| Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản From Colonialism To Communism
Chương 6 BẦN-CÙNG-HÓA TOÀN DÂN Sau khi ông Hồ vi hành sang Bắc-Kinh về thì hành động đầu tiên của ông là ban hành “Thuế Nông Nghiệp” một thứ thuế đã áp dụng ở Trung-Hoa từ hai năm trước. Cả Trung-Cộng lẫn Việt-Cộng đều khoe khoang rằng chính sách thuế khóa của họ vừa giản-dị vừa hợp tình hợp lý nhất, hơn tất cả mọi hình thức thuế từ xưa đến nay. Kể ra so với các thứ thuế của Pháp ở Ðông-Dương và của Quốc-dân-đảng ở Trung-hoa thì thuế của Cộng-sản quả có giản-dị thật, vì Cộng-sản chỉ đặt có năm thứ thuế: thuế nông-nghiệp, thuế công-thương-nghiệp, thuế sát-sinh, thuế lâm-thổ-sản và thuế xuất-nhập cảng. Vì Việt Nam là một nước căn-bản nông-nghiệp nên dĩ nhiên thuế nông-nghiệp là thuế chính. Thứ nhì là thuế công-thương-nghiệp đánh lên đầu một số thương-gia và thủ-công-nghiệp kiếm sống theo lối lấy công làm lãi. Thuế sát-sinh cũng chẳng được là bao vì thiếu trâu bò cày nên không được phép làm thịt. Tuy nhiên, mặc dầu thiếu đến nỗi ở nhiều nơi người phải kéo cày thay bò, Việt Minh cũng cho phép “xuất cảng” một số bò đực vào trong vùng Pháp chiếm đóng để đổi lấy một vài thứ hết sức cần-thiết. Như vậy thành ra có sát-sinh thì chỉ sát sinh trong vùng Pháp kiểm soát và thuế sát-sinh do Pháp thu, không phải Việt Minh thu. Thuế lâm thổ-sản cũng chẳng được là bao, còn thuế xuất-nhập cảng thì thực ra chỉ có trên giấy tờ, vì hồi ấy, Việt Minh chẳng có “cảng” nào cả, nên chẳng có “xuất-nhập”. Thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp đánh vào thu-hoạch hoặc lợi-tức, nhưng cán-bộ không hề điều tra thu-hoạch hoặc lợi-tức, chỉ ước-định rồi bắt dân chúng “bình”. “Lợi-tức bình” bao giờ cũng cao hơn lợi-tức thực. Thuế tính theo một số phần trăm lợi-tức và cao đối với tất cả mọi thành-phần nhân dân, không trừ một ai. Ðấy là chủ-tâm của chính-phủ vì đối với cộng-sản đánh thuế không chỉ cốt để thu tiền cho nhà nước mà chính là lợi dụng thuế để công khai bần cùng-hóa những thành-phần khá giả ở thành phố cũng như ở thôn quê. Thực ra, thuế chỉ là một biện-pháp đầu-tiên sửa-soạn cho việc thiết-lập nền vô-sản chuyên-chính. THUẾ NÔNG-NGHIỆP Thuế nông-nghiệp là thứ thuế lũy-tiến, nghĩa là đánh từ 5 đến 45 phần trăm tùy theo thu-hoạch nhiều ít. THUẾ-BIỂU CHÍNH-THỨC của THUẾ NÔNG-NGHIỆP
Giáo sư Bernard Fall đã chép bản thuế biểu này trong cuốn Le Việt-Minh (tr. 249) của ông, nhưng cũng như các quan-sát viên ngoại-quốc khác, ông có ngờ đâu rằng ngoài thuế-biểu chính-thức này, nông-dân còn phải đóng thêm một số “phụ-trội” mà chính-quyền Việt-minh dấu kín không hề công-bố. Số phụ-trội này nói là để xung vào “quỹ xã” còn thuế chính nộp vào kho bạc nhà nước. Sự thực thì cả hai đều gộp làm một và tùy ý Ðảng chi dùng. Thuế phụ-trội định là 15 phần trăm của thuế chính-ngạch và cả hai thứ đều phải nộp một lúc. Chi-bộ xã giữ hai phần ba số thuế phụ-trội thu được và nộp Tỉnh-bộ một phần ba. Tỉnh-bộ cũng chỉ giữ hai phần ba số phụ-trội nhận được và đưa lên Tổng-bộ một phần ba. Tổng-bộ lại giữ hai phần ba và nộp cho Cơ-quan Thông-tin Quốc-tế (Cominform) một phần ba làm Nghĩa-vụ Quốc-tế. Như vậy, nghĩa là bản thuế-biểu chỉ dùng để tính thuế chính-ngạch, rồi cộng thêm vào thuế chính-ngạch 15 phần trăm nữa. Muốn cho rõ hơn, chúng tôi xin trình bày hai tỉ-dụ. Thuế Bậc Một : Theo bản thuế-biểu thì nông-dân thuộc loại này phải đóng 5 phần trăm số lúa thu-hoạch cho chính-phủ và ngoài ra còn phải đóng 15 phần trăm của 5 phần trăm, nghĩa là 0,75 phần trăm cho Ðảng. Tổng cộng là 5,75 phần trăm. Thuế Bậc 41 : Những người thuộc loại này phải đóng 45 phần trăm thu hoạch cho chính-phủ, cộng thêm 15 phần trăm của 45 phần trăm, nghĩa là 6,75 phần trăm tổng số thu-hoạch cho Ðảng. Tổng cộng là 51,75 phần trăm của thu-hoạch. Nhưng đây mới chỉ là trường hợp những “phú-nông” tự cày cấy lấy ruộng. Những địa-chủ cho thuê ruộng lấy tô phải đóng thêm 25 phần trăm, nghĩa là phải nhân 51,75 với 1,25 thành 64,68 phần trăm. Ðấy là mức thuế cao nhất. Tuy nhiên đấy mới chỉ là nguyên tắc đại cương. Thực ra thuế nông-nghiệp còn nhiều điều khoản rắc rối hơn. Ðể cho rõ ràng hơn, chúng tôi xin trình bầy hai trường hợp điển hình, thuế của một bần-nông (bậc 2) và thuế của một địa-chủ (bậc 41). Tuy chỉ là giả dụ cho rõ hiểu cách tính, chúng tôi cũng cố ý đưa ra những con số về diện-tích và về sản-lượng hết sức xát thực-tế để độc-giả có thể quan-niệm đúng-đắn về đời sống dân-quê Bắc-Việt và ảnh-hưởng của thuế nông-nghiệp đối với họ như thế nào. Trường-hợp A Giáp phải nộp cho chính-phủ 6 phần trăm của 400 kg, tức là : 24 kilô Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 24 kg, tức là : 3,6 kilô Tổng cộng : 27,6 kilô Giáp còn lại 327,4 kilô thóc để nuôi bốn miệng ăn trong suốt một năm. Tính 100 kilô thóc xay được 65 kilô gạo, Giáp có 242 kilô gạo để ăn trong một năm, nghĩa là mỗi ngày 665 gam để nuôi bốn miệng ăn. Người nông dân Việt-Nam trung bình ăn mỗi ngày 500 gam vị chi trừ một số ít phú-nông địa-chủ là có ít nhiều thịt cá, còn bần nông chỉ lấy cơm làm no bụng. Về vụ gặt hái, làm lụng vất vả nông dân Bắc-Việt có thể ăn một kilô gạo một ngày vì họ ăn đến ba bữa cật lực. Tỉ-dụ kể trên chứng tỏ một bần nông kiếm không đủ gạo buôi thân vẫn phải nộp thuế cho Ðảng và cho chính-phủ. Trường-hợp B Cụ Bính là một địa-chủ vì cụ có 15 mẫu ruộng. Cả cụ ông lẫn cụ bà đều già nua tuổi tác, có hai người con nhưng một người đi bộ-đội và một người làm cán-bộ mậu-dịch nên không có nhà. Vì không cày cấy lấy được nên ruộng phải cho tá-điền làm thuê, mỗi mẫu lấy 400 kilô thóc (rẽ đôi), nghĩa là 6.000 kilô tất cả. Tuy gia-đình cụ Bính có bốn miệng ăn, nhưng chỉ được coi là có ba nhân khẩu, vì người con đi bộ-đội được tính là một nhân khẩu, còn người con làm cán-bộ, có lương, thì không được tính. Mang 6.000 kilô chia cho 3, thành ra mỗi nhân khẩu được 2000 kilô, như vậy là gia-đình cụ Bính được xếp vào bực 41, loại cao nhất. Thuế của cụ tính như sau: Nộp cho chính-phủ 45 phần trăm của 6.000 kg : 2.700 kg Tạm định là hai cụ già ăn mỗi ngày hết 1 kg gạo, tức 365 kg mỗi năm, thì còn thừa 1.011 kg gạo để bán đi mua măm muối, rau cỏ và chi tiêu các món khác là vừa vặn, chưa nói đến may mặc và thỉnh thoảng phảI mua cho con bút máy, đồng hồ mà cán-bộ và bộ-đội vẫn thường vòi vĩnh bố mẹ, hoặc đôi khi phải thay trâu bò cày ( bán con già mua con non ) cho tá-điền. Tính thuế theo kiểu trên đây mới là giả-dụ thu-hoạch của gia-đình cụ Bính được “bình” đúng mức, nhưng thực tế thì không mấy khi như vậy. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, muốn tính thuế phải nhận diện-tích ruộng với sản-lượng mỗi mẫu, nhưng cả hai con số này bao giờ cũng bị “kích” lên quá lố. Về diện-tích thì đáng lẽ không cần phải “bình” vì hầu hết mọi nơi, Pháp đã đạc-điền nên chỉ việc xem “trích-lục” ruộng là biết rõ diện-tích mỗi thửa một cách rất chính-xác. Nhưng cán-bộ không bao giờ công-nhận những con số trong trích-lục và nhất định bắt nhân dân phải “bình” lại, để đưa ra một con số lớn hơn. Người ngoại cuộc không thể nào chấp nhận được lối làm việc phi-lý như vậy, nhưng cán bộ cộng-sản nhất định cho rằng chỉ có “bình” mới đúng, vì “nhân dân rất sáng suốt, không bao giờ bình sai cả”. Tỉ-dụ, một nông dân có một mẫu ruộng, khai là một mẫu, nhưng cán-bộ xui cốt-cán1 đồng thanh nói là thửa ruộng ấy rộng 1 mẫu rưỡi. Chủ ruộng không có thể cãi và không giám mang trích-lục ra đối chiếu vì biết1 Cốt cán là những nông-đân theo Ðảng và làm việc cho Ðảng, chưa được thu-nhập vào Ðảng. trước là nếu có chìa trích-lục ra thì thể-tất cán-bộ sẽ bĩu môi nói : “Ngày xưa Pháp và bọn đặc-điền ăn tiền nên đề láo, chỉ có nhân dân mới ước lượng đúng mức”. Việc “kích” diện tích ruộng cao hơn, không phải chỉ nhằm phá sản một mình giai cấp địa-chủ, mà chính-thực là muốn bần-cùng-hóa toàn thể nông-thôn. Bốn năm sau, trong dịp “Sửa Sai”, Việt Cộng hạ thấp tất cả sản lượng xuống một bực. Việc này chứng tỏ, trong bốn năm đầu, Việt Cộng đã chủ trương làm kiệt quệ toàn dân để khiến mọi người trở thành dễ sai dễ bảo, và không có điều kiện nổi loạn. Tục-ngữ Việt-Nam có câu “lạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Hết tiền, hết gạo, mọi người phải an phận chịu đựng. Ðoạn văn sau đây, trích trong tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng Lao-Ðộng, phơi bầy tất cả mánh lới mà Việt Cộng đã dùng để “kích” thêm diện-tích ruộng: “Khi điều chỉnh diện tích , cán-bộ đội “Tô-Hiệu” đã gò nhân dân tự báo diện tích tăng từ 10 đến 25 %. Nhà chị Tèo, trung nông, có 1 mẫu, 9 sào ruộng, phải báo đi báo lại đến 4 lần, tăng lên thành 2 mẫu 5 sào, cán bộ mới nhận là đúng. Ông Quân phú nông, có 5 mẫu, nghe phong thanh có người bảo “không báo đúng sẽ bị tịch thu tài sản” sợ, nên phải báo lên thành 6 mẫu. Có cốt-cán biết cán bộ dùng mình làm “điển hình” để gò ép quần chúng, nhưng không giám phản đối. Sau này chị Tít đã thú thật : “Tôi ngượng vớI nhân dân quá, nhưng chị đội1 cứ “bồi-dưỡng” 2 thành ra phải nói dối.” Cộng-sản dùng cốt-cán để bắt nông-dân phải khai tăng diện-tích ruộng, rồi lại bắt họ phải khai tăng cả sản-lượng mỗi mẫu hoặc mỗi sào. Tỉ-dụ, một trung-nông có một mẫu và gặt được 800 kilô thóc, và khai là gặt được 80 kilô hoặc ít hơn một chút. Cán-bộ cộng-sản không nhận là đúng và xui cốt-cán khai giữa cuộc họp là anh ta có 2 sào cũng ở cánh đồng ấy mà anh ta gặt được 240 kilô, ngụ ý rằng nếu có 1 mẫu thì phải gặt được 1.200 kilô. Người có một mẫu ruộng phải câm miệng, không giám cãi. Ðoạn văn sau đây trích trong một thiên phóng-sự điều tra của báo Thời Mới về chiến dịch Sửa Sai chứng tỏ Ðảng đã dùng cốt-cán làm nội-công để buộc nông-dân phải nhận sản-lượng cao như thế nào: “Ðến phần điều-chỉnh sản-lượng càng lắm ý-kiến bàn cãi. Cùng một khoảng ruộng, người thì nói nhà tôi gặt được 3 thúng, người thì nói chỉ gặt được thúng… Ông Biểu, một trung-nông ở thôn Miễu, đỏ mặt tía tai ở hội-nghị xóm : “Ruộng hạng A ở làng này chỉ 100 cân là hết nước, dự-kiến 130 thì định đánh cả thóc rơm, thóc lép hay sao ? Cải-cách đã sai rồi bây giờ lại theo như Cải-cách thì sửa sai cái gì ?” Mọi người nhao nhao đồng ý. Anh em ban thuế thôn ngồi thừ, không ai nói gì.” Vì cả diện-tích ruộng lẫn sản-lượng đơn-vị đều bị kích lên nên con số thu-hoạch tăng lên quá chừng. Kết quả là, thường khi một bần-nông chỉ gặt được 100 kilô phải nhận là gặt được 200 kilô, để chịu thuế tính theo 200 kilô. Số thuế sẽ tăng quá gấp đôi vì 100 kilô chỉ phải đóng 6 phần trăm mà 200 kilô phải đóng tới 10 phần trăm. Kết quả là tuy chính-quyền Việt Minh tuyên bố chỉ thu 20 phần trăm hoa-lợi của nhân dân, thực ra đã thu quá 40 phần trăm. Với chính-sách thuế khóa như vậy, trung-nông có 5,7 sào thường phải đóng cho chính-phủ nhiều hơn ngày trước tá-điền phải đóng địa-tô cho địa-chủ. Chính-phủ thu thuế nông-nghiệp một năm hai lần, ngay sau khi gặt chiêm và gặt mùa, mà phải nộp hoàn toàn bằng thóc. Những thửa ruộng trồng hoa mầu khác hoặc trồng cây ăn quả vẫn phải nộp thuế bằng thóc; nộp tiền chính phủ cũng không chịu. Nền nhà và sân, dù là sân gạch, nếu rộng quá một mẫu cũng phải chịu thuế nông-nghiệp như ruộng lúa. Có ngườI phá sân làm ruộng để lấy lúa nộp thuế, nhưng bị quy tội là đã “phá-hoại tài sản của nhân dân”. Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
June 7, 2008
Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 3: Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài
June 5, 2008
Bài 5: Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị ở Việt Nam
BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CSVN ĐÃ THÔNG QUA CHỦ TRƯƠNG “TỊCH THU TÀI SẢN” CỦA MỌI NGƯỜI ĐỂ CỨU CHẾ ĐỘ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ? DÂN CHÚNG VIỆT NAM NÊN TIN AI VÀ LÀM GÌ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG?
