câu : TạI sao nhiều người ngoan cố không chịu nộp thuế, hoặc không nộp đủ.

Sự thực thì mọi người đều đã biết tại sao. Chỉ tại sau hai năm liền, giầu cũng như nghèo, không ai còn có thể chạy đâu ra tiền, thóc lúa, để tiếp tục đóng mãi hai thứ thuế “thất nghiệp” ấy được nữa. Nhưng Cộng-sản đặt ra câu hỏi, không phải vì muốn tìm hiểu sự thực, mà cốt để thực hiện một âm-mưu không dính dáng gì đến thuế.

Trước giờ họp, trong hội-trường đã có sẳn thừng, hèo, gậy, và nhiều dụng-cụ tra tấn khác. Những người thiếu thuế không kể ít hay nhiều, đều bị bắt, điệu ra trước hội-nghị và tra khảo không phải để biết tại sao không nộp được thuế, mà chỉ cần biết kẻ nào đã xui dục không nộp thuế. Chủ-tịch cuộc họp không hỏi lơ mơ “Ai xui mày không nộp thuế ?”, mà hỏi một cách rất rõ ràng “Có phải Thằng Ất (hoặc Thằng Giáp) xui mày không nộp thuế, phải không ? Nói mau ! và tức khắc đánh đập, kìm kẹp, tra trấn cho đến lúc nạn nhân chịu không nổi, đuối sức, chỉ khẽ gật đầu. Nếu không gật đầu, nạn nhân có thể bị tra tấn suốt đêm cho đến chết. Hễ nạn-nhân gật đầu, tỏ ý là Giáp hoặc Ất nào đó quả có xui không nộp thuế thì những người này bị bắt túc khắc. Sự thực thì những người này đã được Việt Cộng ghi tên trong sổ đen ; chủ-tịch buổi họp chỉ việc lần lược chọn từng tên một rồi tra tấn những người thiếu thuế bắt phảI khai đúng tên những người trong sổ, để sẵn trước mặt. Một khi người thiếu thuế đã khai đúng như ý muốn của Cộng-sản thì tức khắc được tha về, không cần hỏi đến nữa.

Những người bị khai . nói đúng hơn là bị buộc vào tội xui không nộp thuế . bị tra tấn một mức gắt hơn và phải trả lời hai câu hỏi : Mày ở trong tổ-chức phản-động nào ?Trong tổ-chức phản-động của mày có thằng… (Bính, Ðinh) không ? Về câu hỏi thứ nhất thì người bị tra có thể bịa ra bất cứ đảng phái nào, khai là đảng hươu đảng vượn gì cũng được. Có người tự nhận là đảng Bảo-Ðại, đảng Việt-gian, và có một nông dân cuống quá, nghĩ không ra đảng, khai ngay “Ðảng Cộng-sản” vì từ bé anh ta chỉ nghe nói lờ mờ có Ðảng Cộng sản không rõ là cách mạng hay phản-động. Về câu hỏi thứ hai thì người bị tra không được phép khai lung tung, phải khai đúng tên mà chủ-tịch hội-nghị đã mớm cho. (Tuy nhiên đây chỉ là quang cảnh trong những ngày đầu, sau nầy sẽ có nhiều sai lạc mà chúng tôi sẽ trình bày ở đoạn sau).

Tất cả những người “phản động” có tên trong sổ đen lần lượt “bị khai”, bị bắt và bị tra tấn. Họ thuộc đủ thành-phần, không cứ giầu nghèo, và sự thực thì cũng không phải “phản động”. Nói cho đúng thì phần đông là những người có thái-độ lừng chừng, vì những người thật sự chống đối với Việt Cộng thì, hồi năm 1953, hoặc đã bị tiêu diệt, hoặc đã bỏ chạy vào vùng Pháp chiếm đóng. Ðối với Cộng-sản thì lừng chừng cũng nặng tội như phản động. Bài thơ sau đây của Xuân Diệu, nhà thơ bồi bút của Cộng-sản chứng tỏ điều đó.

Anh em ơi, quyết chung lưng đấu cật.
Ðấu tranh tiêu diệt tàn hung tủ thù
Ðịa-hào, đối-lập ra tro
Lưng chừng, phản-động đến giờ tan xương.

Tất nhiên khi thảo mấy vần thơ trên, không phải là “Nàng Thơ” đã gợi ý cho Xuân Diệu, mà chính là Ðảng đã ra lệnh, vì Ðảng quyết tâm đánh tan xương những phần tử phản-động hoặc lừng chừng không chịu theo giặc mà cũng không tích-cực theo Ðảng. Quả thực là nhiều người đã bị tan xương, đúng như lời của nhà thơ Xuân Diệu, vì hài cốt họ không còn nguyên vẹn sau khi bị đánh chết. Nói về lối tra tấn thì thường có mấy phương pháp điển-hình, xã nào cũng áp dụng. Ðại để như sau :

Nạn nhân phải quỳ, hai tay giơ lên đỡ một thùng đá nặng đặt ngay trên đầu.

Nạn nhân bị treo hai chân, hoặc hai tay vào một sợi thừng vắt qua xà nhà. Một lúc lại kéo lên, kéo xuống, vừa đánh vừa hỏi, thỉnh thoảng buông rơi “cái bịch” xuống đất.

Quấn giẻ tẩm dầu vào hai ngón tay cái và đốt.

Vì mấy hình thức tra tấn này được áp-dụng trong toàn thể vùng Việt-minh kiểm soát, nên dư luận ngờ rằng Ðảng đã quy-định như vậy. Có người nói rằng những cực hình này đã áp-dụng trong các cuộc đấu-tố bên Trung Quốc và do các cố-vấn Trung Cộng nhập cảng vào Việt-nam.

Trên đây chỉ là những kiểu tra tấn “phổ thông” khắp mọi xã, nhưng cũng có nhiều xã áp-dụng những kiểu tra tấn “đặc-biệt” do sáng-kiến địa-phương nghĩ ra. Ở một làng nọ, nạn nhân bị bỏ vào rọ dìm xuống nước một vài phút, lôi lên để hỏi, chưa chịu nhận tội, lại dìm nữa cho kỳ nhận mới thôi. Ở một làng khác, cán-bộ mượn một cái “ê-tô” của một hiệu chữa xe-đạp, kẹp ngón tay người bị tra vào giữa hai má ê-tô, và cứ hỏi một câu mà chưa chịu trả lời lại quay một vòng.

Ðiều đáng chú ý là đảng-viên và cán-bộ đảng không trực-tiếp nhúng tay vào các vụ tra tấn này. Họ giao công việc cho “cốt-cán”, vì cốt-cán không phải là người của Ðảng và của Chính-phủ. Như vậy là cốt để sau này. Ðảng có thể ngang-nhiên phủ nhận mọi trách-nhiệm và, hơn nữa, đỗ hết cả tội lỗi vào đầu nhân-dân. Câu chuyện sau đây có giá-trị điển-hình về thái-độ kể trên.

Một cô giáo “cấp 1″ ra cho trẻ em trong lớp một bài luận, đề như sau : “Các em hãy tả một ’đấu’ trong xã các em”. Lũ trẻ em cứ thực tình tả nào là bắt người, đánh, trói và tra tấn, và không quên kết luận bằng những câu ca-tụng đường lối sáng suốt đúng đắn của Ðảng và của “Bác Hồ”. Nhưng mấy ngày sau Ðảng đã chính-thức tuyên-bố là Ðảng không dính dáng dến những vụ tra tấn này và đấy chỉ là “Nhân dân tự động đấu-tranh chống phản-động”. Vì Ðảng đã phủ nhận vai trò của mình, nên hôm trả bài, cô giáo phải làm bộ phê-bình học-sinh là tả không đúng sự thực. Cả lớp bị mắng là “nói điêu” rán gân cổ cãi lại cô giáo, nói chúng đã trông thấy tận mắt và một vài em lại kể rành mạch là đã thấy cán-bộ chặt tre làmgậy và mang thừng chão đến hội trường từ buổi chiều, trước khi triệu-tập cuộc họp.

Vụ “đấu” này kéo dài trong nửa tháng và đêm nào, làng nào cũng có người bị đánh chết. Bắt đầu đêm hôm 23 tháng Chạp, nghĩa là một tuần trước Tết, vào giữa lúc thiên hạ đương lo cúng ông bà ông vải và đón mừng Năm Mới. Vì vậy nên mọi cuộc sửa soạn đều bị bỏ dở, và nhà nào nhà nấy im hơi lặng tiếng, tối đến cũng không dám thắp đèn. Có người nhận xét súc vật thấy người sợ cũng sợ lây ; gà không gáy chó không sủa. Trong mấy ngày đầu, mọi việc đều tuần tự như tiến, theo đúng kế hoạch của Ðảng đã vạch sẵn, Những người có tên trong sổ đen đều lần lượt bị “khai” và tra tấn. Nhưng một khi phong-trào đã được “đẩy mạnh”, cán-bộ trở thành say sưa với quyền sinh quyền sát nên coi nhẹ cuốn sổ đen, vì vậy nên hễ khai ai bắt nấy, đưa đến tình trạng bất cứ ai cũng có thể bị bắt và bị tra tấn. Ðảng không kìm hãm nổi và khắp mọi nơi cuộc khủng-bố trở thành “lung tung”. Những giới-hạn mà Ðảng đã quy định trở thành vô giá-trị và khắp nơi khắp chốn chỉ nghe nói đánh-đập, tra-tấn, chết chóc. Sở dĩ phong trào trở nên hỗn loạn là lại hai nguyên nhân sau :

1. Theo lời Ðảng dặn, cán-bộ giao việc đánh đập, tra tấn cho cốt-cán. Nhưng trong mỗi xã chỉ có một số ít cốt-cán, mà nhiều người trong bọn ngần ngại không muốn thẳng tay đánh-đập bà con trong thôn xóm, đôi khi là anh em, chú bác, cô dì. Hơn nữa đánh lắm cũng mỏi tay, nên cốt-cán phải tuyển mộ ngừơi khác giúp bớt phần việc. Nhưng trong xã-hội Việt-nam tìm được những người tình-nguyện làm những việc ác-đức này không phải là chuyện dễ, nên rốt cuộc, những người sẵn sàng tiếp tay cho cốt-cán đều là những lưu-manh vô-lại trong nông-thôn. Vì là lưu-manh nên phần đông có “thành-tích bất hảo”, hoặc đã trốn “dân công”1 hoặc đã ăn trộm lúa kho hoặc có phạm một tội nào tương tự mà chính quyền chưa hỏi đến. Bây giờ “cờ đã đến tay” nên chúng ra sức “phất” rất mạnh, đánh đập bất cứ ai để ra oai vớI nhân dân và để chuộc tội với Ðảng. Bỗng nhiên đương “thằng” trở thành “ông” chúng ra tay đánh đập “phản-động” để không còn ai có thể quy chúng là phản-động được nữa. Ðánh phản-động tàn nhẫn như vậy, tất nhiên là căm thù với phản-động, và không phải là phản động. Hồi mấy “thằng” lưu manh trở thành “ông” có người đặt mấy câu vè như sau :

Trời làm một hội lăng-nhăng
Thằng hóa ra ông, ông hóa ra thằng.
Trời làm một hội lông-nhông
Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.

Tình trạng trở nên hoàn toàn hỗn loạn vì bất cứ nạn-nhân khai ra ai chúng cũng bắt đánh. Chúng chỉ cần đánh để lấy lòng Ðảng và “lấy le” với nhân dân, làm cho mọi người sợ chúng, không giám khai ra chúng. Vì thất học nên chúng chẳng hiểu “tư-bản”, “đế-quốc” là gì, và đối với chúng, mọi người lương thiện thường khinh rẻ chúng đều có thể coi là “phản-động”cả.

2. Nguyên nhân thứ hai chỉ là hậu quả của nguyên nhân thứ nhất. Trong thời kỳ đầu người bị tra không phải tốn công nghĩ ra tên người khác để khai là đồng đảng vì hồi ấy cốt-cán còn lãnh đạo công việc tra trấn nên lúc nào cũng sẵn sàng “mớm” tên cho mà khai. Trái lại đến lúc lưu-manh xông ra đánh đập thì không còn ai lưu ý đến sổ đen và bất cứ ai bị “khai” cũng bị đòn như mọi người. Mọi người đều nhận thấy hai điều : khai càng sớm càng đỡ đòn và khai ra bất cứ ai cũng được. Không ai bảo ai, mọi người đều tự đặt câu hỏi : “Nếu đêm nay mình bị đánh thì nên khai ra ai, cho đỡ bị đòn ?” Có người lý-luận rằng muốn cho Ðảng chóng đình chỉ cuộc “đấu” thì nên lợi dụng tình trạng, khai ngay cán-bộ hoặc bà con thân thích của cán-bộ và đảng-viên. Quả nhiên những đảng-viên bị khai cũng bị bắt và tra-tấn như các “phản-động thường”. Các chi-bộ cộng sản không có thể can-thiệp vì khẩu-hiệu Ðảng đã nêu ra là : Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh chống phản-động. Ðảng cũng đã ra lệnh cấm không một cá-nhân nào hoặc một cấp-bộ nào được phép can-thiệp. Thế là đảng-viên trở thành nạn~nhân, đúng câu thành-ngữ Việt-Nam “âm binh quật lại phù thủy”.

Trong một cuộc “đấu” người bị tra hoảng quá, mất hết tinh-thần. Khi bị hỏi “trong tổ-chức phản-động của mày có những ai ?” giơ tay chỉ ngay ông chủ tọa phiên họp. Ông chủ tọa bị lôi xuống và bị đánh tức khắc. Sau đó hội nghị tạm ngưng vì không ai nhận chủ-tọa buổi họp.

1 Ði dân công tức là đi làm phu khuân vác, đào sông, đắp đường, không khác đi làm “cỏ vê” ngày trước.

Ðến ngày thứ 15 thì Ðảng nhận thấy tình hình trở nên quá nghiêm trọng và điện từ trung ương về các tỉnh ra lệnh đình chỉ ngay tức khắc. Nhưng điện-văn cũng nói rõ phải giam giữ những người mà “quần-chúng sáng suốt” đã tố cáo là “phản-động”.

Lệnh giam giữ những nạn nhân của cuộc “đấu” chứng tỏ Ðảng đã có dụng tâm từ trước. Ðảng muốn tạm thời gạt bỏ ra ngoài xã-hội những phần-tử mà Ðảng ngờ có thể chống-đối chính sách sau này của Ðảng : chính sách Cải Cách Ruộng Ðất. Quả thực, những người bị khai là phản-động bị giam trong các trại tập-trung mãi đến phong-trào Sửa Sai, năm 1956, mới được tha.

Trong vụ “Ðấu Chính Trị” trung bình mỗi xã có từ ba đến năm người bị đánh chết, hoặc vì uất ức phải tự tử trong số có một bộ-trưởng chính-phủ là ông Ðặng-văn-Hướng. Ông Ðặng-văn-Hướng nghỉ phép về thăm nhà thì gập phải vụ “đấu”. Vì “Bụt nhà không thiêng” nên cán-bộ xã không nhận thấy ông là “bộ-trửởng” chỉ thấy ông là “một tên phản động” nên mang ra “đấu”. Trong khi ấy thì từ ông Hồ cho đến các bộ-trưởng khác không ai đoái-hoài đến số phận của ông. Ông không bị đánh chết nhưng ông anh ruột bị, và sau đó cả hai ông bà thắt cổ tự tử. Việc đáng chú ý là ông Hương là thân-phụ Ðại-tá Ðặng-văn-Việt, nổi tiếng là “Anh Hùng Ðường số 4″ vì mấy năm trước Ðại-tá Việt đã chiến-thắng quân-đội Pháp trong trận Cao-Bằng Lạng-Sơn.

Trong khi cuộc “đấu” diễn ra ở khắp thôn xã thì ở các thị-trấn cũng có “đấu” nhưng với hình-thức nhẹ hơn. Lý do là vì những người buôn-bán ở các thị trấn mới thành-lập là người tứ xứ, không quen biết nhau nên không có hận thù. Những thị-trấn này chỉ là những chỗ buôn bán nhỏ, vì những thành-phố lớn đã bị Cộng-sản phá trụi, theo chính sách tiêu thổ kháng chiến chống Pháp. Việt-cộng lấy cớ là phá hủy thành-phố để không cho Pháp chiếm đóng và lập căn cứ nhưng chủ tâm của Việt-cộng là muốn phá-sản giai-cấp “tư-sản thành-thị” mà Cộng-sản coi là khó cai-trị. Những thị-trấn nói trên chỉ là những dẫy nhà lá thường dựng ở mấy ngã-tư đường nhiều người qua lại. Chủ-nhân là những người trước kia sinh-nhai ở thành-phố, nay mất hết cơ nghiệp phải tản cư về thôn quê, nhưng không làm ruộng quen nên phải dựng lên một túp lều nhỏ để buôn bán chút đỉnh, một vài thứ hàng lặt vặt, mong qua ngày đoạn tháng.

Nói chung thì dân thôn quê phải mất một tuần mới vỡ lẽ là càng nhận tội sớm bao nhiêu thì càng đỡ đòn bấy nhiêu. Trái lại, dân thị-thành vì “láu” hơn, nên ngay buổi đầu họ đã tìm ra mánh lới này. Vì vậy nên ở các thị-trấn có nhiều người chưa bị một cái bạt tai đã vội vàng quỳ gối thú tội vanh vách, nhưng họ cũng được may mắn là những “tội” họ buộc lẫn nhau đều là những tội không lấy gì làm “phản động” lắm. Vì thiếu “phản động” nên chi-bộ Ðảng ở các thị-trấn không thể “đào” đâu cho đủ “phản động” để kéo dài cuộc “đấu” cho trọn hai tuần. Kết quả là cuộc lùng bắt “phản động” trở thành cuộc truy-nã những kẻ ưa dùng xa-xí phẩm, hàng ngoại-hóa. Ăn mặc tươm tất, hoặc dùng xáp bôi đầu chẳng hạn cũng bị quy là “trọng tội”. Cán-bộ đón các đầu đường, hễ ngửi đầu thấy mùi xáp thơm là bắt phải gội ngay tại chỗ, bằng nước rửa bát để sẵn gần đấy. Nhiều anh trông thấy quang cảnh như vậy, vội vàng “xung phong” xin gội đầu bằng nước rửa bát ngay để tránh khỏi bị đòn. Nhiều người ưa ăn sang mặc đẹp như mấy bà vợ bác-sĩ (Bác-sĩ Nguyễn-bát-Can . trước kia là Dr Pascal Nguyễn) cũng bị mang ra “đấu” và hưởng mấy bạt tai.

