Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 21, 2008

Nhuộm đỏ hải ngoại – Nguyễn Ðạt Thịnh

Manh nha của Việt Cộng nhằm nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại được nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Việt Cộng,  loan tin trong số phát hành ngày 16 tháng Sáu.

 

Nguyên văn bài báo như sau, “Tăng cường tập hợp, đoàn kết thanh niên Việt Nam ở ngoài nước giai đoạn 2008 – 2012, tăng cường công tác Ðoàn, Hội và đoàn kết, tập hợp thanh niên Việt Nam ở ngoài nước giai đoạn 2008 – 2012 là nội dung xuyên suốt của Nghị quyết liên tịch được Bí thư Ðảng ủy ngoài nước Phạm Sỹ Tam và Bí thư thứ nhất Trung ương Ðoàn TNCS (thanh niên cộng sản)  Hồ Chí Minh Võ Văn Thưởng ký chiều 16-6 tại Hà Nội.

“Theo đó, các cấp ủy Ðảng ở ngoài nước phối hợp cơ quan đại diện (toà đại sứ, tòa lãnh sự Việt Cộng) thành lập các tổ chức Ðoàn, Hội; đa dạng các hình thức đoàn kết (ngụy trang tối đa), tập hợp rộng rãi mọi đối tượng thanh niên Việt Nam trên địa bàn. Phấn đấu đến năm 2010 ở hầu hết các địa bàn ngoài nước có cấp ủy đảng và đông thanh niên đều có tổ chức Ðoàn Thanh niên hoặc Hội Liên hiệp thanh niên hoặc Hội Sinh viên Việt Nam. Chú trọng giáo dục chính trị – tư tưởng đối với đoàn viên, thanh niên, làm tốt công tác phát triển Ðảng trong đoàn viên, thanh niên; triển khai kế hoạch thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Ðảng ủy ngoài nước và cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” do T.Ư Ðoàn phát động trong thanh niên Việt Nam ở ngoài nước,…

“Hai bên phối hợp xây dựng đề án triển khai tổ chức cho thanh niên Việt Nam ở ngoài nước được tham gia các phong trào thanh niên ở trong nước, như các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham gia phát triển kinh tế đất nước, tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam, lao động tình nguyện, từ thiện…”.

 

Nghị quyết này cần được tìm hiểu qua 2 góc cạnh thực tế và pháp lý.

 

Trên góc cạnh thực tế, Việt Cộng đã có “đảng ủy” tại hầu hết những thành phố Hoa Kỳ có đông người Việt Nam sinh sống, chúng như con đỉa đói dai dẳng bám  chân chúng ta để hút máu. Giờ này chúng ra mặt “ tổ chức Ðoàn Thanh niên hoặc Hội Liên hiệp thanh niên hoặc Hội Sinh viên…” để phá hoại tinh thần yêu nước của người Việt hải ngoại.

 

Mục đích chúng nhắm vào là tạo thực lực để biểu tình chống lại những cuộc biểu tình của chúng ta như chúng đã manh nha thực hiện, và đã thất bại, trong cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Minh Triết.

 

Chúng còn nhắm vận động  ”… cho thanh niên Việt Nam ở ngoài nước được tham gia các phong trào thanh niên ở trong nước, như các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham gia phát triển kinh tế đất nước, tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam, lao động tình nguyện, từ thiện…”.

“Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam” có phải là nỗ lực mặc áo đỏ cho mẹ Việt Nam như lá thư ngỏ của Hồng Y Phạm Minh Mẫn viết, và có phải là thái độ chối bỏ mầu vàng của quốc kỳ Việt Nam, như Linh mục Trịnh Tuấn Hoàng tuyên bố hay không? Và  ”lao động tình nguyện, từ thiện…” có phải là đem tiền, đem người Việt hải ngoại về nước làm những công việc Việt Cộng có bổn phận làm nhưng không làm, không?

 

Việt Cộng tinh quái đã khai thác tính từ thiện của tôn giáo và của tâm hồn Việt Nam, chúng lại còn manh nha chính trị hóa thái độ “lá lành hải ngoại đùm lá rách quốc nội” để mặc áo đỏ cho tu sĩ và thanh niên hải ngoại.

 

Trên góc cạnh pháp lý, nghị quyết nhuộm đỏ hải ngoại của hai tên đầu xỏ Việt Cộng Phạm Sỹ Tam và Võ Văn Thưởng ký chiều 16-6 tại Hà Nội đã là nguyên cớ để cộng đồng người Việt Houston tiếp tục phản đối việc thiết lập tòa lãnh sự Việt Cộng tại Houston.

 

Cộng đồng Houston đã gặp những nhà dân cử của thị xã để phản đối việc này với lập luận là người Việt Houston không  muốn đóng thuế trả lương cho cảnh sát giữ an ninh cho lãnh sự quán Việt Cộng. Giờ này công tác giữ an ninh và phí tổn đi kèm theo sẽ gia tăng lên rất nhiều nếu tòa lãnh sự của chúng thành công trong việc thành lập một lực lượng biểu tình chống biểu tình.

 

Nhưng mọi nỗ lực của Việt Cộng để nhuộm đỏ “khúc ruột ngàn dậm” rồi cũng thất bại, nhất là tại Houston. Ðại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak đã đối diện với thế hệ trẻ Việt Nam tại đây, và đã đổ mồ hôi hột, xin phép cử tọa cho ông cổi áo ngoài, trước cơn phẫn nộ lạnh, rất lễ độ, nhưng lại vũ bão không kém những trận cuồng phong quen thuộc trên ven biển Mexico.

 

Nguyễn Tấn Dũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Michalak vì Houston vừa nhận thêm viện binh: cô nghị viên Janet Nguyễn, từ Cali qua để tô điểm cho cuộc dàn chào Dũng thêm phần gay cấn.

 

Nguyễn Ðạt Thịnh

June 7, 2008

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản: Phần 3: Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 3

Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài
“Thà phụ người còn hơn để người phụ ta”
Phương-châm xử-thế của
Tào Tháo trong Tam Quốc Chí.

Chương 6

BẦN-CÙNG-HÓA TOÀN DÂN

Sau khi ông Hồ vi hành sang Bắc-Kinh về thì hành động đầu tiên của ông là ban hành “Thuế Nông Nghiệp” một thứ thuế đã áp dụng ở Trung-Hoa từ hai năm trước. Cả Trung-Cộng lẫn Việt-Cộng đều khoe khoang rằng chính sách thuế khóa của họ vừa giản-dị vừa hợp tình hợp lý nhất, hơn tất cả mọi hình thức thuế từ xưa đến nay. Kể ra so với các thứ thuế của Pháp ở Ðông-Dương và của Quốc-dân-đảng ở Trung-hoa thì thuế của Cộng-sản quả có giản-dị thật, vì Cộng-sản chỉ đặt có năm thứ thuế: thuế nông-nghiệp, thuế công-thương-nghiệp, thuế sát-sinh, thuế lâm-thổ-sản và thuế xuất-nhập cảng.

Vì Việt Nam là một nước căn-bản nông-nghiệp nên dĩ nhiên thuế nông-nghiệp là thuế chính. Thứ nhì là thuế công-thương-nghiệp đánh lên đầu một số thương-gia và thủ-công-nghiệp kiếm sống theo lối lấy công làm lãi. Thuế sát-sinh cũng chẳng được là bao vì thiếu trâu bò cày nên không được phép làm thịt. Tuy nhiên, mặc dầu thiếu đến nỗi ở nhiều nơi người phải kéo cày thay bò, Việt Minh cũng cho phép “xuất cảng” một số bò đực vào trong vùng Pháp chiếm đóng để đổi lấy một vài thứ hết sức cần-thiết.

Như vậy thành ra có sát-sinh thì chỉ sát sinh trong vùng Pháp kiểm soát và thuế sát-sinh do Pháp thu, không phải Việt Minh thu. Thuế lâm thổ-sản cũng chẳng được là bao, còn thuế xuất-nhập cảng thì thực ra chỉ có trên giấy tờ, vì hồi ấy, Việt Minh chẳng có “cảng” nào cả, nên chẳng có “xuất-nhập”.

Thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp đánh vào thu-hoạch hoặc lợi-tức, nhưng cán-bộ không hề điều tra thu-hoạch hoặc lợi-tức, chỉ ước-định rồi bắt dân chúng “bình”. “Lợi-tức bình” bao giờ cũng cao hơn lợi-tức thực. Thuế tính theo một số phần trăm lợi-tức và cao đối với tất cả mọi thành-phần nhân dân, không trừ một ai. Ðấy là chủ-tâm của chính-phủ vì đối với cộng-sản đánh thuế không chỉ cốt để thu tiền cho nhà nước mà chính là lợi dụng thuế để công khai bần cùng-hóa những thành-phần khá giả ở thành phố cũng như ở thôn quê. Thực ra, thuế chỉ là một biện-pháp đầu-tiên sửa-soạn cho việc thiết-lập nền vô-sản chuyên-chính.

THUẾ NÔNG-NGHIỆP

Thuế nông-nghiệp là thứ thuế lũy-tiến, nghĩa là đánh từ 5 đến 45 phần trăm tùy theo thu-hoạch nhiều ít.

THUẾ-BIỂU CHÍNH-THỨC của THUẾ NÔNG-NGHIỆP
(Ðăng trong tờ CỨU-QUỐC, số 2080, ngày 6-7-1952)

 

1 Chị đội – Chị nữ đội-trưởng “Ðội Cải-cách Ruộng-đất”
2 Bồi-dưỡng – Bồi-dưỡng lý-luận, giải-thích chính-sách, xui nghe theo đường lối của Ðảng.

Trước kia chính-quyền Việt Minh chi sống về lạm-phát, nhưng sau khi ban bố thuế nông-nghiệp bỗng nhiên trở thành chủ-nhân-ông toàn thể ruộng-đất của nhân dân, biến tất cả trung-nông và bần-nông thành tá-điền của mình. Số phận địa-chủ lại càng đen tối bội-phần. Trên nguyên tắc thì cho đến 1954 địa-chủ vẫn có quyền thu tô, nhưng thực-tế thì họ không thu được hột nào từ 1951 trở đi. Vì phần lớn bần cố nông là tá-điền của họ đã thành ông nọ bà kia trong ủy-ban Hành-chính Kháng-chiến xã nên không một địa-chủ nào có gan giám đòi họ nộp tô mặc dầu họ cứ vẫn phải ráng sức kiếm đủ thóc để nộp thuế nông-nghiệp.

Thiếu thóc để nộp thì họ phải ra chợ đong thêm. Vì trước kia họ đã tích cực ủng-hộ nào là “tuần lễ vàng” nào là “ủng-hộ bộ-đội địa-phương”, nên hầu hết đã hoàn toàn khánh-kiệt. Dần dà họ phải bán đến trâu bò rồi hết trâu bò phải bán đến vòng xuyến, hoa tai, nồi niêu. Vào khoảng từ 1952 đến I954 đồ cổ bán đầy chợ. Một chiếc độc-bình đời Tống bán rẻ hơn một chiếc chậu nhôm buôn lậu tự vùng tề vào.

Một kỳ thu thuế nông-nghiệp là một chiến dịch. Chính-quyền Việt-minh hô hào thi đua nộp nhanh và “phơi khô quạt kỹ”. Vì hồi Nhật thu thóc (hồi Nhật chiếm đóng) cán-bộ Việt-minh xui dân ngâm thóc vào nước cho nặn cân, nên lần này, dân cũng ngâm thóc, cho nặng cân. Nhưng cán-bộ Việt-minh không chịu bị lừa, nhất thiết bắt phải “phơi khô quạt kỹ”. Muốn làm nhục địa-chủ, cán-bộ thu bắt địa-chủ phải gánh thuế đi nộp, nhiều khi cách nhà chừng 15 cây số. Ðến nơi thì cán-bộ cân cho bần-cố-nông trước, còn phú-nông, địa-chủ thì phải chờ hết ngày hết buổi, có khi ngày này sang ngày khác. (Bần-cố-nông được biệt đãi trong mọi trường hợp, tỉ-dụ như ở bệnh-viện, bần cố nông bao giờ cũng được khám bệnh trước mọi người).

Bị phá sản về thuế nông-nghiệp, nhiều địa-chủ tìm cách bán bớt ruộng hoặc đem cúng cho chính-phủ. Nhưng 1953 trở đi thì cấm ngặt không được phép bán, và đồng thời hủy bỏ những vụ bán ruộng đất cho bần-cố-nông. Ruộng đã chót bán cho bần-cố-nông, thì người mua cứ việc giữ ruộng, nhưng ngườI bán phải hoàn lại tiền. Những địa chủ đã hiến ruộng cho chính-phủ, thì chính-phủ cứ giữ ruộng nhưng địa-chủ phải tiếp tục nộp thuế nông-nghiệp. Chỉ riêng những người thành-thị tản cư về nông thôn và theo lời “Cụ Hồ” tậu một vài sào ruộng để “tự lực cánh sinh” và “hòa mình với nhân dân” là được phép hiến ruộng, nhưng muốn “được” nông-hội địa-phương chiếu-cố nhận “giùm cho” thì người hiến ruộng phải hiến thêm trâu bò cày, đầy đủ nông cụ và một số vốn để mua thóc giống.

THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

Trong mấy năm đầu, Việt-Minh phong tỏa những vùng Pháp chiếm đóng, để ngăn cản không cho quân đội Pháp mua lương-thực và mua vật liệu để sửa chữa lại những nơi bị chiến tranh tàn phá. Vì vậy nên việc buôn lậu giữa hậu phương và vùng tề bị cấm ngặt, và hàng lậu bắt được bị tịch thu và đem đốt trước công chúng, trừ thuốc lá thơm và một vài xa-xí phẩm thì đem biếu cán-bộ cao cấp.