TS. Trần Minh Hoàng
Những tin tức của thế giới về “khủng hoảng” kinh tế ở Việt Nam diễn ra dồn dập.
Trong tuần lễ vừa qua từ 27 đến 31 tháng 5 năm 2008, đồng loạt trên các phương tiện thộng tin đại chúng có uy tín và lớn trên thế giới như : BBC, RFA, VOA, BLOOMBERG … đều đưa tin bài về các thông tin và nhận xét của các tổ chức kinh tế, tư vấn, ngân hàng, tài chính và các chuyên gia có uy tín trên thế giới đã đề cập và chính thức dùng từ “khủng hoảng” để đánh giá và nhận định về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đang xấu đi từng giờ, từng ngày…
Theo khái niệm về “khủng hoảng”, thì nền kinh tế của một quốc gia có tốc độ tăng trưởng âm trong 3 tháng liền thì nền kinh tế của quốc gia đó được gọi và đánh giá trước tiên là “suy thoái”. Sau suy thoái, nếu nền kinh tế quốc gia đó tiếp tục không tăng trưởng hay tăng trưởng âm tiếp theo nhiều tháng sau suy thoái với những dấu hiệu xấu, đi xuống từ tài chính, lạm phát, nhập siêu, sản xuất, tiêu dùng…và dẫn đến những tình huống xấu hơn, thì nền kinh tế quốc gia đó bước vào và được gọi khủng hoảng.
Trường hợp Việt Nam thì khủng hoảng kinh tế có thể khác hơn khái niệm và tiêu chí đánh giá khủng hoảng kinh tế như nói trên.
Việt Nam sự thật chưa phải là nền kinh tế thị trường thực sự như CSVN rêu rao và mọi người vẫn nhầm tưởng như vừa qua.
Nguyên do đường lối kinh tế Việt Nam là đường lối kinh tế kiểu cộng sản, một kiểu kinh tế thị trường XHCN nửa vời, mang nặng màu sắc cộng sản độc tài kinh tế, độc đoán kinh doanh, điều hành kinh tế theo kiểu đảng trị, vì mục đích cục bộ quyền lợi theo kiểu cộng sản, thiếu dân chủ, bưng bít thông tin sự thật về kinh tế.
Cho nên khi nền kinh tế quốc gia gặp khó khăn và “xuống dốc” sẽ xuống rất nhanh, mà không có gì để phanh hãm hay kềm giữ được, giai đoạn suy thoái có thể bỏ qua để kinh tế lao thẳng vào khủng hoảng do các tố thành nội tại của nền kinh tế đã tiềm ẩn từ lâu.
Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương tịch thu tài sản, hay nói theo ngôn từ hoa mỹ là “Trưng thu, trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân trong ngoài nước có trên lãnh thổ Việt Nam” khi có khủng hoảng xảy ra.
Ngay từ bài viết đầu tiên của loạt bài này, tác giả đã đưa ra nhận định khá chính xác về nguy cơ và nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam.
Do có quan hệ mật thiết và hữu cơ giữa kinh tế và chính trị trong xã hội, đặc biệt là ở thể chế cộng sản nên một khi có khủng hoảng kinh tế ắt sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị.
Những cuộc khủng hoảng ở các thể chế chính trị dân chủ khi có xảy ra khủng hoảng kinh tế hay chính trị chỉ đơn thuần dẫn đến sự thay đổi đảng chính trị cầm quyền này sang đảng chính trị khác, và chính sách kinh tế được thay đổi nhanh chóng cho phù hợp để đất nước vượt qua khủng hoảng dưới sự lựa chọn và quyết định của người dân, thông qua lá phiếu dân chủ.
Còn ở Việt Nam và chính thể cộng sản cầm quyền khi khủng hoảng kinh tế xảy ra sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị, lúc đó mọi điều xấu nhất và hoảng loạn đều có thể xảy ra?
Lý do trước tiên là mất lòng tin. Khủng hoảng lòng tin và sự hoảng sợ của quần chúng.
Điều này dưới chính thể cộng sản Việt nam đã tìm ẩn và chất chứa tự bao giờ rồi. Chính điều này sẽ dẫn đến:
Một là thay đổi thể chế chính trị: Đây là thời cơ tốt nhất để chuyển hóa dân chủ cho đất nước Việt Nam, thay đổi thể chế chính trị cộng sản độc tài và thay đổi đường lối kinh tế thị trường dân chủ thực sự cho đất nước. Những điều kiện cần và đủ để thực hiện việc thay đổi chính trị này trong trường hợp này ở Việt Nam sẽ ra sao ? (Chi tiết nội dung này sẽ được đề cập trong các bài tiếp theo).
Hai là để bảo vệ đảng cộng sản độc tài và chính phủ phi pháp do cộng sản Việt Nam lập nên hiện nay, hay nói cách khác là bảo vệ chính thể cộng sản. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ đưa nhân dân và tổ quốc Việt Nam vào một cuộc tỷ thí kinh tế chính trị tiếp theo hoặc khác nữa, sau cuộc thí nghiệm đầy nước mắt về kinh tế thị trường có định hướng XHCN sai lầm lần này mà cả dân tộc VN phải gánh chịu, trừ những tên cộng sản tham nhũng được hưởng lợi lớn lao.
Thông tin tối mật, mới nhất và độc ác nhất
Mới đây nhất để bảo vệ đảng và chính thể cộng sản VN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chính trị. Bộ chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam đã họp bí mật tại Hà Nội vào một đêm cuối tháng 5.2008 trước khi Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc và Nguyễn Minh Triết đi Châu Âu để thảo luận và thông qua chủ trương “Trưng thu, hay trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân”.
Việc trưng thu hay trưng mua tài sản của người dân hay doanh nghiệp lần này được giao quyền cho đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thực hiện .
Thực chất, đây sẽ là một kế hoạch cướp bóc có tổ chức qui mô lớn bằng bàn tay đỏ sắt máu của CS trong thế kỷ XXI”.
Mới nhất, kỹ lưỡng và nguy hiển lẫn tàn bạo nhất so với những kế hoạch tương tự mà CSVN đã từng có rất nhiều kinh nghiệm và đã làm sau 1945, 1954 và 1975 cho dân tộc Việt Nam và ngoại kiều ở VN lúc đó.
Mục đích chính đáng được ngụy biện đưa ra sẽ là để bảo vệ an ninh quốc gia, khi có khủng hoảng xảy ra. Thực chất hành động cướp bóc này là để bảo vệ thành quả cách mạng của đảng, để bảo vệ đảng CS và chính thể phi pháp CSVN hiện nay trước cơn khủng hoảng đang xảy ra.
Một quyết định quan trọng và được yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối do Trương Tấn Sang, Ủy viên bộ Chính trị, Thường trực ban bí thư trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị và được bộ tứ là Nông Đức Mạnh lẫn Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng bảo trợ tán thành hết mình. Trừ Phạm Gia Khiêm Bộ trưởng Ngoại giao còn chần chừ do lo ngại các quan hệ quốc tế WTO…. Quyết định quỷ quái hay còn gọi là quyết định Ngũ quỷ, do (5 người) quỷ quái chóp bu của CSVN hiện nay quyết định thông qua.
Một quyết định mang tính chất phi pháp, đậm màu sắc của kẻ cướp bóc, theo kiểu độc tài cộng sản và được giữ tối mật, đã được CSVN trù tính và quyết định xong vào cuối tháng 5 vừa qua.
Trước đó, vấn đề này CSVN cũng đã dọn đường pháp lý để chuẩn bị cho hành động phi pháp của mình bằng một Dự thảo luật đã được chỉ thị cho một Viện Nghiên cứu Pháp luật của Quốc hội và một Viện nghiên cứu tư pháp của Bộ Tư pháp chuẩn bị Dự thảo thành luật và dự định trình ra Quốc hội trong đợt này, nhưng tình hình chưa cho phép, nên CSVN đành cho hoãn lại.
Khi thông qua quyết định này, Bộ chính trị đảng CSVN đã tính đến khả năng thực hiện bí mật theo các qui định lãnh đạo điều hành đất nước của Đảng CS mà không cần có một Luật do Quốc hội thông qua.
Bất kể Luật Pháp quốc tế, Công ước quốc tế, Hiệp định đã ký kết với các nước, với WTO, Hiến Pháp 1992 vốn là Hiến Pháp phi pháp của Việt Nam và các Luật pháp XHCN khác trong nước do CSVN nặn ra trước nay
Nhưng dù không cần, không có luật, thì đảng Cộng sản và chính phủ cộng sản vốn phi pháp của Việt nam cũng có thể thực hiện bằng một nghị quyết của Bộ chính trị có thể ban hành và cộng bố trên toàn bộ hệ thống thông tin của mình vào cuối buổi chiều và được thực hiện ngay trong đêm ? Một quyết định mà Chính phủ phi pháp và quốc hội bù nhìn của CSVN phải chấp hành theo đúng cơ chế chính trị ở VN tất cả đều do đảng CS lãnh đạo.
Chúng ta cũng nên nhớ, với ưu thế độc tài, độc đảng, độc ác, CSVN hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì, dù phi pháp, phi nhân, phi nghĩa, như họ đã từng làm trong suốt lịch sử tồn tại của đảng CSVN vừa qua. Mục đích chỉ để họ (CSVN) được tồn tại, mà bất chấp tất cả.
Cứu kinh tế sụp đổ cứu dân tộc hay cứu đảng CS : Bộ chính trị đảng CSVN quyết định chỉ cứu đảng CS mà thôi, và sẵn sàng đưa đất nước và dân tộc vào thời kỳ lầm than mới dưới gót giầy và họng súng và nhà tù của cộng sản Việt Nam.