Cuộc đấu ở nông-thôn và ở thành-thị phát triển theo hai hướng trái ngược nhau. Trong khi ở nông-thôn, cuộc khủng-bố cứ mỗi ngày một kịch-liệt hơn cho đến khi tình trạng trở thành hoàn toàn hỗn loạn, thì ở thành-phố chẳng mấy chốc cuộc “đấu-trang chống phản-động” biến thành một chiến-dịch vớ vẩn, “đấu-tranh chống lề lối sinh hoạt tiểu-tư-sản”. Nhận thấy như vậy nên thực tế đã có người nhanh chân bỏ nông-thôn chạy vội ra thành-phố náu ẩn. Cũng vì ở thành-phố thường ít tính chất bạo-động hơn ở nông-thôn, nên dưới chế-độ cộng-sản dân chúng luôn luôn tìm cách “chuồn” ra thành-phố và do đó chúng ta thường thấy chính quyền cộng-sản ở Bắc Việt và ở Trung Cộng chẳng hạn, thỉnh thoảng lại “giải về nguyên quán” những người tản-cư trái phép từ nông-thôn ra thành thị.

Sau cuộc “đấu chính-trị”, ông Hồ có viết một bức thư “Xin lỗi đồng-bào” gửi cho tất cả các xã và mọi người đều phải học-tập. Trong thư, ông nhận chính-phủ và Ðảng đã thiếu sót trong việc lãnh-đạo khiến nhiều nơi quần chúng đã khinh thường luật-pháp, có nhiều hành-động trái với chủ-trương nhân-đạo và khoan-hồng của Chính-phủ và của Ðảng. Cán-bộ kể chuyện cho dân chúng nghe là khi viết bức thư “Xin lỗi đồng-bào” ông Hồ bực quá, chảy nước mắt. Có lẽ câu chuyện không đến nổi hoàn toàn bịa đặt vì mọi người đều biết ông Hồ đóng trò rất tài tình, muốn cười muốn khóc và ngay cả muốn hôn lúc nào cũng được. Hồi viếng thăm Ấn-Ðộ và Indonesia, những nơi mà nam nữ còn đương “thụ thụ bất thân”, ông Hồ cứ tự-nhiên ôm các bà các cô hôn đại. Vì vậy nên năm 1959, báo chí Djakarta tặng ông biệt-hiệu “Vị chủ-tịch thích hôn” (Presiden Pentjium).

Sau khi xin lỗi đồng-bào, ông Hồ ra lệnh cho các ủy ban xã báo-cáo lên cấp trên những vụ quá đáng. Ðồng thời các ủy-ban cũng phải lập danh-sách những người sáng suốt đã nhận thấy những điểm sai trong chiến-dịch và đã cố gắng ngăn cản.

Có nhiều người, phần đông là đảng-viên cấp dưới, quả thực đã xa lánh phong trào, và có một số đã chạy lên huyện lên tỉnh, tìm cách cứu gỡ cho thân nhân. Sau khi lập thành danh-sách đưa lên tỉnh, những người này được tỉnh-ủy mời lên để ban khen, nhưng lên đến nơi họ được tống đi các trại “quản-huấn” để vừa lao-động vừa học-tập lại những nguyên tắc bất-khả sai-lạc của chủ-nghĩa Mác-xít Lê-ninnít. Mãi ba năm sau, nhân dịp chiến-dịch Sửa Sai, tiếp theo chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất họ mới được tha về. Ðây là một thí-dụ điển-hình chứng tỏ chủ-trương của Ðảng là bắt nhốt ngay cả những đảng-viên mặc-dầu trung-thành với Ðảng, nhưng không tán-thành chính-sách khủng-bố của Ðảng.

Một tháng sau khi ông Hồ đã khóc và xin lỗi đồng bào thì những cán-bộ đã phát-động chiến-dịch ở Bắc-Việt lên đường vào Khu V (miền Nam Trung-việt) để phát động một phong-trào in hệt. Ði theo bọn họ vẫn có mấy cố-vấn Trung-quốc quê ở Hồ-nam.

Ảnh-hưởng trực tiếp của cuộc “đấu sơ bộ” này là tất cả các thành-phần trong nhân dân đều sợ oai của Ðảng. Sự thực, trước cuộc “đấu” Ðảng đã mất rất nhiều uy tín. Nhiều nông-dân bị bom đạn của Pháp tiêu hủy nhà cửa đã ngang nhiên oán trách “Cụ Hồ”, và hàng ngàn dân-công gánh gạo tiếp-tế bộ-đội đã làm reo bỏ về, quẳng gạo ra hai bên đường. Hồi Ðảng còn rút lui vào bóng tối sau khi tuyên-bố tự giải tán, dân quân một xã nọ đã vây bắt một chi-bộ cộng-sản đang hội-họp, lấy cớ là hội-họp trái phép.

Sau chiến-dịch khủng-bố, tình-trạng thay đổi hẳn. Không những không ai giám từ-chối không đi dân-công, mà trái lại, hàng ngàn người xung-phong đi ngay. Thuế khóa cũng chỉ thu trong vài giờ là xong ngay.

Nhiều người nhận thấy như vậy cho rằng Ðảng đã áp-dụng chính-sách khủng-bố để thu thuế cho nhanh và bắt dân-công cho dễ. Nhưng thực ra như chúng tôi sẽ trình bày về sau, Cộng-sản phát động chiến-dịch khủng-bố với hai mục-đích khác. Một mục-đích dài-hạn là dọn đường cho chiến-dịch Cải-cảch Ruộng-đất sắp tới (Xin xem Phần 5) và một mục-đích tức thời là thị uy với toàn thể nhân-dân không kể giàu nghèo . và thanh-trừng những phần-tử : mặc-dầu tham gia kháng-chiến chống Pháp, nhưng tình-nghi là không chấp-nhận chế-độ cộng-sản.

Cuộc “đấu chính trị” do Trung-ương Ðảng phát-động, kéo dài trong nửa tháng, gây không biết bao nhiêu tang tóc, nhưng sau khi ông Hồ đã viết thư “xin lỗi đồng-bào” thì tình hình ở nông-thôn lại tương-đối được ổn-định. Những người chạy trốn ra thành-phố lần lượt trở về làng. Cán-bộ làm ngơ không hỏi tới và để yên cho tự-do sinh hoạt trong khoảng vài tháng.

Nhưng “đấu” rồi, Ðảng còn một công-tác khác cần phải làm. Tức là chứng tỏ trước nhân dân là dù sao lời dậy của Bác Mao vẫn đúng. Bác Mao đã nói : “Quần chúng bao giờ cũng sáng suốt” và “Nông dân có thể lãnh-đạo được Cách-mạng vô-sản”. Nhưng cuộc “đấu chính trị” quả đã gây nên nhiều ảnh-hưởng tai hại. Nhiều người trước kia nhiệt-liệt ủng-hộ cộng-sản, nay bỗng nhiên hết tin-tưởng. Họ nhận thấy ông Hồ quá lệ thuộc vào ông Mao đã nhập cảng vào Việt-Nam nhiều hành động dã man mà từ ngàn xưa sử sách Việt Nam chưa từng chép, và hiện nay không một dân-tộc văn-minh nào có thể dung thứ được. Họ cũng nhận-định là Cộngsản, mặc dầu đã nắm trọn quyền trong tay, mà còn dùng mánh lới “phát-động quần chúng” để trừng-trị đối-phương thì thế tất sau này không bao giờ Cộng-sản có thể áp-dụng những biện-pháp công-bằng và nhân-đạo để trị dân. Những người còn giữ được lý-trí . mà thực sự thì nhiều người đã mất vì “học tập
chính trị” quá nhiều . bắt đầu so sánh chế độ cộng-sản với chế-độ thực-dân ngày xưa. Họ công-nhận dưới chế-độ thực-dân, tuy không có công-bằng và tự-do, nhưng ít ra cũng có một hình-thức pháp-lý nào đó. Chính-quyền thuộc-địa cũng giết, nhưng giết bằng máy chém, không giết bằng “phát động quần-chúng”.

Ngay những đảng-viên trung-thành cũng bắt đầu ngờ vực khả năng lãnh-đạo của nông-dân. Họ tự hỏi nếu gây căm-thù, rồi “phóng tay phát-động nông-dân” thì liệu nông-dân sẽ đưa cách-mạng tới đâu? Họ vẫn biết một xã-hội mà người giầu đá đít người nghèo là một địa-ngục, nhưng họ không tin rằng những kẻ kẹp tay thiên-hạ vào “ê-tô” để vặn có thể xây dựng được thiên-đường trên mặt trái đất.

Ðể đánh tan luồng tư-tưởng nguy-hại này, Cộng-sản áp-dụng hai biện-pháp một cho những người có học và một cho dân chúng thiếu học :

1. . Ở mỗi tỉnh đều thành lập toà án quân sự để xử tội những “Việt gian” bị bắt trong vụ “Ðấu chính trị”. Mục-đích của Cộng-sản là để chứng minh cho dân-chúng trông thấy rằng mặc dầu “quần chúng đã tự động”, sự thực quần-chúng vẫn sáng suốt, vì trong số những người họ “tố”, quả thực có nhiều “Việt gian” lợi hại, làm tay sai đắc lực cho Pháp.

2. . Ðảng tổ-chức một chiến-dịch Cải-tạo Tư-tưởng cho toàn thể đảng-viên và cán-bộ để giải thích cho họ hiểu là “phóng tay phát-động quần-chúng”, mặc dầu có nhiều sai lầm, nhưng tựu-trung vẫn là một chính-sách rất “hợp tình, hợp lý”. Vì hai biện-pháp kể trên bao gồm trong “chiến-thuật Mao-Trạch-Ðông”, nên chúng tôi sẽ cố gắng trình-bầy cặn kẽ trong những chương sau.

Chương 8

DANH-SÁCH VIỆT-GIAN

Những người bị bắt và bị đấu tố trong cuộc “Ðấu tranh chính-trị” mà may mắn còn sống sót, thì bị đưa vào trại giam để công-an điều tra thêm. Vài tuần sau công-an tuyên bố là trong số những người này quả có nhiều “Việt-gian” lợi hại, có chân trong một tổ chức bí mật, làm gián-điệp cho Pháp.

Trong năm 1951, nghĩa là hai năm về trước, Pháp có bỏ bom phá tan hệ thống dẫn-thủy nhập điền trong vùng Việt-minh kiểm-soát. Nhớ lại vụ oanh tạc này, Ðảng được dịp tuyên bố là chính những “Việt-gian” mà nhân dân đã “lột mặt” đã xui Pháp ném bom phá hủy các đập nông-giang. Ðảng còn nói rằng bọn họ đã vẽ địa-đồ các đập nước và các cầu cống và chuyển giao cho Pháp. Rõ ràng là một sự vô cùng phi-lý vì không có một người Việt-nam nào không hiểu rằng những cống và đập đó đều do Pháp xây-dựng và toàn bộ bản-đồ Việt-nam và Ðông Dương đều do Pháp vẽ. Nói rằng Pháp quên không biết đập ngăn nước khổng lồ họ xây ngày trước bây giờ nằm vào chỗ nào và phải nhờ “Việt-gian” chỉ điểm mới nhớ ra thì cực kỳ khôi hài. Nhưng đối với cộng sản thì phi-lý không phải là một trở ngại cho tuyên truyền. Họ kinh nghiệm rằng đối với nông-dân chỉ việc nhắc đi nhắc lại một lý-luận thô sơ dễ hiểu thì dù phi-lý đến đâu cuối cùng nông dân cũng nhập tâm cho là thực. Ðặc biệt là nói về thực-dân Pháp và đế-quốc Mỹ thì kể hươu kể vượn thế nào cũng được, vì nhiều nông-dân suốt đời không hề thấy một người Pháp hoặc một người Mỹ. Một trung-đội trưởng Việt-minh sau khi thắng trận Ðiện Biên Phủ về Hà-NộI hỏi dân thủ-đô có phải người Mỹ da đỏ hồng hào không. Ý hẳn anh ta chỉ nghe nói bên Mỹ có một chủng tộc thường gọi là Peaux Rouges. Ðối với trình độ kiến-thức như vậy thì dĩ-nhiên càng lý-luận giản-dị bao nhiêu, dân chúng càng ưa nghe bấy nhiêu.

Mỗi tỉnh đều đệ lên trung ương một danh sách những kẻ “phản động” và sửa soạn xử-án công khai. Trong mỗi danh sách đều có những “thành-phần điển-hình” : một địa-chủ giầu nhất, một vị hòa-thượng, một linh-mục, một vị khoa cử và một cựu quan lại.

Trong khi chờ phiên tòa xử thì các can-phạm phải điệu đi từ trại giam này đến trại giam khác, qua hết làng này sang làng khác, như kiểu một gánh “xiếc” mang thú dữ đi quảng cáo trước khi biểu diễn buổi đầu. Chân họ bị xiềng và tay họ bị trói bằng một chiếc thừng dài, buộc cánh tay người đầu đoàn cho tới cánh tay người cuối cùng. Họ khạng nạng đi giữa ban ngày, dưới mặt-trời tháng năm, tay bị xích nhưng cũng cố nâng xiềng khỏi mặt đất cho dễ đi. Tiếng xiềng chạm nhau kêu “leng keng” rất xa và rất rùng rợn vì là một thứ tiếng mà thiên hạ chưa từng nghe bao giờ.

Phiên tòa đã xếp đặt gần xong và các vị thẩm phán đã được cấp trên chỉ định thì bỗng nhiên có lệnh đình lại. Sau đó có tin đồn là các “cố vấn Trung-quốc” xét thấy danh sách phản động chưa được đầy đủ. Họ nói danh sách còn thiếu một loại đại phản-động mà bên Trung-quốc gọi là “Tư-sản Mại-bản”. Theo lý-thuyết của ông Mao, một lý-thuyết mà các đồ-đệ của ông coi là một cống hiến vĩ-đạI, giai-cấp tư sản ở các nước kém mở mang chia làm hai loại : tư-sản dân-tộc, tức là những người công-nghệ và tư-sản mại-bản tức là những người xuất-nhập cảng. Hai loại tư-sản này có hai thái-độ chính-trị khác nhau, vì cách thức kinh doanh của họ khác nhau.

Tư-sản dân-tộc hay công-nghệ bản-xứ chế-tạo hàng nội-hóa nên phải cạnh-tranh gắt gao với tư-sản ngoạI-quốc. Vì vậy nên họ có tinh-thần yêu nước một phần nào, và sẵn sàng hợp tác với cộng-sản để tranh-đấu dành độc-lập. Cộng-sản để yên cho họ sống từ thời kỳ cải-cách ruộng đất cho đến thời kỳ hợp tác công-nghiệp. Trong khi ấy họ vẫn làm chủ nhà máy của họ, dưới sự kiểm soát nửa kín nửa hở của công-đoàn. Ở Trung-Hoa và ở Bắc-Việt chế-độ này được duy-trì trong hai năm.

Thành phần tư-sản mại-bản thì ngược lại sống nhờ vào tư-sản ngoại qưốc nên không có mảy may tinh thần yêu nước. Quyền-lợi của họ bị ràng buộc vào quyền lợi của tư-sản ngoại-quốc nên họ chỉ là tay sai của đế-quốc. Vì vậy nên họ bị xếp là “Kẻ Thù Số Hai của Nhân Dân” (Ðịa-chủ là kẻ thù số Một). Nhưng muốn quy một người này là tư sản mại-bản, theo đúng nghĩa của ông Mao-Trạch-Ðông thì phảI tìm thấy ở người ấy hai điểm. Một là tư-sản và hai là mại-bản, tức là buôn bán xuất-nhập cảng. Vì vậy nên khi Trung Ương bắt các ủy-ban tỉnh phải lập danh sách tư-sản mại-bản, ủy-ban tỉnh phải kê khai một số người trong địa-phương có thể tạm gọi là “tư-sản” và có buôn bán hàng ngoạI-quốc. Nhưng kiếm được những người đầy đủ hai điều-kiện kể trên quả là một việc rất khó vì hồi ấy chẳng còn ai ở hậu-phương có thể tạm gọi là tư-sản mà xuất-nhập cảng cũng hoàn toàn không có. Từ trước Việt Nam vốn dĩ đã chẳng có bao nhiêu tư-sản, mà nếu có một vài người thì họ đều ở lại Hà-Nội với Pháp. Thật đúng như lời ông Mao, hạng người này quả là tay sai của tư-sản ngoại quốc và luôn luôn cấu kết với thực-dân đế-quốc. Một vài tư-sản vào loại kém, lúc đầu có chạy ra hậu-phương nhưng chỉ ít lâu sau họ cũng trở về thành. Chỉ có một số “phú-thương” chịu khó ở lại hậu-phương, thường khi vì lý do gia-đình hơn là kháng-chiến yêu nước, nhưng tất cả đều bị khánh-kiệt từ mấy năm trước. Vì ở hậu-phương thiếu hàng-hóa, thiếu giao thông và khả-năng tiêu-thụ của nhân-dân quá kém cỏi, nên họ chẳng kiếm chác được bao nhiêu. Lấy cớ là tránh nạn Pháp nhẩy dù, cứ ba hoặc sáu tháng một họ lại phải di chuyển tiệm buôn từ nơi này sang khác, phá nhà cũ làm nhà mới. Nạn lạm phát (một nghìn đồng năm 1955 trị giá bằng một đồng năm 1946) và cuối cùng là Thuế Công-thương-nghiệp đã khiến họ trở thành bàn tay trắng, buôn đi bán lại lấy công làm lãi.

Tuy nhiên việc tìm kiếm tư-sản cũng không khó là vì danh-từ “tư-sản” cũng như danh-từ “địa-chủ” hết sức co rãn. Một người sống “trên mức bình thường” cũng có thể tạm xếp vào loại tư-sản, vì chính-quyền có thể chứng minh trước dân chúng là quả họ có một “tư-sản” nào đó. Trái lại việc lùng kiếm những người mại-bản thì thật quả là khó. Những cố-vấn Trung-quốc thực-sự đã lầm to khi họ hạch sách bắt kiếm cho kỳ được tư-sản mại-bản. Có lẽ họ yên trí rằng ở Việt-nam loại người này cũng đông đảo như ở Trung-hoa Quốc-dân-Ðảng. Sự thực thì ở Thượng-Hải, dưới chế-độ Tưởng, có rất nhiều tư-sản mại-bản, nhưng ở Việt -Nam thì thuở ấy hoàn toàn không có, vì trong suốt thời kỳ Pháp-thuộc, mọi việc xuất-nhập cảng đều thuộc độc-quyền một vài công ty tư-bản Pháp.