Vì bị Việt-Minh phong tỏa nên Pháp thực sự thiếu lương thực. Lúa gạo phải mang bằng đường thủy từ trong Nam ra, còn thịt phải tải từ Cam-bốt đến Hà-Nội bằng máy bay. Giá sinh-hoạt trong vùng tề cao hơn giá sinh-hoạt trong vùng Việt-Minh kiểm soát rất nhiều. Nhưng chính sách phong tỏa còn gây một ảnh-hưởng khác. Vì hàng hóa công-nghệ không lọt được vào vùng Việt Minh, nên hàng nội-hóa bán rất chạy. Nhiều nhà công nghệ nghĩ cách chế được nhiều mặt hàng tương đối giản dị như vỏ xe đạp, các đồ phụ-tùng xe đạp, một số máy móc đơn sơ, như máy in tay chẳng hạn. Một số chuyên-viên chế được những hóa-phẩm căn bản như acide sulfurique, carbonate de soude, rượu 90 độ, và nhờ những thức này chế thêm được nhiều thức khác. Kết quả là dù bị cắt đứt với thế-giới bên ngoài, dân chúng trong vùng Việt-minh vẫn tự lực cánh-sinh, sống tương-đối đầy đủ. Họ có, nào là sà-phòng, sà-phòng đánh răng, diêm, giấy các-bon, ống tiêm chích thuốc (nhưng không làm được kim), éther, pénicilline nước, vân vân…

Tóm lại, công-nghệ hậu-phương chỉ còn thiếu hai thứ : kim-khí và nguyên động-lực. Nhưng nhờ ở sáng-kiến cá-nhân vấn-đề này cũng giải-quyết được một phần. Máy xe-hơi và máy xe lăn đường, vì không còn đường nữa, dùng để kéo máy tiện, máy cưa v.v… Thác nước thuộc hệ-thống nông-giang biến thành máy thủy-điện và một nhóm kỹ-sư thành-công trong việc xây một “lò cao” sản-xuất mỗi ngày ba tấn gang. Ðặc điểm của lò cao này là chỉ cao có 9 mét, trong khi theo nguyên tắc, lò cao thấp nhất cũng phải cao 13 mét. Một phái đoàn Ðông Ðức tới thăm, vào năm 1954 tỏ ý hết sức thán phục kỹ-thuật của các chuyên viên phụ-trách. Ðường rầy xe lửa cùng “tà vẹt” trở thành một nguồn thép vô tận, vỏ bom napan và xác máy bay bắn rơi biến ngay thành nồi niêu xoong chảo bằng nhôm. Mặc dầu so với mức sống tân tiến, tình hình hậu phương không có gì là “khả quan”, nhưng ngoại trừ công chức bị túng-thiếu vì mỗi tháng chỉ được có mấy chục cân gạo, còn ngoại giả dân chúng đều sống tương đối dễ dàng, không một ai thất-nghiệp. Nhưng chẳng bao lâu Việt-Minh đình chỉ chính sách khuyến khích công nghệ nội hóa, vì sau khi cố-vấn Trung Cộng sang, họ giảng cho Việt-minh hay là nếu có khuyến khích công nghệ tư nhân thì tức là gây mầm cho chế-độ tư-bản. Từ đấy Việt-minh đổi ngược lại chính sách, làm khó dễ những người sản-xuất hàng nội hóa và đồng-thời mở rộng kiểm soát cho hàng Pháp tràn vào. Nhiều thủ-công nghiệp bắt buộc phải đóng cửa vì không thể nào cạnh tranh lại hàng hóa của Pháp, và trong nhiều trường hợp, cả chủ lẫn thợ kéo vào các thị-trấn do Pháp kiểm-soát để kiếm kế sinh nhai, vì từ ngày Việt-minh đình chỉ việc phong-tỏa kinh tế, đời sống trong vùng Pháp chiếm đóng bỗng nhiên phồn thịnh hẳn lên.

Ðể tiến tới xã-hội chủ-nghĩa, chính-phủ Hồ-chí-minh áp dụng hai chính-sách mới : đánh thuế “Công Thương Nghiệp” và thành lập “Mậu-dịch Quốc-doanh”. Dĩ-nhiên Mậu-dịch Quốc-doanh chỉ có nghĩa là chính-quyền nắm độc quyền thương-mại trong toàn quốc.

Về đại-cương thì Thuế Công Thương Nghiệp cũng giống thuế Nông Nghiệp, nhưng cũng có hơi khác về thuế biểu và về cách thức tính thuế. Thuế Công Thương Nghiệp phải nộp hàng tháng, không phải một năm hai vụ như thuế Nông Nghiệp. Thuế Công Thương Nghiệp đánh vào lợi-tức, không đánh vào thu hoạch, và mức tối đa chỉ có 28 phần trăm, trong khi mức tối đa của thuế Nông Nghiệp lên tớI 64,68 phần trăm. Trên nguyên tắc thuế Công Thương Nghiệp có phần hợp lý và nhẹ hơn thuế Nông Nghiệp. Cách tính thuế Công Thương Nghiệp như sau :

1. Ước định số “thu” của mỗi người công thương.
2. Tính số lời, bằng cách nhân số “thu” với một con số “lợi nhuận” do Bộ Tài-chính ấn-định cho từng nghề nghiệp (Thí-dụ lợi-nhuận của nghề bán tạp-hóa định là 30 phần trăm, hàng ấn định là 50 phần trăm . Việt-minh cho rằng làm những nghề ấy thì phải lãi băng ấy).

3. Sau khi tính được lợi-tức của một công, thương gia rồi thì mang bản thuế-biểu do Bộ Tài-chính ấn-định xem với số lợi-tức ấy, họ đứng vào loại nào và phải đóng bao nhiêu phần trăm, đại khái cũng như tính thuế Nông Nghiệp, Thuế Công Thương Nghiệp cùng lũy-tiến, xê dịch từ tối-thiểu 15 phần trăm đến tối đa 28 phần trăm.

Như vậy là muốn tính thuế cho một công, thương gia chỉ cần biết số thu hoạch của họ, vì một khi đã có con số này thì chỉ việc đối chiếu với ban lợi-nhuận và ban thuế biểu của chính-phủ mà nhân lên là tính được ngay. Số phận của mỗi công, thương gia đều do con số thu-hoạch chi phối.

Dưới chế-độ Việt-minh, mỗi công, thương gia phải giữ một cuốn sổ chi thu, ghi chép đầy đủ mọi việc buôn bán. Mỗi lần bán ra một món gì, dù là bán nước, bán trâu đều phải làm ba bản hóa-đơn, giữ một bản, giao cho người mua một bản và nộp cho Sở Thuế một bản. Tuy nhiên những sổ sách và hóa-đơn này chỉ cốt để tiện việc cho chính-phủ kiểm tra, nếu cần, không phải để tính thuế, vì tính thuế là công việc của nhân dân, không phải trách nhiệm của chính-quyền. Dưới chế-độ dân chủ nhân dân, chính-phủ chỉ việc giơ tay thu tiền, còn tính thuế và thu thuế là việc của nhân-dân vì Ðảng cho rằng nhân dân lúc nào cũng “sáng suốt”, không cần đến sổ sách, giấy tờ. Khẩu hiệu lúc bấy giờ là : “Phải hoàn toàn tin ở quần chúng”.

Ðảng giao việc thu thuế cho nhân dân vì Ðảng coi việc nộp thuế là một “hân hạnh” không phải là một “nghĩa vụ” như ở các nước tư-bản. Mỗi công dân phải vui vẻ đóng thuế để góp phần vào công việc xây-dựng xã-hội chủ-nghĩa. Vì đóng thuế là yêu nước nên mọi người đều nói “được đóng thuế” và không ai nói “phải đóng thuế”. Từ nguyên tắc “đóng thuế là một hân-hạnh, một đặc ân” nẩy ra hai nguyên-tắc phụ. Thứ nhất, là không phải bất cứ ai cũng được “hân hạnh” đóng thuế, và thứ hai là nhân dân sẽ sẵn sàng giúp đỡ những người không xứng đáng với “đặc-ân” đó, hoặc chạy không đủ tiền để làm trọn “hân hạnh”. Chúng ta hãy đi sâu thêm vào chi tiết của hai điểm này.

Tại sao được nộp thuế lại là một đặc ân ? Ở dưới chính thể dân-chủ nhân-dân, người công-dân không có quyền tự-do kinh-doanh, và đây là đặc-điểm quan-trọng nhất làm cho chế-độ dân-chủ nhân-dân khác hẳn chế-độ dân-chủ tư-sản”. Muốn mở một công-nghệ hoặc một hiệu buôn thì trước tiên phải nộp đơn xin phép Mậu dịch vì Mậu-dịch kiểm soát tất cả công thương trong vùng. Khi Mậu-dịch cho phép rồi, lại phải làm đơn xin phép Ủy-ban Hành-chính địa-phương, vì có một số nghề mà một số người không được làm. Ðịa-chủ, chẳng hạn, không được phép bán hàng cơm và làm nghề cắt tóc. Ðơn nộp cho ủy-ban Hành-chính, nhưng chi-bộ cho hay không, là quyền bí-thư chi-bộ Ðảng, vì chỉ có Ðảng mới biết rõ thái-độ chính-trị của đương sự. Nếu đương sự được phép mở cửa hàng rồi, mà sau này chi-bộ mới tình nghi là “phản-động” thì công-an ăn mặc thường-phục túc trực trước cửa, hỏi giấy thông hành của tất cả người mọi ra vào. Vì vậy nên ai được “hân hạnh” nộp thuế tức là còn được tự-do kinh doanh, một thứ tự-do quý báu gấp bội tự-do chính-trị mà báo-chí tư-sản vẫn thường ca tụng, vì mất thứ tự-do này thì toàn gia phải chết đói. Chính vì mọi người sợ mất “hân hạnh nộp thuế” mà toàn dân không dám cưỡng lại chính-quyền Cộng-sản.

Nhân dân giúp đỡ như thế nào ? Mặc dầu Ðảng đã giảng dậy rất kỹ lưỡng và nhắc đi nhắc lại là nộp thuế là một “hân hạnh”, lác đác vẫn có những người không hiểu rõ tầm quan trọng của cái “hân hạnh” ấy và không tích-cực nộp thuế như Ðảng đã dặn, không chịu khai đúng con số thu-hoạch, hoặc là không khai đúng với sự ước lượng của cán-bộ. Trong những trường hợp như vậy thì nhân dân trong phố, hoặc trong làng sẽ giúp những người “đảng trí” nhớ lại con số thu-hoạch của mình.

Việc giúp đỡ này thể-hiện bằng hai hình-thức, hai cuộc “bình”.

Bắt đầu là một cuộc họp của tất cả những người cùng hành một nghề trong địa-phương, cùng một xã hoặc cùng một khu phố. Họ mổ xẻ công việc buôn bán của mỗi người rồi lập một danh sách kể từ người thu-hoạch nhiều nhất xuống dần đến người thu-hoạch thấp nhất. Công việc xếp đặt theo thu-hoạch nhiều ít này được gọi là “bình dọc” vì mục-đích chỉ là lập một danh sách “dọc” từ trên xuống dưới, từ người thu-hoạch nhiều nhất đến người thu-hoạch ít nhất. Ðảng nói rằng “bình dọc” như vậy rất đúng vì chỉ có những người cùng hành một nghề mới rõ ai hơn ai kém. Nhưng chủ tâm của Ðảng là bắt những người cùng hành một nghề “bình” lẫn nhau thì họ sẽ vì ghen tị mà tố cáo lẫn nhau không cần phải tra khảo, tự nhiên mọi gian lận sẽ lòi ra hết.

Sau đấu là một cuộc họp thứ hai, nhưng lần này tất cả công, thương gia trong một phố, hoặc trong một xóm đều dự, bất luận là hành nghề gì. Họ thảo luận và bình xem mỗi người trong bọn họ thu-hoạch được bao nhiêu, rồi cuối cùng giơ tay “biểu-quyết” con số. Cuộc bình này gọi là “bình ngang”. Mỗi công, thương gia trong phố, hoặc trong xóm đã biết trước là phố mình, hoặc xóm mình sẽ phải đóng bao nhiêu thuế, nên mọi người đều cố tình “tố” người khác, để người khác phải nộp nhiều hơn thì bản-thân mình có hy-vọng nộp ít hơn. Việc “bình ngang” này mang tới hai kết quả :

Thứ nhất là những người cùng phố hoặc cùng xóm thường hay có chuyện xích-mích hoặc thù hằn lẫn nhau, và thường lợi-dụng cuộc “bình thuế” để trả thù. Thí dụ vợ anh A ngoại-tình với anh B, buôn bán cùng phố. Muốn trả thù anh B đã cho mình “mọc sừng” anh A tố là anh B thu-hoạch rất nhiều. Ðể nại chứng, anh A nói thường thấy chị B đi chợ mua gà, vịt. Ðến khi hội-nghị bàn thuế của anh A, thì em anh B muốn trả thù cho anh mình, đứng lên tố là ngày nào cũng thấy anh A ngồi nhậu cà-phê sữa (cà-phê và sữa được coi là xa-xí phẩm ở Bắc-việt) ở tiệm cà-phê gần nhà mình. Rốt cuộc là thu-hoạch của mọI người đều bị “kích” lên, và nhiều khi sở thuế thu được nhiều hơn con số dự trù.

Kết quả thứ hai là những người cùng phố, cùng xóm không biết hàng xóm láng giềng làm ăn ra sao mà chỉ biết đại khái về lề lối sinh-hoạt. Người nào mà mỗi tuần ăn một con gà, hoặc mỗi sáng uống cà-phê sữa không tránh khỏi những người xung quanh coi là “đại-phú”. Rốt cuộc không ai giám ăn gà và uống cà-phê sữa công khai. Nếu chị B muốn mua một con gà thì chị phải nhét gà xuống đáy rổ, đậy rau muống lên trên, còn anh A, nếu thèm cà phê thì đạp xe-đạp tới một nơi thật xa để uống, hoặc pha dấu trong phòng ngủ, không cho hàng xóm láng giềng ngửi thấy mùi. Vì “bình thuế” cả ngang lẫn dọc nên chẳng bao lâu mọi người đều làm ra vẻ xác xơ. Họ mang những quần áo cũ nhất và rách nhất ra mặc, để râu tóc mọc thật dài, hoặc nhờ vợ hớt bằng kéo. Tiệm cà-phê, thợ may và thợ cạo đều lần lượt đóng cửa.

Ðầu tiên vì sợ bình nên mọi người đều “dấu giầu” nhưng cuối cùng, mọi người đều phá sản thực sự. Sau khi phá sản và đóng cửa tiệm cả chủ lẫn người làm công kéo nhau vào vùng Pháp kiểm soát, để lại hậu-phương mặc sức cho Mậu-dịch xây-dựng thương-mại và công-nghệ xã-hội chủ-nghĩa. Lúc bây giờ toàn thể nhân dân đã trở thành bần cố.

Chương 7

“ÐẤU CHÍNH TRỊ”

Giữa lúc bần dân thiên hạ đương thất điên bát đảo về thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp, hai thứ thuế mà dân chúng gọi là “thuế thất-nghiệp” – thì Việt-cộng sửa soạn bí mật và bất thình-lình phát-động một chiến-dịch đại quy-mô chưa từng thấy trong lịch sử Việt-nam. Bắt đầu vào giữa tối 23 tháng Chạp âm lịch, ngày lễ ông Táo lên chầu trời, vào đầu tháng Hai dương lịch năm 1953, cuộc khủng bố này có thể ví với cuộc tàn sát Saint Barthélémy trong lịch sử Pháp. Vì Việt Cộng sửa soạn rất bí mật, và phát động rất bất thình-lình nên ngoài đảng viên cao cấp không một ai biết trước kể cả viên chức ngạch trung-ương trong chính-quyền kháng-chiến. Vì cuộc khủng-bố này có tính cách hoàn toàn chính-trị, nên sau này được dân chúng mệnh danh là “đấu chính-trị”. Chữ “đấu” bắt nguồn từ danh từ “đấu tranh”, vì Việt Cộng giải thích đấy là một cuộc “đấu-tranh” của dân-chúng.