Họ chấp nhận quay lại bản chất cộng sản, không như mọi người nghĩ là họ đã từ bỏ khi hội nhập quốc tế và chấp nhận cuộc chơi , khi tha thiết vào WTO và tha thiết xin được hưởng Quy chế PNTR của Hoa Kỳ
Không nên tin vào những gì cộng sản nói
Điều này đa số người dân Việt Nam, nhất là những người có hiểu biết về suốt qúa trình hình thành đảng cộng sản và chiếm quyền lãnh đạo đất nước của cộng sản Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở miền bắc và 1975 ở miền nam và sau đó là cả nước.
Bản chất cộng sản muôn đời là lừa bịp nhân dân, mỵ dân chủ. CSVN đã từng lừa bịp và mỵ dân cả trong chính trị và kinh tế, như họ (CSVN) đã từng làm qua nhiều giai đoạn trong suốt quá khứ đến hiện nay. Và ngày nay vẽ ra đường lối kinh tế thị trường XHCN bản chất là kinh tế cộng sản thì thủ đoạn mỵ dân của CSVN tiếp tục mang ra để lừa bịp nhân dân và cả thế giới. Thực chất đó là nền kinh tế cộng sản, và nay qua thực tế đã lộ rõ bản chất đó là nền khi tế phi thị trường, phi dân chủ.
Những thông tin chính thức của chính phủ CSVN đưa ra cho công luận và được hơn 600 tờ báo các loại “là những cái lưỡi không xương” của CSVN chuyên tuyên truyền nói theo lãnh đạo CSVN. Và chỉ được tuyên truyền theo kiểu “nói láo” để gọi là đánh bóng chế độ CS.
Nói láo là nói chuyện không có, hay không đúng với sự thật. Nói láo trong chính trị có thể còn được, như CSVN đã từng thành công , nhưng nói láo trong kinh tế thì hậu quả là “ nhãn tiền”.
Nói láo : Trong khi cuối tháng 5.2008 CSVN đã nói láo khi đưa ra chỉ số lạm phát là 25,2% của tháng 5 so cùng kỳ năm trước. Con số này đã bị lãnh đạo CSVN “duyệt” và cắt bỏ để hạ xuống rất thấp, những mong trấn an và lừa bịp, mỵ dân cũng như thế giới, nhưng không qua được mắt của các chuyên gia kinh tế nước ngoài.
Ví dụ như ngài Martin Rama là chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam mới đây đã xác nhận lại khi trả lời báo chí bên thềm Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ và đầu tư vàoViệt Nam tại Hà Nội ngày hôm qua 02.06.2008, đã cho biết chỉ riêng gạo là mặt hàng chiến lược quan trọng hàng đầu cho người dân Việt Nam chỉ trong tháng 5 và mấy tháng đầu năm nay đã tăng hơn 80%. Và các mặt hàng khác theo đánh giá và thông tin lẽ tẻ trên các báo của CSVN đưa tin gần đây thì đã tăng ít nhất 40% đến 200%.
Chỉ số lòng tin và tín nhiệm vào chính phủ và kinh tế ở Việt Nam theo một tổ chức nước ngoài khảo sát mới đây cũng đưa ra con số mới nhất trong tuần qua từ 74% cuối năm 2007 đến cuối tháng 5.2008 xuống chỉ còn 37%.
Chúng ta cũng không quên, CSVN miệng luôn nói vì dân, nhưng đứng trước tình trạng giá cả sinh hoạt leo thang hàng ngày làm cho đời sống công nhân, nông dân, hay nói chung đa số người dân đang lâm vào cảnh cùng cực.
Đặc biệt là công nhân viên chức nhà nước cấp thấp cũng cùng chung tình trạng, nhưng chính phủ CSVN đại diện là Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội Nguyễn thị Kim Ngân đã hiển nhiên trả lời trước diễn đàn quốc hội CSVN ngày 31.05.2008 khi có nhiều đại biểu chất vấn về vấn đề nâng lương cho khu vực hưởng lương nhà nước để bù đắp cuộc sống khó khăn do giá cả leo thang thì được Bộ trưởng này trả lời theo toàn văn : “ Tôi chưa có suy nghĩ để đẩy nhanh lộ trình (tăng lương NV) ngay trong năm nay”, bà Ngân nói.
“Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi” đó là câu nói dân gian Viêt Nam có từ lâu đời để chỉ phường người ăn trên ngồi trước, vong ân bội nghĩa, nay lại hoàn toàn đúng đối với hàng ngũ lãnh đạo CSVN hiện nay trước tình hình giá cả leo thang và đời sống người dân và viên chức cấp thấp đang lâm vào cảnh bần cùng.
Đến nay số hộ dân thiếu đói do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tăng lên gấp đôi cùng kỳ năm trước và đang tăng nhanh hàng ngày, theo nhìn nhận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ CSVN Nguyễn Xuân Phúc. Đến 58 huyện trong cả nước có tỷ lệ người dân đói nghèo trên 50%, theo báo cáo của Chính phủ CSVN trong tháng 6.2008.
Những cuộc bãi công chính đáng của công nhân khắp nơi trong cả nước gần đây để đòi quyền lợi với giới chủ nhằm đòi thêm lương bổng để bớt đói khổ, thì được chính phủ cho phép lực lượng công an, kết hợp bảo vệ và câu kết với lưu manh côn đồ bên ngoài đàn áp đánh đập dã man và bắt bớ bỏ tù nhiều công nhân. Với mục đích để giữ vững ổn định kinh tế chính trị?
Lừa bịp quốc tế và mỵ dân về dân chủ song song với kinh tế
Thứ trưởng Bộ công an CSVN Nguyễn văn Hưởng trong cuộc làm việc và đối thoại về nhân quyền với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Kramer trong ngày 30.05.2008 tại Việt Nam vừa qua đã “dạy” cho Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về luật pháp kiểu CSVN, khi ông Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ hỏi về những trường hợp công dân VN bị bắt bớ giam cầm. Cụ thể như hai nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, cũng như trường hợp của Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân hay Luật sư Bùi Kim Thành. Ông Hưởng, Thứ trưởng công an CSVN bảo rằng : “Quan điển chung của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản rằng Việt Nam là một đất nước có chủ quyền và có luật pháp, và việc bắt giữ bỏ tù công dân đều theo pháp luật” , toàn văn BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080602_usvietdialogue.shtml
Việc bắt giữ phi pháp và gán ghép tội lệ cho những tù nhân nói trên thì mọi người và công luận đã rõ. Sự thật đó là những hành động chụp mũ, mà công an cộng sản VN đã quen làm, để đàn áp những tiếng nói dân chủ xây dựng đất nước. Một thứ dân chủ thực sự mà cộng sản VN không bao giờ chấp nhận, cũng như một nền kinh tế thị trường thực sự, hay kinh tế dân chủ thực sự thì cộng sản Viêt Nam đã, đang và sẽ không bao giờ chấp nhận theo “lý luận cùn”, theo thứ triết lý bịp bợm của họ ?
Việt Nam thực sự có chủ quyền không qua vụ việc Hoàng Sa Trường Sa với Trung Quốc mới đây? Mọi người cũng đã biết rõ rồi.
Luật pháp XHCN của Việt Nam theo ông Thứ trưởng bộ Công an CSVN Nguyễn văn Hưởng nói với Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 30.05.2008 là thứ “luật pháp cộng sản”, một loại luật pháp “phi dân chủ”.
Với thứ “luật pháp cộng sản” này, CSVN và cả hệ thống chính trị ở VN hiện nay đã thừa nhận là mục đích và bản chất của nó là để bảo vệ đảng và chế độ phi pháp do đảng CSVN nặn ra, hay thường gọi là “Luật pháp XHCN”. Luật pháp này không nằm trong các khái niệm về luật pháp của thế giới cho các quốc gia và dân tộc hiện đang có mặt trên thế giới hiện nay, mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ cho một nhón nhỏ theo cộng sản trong nước và không phải luật pháp để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ công dân.
Thực chất luật pháp XHCN hiện nay ở VN là một thứ luật pháp “phi pháp”, được sản sinh ra chỉ để bảo vệ cộng sản, hay nói đơn giản là “luật rừng xanh”. Không phải là luật pháp của một quốc gia hay của một dân tộc có độc lập chủ quyền và tự do dân chủ thực sự.
Luật pháp thông thường phải đại diện cho quyền lợi quốc gia dân tộc, cho ý chí nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Nhưng luật pháp gọi là XHCN của CSVN này do bản chất và mục đích của nó chỉ phục vụ cho hơn 3 triệu đảng viên CSVN, thì không thể nào đại diện cho Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam được.
Vậy mà thứ luật rừng này đã được lãnh đạo CSVN đưa ra rêu rao khắp nơi, hết lừa bịp mỵ dân VN, nhân dân và lãnh đạo nhiều nước, tuần qua lại được lãnh đạo Bộ công an Việt Nam đưa ra “giảng giải” cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, trước mặt Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Michael Michalak.
Đúng là cộng sản. Trước sau, trên dưới, trong ngoải thì bản chất vẫn là cộng sản, là bịp bợp, khoát lác, bất kể lẽ phải, sự thật.
Tin ai và nên làm gì lúc này?
Lòng tin là một thứ vô hình, nhưng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống.
Chỉ lòng tin. Tôi không nói đến đức tin, vì đức tin trong tôn giáo là điều tốt đẹp.
Lòng tin phài có cơ sở và điều kiện cần thiết để hình thành.
Càng hiểu biết sâu về cộng sản thì lòng tin chẳng những không còn, mà thay vào đó là lòng oán hận. Oán hận ít nhất do đã bị cộng sản lừa bịp…
Oán hận là một thứ để phán ảnh lòng tin bị phản bội, và là sự trừng trị lòng tin khi bị kẻ khác lợi dụng hay ăn cắp mất.
Với CSVN, thì lòng tin vào CS có lẽ nhiều người không lạ, mà phần trên của bài viết này cũng chỉ bổ sung thêm một phần nhỏ.
Trước bản chất và hành động độc tài gian xảo trong suốt thời gian dài vừa qua cho đến mới ngày hôm qua đây, có lẽ lòng tin dành cho CS sẽ tùy mọi người nhận thức và quyết định.
Nhưng với kinh tế và quyền lợi thiết thân của mình, cũng như dân gian nói “ đồng tiền đi liền khúc ruột”, thì mong rằng có dịp mọi người dân Việt Nam, cả những nhà đầu tư và công dân nước ngoài có quan hệ kinh tế làm ăn tại Việt Nam có dịp suy nghĩ.
Tác giả bài viết này không có ý định kêu gọi mọi người tin ai, tin nguồn thông tin cụ thể nào cả. Vì mọi người có thể tự tìm cho mình những thông tin khả tín trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay.
Hiện nay, đứng trước khủng hoảng. Điều qua trọng chúng tôi muốn nói là mọi người không nên nghe theo những thông tin một chiều, bị bưng bít, cường điệu do cộng sản VN đưa ra, thông qua bộ máy thông tin của họ.
Về việc nên làm gì trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam:
Chúng tôi chỉ xin được phép nhắc nhở mọi người rằng : hãy tự tỉnh táo để bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình trước cơn khủng hoảng kinh tế này.
Việc bảo vệ này không đi đôi với những gì mà chính phủ CSVN đưa ra kêu gọi mọi người hưởng ứng, vì đó chỉ là những sự lừa bịp, qua mặt mọi người tiếp theo, những mong cứu giúp cho CSVN kéo dài thêm sự sụp đổ về kinh tế và chính trị, để tiếp tục thực hiện các tội ác với tổ quốc và nhân dân VN, mà chắc chắn sẽ không bao giờ giải quyết được cái gốc vấn đề là giải quyết khủng hoảng kinh tế được trong lúc này.
Những việc quý vị có thể tự làm để bảo vệ quyền lợi của mình, và làm nhanh không chần chừ, nhỡ lỡ cơ hội và thiệt hại cho quyền lợi của bản thân. Đó là:
1. Nên rút hết tiền đã gởi ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam ngay:
Mọi người hãy rút toàn bộ những khoản tiền để dành, tích lũy hay kinh doanh ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam, nếu không muốn bị CSVN lấy đi hết trong những ngày sắp tới. CSVN sẽ lấy tiền của mọi người bằng cách gì ? Đơn giản họ chỉ cho phá giá VND và đổ thừa cho lạm phát, thì giá trị thực của đồng tiền và tài sản của quý vị sẽ giảm đi, hay mất đi tức thì chỉ trong 1, 2 ngày nhanh chóng. Có thể mất là 50, 70 hay 90% giá trị tài sản chỉ qua một đêm, hay chỉ trong một vài ngày.
Chẳng hạn như: chỉ sau 3 tháng thì giá trị tài sản của những người đầu tư chứng khoán ở Việt Nam đã mất đi 70% và còn tiếp tực mất đi nữa. Do thị trường chứng khoán VN bị sụp đổ. Hay tài sản của những người đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam, chỉ sau 3 tháng qua cũng đã bị mất từ 60 đến 80% tùy trường hợp. Do 2 thị trường này sụp đổ hoàn toàn mới đây. Điều này sẽ kéo theo Thị trường tài chính ngân hàng ở VN cũng sẽ sụp đỗ trong nay mai. Đó chính là sự thật và lời khuyên cho quý vị ở phần này.