Nói rằng dưới chế độ thuộc địa có tư-sản mại-bản Việt-nam đã là hài-hước, mà cho rằng trong vùng kháng chiến có tư-sản mại-bản lại là vô-lý hết chỗ nói. Tuy nhiên, Bác Mao nói thì phải nghe và lệnh trên ban xuống thì phải thi hành, và muốn cho danh-sách có đủ các thành phần như cấp trên đòi hỏi, các ủy-ban tỉnh liền bắt mấy cán-bộ mậu-dịch của Ðảng, lâu nay phụ-trách buôn lậu xe-đạp, thuốc tây, dầu lửa, và một vài thức cần thiết cho kháng chiến từ vùng tề vào. Lý-luận của cộng-sản rất đơn sơ. Nếu không có xuất nhập khẩu thực sự, thì việc buôn lậu qua giới tuyến cũng có thể tạm coi là xuất nhập khẩu.

Kết quả là mấy người trước kia được Ðảng tín-nhiệm giao cho công việc nguy-hiểm là buôn bán với “tề” bỗng nhiên bị quy là “Việt-gian” và đưa vào trại giam. Sau khi danh sách được Trung-ương chấp nhận, một tòa-án quân sự được thành lập trong mỗi Khu và di-chuyển từ tỉnh nọ sang tỉnh kia để xử án “Việt-gian” ở mỗi tỉnh. Chánh án khu Tư là ông Hồ-đắc-Ðiềm, trước kia là tổng-đốc Hà-đông và giáo-sư trường Luật Hà-Nội. Thẩm-phán và công-tố viện đều là đảng-viên Ðảng Lao Ðộng. Không có trạng-sư, chỉ có “biện-hộ viên”. Họ không phải là luật-gia xuất thân, mà chỉ là người thường, một người làm nghề đỡ đẻ, và nhiệm vụ của họ là bênh-vực quyền lợi của nhân dân, không phải quyền lợi của bị can. Họ có xin tòa khoan hồng cho một số “cò mồi” bị bắt để lấy cớ khai ra “đầu xỏ”, nhưng họ yêu cầu tòa thẳng tay trừng-trị “Việt-gian phản-động”. Tòa xử công khai, nghĩa là có hai đoàn đại-biểu đi dự. Một đoàn do mỗi xã cử một người và một đoàn do mỗi xí-nghiệp cử một người. Tất nhiên những người được cử đi dự đều là đảng-viên trung-kiên. Những đại-biểu đi dự được sửa soạn hai tuần lễ trước, học thuộc lòng những khẩu hiệu cần phải hô, và hô vào những lúc nào cho đúng lúc. Việc sửa soạn thì rất rầm rộ, nhưng đến khi tòa xử thì tương đối rất khoan hồng. Chiến lược cộng-sản là tỏ thái-dộ công-bình và khoan hồng trong những vụ án có ảnh hưởng lớn đối với nhân dân.

Ở Thanh-Hóa, chẳng hạn, chỉ có địa-chủ số một là ông Nguyễn-hữu-Ngọc và một vị hòa-thượng là Tuệ Chiếu bị lên án tử hình, còn linh mục Mai-bá-Nhạc cùng hai tư-sản mại-bản chỉ bị phạt 20 và 15 năm khổ sai. Cựu quan-lại là ông Hà-văn-Ngoạn, và cựu khoa-bảng là cụ Cử Lê-trọng-Nhị không hầu tòa vì đã chết từ mấy tháng trước trong trại giam. Trong gần một năm, không thấy những người bị án tử-hình mang ra hành-hình nên nhiều người yên trí là họ được ân giảm, nhưng đột nhiên đêm trước hôm trao đổi tù-binh giữa Pháp và Việt-minh, hai người bị đưa ra bắn. Vụ hành hình này rất đơn giản, không có dân chúng xếp hàng vỗ tay và hô đả đảo như thường lệ. Sáng hôm sau, những “Việt gian” khác được trả lại tự-do.

(Còn tiếp)

Số hạng Thu-hoạch trung-bình kg thóc

Thuế %

Số hạng Thu-hoạch trung-bình kg thóc Thuế %
1 Từ 71 đến 95 5 21 Từ 706 đến 755 25
2 96 – 115 6 22 756 – 805 26
3 116 – 135 7 23 806 – 855 27
4 136 – 155 8 24 856 – 905 28
5 156 – 175 9 25 906 – 955 29
6 176 – 205 10 26 956 – 1005 30
7 206 – 235 11 27 1006 – 1055 31
8 236 – 265 12 28 1056 – 1105 32
9 266 – 295 13 29 1106 – 1155 33
10 296 – 325 14 30 1156 –1215 34
11 326 – 355 15 31 1216 – 1275 35
12 356 – 385 16 32 1276 – 1335 36
13 386 – 425 17 33 1336 – 1395 37
14 426 – 465 18 34 1396 –1455 38
15 466 – 505 19 35 1456 – 1515 39
16 506 – 545 20 36 1516 – 1575 40
17 546 – 585 21 37 1576 – 1635 41
18 586 – 625 22 38 1636 – 1695 42
19 626 – 665 23 39 1696 – 1755 43
20 666 – 705 24 40 1756 – 1815 44
      41 1816 – trở lên 45

Giáo sư Bernard Fall đã chép bản thuế biểu này trong cuốn Le Việt-Minh (tr. 249) của ông, nhưng cũng như các quan-sát viên ngoại-quốc khác, ông có ngờ đâu rằng ngoài thuế-biểu chính-thức này, nông-dân còn phải đóng thêm một số “phụ-trội” mà chính-quyền Việt-minh dấu kín không hề công-bố. Số phụ-trội này nói là để xung vào “quỹ xã” còn thuế chính nộp vào kho bạc nhà nước. Sự thực thì cả hai đều gộp làm một và tùy ý Ðảng chi dùng. Thuế phụ-trội định là 15 phần trăm của thuế chính-ngạch và cả hai thứ đều phải nộp một lúc. Chi-bộ xã giữ hai phần ba số thuế phụ-trội thu được và nộp Tỉnh-bộ một phần ba.

Tỉnh-bộ cũng chỉ giữ hai phần ba số phụ-trội nhận được và đưa lên Tổng-bộ một phần ba. Tổng-bộ lại giữ hai phần ba và nộp cho Cơ-quan Thông-tin Quốc-tế (Cominform) một phần ba làm Nghĩa-vụ Quốc-tế.

Như vậy, nghĩa là bản thuế-biểu chỉ dùng để tính thuế chính-ngạch, rồi cộng thêm vào thuế chính-ngạch 15 phần trăm nữa. Muốn cho rõ hơn, chúng tôi xin trình bày hai tỉ-dụ.

Thuế Bậc Một : Theo bản thuế-biểu thì nông-dân thuộc loại này phải đóng 5 phần trăm số lúa thu-hoạch cho chính-phủ và ngoài ra còn phải đóng 15 phần trăm của 5 phần trăm, nghĩa là 0,75 phần trăm cho Ðảng. Tổng cộng là 5,75 phần trăm.

Thuế Bậc 41 : Những người thuộc loại này phải đóng 45 phần trăm thu hoạch cho chính-phủ, cộng thêm 15 phần trăm của 45 phần trăm, nghĩa là 6,75 phần trăm tổng số thu-hoạch cho Ðảng. Tổng cộng là 51,75 phần trăm của thu-hoạch. Nhưng đây mới chỉ là trường hợp những “phú-nông” tự cày cấy lấy ruộng. Những địa-chủ cho thuê ruộng lấy tô phải đóng thêm 25 phần trăm, nghĩa là phải nhân 51,75 với 1,25 thành 64,68 phần trăm. Ðấy là mức thuế cao nhất.

Tuy nhiên đấy mới chỉ là nguyên tắc đại cương. Thực ra thuế nông-nghiệp còn nhiều điều khoản rắc rối hơn. Ðể cho rõ ràng hơn, chúng tôi xin trình bầy hai trường hợp điển hình, thuế của một bần-nông (bậc 2) và thuế của một địa-chủ (bậc 41). Tuy chỉ là giả dụ cho rõ hiểu cách tính, chúng tôi cũng cố ý đưa ra những con số về diện-tích và về sản-lượng hết sức xát thực-tế để độc-giả có thể quan-niệm đúng-đắn về đời sống dân-quê Bắc-Việt và ảnh-hưởng của thuế nông-nghiệp đối với họ như thế nào.

Trường-hợp A

Giáp là một bần-nông có 5 sào đất mà vợ chồng anh cày cầy lấy. Anh có vợ và hai con nên được tính là có bốn “nhân khẩu”. Với 5 sào ruộng, mỗi năm Giáp thu hoạch được 400 kilô thóc. Bây giờ tỉ dụ cán-bộ cũng công nhận là anh thu được 400 kilô (không bắt bình cao hơn như thường lệ), thì muốn tính xem anh thuộc vào bực nào, phải đem 400 kilô chia cho 4 nhân khẩu. Mỗi nhân khẩu được 100 kilô. Vậy chiếu theo bản thuế, gia-đình Giáp đứng vào bậc 2, tỷ-lệ thuế là 6 phần trăm.

Giáp phải nộp cho chính-phủ 6 phần trăm của 400 kg, tức là : 24 kilô

Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 24 kg, tức là : 3,6 kilô

Tổng cộng : 27,6 kilô

Giáp còn lại 327,4 kilô thóc để nuôi bốn miệng ăn trong suốt một năm. Tính 100 kilô thóc xay được 65 kilô gạo, Giáp có 242 kilô gạo để ăn trong một năm, nghĩa là mỗi ngày 665 gam để nuôi bốn miệng ăn. Người nông dân Việt-Nam trung bình ăn mỗi ngày 500 gam vị chi trừ một số ít phú-nông địa-chủ là có ít nhiều thịt cá, còn bần nông chỉ lấy cơm làm no bụng. Về vụ gặt hái, làm lụng vất vả nông dân Bắc-Việt có thể ăn một kilô gạo một ngày vì họ ăn đến ba bữa cật lực. Tỉ-dụ kể trên chứng tỏ một bần nông kiếm không đủ gạo buôi thân vẫn phải nộp thuế cho Ðảng và cho chính-phủ.

Trường-hợp B

Cụ Bính là một địa-chủ vì cụ có 15 mẫu ruộng. Cả cụ ông lẫn cụ bà đều già nua tuổi tác, có hai người con nhưng một người đi bộ-đội và một người làm cán-bộ mậu-dịch nên không có nhà. Vì không cày cấy lấy được nên ruộng phải cho tá-điền làm thuê, mỗi mẫu lấy 400 kilô thóc (rẽ đôi), nghĩa là 6.000 kilô tất cả. Tuy gia-đình cụ Bính có bốn miệng ăn, nhưng chỉ được coi là có ba nhân khẩu, vì người con đi bộ-đội được tính là một nhân khẩu, còn người con làm cán-bộ, có lương, thì không được tính. Mang 6.000 kilô chia cho 3, thành ra mỗi nhân khẩu được 2000 kilô, như vậy là gia-đình cụ Bính được xếp vào bực 41, loại cao nhất. Thuế của cụ tính như sau:

Nộp cho chính-phủ 45 phần trăm của 6.000 kg : 2.700 kg
Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 2.700 kg : 405 kg
Tổng cộng : 3.105 kg
Nhưng vì cụ Bính không tự cày cấy lấy ruộng và tất cả lợi tức của cụ là do “bóc lột” tá-điền mà có, nên thuế của cụ phải tăng thêm 25 phần trăm. Như vậy thuế của cụ sẽ là : 3.105 kg x 1,25 = 3.881 kg 250, nghĩa là 64,68 phần trăm tổng-số thu-hoạch. Cụ còn lại 2.118 kg 750 thóc, tương đương với 1376 kg gạo.

Tạm định là hai cụ già ăn mỗi ngày hết 1 kg gạo, tức 365 kg mỗi năm, thì còn thừa 1.011 kg gạo để bán đi mua măm muối, rau cỏ và chi tiêu các món khác là vừa vặn, chưa nói đến may mặc và thỉnh thoảng phảI mua cho con bút máy, đồng hồ mà cán-bộ và bộ-đội vẫn thường vòi vĩnh bố mẹ, hoặc đôi khi phải thay trâu bò cày ( bán con già mua con non ) cho tá-điền.

Tính thuế theo kiểu trên đây mới là giả-dụ thu-hoạch của gia-đình cụ Bính được “bình” đúng mức, nhưng thực tế thì không mấy khi như vậy. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, muốn tính thuế phải nhận diện-tích ruộng với sản-lượng mỗi mẫu, nhưng cả hai con số này bao giờ cũng bị “kích” lên quá lố.

Về diện-tích thì đáng lẽ không cần phải “bình” vì hầu hết mọi nơi, Pháp đã đạc-điền nên chỉ việc xem “trích-lục” ruộng là biết rõ diện-tích mỗi thửa một cách rất chính-xác. Nhưng cán-bộ không bao giờ công-nhận những con số trong trích-lục và nhất định bắt nhân dân phải “bình” lại, để đưa ra một con số lớn hơn. Người ngoại cuộc không thể nào chấp nhận được lối làm việc phi-lý như vậy, nhưng cán bộ cộng-sản nhất định cho rằng chỉ có “bình” mới đúng, vì “nhân dân rất sáng suốt, không bao giờ bình sai cả”. Tỉ-dụ, một nông dân có một mẫu ruộng, khai là một mẫu, nhưng cán-bộ xui cốt-cán1 đồng thanh nói là thửa ruộng ấy rộng 1 mẫu rưỡi. Chủ ruộng không có thể cãi và không giám mang trích-lục ra đối chiếu vì biết1 Cốt cán là những nông-đân theo Ðảng và làm việc cho Ðảng, chưa được thu-nhập vào Ðảng. trước là nếu có chìa trích-lục ra thì thể-tất cán-bộ sẽ bĩu môi nói : “Ngày xưa Pháp và bọn đặc-điền ăn tiền nên đề láo, chỉ có nhân dân mới ước lượng đúng mức”. Việc “kích” diện tích ruộng cao hơn, không phải chỉ nhằm phá sản một mình giai cấp địa-chủ, mà chính-thực là muốn bần-cùng-hóa toàn thể nông-thôn.

Bốn năm sau, trong dịp “Sửa Sai”, Việt Cộng hạ thấp tất cả sản lượng xuống một bực. Việc này chứng tỏ, trong bốn năm đầu, Việt Cộng đã chủ trương làm kiệt quệ toàn dân để khiến mọi người trở thành dễ sai dễ bảo, và không có điều kiện nổi loạn. Tục-ngữ Việt-Nam có câu “lạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Hết tiền, hết gạo, mọi người phải an phận chịu đựng. Ðoạn văn sau đây, trích trong tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng Lao-Ðộng, phơi bầy tất cả mánh lới mà Việt Cộng đã dùng để “kích” thêm diện-tích ruộng:

“Khi điều chỉnh diện tích , cán-bộ đội “Tô-Hiệu” đã gò nhân dân tự báo diện tích tăng từ 10 đến 25 %. Nhà chị Tèo, trung nông, có 1 mẫu, 9 sào ruộng, phải báo đi báo lại đến 4 lần, tăng lên thành 2 mẫu 5 sào, cán bộ mới nhận là đúng. Ông Quân phú nông, có 5 mẫu, nghe phong thanh có người bảo “không báo đúng sẽ bị tịch thu tài sản” sợ, nên phải báo lên thành 6 mẫu. Có cốt-cán biết cán bộ dùng mình làm “điển hình” để gò ép quần chúng, nhưng không giám phản đối. Sau này chị Tít đã thú thật : “Tôi ngượng vớI nhân dân quá, nhưng chị đội1 cứ “bồi-dưỡng” 2 thành ra phải nói dối.”
NGUYỄN-ỨNG-CHIÊM
Báo Nhân Dân, số 903, ngày 24-8-1956

Cộng-sản dùng cốt-cán để bắt nông-dân phải khai tăng diện-tích ruộng, rồi lại bắt họ phải khai tăng cả sản-lượng mỗi mẫu hoặc mỗi sào. Tỉ-dụ, một trung-nông có một mẫu và gặt được 800 kilô thóc, và khai là gặt được 80 kilô hoặc ít hơn một chút. Cán-bộ cộng-sản không nhận là đúng và xui cốt-cán khai giữa cuộc họp là anh ta có 2 sào cũng ở cánh đồng ấy mà anh ta gặt được 240 kilô, ngụ ý rằng nếu có 1 mẫu thì phải gặt được 1.200 kilô. Người có một mẫu ruộng phải câm miệng, không giám cãi.

Ðoạn văn sau đây trích trong một thiên phóng-sự điều tra của báo Thời Mới về chiến dịch Sửa Sai chứng tỏ Ðảng đã dùng cốt-cán làm nội-công để buộc nông-dân phải nhận sản-lượng cao như thế nào:

“Ðến phần điều-chỉnh sản-lượng càng lắm ý-kiến bàn cãi. Cùng một khoảng ruộng, người thì nói nhà tôi gặt được 3 thúng, người thì nói chỉ gặt được thúng… Ông Biểu, một trung-nông ở thôn Miễu, đỏ mặt tía tai ở hội-nghị xóm : “Ruộng hạng A ở làng này chỉ 100 cân là hết nước, dự-kiến 130 thì định đánh cả thóc rơm, thóc lép hay sao ? Cải-cách đã sai rồi bây giờ lại theo như Cải-cách thì sửa sai cái gì ?” Mọi người nhao nhao đồng ý. Anh em ban thuế thôn ngồi thừ, không ai nói gì.”
Thời Mới, ngày 19-4-1957

Vì cả diện-tích ruộng lẫn sản-lượng đơn-vị đều bị kích lên nên con số thu-hoạch tăng lên quá chừng. Kết quả là, thường khi một bần-nông chỉ gặt được 100 kilô phải nhận là gặt được 200 kilô, để chịu thuế tính theo 200 kilô. Số thuế sẽ tăng quá gấp đôi vì 100 kilô chỉ phải đóng 6 phần trăm mà 200 kilô phải đóng tới 10 phần trăm. Kết quả là tuy chính-quyền Việt Minh tuyên bố chỉ thu 20 phần trăm hoa-lợi của nhân dân, thực ra đã thu quá 40 phần trăm.