Hồi ấy vì máy bay Pháp thường oanh tạc ban ngày nên mọi cuộc họp đều triệu tập vào ban tối, và đúng vào buổi tối hôm 23 tháng Chạp âm lịch, 1954, tất cả các xã đều triệu tập nhân dân đến hội trường để bàn về thuế nông-nghiệp và công-thương-nghiệp. Chương-trình nghị-sự chỉ có một câu : TạI sao nhiều người ngoan cố không chịu nộp thuế, hoặc không nộp đủ.

Sự thực thì mọi người đều đã biết tại sao. Chỉ tại sau hai năm liền, giầu cũng như nghèo, không ai còn có thể chạy đâu ra tiền, thóc lúa, để tiếp tục đóng mãi hai thứ thuế “thất nghiệp” ấy được nữa. Nhưng Cộng-sản đặt ra câu hỏi, không phải vì muốn tìm hiểu sự thực, mà cốt để thực hiện một âm-mưu không dính dáng gì đến thuế.

Trước giờ họp, trong hội-trường đã có sẳn thừng, hèo, gậy, và nhiều dụng-cụ tra tấn khác. Những người thiếu thuế không kể ít hay nhiều, đều bị bắt, điệu ra trước hội-nghị và tra khảo không phải để biết tại sao không nộp được thuế, mà chỉ cần biết kẻ nào đã xui dục không nộp thuế. Chủ-tịch cuộc họp không hỏi lơ mơ “Ai xui mày không nộp thuế ?”, mà hỏi một cách rất rõ ràng “Có phải Thằng Ất (hoặc Thằng Giáp) xui mày không nộp thuế, phải không ? Nói mau ! và tức khắc đánh đập, kìm kẹp, tra trấn cho đến lúc nạn nhân chịu không nổi, đuối sức, chỉ khẽ gật đầu. Nếu không gật đầu, nạn nhân có thể bị tra tấn suốt đêm cho đến chết. Hễ nạn-nhân gật đầu, tỏ ý là Giáp hoặc Ất nào đó quả có xui không nộp thuế thì những người này bị bắt túc khắc. Sự thực thì những người này đã được Việt Cộng ghi tên trong sổ đen ; chủ-tịch buổi họp chỉ việc lần lược chọn từng tên một rồi tra tấn những người thiếu thuế bắt phảI khai đúng tên những người trong sổ, để sẵn trước mặt. Một khi người thiếu thuế đã khai đúng như ý muốn của Cộng-sản thì tức khắc được tha về, không cần hỏi đến nữa.

Những người bị khai . nói đúng hơn là bị buộc vào tội xui không nộp thuế . bị tra tấn một mức gắt hơn và phải trả lời hai câu hỏi : Mày ở trong tổ-chức phản-động nào ?Trong tổ-chức phản-động của mày có thằng… (Bính, Ðinh) không ? Về câu hỏi thứ nhất thì người bị tra có thể bịa ra bất cứ đảng phái nào, khai là đảng hươu đảng vượn gì cũng được. Có người tự nhận là đảng Bảo-Ðại, đảng Việt-gian, và có một nông dân cuống quá, nghĩ không ra đảng, khai ngay “Ðảng Cộng-sản” vì từ bé anh ta chỉ nghe nói lờ mờ có Ðảng Cộng sản không rõ là cách mạng hay phản-động. Về câu hỏi thứ hai thì người bị tra không được phép khai lung tung, phải khai đúng tên mà chủ-tịch hội-nghị đã mớm cho. (Tuy nhiên đây chỉ là quang cảnh trong những ngày đầu, sau nầy sẽ có nhiều sai lạc mà chúng tôi sẽ trình bày ở đoạn sau).

Tất cả những người “phản động” có tên trong sổ đen lần lượt “bị khai”, bị bắt và bị tra tấn. Họ thuộc đủ thành-phần, không cứ giầu nghèo, và sự thực thì cũng không phải “phản động”. Nói cho đúng thì phần đông là những người có thái-độ lừng chừng, vì những người thật sự chống đối với Việt Cộng thì, hồi năm 1953, hoặc đã bị tiêu diệt, hoặc đã bỏ chạy vào vùng Pháp chiếm đóng. Ðối với Cộng-sản thì lừng chừng cũng nặng tội như phản động. Bài thơ sau đây của Xuân Diệu, nhà thơ bồi bút của Cộng-sản chứng tỏ điều đó.

Anh em ơi, quyết chung lưng đấu cật.
Ðấu tranh tiêu diệt tàn hung tủ thù
Ðịa-hào, đối-lập ra tro
Lưng chừng, phản-động đến giờ tan xương.

Tất nhiên khi thảo mấy vần thơ trên, không phải là “Nàng Thơ” đã gợi ý cho Xuân Diệu, mà chính là Ðảng đã ra lệnh, vì Ðảng quyết tâm đánh tan xương những phần tử phản-động hoặc lừng chừng không chịu theo giặc mà cũng không tích-cực theo Ðảng. Quả thực là nhiều người đã bị tan xương, đúng như lời của nhà thơ Xuân Diệu, vì hài cốt họ không còn nguyên vẹn sau khi bị đánh chết. Nói về lối tra tấn thì thường có mấy phương pháp điển-hình, xã nào cũng áp dụng. Ðại để như sau :

Nạn nhân phải quỳ, hai tay giơ lên đỡ một thùng đá nặng đặt ngay trên đầu.

Nạn nhân bị treo hai chân, hoặc hai tay vào một sợi thừng vắt qua xà nhà. Một lúc lại kéo lên, kéo xuống, vừa đánh vừa hỏi, thỉnh thoảng buông rơi “cái bịch” xuống đất.

Quấn giẻ tẩm dầu vào hai ngón tay cái và đốt.

Vì mấy hình thức tra tấn này được áp-dụng trong toàn thể vùng Việt-minh kiểm soát, nên dư luận ngờ rằng Ðảng đã quy-định như vậy. Có người nói rằng những cực hình này đã áp-dụng trong các cuộc đấu-tố bên Trung Quốc và do các cố-vấn Trung Cộng nhập cảng vào Việt-nam.

Trên đây chỉ là những kiểu tra tấn “phổ thông” khắp mọi xã, nhưng cũng có nhiều xã áp-dụng những kiểu tra tấn “đặc-biệt” do sáng-kiến địa-phương nghĩ ra. Ở một làng nọ, nạn nhân bị bỏ vào rọ dìm xuống nước một vài phút, lôi lên để hỏi, chưa chịu nhận tội, lại dìm nữa cho kỳ nhận mới thôi. Ở một làng khác, cán-bộ mượn một cái “ê-tô” của một hiệu chữa xe-đạp, kẹp ngón tay người bị tra vào giữa hai má ê-tô, và cứ hỏi một câu mà chưa chịu trả lời lại quay một vòng.

Ðiều đáng chú ý là đảng-viên và cán-bộ đảng không trực-tiếp nhúng tay vào các vụ tra tấn này. Họ giao công việc cho “cốt-cán”, vì cốt-cán không phải là người của Ðảng và của Chính-phủ. Như vậy là cốt để sau này. Ðảng có thể ngang-nhiên phủ nhận mọi trách-nhiệm và, hơn nữa, đỗ hết cả tội lỗi vào đầu nhân-dân. Câu chuyện sau đây có giá-trị điển-hình về thái-độ kể trên.

Một cô giáo “cấp 1″ ra cho trẻ em trong lớp một bài luận, đề như sau : “Các em hãy tả một ’đấu’ trong xã các em”. Lũ trẻ em cứ thực tình tả nào là bắt người, đánh, trói và tra tấn, và không quên kết luận bằng những câu ca-tụng đường lối sáng suốt đúng đắn của Ðảng và của “Bác Hồ”. Nhưng mấy ngày sau Ðảng đã chính-thức tuyên-bố là Ðảng không dính dáng dến những vụ tra tấn này và đấy chỉ là “Nhân dân tự động đấu-tranh chống phản-động”. Vì Ðảng đã phủ nhận vai trò của mình, nên hôm trả bài, cô giáo phải làm bộ phê-bình học-sinh là tả không đúng sự thực. Cả lớp bị mắng là “nói điêu” rán gân cổ cãi lại cô giáo, nói chúng đã trông thấy tận mắt và một vài em lại kể rành mạch là đã thấy cán-bộ chặt tre làmgậy và mang thừng chão đến hội trường từ buổi chiều, trước khi triệu-tập cuộc họp.

Vụ “đấu” này kéo dài trong nửa tháng và đêm nào, làng nào cũng có người bị đánh chết. Bắt đầu đêm hôm 23 tháng Chạp, nghĩa là một tuần trước Tết, vào giữa lúc thiên hạ đương lo cúng ông bà ông vải và đón mừng Năm Mới. Vì vậy nên mọi cuộc sửa soạn đều bị bỏ dở, và nhà nào nhà nấy im hơi lặng tiếng, tối đến cũng không dám thắp đèn. Có người nhận xét súc vật thấy người sợ cũng sợ lây ; gà không gáy chó không sủa. Trong mấy ngày đầu, mọi việc đều tuần tự như tiến, theo đúng kế hoạch của Ðảng đã vạch sẵn, Những người có tên trong sổ đen đều lần lượt bị “khai” và tra tấn. Nhưng một khi phong-trào đã được “đẩy mạnh”, cán-bộ trở thành say sưa với quyền sinh quyền sát nên coi nhẹ cuốn sổ đen, vì vậy nên hễ khai ai bắt nấy, đưa đến tình trạng bất cứ ai cũng có thể bị bắt và bị tra tấn. Ðảng không kìm hãm nổi và khắp mọi nơi cuộc khủng-bố trở thành “lung tung”. Những giới-hạn mà Ðảng đã quy định trở thành vô giá-trị và khắp nơi khắp chốn chỉ nghe nói đánh-đập, tra-tấn, chết chóc. Sở dĩ phong trào trở nên hỗn loạn là lại hai nguyên nhân sau :

1. Theo lời Ðảng dặn, cán-bộ giao việc đánh đập, tra tấn cho cốt-cán. Nhưng trong mỗi xã chỉ có một số ít cốt-cán, mà nhiều người trong bọn ngần ngại không muốn thẳng tay đánh-đập bà con trong thôn xóm, đôi khi là anh em, chú bác, cô dì. Hơn nữa đánh lắm cũng mỏi tay, nên cốt-cán phải tuyển mộ ngừơi khác giúp bớt phần việc. Nhưng trong xã-hội Việt-nam tìm được những người tình-nguyện làm những việc ác-đức này không phải là chuyện dễ, nên rốt cuộc, những người sẵn sàng tiếp tay cho cốt-cán đều là những lưu-manh vô-lại trong nông-thôn. Vì là lưu-manh nên phần đông có “thành-tích bất hảo”, hoặc đã trốn “dân công”1 hoặc đã ăn trộm lúa kho hoặc có phạm một tội nào tương tự mà chính quyền chưa hỏi đến. Bây giờ “cờ đã đến tay” nên chúng ra sức “phất” rất mạnh, đánh đập bất cứ ai để ra oai vớI nhân dân và để chuộc tội với Ðảng. Bỗng nhiên đương “thằng” trở thành “ông” chúng ra tay đánh đập “phản-động” để không còn ai có thể quy chúng là phản-động được nữa. Ðánh phản-động tàn nhẫn như vậy, tất nhiên là căm thù với phản-động, và không phải là phản động. Hồi mấy “thằng” lưu manh trở thành “ông” có người đặt mấy câu vè như sau :

Trời làm một hội lăng-nhăng
Thằng hóa ra ông, ông hóa ra thằng.
Trời làm một hội lông-nhông
Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.

Tình trạng trở nên hoàn toàn hỗn loạn vì bất cứ nạn-nhân khai ra ai chúng cũng bắt đánh. Chúng chỉ cần đánh để lấy lòng Ðảng và “lấy le” với nhân dân, làm cho mọi người sợ chúng, không giám khai ra chúng. Vì thất học nên chúng chẳng hiểu “tư-bản”, “đế-quốc” là gì, và đối với chúng, mọi người lương thiện thường khinh rẻ chúng đều có thể coi là “phản-động”cả.

2. Nguyên nhân thứ hai chỉ là hậu quả của nguyên nhân thứ nhất. Trong thời kỳ đầu người bị tra không phải tốn công nghĩ ra tên người khác để khai là đồng đảng vì hồi ấy cốt-cán còn lãnh đạo công việc tra trấn nên lúc nào cũng sẵn sàng “mớm” tên cho mà khai. Trái lại đến lúc lưu-manh xông ra đánh đập thì không còn ai lưu ý đến sổ đen và bất cứ ai bị “khai” cũng bị đòn như mọi người. Mọi người đều nhận thấy hai điều : khai càng sớm càng đỡ đòn và khai ra bất cứ ai cũng được. Không ai bảo ai, mọi người đều tự đặt câu hỏi : “Nếu đêm nay mình bị đánh thì nên khai ra ai, cho đỡ bị đòn ?” Có người lý-luận rằng muốn cho Ðảng chóng đình chỉ cuộc “đấu” thì nên lợi dụng tình trạng, khai ngay cán-bộ hoặc bà con thân thích của cán-bộ và đảng-viên. Quả nhiên những đảng-viên bị khai cũng bị bắt và tra-tấn như các “phản-động thường”. Các chi-bộ cộng sản không có thể can-thiệp vì khẩu-hiệu Ðảng đã nêu ra là : Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh chống phản-động. Ðảng cũng đã ra lệnh cấm không một cá-nhân nào hoặc một cấp-bộ nào được phép can-thiệp. Thế là đảng-viên trở thành nạn~nhân, đúng câu thành-ngữ Việt-Nam “âm binh quật lại phù thủy”.

Trong một cuộc “đấu” người bị tra hoảng quá, mất hết tinh-thần. Khi bị hỏi “trong tổ-chức phản-động của mày có những ai ?” giơ tay chỉ ngay ông chủ tọa phiên họp. Ông chủ tọa bị lôi xuống và bị đánh tức khắc. Sau đó hội nghị tạm ngưng vì không ai nhận chủ-tọa buổi họp.

1 Ði dân công tức là đi làm phu khuân vác, đào sông, đắp đường, không khác đi làm “cỏ vê” ngày trước.

Ðến ngày thứ 15 thì Ðảng nhận thấy tình hình trở nên quá nghiêm trọng và điện từ trung ương về các tỉnh ra lệnh đình chỉ ngay tức khắc. Nhưng điện-văn cũng nói rõ phải giam giữ những người mà “quần-chúng sáng suốt” đã tố cáo là “phản-động”.