2. Nên mua ngay vàng hoặc ngoại tệ có giá và chuyển sang gởi các ngân hàng nước ngoài để giữ tài sản: Để bảo đảm giá trị tài sản của mình, khi rút hết tiền ở các ngân hàng Việt Nam ra quý vị nên mua lại vàng, hay các loại ngoại tệ có giá khác để giữ, và gởi vào các ngân hàng nước ngoài.
3. Tuyệt đối không tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam: Không mua công trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán, hay tham gia vào canh bạc là Thị trường chứng khoán của Việt Nam vì nó đã đang đổ vỡ thực sự và còn tiếp tục bị chôn vùi sâu hơn, không còn mấy cơ hội gượng dậy nữa.
4. Không gởi tiền, vàng (cả ngoại tệ) vào các ngân hàng Việt Nam nếu vì tham lãi suất cao:
Đây là chiêu dụ lãi suất cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam để lừa mọi người đưa tiền hay tài sản vào để ngân hàng được thoi thóp sống, trong khi đồng tiền VN mất giá nhanh và quý vị sẽ không lấy ra được khi diễn biến kinh tế xấu hơn, lúc đó VND mất giá, quý vị sẽ bị thiệt, thậm chí trắng tay. Như đã đề cập ở phần 1 trên đây.
Chưa kể khả năng nhà nước CSVN sẽ truy tìm và tịch thu hay gọi với từ ngữ hoa mỹ hơn là “trưng thu hay trưng mua” các tài sản của quý vị phục vụ cho lợi ích .. quốc gia trá hình của CS mà chính phủ CSVN có thể biết và kiểm soát được.
Do cần phân tích sâu và cập nhật tình khủng hoảng kinh tế của Việt Nam cho bạn đọc trong nước nên các nội dung về khủng hoảng chính trị Việt Nam xin được tiếp tục trong các bài viết tiếp theo của loạt bài này.
TS. Trần Minh Hoàng
Sài gòn, ngày 03.06.2008
April 20, 2008
Cái loa của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt : “Không để người nghèo chịu thiệt thòi mãi…”
chịu thiệt thòi mãi…” (*)
http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/3458/index.aspx

Nguyên TT Võ Văn Kiệt
Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục.
Người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng; trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra.
Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng, chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo.
Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để “xóa đói giảm nghèo”. Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày) đã giảm từ 58%, năm 1993, xuống 14,7%, năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam.
Nhưng, những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước, và chúng ta hiểu, khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể.
Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo thì trước đó đã “100% ngói hóa”.
Mặt khác, cho dù phần lớn dân chúng đã “thoát nghèo”, chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có, lại gần như bị xóa sạch.

Hai đứa trẻ
Tố Hữu
Tôi không dám mời anh đi xa lạ
Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn
Kể làm sao cho hết cảnh lầm than
Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả!
Này đây anh một bức tranh gần gũi:
Nó thô sơ? Có lẽ. Nhưng trung thành.
Nó tầm thường? Nhưng chính bởi hồn anh
Chê chán kẻ bị đời vui hắt hủi.
Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi
Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con
Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non
Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới.
Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm
Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.
Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê
Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!
Đứa chồm chập vồ ôm li sữa trắng
Rồi cau mày: “Nhạt lắm! Em không ăn!”.
Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân
Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!
Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi
Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.
Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây
Không dám tới, e đòn roi, tiếng chưởi!
Vẫn chưa hết những cảnh đời đau khổ
Nhưng kể làm chi nữa, bạn lòng ơi!
Hai đứa kia như sống dưới hai trời
Chỉ khác bởi không cùng chung một tổ:
Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ
Và đứa buồn, con mụ ở làm thuê.
Tôi vừa đi đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy, người nghèo đang chiếm một tỷ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.
Nhìn sang nước bạn
Trước đây, trong một lần tiếp kiến, nhà vua Thái Lan nói với tôi: “Bài học sai lầm dẫn đến thất bại của nhiều quốc gia là khi công nghiệp hóa, họ không quan tâm đúng mức hoặc bỏ bê nông thôn, nông nghiệp”.
Tình cảm với nông dân và sự am hiểu về nông nghiệp của nhà Vua khiến tôi hết sức ấn tượng. Thái Lan có một chế độ khác với Việt Nam, nhưng họ cũng rất chú trọng “công nghiệp hóa”, và đặc biệt, rất quan tâm đến nhân dân lao động.
Cách đây không lâu, cựu Thủ tướng Thaksin có được sự ủng hộ của dân chúng, ngay cả khi ông bị lật đổ và phải đối diện với nhiều cáo buộc tham nhũng, phải lưu vong.
Khi được trở về, ông vẫn được nông dân và những người Thái khác nhiệt liệt đón mừng, đó cũng là nhờ vào những chính sách thời kỳ ông làm Thủ tướng thực sự mang lại cuộc sống tốt hơn cho những người nghèo.
Cam kết lịch sử
Ở Việt Nam, sở dĩ Cách mạng có được nhiều thành tựu, là nhờ, tại những thời điểm quan trọng nhất của lịch sử, Đảng ta đã đưa ra được những chủ trương nhắm đúng vào nguyện vọng của các tầng lớp dân chúng, đặc biệt là dân nghèo.
Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân.
Thực hiện cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo.
Tôi muốn lưu ý ở đây, về quốc sách hàng đầu của đất nước mà chúng ta đang theo đuổi, đó là quốc sách công nghiệp hóa.
Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản.
Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.
Nông dân luôn là người chịu thiệt thòi nhiều nhất
Ảnh nguồN: vietnammelody.com

Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình “công nghiệp hóa”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp, đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.
“Công nghiệp hóa” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân.
Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải “ly hương, ly gia” để có việc làm.
Công nghiệp hóa, đô thị hóa của chế độ ta mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài.
Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó, có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi.
Khi đó, chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài.
Đầu tư phát triển, một mặt, không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác, phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc… không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ.
Từ thiện không thay thế được chính sách

Từ thiện không thay thế được chính sách
Ảnh nguồn: http://savethechildren.org.au
Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này.
Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.
Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo.
Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng.
Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình “tích lũy tư bản” diễn ra như thời “hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững.
Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu.
Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.
Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Trong khi, nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.
Gần như thường xuyên, chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá… được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do UBTU MTTQ Việt Nam tổ chức.
Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ, công việc ấy để cho các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều.
Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa, thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin, đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo.
Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu “đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Có tạo được những nên tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện, thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ.
Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy, lớn hơn là việc quyên góp, xin – cho, rất nhiều.
Mặt trận có thể tham gia “xóa đói giảm nghèo” một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất.
Đầu tư của nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa…, vì thế, không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia.
Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quỹ trợ cấp, tín dụng giáo dục… cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn.
Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải.
Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt
(*) Ảnh chiếc xe Roll Royce và bài tho Tố Hữu do Đối Thoại lồng vào bài viết
http://www.doi-thoai.com/baimoi0408_211.html


Nhận định của TS Lê Đăng Doanh về thư ngỏ của cựu TT Võ Văn Kiệt
2008.04.15
Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư ngỏ mới nhất được các báo đăng tải, đã đặt vấn đề về sự chệch đường trong thực hiện chính sách công nghiệp hóa, khiến nông dân và người nghèo không được hưởng lợi.

Cựu Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt trong một cuộc trả lời phỏng vấn bái chỉ đầu năm 2007. RFA file photo.
Thông điệp của nhân vật từng lãnh đạo Việt Nam thời kỳ đổi mới đầu thập niên 1990 mang những ý nghĩa gì? Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này qua cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế nhiều uy tín ở Việt Nam, ông hiện sống và làm việc ở Hà Nội trong lãnh vực nghiên cứu ngoài chính phủ.
Chệch đường trong thực hiện chính sách
Nam Nguyên: Thưa tiến sĩ, phải chăng ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, người nông dân vừa ly nông vừa ly hương và làm việc với đồng lương ít ỏi. vậy là ngược với chủ trương ly nông bất ly hương? Thực tế này như thế nào?
TS Lê Đăng Doanh: Bài của thủ tướng Võ Văn Kiệt có đề cập tới một vấn đề rất quan trọng mà lâu nay ít được nghiên cứu ở Việt Nam: đó là những người di dân, có tình trạng phức tạp là chúng ta hiện nay chưa biết và chưa có công trình nghiên cứu nào về qui mô mức độ di dân, bởi vì người dân di dân ra thành phố không được đăng ký hộ khẩu, không được hưởng chế độ phúc lợi cũng không được hưởng các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ và thành phố nơi người ta kiếm sống thì không công nhận đấy là công dân của họ, không đăng ký hộ khẩu ngân sách địa phương không chịu trách nhiệm không bảo đảm, con cái sinh ra không được đi học. Muốn đi học phải chạy tới chạy lui rất khó khăn.
|
Điều 4 (Hiến pháp 1992) Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. |
Chính vì vậy quốc hội vừa rồi đã yêu cầu là phải sửa qui chế này. Quay trở lại vấn đề này, chúng ta thấy hiện ra lỗ hổng là nơi địa phương có nhân dân đi biết là họ đi nhưng cũng không chịu trách nhiệm. Địa phương, thành phố nơi họ đến sống và họat động như ở Hà Nội, TPHCM, họ sống thế nào, bao nhiêu người, cũng không nằm trong trách nhiệm của chính quyền nơi đó.
Theo tôi đây là vấn đề trước hết cần có sự điều tra, sửa đổi các chính sách và có những chính sách di dân công khai minh bạch có điều kiện rõ ràng và khắc phục tình trạng di dân bất hợp pháp này. Đây là tôi chưa nói tới tình trạng đồng bào dân tộc từ miền Bắc, từ Thanh Hóa di dân vào Tây Nguyên cũng ở trong tình trạng như vậy.
Các tỉnh Tây Nguyên cũng không giàu có gì, nhưng cứ lâu lâu phải cưu mang vài ba trăm, vài ngàn đồng bào từ miền Bắc vào, lại phải xây lán trại, xây trạm y tế, xây dựng trường học. Những khỏan tiền đó họ xin không được phải lấy từ ngân sách địa phương, nhưng theo tính tóan của bộ tài chánh những người này không phải là công dân của địa phương và không được chuẩn chi. Cho nên quá trình này đúng là một vấn đề phức tạp.
Nam Nguyên: Thưa TS, quốc sách là câu chuyện lớn, một cựu thủ tướng, kiến trúc sư thời kỳ đổi mới phê phán mạnh như vậy. Theo ông có phải là Việt Nam sẽ phải đổi mới một lần nữa trong chính sách phát triển.
TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi quá trình công nghiệp hóa cho tới nay đã đạt một số thành tựu nhất định. Tuy vậy vấn đề là chỗ chúng ta đã bỏ quá nhiều vốn vào các công trình lớn mà ít tạo ra được công ăn việc làm. Hiện nay kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP , nhưng sử dụng tới 50% số vốn đầu tư của ngân sách và 70% tín dụng, nhưng chỉ tạo ra được độ 8 tới 9% công ăn việc làm mà thôi.
Gần đây hầu như không tạo ra được công ăn việc làm mới, trong khi đó kinh tế tư nhân được rất ít tín dụng, rất ít trợ giúp từ ngân sách Nhà nước nhưng tạo ra được phần lớn công ăn việc làm. Vấn đề là như vậy cho nên cần bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tư vào các doanh nghiệp ở vùng nông thôn. Đầu tư vào những mô hình cụm công nghiệp ở vùng nông thôn và đấy là những ý kiến của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt mà tôi hòan tòan ủng hộ.
Phúc lợi của người nghèo?
Nam Nguyên: Như thế có nghĩa là ly nông bất ly hương?
TS Lê Đăng Doanh: Vâng, phải tạo ra mô hình ly nông bất ly hương. Nếu không sẽ lập lại thảm họa ở các thành phố khác như ở châu Mỹ La Tinh ở Mexico hay Bangkok, vấn đề di dân bất hợp pháp tạo ra những vấn đề hết sức phức tạp như ở Bắc Kinh, Thượng Hải ở Trung Quốc. Đấy là những vấn đề tội phạm, trật tự xã hội v.v…
Chúng ta phải nhìn thẳng vào vấn đề này, nhìn nhận thực trạng và phải có nghiên cứu động lực, qui mô và phải có giải pháp rốt ráo với tình trạng di dân bất hợp pháp này. Không thể nhắm mắt là nơi có dân đi không chịu trách nhiệm gì, mà nơi nhận dân đến cũng không có chính sách để đối xử với người ta như một công dân. Tinh thần thay đổi về sổ hộ khẩu mà quốc hội quyết định là bước khởi đầu đúng hướng nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa để khắc phục tình trạng này

Theo truyền thống của đảng CSVN, sau khi về hưu, các cựu lãnh đạo vẫn còn có ảnh hưởng nhất định đối với giới lãnh đạo đương thời. AFP PHOTO.
Nam Nguyên: Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận là, phúc lợi của người nghèo ở một số nước tư bản cao đến mức mà các nhà lý luận của Việt Nam nên tham khảo. Thưa, ông nhận định gì về điều này.
TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi tình trạng phúc lợi ở Việt Nam đang có ba vấn đề. Một là chúng ta chưa có chế độ công khai về kiểm sóat thu chi một cách nghiêm ngặt, vì vậy cho nên rất nhiều nguôn thu ngân sách không thu thuế được.
Thí dụ nguồn thu từ đầu tư bất động sản, nguồn thu từ chứng khóan hoặc nguồn thu từ các phi vụ kinh doanh lọt ra khỏi sự kiểm sóat của Nhà nước, thí dụ báo chí đưa tin buôn lậu than lên tới 10 triệu tấn ở những tỉnh mất nguồn thu rất lớn.
Vì vậy tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo, những người giàu thì quá giàu mà lại không đóng góp gì cho xã hội, không có trách nhiệm trong việc xây dựng xã hội đóng góp cho phúc lợi xã hội. Và Nhà nước phải sử dụng nguờn thu từ dầu lửa torng khi nguồn thu này không phải là quá lớn quá nhiều như ở Trung Đông.
Vấn đề thứ hai là Việt Nam chưa pháp lý hóa được qui chế về vấn đề phúc lợi. Tức là chúng ta có chương trình giúp đỡ người nghèo, có chương trình cho trẻ em đi học và chữa bệnh miễn phí, nhưng lại chưa có luật và chưa đưa tiền đến cho người dùng mà lại chuyển tiền cho những cơ quan như là trường học, bệnh viện. Cách làm đó tạo ra sơ hở, có thể ý đồ của chính phủ là tốt nhưng tiền không đến được người nghèo.
Điều thứ ba là thực trạng, chúng ta thấy hiện nay trong chế độ phúc lợi xã hội, người giàu được hưởng nhiều phần về chế độ phúc lợi chữa bệnh mà Nhà nước đưa ra. Tức là người giàu tiếp cận được với bệnh viện tốt hơn và nhiều hơn người nghèo. Đấy là ba vấn đề mà Việt Nam cần phải khắc phục từ nguồn thu đến chi và việc điều tiết xã hội một cách công bằng.
Chính các điều ấy ở các nước khác như Thụy Điển, Đức người ta làm tốt hơn cho nên người ta có chế độ phúc lợi xã hội mà chúng ta chưa biết đến bao giờ có thể mơ tưởng thấy được.
Nam Nguyên: Cảm ơn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh về thời giờ ông dành cho đài RFA.
Bạn đọc góp ý:
Ông Võ Văn kiệt được phân công nói như trên ở những thời điểm ” nóng ” :
“nào là hòa giải hòa hợp, nào là 30/4 triệu người vui triệu người buồn, …” rất mị dân, giả dối !
Người dân VN rên siết, nói :
Cơ cấu lỗi thời, khép kín, chính sách sai lầm triền miên, đảng nhà nước xem thường dân, cướp bóc tham nhũng + thiên tai + mất mùa, … dân bị bần cùng hóa –> tệ nạn xã hội nảy sinh, bán đất bán nhà (giá bèo) cho tư bản đỏ nhà nước, cho ngoại bang; dân tìm đường xuất khẩu lao nô, dục nô, … –> dân càng nghèo, nước yếu, hiểm họa mất nước là đương nhiên; ai cố chấp, bán nước cầu vinh ?
“nói vậy mà không phải vậy”; ” nói mà không làm, làm ngược” từ nhiều năm qua !
Tại sao ông Võ Văn Kiệt không nói : “cơ cấu nhà nước ta không có quyền lực đối trọng độc lập thực sự để bảo vệ quyền lợi của dân, của đất nước” , ” bây giờ phải trả lại dân quyền dân tộc tự quyết”, “phải thay đổi cơ cấu chính trị, dân chủ hóa xã hội VN càng sớm càng tốt “, ” phải tư nhân hóa báo chí “, ” phải bảo vệ tiếng nói sinh viên bày tỏ lòng yêu nước, không được đàn áp khủng bố họ “, ” nếu đảng không làm tôi trả thẻ đảng, … phải cho cái quái thai, cơ cấu độc tài cực kỳ bất công, phi lý, vô nhân tính này vào quá khứ ” , ” nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân” ; “đó là cách duy nhất bảo vệ vẹn toàn đất tổ, sớm tạo điều kiện lấy lại HS TS đã mất, mang lại công bằng no ấm cho toàn dân nghèo ” !
March 8, 2008
Bản Tố Cáo Nhà Cầm Quyền Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bản Tố Cáo Nhà Cầm Quyền Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chính Phủ Độc Tài Cộng Sản Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Đã Vi Phạm Nhân Quyền Nghiêm Trọng Đối Với Nhân Dân Trong Nước
(Về vụ công an CSVN đàn áp bắt 10 người dân oan thuộc Khu công nghệ cao – quận 9 – thành phố Sài Gòn vừa qua).
Kính gửi :
- Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc
- Uỷ ban Nhân quyền của Liên minh Châu Âu – EU
-Tiểu ban Nhân quyền của Quốc Hội – Hoa Kỳ
- Cơ quan Nhân quyền của Quốc hội Úc Châu
- Tổ chức theo dõi và bảo vệ Nhân quyền Quốc tế ( HRW)
- Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam của đồng bào Hải ngoại
- Ông Võ Văn Ái chủ tịch uỷ ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam tại Paris – Pháp
-Các cơ quan báo chí, đài phát thanh và truyền hình trong, ngoài nước và của Quốc tế
- Tất cả các website Hải ngoại và toàn thể những ai quan tâm
Đồng kính gưỉ các cơ quan gọi là bảo vệ luật pháp của nhà nước CSVN như
- Toà án nhân dân tối cao
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Bộ công an
Cơ sở chính tại Hà Nội và Văn phòng đại diện tại thành phố Sài Gòn để cùng biết và phối hợp giải quyết ( tức TP Hồ Chí Minh hiện nay)
Kính Thưa tất cả quý cơ quan và các quý ông quý bà !
Chúng tôi là các công dân đang sống tại 2 miền của nước Việt Nam XHCN xin trân trọng gửi đến quý vị nội dung bức thư cũng là bản tố cáo này bóc trần hành động xâm phạm Nhân quyền, quyền công dân rất trầm trọng của bộ máy công quyền do đảng CSVN và nhà nước VN XHCN của họ chỉ đạo đã gây ra cho đồng bào dân lành vô tội. Và kính mong quý vị can thiệp thật mạnh mẽ tạo áp lực quốc tế để đòi nhà đương cục cộng sản Hà Nội phải thả số nạn nhân này ra khỏi nhà tù của chế độ vô điều kiện ngay lập tức.
Như dư luận đã biết, vào lúc 21 giờ ngày 02 – 03 – 2008 một lực lượng công an CS mặc sắc phục chính quy bao gồm hàng trăm tên đã bất ngờ đổ quân vào truy quét đồng bào dân oan đang cư trú tại khu công nghệ cao thuộc quận 9 – TP Sài Gòn. Suốt từ thời gian từ 21 giờ đến 24 giờ đêm cả khu vực này náo động, hôn loạn vô cùng bởi chiến dịch càn quét bắt bớ dân oan của những tên công an côn đồ đang ra sức bảo vệ cho bọn người cướp đất đai, nhà cửa của nhân dân .
Dưới đây là danh sách cụ thể những người bị công an CSVN bắt giam và bị buộc tội gây rối trật tự để chính quyền độc tài CSVN thành phố Sài Gòn sẽ đem ra gọi là xét xử trong thời gian tới :

1 – Kiều Văn Hòa – sinh năm 1967
Thường trú tại : số 89/12, tổ 5 –đường Hàng Tre – phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn.
Riêng trường hợp anh Hoà đã bị gần chục tên công an CS mặc sắc phục vây bắt lúc 23 giờ ở ngoài đường sau đó chúng đưa về nhà đọc lệnh bắt giam và khám xét nhà về tội gây rối trật tự ….
2 – Nguyễn Văn Tuấn – sinh năm 1957.
Thường trú tại : số 524/378 đường Nguyễn Đình chiểu – quận 3 – TP Sài Gòn
Bị bắt ngoài đường đưa về nhà đọc lệnh bắt giam khám nhà và gán ghép về tội gây rối trật tự .
3 – Nguyễn Văn Năng – sinh năm 1953
Thường trú tại : phường Tăng Nhơn Phú – quận 9 – TP Sài Gòn
Bị đọc lệnh bắt tại nhà về tội gây rối trật tự theo bộ luật hình sự
4 – Lưu Quốc Luân – sinh năm 1958
Thường trú tại : số 118/ 5 Mỹ Thành – phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn
Bi công an đọc lệnh bắt tại nhà về tội gây rối trật tự .
5 – Nguyễn Nam Điền – sinh năm 1972
Thường trú tại : số 172/6 Mỹ Thành – phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn
Bị ghép vào tội gây rối trật tự bị bắt ngày 4/3/2008 và là con trai của bà Đỗ Thị Mai
6 – Nguyễn Thị Thơ – sinh năm 1968
Thường trú tại : số 120 Cầu Xây – Phường Tân phú – quận 9 – TP Sài Gòn
Không có lệnh bắt giam cũng như không có lệnh tạm giữ của bất cứ cơ quan tư pháp nào
7 – Nguyễn Thị Dung sinh năm 1964
Thường trú tại : số 9A đường Cầu Xây – Phường Tân Phú – quận 9 – TP Sài Gòn
Không có lệnh bắt giam hay tạm giữ của công an hay viện kiểm sát…
8 – Đỗ Thị Mai sinh năm 1950
Thường trú tại : số 172/6, ấp Mỹ Thạnh – Phường Long Thạnh My – quận 9 – TP Sài Gòn
9 – Dương Thanh Trúc – sinh năm 1971
Thường trú tại : số 124 ấp Mỹ Thành – Phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn
Không có lệnh bắt giam hay bắt giữ
10 – Nguyễn Thị Mỹ Vân – sinh năm 1971
Thường trú tại số : 155/1B Mỹ Thành – Phường Long Thạnh Mỹ – quận 9 – TP Sài Gòn
Không có lệnh bắt giam hay bắt giữ của các cơ quan gọi là bảo vệ pháp luật.
Tất cả 10 công dân trên đã bị đưa ngay vào nhà tù trong đêm mùng 2/3/2008, trong đó 06 công dân nam giới bị tống vào trại giam Chí Hoà và 06 công dân nữ bị tống vào trại giam công an quận 9, thành phố Sài Gòn.
Ngoài ra trong băn bản này chúng tôi còn đòi Nhà cầm quyền CSVN phải thả vô điều kiện trường hợp nữ Công dân Hồ Thị Bích Khương sinh năm 1967, cư trú tại xóm 4, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An bị bắt giam ngày 25/4/2007. Lý do chỉ vì chị đã viết nhiều đơn từ giúp dân oan trong tỉnh Nghệ An để đưa lên phổ biến trên Mạng internet, tập hợp dân oan khiếu kiện tại nhà mình ở để trả lời phỏng vấn các đài phát thanh, quốc tế, hải ngoại và trên các diễn đàn Palktak. Ngoài ra công dân Hồ Thị Bích Khương còn tổ chức hàng đoàn dân oan thường xuyên kéo lên thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để biểu tình và gưỉ đơn khiếu nại tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền trong nước. Công dân Bích Khương can đảm còn viết rất nhiều bài lên án chế độ độc tài toàn trị CS hiện nay, đòi đa nguyên đa đảng và đòi dân chủ hoá toàn diện nước nhà khá tích cực và mạnh mẽ. Chị là thành viên chính thức của Khối 8406 và của Phong trào dân chủ Việt Nam và hiện nay bị giam cầm tại trại giam thành phố Vinh. Gần 1 năm qua công an Nghệ An gây rất nhiều trở ngại cho thân nhân chị nhằm ngăn cản không cho thăm nuôi….
Sau đây chúng tôi kèm các tài liệu, hồ sơ, các hình ảnh chân dung của các công dân vô tội thuộc khu Công nghệ quận 9 bị công an chế độ Cộng sản độc tài Việt Nam bắt giam trái phép, trái pháp luật rất trắng trợn. Chúng tôi yêu cầu dư luận các cơ quan bảo vệ Nhân quyền trên khắp thế giới hãy lên tiếng vạch mặt bản chất gian ác,gian manh chà đạp quyền Con Người của đảng và nhà nước CSVN, của chính phủ và công an nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Làm tại Việt Nam ngày 8/3/2008
Các công dân đại diện 2 miền Nam Bắc Việt Nam đã tham gia ký tên vào bản tố cáo này để gửi công luận trên toàn Thế giới.
1. Lư Thị Thu Duyên cư trú tại số 77/13B đường Trần Bình Trọng, phường 1, quận Gò Vấp,TP Sài Gòn ( Tức Hồ Chí Minh)
Số điện thoại công khai để liên lạc mới nhất : 0168 – 385 – 7541 ( Xin lưu ý quý vi số di động cũ mà tôi đã ghi trong bức thư kính gửi các cơ quan bảo vệ Nhân quyền toàn cầu lần trước đã bị công an CSVN cắt đứt sau 1 ngày nội dung văn bản
tố cáo cho anh Lương Văn Sinh được phổ biến trên Mạng )
2. Lê Thanh Tùng cư trú tại khối 13, phố Chợ,thị trấn Phù lỗ, huyện Sóc Sơn,ngoại thành Hà Nội
Số điện thoại công khai bị công an nhà nước của đảng CSVN theo dõi đêm ngày là : 0962 – 247 – 051
Email aiquocle@gmail.com


February 14, 2008
Khẩu hiệu bịp
Khẩu hiệu rỗng ! Sự thật, chân/công lý ??