Với chính-sách thuế khóa như vậy, trung-nông có 5,7 sào thường phải đóng cho chính-phủ nhiều hơn ngày trước tá-điền phải đóng địa-tô cho địa-chủ. Chính-phủ thu thuế nông-nghiệp một năm hai lần, ngay sau khi gặt chiêm và gặt mùa, mà phải nộp hoàn toàn bằng thóc. Những thửa ruộng trồng hoa mầu khác hoặc trồng cây ăn quả vẫn phải nộp thuế bằng thóc; nộp tiền chính phủ cũng không chịu. Nền nhà và sân, dù là sân gạch, nếu rộng quá một mẫu cũng phải chịu thuế nông-nghiệp như ruộng lúa. Có ngườI phá sân làm ruộng để lấy lúa nộp thuế, nhưng bị quy tội là đã “phá-hoại tài sản của nhân dân”.

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem
Phần1 Cái vinh & cái nhục của một tiểu nhược quốcPhần2  Nước Mất Lại Còn

June 5, 2008

Bài 5: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam

BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CSVN ĐÃ THÔNG QUA CHỦ TRƯƠNG “TỊCH THU TÀI SẢN” CỦA MỌI NGƯỜI ĐỂ CỨU CHẾ ĐỘ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ? DÂN CHÚNG VIỆT NAM NÊN TIN AI VÀ LÀM GÌ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG?

TS. Trần Minh Hoàng

 

Những tin tức của thế giới về “khủng hoảng” kinh tế ở Việt Nam diễn ra dồn dập.

Trong tuần lễ vừa qua từ 27 đến 31 tháng 5 năm 2008, đồng loạt trên các phương tiện thộng tin đại chúng có uy tín và lớn trên thế giới như : BBC, RFA, VOA, BLOOMBERG … đều đưa tin bài về các thông tin và nhận xét của các tổ chức kinh tế, tư vấn, ngân hàng, tài chính và các chuyên gia có uy tín trên thế giới đã đề cập và chính thức dùng từ “khủng hoảng” để đánh giá và nhận định về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đang xấu đi từng giờ, từng ngày…

Theo khái niệm về “khủng hoảng”, thì nền kinh tế của một quốc gia có tốc độ tăng trưởng âm trong 3 tháng liền thì nền kinh tế của quốc gia đó được gọi và đánh giá trước tiên là “suy thoái”. Sau suy thoái, nếu nền kinh tế quốc gia đó tiếp tục không tăng trưởng hay tăng trưởng âm tiếp theo nhiều tháng sau suy thoái với những dấu hiệu xấu, đi xuống từ tài chính, lạm phát, nhập siêu, sản xuất, tiêu dùng…và dẫn đến những tình huống xấu hơn, thì nền kinh tế quốc gia đó bước vào và được gọi khủng hoảng.

Trường hợp Việt Nam thì khủng hoảng kinh tế có thể khác hơn khái niệm và tiêu chí đánh giá khủng hoảng kinh tế như nói trên.

Việt Nam sự thật chưa phải là nền kinh tế thị trường thực sự như CSVN rêu rao và mọi người vẫn nhầm tưởng như vừa qua.

Nguyên do đường lối kinh tế Việt Nam là đường lối kinh tế kiểu cộng sản, một kiểu kinh tế thị trường XHCN nửa vời, mang nặng màu sắc cộng sản độc tài kinh tế, độc đoán kinh doanh, điều hành kinh tế theo kiểu đảng trị, vì mục đích cục bộ quyền lợi theo kiểu cộng sản, thiếu dân chủ, bưng bít thông tin sự thật về kinh tế.

Cho nên khi nền kinh tế quốc gia gặp khó khăn và “xuống dốc” sẽ xuống rất nhanh, mà không có gì để phanh hãm hay kềm giữ được, giai đoạn suy thoái có thể bỏ qua để kinh tế lao thẳng vào khủng hoảng do các tố thành nội tại của nền kinh tế đã tiềm ẩn từ lâu.

Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương tịch thu tài sản, hay nói theo ngôn từ hoa mỹ là “Trưng thu, trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân trong ngoài nước có trên lãnh thổ Việt Nam” khi có khủng hoảng xảy ra.

Ngay từ bài viết đầu tiên của loạt bài này, tác giả đã đưa ra nhận định khá chính xác về nguy cơ và nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam.

Do có quan hệ mật thiết và hữu cơ giữa kinh tế và chính trị trong xã hội, đặc biệt là ở thể chế cộng sản nên một khi có khủng hoảng kinh tế ắt sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị.

Những cuộc khủng hoảng ở các thể chế chính trị dân chủ khi có xảy ra khủng hoảng kinh tế hay chính trị chỉ đơn thuần dẫn đến sự thay đổi đảng chính trị cầm quyền này sang đảng chính trị khác, và chính sách kinh tế được thay đổi nhanh chóng cho phù hợp để đất nước vượt qua khủng hoảng dưới sự lựa chọn và quyết định của người dân, thông qua lá phiếu dân chủ.

Còn ở Việt Nam và chính thể cộng sản cầm quyền khi khủng hoảng kinh tế xảy ra sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị, lúc đó mọi điều xấu nhất và hoảng loạn đều có thể xảy ra?

Lý do trước tiên là mất lòng tin. Khủng hoảng lòng tin và sự hoảng sợ của quần chúng.

Điều này dưới chính thể cộng sản Việt nam đã tìm ẩn và chất chứa tự bao giờ rồi. Chính điều này sẽ dẫn đến:

Một là thay đổi thể chế chính trị: Đây là thời cơ tốt nhất để chuyển hóa dân chủ cho đất nước Việt Nam, thay đổi thể chế chính trị cộng sản độc tài và thay đổi đường lối kinh tế thị trường dân chủ thực sự cho đất nước. Những điều kiện cần và đủ để thực hiện việc thay đổi chính trị này trong trường hợp này ở Việt Nam sẽ ra sao ? (Chi tiết nội dung này sẽ được đề cập trong các bài tiếp theo).

Hai là để bảo vệ đảng cộng sản độc tài và chính phủ phi pháp do cộng sản Việt Nam lập nên hiện nay, hay nói cách khác là bảo vệ chính thể cộng sản. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ đưa nhân dân và tổ quốc Việt Nam vào một cuộc tỷ thí kinh tế chính trị tiếp theo hoặc khác nữa, sau cuộc thí nghiệm đầy nước mắt về kinh tế thị trường có định hướng XHCN sai lầm lần này mà cả dân tộc VN phải gánh chịu, trừ những tên cộng sản tham nhũng được hưởng lợi lớn lao.

Thông tin tối mật, mới nhất và độc ác nhất

Mới đây nhất để bảo vệ đảng và chính thể cộng sản VN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chính trị. Bộ chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam đã họp bí mật tại Hà Nội vào một đêm cuối tháng 5.2008 trước khi Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc và Nguyễn Minh Triết đi Châu Âu để thảo luận và thông qua chủ trương “Trưng thu, hay trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân”.

Việc trưng thu hay trưng mua tài sản của người dân hay doanh nghiệp lần này được giao quyền cho đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thực hiện .

Thực chất, đây sẽ là một kế hoạch cướp bóc có tổ chức qui mô lớn bằng bàn tay đỏ sắt máu của CS trong thế kỷ XXI”.

Mới nhất, kỹ lưỡng và nguy hiển lẫn tàn bạo nhất so với những kế hoạch tương tự mà CSVN đã từng có rất nhiều kinh nghiệm và đã làm sau 1945, 1954 và 1975 cho dân tộc Việt Nam và ngoại kiều ở VN lúc đó.

Mục đích chính đáng được ngụy biện đưa ra sẽ là để bảo vệ an ninh quốc gia, khi có khủng hoảng xảy ra. Thực chất hành động cướp bóc này là để bảo vệ thành quả cách mạng của đảng, để bảo vệ đảng CS và chính thể phi pháp CSVN hiện nay trước cơn khủng hoảng đang xảy ra.

Một quyết định quan trọng và được yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối do Trương Tấn Sang, Ủy viên bộ Chính trị, Thường trực ban bí thư trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị và được bộ tứ là Nông Đức Mạnh lẫn Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng bảo trợ tán thành hết mình. Trừ Phạm Gia Khiêm Bộ trưởng Ngoại giao còn chần chừ do lo ngại các quan hệ quốc tế WTO…. Quyết định quỷ quái hay còn gọi là quyết định Ngũ quỷ, do (5 người) quỷ quái chóp bu của CSVN hiện nay quyết định thông qua.

Một quyết định mang tính chất phi pháp, đậm màu sắc của kẻ cướp bóc, theo kiểu độc tài cộng sản và được giữ tối mật, đã được CSVN trù tính và quyết định xong vào cuối tháng 5 vừa qua.

Trước đó, vấn đề này CSVN cũng đã dọn đường pháp lý để chuẩn bị cho hành động phi pháp của mình bằng một Dự thảo luật đã được chỉ thị cho một Viện Nghiên cứu Pháp luật của Quốc hội và một Viện nghiên cứu tư pháp của Bộ Tư pháp chuẩn bị Dự thảo thành luật và dự định trình ra Quốc hội trong đợt này, nhưng tình hình chưa cho phép, nên CSVN đành cho hoãn lại.

Khi thông qua quyết định này, Bộ chính trị đảng CSVN đã tính đến khả năng thực hiện bí mật theo các qui định lãnh đạo điều hành đất nước của Đảng CS mà không cần có một Luật do Quốc hội thông qua.

Bất kể Luật Pháp quốc tế, Công ước quốc tế, Hiệp định đã ký kết với các nước, với WTO, Hiến Pháp 1992 vốn là Hiến Pháp phi pháp của Việt Nam và các Luật pháp XHCN khác trong nước do CSVN nặn ra trước nay

Nhưng dù không cần, không có luật, thì đảng Cộng sản và chính phủ cộng sản vốn phi pháp của Việt nam cũng có thể thực hiện bằng một nghị quyết của Bộ chính trị có thể ban hành và cộng bố trên toàn bộ hệ thống thông tin của mình vào cuối buổi chiều và được thực hiện ngay trong đêm ? Một quyết định mà Chính phủ phi pháp và quốc hội bù nhìn của CSVN phải chấp hành theo đúng cơ chế chính trị ở VN tất cả đều do đảng CS lãnh đạo.

Chúng ta cũng nên nhớ, với ưu thế độc tài, độc đảng, độc ác, CSVN hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì, dù phi pháp, phi nhân, phi nghĩa, như họ đã từng làm trong suốt lịch sử tồn tại của đảng CSVN vừa qua. Mục đích chỉ để họ (CSVN) được tồn tại, mà bất chấp tất cả.

Cứu kinh tế sụp đổ cứu dân tộc hay cứu đảng CS : Bộ chính trị đảng CSVN quyết định chỉ cứu đảng CS mà thôi, và sẵn sàng đưa đất nước và dân tộc vào thời kỳ lầm than mới dưới gót giầy và họng súng và nhà tù của cộng sản Việt Nam.

Họ chấp nhận quay lại bản chất cộng sản, không như mọi người nghĩ là họ đã từ bỏ khi hội nhập quốc tế và chấp nhận cuộc chơi , khi tha thiết vào WTO và tha thiết xin được hưởng Quy chế PNTR của Hoa Kỳ

Không nên tin vào những gì cộng sản nói

Điều này đa số người dân Việt Nam, nhất là những người có hiểu biết về suốt qúa trình hình thành đảng cộng sản và chiếm quyền lãnh đạo đất nước của cộng sản Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở miền bắc và 1975 ở miền nam và sau đó là cả nước.

Bản chất cộng sản muôn đời là lừa bịp nhân dân, mỵ dân chủ. CSVN đã từng lừa bịp và mỵ dân cả trong chính trị và kinh tế, như họ (CSVN) đã từng làm qua nhiều giai đoạn trong suốt quá khứ đến hiện nay. Và ngày nay vẽ ra đường lối kinh tế thị trường XHCN bản chất là kinh tế cộng sản thì thủ đoạn mỵ dân của CSVN tiếp tục mang ra để lừa bịp nhân dân và cả thế giới. Thực chất đó là nền kinh tế cộng sản, và nay qua thực tế đã lộ rõ bản chất đó là nền khi tế phi thị trường, phi dân chủ.

Những thông tin chính thức của chính phủ CSVN đưa ra cho công luận và được hơn 600 tờ báo các loại “là những cái lưỡi không xương” của CSVN chuyên tuyên truyền nói theo lãnh đạo CSVN. Và chỉ được tuyên truyền theo kiểu “nói láo” để gọi là đánh bóng chế độ CS.

Nói láo là nói chuyện không có, hay không đúng với sự thật. Nói láo trong chính trị có thể còn được, như CSVN đã từng thành công , nhưng nói láo trong kinh tế thì hậu quả là “ nhãn tiền”.

Nói láo : Trong khi cuối tháng 5.2008 CSVN đã nói láo khi đưa ra chỉ số lạm phát là 25,2% của tháng 5 so cùng kỳ năm trước. Con số này đã bị lãnh đạo CSVN “duyệt” và cắt bỏ để hạ xuống rất thấp, những mong trấn an và lừa bịp, mỵ dân cũng như thế giới, nhưng không qua được mắt của các chuyên gia kinh tế nước ngoài.

Ví dụ như ngài Martin Rama là chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam mới đây đã xác nhận lại khi trả lời báo chí bên thềm Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ và đầu tư vàoViệt Nam tại Hà Nội ngày hôm qua 02.06.2008, đã cho biết chỉ riêng gạo là mặt hàng chiến lược quan trọng hàng đầu cho người dân Việt Nam chỉ trong tháng 5 và mấy tháng đầu năm nay đã tăng hơn 80%. Và các mặt hàng khác theo đánh giá và thông tin lẽ tẻ trên các báo của CSVN đưa tin gần đây thì đã tăng ít nhất 40% đến 200%.

Chỉ số lòng tin và tín nhiệm vào chính phủ và kinh tế ở Việt Nam theo một tổ chức nước ngoài khảo sát mới đây cũng đưa ra con số mới nhất trong tuần qua từ 74% cuối năm 2007 đến cuối tháng 5.2008 xuống chỉ còn 37%.

Chúng ta cũng không quên, CSVN miệng luôn nói vì dân, nhưng đứng trước tình trạng giá cả sinh hoạt leo thang hàng ngày làm cho đời sống công nhân, nông dân, hay nói chung đa số người dân đang lâm vào cảnh cùng cực.

Đặc biệt là công nhân viên chức nhà nước cấp thấp cũng cùng chung tình trạng, nhưng chính phủ CSVN đại diện là Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội Nguyễn thị Kim Ngân đã hiển nhiên trả lời trước diễn đàn quốc hội CSVN ngày 31.05.2008 khi có nhiều đại biểu chất vấn về vấn đề nâng lương cho khu vực hưởng lương nhà nước để bù đắp cuộc sống khó khăn do giá cả leo thang thì được Bộ trưởng này trả lời theo toàn văn : “ Tôi chưa có suy nghĩ để đẩy nhanh lộ trình (tăng lương NV) ngay trong năm nay”, bà Ngân nói.

“Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi” đó là câu nói dân gian Viêt Nam có từ lâu đời để chỉ phường người ăn trên ngồi trước, vong ân bội nghĩa, nay lại hoàn toàn đúng đối với hàng ngũ lãnh đạo CSVN hiện nay trước tình hình giá cả leo thang và đời sống người dân và viên chức cấp thấp đang lâm vào cảnh bần cùng.

Đến nay số hộ dân thiếu đói do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tăng lên gấp đôi cùng kỳ năm trước và đang tăng nhanh hàng ngày, theo nhìn nhận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ CSVN Nguyễn Xuân Phúc. Đến 58 huyện trong cả nước có tỷ lệ người dân đói nghèo trên 50%, theo báo cáo của Chính phủ CSVN trong tháng 6.2008.

Những cuộc bãi công chính đáng của công nhân khắp nơi trong cả nước gần đây để đòi quyền lợi với giới chủ nhằm đòi thêm lương bổng để bớt đói khổ, thì được chính phủ cho phép lực lượng công an, kết hợp bảo vệ và câu kết với lưu manh côn đồ bên ngoài đàn áp đánh đập dã man và bắt bớ bỏ tù nhiều công nhân. Với mục đích để giữ vững ổn định kinh tế chính trị?

Lừa bịp quốc tế và mỵ dân về dân chủ song song với kinh tế

Thứ trưởng Bộ công an CSVN Nguyễn văn Hưởng trong cuộc làm việc và đối thoại về nhân quyền với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Kramer trong ngày 30.05.2008 tại Việt Nam vừa qua đã “dạy” cho Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về luật pháp kiểu CSVN, khi ông Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ hỏi về những trường hợp công dân VN bị bắt bớ giam cầm. Cụ thể như hai nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, cũng như trường hợp của Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân hay Luật sư Bùi Kim Thành. Ông Hưởng, Thứ trưởng công an CSVN bảo rằng : “Quan điển chung của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản rằng Việt Nam là một đất nước có chủ quyền và có luật pháp, và việc bắt giữ bỏ tù công dân đều theo pháp luật” , toàn văn BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080602_usvietdialogue.shtml

Việc bắt giữ phi pháp và gán ghép tội lệ cho những tù nhân nói trên thì mọi người và công luận đã rõ. Sự thật đó là những hành động chụp mũ, mà công an cộng sản VN đã quen làm, để đàn áp những tiếng nói dân chủ xây dựng đất nước. Một thứ dân chủ thực sự mà cộng sản VN không bao giờ chấp nhận, cũng như một nền kinh tế thị trường thực sự, hay kinh tế dân chủ thực sự thì cộng sản Viêt Nam đã, đang và sẽ không bao giờ chấp nhận theo “lý luận cùn”, theo thứ triết lý bịp bợm của họ ?

Việt Nam thực sự có chủ quyền không qua vụ việc Hoàng Sa Trường Sa với Trung Quốc mới đây? Mọi người cũng đã biết rõ rồi.