Lệnh giam giữ những nạn nhân của cuộc “đấu” chứng tỏ Ðảng đã có dụng tâm từ trước. Ðảng muốn tạm thời gạt bỏ ra ngoài xã-hội những phần-tử mà Ðảng ngờ có thể chống-đối chính sách sau này của Ðảng : chính sách Cải Cách Ruộng Ðất. Quả thực, những người bị khai là phản-động bị giam trong các trại tập-trung mãi đến phong-trào Sửa Sai, năm 1956, mới được tha.

Trong vụ “Ðấu Chính Trị” trung bình mỗi xã có từ ba đến năm người bị đánh chết, hoặc vì uất ức phải tự tử trong số có một bộ-trưởng chính-phủ là ông Ðặng-văn-Hướng. Ông Ðặng-văn-Hướng nghỉ phép về thăm nhà thì gập phải vụ “đấu”. Vì “Bụt nhà không thiêng” nên cán-bộ xã không nhận thấy ông là “bộ-trửởng” chỉ thấy ông là “một tên phản động” nên mang ra “đấu”. Trong khi ấy thì từ ông Hồ cho đến các bộ-trưởng khác không ai đoái-hoài đến số phận của ông. Ông không bị đánh chết nhưng ông anh ruột bị, và sau đó cả hai ông bà thắt cổ tự tử. Việc đáng chú ý là ông Hương là thân-phụ Ðại-tá Ðặng-văn-Việt, nổi tiếng là “Anh Hùng Ðường số 4″ vì mấy năm trước Ðại-tá Việt đã chiến-thắng quân-đội Pháp trong trận Cao-Bằng Lạng-Sơn.

Trong khi cuộc “đấu” diễn ra ở khắp thôn xã thì ở các thị-trấn cũng có “đấu” nhưng với hình-thức nhẹ hơn. Lý do là vì những người buôn-bán ở các thị trấn mới thành-lập là người tứ xứ, không quen biết nhau nên không có hận thù. Những thị-trấn này chỉ là những chỗ buôn bán nhỏ, vì những thành-phố lớn đã bị Cộng-sản phá trụi, theo chính sách tiêu thổ kháng chiến chống Pháp. Việt-cộng lấy cớ là phá hủy thành-phố để không cho Pháp chiếm đóng và lập căn cứ nhưng chủ tâm của Việt-cộng là muốn phá-sản giai-cấp “tư-sản thành-thị” mà Cộng-sản coi là khó cai-trị. Những thị-trấn nói trên chỉ là những dẫy nhà lá thường dựng ở mấy ngã-tư đường nhiều người qua lại. Chủ-nhân là những người trước kia sinh-nhai ở thành-phố, nay mất hết cơ nghiệp phải tản cư về thôn quê, nhưng không làm ruộng quen nên phải dựng lên một túp lều nhỏ để buôn bán chút đỉnh, một vài thứ hàng lặt vặt, mong qua ngày đoạn tháng.

Nói chung thì dân thôn quê phải mất một tuần mới vỡ lẽ là càng nhận tội sớm bao nhiêu thì càng đỡ đòn bấy nhiêu. Trái lại, dân thị-thành vì “láu” hơn, nên ngay buổi đầu họ đã tìm ra mánh lới này. Vì vậy nên ở các thị-trấn có nhiều người chưa bị một cái bạt tai đã vội vàng quỳ gối thú tội vanh vách, nhưng họ cũng được may mắn là những “tội” họ buộc lẫn nhau đều là những tội không lấy gì làm “phản động” lắm. Vì thiếu “phản động” nên chi-bộ Ðảng ở các thị-trấn không thể “đào” đâu cho đủ “phản động” để kéo dài cuộc “đấu” cho trọn hai tuần. Kết quả là cuộc lùng bắt “phản động” trở thành cuộc truy-nã những kẻ ưa dùng xa-xí phẩm, hàng ngoại-hóa. Ăn mặc tươm tất, hoặc dùng xáp bôi đầu chẳng hạn cũng bị quy là “trọng tội”. Cán-bộ đón các đầu đường, hễ ngửi đầu thấy mùi xáp thơm là bắt phải gội ngay tại chỗ, bằng nước rửa bát để sẵn gần đấy. Nhiều anh trông thấy quang cảnh như vậy, vội vàng “xung phong” xin gội đầu bằng nước rửa bát ngay để tránh khỏi bị đòn. Nhiều người ưa ăn sang mặc đẹp như mấy bà vợ bác-sĩ (Bác-sĩ Nguyễn-bát-Can . trước kia là Dr Pascal Nguyễn) cũng bị mang ra “đấu” và hưởng mấy bạt tai.

Cuộc đấu ở nông-thôn và ở thành-thị phát triển theo hai hướng trái ngược nhau. Trong khi ở nông-thôn, cuộc khủng-bố cứ mỗi ngày một kịch-liệt hơn cho đến khi tình trạng trở thành hoàn toàn hỗn loạn, thì ở thành-phố chẳng mấy chốc cuộc “đấu-trang chống phản-động” biến thành một chiến-dịch vớ vẩn, “đấu-tranh chống lề lối sinh hoạt tiểu-tư-sản”. Nhận thấy như vậy nên thực tế đã có người nhanh chân bỏ nông-thôn chạy vội ra thành-phố náu ẩn. Cũng vì ở thành-phố thường ít tính chất bạo-động hơn ở nông-thôn, nên dưới chế-độ cộng-sản dân chúng luôn luôn tìm cách “chuồn” ra thành-phố và do đó chúng ta thường thấy chính quyền cộng-sản ở Bắc Việt và ở Trung Cộng chẳng hạn, thỉnh thoảng lại “giải về nguyên quán” những người tản-cư trái phép từ nông-thôn ra thành thị.

Sau cuộc “đấu chính-trị”, ông Hồ có viết một bức thư “Xin lỗi đồng-bào” gửi cho tất cả các xã và mọi người đều phải học-tập. Trong thư, ông nhận chính-phủ và Ðảng đã thiếu sót trong việc lãnh-đạo khiến nhiều nơi quần chúng đã khinh thường luật-pháp, có nhiều hành-động trái với chủ-trương nhân-đạo và khoan-hồng của Chính-phủ và của Ðảng. Cán-bộ kể chuyện cho dân chúng nghe là khi viết bức thư “Xin lỗi đồng-bào” ông Hồ bực quá, chảy nước mắt. Có lẽ câu chuyện không đến nổi hoàn toàn bịa đặt vì mọi người đều biết ông Hồ đóng trò rất tài tình, muốn cười muốn khóc và ngay cả muốn hôn lúc nào cũng được. Hồi viếng thăm Ấn-Ðộ và Indonesia, những nơi mà nam nữ còn đương “thụ thụ bất thân”, ông Hồ cứ tự-nhiên ôm các bà các cô hôn đại. Vì vậy nên năm 1959, báo chí Djakarta tặng ông biệt-hiệu “Vị chủ-tịch thích hôn” (Presiden Pentjium).

Sau khi xin lỗi đồng-bào, ông Hồ ra lệnh cho các ủy ban xã báo-cáo lên cấp trên những vụ quá đáng. Ðồng thời các ủy-ban cũng phải lập danh-sách những người sáng suốt đã nhận thấy những điểm sai trong chiến-dịch và đã cố gắng ngăn cản.

Có nhiều người, phần đông là đảng-viên cấp dưới, quả thực đã xa lánh phong trào, và có một số đã chạy lên huyện lên tỉnh, tìm cách cứu gỡ cho thân nhân. Sau khi lập thành danh-sách đưa lên tỉnh, những người này được tỉnh-ủy mời lên để ban khen, nhưng lên đến nơi họ được tống đi các trại “quản-huấn” để vừa lao-động vừa học-tập lại những nguyên tắc bất-khả sai-lạc của chủ-nghĩa Mác-xít Lê-ninnít. Mãi ba năm sau, nhân dịp chiến-dịch Sửa Sai, tiếp theo chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất họ mới được tha về. Ðây là một thí-dụ điển-hình chứng tỏ chủ-trương của Ðảng là bắt nhốt ngay cả những đảng-viên mặc-dầu trung-thành với Ðảng, nhưng không tán-thành chính-sách khủng-bố của Ðảng.

Một tháng sau khi ông Hồ đã khóc và xin lỗi đồng bào thì những cán-bộ đã phát-động chiến-dịch ở Bắc-Việt lên đường vào Khu V (miền Nam Trung-việt) để phát động một phong-trào in hệt. Ði theo bọn họ vẫn có mấy cố-vấn Trung-quốc quê ở Hồ-nam.

Ảnh-hưởng trực tiếp của cuộc “đấu sơ bộ” này là tất cả các thành-phần trong nhân dân đều sợ oai của Ðảng. Sự thực, trước cuộc “đấu” Ðảng đã mất rất nhiều uy tín. Nhiều nông-dân bị bom đạn của Pháp tiêu hủy nhà cửa đã ngang nhiên oán trách “Cụ Hồ”, và hàng ngàn dân-công gánh gạo tiếp-tế bộ-đội đã làm reo bỏ về, quẳng gạo ra hai bên đường. Hồi Ðảng còn rút lui vào bóng tối sau khi tuyên-bố tự giải tán, dân quân một xã nọ đã vây bắt một chi-bộ cộng-sản đang hội-họp, lấy cớ là hội-họp trái phép.

Sau chiến-dịch khủng-bố, tình-trạng thay đổi hẳn. Không những không ai giám từ-chối không đi dân-công, mà trái lại, hàng ngàn người xung-phong đi ngay. Thuế khóa cũng chỉ thu trong vài giờ là xong ngay.

Nhiều người nhận thấy như vậy cho rằng Ðảng đã áp-dụng chính-sách khủng-bố để thu thuế cho nhanh và bắt dân-công cho dễ. Nhưng thực ra như chúng tôi sẽ trình bày về sau, Cộng-sản phát động chiến-dịch khủng-bố với hai mục-đích khác. Một mục-đích dài-hạn là dọn đường cho chiến-dịch Cải-cảch Ruộng-đất sắp tới (Xin xem Phần 5) và một mục-đích tức thời là thị uy với toàn thể nhân-dân không kể giàu nghèo . và thanh-trừng những phần-tử : mặc-dầu tham gia kháng-chiến chống Pháp, nhưng tình-nghi là không chấp-nhận chế-độ cộng-sản.

Cuộc “đấu chính trị” do Trung-ương Ðảng phát-động, kéo dài trong nửa tháng, gây không biết bao nhiêu tang tóc, nhưng sau khi ông Hồ đã viết thư “xin lỗi đồng-bào” thì tình hình ở nông-thôn lại tương-đối được ổn-định. Những người chạy trốn ra thành-phố lần lượt trở về làng. Cán-bộ làm ngơ không hỏi tới và để yên cho tự-do sinh hoạt trong khoảng vài tháng.

Nhưng “đấu” rồi, Ðảng còn một công-tác khác cần phải làm. Tức là chứng tỏ trước nhân dân là dù sao lời dậy của Bác Mao vẫn đúng. Bác Mao đã nói : “Quần chúng bao giờ cũng sáng suốt” và “Nông dân có thể lãnh-đạo được Cách-mạng vô-sản”. Nhưng cuộc “đấu chính trị” quả đã gây nên nhiều ảnh-hưởng tai hại. Nhiều người trước kia nhiệt-liệt ủng-hộ cộng-sản, nay bỗng nhiên hết tin-tưởng. Họ nhận thấy ông Hồ quá lệ thuộc vào ông Mao đã nhập cảng vào Việt-Nam nhiều hành động dã man mà từ ngàn xưa sử sách Việt Nam chưa từng chép, và hiện nay không một dân-tộc văn-minh nào có thể dung thứ được. Họ cũng nhận-định là Cộngsản, mặc dầu đã nắm trọn quyền trong tay, mà còn dùng mánh lới “phát-động quần chúng” để trừng-trị đối-phương thì thế tất sau này không bao giờ Cộng-sản có thể áp-dụng những biện-pháp công-bằng và nhân-đạo để trị dân. Những người còn giữ được lý-trí . mà thực sự thì nhiều người đã mất vì “học tập
chính trị” quá nhiều . bắt đầu so sánh chế độ cộng-sản với chế-độ thực-dân ngày xưa. Họ công-nhận dưới chế-độ thực-dân, tuy không có công-bằng và tự-do, nhưng ít ra cũng có một hình-thức pháp-lý nào đó. Chính-quyền thuộc-địa cũng giết, nhưng giết bằng máy chém, không giết bằng “phát động quần-chúng”.

Ngay những đảng-viên trung-thành cũng bắt đầu ngờ vực khả năng lãnh-đạo của nông-dân. Họ tự hỏi nếu gây căm-thù, rồi “phóng tay phát-động nông-dân” thì liệu nông-dân sẽ đưa cách-mạng tới đâu? Họ vẫn biết một xã-hội mà người giầu đá đít người nghèo là một địa-ngục, nhưng họ không tin rằng những kẻ kẹp tay thiên-hạ vào “ê-tô” để vặn có thể xây dựng được thiên-đường trên mặt trái đất.

Ðể đánh tan luồng tư-tưởng nguy-hại này, Cộng-sản áp-dụng hai biện-pháp một cho những người có học và một cho dân chúng thiếu học :

1. . Ở mỗi tỉnh đều thành lập toà án quân sự để xử tội những “Việt gian” bị bắt trong vụ “Ðấu chính trị”. Mục-đích của Cộng-sản là để chứng minh cho dân-chúng trông thấy rằng mặc dầu “quần chúng đã tự động”, sự thực quần-chúng vẫn sáng suốt, vì trong số những người họ “tố”, quả thực có nhiều “Việt gian” lợi hại, làm tay sai đắc lực cho Pháp.

2. . Ðảng tổ-chức một chiến-dịch Cải-tạo Tư-tưởng cho toàn thể đảng-viên và cán-bộ để giải thích cho họ hiểu là “phóng tay phát-động quần-chúng”, mặc dầu có nhiều sai lầm, nhưng tựu-trung vẫn là một chính-sách rất “hợp tình, hợp lý”. Vì hai biện-pháp kể trên bao gồm trong “chiến-thuật Mao-Trạch-Ðông”, nên chúng tôi sẽ cố gắng trình-bầy cặn kẽ trong những chương sau.

Chương 8

DANH-SÁCH VIỆT-GIAN

Những người bị bắt và bị đấu tố trong cuộc “Ðấu tranh chính-trị” mà may mắn còn sống sót, thì bị đưa vào trại giam để công-an điều tra thêm. Vài tuần sau công-an tuyên bố là trong số những người này quả có nhiều “Việt-gian” lợi hại, có chân trong một tổ chức bí mật, làm gián-điệp cho Pháp.