KHẨU HIỆU BỊP, THỦ ĐOẠN :
Cs phi công lý, phản đạo lý, phản tự nhiên, phi khoa học, vi phạm quyền con người, tướt đoạt dân quyền, bất công, phi dân chủ, phi tự do. Nói một đường làm một nẻo, sao chép văn, đạo tư tưởng người khác làm của mình. Nói lấy được, ba phải, lừa mị. Thủ đoạn của cs rất tinh vi, muôn mặt, từ “nhẹ nhàng, dụ dỗ, hộ khẩu đến đàn áp, ám sát”; cs chuyên môn làm ngang nói ngược, chơi chữ lừa bịp những người không biết rõ bản chất vong bản, xaỏ trá, gian ác của cs.
Nói chung, cơ cấu, hệ thống tổ chức của bất kỳ đảng và nhà nước cs nào trên thế giới (kể cả ở VN), là ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ, đảng trị, trên mọi lãnh vực (quốc hội, tòa án, nhà nước, truyền thông báo chí, chính trị, quân sự, công an, kinh tế, giáo dục, ý tế, MTTQ, … là công cụ của đảng, … vv), đặt trên nền tảng của sự bưng bít, bóp méo, tráo trở, tuyên truyền lừa bịp, kềm kẹp, và bạo lực khủng bố.
Điều cần nhấn mạnh là :
“đảng luôn đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích của đất nước, dân tộc !!”
Đây là sai lầm, tội ác, ngoan cố !!
- Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu : hoang tưởng, bánh vẽ, lừa bịp;
- Cứu cánh : thế giới đại đồng.
- Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ : dốt, nô lệ, giáo điều, vô đạo đức, độc đoán, độc ác, độc tài, tham tàn, ngụy biện, vô trách nhiệm mà đòi lãnh đạo, dựa trên sự bưng bít, lừa bịp và bạo lực khủng bố ?
- Yêu nước là yêu XHCN, yêu đảng: một cơ chế độc đảng, độc tài toàn trị, phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang và tập đoàn thống trị, phản bội dân tộc, mãnh đất màu mỡ cho mọi hành vi cướp bóc, giết người tùy tiện của bộ máy đảng, làm sao yêu được ??
Yêu đảng không thể là sự áp đặt, ép buộc, lý sự cùn !!
Đảng không thể, không bao giờ được phép đứng trên dân tộc, tổ quốc ! Nếu không đó là sai lầm, độc đoán, tội ác !!
- Trung với đảng, hiếu với dân: đảng buôn dân, bán nước cầu vinh, cũng trung với đảng sao ? Đúng phải là trung với tổ quốc, hiếu với dân.
- đạo đức cách mạng : giết, giết, bàn tay không ngừng nghĩ … (Tố Hữu); thà giết lầm hơn bỏ xót;
- Độc lập, tự do, hạnh phúc : 3 cương lĩnh của chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề xướng trong Cách Mạng 1911: “Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc” . Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQĐ) ra đời với mục đích đấu tranh cho Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc.
HCM lấy lại làm khẩu hiệu rỗng, lừa mị. Thực chất là tự nguyện làm tay sai của cs quốc tế LX, TQ, mang gông cùm cs trùm lên đầu dân tộc VN, lấy xương máu dân tộc VN làm tiền đồn bảo vệ thành trì XHCN LX, TQ, với tham vọng bành trướng chế độ thực dân đỏ cs man rợ, tay sai ở Á châu. Bắt nhân dân VN phải nô lệ ý thức hệ cs man rợ, phi dân tộc, phi nhân bản, phản tiến hóa nhân loại.
Độc lập ?
Khi đã gia nhập quốc tế cs thì làm gì có độc lập dân tộc, theo cương lĩnh của quốc tế cs ?
Đa số mọi quyết định lớn đều có chỉ đạo của LX, TQ. Gần đây là vụ đàn áp sinh viên biểu tình chống TQ sát nhập HS TS vào huyện Tam Sa tỉnh Hải Nam, sau lời khuyến cáo của Bộ ngoại giao TQ.
Tự do ?
Mọi thông tin nhạy cảm đều bị bưng bít, bịt miệng dân. Ví dụ: cs kiểm soát 100% báo chí, truyền thông. Không có báo chí tư nhân. Vụ sinh viên biểu tình HS TS, vụ dân oan khiếu kiện trước tòa nhà QH2 Saigon, báo chí cs im re !
Những nhà đấu tranh dân chủ bị công an đặt chốt canh, theo dõi, không di chuyển (phúng điếu đám tang cụ H M Chính, …)
Hạnh phúc ?
đâu ai muốn bỏ làng quê, gia đình, đất nước đi lấy chồng, làm lao nô nước ngoài !
Bất công, tham nhũng là quốc nạn, quốc sách.
Đậy là hệ quả của chính sách cai trị độc tài độc đoán, phi dân chủ, bất nhân tâm, công an trị, lừa mị, nói một đàng làm một nẻo, kéo dài từ 1945 đến ngày hôm nay 2008. Đa số người dân lâm vào cảnh khốn cùng, bế tắc, không còn con đường khác để sống một cách bình thường.
- Công an “nhân dân” : phải dịch ngược lại là công an bảo vệ quyền lực, tiếng nói của đảng. Cụ thể: vụ đàn áp các nhà dân chủ, các sinh viên biểu tình về HS TS.
- Quân đội ”nhân dân” : phải dịch ngược lại là Quân đội bảo vệ quyền lực đảng. TC chiếm HS TS, sát nhập vào huyện Tam Sa tỉnh Hải Nam, quân đội im re, thay vì phải bảo vệ vẹn toàn đất tổ, quyền lợi tổ quốc.
- “Dân trí” chỉ là một cái cớ để trì hoản tiến trình dân chủ mà thôi. Nếu đảng Cộng Sản Việt nam không nâng cao dân trí bây giờ thì ba mươi năm nữa họ sẽ vẫn nói một câu “Bây giờ chưa có dân trí, chưa thể có dân chủ”, và ba mươi năm nữa vẫn vậy, ba mươi năm tiếp nữa vẫn như thế. (Sinh viên) .
Đúng vậy, thực tế là trong đời sống hàng ngày cs độc quyền truyền thông (1 chiều, bưng bít, lừa mị), người dân thì bị: bịt mắt, bịt miệng, bịt tai, khống chế tư tưởng. Những ai “có trí, trách nhiệm, đạo đức” lên tiếng thì bị đảng bịt miệng, cô lập, khủng bố ngay.
February 11, 2008
Tha thứ, được ! Lãng quên, không bao giờ !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 43 (15-01-2008)
“Ta sẵn sàng tha thứ cho các người! Nhưng các người phải quỳ xuống nhận lỗi!” Đó là lời của một cư dân đảo Sicile, nước Ý, từng nói trong nước mắt với bọn Mafia vừa giết thân nhân của mình. Đây cũng là lời mà hàng vạn thân nhân các oan hồn Tết Mậu Thân cũng như bao người dân Việt muốn nói với Cộng sản trong những ngày kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát rùng rợn nhất lịch sử dân tộc mà thủ phạm là chính đảng CS. Nhưng tập đoàn Mafia đỏ này đã và đang làm gì nhân kỷ niệm biến cố ấy?
Đó là trên các kênh truyền hình VTV phủ trùm cả nước và có lẽ ra cả hải ngoại, từ mấy tháng nay ra rả một giọng điệu ngợi ca cái gọi là “cuộc tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân”. Một cuộc “tổng tấn công và nổi dậy”, mà theo lời bí thư thành Hồ Lê Thanh Hải nói tại buổi mít-tinh ở dinh Thống Nhất sáng ngày 1 tháng 2 vừa qua, “đã tạo một cú ‘choáng đột ngột’ với địch ở miền Nam…, là điểm son chói lọi của lịch sử dân tộc”, còn theo lời Trung tướng CS Nguyễn Ðình Ước trên báo Nhân Dân, thì “đã đi vào lịch sử như là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh cách mạng Việt Nam, thể hiện một đỉnh cao ý chí và trí tuệ của Việt Nam trong cuộc chiến tranh nhỏ thắng lớn…”
Đúng là một “sáng tạo độc đáo” với nhiều nét mà chỉ có CS mới có nổi!!! Trước tiên, đó là vi phạm thỏa ước hưu chiến mà CS đã cam kết cách long trọng, khiến phía Việt Nam Cộng Hòa đã tin lời mà cho một nửa số quân nhân được về ăn tết với gia đình, nên bước đầu đã phần nào bị động. Người ta nhớ lại rằng trong hai trận Thế chiến, những cuộc hưu chiến ngày Giáng sinh đều được đôi bên tuân thủ một cách nghiêm túc, vì họ còn biết trọng danh dự của mình. Thứ hai, đó là chà đạp những ngày Tết thiêng liêng của dân tộc. Giữa cảnh sum họp êm ấm, CS đã gây cảnh tan nát chia lìa. Giữa bầu khí yêu thương hòa giải, CS đã đem tới hận thù bạo lực. “Ai đã cướp con tôi? Ai đã giết con tôi giữa cơn mộng đêm thái bình?” là câu hát còn vang vọng mãi trong lòng dân miền Nam. Máu đỏ đã pha hòa với rượu tết. Thịt người đã trộn lẫn với bánh tét bánh chưng. Vỏ đạn đã nằm vương vãi lăn lóc cạnh những đồ thờ tự. Thứ ba, đó là giết chết thường dân, bất kể tu sĩ linh mục, y tá bác sĩ, viên chức cán bộ, văn nhân nghệ sĩ, thầy giáo học trò, thậm chí cả những kẻ buôn thúng bán bưng, lao công độ nhật… Trong mười mấy ngàn nạn nhân vô tội bị chết thảm tại Huế, không thiếu một hạng người nào cả. Thứ tư, đó là đưa ra chiêu bài “trình diện học tập cho thông suốt đường lối để tiếp tục phục vụ chính quyền cách mạng” hầu lừa người ta đến chỗ chết. Ông Nguyễn Phúc Liên Thành, nguyên Phó Trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt tại Thừa Thiên khi ấy nhớ lại: “Sau khi lập chính quyền thì Việt cộng bắt đầu thảm sát. Đầu tiên họ kêu gọi quân nhân cán chính trong thành phố Huế ra trình diện. Sau khi trình diện thì được cấp giấy, có quyền đi lại, coi như giấy thông hành. Những người này về nói lại với những người khác, người kế tiếp ra trình diện. Đến lần thứ 3 thì họ yêu cầu tất cả những kẻ đã trình diện lần l và 2 ra trình diện lại. Đây là lần quyết định, và cuộc thảm sát xảy ra!” (đài RFA phỏng vấn). Thứ năm, đó là dụ khị nạn nhân cơm đùm gạo bới hay dụ khị thân nhân tiếp tế lương thực trong nhiều ngày để rồi cướp lấy của họ. “Các ‘sứ giả’ về thông báo với bà con là ai có thân nhân ‘đi học tập’ hãy bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là vài hôm sau, người ta ùn ùn gánh gồng lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề (Tết mà!)… Họ chẳng thấy thân nhân đâu cả mà chỉ gặp mấy tên cán bộ VC bảo họ hãy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm độc này mà VC tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi giết người tiếp!!” (Trích “Cuộc thảm sát Khe Đá Mài”). Thứ sáu, đó là giết chết các nạn nhân bằng cách đập vỡ sọ bằng cuốc và báng súng, bằng cách trói từng người hay từng chùm một rồi chôn sống họ. Được hỏi tại sao không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố, một trung tá tù binh VC tên Hoàng Kim Loan trả lời: “Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy, đâu để bắn những đám người như thế!” Ông Võ Văn Bằng, Trưởng ban Truy tìm và Cải táng Nạn nhân CS Tết Mậu Thân, hồi tưởng: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, người thì nằm, người thì ngồi, lộn xộn! Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do đạn bắn, vỡ là do cuốc đập” (đài RFA pv các chứng nhân). Thứ bảy, đó là tàn phá trực tiếp hay gián tiếp các kho tàng văn hóa của dân tộc bằng cách tiến chiếm các nơi này để làm công sự phòng thủ hay hang ổ kháng cự, cụ thể là khu vực Đại nội và Cấm thành tại Huế. Y như VC từng đặt các giàn cao xạ bên cạnh các ngôi thánh đường ở miền Bắc trong cuộc chiến chống phi cơ oanh tạc của Hoa Kỳ trước đây và xóa bỏ di tích Hoàng thành Thăng long hiện thời.