Luật pháp XHCN của Việt Nam theo ông Thứ trưởng bộ Công an CSVN Nguyễn văn Hưởng nói với Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 30.05.2008 là thứ “luật pháp cộng sản”, một loại luật pháp “phi dân chủ”.

Với thứ “luật pháp cộng sản” này, CSVN và cả hệ thống chính trị ở VN hiện nay đã thừa nhận là mục đích và bản chất của nó là để bảo vệ đảng và chế độ phi pháp do đảng CSVN nặn ra, hay thường gọi là “Luật pháp XHCN”. Luật pháp này không nằm trong các khái niệm về luật pháp của thế giới cho các quốc gia và dân tộc hiện đang có mặt trên thế giới hiện nay, mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ cho một nhón nhỏ theo cộng sản trong nước và không phải luật pháp để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ công dân.

Thực chất luật pháp XHCN hiện nay ở VN là một thứ luật pháp “phi pháp”, được sản sinh ra chỉ để bảo vệ cộng sản, hay nói đơn giản là “luật rừng xanh”. Không phải là luật pháp của một quốc gia hay của một dân tộc có độc lập chủ quyền và tự do dân chủ thực sự.

Luật pháp thông thường phải đại diện cho quyền lợi quốc gia dân tộc, cho ý chí nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Nhưng luật pháp gọi là XHCN của CSVN này do bản chất và mục đích của nó chỉ phục vụ cho hơn 3 triệu đảng viên CSVN, thì không thể nào đại diện cho Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam được.

Vậy mà thứ luật rừng này đã được lãnh đạo CSVN đưa ra rêu rao khắp nơi, hết lừa bịp mỵ dân VN, nhân dân và lãnh đạo nhiều nước, tuần qua lại được lãnh đạo Bộ công an Việt Nam đưa ra “giảng giải” cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, trước mặt Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Michael Michalak.

Đúng là cộng sản. Trước sau, trên dưới, trong ngoải thì bản chất vẫn là cộng sản, là bịp bợp, khoát lác, bất kể lẽ phải, sự thật.

Tin ai và nên làm gì lúc này?

Lòng tin là một thứ vô hình, nhưng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống.

Chỉ lòng tin. Tôi không nói đến đức tin, vì đức tin trong tôn giáo là điều tốt đẹp.

Lòng tin phài có cơ sở và điều kiện cần thiết để hình thành.

Càng hiểu biết sâu về cộng sản thì lòng tin chẳng những không còn, mà thay vào đó là lòng oán hận. Oán hận ít nhất do đã bị cộng sản lừa bịp…

Oán hận là một thứ để phán ảnh lòng tin bị phản bội, và là sự trừng trị lòng tin khi bị kẻ khác lợi dụng hay ăn cắp mất.

Với CSVN, thì lòng tin vào CS có lẽ nhiều người không lạ, mà phần trên của bài viết này cũng chỉ bổ sung thêm một phần nhỏ.

Trước bản chất và hành động độc tài gian xảo trong suốt thời gian dài vừa qua cho đến mới ngày hôm qua đây, có lẽ lòng tin dành cho CS sẽ tùy mọi người nhận thức và quyết định.

Nhưng với kinh tế và quyền lợi thiết thân của mình, cũng như dân gian nói “ đồng tiền đi liền khúc ruột”, thì mong rằng có dịp mọi người dân Việt Nam, cả những nhà đầu tư và công dân nước ngoài có quan hệ kinh tế làm ăn tại Việt Nam có dịp suy nghĩ.

Tác giả bài viết này không có ý định kêu gọi mọi người tin ai, tin nguồn thông tin cụ thể nào cả. Vì mọi người có thể tự tìm cho mình những thông tin khả tín trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay.

Hiện nay, đứng trước khủng hoảng. Điều qua trọng chúng tôi muốn nói là mọi người không nên nghe theo những thông tin một chiều, bị bưng bít, cường điệu do cộng sản VN đưa ra, thông qua bộ máy thông tin của họ.

Về việc nên làm gì trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam:

Chúng tôi chỉ xin được phép nhắc nhở mọi người rằng : hãy tự tỉnh táo để bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình trước cơn khủng hoảng kinh tế này.

Việc bảo vệ này không đi đôi với những gì mà chính phủ CSVN đưa ra kêu gọi mọi người hưởng ứng, vì đó chỉ là những sự lừa bịp, qua mặt mọi người tiếp theo, những mong cứu giúp cho CSVN kéo dài thêm sự sụp đổ về kinh tế và chính trị, để tiếp tục thực hiện các tội ác với tổ quốc và nhân dân VN, mà chắc chắn sẽ không bao giờ giải quyết được cái gốc vấn đề là giải quyết khủng hoảng kinh tế được trong lúc này.

Những việc quý vị có thể tự làm để bảo vệ quyền lợi của mình, và làm nhanh không chần chừ, nhỡ lỡ cơ hội và thiệt hại cho quyền lợi của bản thân. Đó là:

1. Nên rút hết tiền đã gởi ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam ngay:

Mọi người hãy rút toàn bộ những khoản tiền để dành, tích lũy hay kinh doanh ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam, nếu không muốn bị CSVN lấy đi hết trong những ngày sắp tới. CSVN sẽ lấy tiền của mọi người bằng cách gì ? Đơn giản họ chỉ cho phá giá VND và đổ thừa cho lạm phát, thì giá trị thực của đồng tiền và tài sản của quý vị sẽ giảm đi, hay mất đi tức thì chỉ trong 1, 2 ngày nhanh chóng. Có thể mất là 50, 70 hay 90% giá trị tài sản chỉ qua một đêm, hay chỉ trong một vài ngày.

Chẳng hạn như: chỉ sau 3 tháng thì giá trị tài sản của những người đầu tư chứng khoán ở Việt Nam đã mất đi 70% và còn tiếp tực mất đi nữa. Do thị trường chứng khoán VN bị sụp đổ. Hay tài sản của những người đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam, chỉ sau 3 tháng qua cũng đã bị mất từ 60 đến 80% tùy trường hợp. Do 2 thị trường này sụp đổ hoàn toàn mới đây. Điều này sẽ kéo theo Thị trường tài chính ngân hàng ở VN cũng sẽ sụp đỗ trong nay mai. Đó chính là sự thật và lời khuyên cho quý vị ở phần này.

2. Nên mua ngay vàng hoặc ngoại tệ có giá và chuyển sang gởi các ngân hàng nước ngoài để giữ tài sản: Để bảo đảm giá trị tài sản của mình, khi rút hết tiền ở các ngân hàng Việt Nam ra quý vị nên mua lại vàng, hay các loại ngoại tệ có giá khác để giữ, và gởi vào các ngân hàng nước ngoài.

3. Tuyệt đối không tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam: Không mua công trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán, hay tham gia vào canh bạc là Thị trường chứng khoán của Việt Nam vì nó đã đang đổ vỡ thực sự và còn tiếp tục bị chôn vùi sâu hơn, không còn mấy cơ hội gượng dậy nữa.

4. Không gởi tiền, vàng (cả ngoại tệ) vào các ngân hàng Việt Nam nếu vì tham lãi suất cao:

Đây là chiêu dụ lãi suất cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam để lừa mọi người đưa tiền hay tài sản vào để ngân hàng được thoi thóp sống, trong khi đồng tiền VN mất giá nhanh và quý vị sẽ không lấy ra được khi diễn biến kinh tế xấu hơn, lúc đó VND mất giá, quý vị sẽ bị thiệt, thậm chí trắng tay. Như đã đề cập ở phần 1 trên đây.

Chưa kể khả năng nhà nước CSVN sẽ truy tìm và tịch thu hay gọi với từ ngữ hoa mỹ hơn là “trưng thu hay trưng mua” các tài sản của quý vị phục vụ cho lợi ích .. quốc gia trá hình của CS mà chính phủ CSVN có thể biết và kiểm soát được.

Do cần phân tích sâu và cập nhật tình khủng hoảng kinh tế của Việt Nam cho bạn đọc trong nước nên các nội dung về khủng hoảng chính trị Việt Nam xin được tiếp tục trong các bài viết tiếp theo của loạt bài này.

TS. Trần Minh Hoàng
Sài gòn, ngày 03.06.2008

Nguon: http://tiengnoitudodanchu.org   

April 20, 2008

Cái loa của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt : “Không để người nghèo chịu thiệt thòi mãi…”

“thủ đoạn hạ nhiệt, mị dân”
“Không để người nghèo (ĐT: Đầy tớ của nhân dân)

 

 

chịu thiệt thòi mãi…” (*)

 

 

 

 

 

“Phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.” – Bài viết của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi VietNamNet và một số báo.

Nguyên TT Võ Văn Kiệt

Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục.

Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng; trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra.

Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng, chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo.

Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để “xóa đói giảm nghèo”. Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày) đã giảm từ 58%, năm 1993, xuống 14,7%, năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam.

Nhưng, những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước, và chúng ta hiểu, khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể.

Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo thì trước đó đã “100% ngói hóa”.

Mặt khác, cho dù phần lớn dân chúng đã “thoát nghèo”, chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có, lại gần như bị xóa sạch.


Hai đứa trẻ

Tố Hữu

Tôi không dám mời anh đi xa lạ
Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn
Kể làm sao cho hết cảnh lầm than
Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả!
Này đây anh một bức tranh gần gũi:
Nó thô sơ? Có lẽ. Nhưng trung thành.
Nó tầm thường? Nhưng chính bởi hồn anh
Chê chán kẻ bị đời vui hắt hủi.

Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi
Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con
Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non
Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới.

Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm
Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.
Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê
Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!

Đứa chồm chập vồ ôm li sữa trắng
Rồi cau mày: “Nhạt lắm! Em không ăn!”.
Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân
Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!

Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi
Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.
Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây
Không dám tới, e đòn roi, tiếng chưởi!

Vẫn chưa hết những cảnh đời đau khổ
Nhưng kể làm chi nữa, bạn lòng ơi!
Hai đứa kia như sống dưới hai trời
Chỉ khác bởi không cùng chung một tổ:

Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ
Và đứa buồn, con mụ ở làm thuê.

Tôi vừa đi đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy, người nghèo đang chiếm một tỷ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.

Nhìn sang nước bạn

Trước đây, trong một lần tiếp kiến, nhà vua Thái Lan nói với tôi: “Bài học sai lầm dẫn đến thất bại của nhiều quốc gia là khi công nghiệp hóa, họ không quan tâm đúng mức hoặc bỏ bê nông thôn, nông nghiệp”.

Tình cảm với nông dân và sự am hiểu về nông nghiệp của nhà Vua khiến tôi hết sức ấn tượng. Thái Lan có một chế độ khác với Việt Nam, nhưng họ cũng rất chú trọng “công nghiệp hóa”, và đặc biệt, rất quan tâm đến nhân dân lao động.

Cách đây không lâu, cựu Thủ tướng Thaksin có được sự ủng hộ của dân chúng, ngay cả khi ông bị lật đổ và phải đối diện với nhiều cáo buộc tham nhũng, phải lưu vong.

Khi được trở về, ông vẫn được nông dân và những người Thái khác nhiệt liệt đón mừng, đó cũng là nhờ vào những chính sách thời kỳ ông làm Thủ tướng thực sự mang lại cuộc sống tốt hơn cho những người nghèo.

Cam kết lịch sử

Ở Việt Nam, sở dĩ Cách mạng có được nhiều thành tựu, là nhờ, tại những thời điểm quan trọng nhất của lịch sử, Đảng ta đã đưa ra được những chủ trương nhắm đúng vào nguyện vọng của các tầng lớp dân chúng, đặc biệt là dân nghèo.

Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân.

Thực hiện cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo.

Tôi muốn lưu ý ở đây, về quốc sách hàng đầu của đất nước mà chúng ta đang theo đuổi, đó là quốc sách công nghiệp hóa.

Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản.

Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.

Nông dân luôn là người chịu thiệt thòi nhiều nhất
Ảnh nguồN: vietnammelody.com

Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình “công nghiệp hóa”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp, đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.

“Công nghiệp hóa” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân.

Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải “ly hương, ly gia” để có việc làm.

Công nghiệp hóa, đô thị hóa của chế độ ta mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài.

Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó, có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi.

Khi đó, chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài.

Đầu tư phát triển, một mặt, không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác, phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc… không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ.

Từ thiện không thay thế được chính sách

Từ thiện không thay thế được chính sách
Ảnh nguồn: http://savethechildren.org.au

Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này.

Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.

Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo.

Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng.

Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình “tích lũy tư bản” diễn ra như thời “hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững.

Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu.

Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.

Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Trong khi, nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.

Gần như thường xuyên, chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá… được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do UBTU MTTQ Việt Nam tổ chức.

Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ, công việc ấy để cho các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều.

Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa, thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin, đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo.

Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu “đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Có tạo được những nên tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện, thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ.

Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy, lớn hơn là việc quyên góp, xin – cho, rất nhiều.

Mặt trận có thể tham gia “xóa đói giảm nghèo” một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất.

Đầu tư của nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa…, vì thế, không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia.

Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quỹ trợ cấp, tín dụng giáo dục… cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn.

Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải.

Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.


Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt

(*) Ảnh chiếc xe Roll Royce và bài tho Tố Hữu do Đối Thoại lồng vào bài viết

http://www.doi-thoai.com/baimoi0408_211.html


Nhận định của TS Lê Đăng Doanh về thư ngỏ của cựu TT Võ Văn Kiệt

2008.04.15

Nam Nguyên, phóng viên đài RFA

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư ngỏ mới nhất được các báo đăng tải, đã đặt vấn đề về sự chệch đường trong thực hiện chính sách công nghiệp hóa, khiến nông dân và người nghèo không được hưởng lợi.

Cựu Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt trong một cuộc trả lời phỏng vấn bái chỉ đầu năm 2007. RFA file photo.

Thông điệp của nhân vật từng lãnh đạo Việt Nam thời kỳ đổi mới đầu thập niên 1990 mang những ý nghĩa gì? Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này qua cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế nhiều uy tín ở Việt Nam, ông hiện sống và làm việc ở Hà Nội trong lãnh vực nghiên cứu ngoài chính phủ.

Chệch đường trong thực hiện chính sách

Nam Nguyên: Thưa tiến sĩ, phải chăng ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, người nông dân vừa ly nông vừa ly hương và làm việc với đồng lương ít ỏi. vậy là ngược với chủ trương ly nông bất ly hương? Thực tế này như thế nào?

TS Lê Đăng Doanh: Bài của thủ tướng Võ Văn Kiệt có đề cập tới một vấn đề rất quan trọng mà lâu nay ít được nghiên cứu ở Việt Nam: đó là những người di dân, có tình trạng phức tạp là chúng ta hiện nay chưa biết và chưa có công trình nghiên cứu nào về qui mô mức độ di dân, bởi vì người dân di dân ra thành phố không được đăng ký hộ khẩu, không được hưởng chế độ phúc lợi cũng không được hưởng các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ và thành phố nơi người ta kiếm sống thì không công nhận đấy là công dân của họ, không đăng ký hộ khẩu ngân sách địa phương không chịu trách nhiệm không bảo đảm, con cái sinh ra không được đi học. Muốn đi học phải chạy tới chạy lui rất khó khăn.

Điều 4 (Hiến pháp 1992)

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Chính vì vậy quốc hội vừa rồi đã yêu cầu là phải sửa qui chế này. Quay trở lại vấn đề này, chúng ta thấy hiện ra lỗ hổng là nơi địa phương có nhân dân đi biết là họ đi nhưng cũng không chịu trách nhiệm. Địa phương, thành phố nơi họ đến sống và họat động như ở Hà Nội, TPHCM, họ sống thế nào, bao nhiêu người, cũng không nằm trong trách nhiệm của chính quyền nơi đó.

Theo tôi đây là vấn đề trước hết cần có sự điều tra, sửa đổi các chính sách và có những chính sách di dân công khai minh bạch có điều kiện rõ ràng và khắc phục tình trạng di dân bất hợp pháp này. Đây là tôi chưa nói tới tình trạng đồng bào dân tộc từ miền Bắc, từ Thanh Hóa di dân vào Tây Nguyên cũng ở trong tình trạng như vậy.

Các tỉnh Tây Nguyên cũng không giàu có gì, nhưng cứ lâu lâu phải cưu mang vài ba trăm, vài ngàn đồng bào từ miền Bắc vào, lại phải xây lán trại, xây trạm y tế, xây dựng trường học. Những khỏan tiền đó họ xin không được phải lấy từ ngân sách địa phương, nhưng theo tính tóan của bộ tài chánh những người này không phải là công dân của địa phương và không được chuẩn chi. Cho nên quá trình này đúng là một vấn đề phức tạp.

Nam Nguyên: Thưa TS, quốc sách là câu chuyện lớn, một cựu thủ tướng, kiến trúc sư thời kỳ đổi mới phê phán mạnh như vậy. Theo ông có phải là Việt Nam sẽ phải đổi mới một lần nữa trong chính sách phát triển.

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi quá trình công nghiệp hóa cho tới nay đã đạt một số thành tựu nhất định. Tuy vậy vấn đề là chỗ chúng ta đã bỏ quá nhiều vốn vào các công trình lớn mà ít tạo ra được công ăn việc làm. Hiện nay kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP , nhưng sử dụng tới 50% số vốn đầu tư của ngân sách và 70% tín dụng, nhưng chỉ tạo ra được độ 8 tới 9% công ăn việc làm mà thôi.

Gần đây hầu như không tạo ra được công ăn việc làm mới, trong khi đó kinh tế tư nhân được rất ít tín dụng, rất ít trợ giúp từ ngân sách Nhà nước nhưng tạo ra được phần lớn công ăn việc làm. Vấn đề là như vậy cho nên cần bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tư vào các doanh nghiệp ở vùng nông thôn. Đầu tư vào những mô hình cụm công nghiệp ở vùng nông thôn và đấy là những ý kiến của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt mà tôi hòan tòan ủng hộ.

Phúc lợi của người nghèo?

Nam Nguyên: Như thế có nghĩa là ly nông bất ly hương?