Trong năm 1951, nghĩa là hai năm về trước, Pháp có bỏ bom phá tan hệ thống dẫn-thủy nhập điền trong vùng Việt-minh kiểm-soát. Nhớ lại vụ oanh tạc này, Ðảng được dịp tuyên bố là chính những “Việt-gian” mà nhân dân đã “lột mặt” đã xui Pháp ném bom phá hủy các đập nông-giang. Ðảng còn nói rằng bọn họ đã vẽ địa-đồ các đập nước và các cầu cống và chuyển giao cho Pháp. Rõ ràng là một sự vô cùng phi-lý vì không có một người Việt-nam nào không hiểu rằng những cống và đập đó đều do Pháp xây-dựng và toàn bộ bản-đồ Việt-nam và Ðông Dương đều do Pháp vẽ. Nói rằng Pháp quên không biết đập ngăn nước khổng lồ họ xây ngày trước bây giờ nằm vào chỗ nào và phải nhờ “Việt-gian” chỉ điểm mới nhớ ra thì cực kỳ khôi hài. Nhưng đối với cộng sản thì phi-lý không phải là một trở ngại cho tuyên truyền. Họ kinh nghiệm rằng đối với nông-dân chỉ việc nhắc đi nhắc lại một lý-luận thô sơ dễ hiểu thì dù phi-lý đến đâu cuối cùng nông dân cũng nhập tâm cho là thực. Ðặc biệt là nói về thực-dân Pháp và đế-quốc Mỹ thì kể hươu kể vượn thế nào cũng được, vì nhiều nông-dân suốt đời không hề thấy một người Pháp hoặc một người Mỹ. Một trung-đội trưởng Việt-minh sau khi thắng trận Ðiện Biên Phủ về Hà-NộI hỏi dân thủ-đô có phải người Mỹ da đỏ hồng hào không. Ý hẳn anh ta chỉ nghe nói bên Mỹ có một chủng tộc thường gọi là Peaux Rouges. Ðối với trình độ kiến-thức như vậy thì dĩ-nhiên càng lý-luận giản-dị bao nhiêu, dân chúng càng ưa nghe bấy nhiêu.

Mỗi tỉnh đều đệ lên trung ương một danh sách những kẻ “phản động” và sửa soạn xử-án công khai. Trong mỗi danh sách đều có những “thành-phần điển-hình” : một địa-chủ giầu nhất, một vị hòa-thượng, một linh-mục, một vị khoa cử và một cựu quan lại.

Trong khi chờ phiên tòa xử thì các can-phạm phải điệu đi từ trại giam này đến trại giam khác, qua hết làng này sang làng khác, như kiểu một gánh “xiếc” mang thú dữ đi quảng cáo trước khi biểu diễn buổi đầu. Chân họ bị xiềng và tay họ bị trói bằng một chiếc thừng dài, buộc cánh tay người đầu đoàn cho tới cánh tay người cuối cùng. Họ khạng nạng đi giữa ban ngày, dưới mặt-trời tháng năm, tay bị xích nhưng cũng cố nâng xiềng khỏi mặt đất cho dễ đi. Tiếng xiềng chạm nhau kêu “leng keng” rất xa và rất rùng rợn vì là một thứ tiếng mà thiên hạ chưa từng nghe bao giờ.

Phiên tòa đã xếp đặt gần xong và các vị thẩm phán đã được cấp trên chỉ định thì bỗng nhiên có lệnh đình lại. Sau đó có tin đồn là các “cố vấn Trung-quốc” xét thấy danh sách phản động chưa được đầy đủ. Họ nói danh sách còn thiếu một loại đại phản-động mà bên Trung-quốc gọi là “Tư-sản Mại-bản”. Theo lý-thuyết của ông Mao, một lý-thuyết mà các đồ-đệ của ông coi là một cống hiến vĩ-đạI, giai-cấp tư sản ở các nước kém mở mang chia làm hai loại : tư-sản dân-tộc, tức là những người công-nghệ và tư-sản mại-bản tức là những người xuất-nhập cảng. Hai loại tư-sản này có hai thái-độ chính-trị khác nhau, vì cách thức kinh doanh của họ khác nhau.

Tư-sản dân-tộc hay công-nghệ bản-xứ chế-tạo hàng nội-hóa nên phải cạnh-tranh gắt gao với tư-sản ngoạI-quốc. Vì vậy nên họ có tinh-thần yêu nước một phần nào, và sẵn sàng hợp tác với cộng-sản để tranh-đấu dành độc-lập. Cộng-sản để yên cho họ sống từ thời kỳ cải-cách ruộng đất cho đến thời kỳ hợp tác công-nghiệp. Trong khi ấy họ vẫn làm chủ nhà máy của họ, dưới sự kiểm soát nửa kín nửa hở của công-đoàn. Ở Trung-Hoa và ở Bắc-Việt chế-độ này được duy-trì trong hai năm.

Thành phần tư-sản mại-bản thì ngược lại sống nhờ vào tư-sản ngoại qưốc nên không có mảy may tinh thần yêu nước. Quyền-lợi của họ bị ràng buộc vào quyền lợi của tư-sản ngoại-quốc nên họ chỉ là tay sai của đế-quốc. Vì vậy nên họ bị xếp là “Kẻ Thù Số Hai của Nhân Dân” (Ðịa-chủ là kẻ thù số Một). Nhưng muốn quy một người này là tư sản mại-bản, theo đúng nghĩa của ông Mao-Trạch-Ðông thì phảI tìm thấy ở người ấy hai điểm. Một là tư-sản và hai là mại-bản, tức là buôn bán xuất-nhập cảng. Vì vậy nên khi Trung Ương bắt các ủy-ban tỉnh phải lập danh sách tư-sản mại-bản, ủy-ban tỉnh phải kê khai một số người trong địa-phương có thể tạm gọi là “tư-sản” và có buôn bán hàng ngoạI-quốc. Nhưng kiếm được những người đầy đủ hai điều-kiện kể trên quả là một việc rất khó vì hồi ấy chẳng còn ai ở hậu-phương có thể tạm gọi là tư-sản mà xuất-nhập cảng cũng hoàn toàn không có. Từ trước Việt Nam vốn dĩ đã chẳng có bao nhiêu tư-sản, mà nếu có một vài người thì họ đều ở lại Hà-Nội với Pháp. Thật đúng như lời ông Mao, hạng người này quả là tay sai của tư-sản ngoại quốc và luôn luôn cấu kết với thực-dân đế-quốc. Một vài tư-sản vào loại kém, lúc đầu có chạy ra hậu-phương nhưng chỉ ít lâu sau họ cũng trở về thành. Chỉ có một số “phú-thương” chịu khó ở lại hậu-phương, thường khi vì lý do gia-đình hơn là kháng-chiến yêu nước, nhưng tất cả đều bị khánh-kiệt từ mấy năm trước. Vì ở hậu-phương thiếu hàng-hóa, thiếu giao thông và khả-năng tiêu-thụ của nhân-dân quá kém cỏi, nên họ chẳng kiếm chác được bao nhiêu. Lấy cớ là tránh nạn Pháp nhẩy dù, cứ ba hoặc sáu tháng một họ lại phải di chuyển tiệm buôn từ nơi này sang khác, phá nhà cũ làm nhà mới. Nạn lạm phát (một nghìn đồng năm 1955 trị giá bằng một đồng năm 1946) và cuối cùng là Thuế Công-thương-nghiệp đã khiến họ trở thành bàn tay trắng, buôn đi bán lại lấy công làm lãi.

Tuy nhiên việc tìm kiếm tư-sản cũng không khó là vì danh-từ “tư-sản” cũng như danh-từ “địa-chủ” hết sức co rãn. Một người sống “trên mức bình thường” cũng có thể tạm xếp vào loại tư-sản, vì chính-quyền có thể chứng minh trước dân chúng là quả họ có một “tư-sản” nào đó. Trái lại việc lùng kiếm những người mại-bản thì thật quả là khó. Những cố-vấn Trung-quốc thực-sự đã lầm to khi họ hạch sách bắt kiếm cho kỳ được tư-sản mại-bản. Có lẽ họ yên trí rằng ở Việt-nam loại người này cũng đông đảo như ở Trung-hoa Quốc-dân-Ðảng. Sự thực thì ở Thượng-Hải, dưới chế-độ Tưởng, có rất nhiều tư-sản mại-bản, nhưng ở Việt -Nam thì thuở ấy hoàn toàn không có, vì trong suốt thời kỳ Pháp-thuộc, mọi việc xuất-nhập cảng đều thuộc độc-quyền một vài công ty tư-bản Pháp.

Nói rằng dưới chế độ thuộc địa có tư-sản mại-bản Việt-nam đã là hài-hước, mà cho rằng trong vùng kháng chiến có tư-sản mại-bản lại là vô-lý hết chỗ nói. Tuy nhiên, Bác Mao nói thì phải nghe và lệnh trên ban xuống thì phải thi hành, và muốn cho danh-sách có đủ các thành phần như cấp trên đòi hỏi, các ủy-ban tỉnh liền bắt mấy cán-bộ mậu-dịch của Ðảng, lâu nay phụ-trách buôn lậu xe-đạp, thuốc tây, dầu lửa, và một vài thức cần thiết cho kháng chiến từ vùng tề vào. Lý-luận của cộng-sản rất đơn sơ. Nếu không có xuất nhập khẩu thực sự, thì việc buôn lậu qua giới tuyến cũng có thể tạm coi là xuất nhập khẩu.

Kết quả là mấy người trước kia được Ðảng tín-nhiệm giao cho công việc nguy-hiểm là buôn bán với “tề” bỗng nhiên bị quy là “Việt-gian” và đưa vào trại giam. Sau khi danh sách được Trung-ương chấp nhận, một tòa-án quân sự được thành lập trong mỗi Khu và di-chuyển từ tỉnh nọ sang tỉnh kia để xử án “Việt-gian” ở mỗi tỉnh. Chánh án khu Tư là ông Hồ-đắc-Ðiềm, trước kia là tổng-đốc Hà-đông và giáo-sư trường Luật Hà-Nội. Thẩm-phán và công-tố viện đều là đảng-viên Ðảng Lao Ðộng. Không có trạng-sư, chỉ có “biện-hộ viên”. Họ không phải là luật-gia xuất thân, mà chỉ là người thường, một người làm nghề đỡ đẻ, và nhiệm vụ của họ là bênh-vực quyền lợi của nhân dân, không phải quyền lợi của bị can. Họ có xin tòa khoan hồng cho một số “cò mồi” bị bắt để lấy cớ khai ra “đầu xỏ”, nhưng họ yêu cầu tòa thẳng tay trừng-trị “Việt-gian phản-động”. Tòa xử công khai, nghĩa là có hai đoàn đại-biểu đi dự. Một đoàn do mỗi xã cử một người và một đoàn do mỗi xí-nghiệp cử một người. Tất nhiên những người được cử đi dự đều là đảng-viên trung-kiên. Những đại-biểu đi dự được sửa soạn hai tuần lễ trước, học thuộc lòng những khẩu hiệu cần phải hô, và hô vào những lúc nào cho đúng lúc. Việc sửa soạn thì rất rầm rộ, nhưng đến khi tòa xử thì tương đối rất khoan hồng. Chiến lược cộng-sản là tỏ thái-dộ công-bình và khoan hồng trong những vụ án có ảnh hưởng lớn đối với nhân dân.

Ở Thanh-Hóa, chẳng hạn, chỉ có địa-chủ số một là ông Nguyễn-hữu-Ngọc và một vị hòa-thượng là Tuệ Chiếu bị lên án tử hình, còn linh mục Mai-bá-Nhạc cùng hai tư-sản mại-bản chỉ bị phạt 20 và 15 năm khổ sai. Cựu quan-lại là ông Hà-văn-Ngoạn, và cựu khoa-bảng là cụ Cử Lê-trọng-Nhị không hầu tòa vì đã chết từ mấy tháng trước trong trại giam. Trong gần một năm, không thấy những người bị án tử-hình mang ra hành-hình nên nhiều người yên trí là họ được ân giảm, nhưng đột nhiên đêm trước hôm trao đổi tù-binh giữa Pháp và Việt-minh, hai người bị đưa ra bắn. Vụ hành hình này rất đơn giản, không có dân chúng xếp hàng vỗ tay và hô đả đảo như thường lệ. Sáng hôm sau, những “Việt gian” khác được trả lại tự-do.

(Còn tiếp)

Số hạng Thu-hoạch trung-bình kg thóc

Thuế %

Số hạng Thu-hoạch trung-bình kg thóc Thuế %
1 Từ 71 đến 95 5 21 Từ 706 đến 755 25
2 96 – 115 6 22 756 – 805 26
3 116 – 135 7 23 806 – 855 27
4 136 – 155 8 24 856 – 905 28
5 156 – 175 9 25 906 – 955 29
6 176 – 205 10 26 956 – 1005 30
7 206 – 235 11 27 1006 – 1055 31
8 236 – 265 12 28 1056 – 1105 32
9 266 – 295 13 29 1106 – 1155 33
10 296 – 325 14 30 1156 –1215 34
11 326 – 355 15 31 1216 – 1275 35
12 356 – 385 16 32 1276 – 1335 36
13 386 – 425 17 33 1336 – 1395 37
14 426 – 465 18 34 1396 –1455 38
15 466 – 505 19 35 1456 – 1515 39
16 506 – 545 20 36 1516 – 1575 40
17 546 – 585 21 37 1576 – 1635 41
18 586 – 625 22 38 1636 – 1695 42
19 626 – 665 23 39 1696 – 1755 43
20 666 – 705 24 40 1756 – 1815 44
      41 1816 – trở lên 45

Giáo sư Bernard Fall đã chép bản thuế biểu này trong cuốn Le Việt-Minh (tr. 249) của ông, nhưng cũng như các quan-sát viên ngoại-quốc khác, ông có ngờ đâu rằng ngoài thuế-biểu chính-thức này, nông-dân còn phải đóng thêm một số “phụ-trội” mà chính-quyền Việt-minh dấu kín không hề công-bố. Số phụ-trội này nói là để xung vào “quỹ xã” còn thuế chính nộp vào kho bạc nhà nước. Sự thực thì cả hai đều gộp làm một và tùy ý Ðảng chi dùng. Thuế phụ-trội định là 15 phần trăm của thuế chính-ngạch và cả hai thứ đều phải nộp một lúc. Chi-bộ xã giữ hai phần ba số thuế phụ-trội thu được và nộp Tỉnh-bộ một phần ba.

Tỉnh-bộ cũng chỉ giữ hai phần ba số phụ-trội nhận được và đưa lên Tổng-bộ một phần ba. Tổng-bộ lại giữ hai phần ba và nộp cho Cơ-quan Thông-tin Quốc-tế (Cominform) một phần ba làm Nghĩa-vụ Quốc-tế.