“Điểm son chói lọi” mà Lê Thanh Hải đề cập chính là biển máu đỏ khổng lồ của mấy ngàn nạn nhân vô tội xét riêng ở Huế sau 27 ngày gọi là “giải phóng Thừa Thiên”: “Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, khoảng 5,300 nạn nhân đã bị chôn sống tại tỉnh nhà” (Nguyễn Phúc Liên Thành). “Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6,000 người. Có nhà báo ước tính 5,000. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu” (Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên).
· Người ta tự hỏi tại sao CS lại dã man tàn bạo đến thế trong chiến cuộc Mậu Thân và vẫn cố tình khỏa lấp, lì lợm chối tội đến vậy trong những ngày xuân Mậu Tý? Điều đó phát xuất trước hết từ quan điểm triết lý duy vật mà CS thấm nhuần: con người chỉ là vật chất, không có hồn thiêng, chẳng có nhân phẩm, không có thưởng phạt đời sau, chẳng có đấng linh thiêng xét định. Thành ra cứ thản nhiên giết chết nếu cần. Ý thức ghê gớm này chẳng những có nơi những chiến binh … CS cầm súng mà còn nơi những văn sĩ CS cầm bút nữa. Nhiều tên đồ tể ở Huế trong những ngày xuân khủng khiếp ấy là giáo sư, văn sĩ, học giả, sinh viên…
Tiếp đến là quan điểm đạo đức cách mạng: cứu cánh biện minh cho phương tiện và bạo lực cách mạng là điều cần thiết. Hồ Chí Minh đã chẳng giết vợ hờ lẫn đồng chí và Trường Chinh đã chẳng đấu tố cả cha lẫn mẹ đó sao? “Năm 1972, tôi bắt được một trung tá VC tên Hoàng Kim Loan, hoạt động bí mật tại Huế 20 năm trời. Tôi hỏi: tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? Loan nói đấy là chủ trương bạo lực cách mạng do cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người CS chúng tôi có chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót” (đài RFA phỏng vấn các chứng nhân).
Cuối cùng là quan điểm chính trị của CS: toàn thắng của đảng là đòi hỏi tuyệt đối và vinh quang của đảng là giá trị tối thượng. Thành thử CS đã chẳng ngại ngần gì mà không xử tử hàng loạt trong biến cố năm 1968 ấy. Theo tác giả Douglas Pike, “Có 3 giai đoạn đưa đến những vụ xử tử. Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án bất hợp pháp công cộng kéo dài khoảng 5-10 phút do giới chức trong quân Bắc việt hay VC dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án “có tội với nhân dân”. Giai đoạn nhì, khi họ cho rằng họ sẽ giữ được Huế lâu dài, quân BV-VC bắt đầu tiến hành công tác giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Những ai bị tình nghi có thái độ chống cách mạng từ từ bị truy lùng trong giai đoạn này. Tín đồ Công giáo, các nhà trí thức, thương gia, và đám người mang tội làm “tay sai Đế quốc” bị chiếu cố để “tạo dựng xã hội mới”. Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân BV-VC thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng. Bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác”. Ngoài ra, nỗi căm thù vì thấy nhân dân miền Nam không hưởng ứng, không ủng hộ, mà lại trốn chạy, nên CS lại càng điên tiết để càng cuồng sát hơn!!! Sau đó là màn vu khống đổ vạ của Hà Nội. Nhà báo Vũ Ánh, nguyên phóng viên truyền thanh VNCH trước 1975 nhớ lại: “Một bản tin của đài Giải phóng cho rằng chính cảnh sát và quân đội VNCH khi thua trận rút lui đã làm điều đó. Chuyện đổ vạ là điều bình thường của CS từ trước đến giờ. Nhân chứng vẫn còn sống đây thôi, cả trong lẫn ngoài nước. Họ không thể xoá những điều ấy được”. Trang mạng “nhandanvietnam.org” của CS từ cả năm nay cũng tung ra chiến dịch khỏa lấp và vu khống -để nhân dân lãng quên- với những bài viết như “Chứng nhân: Mậu Thân. Hố chôn tập thể. Hậu Mậu Thân Huế 68” của Trần Thông; “Chuyện hoang đường vụ Thảm sát Ở Huế 68” của Noam Chomsky; “Bình luận một thông tin lịch sử…” của Nguyễn Đắc Xuân….
Biến cố Tết Mậu Thân đã nối dài tội ác của CSVN, vốn khởi đầu từ việc giết các đảng phái quốc gia từng cùng chống Pháp với mình qua cuộc “trừng trị Việt gian”, giết các nông dân từng nuôi sống mình qua cuộc “Cải cách ruộng đất”, giết (tinh thần) các văn nhân nghệ sĩ từng ủng hộ Cách mạng tháng 8 qua vụ “Nhân văn Giai phẩm”, giết các quân nhân binh sĩ từng chiến đấu cho mình qua vụ “Xét lại chống đảng”… Sau cuộc thảm sát Mậu Thân lại đến Mùa hè đỏ lửa với “Đại lộ kinh hoàng” năm 1972, rồi cái gọi là “Mùa xuân đại thắng giải phóng miền Nam” năm 1975 với bao đau thương và tan tác, đày đọa và trả thù, xua đuổi và tống xuất, đổ vỡ và kiệt quệ… Đến hôm nay, tội ác vẫn chồng chất tội ác, với việc cướp đất buôn dân rồi bán đất dâng biển…
Dân tộc VN vốn đầy lòng vị tha, nhân ái, sẵn sàng tha thứ cho người CS, chứ không chủ trương trả thù tàn bạo như những kẻ máu đỏ da vàng đang giương sao vàng bảng đỏ, với điều kiện là họ biết thành tâm sám hối. Nhưng lãng quên tội ác của họ thì không bao giờ. Như câu tục ngữ tiếng Anh: Forgive yes! Forget no !
BAN BIÊN TẬP
February 2, 2008
Bùi Tín, nhà báo, cựu đại tá cs “phản tỉnh”, chạy trốn ánh sáng mặt trời hay làm gián điệp, … ?!
Chứng tích “phản tỉnh” … !
Mậu Thân 68: Chuyển bại thành thắng



Mậu Thân 68: Chuyển bại thành thắng
Binh lính Hoa Kỳ và miền Nam đã lấy lại thế chủ động sau những cuộc tấn công bất ngờ của miền Bắc
Một trong những nhà báo quân đội hàng đầu của Bắc Việt Nam hồi chiến tranh Việt – Mỹ nói rằng những vụ sát hại ‘tù nhân’ trong đợt Mậu Thân 1968 đã được xử lý nội bộ ngay sau đó.
Nói chuyện với BBC về cáo buộc rằng quân đội cộng sản thảm sát dân chúng trong cuộc tấn công vào Huế, Đại Tá Bùi Tín, người năm 1968 đã là Phó Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân nói:
”Lúc bấy giờ cũng có thông tin ngay chứ. Tôi còn nhớ ông Trần Văn Quang, Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên – Huế bị phê bình để xảy ra những cuộc như thế.
”Nhưng lúc bấy giờ tôi không biết quy mô nó lớn đến vậy, chỉ biết là có những cuộc thảm sát nhưng tôi nghĩ nó chỉ xảy ra ít thôi… chứ tôi không nghĩ về sau này người ta nói tới hàng nghìn.”
Tuy nhiên ông Bùi Tín, người hiện sống tại Paris, cũng nói trước các cuộc tấn công đã có lệnh ”cấm đánh đập và đối xử xấu” với tù nhân và những gì xảy ra không phải là mệnh lệnh từ ‘trên xuống’ mà là sự ‘tự động’ ở bên dưới.
”Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người.
Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.
”Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết.”
Ông Bùi Tín giải thích sở dĩ họ phải làm như vậy là để tuân theo lệnh ”không được để tù binh trốn thoát” nhằm giữ bí mật.
”Theo tôi biết thì không có mệnh lệnh cấp trên là tiêu diệt và giết tù binh.”
Giấu thất bại
Ông Tín nói Việt Nam đã che giấu được những thất bại và khiến Hoa Kỳ ‘vội vã’ Việt Nam hóa chiến tranh.
Theo ông, miền Bắc đã bị thiệt hại nghiệm trọng trong suốt năm 1968, năm diễn ra ba đợt tấn công vào dịpTết và sau đó là tháng Năm và tháng Chín.
”Có thể nói cả năm Mậu Thân đó lực lượng bên này đã mất chỗ đứng, không chỉ ở nông thôn mà còn ở thành thị. Do đó mà tình hình trở nên hết sức khó khăn.
”Tuy lúc đầu có giành thắng lợi nổi bật về mặt tuyên truyền nhưng trên thực tế là mất hết chỗ đứng, mất hết lực lượng.
”Lúc đấy thuận lợi lớn của bên này là quân đội Mỹ rút và một lực lượng lớn về hỏa lực, không quân, pháo, trực thăng, xe bọc thép đều giảm hết.”
Sự kiện Tết Mậu Thân đã buộc Mỹ phải đàm phán để chấm dứt sự can thiệp của họ vào Việt Nam.
Hiệp địch cuối cùng được ký kết cách đây 35 năm và cuộc chiến Việt Nam kết thúc hai năm sau đó.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/01/080121_tet_offensive.shtml
——————-
Ghi nhận:
Diễn đàn internet xin mời ông Bùi Tín hẹn một ngày lên diễn đàn để biện minh, tranh luận cho “sự thật” lịch sử mà ông đã nói trên BBC này và sứ mệnh thật của ông.
Nếu ông không thu xếp để lên nghĩa là ông nói láo, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền xám , nhảm, chuyển bại thành xụi !
January 30, 2008
Báo cs nói v/v cầu nguyện ở Nhà Chung: thủ đoạn là nghề của chàng độc tài
Chứng tích lịch sử một thời, sẽ được mang bỏ vô “viện bảo tàng lịch sử tội ác” (ảo và thật) :











—
Những hành vi không thể chấp nhận!
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17550&ChannelID=3
Cần chấm dứt hành vi trái pháp luật tại khu vực 42 phố Nhà Chung
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17629&ChannelID=80
Rõ ràng là có sự kích động
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17720&ChannelID=13
Như thế là đầy đọa con của Chúa – (29/01)
http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=17721&ChannelID=13
January 29, 2008
Hãy cùng nhau vạch trần bộ mặt gian trá của chính quyền thành phố Hà Nội
Một mặt, chính quyền đã không giải quyết vụ việc, mặt khác, lại tìm cách lèo lái vụ việc đi ngược lại công lý và sự thật bằng sự xuất hiện của báo chí và truyền hình quốc doanh, một công cụ đắc lực phục vụ cho ý đồ nham hiểm này. Đồng loạt các bài báo giả nhân giả nghĩa ra vẻ đạo đức để lên mặt dậy đời. Người ta đã quá quen thuộc với giọng điệu của trò lừa đảo này rồi. Do đó, những kẻ tiểu nhân đừng hòng mong đợi bất cứ một kết quả nào hết. Ngược lại, với nhận thức của người dân thời nay, và với kinh nghiệm thực tế của bao thập niên sống trong chế độ lừa đảo này, trò lừa này dễ dàng bị lật tẩy và bị phản tác dụng « gậy ông lại đập lưng ông ».
Lúc này đây, trong việc làm chứng cho sự thật, các linh mục cần phải đi tiên phong. Những bài báo xuyên tạc sự thật, bôi nhọ danh dự của Đức Tổng Giám mục Hà Nội và một số Giám Mục trong Hội đồng Giám Mục Việt nam, kết án việc cầu nguyện ôn hòa của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ cần phải được làm sáng tỏ. Sự việc bây giờ không còn gói gọn trong khuôn viên của Tòa Khâm Sứ nữa rồi, bởi vì các báo chí đã đụng chạm đến thanh danh của một số Giám mục và Giáo hội Công giáo Việt Nam. Vấn đề đã không được chính quyền giải quyết một cách thỏa đáng, lại còn cố tình khiêu khích người Công giáo Việt nam. Do đó, lúc nàu đây chúng ta cần lên tiếng để bảo vệ sự thật để chống lại sự gian dối tinh ranh ghê tởm.
Bên cạnh đó, các giáo xứ ngoài việc liên đới với giáo phận Hà nội qua việc cầu nguyện, thì cũng cần lên tiếng để bảo vệ cho sự thật bằng cách theo dõi những chi tiết trong đó sự thật bị bóp méo trong các bài viết và các phóng sự được các báo đài quốc doanh tuyên truyền. Tiếp theo đó, hãy tổ chức các buổi tọa đàm để làm sáng tỏ vấn đề và để bảo vệ vẹn toàn cho sự thật.
Để kết thúc chúng ta cùng với thánh Phao lô suy niệm về sứ mệnh làm chứng cho sự thật và về việc bảo vệ đức tin Công Giáo tinh tuyền của chúng ta: « Gian nan ư ? Tù đầy ư, bách hại ư ? Không ! Không ! Không ! Không gì có thể tách chúng tôi ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô », Người đã đến để sống và chết cho sự thật, trước khi mời gọi chúng tôi làm chứng cho sự thật: «Sự thật sẽ giải thoát anh em ».