TS Lê Đăng Doanh: Vâng, phải tạo ra mô hình ly nông bất ly hương. Nếu không sẽ lập lại thảm họa ở các thành phố khác như ở châu Mỹ La Tinh ở Mexico hay Bangkok, vấn đề di dân bất hợp pháp tạo ra những vấn đề hết sức phức tạp như ở Bắc Kinh, Thượng Hải ở Trung Quốc. Đấy là những vấn đề tội phạm, trật tự xã hội v.v…

Chúng ta phải nhìn thẳng vào vấn đề này, nhìn nhận thực trạng và phải có nghiên cứu động lực, qui mô và phải có giải pháp rốt ráo với tình trạng di dân bất hợp pháp này. Không thể nhắm mắt là nơi có dân đi không chịu trách nhiệm gì, mà nơi nhận dân đến cũng không có chính sách để đối xử với người ta như một công dân. Tinh thần thay đổi về sổ hộ khẩu mà quốc hội quyết định là bước khởi đầu đúng hướng nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa để khắc phục tình trạng này

Theo truyền thống của đảng CSVN, sau khi về hưu, các cựu lãnh đạo vẫn còn có ảnh hưởng nhất định đối với giới lãnh đạo đương thời. AFP PHOTO.

Nam Nguyên: Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận là, phúc lợi của người nghèo ở một số nước tư bản cao đến mức mà các nhà lý luận của Việt Nam nên tham khảo. Thưa, ông nhận định gì về điều này.

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi tình trạng phúc lợi ở Việt Nam đang có ba vấn đề. Một là chúng ta chưa có chế độ công khai về kiểm sóat thu chi một cách nghiêm ngặt, vì vậy cho nên rất nhiều nguôn thu ngân sách không thu thuế được.

Thí dụ nguồn thu từ đầu tư bất động sản, nguồn thu từ chứng khóan hoặc nguồn thu từ các phi vụ kinh doanh lọt ra khỏi sự kiểm sóat của Nhà nước, thí dụ báo chí đưa tin buôn lậu than lên tới 10 triệu tấn ở những tỉnh mất nguồn thu rất lớn.

Vì vậy tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo, những người giàu thì quá giàu mà lại không đóng góp gì cho xã hội, không có trách nhiệm trong việc xây dựng xã hội đóng góp cho phúc lợi xã hội. Và Nhà nước phải sử dụng nguờn thu từ dầu lửa torng khi nguồn thu này không phải là quá lớn quá nhiều như ở Trung Đông.

Vấn đề thứ hai là Việt Nam chưa pháp lý hóa được qui chế về vấn đề phúc lợi. Tức là chúng ta có chương trình giúp đỡ người nghèo, có chương trình cho trẻ em đi học và chữa bệnh miễn phí, nhưng lại chưa có luật và chưa đưa tiền đến cho người dùng mà lại chuyển tiền cho những cơ quan như là trường học, bệnh viện. Cách làm đó tạo ra sơ hở, có thể ý đồ của chính phủ là tốt nhưng tiền không đến được người nghèo.

Điều thứ ba là thực trạng, chúng ta thấy hiện nay trong chế độ phúc lợi xã hội, người giàu được hưởng nhiều phần về chế độ phúc lợi chữa bệnh mà Nhà nước đưa ra. Tức là người giàu tiếp cận được với bệnh viện tốt hơn và nhiều hơn người nghèo. Đấy là ba vấn đề mà Việt Nam cần phải khắc phục từ nguồn thu đến chi và việc điều tiết xã hội một cách công bằng.

Chính các điều ấy ở các nước khác như Thụy Điển, Đức người ta làm tốt hơn cho nên người ta có chế độ phúc lợi xã hội mà chúng ta chưa biết đến bao giờ có thể mơ tưởng thấy được.

Nam Nguyên: Cảm ơn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh về thời giờ ông dành cho đài RFA.


Bạn đọc góp ý:
Ông Võ Văn kiệt được phân công nói như trên ở những thời điểm ” nóng ” :
“nào là hòa giải hòa hợp, nào là 30/4 triệu người vui triệu người buồn, …” rất mị dân, giả dối !

Người dân VN rên siết, nói :
Cơ cấu lỗi thời, khép kín, chính sách sai lầm triền miên, đảng nhà nước xem thường dân, cướp bóc tham nhũng + thiên tai + mất mùa, … dân bị bần cùng hóa –> tệ nạn xã hội nảy sinh, bán đất bán nhà (giá bèo) cho tư bản đỏ nhà nước, cho ngoại bang; dân tìm đường xuất khẩu lao nô, dục nô, … –> dân càng nghèo, nước yếu, hiểm họa mất nước là đương nhiên; ai cố chấp, bán nước cầu vinh ?
“nói vậy mà không phải vậy”; ” nói mà không làm, làm ngược” từ nhiều năm qua !
Tại sao ông Võ Văn Kiệt không nói : “cơ cấu nhà nước ta không có quyền lực đối trọng độc lập thực sự để bảo vệ quyền lợi của dân, của đất nước” , ” bây giờ phải trả lại dân quyền dân tộc tự quyết”, “phải thay đổi cơ cấu chính trị, dân chủ hóa xã hội VN càng sớm càng tốt “, ” phải tư nhân hóa báo chí “, ” phải bảo vệ tiếng nói sinh viên bày tỏ lòng yêu nước, không được đàn áp khủng bố họ “, ” nếu đảng không làm tôi trả thẻ đảng, … phải cho cái quái thai, cơ cấu độc tài cực kỳ bất công, phi lý, vô nhân tính này vào quá khứ ” , ” nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân” ; “đó là cách duy nhất bảo vệ vẹn toàn đất tổ, sớm tạo điều kiện lấy lại HS TS đã mất, mang lại công bằng no ấm cho toàn dân nghèo ” !

 

 

March 8, 2008

Bản Tố Cáo Nhà Cầm Quyền Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bản Tố Cáo Nhà Cầm Quyền Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chính Phủ Độc Tài Cộng Sản Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Đã Vi Phạm Nhân Quyền Nghiêm Trọng Đối Với Nhân Dân Trong Nước

      (Về vụ công an CSVN đàn áp bắt 10 người dân oan thuộc Khu công nghệ cao – quận 9 – thành phố Sài Gòn vừa qua).

Kính gửi :

 - Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc

- Uỷ ban Nhân quyền của Liên minh Châu Âu – EU

-Tiểu ban Nhân quyền của Quốc Hội – Hoa Kỳ

- Cơ quan Nhân quyền của Quốc hội Úc Châu

- Tổ chức theo dõi và bảo vệ Nhân quyền Quốc tế ( HRW)

- Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam của đồng bào Hải ngoại

- Ông Võ Văn Ái chủ tịch uỷ ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam tại Paris – Pháp

-Các cơ quan báo chí, đài phát thanh và truyền hình trong, ngoài nước và của Quốc tế

- Tất cả các website Hải ngoại và toàn thể những ai quan tâm

Đồng kính gưỉ các cơ quan gọi là bảo vệ luật pháp của nhà nước CSVN như

- Toà án nhân dân tối cao

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Bộ công an

 Cơ sở chính tại Hà Nội và Văn phòng đại diện tại thành phố Sài Gòn để cùng biết và phối hợp giải quyết ( tức TP Hồ Chí Minh hiện nay)

Kính Thưa tất cả quý cơ quan và các quý ông quý bà !

       Chúng tôi là các công dân đang sống tại  2 miền của nước Việt Nam XHCN xin trân trọng gửi đến quý vị nội dung bức thư cũng là bản tố cáo này bóc trần hành động xâm phạm Nhân quyền, quyền công dân rất trầm trọng của bộ máy công quyền do đảng CSVN và nhà nước VN XHCN của họ chỉ đạo đã gây ra cho đồng bào dân lành vô tội. Và kính mong quý vị can thiệp thật mạnh mẽ tạo áp lực quốc tế để đòi nhà đương cục cộng sản Hà Nội phải thả số nạn nhân này ra khỏi nhà tù của chế độ vô điều kiện ngay lập tức.

        Như dư luận đã biết, vào lúc 21 giờ ngày 02 – 03 – 2008 một lực lượng công an CS mặc sắc phục chính quy bao gồm hàng trăm tên đã bất ngờ đổ quân vào truy quét đồng bào dân oan đang cư trú tại khu công nghệ cao thuộc quận 9 – TP Sài Gòn. Suốt từ thời gian từ 21 giờ  đến 24 giờ đêm cả khu vực này náo động, hôn loạn vô cùng bởi chiến dịch càn quét bắt bớ dân oan của những tên công an côn đồ đang ra sức bảo vệ cho bọn người cướp đất đai, nhà cửa của nhân dân .

 Dưới đây là danh sách cụ thể những người bị công an CSVN bắt giam và bị buộc tội gây rối trật tự để chính quyền độc tài CSVN thành phố Sài Gòn sẽ đem ra gọi là xét xử trong thời gian tới :


1 – Kiều Văn Hòa – sinh năm 1967

Thường trú tại : số 89/12, tổ 5 –đường Hàng Tre – phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn.

Riêng trường hợp anh Hoà đã bị gần chục tên công an CS mặc sắc phục vây bắt lúc 23 giờ ở ngoài đường sau đó chúng đưa về nhà đọc lệnh bắt giam và khám xét nhà về tội gây rối trật tự ….

2 – Nguyễn Văn Tuấn – sinh năm 1957.

Thường trú tại : số 524/378 đường Nguyễn Đình chiểu – quận 3 – TP Sài Gòn

Bị bắt ngoài đường đưa về nhà đọc lệnh bắt giam khám nhà và gán ghép về tội gây rối trật tự .

3 – Nguyễn Văn Năng – sinh năm 1953

Thường trú tại : phường Tăng Nhơn Phú – quận 9 – TP Sài Gòn

Bị đọc lệnh bắt tại nhà về tội gây rối trật tự theo bộ luật hình sự

4 – Lưu Quốc Luân – sinh năm 1958

Thường trú tại : số 118/ 5 Mỹ Thành – phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn

Bi công an đọc lệnh bắt tại nhà về tội gây rối trật tự .

5 – Nguyễn Nam Điền – sinh năm 1972

Thường trú tại : số 172/6 Mỹ Thành – phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn

Bị ghép vào tội gây rối trật tự bị bắt ngày 4/3/2008 và là con trai của bà Đỗ Thị Mai

6 – Nguyễn Thị Thơ – sinh năm 1968

Thường trú tại : số 120 Cầu Xây – Phường Tân phú – quận 9 – TP Sài Gòn

Không có lệnh bắt giam cũng như không có lệnh tạm giữ của bất cứ cơ quan tư pháp nào

7 – Nguyễn Thị Dung sinh năm 1964

Thường trú tại : số 9A đường Cầu Xây – Phường Tân Phú – quận 9 – TP Sài Gòn

Không có lệnh bắt giam hay tạm giữ của công an hay viện kiểm sát…

8 – Đỗ Thị Mai sinh năm 1950

Thường trú tại : số 172/6, ấp Mỹ Thạnh – Phường Long Thạnh My – quận 9 – TP Sài Gòn

9 – Dương Thanh Trúc – sinh năm 1971

Thường trú tại : số 124 ấp Mỹ Thành – Phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn

Không có lệnh bắt giam hay bắt giữ

10 – Nguyễn Thị Mỹ Vân – sinh năm 1971

Thường trú tại số : 155/1B Mỹ Thành – Phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn

Không có lệnh bắt giam hay bắt giữ của các cơ quan gọi là bảo vệ pháp luật.

Tất cả 10 công dân trên đã bị đưa ngay vào nhà tù trong đêm mùng 2/3/2008, trong đó 06 công dân nam giới bị tống vào trại giam Chí Hoà và 06 công dân nữ bị tống vào trại giam công an quận 9, thành phố Sài Gòn.

Ngoài ra trong băn bản này chúng tôi còn đòi Nhà cầm quyền CSVN phải thả vô điều kiện trường hợp nữ Công dân Hồ Thị Bích Khương sinh năm 1967, cư trú tại xóm 4, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An bị bắt giam ngày 25/4/2007. Lý do chỉ vì chị đã viết nhiều đơn từ giúp dân oan trong tỉnh Nghệ An để đưa lên phổ biến trên Mạng internet, tập hợp dân oan khiếu kiện tại nhà mình ở để trả lời phỏng vấn các đài phát thanh, quốc tế, hải ngoại và trên các diễn đàn Palktak. Ngoài ra công dân Hồ Thị Bích Khương còn tổ chức hàng đoàn dân oan thường xuyên kéo lên thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để biểu tình và gưỉ đơn khiếu nại tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền trong nước. Công dân Bích Khương can đảm còn viết rất nhiều bài lên án chế độ độc tài toàn trị CS hiện nay, đòi đa nguyên đa đảng và đòi dân chủ hoá toàn diện nước nhà khá tích cực và mạnh mẽ. Chị là thành viên chính thức của Khối 8406 và của Phong trào dân chủ Việt Nam và hiện nay bị giam cầm tại trại giam thành phố Vinh. Gần 1 năm qua công an Nghệ An gây rất nhiều trở ngại cho thân nhân chị nhằm ngăn cản không cho thăm nuôi….

Sau đây chúng tôi kèm các tài liệu, hồ sơ, các hình ảnh chân dung của các công dân vô tội thuộc khu Công nghệ quận 9 bị công an chế độ Cộng sản độc tài Việt Nam bắt giam trái phép, trái pháp luật rất trắng trợn. Chúng tôi yêu cầu dư luận các cơ quan bảo vệ Nhân quyền trên khắp thế giới hãy lên tiếng vạch mặt bản chất gian ác,gian manh chà đạp quyền Con Người của đảng và nhà nước CSVN, của chính phủ và công an nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

Làm tại Việt Nam ngày 8/3/2008

Các công dân đại diện 2 miền Nam Bắc Việt Nam đã tham gia ký tên vào bản tố cáo này để gửi công luận trên toàn Thế giới.

1. Lư Thị Thu Duyên cư trú tại số 77/13B đường Trần Bình Trọng, phường 1, quận Gò Vấp,TP Sài Gòn ( Tức Hồ Chí Minh)

Số điện thoại công khai để liên lạc mới nhất : 0168 – 385 – 7541 ( Xin lưu ý quý vi số di động cũ mà tôi đã ghi trong bức thư kính gửi các cơ quan bảo vệ Nhân quyền toàn cầu lần trước đã bị công an CSVN cắt đứt sau 1 ngày nội dung văn bản

tố cáo cho anh Lương Văn Sinh được phổ biến trên Mạng )

2. Lê Thanh Tùng cư trú tại khối 13, phố Chợ,thị trấn Phù lỗ, huyện Sóc Sơn,ngoại thành Hà Nội

Số điện thoại công khai bị công an nhà nước của đảng CSVN theo dõi đêm ngày là : 0962 – 247 – 051

Email aiquocle@gmail.com

February 14, 2008

Khẩu hiệu bịp

Khẩu hiệu rỗng ! Sự thật, chân/công lý ?? 

KHẨU HIỆU BỊP, THỦ ĐOẠN :
Cs phi công lý, phản đạo lý, phản tự nhiên, phi khoa học, vi phạm quyền con người, tướt đoạt dân quyền, bất công, phi dân chủ, phi tự do. Nói một đường làm một nẻo, sao chép văn, đạo tư tưởng người khác làm của mình. Nói lấy được, ba phải, lừa mị.  Thủ đoạn của cs rất tinh vi, muôn mặt, từ “nhẹ nhàng, dụ dỗ, hộ khẩu đến đàn áp, ám sát”; cs chuyên môn làm ngang nói ngược, chơi chữ lừa bịp những người không biết rõ bản chất vong bản, xaỏ trá, gian ác của cs.
Nói chung, cơ cấu, hệ thống tổ chức của bất kỳ đảng và nhà nước cs nào trên thế giới (kể cả ở VN), là ĐỘC TÀI TOÀN  TRỊ, đảng trị, trên mọi lãnh vực (quốc hội, tòa án, nhà nước, truyền thông báo chí, chính trị, quân sự, công an, kinh tế, giáo dục, ý tế, MTTQ, … là công cụ của đảng, … vv), đặt trên nền tảng của sự bưng bít, bóp méo, tráo trở, tuyên truyền lừa bịp, kềm kẹp, và  bạo lực khủng bố.
Điều cần nhấn mạnh là :
“đảng luôn đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích của đất nước, dân tộc !!”
Đây là sai lầm, tội ác, ngoan cố !!

- Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu :  hoang tưởng, bánh vẽ, lừa bịp;
- Cứu cánh : thế giới đại đồng.
- Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ :  dốt, nô lệ, giáo điều, vô đạo đức,  độc đoán, độc ác, độc tài, tham tàn, ngụy biện, vô trách nhiệm mà đòi lãnh đạo, dựa trên sự bưng bít, lừa bịp và bạo lực khủng bố ? 
- Yêu nước là yêu XHCN, yêu đảng: một cơ chế độc đảng, độc tài toàn trị, phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang và tập đoàn thống trị, phản bội dân tộc, mãnh đất màu mỡ cho mọi hành vi cướp bóc, giết người tùy tiện của bộ máy đảng, làm sao yêu được ??
Yêu đảng không thể là sự áp đặt, ép buộc, lý sự cùn !!
Đảng không thể, không bao giờ được phép đứng trên dân tộc, tổ quốc ! Nếu không đó là sai lầm, độc đoán, tội ác !!
- Trung với đảng, hiếu với dân:  đảng buôn dân, bán nước cầu vinh, cũng trung với đảng sao ?  Đúng phải là trung với tổ quốc, hiếu với dân.
- đạo đức cách mạng : giết, giết, bàn tay không ngừng nghĩ … (Tố Hữu); thà giết lầm hơn bỏ xót;
- Độc lập, tự do, hạnh phúc :   3 cương lĩnh của chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề xướng trong Cách Mạng 1911: “Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc” . Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQĐ) ra đời với mục đích đấu tranh cho Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc.
HCM lấy lại làm khẩu hiệu rỗng, lừa mị. Thực chất là tự nguyện làm tay sai của cs quốc tế LX, TQ, mang gông cùm cs trùm lên đầu dân tộc VN, lấy xương máu dân tộc VN làm tiền đồn bảo vệ thành trì XHCN LX, TQ, với tham vọng bành trướng chế độ thực dân đỏ cs man rợ, tay sai ở Á châu. Bắt nhân dân VN phải nô lệ ý thức hệ cs man rợ, phi dân tộc, phi nhân bản, phản tiến hóa nhân loại.
Độc lập ?
Khi đã gia nhập quốc tế cs thì làm gì có độc lập dân tộc, theo cương lĩnh của quốc tế cs ?
Đa số mọi quyết định lớn đều có chỉ đạo của LX, TQ. Gần đây là vụ đàn áp sinh viên biểu tình chống TQ sát nhập HS TS vào huyện Tam Sa tỉnh Hải Nam, sau lời khuyến cáo của Bộ ngoại giao TQ.
Tự do ? 
Mọi thông tin nhạy cảm đều bị bưng bít, bịt miệng dân.  Ví dụ: cs kiểm soát 100% báo chí, truyền thông. Không có báo chí tư nhân.  Vụ sinh viên biểu tình HS TS, vụ dân oan khiếu kiện trước tòa nhà QH2 Saigon, báo chí cs im re !
Những nhà đấu tranh dân chủ bị công an đặt chốt canh, theo dõi, không di chuyển (phúng điếu đám tang cụ H M Chính, …)
Hạnh phúc ?
đâu ai muốn bỏ làng quê, gia đình, đất nước đi lấy chồng, làm lao nô nước ngoài !
Bất công, tham nhũng là quốc nạn, quốc sách.
Đậy là hệ quả của chính sách cai trị độc tài độc đoán, phi dân chủ, bất nhân tâm, công an trị, lừa mị, nói một đàng làm một nẻo,  kéo dài từ 1945 đến ngày hôm nay 2008. Đa số người dân lâm vào cảnh khốn cùng, bế tắc, không còn con đường khác để sống một cách bình thường.
- Công an “nhân dân” : phải dịch ngược lại là công an bảo vệ quyền lực, tiếng nói của đảng. Cụ thể: vụ đàn áp các nhà dân chủ, các sinh viên biểu tình về HS TS.
- Quân đội ”nhân dân” : phải dịch ngược lại là Quân đội bảo vệ quyền lực đảng. TC chiếm HS TS, sát nhập vào huyện Tam Sa tỉnh Hải Nam, quân đội im re, thay vì phải bảo vệ vẹn toàn đất tổ, quyền lợi tổ quốc.