Như vậy, nghĩa là bản thuế-biểu chỉ dùng để tính thuế chính-ngạch, rồi cộng thêm vào thuế chính-ngạch 15 phần trăm nữa. Muốn cho rõ hơn, chúng tôi xin trình bày hai tỉ-dụ.

Thuế Bậc Một : Theo bản thuế-biểu thì nông-dân thuộc loại này phải đóng 5 phần trăm số lúa thu-hoạch cho chính-phủ và ngoài ra còn phải đóng 15 phần trăm của 5 phần trăm, nghĩa là 0,75 phần trăm cho Ðảng. Tổng cộng là 5,75 phần trăm.

Thuế Bậc 41 : Những người thuộc loại này phải đóng 45 phần trăm thu hoạch cho chính-phủ, cộng thêm 15 phần trăm của 45 phần trăm, nghĩa là 6,75 phần trăm tổng số thu-hoạch cho Ðảng. Tổng cộng là 51,75 phần trăm của thu-hoạch. Nhưng đây mới chỉ là trường hợp những “phú-nông” tự cày cấy lấy ruộng. Những địa-chủ cho thuê ruộng lấy tô phải đóng thêm 25 phần trăm, nghĩa là phải nhân 51,75 với 1,25 thành 64,68 phần trăm. Ðấy là mức thuế cao nhất.

Tuy nhiên đấy mới chỉ là nguyên tắc đại cương. Thực ra thuế nông-nghiệp còn nhiều điều khoản rắc rối hơn. Ðể cho rõ ràng hơn, chúng tôi xin trình bầy hai trường hợp điển hình, thuế của một bần-nông (bậc 2) và thuế của một địa-chủ (bậc 41). Tuy chỉ là giả dụ cho rõ hiểu cách tính, chúng tôi cũng cố ý đưa ra những con số về diện-tích và về sản-lượng hết sức xát thực-tế để độc-giả có thể quan-niệm đúng-đắn về đời sống dân-quê Bắc-Việt và ảnh-hưởng của thuế nông-nghiệp đối với họ như thế nào.

Trường-hợp A

Giáp là một bần-nông có 5 sào đất mà vợ chồng anh cày cầy lấy. Anh có vợ và hai con nên được tính là có bốn “nhân khẩu”. Với 5 sào ruộng, mỗi năm Giáp thu hoạch được 400 kilô thóc. Bây giờ tỉ dụ cán-bộ cũng công nhận là anh thu được 400 kilô (không bắt bình cao hơn như thường lệ), thì muốn tính xem anh thuộc vào bực nào, phải đem 400 kilô chia cho 4 nhân khẩu. Mỗi nhân khẩu được 100 kilô. Vậy chiếu theo bản thuế, gia-đình Giáp đứng vào bậc 2, tỷ-lệ thuế là 6 phần trăm.

Giáp phải nộp cho chính-phủ 6 phần trăm của 400 kg, tức là : 24 kilô

Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 24 kg, tức là : 3,6 kilô

Tổng cộng : 27,6 kilô

Giáp còn lại 327,4 kilô thóc để nuôi bốn miệng ăn trong suốt một năm. Tính 100 kilô thóc xay được 65 kilô gạo, Giáp có 242 kilô gạo để ăn trong một năm, nghĩa là mỗi ngày 665 gam để nuôi bốn miệng ăn. Người nông dân Việt-Nam trung bình ăn mỗi ngày 500 gam vị chi trừ một số ít phú-nông địa-chủ là có ít nhiều thịt cá, còn bần nông chỉ lấy cơm làm no bụng. Về vụ gặt hái, làm lụng vất vả nông dân Bắc-Việt có thể ăn một kilô gạo một ngày vì họ ăn đến ba bữa cật lực. Tỉ-dụ kể trên chứng tỏ một bần nông kiếm không đủ gạo buôi thân vẫn phải nộp thuế cho Ðảng và cho chính-phủ.

Trường-hợp B

Cụ Bính là một địa-chủ vì cụ có 15 mẫu ruộng. Cả cụ ông lẫn cụ bà đều già nua tuổi tác, có hai người con nhưng một người đi bộ-đội và một người làm cán-bộ mậu-dịch nên không có nhà. Vì không cày cấy lấy được nên ruộng phải cho tá-điền làm thuê, mỗi mẫu lấy 400 kilô thóc (rẽ đôi), nghĩa là 6.000 kilô tất cả. Tuy gia-đình cụ Bính có bốn miệng ăn, nhưng chỉ được coi là có ba nhân khẩu, vì người con đi bộ-đội được tính là một nhân khẩu, còn người con làm cán-bộ, có lương, thì không được tính. Mang 6.000 kilô chia cho 3, thành ra mỗi nhân khẩu được 2000 kilô, như vậy là gia-đình cụ Bính được xếp vào bực 41, loại cao nhất. Thuế của cụ tính như sau:

Nộp cho chính-phủ 45 phần trăm của 6.000 kg : 2.700 kg
Nộp cho Ðảng 15 phần trăm của 2.700 kg : 405 kg
Tổng cộng : 3.105 kg
Nhưng vì cụ Bính không tự cày cấy lấy ruộng và tất cả lợi tức của cụ là do “bóc lột” tá-điền mà có, nên thuế của cụ phải tăng thêm 25 phần trăm. Như vậy thuế của cụ sẽ là : 3.105 kg x 1,25 = 3.881 kg 250, nghĩa là 64,68 phần trăm tổng-số thu-hoạch. Cụ còn lại 2.118 kg 750 thóc, tương đương với 1376 kg gạo.

Tạm định là hai cụ già ăn mỗi ngày hết 1 kg gạo, tức 365 kg mỗi năm, thì còn thừa 1.011 kg gạo để bán đi mua măm muối, rau cỏ và chi tiêu các món khác là vừa vặn, chưa nói đến may mặc và thỉnh thoảng phảI mua cho con bút máy, đồng hồ mà cán-bộ và bộ-đội vẫn thường vòi vĩnh bố mẹ, hoặc đôi khi phải thay trâu bò cày ( bán con già mua con non ) cho tá-điền.

Tính thuế theo kiểu trên đây mới là giả-dụ thu-hoạch của gia-đình cụ Bính được “bình” đúng mức, nhưng thực tế thì không mấy khi như vậy. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, muốn tính thuế phải nhận diện-tích ruộng với sản-lượng mỗi mẫu, nhưng cả hai con số này bao giờ cũng bị “kích” lên quá lố.

Về diện-tích thì đáng lẽ không cần phải “bình” vì hầu hết mọi nơi, Pháp đã đạc-điền nên chỉ việc xem “trích-lục” ruộng là biết rõ diện-tích mỗi thửa một cách rất chính-xác. Nhưng cán-bộ không bao giờ công-nhận những con số trong trích-lục và nhất định bắt nhân dân phải “bình” lại, để đưa ra một con số lớn hơn. Người ngoại cuộc không thể nào chấp nhận được lối làm việc phi-lý như vậy, nhưng cán bộ cộng-sản nhất định cho rằng chỉ có “bình” mới đúng, vì “nhân dân rất sáng suốt, không bao giờ bình sai cả”. Tỉ-dụ, một nông dân có một mẫu ruộng, khai là một mẫu, nhưng cán-bộ xui cốt-cán1 đồng thanh nói là thửa ruộng ấy rộng 1 mẫu rưỡi. Chủ ruộng không có thể cãi và không giám mang trích-lục ra đối chiếu vì biết1 Cốt cán là những nông-đân theo Ðảng và làm việc cho Ðảng, chưa được thu-nhập vào Ðảng. trước là nếu có chìa trích-lục ra thì thể-tất cán-bộ sẽ bĩu môi nói : “Ngày xưa Pháp và bọn đặc-điền ăn tiền nên đề láo, chỉ có nhân dân mới ước lượng đúng mức”. Việc “kích” diện tích ruộng cao hơn, không phải chỉ nhằm phá sản một mình giai cấp địa-chủ, mà chính-thực là muốn bần-cùng-hóa toàn thể nông-thôn.

Bốn năm sau, trong dịp “Sửa Sai”, Việt Cộng hạ thấp tất cả sản lượng xuống một bực. Việc này chứng tỏ, trong bốn năm đầu, Việt Cộng đã chủ trương làm kiệt quệ toàn dân để khiến mọi người trở thành dễ sai dễ bảo, và không có điều kiện nổi loạn. Tục-ngữ Việt-Nam có câu “lạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Hết tiền, hết gạo, mọi người phải an phận chịu đựng. Ðoạn văn sau đây, trích trong tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng Lao-Ðộng, phơi bầy tất cả mánh lới mà Việt Cộng đã dùng để “kích” thêm diện-tích ruộng:

“Khi điều chỉnh diện tích , cán-bộ đội “Tô-Hiệu” đã gò nhân dân tự báo diện tích tăng từ 10 đến 25 %. Nhà chị Tèo, trung nông, có 1 mẫu, 9 sào ruộng, phải báo đi báo lại đến 4 lần, tăng lên thành 2 mẫu 5 sào, cán bộ mới nhận là đúng. Ông Quân phú nông, có 5 mẫu, nghe phong thanh có người bảo “không báo đúng sẽ bị tịch thu tài sản” sợ, nên phải báo lên thành 6 mẫu. Có cốt-cán biết cán bộ dùng mình làm “điển hình” để gò ép quần chúng, nhưng không giám phản đối. Sau này chị Tít đã thú thật : “Tôi ngượng vớI nhân dân quá, nhưng chị đội1 cứ “bồi-dưỡng” 2 thành ra phải nói dối.”
NGUYỄN-ỨNG-CHIÊM
Báo Nhân Dân, số 903, ngày 24-8-1956

Cộng-sản dùng cốt-cán để bắt nông-dân phải khai tăng diện-tích ruộng, rồi lại bắt họ phải khai tăng cả sản-lượng mỗi mẫu hoặc mỗi sào. Tỉ-dụ, một trung-nông có một mẫu và gặt được 800 kilô thóc, và khai là gặt được 80 kilô hoặc ít hơn một chút. Cán-bộ cộng-sản không nhận là đúng và xui cốt-cán khai giữa cuộc họp là anh ta có 2 sào cũng ở cánh đồng ấy mà anh ta gặt được 240 kilô, ngụ ý rằng nếu có 1 mẫu thì phải gặt được 1.200 kilô. Người có một mẫu ruộng phải câm miệng, không giám cãi.

Ðoạn văn sau đây trích trong một thiên phóng-sự điều tra của báo Thời Mới về chiến dịch Sửa Sai chứng tỏ Ðảng đã dùng cốt-cán làm nội-công để buộc nông-dân phải nhận sản-lượng cao như thế nào:

“Ðến phần điều-chỉnh sản-lượng càng lắm ý-kiến bàn cãi. Cùng một khoảng ruộng, người thì nói nhà tôi gặt được 3 thúng, người thì nói chỉ gặt được thúng… Ông Biểu, một trung-nông ở thôn Miễu, đỏ mặt tía tai ở hội-nghị xóm : “Ruộng hạng A ở làng này chỉ 100 cân là hết nước, dự-kiến 130 thì định đánh cả thóc rơm, thóc lép hay sao ? Cải-cách đã sai rồi bây giờ lại theo như Cải-cách thì sửa sai cái gì ?” Mọi người nhao nhao đồng ý. Anh em ban thuế thôn ngồi thừ, không ai nói gì.”
Thời Mới, ngày 19-4-1957

Vì cả diện-tích ruộng lẫn sản-lượng đơn-vị đều bị kích lên nên con số thu-hoạch tăng lên quá chừng. Kết quả là, thường khi một bần-nông chỉ gặt được 100 kilô phải nhận là gặt được 200 kilô, để chịu thuế tính theo 200 kilô. Số thuế sẽ tăng quá gấp đôi vì 100 kilô chỉ phải đóng 6 phần trăm mà 200 kilô phải đóng tới 10 phần trăm. Kết quả là tuy chính-quyền Việt Minh tuyên bố chỉ thu 20 phần trăm hoa-lợi của nhân dân, thực ra đã thu quá 40 phần trăm.

Với chính-sách thuế khóa như vậy, trung-nông có 5,7 sào thường phải đóng cho chính-phủ nhiều hơn ngày trước tá-điền phải đóng địa-tô cho địa-chủ. Chính-phủ thu thuế nông-nghiệp một năm hai lần, ngay sau khi gặt chiêm và gặt mùa, mà phải nộp hoàn toàn bằng thóc. Những thửa ruộng trồng hoa mầu khác hoặc trồng cây ăn quả vẫn phải nộp thuế bằng thóc; nộp tiền chính phủ cũng không chịu. Nền nhà và sân, dù là sân gạch, nếu rộng quá một mẫu cũng phải chịu thuế nông-nghiệp như ruộng lúa. Có ngườI phá sân làm ruộng để lấy lúa nộp thuế, nhưng bị quy tội là đã “phá-hoại tài sản của nhân dân”.

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem
Phần1 Cái vinh & cái nhục của một tiểu nhược quốcPhần2  Nước Mất Lại Còn

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản : Phần 5: CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT

Chương 14: Chiến-dịch Giảm-tô

Hoàng-văn-Chí – Bản dịch của Mạc-Định

Từ Thực-dân Ðến Cộng-sản  
• Hoàng-văn-Chí

From Colonialism To Communism
Một Kinh-nghiệm Lịch-sử Của Việt-nam

• Bản dịch của Mạc-Định

—— o0o ——

PHẦN 5

CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT
“Muốn chữa một tình trạng bất công thì
vượt qua giới-hạn của công-bằng”.

Mao-Trạch-Ðông
(Bá-cáo về vụ Nông-dân bạo động tại Hồ-Nam)

 

Chương 14

CHIẾN-DỊCH GIẢM-TÔ

Vài tháng sau cuộc “Ðấu tranh Chính-trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung-quốc giả dạng làm nông-dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa-phương mách mối họ làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà (mà không lấy công), cùng ăn với chủ nhà (nhưng góp phần mình), và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán-bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán-bộ ngủ với ông chồng.

Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông-dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi công việc, cày bừa hoặc gặt hái, tùy theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh khổ cực của mình. Chẳng bao lâu người nông-dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. Tỉ dụ trường hợp một anh nông-dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán-bộ giải-thích ngay rằng : “Giá anh không bị tên địa-chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh !”. Tóm lại, theo cán-bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông-dân đã phải chịu đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa-chủ lang sói.

Ðấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà. Sau đó họ bày vẽ cho nông-dân biết rằng chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Ðảng, đứng vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa-chủ cường hào ác bá trong làng. Công-tác tích-cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông-dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn-sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông-dân được giác ngộ gọi là cái “rễ”, và công-tác kể trên được gọi là “bắt rễ”. Tới giai đoạn này, người cán-bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miệt trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán-bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh, mà anh cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián-điệp thường xuyên. Anh cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v…, được gọi là “cốt-cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình két nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra. “Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán-bộ khác, đang công-tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt-cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình-trạng sở-hữu ruộng-đất và tài-sản, thái-độ chínhtrị, hoạt-động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một (Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục-đích đặc biệt : người đàn bà nào thời còn là con gái, có “dính líu” với một địa-chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa-chủ kia “hãm hiếp”). Sau vài ba tháng hoạt-động như vậy, người cán-bộ thu-thập được đầy đủ chi-tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo-cáo trước một phiên họp bí-mật của Ðoàn Cải-cách

Ruộng-đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Ðoàn, anh cán-bộ đề nghị qui định thành-phần cho tất cả dân làng, đặc-biệt là thành phần địa-chủ, và gán cho người nào những “tội” gì ?

Tới lúc đó Ðội Cải-cách Ruộng-đất mới ra mắt công khai, Ủy-ban hành chính xã và chi-bộ Ðảng ở xã tức thì bị giải tán. “Ðội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội công-an mới gồm toàn nông-dân cốt án, và ra lệnh phong tỏa làng. Thường thường mỗi làng ở Bắc-Việt có một lũy tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác xuốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Ðội Cải-cách Ruộng-đất. Ðội liên lạc với Ðoàn bằng một đường giây điện-thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre còn đang xanh mang giây điện-thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu giây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường giây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng. Chiến-dịch chính-thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước liên tiếp, mà bước cuối cùng là “phiên xử án”.

Bước 1: Phân-định Thành-phần

Nông-dân thuộc thành-phần bản-bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc-biệt để học cách phân-định thành phần tất cả dân làng. Những tài-liệu học tập gồm có bản Ðiều lệ Phân-định Thành-phần ở Nông-thôn, các văn-kiện về thể-thức áp-dụng bản điều-lệ này cùng những tiêu-chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu-chuẩn khác nhau mà báo-chí cộng-sản không hề nói đến. Thí dụ trong một tỉnh, những tiêu-chuẩn phân-định các loại trung nông như sau :

a) Trung nông cứng : Những trung nông có một con bò, một con heo và một đàn gà.

b) Trung nông vừa : Những trung nông có một con heo và một đàn gà.

c) Trung nông yếu : Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết.

Không những tiêu-chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích-cực học-tập và “bình-nghị dân-chủ”, các học viên biểu-quyết một bản phân-định thành-phần mà thường thường là in hệt tài-liệu cán-bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo-luận mọi người đều chấp-thuận ý-kiến của cán-bộ. Ðiều này chẳng cógì lạ vì thực-tế chứng tỏ cán-bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng.

Bước 2 : Phân loại địa-chủ

Ngay sau khi Ðội Cải-cách Ruộng-đất (thường gọi tắt là Ðội Cải-cách, hoặc Ðội) ra mắt công-khai, tức là mười ngày trước khi thành-lập danh-sách địa-chủ, những người sẽ bị quy là địa-chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt-cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa-chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau.

Trên lý-thuyết và theo lời ông Trường-chinh tuyên-bố trong bản bá-cáo của ông thì có ba loại địa-chủ chính: địa-chủ việt-gian phản-động, cường-hào, gian ác, địa-chủ thường và địa-chủ kháng-chiến. Ngoài ra còn một loại nữa gọi là “nhân-sĩ tiến-bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan-lại hiện được cộng-sản trọng dụng, như các ông Hồ-đắc Ðiềm, Phan-kế-Toại, vân vân… Nhưng trên thực-tế loại thứ hai và thứ ba không hề có. Tất cả mọi địa-chủ, không trừ một ai, đều bị quy vào loại “địa-chủ việt-gian phản-động”. Như đã trình bày ở trên, tất cả các địa-chủ còn ở lại vùng kháng-chiến cho đến năm 1953, dù muốn dù không, đều có tham-gia ít nhiều vào công-cuộc kháng-chiến vi chính-sách của cộng-sản là tuyệt-đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công-tác”. Thanh-niên và những người tráng-kiện thì gia-nhập quân-đội hoặc làm cán-bộ chính-quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh. Những người tuổi tác thì tham-gia những tổ-chức bù-nhìn như “Phụ lão Cứu Quốc”, “Mặt trận LiênViệt” vân vân… Mọi người đã tham-gia kháng-chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa-chủ kháng-chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa-chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông-dân. Ðành rằng họ có “bóc lột” nông-dân bằng cách cho nông-dân thuê ruộng lấy tô nhưng họ lý-luận rằng đấy chẳng qua là tính-chất của chế-độ cũ, và từ ngày lên cầm chính quyền, cộng-sản cũng vẫn dung túng lối “bóc lột” đó trong bao nhiêu năm rồi. Nhưng đến khi chiến-dịch Cải-cách Ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “việt-gian phản-động” và bị tố đủ thứ tội. Ngay cả những người tích-cực phục-vụ chính-quyền kháng chiến và đã được ông Hô-chí-minh tuyên-dương công trạng cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ-quan của Ðảng và chính-phủ để phá-hoại Cách-mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông-dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa-chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ để lên án địa-chủ đó là việt-gian, làm gián-điệp cho Pháp.

Loại địa-chủ này, cũng gọi là địa-chủ đầu xỏ, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B và C. Cán-bộ không tuyên bố cho địa-chủ biết là họ bị xếp vào hạng này nhưng chỉ cần một chút thông minh cũng đoán biết ngay. Nếu đám biểu-tình hô “Ðả đảo tên địa-chủ X, việt-gian phản-động cường-hào, gian-ác !” (4 danh-từ kèm theo chữ “địa-chủ”) thì có thể biết chắc X là địa-chủ hạng A. Nếu đám biểu-tình chỉ hô “Ðả đảo tên địa-chủ Y cường-hào gian-ác!” (2 danh-từ) thì chắc chắn Y là địa-chủ hạng B. Còn nếu họ chỉ hô : “Ðả đảo tên Z địa chủ ngoan-cố !” (1 đanh-từ) thì Z thuộc hạng C. Mỗi hạng sẽ có một số-phận khác nhau. Ðịa-chủ hạng A bị đưa đến một trại giam tạm-thời, thiết-lập tại một làng kế cận, và những người “nguy-hiểm” nhất trong cùng hạng có thể bị nhốt trong một cái cũi gỗ, in hệt cũi nhốt thú dữ. Ðịa-chủ hạng B phải đi dự một lối cải-tạo đặc-biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục-đích của lớp cải-tạo này là khủng-bố tinh-thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn dấu vàng bạc. Họ bị khủng-bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẳn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán-bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ dấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông-hội. Ngoài ra họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền nông. Họ khai ra người nào thì lập tức Ðội Cải-cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho Nông-hội. Vì địa-chủ mất tinh-thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương-gia tự-nhiên bị “vạ vịt”, mất sạch cơ-nghiệp dù không có liên-quan trực-tiếp đến Cải-cách Ruộng-đất. Ðịa-chủ hạng C bị giữ trong một nhà nông-dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công-an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác.

Một điều đáng chú ý là việc quy-định thành-phần lúc nào cũng chỉ có tính-cách tạm-thời, và địa-chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tùy theo thái-độ của đương-sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Vì cán-bộ có giao hẹn trước, rõ ràng như vậy, nên phần đông các địa-chủ tỏ ra khúm núm và sợ sệt. Nhưng vì Ðảng đã ấn-định một số tử hình tối-thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa-chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử. Nhưng nói chung, khúm núm vẫn có lợi hơn là bướng bỉnh, và người dân Việt, đã từng biết phải khúm núm như thế nào đối với quan lại và thực-dân, nên sớm nhận thấy giờ đây họ còn phải khúm núm hơn nữa đối với “giai-cấp mới”.

Bước 3 : Tống-tiền công-khai

Sau khi chủ gia-đình bị bắt và điệu đi, cán-bộ Ðội Cải-cách gọi vợ con địa-chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức-khắc một số tiền gọi là “thoái tô”, hoặc nợ nông-dân. Trước đấy bốn năm năm, chính-quyền cộng-sản có ra một thông cáo buộc địa-chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng-chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và sau khi ban hành bản thông-cáo, chính-quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, Nông-hội cho rằng tất cả địa-chủ đều không tuân luật và đòi gia-đình địa-chủ phải “thoái tô”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm. Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo thông cáo hoặc sợ chế-độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng-đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên-lai, sổ sách. Dù sao đi nữa bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa-chủ đều phải nhận “trả”. Số “thoái tô” phải mang nộp cho Nông-hội, một tổ-chức do Ðội Cải-cách thành lập để núp sau ra lệnh.

Cán-bộ Cải-cách thường phán như sau : “Anh em nông-dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng !” Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa-chủ phải ký nhận. Việc “đòi nợ” này còn một vài điểm đáng chú ý.

Theo cán-bộ thì “số nợ” được tính theo lời khai của mỗi tá-điền cộng lại, nhưng thực ra thì cán-bộ không hề để ý tới lời khai của ai cả, và cũng không hề làm tính cộng. Việc bắt tá-điền khai báo là chỉ cốt để có cớ “đòi nợ”. Còn số “nợ” là do cán-bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về khả năng có thể trả được của mỗi địa-chủ : liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ-trang, vân vân… và bao giờ cũng ấn-định một mức tối đa. Mục-đích của “thoái tô” là làm cho địa-chủ và gia-đình chỉ còn hai bàn tay trắng, trừ ruộng-đất, nhà cửa và đồ đạc trong nhà. Những thứ này không thể thoát đi đâu được và sẽ bị tịch thu trong chiến-dịch sau. Việc làm cho toàn thể giai-cấp địa-chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi mọi cách “văn hoa” là “làm giảm uy-thế kinh-tế của địa-chủ”. Chủ tâm bần cùng hóa địa-chủ cho tới mức-độ cuối cùng biểu hiện trong việc tăng giảm số “nợ” tùy theo khả năng tột bực của “con nợ”. Nếu địa-chủ hoặc gia-đình địa-chủ trả hết số “nợ” trong thời-gian hạn-định thì thế nào cán-bộ cũng dở giọng nói : “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… (thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước). Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ-hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố-gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa khất vừa nần nì để chứng tỏ cả thiện-chí lẫn sự bất-lực của mình, thì cán-bộ có thể bớt lần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Không phải vì cán-bộ thương tình nhưng vì Ðảng muốn tỏ cho nhân dân biết quả thực đã có nhiều địa-chủ trả đủ số nợ, việc đòi nợ hợp tình hợp lý và con số nợ cũng đúng với khả năng địa-chủ. Nhưng nếu địa-chủ cứ ì ra, không trả gì hết hoặc chỉ trả một số không đáng kể hoặc vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên, không tăng không giảm. Trong trường-hợp ấy, đòi nợ không còn là vấn-đề nữa, và địa-chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn.

Trong khi địa-chủ phải chạy tiền trả nợ . hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc . thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì. Tất cả từ nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân-dân. Những thức này sẽ bị tịch-thu sau, nên địa-chủ không được phép bán. Mục-đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thức địa-chủ có mà có thể giấu được . như tiền mặt, vàng bạc, v.v… Mỗi khi địa-chủ, hoặc vợ địa-chủ chậm trả thì Nông-hội phái một nhóm hội-viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc dục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như : “Ðôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi ?” (đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc : “Mày bảo mày không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết ?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước).

Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa-chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa-chủ ngoan cố”. Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi và đứa nào cũng bị dọa nạt cho tới khi chúng cung khai đúng hoặc không đúng . những nơi cha mẹ chúng chôn dấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu, hễ chúng khai chỗ nào là cốt-cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy. Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa-chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông-dân, sau trận đấu tố, được lĩnh nhà địa-chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nền nhà cho bằng phẳng.

Bước 4 : Tố Khổ

Trong khi địa-chủ bị “tống-tiền” một cách hợp-pháp thì nông-dân được triệu-tập đi học một lớp đặc-biệt về “Tội ác của giai-cấp địa-chủ”. Mục-đích của lớp học là giảng cho nông-dân hiểu địa-chủ đã phỉnh-phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp-bức họ như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình ít nhất là một tội đối với mình. Ðể ôn lại trí nhớ cho nông-dân, giảng-viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu-thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông-dân trước kia vẫn từ-tốn đối với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng-viên đã đọc cho họ nghe.

Những người “tố khổ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm có những người mong có địa-vị trong chế-độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là của lấy của địa-chủ chia cho nông-dân. Họ tố hăng vì Ðội Cải-cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích-cực đấu-tranh sẽ được kết nạp vào các tổ-chức của Ðảng”.

Loại thứ hai gồm những người cầu an bảo mạng, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập-trường với giai-cấp địa-chủ” và đứng hẳn “về phe Ðảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử thành-tích bất hảo, trước kia có phạm một tội nào đó mà cán-bộ làm ngơ chưa hỏi đến. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa-chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu-diệt. Ðoạn văn sau đây, trích ở tờ Thời Mới, số 8 tháng 5, 1957, nói lên sự thông-đồng giữa bố mẹ và con cái về việc con cái “tố khổ” chính bố mẹ mình.

CỨ TỐ HĂNG VÀO
… Sau khi “Ðội” (Cải-cách) rút, người con dâu đi kể lể với bà con hàng xóm rằng :
- Tôi nào có phải là hạng xấp mặt lên tố bố mẹ chồng. Khi “Ðội” người ta phát-hiện (quy là địa-chủ) rồi, thì hai mẹ con thì thầm suốt đêm. Tôi định ra kêu với “Ðội”, nhưng bà cháu cứ gàn đi :
“Tao già bảy, tám mươi rồi, có lên địa-chủ thì cũng gần kề miệng lỗ. Mày mà kêu thì chả tránh khỏi tiếng liên quan, rồi thì cả hai mẹ con tay trắng. Mày cứ tố hăng vào để giữ lấy số ruộng mà cày…”

Loại thứ ba là những người tố chỉ vì sợ hãi. Tuy địa-chủ là mục-tiêu chính nhưng nhiều người dù không có ruộng-đất cũng có thể bị quy là địa-chủ, hoặc có liên-quan với địa-chủ, nếu cán-bộ xét thấy họ có “tư-tưởng địa-chủ”. Liên-quan là một danh từ rất mơ hồ, có nghĩa là quyến thuộc, bạn bè, hoặc chỉ là chỗ quen biết, lui tới. Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, ngày 2 tháng 6 năm 1956, nói rõ dân-chúng sợ bị quy là liên-quan tới mức nào :

VỢ CHỒNG TÔI TỪ NAY THẬT HẾT LO
… Mọi người đang đứng quanh xem giỏ tép của anh Tý vừa đơm đó ở đồng về, nghe nói đến chuyện liên-quan đều quay lại. Bà Bền tiếp luôn : Bà con hàng xóm láng giềng ai còn lạ gì nhà tôi, mấy đời khổ cực, phiêu bạt ra giữa cánh đồng, vợ chồng già ngày đêm đơm đó kiếm ăn. Mong đợi mãi, Ðội Cải-cách Ruộng-đất về làng, vợ chồng tôi được kết nạp vào Nông-hội. Thế rồi hôm họp xóm, ông Bền nhà tôi được cử làm đại-biểu đi dự đại-hội nông-dân xã. Chả biết đầu đuôi thế nào đang dự đại-hội, ông cụ nhà tôi bỏ về, trông như người mất hồn, mấy ngày đêm liền không ăn không ngủ. Tôi gặng mãi ông cụ chỉ nói : “Thế là khổ tao, bà mày tính thế nào chớ không thì nguy lắm”. Rồi có đến hàng tháng ông ấy không dám đi họp hành gì cả, cứ nằm lần thần bấm đốt ngón tay; nào là ” nhà ta một thằng rể, có họ hàng với địa-chủ nữa. Thế là liên-quan nhất định liên-quan rồi”.
Một người hỏi : “Thế bà có sợ liên-quan không ?”
Bà Bền cười : “Anh bảo ai không sợ mới thật là tài…”
… Ðứng dậy ra đi, bà còn nói thêm một câu : “Vợ chồng nhà tôi từ nay mới thật hết sợ liên-quan.”
Một người mỉm cười nhìn theo bà nói : “Chả phải mình bà sợ, xóm tôi khối người lo sợ như thế !..”