Đạo đức Trần Dân Tiên
CaubayÔng Hồ Chí Minh đối với người Viêt Nam ngày nay gần như đã trở thành cục nợ.
Ở trong nước, người dân phải “nuốt” ông Hồ như dân kinh tế mới nuốt khoai mì. Ngán lắm mà phải nuốt vì đó là thứ duy nhất người ta khen bổ, khuyến khích cho ăn, có sẵn, ê hề, rẻ mạt! Ăn thì muốn ói, không ăn thì chết đói. Có lẽ từ đứa trẻ đến cụ già, ai cũng ngày đêm mong mỏi có một ngày đẹp trời nói lời đoạn tuyệt với nó.
Ở ngoài nước thì ông Hồ như cái mụt cóc mọc chỗ kín. Hằng ngày bận công ăn việc làm thì nó chẳng gây ngứa ngáy phiền hà gì cả, quên phứt đi; nhưng lâu lâu rảnh rỗi, có việc thì cũng thấy mắc cỡ, bực bội vì sự có mặt của “nó”.
![]() |
| Khái quát về đạo đức ông Hồ, chỉ cần hai chữ: Xạo và Ác! Nguồn: flamencoflute.com |
Vì quá chán ngán như vậy nên nói về ông Hồ là chuyện bất đắc dĩ. Thế mà vẫn phải nói vì cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Gió ở đây là cái đảng Cộng sản Việt Nam đương hồi bí rị. Câu thần chú “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” thì dù có dày mặt cách mấy cũng không thốt ra được nữa nên họ cứ lôi ông Hồ ra để hè nhau…nghiên cứu. Vô hình chung họ đã biến ông Hồ thành cái đích cho thiên hạ “trút bầu tâm sự”. Đảng Cộng sản thì dùng ông ta như thầy bói dùng mu rùa, chỉ để thêm phần linh thiêng, dù biết tỏng là vật vô tri. Dân đen thì kiêng kỵ như kiêng cái chiếu rách, niêu bể, bình vôi liệng ở bụi tre hay gốc đa đầu làng. Tuy biết những thứ ấy là đồ phế thải, vô dụng, dơ dáy…mà ai cũng ngán, không dám vô phép xúc phạm.
Trong nước ngày nay người ta đang ra sức (bắt dân) học tập “tư tuởng” Hồ Chí Minh. Thật là nghịch lý và phí phạm khi bắt buộc cả nước học tập tư tưởng của kẻ đã tự nhận là không có tư tưởng gì sất! Tư tưởng Hồ chí Minh là cái gì mà đã những kẻ tự xưng là thành phần ưu tú của dân tộc học mấy mươi năm ròng cũng không thông, mà có vẻ càng ngày càng lụn bại? Ông Hồ có gì đáng để học và nội dung những buổi học tập tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh là gì?
Thắc mắc này một phần được giải tỏa qua bài trả lời phỏng vấn của ông bộ trưởng Lê Doãn Hợp trên báo “Người Đại biểu nhân dân” ngày 3 tháng 1 năm 2008.
Vì cuộc phỏng vấn này là công tác của một anh viết mướn và đồng chí Bộ trưởng nên nhàm lắm, cứ như đào kép diễn tuồng cũ rích, dỡ ẹt. Caubay vốn “chuộng sự thật, ghét sự giả dối”, nên để cho khách quan, đành theo gương nhà báo Trần dân Tiên, nhờ Kim Thánh Thất tiên sinh bình luận. Quí vị nào có cao kiến xin vui lòng đóng góp vì đó cũng là chủ trương thông tin đa chiều, lắng nghe ý dân của Đảng!
Sau đây là sơ lược bài phỏng vấn với lời bàn “Thánh Thất ngoại thư” in chữ nghiêng.
Ông Lê Doãn Hợp (LDH): – Cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần thiết và cấp bách nhất của Đảng ta hiện nay. Đây là khát vọng của nhân dân là thách thức của thời đại và trách nhiệm cao nhất của Đảng cầm quyền…
Lời bàn của Kim Thánh Thất (LB): Nhiệm vụ quan trong nhất thì nghe cũng có lý, nhưng đối với đảng Cộng sản thôi. Đối với người cộng sản thì không có gì quan trọng hơn là bảo vệ đảng, kể cả mất nước. Với ông Hồ thì nhân dân chỉ có một khát vọng là đêm chôn. Cho việc học vài câu nói của ông Hồ (mượn) là thách thức của thời đại là cách nói vẹt, lộng ngôn, vô ý nghĩa. Nên nhớ trách nhiệm cao nhất của một đảng cầm quyền là bảo vệ đất nước chứ không phải là đi học Mác, Lê, Mao, Hồ hay bất cứ ai.
PV: Thưa Bộ trưởng, mục tiêu sâu xa nhất của đợt vận động này là gì?
LDH: Cả đời Bác chăm lo cho Đảng, cho nước, cho dân. Suốt cuộc đời của Bác luôn quan tâm đạo đức. Bác đã viết 55 tác phẩm liên quan đến đạo đức cách mạng. Những tác phẩm này đã để lại những dấu ấn rất quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước….
LB: Nói cả đời Bác lo cho..chính Bác thì chắc hơn, lo cho Đảng thì tàm tạm, vì khi cần thiết thì đồng chí Bbác cũng ..mần luôn. Bảo Bác lo cho nước, cho dân thì đúng là láo như vẹm. Thử coi từ ngày có Bác, cái đất nước này, đám nhân dân này khốn nạn biết là bao! Cuộc đời và tác phẩm của thì chỉ có chính Bác và Đảng khen hay. Xin khỏi nhắc, nhàm lắm, chỉ nói sơ qua là ca tụng đạo đức của Bác mà lại nhắc đến tác phẩm của Bác thì cũng như chửi cha Bác vậy! Đạo dức và tác phẩm của Bác thì ông Lê doãn Hợp chắc chắn không rành bằng nhà báo Trần dân Tiên.
PV: Tại sao phải trong thời điểm hiện nay chứ không phải trước đây, hay sau nữa mới phát động cuộc vận động này, thưa Bộ trưởng?
LDH: “Nguồn gốc của suy thoái đạo đức hiện nay thì Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, như Bác nói đó là chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, thì mọi biến cố bất lợi cho Đảng sẽ bắt đầu. Với ý nghĩa đó, Bộ Chính trị, Ban bí thư, quyết định mở cuộc vận động lớn, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…
LB: Xưa nay thì Đảng vẫn tự xưng là đỉnh cao trí tuệ, cực kỳ sáng suốt. Nay ông Lê doãn Hợp can đảm lắm mới dám chửi Đảng công khai khi cho rằng Đảng mắc bệnh. Thực ra thì Đảng có nhiều bệnh lắm, như bệnh độc tài, bệnh bán nước, bệnh giết người, bệnh nói láo, bệnh cơ hội, bệnh ăn cắp, bệnh không biết nhục… chứ đâu phải chỉ bệnh cá nhân. Có điều các ông coi bộ rất lẩm cẩm khi học tập một người cả đời sùng bái cá nhân như ông Hồ để chữa bệnh chủ nghĩa cá nhân. Ai đời đi chữa bịnh bằng cách hấp thu vi trùng bịnh? Chủng ngừa chăng?
PV: Thưa Bộ trưởng, nhiều người lo ngại rằng, các cuộc vận động thường rầm rộ lúc đầu, nhưng thời gian sau bị lắng lại, thậm chí dần rơi vào quên lãng. Cuộc vận động có thành công như Đảng ta mong đợi hay không?
LDH: Khi tiến hành cuộc vận động này, nhiều người đã hỏi tôi rằng, liệu Đảng ta có thực hiện được cuộc vận động này không? Tôi trả lời với họ rằng, Đảng quyết dân tin thì không có việc gì không làm được. Vì trước hết, Đảng ta không bao che tiêu cực. Thứ hai là trong thực tiễn chúng ta đang làm và có những thành công bước đầu. Thứ ba là chúng ta có tấm gương của Bác để noi theo. Thứ tư là dân ta rất oán ghét tiêu cực. Thứ năm, cán bộ ta hầu hết trọng và tin dân…
LB: Ông nói có người hỏi “Liệu đảng có thực hiện cuộc vận động này không” tức là có kẻ không tin Đảng. Tất nhiên ngày nay chẳng có đứa ngu nào nào còn tin Đảng. Dù sao điều ông thố lộ cũng chứng tỏ ông chửi Đảng rất khéo. Năm điều ông kể trên nghe huề tiền lắm! Đảng ông không bao che tiêu cực của kẻ ngoài đảng hay chống đảng thôi, còn đảng viên ăn cắp là chuyện ..tồn lại, chuyện trên mức tình cảm! “Thành công bước đầu” người dân nghe từ khuya rồi, nghe mãi và chưa bao giờ nghe đuợc bước cuối. Không phải đợi đến bây giờ mà các ông đã học tập theo ông Hồ từ lâu, vì vậy mà cán bộ đảng viên thay vì thành bác của dân đã trở thành ông nội của dân cả. Nói cán bộ cộng sản trọng và tin dân thì đúng là láo hơn cả…vẹm.
PV: Giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh được truyền đạt đến toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc vận động này là gì, thưa Bộ trưởng?
LDH: Đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ là trên 4 ý sau: Thứ nhất là trung thành với đất nước, tận tuỵ với nhân dân. Thứ hai là cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Thứ ba là lo trước thiên hạ và hưởng sau thiên hạ. Thứ tư là luôn luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm.
LB: Đạo đức Hồ chí Minh, nếu có, chỉ là trung thành với Quốc tế Công sản, cụ thể là với cộng sản Tàu. Công hàm nhượng đảo Hoàng Sa cho Tàu năm 1958 là bằng chứng rất rõ. Cán bộ đảng viên được học tính cần kiệm, chí công vô tư nào mà trở thành tham nhũng nhất thế giới? Thiên hạ nào được hưởng trước đảng viên? Ông quên thành phần ưu tiên, cốt cán trong xã hội cộng sản rồi ư? Còn việc thống nhất giữa lời nói và việc làm của cộng sản thì đứa con nít bây giờ cũng thấy. Hãy gọi hồn ông Nguyễn văn Thiệu dậy mà hỏi!
PV: Nếu được tổng kết một cách ngắn gọn nhất về đợt vận động này, Bộ trưởng sẽ nói điều gì?
LDH: …Giá trị cao nhất của đạo đức Hồ Chí Minh, xin được khái quát ít nhất là 10 chữ: Tận tuỵ, Gương mẫu, Sáng tạo, Kỷ cương, Tình nghĩa …
LB: Nên sửa lại cho đúng như vầy: Hồ chí Minh tận tụy với Nga Tàu; theo gương mẫu của Stalin, của Mao. Sáng tạo cách mỵ dân, giết người. Kỷ cương biến cả nước thành trại tù. Tình nghĩa như đối với bà Nguyễn thị Năm trong cái ơn cưu mang, với bà Nông thị Xuân, trong tình chăn gối, với ông Lê hồng Phong trong tình đồng chí, với cụ Phan bội Châu trong nghĩa đồng bào. Nếu cần khái quát về đạo đức ông Hồ, chỉ cần hai chữ: Xạo và Ác!
PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!
LB: Tội tuyên truyền tư tưởng độc hại, phản dân hại nước thì chưa bỏ tù là may, cám ơn gì!
![]() |
| Hồ chí Minh tận tụy với Nga Tàu; theo gương mẫu của Stalin, của Mao. Sáng tạo cách mỵ dân, giết người. Kỷ cương biến cả nước thành trại tù. Nguồn: nguoidaibieu.com.vn |
Như đã nói, phản biện lại ông Lê Doãn Hợp hay bất cứ cán bộ tuyên truyền nào của cộng sản cũng nhàm như cãi lý với cái máy hát. Tuy vậy vì tính độc hại của nó, không nói không được. “Tư tưởng, đạo đức” của ông Hồ chí Minh đã được nói đến quá nhiều rồi. Sự thật và những nhận định về ông ta, dù ở phía nào nghe cũng đà quen tai. Tuy vậy, có một nhận xét rất thú vị về “bác” từ một em học sinh trong nước mà Caubay cho là rất chính xác, xin chia sẻ (2) cùng bạn đọc sau đây:
“…Cũng trong đề khối C, khi phân tích nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc, do không hiểu rõ tác phẩm nên trong lúc bí bách, một nữ sinh đã viết: “Bác bôn ba khắp năm châu bốn biển mấy chục năm trời, làm đủ thứ nghề và ở nhiều đất nước nên rất giỏi hóa trang. Mà Bác đã hóa trang thì không ai nhận ra được thế nên Bác đã khiến mọi người tưởng rằng mình là vua Khải Định”, nữ sinh này viết.
Vâng, “bác” mà hóa trang, giả dạng thì không ai nhận ra được, sá gì những kẻ như ông Lê Doãn Hợp!San Diego, 15/01/2008© DCVOnline
(2) Những bài văn hài hước mùa tuyển sinh, VNExpress, Thứ bảy, 21/7/2007.
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4561

Nghe phỏng vấn ông Bùi Tín