- “Dân trí” chỉ là một cái cớ để trì hoản tiến trình dân chủ mà thôi. Nếu đảng Cộng Sản Việt nam không nâng cao dân trí bây giờ thì ba mươi năm nữa họ sẽ vẫn nói một câu “Bây giờ chưa có dân trí, chưa thể có dân chủ”, và ba mươi năm nữa vẫn vậy, ba mươi năm tiếp nữa vẫn như thế. (Sinh viên) .
Đúng vậy, thực tế là trong đời sống hàng ngày cs độc quyền truyền thông (1 chiều, bưng bít, lừa mị), người dân thì bị: bịt mắt, bịt miệng, bịt tai, khống chế tư tưởng. Những ai “có trí, trách nhiệm, đạo đức” lên tiếng thì bị đảng bịt miệng, cô lập, khủng bố ngay.

February 11, 2008

Tha thứ, được ! Lãng quên, không bao giờ !!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 43 (15-01-2008)

            “Ta sẵn sàng tha thứ cho các người! Nhưng các người phải quỳ xuống nhận lỗi!” Đó là lời của một cư dân đảo Sicile, nước Ý, từng nói trong nước mắt với bọn Mafia vừa giết thân nhân của mình. Đây cũng là lời mà hàng vạn thân nhân các oan hồn Tết Mậu Thân cũng như bao người dân Việt muốn nói với Cộng sản trong những ngày kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát rùng rợn nhất lịch sử dân tộc mà thủ phạm là chính đảng CS. Nhưng tập đoàn Mafia đỏ này đã và đang làm gì nhân kỷ niệm biến cố ấy?

            Đó là trên các kênh truyền hình VTV phủ trùm cả nước và có lẽ ra cả hải ngoại, từ mấy tháng nay ra rả một giọng điệu ngợi ca cái gọi là cuộc tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân”. Một cuộc “tổng tấn công và nổi dậy”, mà theo lời bí thư thành Hồ Lê Thanh Hải nói tại buổi mít-tinh ở dinh Thống Nhất sáng ngày 1 tháng 2 vừa qua, “đã tạo một cú ‘choáng đột ngột’ với địch ở miền Nam…, là điểm son chói lọi của lịch sử dân tộc, còn theo lời Trung tướng CS Nguyễn Ðình Ước trên báo Nhân Dân, thì đã đi vào lịch sử như là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh cách mạng Việt Nam, thể hiện một đỉnh cao ý chí và trí tuệ của Việt Nam trong cuộc chiến tranh nhỏ thắng lớn…”

            Đúng là một “sáng tạo độc đáo” với nhiều nét mà chỉ có CS mới có nổi!!! Trước tiên, đó là vi phạm thỏa ước hưu chiến mà CS đã cam kết cách long trọng, khiến phía Việt Nam Cộng Hòa đã tin lời mà cho một nửa số quân nhân được về ăn tết với gia đình, nên bước đầu đã phần nào bị động. Người ta nhớ lại rằng trong hai trận Thế chiến, những cuộc hưu chiến ngày Giáng sinh đều được đôi bên tuân thủ một cách nghiêm túc, vì họ còn biết trọng danh dự của mình. Thứ hai, đó là chà đạp những ngày Tết thiêng liêng của dân tộc. Giữa cảnh sum họp êm ấm, CS đã gây cảnh tan nát chia lìa. Giữa bầu khí yêu thương hòa giải, CS đã đem tới hận thù bạo lực. “Ai đã cướp con tôi? Ai đã giết con tôi giữa cơn mộng đêm thái bình?” là câu hát còn vang vọng mãi trong lòng dân miền Nam. Máu đỏ đã pha hòa với rượu tết. Thịt người đã trộn lẫn với bánh tét bánh chưng. Vỏ đạn đã nằm vương vãi lăn lóc cạnh những đồ thờ tự. Thứ ba, đó là giết chết thường dân, bất kể tu sĩ linh mục, y tá bác sĩ, viên chức cán bộ, văn nhân nghệ sĩ, thầy giáo học trò, thậm chí cả những kẻ buôn thúng bán bưng, lao công độ nhật… Trong mười mấy ngàn nạn nhân vô tội bị chết thảm tại Huế, không thiếu một hạng người nào cả. Thứ tư, đó là đưa ra chiêu bài “trình diện học tập cho thông suốt đường lối để tiếp tục phục vụ chính quyền cách mạng” hầu lừa người ta đến chỗ chết. Ông Nguyễn Phúc Liên Thành, nguyên Phó Trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt tại Thừa Thiên khi ấy nhớ lại: “Sau khi lập chính quyền thì Việt cộng bắt đầu thảm sát. Đầu tiên họ kêu gọi quân nhân cán chính trong thành phố Huế ra trình diện. Sau khi trình diện thì được cấp giấy, có quyền đi lại, coi như giấy thông hành. Những người này về nói lại với những người khác, người kế tiếp ra trình diện. Đến lần thứ 3 thì họ yêu cầu tất cả những kẻ đã trình diện lần l và 2 ra trình diện lại. Đây là lần quyết định, và cuộc thảm sát xảy ra!” (đài RFA phỏng vấn). Thứ năm, đó là dụ khị nạn nhân cơm đùm gạo bới hay dụ khị thân nhân tiếp tế lương thực trong nhiều ngày để rồi cướp lấy của họ. “Các ‘sứ giả’ về thông báo với bà con là ai có thân nhân ‘đi học tập’ hãy bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là vài hôm sau, người ta ùn ùn gánh gồng lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề (Tết mà!)… Họ chẳng thấy thân nhân đâu cả mà chỉ gặp mấy tên cán bộ VC bảo họ hãy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm độc này mà VC tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi giết người tiếp!!” (Trích “Cuộc thảm sát Khe Đá Mài”). Thứ sáu, đó là giết chết các nạn nhân bằng cách đập vỡ sọ bằng cuốc và báng súng, bằng cách trói từng người hay từng chùm một rồi chôn sống họ. Được hỏi tại sao không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố, một trung tá tù binh VC tên Hoàng Kim Loan trả lời: “Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy, đâu để bắn những đám người như thế!” Ông Võ Văn Bằng, Trưởng ban Truy tìm và Cải táng Nạn nhân CS Tết Mậu Thân, hồi tưởng: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, người thì nằm, người thì ngồi, lộn xộn! Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do đạn bắn, vỡ là do cuốc đập” (đài RFA pv các chứng nhân). Thứ bảy, đó là tàn phá trực tiếp hay gián tiếp các kho tàng văn hóa của dân tộc bằng cách tiến chiếm các nơi này để làm công sự phòng thủ hay hang ổ kháng cự, cụ thể là khu vực Đại nội và Cấm thành tại Huế. Y như VC từng đặt các giàn cao xạ bên cạnh các ngôi thánh đường ở miền Bắc trong cuộc chiến chống phi cơ oanh tạc của Hoa Kỳ trước đây và xóa bỏ di tích Hoàng thành Thăng long hiện thời.

            “Điểm son chói lọi” mà Lê Thanh Hải đề cập chính là biển máu đỏ khổng lồ của mấy ngàn nạn nhân vô tội xét riêng ở Huế sau 27 ngày gọi là “giải phóng Thừa Thiên”: “Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, khoảng 5,300 nạn nhân đã bị chôn sống tại tỉnh nhà” (Nguyễn Phúc Liên Thành). “Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6,000 người. Có nhà báo ước tính 5,000. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu” (Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên).

            · Người ta tự hỏi tại sao CS lại dã man tàn bạo đến thế trong chiến cuộc Mậu Thân và vẫn cố tình khỏa lấp, lì lợm chối tội đến vậy trong những ngày xuân Mậu Tý? Điều đó phát xuất trước hết từ quan điểm triết lý duy vật mà CS thấm nhuần: con người chỉ là vật chất, không có hồn thiêng, chẳng có nhân phẩm, không có thưởng phạt đời sau, chẳng có đấng linh thiêng xét định. Thành ra cứ thản nhiên giết chết nếu cần. Ý thức ghê gớm này chẳng những có nơi những chiến binh CS cầm súng mà còn nơi những văn sĩ CS cầm bút nữa. Nhiều tên đồ tể ở Huế trong những ngày xuân khủng khiếp ấy là giáo sư, văn sĩ, học giả, sinh viên…

            Tiếp đến là quan điểm đạo đức cách mạng: cứu cánh biện minh cho phương tiện và bạo lực cách mạng là điều cần thiết. Hồ Chí Minh đã chẳng giết vợ hờ lẫn đồng chí và Trường Chinh đã chẳng đấu tố cả cha lẫn mẹ đó sao? “Năm 1972, tôi bắt được một trung tá VC tên Hoàng Kim Loan, hoạt động bí mật tại Huế 20 năm trời. Tôi hỏi: tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? Loan nói đấy là chủ trương bạo lực cách mạng do cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người CS chúng tôi có chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót” (đài RFA phỏng vấn các chứng nhân).

            Cuối cùng là quan điểm chính trị của CS: toàn thắng của đảng là đòi hỏi tuyệt đối và vinh quang của đảng là giá trị tối thượng. Thành thử CS đã chẳng ngại ngần gì mà không xử tử hàng loạt trong biến cố năm 1968 ấy. Theo tác giả Douglas Pike, “Có 3 giai đoạn đưa đến những vụ xử tử. Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án bất hợp pháp công cộng kéo dài khoảng 5-10 phút do giới chức trong quân Bắc việt hay VC dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án “có tội với nhân dân”. Giai đoạn nhì, khi họ cho rằng họ sẽ giữ được Huế lâu dài, quân BV-VC bắt đầu tiến hành công tác giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Những ai bị tình nghi có thái độ chống cách mạng từ từ bị truy lùng trong giai đoạn này. Tín đồ Công giáo, các nhà trí thức, thương gia, và đám người mang tội làm “tay sai Đế quốc” bị chiếu cố để “tạo dựng xã hội mới”. Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân BV-VC thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng. Bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác”. Ngoài ra, nỗi căm thù vì thấy nhân dân miền Nam không hưởng ứng, không ủng hộ, mà lại trốn chạy, nên CS lại càng điên tiết để càng cuồng sát hơn!!! Sau đó là màn vu khống đổ vạ của Hà Nội. Nhà báo Vũ Ánh, nguyên phóng viên truyền thanh VNCH trước 1975 nhớ lại: “Một bản tin của đài Giải phóng cho rằng chính cảnh sát và quân đội VNCH khi thua trận rút lui đã làm điều đó. Chuyện đổ vạ là điều bình thường của CS từ trước đến giờ. Nhân chứng vẫn còn sống đây thôi, cả trong lẫn ngoài nước. Họ không thể xoá những điều ấy được”. Trang mạng “nhandanvietnam.org” của CS từ cả năm nay cũng tung ra chiến dịch khỏa lấp và vu khống -để nhân dân lãng quên- với những bài viết như “Chứng nhân: Mậu Thân. Hố chôn tập thể. Hậu Mậu Thân Huế 68” của Trần Thông; “Chuyện hoang đường vụ Thảm sát Ở Huế 68” của Noam Chomsky; “Bình luận một thông tin lịch sử…” của Nguyễn Đắc Xuân….

            Biến cố Tết Mậu Thân đã nối dài tội ác của CSVN, vốn khởi đầu từ việc giết các đảng phái quốc gia từng cùng chống Pháp với mình qua cuộc “trừng trị Việt gian”, giết các nông dân từng nuôi sống mình qua cuộc “Cải cách ruộng đất”, giết (tinh thần) các văn nhân nghệ sĩ từng ủng hộ Cách mạng tháng 8 qua vụ “Nhân văn Giai phẩm”, giết các quân nhân binh sĩ từng chiến đấu cho mình qua vụ “Xét lại chống đảng”… Sau cuộc thảm sát Mậu Thân lại đến Mùa hè đỏ lửa với “Đại lộ kinh hoàng” năm 1972, rồi cái gọi là “Mùa xuân đại thắng giải phóng miền Nam” năm 1975 với bao đau thương và tan tác, đày đọa và trả thù, xua đuổi và tống xuất, đổ vỡ và kiệt quệ… Đến hôm nay, tội ác vẫn chồng chất tội ác, với việc cướp đất buôn dân rồi bán đất dâng biển…

            Dân tộc VN vốn đầy lòng vị tha, nhân ái, sẵn sàng tha thứ cho người CS, chứ không chủ trương trả thù tàn bạo như những kẻ máu đỏ da vàng đang giương sao vàng bảng đỏ, với điều kiện là họ biết thành tâm sám hối. Nhưng lãng quên tội ác của họ thì không bao giờ. Như câu tục ngữ tiếng Anh: Forgive yes! Forget no !

            BAN BIÊN TẬP

February 2, 2008

Bùi Tín, nhà báo, cựu đại tá cs “phản tỉnh”, chạy trốn ánh sáng mặt trời hay làm gián điệp, … ?!

Chứng tích “phản tỉnh” … !

Mậu Thân 68: Chuyển bại thành thắng  



Mậu Thân 68: Chuyển bại thành thắng

Binh lính Hoa Kỳ và miền Nam đã lấy lại thế chủ động sau những cuộc tấn công bất ngờ của miền Bắc
Một trong những nhà báo quân đội hàng đầu của Bắc Việt Nam hồi chiến tranh Việt – Mỹ nói rằng những vụ sát hại ‘tù nhân’ trong đợt Mậu Thân 1968 đã được xử lý nội bộ ngay sau đó.
Nói chuyện với BBC về cáo buộc rằng quân đội cộng sản thảm sát dân chúng trong cuộc tấn công vào Huế, Đại Tá Bùi Tín, người năm 1968 đã là Phó Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân nói:

”Lúc bấy giờ cũng có thông tin ngay chứ. Tôi còn nhớ ông Trần Văn Quang, Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên – Huế bị phê bình để xảy ra những cuộc như thế.

Nghe phỏng vấn ông Bùi Tín

”Nhưng lúc bấy giờ tôi không biết quy mô nó lớn đến vậy, chỉ biết là có những cuộc thảm sát nhưng tôi nghĩ nó chỉ xảy ra ít thôi… chứ tôi không nghĩ về sau này người ta nói tới hàng nghìn.”

Tuy nhiên ông Bùi Tín, người hiện sống tại Paris, cũng nói trước các cuộc tấn công đã có lệnh ”cấm đánh đập và đối xử xấu” với tù nhân và những gì xảy ra không phải là mệnh lệnh từ ‘trên xuống’ mà là sự ‘tự động’ ở bên dưới.

”Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người.

Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.

”Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.”

Ông Bùi Tín giải thích sở dĩ họ phải làm như vậy là để tuân theo lệnh ”không được để tù binh trốn thoát” nhằm giữ bí mật.

”Theo tôi biết thì không có mệnh lệnh cấp trên là tiêu diệt và giết tù binh.”

Giấu thất bại

Ông Tín nói Việt Nam đã che giấu được những thất bại và khiến Hoa Kỳ ‘vội vã’ Việt Nam hóa chiến tranh.

Theo ông, miền Bắc đã bị thiệt hại nghiệm trọng trong suốt năm 1968, năm diễn ra ba đợt tấn công vào dịpTết và sau đó là tháng Năm và tháng Chín.

”Có thể nói cả năm Mậu Thân đó lực lượng bên này đã mất chỗ đứng, không chỉ ở nông thôn mà còn ở thành thị. Do đó mà tình hình trở nên hết sức khó khăn.

”Tuy lúc đầu có giành thắng lợi nổi bật về mặt tuyên truyền nhưng trên thực tế là mất hết chỗ đứng, mất hết lực lượng.

”Lúc đấy thuận lợi lớn của bên này là quân đội Mỹ rút và một lực lượng lớn về hỏa lực, không quân, pháo, trực thăng, xe bọc thép đều giảm hết.”

Sự kiện Tết Mậu Thân đã buộc Mỹ phải đàm phán để chấm dứt sự can thiệp của họ vào Việt Nam.

Hiệp địch cuối cùng được ký kết cách đây 35 năm và cuộc chiến Việt Nam kết thúc hai năm sau đó.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/01/080121_tet_offensive.shtml  
——————-
Ghi nhận:

Diễn đàn internet xin mời ông Bùi Tín hẹn một ngày lên diễn đàn để biện minh, tranh luận cho “sự thật” lịch sử mà ông đã nói trên BBC này và sứ mệnh thật của ông.
Nếu ông không thu xếp để lên nghĩa là ông nói láo, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền xám , nhảm, chuyển bại thành xụi !

January 30, 2008

Báo cs nói v/v cầu nguyện ở Nhà Chung: thủ đoạn là nghề của chàng độc tài

Chứng tích lịch sử một thời, sẽ được mang bỏ vô “viện bảo tàng lịch sử tội ác” (ảo và thật) :






Những hành vi không thể chấp nhận!
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17550&ChannelID=3

Cần chấm dứt hành vi trái pháp luật tại khu vực 42 phố Nhà Chung
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17629&ChannelID=80

Rõ ràng là có sự kích động
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17720&ChannelID=13

Như thế là đầy đọa con của Chúa – (29/01)
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17721&ChannelID=13

January 29, 2008

Hãy cùng nhau vạch trần bộ mặt gian trá của chính quyền thành phố Hà Nội

VietCatholic News (Thứ Ba 29/01/2008 09:51)
Ý kiến độc giả: Hãy cùng nhau vạch trần bộ mặt gian trá của chính quyền thành phố Hà NộiSự kiện cầu nguyện trong hòa bình để đòi công lý tại Tòa Khâm Sứ tại Tổng Giáo phận Hà Nội đã gây tiếng vang thật lớn trên toàn thể địa cầu. Đồng loạt, các hãng thông tấn báo chí quốc tế đều quan tâm. Trong khi đó, các báo quốc doanh tại Việt nam vẫn « cứ giả làm ngơ » như không hề biết. Nay bỗng nhiên lên tiếng với những vu khống gian dối với tâm địa ác độc vốn dĩ đã ăn sâu vào tận máu thịt của loại người không còn biết tôn trọng sự thật và lẽ công bằng.Bắt đầu khi sự việc xảy ra tại Tòa Khâm Sứ, chính quyền thành phố Hà Nội vẫn không hề lưu tâm gì đến nguyện vọng chính đáng của một cộng đồng giáo dân, lại còn dùng đội ngũ hùng hậu của các nhân viên an ninh chìm nổi đủ loại với các « tiểu xảo » thượng vàng hạ cám đua nhau khủng bố tinh thần bà con giáo dân. Ngoài ra, đại diện chính quyền ấy cũng cho ra những công văn lên án Tòa Tổng Giáo phận Hà Nội để bôi nhọ Đức Tổng Giám Mục và những giáo dân cầu nguyện trong ôn hòa.

Một mặt, chính quyền đã không giải quyết vụ việc, mặt khác, lại tìm cách lèo lái vụ việc đi ngược lại công lý và sự thật bằng sự xuất hiện của báo chí và truyền hình quốc doanh, một công cụ đắc lực phục vụ cho ý đồ nham hiểm này. Đồng loạt các bài báo giả nhân giả nghĩa ra vẻ đạo đức để lên mặt dậy đời. Người ta đã quá quen thuộc với giọng điệu của trò lừa đảo này rồi. Do đó, những kẻ tiểu nhân đừng hòng mong đợi bất cứ một kết quả nào hết. Ngược lại, với nhận thức của người dân thời nay, và với kinh nghiệm thực tế của bao thập niên sống trong chế độ lừa đảo này, trò lừa này dễ dàng bị lật tẩy và bị phản tác dụng « gậy ông lại đập lưng ông ».

Lúc này đây, trong việc làm chứng cho sự thật, các linh mục cần phải đi tiên phong. Những bài báo xuyên tạc sự thật, bôi nhọ danh dự của Đức Tổng Giám mục Hà Nội và một số Giám Mục trong Hội đồng Giám Mục Việt nam, kết án việc cầu nguyện ôn hòa của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ cần phải được làm sáng tỏ. Sự việc bây giờ không còn gói gọn trong khuôn viên của Tòa Khâm Sứ nữa rồi, bởi vì các báo chí đã đụng chạm đến thanh danh của một số Giám mục và Giáo hội Công giáo Việt Nam. Vấn đề đã không được chính quyền giải quyết một cách thỏa đáng, lại còn cố tình khiêu khích người Công giáo Việt nam. Do đó, lúc nàu đây chúng ta cần lên tiếng để bảo vệ sự thật để chống lại sự gian dối tinh ranh ghê tởm.

Bên cạnh đó, các giáo xứ ngoài việc liên đới với giáo phận Hà nội qua việc cầu nguyện, thì cũng cần lên tiếng để bảo vệ cho sự thật bằng cách theo dõi những chi tiết trong đó sự thật bị bóp méo trong các bài viết và các phóng sự được các báo đài quốc doanh tuyên truyền. Tiếp theo đó, hãy tổ chức các buổi tọa đàm để làm sáng tỏ vấn đề và để bảo vệ vẹn toàn cho sự thật.

Để kết thúc chúng ta cùng với thánh Phao lô suy niệm về sứ mệnh làm chứng cho sự thật và về việc bảo vệ đức tin Công Giáo tinh tuyền của chúng ta: « Gian nan ư ? Tù đầy ư, bách hại ư ? Không ! Không ! Không ! Không gì có thể tách chúng tôi ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô », Người đã đến để sống và chết cho sự thật, trước khi mời gọi chúng tôi làm chứng cho sự thật: «Sự thật sẽ giải thoát anh em ».

Quốc Bình

Đạo đức Trần Dân Tiên

Phiếm Luận

CaubayÔng Hồ Chí Minh đối với người Viêt Nam ngày nay gần như đã trở thành cục nợ.

Ở trong nước, người dân phải “nuốt” ông Hồ như dân kinh tế mới nuốt khoai mì. Ngán lắm mà phải nuốt vì đó là thứ duy nhất người ta khen bổ, khuyến khích cho ăn, có sẵn, ê hề, rẻ mạt! Ăn thì muốn ói, không ăn thì chết đói. Có lẽ từ đứa trẻ đến cụ già, ai cũng ngày đêm mong mỏi có một ngày đẹp trời nói lời đoạn tuyệt với nó.

Ở ngoài nước thì ông Hồ như cái mụt cóc mọc chỗ kín. Hằng ngày bận công ăn việc làm thì nó chẳng gây ngứa ngáy phiền hà gì cả, quên phứt đi; nhưng lâu lâu rảnh rỗi, có việc thì cũng thấy mắc cỡ, bực bội vì sự có mặt của “nó”.

Khái quát về đạo đức ông Hồ, chỉ cần hai chữ: Xạo và Ác!
Nguồn: flamencoflute.com


Vì quá chán ngán như vậy nên nói về ông Hồ là chuyện bất đắc dĩ. Thế mà vẫn phải nói vì cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Gió ở đây là cái đảng Cộng sản Việt Nam đương hồi bí rị. Câu thần chú “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” thì dù có dày mặt cách mấy cũng không thốt ra được nữa nên họ cứ lôi ông Hồ ra để hè nhau…nghiên cứu. Vô hình chung họ đã biến ông Hồ thành cái đích cho thiên hạ “trút bầu tâm sự”. Đảng Cộng sản thì dùng ông ta như thầy bói dùng mu rùa, chỉ để thêm phần linh thiêng, dù biết tỏng là vật vô tri. Dân đen thì kiêng kỵ như kiêng cái chiếu rách, niêu bể, bình vôi liệng ở bụi tre hay gốc đa đầu làng. Tuy biết những thứ ấy là đồ phế thải, vô dụng, dơ dáy…mà ai cũng ngán, không dám vô phép xúc phạm.

Trong nước ngày nay người ta đang ra sức (bắt dân) học tập “tư tuởng” Hồ Chí Minh. Thật là nghịch lý và phí phạm khi bắt buộc cả nước học tập tư tưởng của kẻ đã tự nhận là không có tư tưởng gì sất! Tư tưởng Hồ chí Minh là cái gì mà đã những kẻ tự xưng là thành phần ưu tú của dân tộc học mấy mươi năm ròng cũng không thông, mà có vẻ càng ngày càng lụn bại? Ông Hồ có gì đáng để học và nội dung những buổi học tập tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh là gì?

Thắc mắc này một phần được giải tỏa qua bài trả lời phỏng vấn của ông bộ trưởng Lê Doãn Hợp trên báo “Người Đại biểu nhân dân” ngày 3 tháng 1 năm 2008.

Vì cuộc phỏng vấn này là công tác của một anh viết mướn và đồng chí Bộ trưởng nên nhàm lắm, cứ như đào kép diễn tuồng cũ rích, dỡ ẹt. Caubay vốn “chuộng sự thật, ghét sự giả dối”, nên để cho khách quan, đành theo gương nhà báo Trần dân Tiên, nhờ Kim Thánh Thất tiên sinh bình luận. Quí vị nào có cao kiến xin vui lòng đóng góp vì đó cũng là chủ trương thông tin đa chiều, lắng nghe ý dân của Đảng!
Sau đây là sơ lược bài phỏng vấn với lời bàn “Thánh Thất ngoại thư” in chữ nghiêng.


Cuộc đời Bác là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo (1)Phóng viên Minh Tâm báo Người Đại biểu Nhân dân (PV): Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng. Trên cương vị là Bộ trưởng, ông đã làm gì để hưởng ứng cuộc vận động trên?

Ông Lê Doãn Hợp (LDH): – Cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần thiết và cấp bách nhất của Đảng ta hiện nay. Đây là khát vọng của nhân dân là thách thức của thời đại và trách nhiệm cao nhất của Đảng cầm quyền…

Lời bàn của Kim Thánh Thất (LB): Nhiệm vụ quan trong nhất thì nghe cũng có lý, nhưng đối với đảng Cộng sản thôi. Đối với người cộng sản thì không có gì quan trọng hơn là bảo vệ đảng, kể cả mất nước. Với ông Hồ thì nhân dân chỉ có một khát vọng là đêm chôn. Cho việc học vài câu nói của ông Hồ (mượn) là thách thức của thời đại là cách nói vẹt, lộng ngôn, vô ý nghĩa. Nên nhớ trách nhiệm cao nhất của một đảng cầm quyền là bảo vệ đất nước chứ không phải là đi học Mác, Lê, Mao, Hồ hay bất cứ ai.

PV: Thưa Bộ trưởng, mục tiêu sâu xa nhất của đợt vận động này là gì?

LDH: Cả đời Bác chăm lo cho Đảng, cho nước, cho dân. Suốt cuộc đời của Bác luôn quan tâm đạo đức. Bác đã viết 55 tác phẩm liên quan đến đạo đức cách mạng. Những tác phẩm này đã để lại những dấu ấn rất quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước….

LB: Nói cả đời Bác lo cho..chính Bác thì chắc hơn, lo cho Đảng thì tàm tạm, vì khi cần thiết thì đồng chí Bbác cũng ..mần luôn. Bảo Bác lo cho nước, cho dân thì đúng là láo như vẹm. Thử coi từ ngày có Bác, cái đất nước này, đám nhân dân này khốn nạn biết là bao! Cuộc đời và tác phẩm của thì chỉ có chính Bác và Đảng khen hay. Xin khỏi nhắc, nhàm lắm, chỉ nói sơ qua là ca tụng đạo đức của Bác mà lại nhắc đến tác phẩm của Bác thì cũng như chửi cha Bác vậy! Đạo dức và tác phẩm của Bác thì ông Lê doãn Hợp chắc chắn không rành bằng nhà báo Trần dân Tiên.

PV: Tại sao phải trong thời điểm hiện nay chứ không phải trước đây, hay sau nữa mới phát động cuộc vận động này, thưa Bộ trưởng?

LDH: “Nguồn gốc của suy thoái đạo đức hiện nay thì Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, như Bác nói đó là chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, thì mọi biến cố bất lợi cho Đảng sẽ bắt đầu. Với ý nghĩa đó, Bộ Chính trị, Ban bí thư, quyết định mở cuộc vận động lớn, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

LB: Xưa nay thì Đảng vẫn tự xưng là đỉnh cao trí tuệ, cực kỳ sáng suốt. Nay ông Lê doãn Hợp can đảm lắm mới dám chửi Đảng công khai khi cho rằng Đảng mắc bệnh. Thực ra thì Đảng có nhiều bệnh lắm, như bệnh độc tài, bệnh bán nước, bệnh giết người, bệnh nói láo, bệnh cơ hội, bệnh ăn cắp, bệnh không biết nhục… chứ đâu phải chỉ bệnh cá nhân. Có điều các ông coi bộ rất lẩm cẩm khi học tập một người cả đời sùng bái cá nhân như ông Hồ để chữa bệnh chủ nghĩa cá nhân. Ai đời đi chữa bịnh bằng cách hấp thu vi trùng bịnh? Chủng ngừa chăng?

PV: Thưa Bộ trưởng, nhiều người lo ngại rằng, các cuộc vận động thường rầm rộ lúc đầu, nhưng thời gian sau bị lắng lại, thậm chí dần rơi vào quên lãng. Cuộc vận động có thành công như Đảng ta mong đợi hay không?

LDH: Khi tiến hành cuộc vận động này, nhiều người đã hỏi tôi rằng, liệu Đảng ta có thực hiện được cuộc vận động này không? Tôi trả lời với họ rằng, Đảng quyết dân tin thì không có việc gì không làm được. Vì trước hết, Đảng ta không bao che tiêu cực. Thứ hai là trong thực tiễn chúng ta đang làm và có những thành công bước đầu. Thứ ba là chúng ta có tấm gương của Bác để noi theo. Thứ tư là dân ta rất oán ghét tiêu cực. Thứ năm, cán bộ ta hầu hết trọng và tin dân…

LB: Ông nói có người hỏi “Liệu đảng có thực hiện cuộc vận động này không” tức là có kẻ không tin Đảng. Tất nhiên ngày nay chẳng có đứa ngu nào nào còn tin Đảng. Dù sao điều ông thố lộ cũng chứng tỏ ông chửi Đảng rất khéo. Năm điều ông kể trên nghe huề tiền lắm! Đảng ông không bao che tiêu cực của kẻ ngoài đảng hay chống đảng thôi, còn đảng viên ăn cắp là chuyện ..tồn lại, chuyện trên mức tình cảm! “Thành công bước đầu” người dân nghe từ khuya rồi, nghe mãi và chưa bao giờ nghe đuợc bước cuối. Không phải đợi đến bây giờ mà các ông đã học tập theo ông Hồ từ lâu, vì vậy mà cán bộ đảng viên thay vì thành bác của dân đã trở thành ông nội của dân cả. Nói cán bộ cộng sản trọng và tin dân thì đúng là láo hơn cả…vẹm.

PV: Giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh được truyền đạt đến toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc vận động này là gì, thưa Bộ trưởng?

LDH: Đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ là trên 4 ý sau: Thứ nhất là trung thành với đất nước, tận tuỵ với nhân dân. Thứ hai là cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Thứ ba là lo trước thiên hạ và hưởng sau thiên hạ. Thứ tư là luôn luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm.

LB: Đạo đức Hồ chí Minh, nếu có, chỉ là trung thành với Quốc tế Công sản, cụ thể là với cộng sản Tàu. Công hàm nhượng đảo Hoàng Sa cho Tàu năm 1958 là bằng chứng rất rõ. Cán bộ đảng viên được học tính cần kiệm, chí công vô tư nào mà trở thành tham nhũng nhất thế giới? Thiên hạ nào được hưởng trước đảng viên? Ông quên thành phần ưu tiên, cốt cán trong xã hội cộng sản rồi ư? Còn việc thống nhất giữa lời nói và việc làm của cộng sản thì đứa con nít bây giờ cũng thấy. Hãy gọi hồn ông Nguyễn văn Thiệu dậy mà hỏi!

PV: Nếu được tổng kết một cách ngắn gọn nhất về đợt vận động này, Bộ trưởng sẽ nói điều gì?
LDH: …Giá trị cao nhất của đạo đức Hồ Chí Minh, xin được khái quát ít nhất là 10 chữ: Tận tuỵ, Gương mẫu, Sáng tạo, Kỷ cương, Tình nghĩa …

LB: Nên sửa lại cho đúng như vầy: Hồ chí Minh tận tụy với Nga Tàu; theo gương mẫu của Stalin, của Mao. Sáng tạo cách mỵ dân, giết người. Kỷ cương biến cả nước thành trại tù. Tình nghĩa như đối với bà Nguyễn thị Năm trong cái ơn cưu mang, với bà Nông thị Xuân, trong tình chăn gối, với ông Lê hồng Phong trong tình đồng chí, với cụ Phan bội Châu trong nghĩa đồng bào. Nếu cần khái quát về đạo đức ông Hồ, chỉ cần hai chữ: Xạo và Ác!

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!

LB: Tội tuyên truyền tư tưởng độc hại, phản dân hại nước thì chưa bỏ tù là may, cám ơn gì!


Hồ chí Minh tận tụy với Nga Tàu; theo gương mẫu của Stalin, của Mao. Sáng tạo cách mỵ dân, giết người. Kỷ cương biến cả nước thành trại tù.
Nguồn: nguoidaibieu.com.vn


Như đã nói, phản biện lại ông Lê Doãn Hợp hay bất cứ cán bộ tuyên truyền nào của cộng sản cũng nhàm như cãi lý với cái máy hát. Tuy vậy vì tính độc hại của nó, không nói không được. “Tư tưởng, đạo đức” của ông Hồ chí Minh đã được nói đến quá nhiều rồi. Sự thật và những nhận định về ông ta, dù ở phía nào nghe cũng đà quen tai. Tuy vậy, có một nhận xét rất thú vị về “bác” từ một em học sinh trong nước mà Caubay cho là rất chính xác, xin chia sẻ (2) cùng bạn đọc sau đây:

“…Cũng trong đề khối C, khi phân tích nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc, do không hiểu rõ tác phẩm nên trong lúc bí bách, một nữ sinh đã viết: “Bác bôn ba khắp năm châu bốn biển mấy chục năm trời, làm đủ thứ nghề và ở nhiều đất nước nên rất giỏi hóa trang. Mà Bác đã hóa trang thì không ai nhận ra được thế nên Bác đã khiến mọi người tưởng rằng mình là vua Khải Định”, nữ sinh này viết.

Vâng, “bác” mà hóa trang, giả dạng thì không ai nhận ra được, sá gì những kẻ như ông Lê Doãn Hợp!San Diego, 15/01/2008

© DCVOnline


(1) Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp: Kết tinh tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là yêu nước, thương dân, báo Người Đại biểu Nhân dân, Minh Đức thực hiện, 03/01/2008.
(2) Những bài văn hài hước mùa tuyển sinh, VNExpress, Thứ bảy, 21/7/2007.
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4561
Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.