Có ba loại liên-quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau :

1. . Loại có “liên quan nặng” với địa-chủ, gồm những người “có tư-tưởng địa-chủ”, có thái-độ bênh-vực địa-chủ. Những người này sẽ bị đối xử in hệt địa-chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vòng pháp-luật, bị bao vây kinh-tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết.

2. – Loại có “liên-quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa-chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia-đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên-quan vừa” với địa-chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng.

3. . Loại có “liên-quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập-trường đối với địa-chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông-hội. Sau khi giai-cấp địa-chủ bị tiêu-diệt thì chỉ có Nông-hội là nơi mà nông-dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông-hội. Mặc dù những hình-phạt ghê gớm kể trên, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố” những người cùng làng bị quy là địa-chủ. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép hoặc phỉnh phờ vì, dù ít học, họ cũng tiêm nhiễm ít nhiều luân thường đạo-lý, và ở Việt-nam cũng như ở khắp mọi nơi, tố cáo người khác vẫn bị coi là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác. Trong phong trào Trăm Hoa Ðua Nở, Phùng-Quán đã làm một bài thơ đả-kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan-đề “Lời Mẹ Dặn” có mấy câu như sau :

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai ngon ngọt nuông chìu
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Báo Văn số 21, ngày 27-9-1957

Vì bài thơ kể trên Phùng-Quán bị đưa lên mạn ngược “học-tập lao-động” cùng với nhiều văn-nghệ-sĩ khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao.

Bước 5 : Ðấu Ðịa-Chủ

Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa-chủ, những người được chỉ-định ra “đấu-trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Ðấu địa-chủ là “trò” then chốt của cả chiến-dịch, nên cần phải chuẩn-bị hết sức chu đáo. In hệt các diễn-viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân-khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện-tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán-giả có cảm-tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa-chủ là có thực. Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, dã gạo, vừa lắp đi lắp lại một câu để thuộc lòng. Ðóng vai trò “đạo diễn” cán-bộ phụ-trách còn bày vẽ giáng-điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa-chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc. Sau khi chuẩn-bị đầy đủ, Ðội công-tác Cải-cách Rưộng-đất công bố ngày “đấu”.

Vì có ba hạng địa-chủ, A, B và C, nên cũng có ba loại đấu.

Ðịa-chủ hạng A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành-chính gồm từ mười đến mười lăm làng.

Ðịa-chủ hạng B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa-chủ hạng A, nhưng tương-đối nhẹ hơn.

Ðịa-chủ hạng C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông-dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi nào tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng-kê các tội ác mà các tá-điền . chỉ có tá-điền của địa-chủ mới được dự cuộc đấu này . đã “tố” cho họ. Nghe xong, địa-chủ phải tuyêp-bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa-chủ phải ký tên vào biên-bản buổi họp. Ðảng giải-thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Ðảng muốn khoan-hồng đối với những “phản-động phụ”, những phần-tử mà Ðảng còn hy-vọng cải hoán được. Vì còn hy-vọng họ sẽ cải hoán nên Ðảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họï, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý-do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa-chủ hạng C là những người buôn bán ở thành-thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng là “bỏ làng”. Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực-tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Ðảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sụ người tố có thể ấp-úng, làm mất uy-tín “anh em nông-dân” và gián-tiếp mất uy-tín Ðảng. Vì vậy nên Ðảng tổ-chức “đấu lưng”, giấu địa-chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Chỉ có tá-điền nói cho tá-điền nghe nên dù họ có ấp-úng, ngượng ngùng cũng chẳng sao. Thật vậy đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa-chủ, khi thấy nông-dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười.

Mỗi lần đấu một địa-chủ hạng A thì toàn thể nhân-dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa-chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa-chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cầy vì một khi ngồi vào chỗ trong hội-trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại. Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Ðịa-chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm tay hô “Ðả đảo !”.

Mọi cuộc đấu đều tổ-chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn. Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới có 14 “thư ký” ngồi, 13 người là bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa đoàn gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ-tịch nông-hội làm chủ-tọa cuộc họp và một phụ-nữ đóng vai công-an trưởng. (Tác-giả nhận thấy vai trò công-an trưởng bao giờ cũng do phụ-nữ đóng, trong năm cuộc đấu tác-giả có dịp tham dự. Tác-giả có cảm-tưởng Ðảng dành vai trò này, có tính cách hống hách, cho phụ-nữ để đề cao uy quyền chính-trị của phụ-nữ trước công chúng). Người đàn-bà này chỉ huy tự-vệ xã, và cứ năm phút một lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, dơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v… Trên tầng cao nhất của khán-đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ-chí-Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao-Trạch-Ðông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh-tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán-đài là những biểu-ngữ rất lớn mang những khẩu-hiệu như “Phóng tay phát-động quần-chúng đấu-tranh giảm tô (hoặc đấu-tranh Cải-cách Ruộng-đất)”, và “Ðả đảo tên địa-chủ… việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác”. Trong thời-kỳ kháng-chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ-chức về đêm để tránh máy bay oanh-tạc. Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng trong ác mộng. Người tham dự có cảm-tưởng chứng-kiến một cảnh quỷ-sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa-ngục. Khán-đài soi sáng bằng đèn điện. Ðôi khi có máy phá điện nhỏ nhưng thường là di-na-mô xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán-đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán-bộ Ðội Cải-cách Ruộng-đất nấp phía sau khán-đài để nhắc và ra lệnh cho chủ-tọa đoàn. Ðôi khi có cố-vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ. Chủ-tịch chủ-tọa đoàn khai-mạc hội-nghị và tuyên-bố lý-do cuộc họp. Sau đó là một bài thuyết trình về ý-nghĩa và sự cần-thiết của cuộc đấu-tranh chống địa-chủ ; đại-khái là vai trò chính-yếu của nông-dân trong kháng-chiến, tính cách bội-phản của giai-cấp địa-chủ, v.v… Sau đó người đàn bà giữ chức công-an trưởng ra lệnh cho tự-vệ xã lôi tên địa-chủ việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác ra để “anh chị em nông-dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng-thanh hô : “Ðả đảo thằng việt-gian, phản-động, cường-hào, gian-ác (tên họ người địa-chủ bị lôi ra)”. Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán-đài. Phía trước khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán-giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông.

Ðịa-chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục gia-tô giáo, hoặc một hòa-thượng phật-giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu-sĩ hoặc áo nhà chùa). Cộng-sản thanh-minh rằng đương-sự bị đấu với tư-cách cá nhân là địa-chủ, không dính dáng gì về tôn-giáo nên không cho mặc áo tôn-giáo, nhưng sự-thực thì cộng-sản cố ý tránh quang cảnh một cuộc khủng-bố tôn-giáo công-khai và quá lộ liễu.

Chủ-tịch chủ-tọa đoàn gọi “anh chị em nông-dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa-chủ, hỏi : “Mày có nhớ tao là ai không ?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn : “tao là. . . ở làng. . . đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong. . . năm”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “mày có nhớ tao là ai không” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu-sử” của mình. Cán-bộ bắt họ làm như vậy để công chúng biết qua loa về quan-hệ giữa người đấu và người bị đấu. Người ngồi xem nhớ lại những buổi diễn tuồng tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh : “Mỗ đây tên tự là… ” Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “việt-gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v… Ðiều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu ; hình như cán-bộ xui họ chửi rủa địa-chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy-tín” địa-chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”. Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản-ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm : “Ðả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị công-an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi. Mỗi người được phép tố địa-chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng-hồ, thì người địa-chủ bị điệu đến trước “thư-ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư-ký hý hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa-chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước.

Ðịa-chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Ðêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông-dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v… Ðêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh-phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa-chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu nguời đấu là đàn-bà). Ðêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Ðịa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông-dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng. Ðêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa-chủ về các tội có tính cách chính-trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ-chức phản-động, dò thám tin tức quân sự, nói với người này người kia rằng Pháp sẽ cho mình làm tỉnh-trưởng, huyện trưởng, v.v… Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến, cuối cùng, sẽ phải đưa ra tòa án nhân-dân đặc-biệt, kết án tử-hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa-chủ có khôn-ngoan đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Ðảng đã ấn-định một số tối thiểu phải chịu tử-hình tại mỗi xã. Ðúng ra thì Ðảng chỉ ấn-định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan-cố” thì số tử-hình có thể tăng thêm.

Thực ra thì Ðảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, vì phương châm của Ðảng là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Hơn nữa, nếu nhiều địa-chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có thể có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều là nói điêu. Trái lại nếu địa-chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông-dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Vì uy-tín của nông-dân và của Ðảng, nên Ðảng chỉ cần địa-chủ nhận tội và sẽ nới tay, không xử bắn quá mức ấn-định. Trong đợt đầu, nhiều địa-chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi-hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do Ðảng bày đặt ra và bắt mỗi người phải đóng một vai, không ai được phép trái ý Ðảng.

Ðịa-chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là : treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông-dân liếm đờm, ăn phân (chỉ khác nhau ở thứ phân : bò, gà, người v.v..), đốt nhà nông-dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết (bất cứ trước kia có đứa trẻ nào chết đuối thì bây giờ cũng là chết do địa-chủ dìm), bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông-dân, giết người (bất cứ ai chết bệnh cũng tố là do địa-chủ giết), hãm hiếp, v.v… Ðoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính thức của Ðảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự :

Ở xã Nghĩa-khê, thuộc tỉnh Bắc-Ninh, bọn địa-chủ tổ-chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài-liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông-dân. Ở Liễu-Sơn, chúng dùng một em thiếu-nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông-dân kịp ngăn được: Thâm độc hơn, ở Liễu-Hà, chúng cho mấy em thiếu-nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân-Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Ðức-Phong (Hà-Tỉnh) chúng mua bài tu-lơ-khơ (bài Trung-Cộng mang sang) cho các em mãi chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng.

Ðiều đáng chú ý là địa-chủ càng đạo-đức bao nhiêu, như thể linh-mục, hòa-thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp-dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa-chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa-chủ lên trước khán-đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con ; biết là bố thế nào cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để . theo lời cán-bộ . được quy là trung nông, và như vậy có hy-vọng sống yên nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa-chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu. Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết. Bác-sĩ Nguyễn-đình-Phát, chủ đồn-điền ở Phủ-Quỳ, Nghệ-An và đại-biểu Quốc Hội Việt Minh, đã bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn-điền của ông ta. Trong một buổi đấu tố cụ Cử Lê-trọng-Nhị, làng Cổ-Ðịnh, tỉnh Thanh-hóa, một lãnh tụ phong-trào Văn Thân năm 1907-8 đã từng bị đầy ra Côn đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố : “Mày có biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày ? Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp-dâm tao rồi tao sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng làm tính nhẫm và nhớ lại, hồi mụ này sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà-lim Côn đảo, cách xa hai nghìn cây số.

Có nhiều địa-chủ tỏ ra rất bình-tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ-An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại : “Xin anh em một viên đạn !” Ở Thanh-Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ : “Mày có nhớ tao là ai không ?” Ðịa-chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ ! Mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp của tao con gà”. Chủ-tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ-chức đấu lại, địa-chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ béo bổ khác, chè tầu, cà-phê. Ðịa-chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày hoặc ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau ba ngày đấu-tố, địa-chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân-dân đặc-biệt xét xử ? Trong khoảng thời gian đấu-tố, mỗi tỉnh xuất bản một tờ báo địa-phương lấy tên là “Lá Rừng” (ngụ ý tội ác của địa-chủ nhiều như là rừng) để tường thuật những vụ đấu tố trong toàn tỉnh. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan” nghĩa là về các làng có đấu tố để quan-sát chính-sách Cải-cách Ruộng-đất. Ðảng muốn họ đi sát với “anh em nông-dân” để am-tường nỗi khổ của anh em nông-dân và công-nhận chính-sách tiêu-diệt giai cấp địa-chủ của Ðảng là “hợp tính hợp lý”. Họ cũng “ba cùng” với nông-dân, nhưng chỉ được quan-sát, không được phát biểu ý kiến. Tuy-nhiên việc có mặt của họ cũng có phần lợi cho địa-chủ. Vì muốn tỏ cho họ thấy chính-sách của Ðảng rất đúng, nên cán-bộ cố gắng thận trọng hơn nên do đó, địa-chủ cũng được nới tay hơn. Một phần nào những người tới tham quan cũng là “thần bảo mạng của họ”.

Bước 6 : Xử án địa-chủ

Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc-biệt tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến-thức về luật-pháp và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công-cáo ủy-viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nôngd ân đã làm chủ-tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo thu một phần hoặc toàn bộ tài-sản. Tịch-thu tài-sản chỉ là một việc “lấy lệ”, vì dù tòa không tuyên án tịch-thu thì sau này, tới chiến-dịch Cải-cách Ruộng-đất đích thực, toàn-bộ tài sản của mỗi địa-chủ cũng sẽ bị tịch-thu.

Những người bị kêu án tử-hình bị bắn ngay sau khi tuyên án và hố chôn đã đào sẵn, trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên-bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to : “Hồ-chí-Minh muôn năm ! Ðảng Lao-động muôn năm !” thì thủ tục “tư-sản” này bị bãi bỏ. Từ đó về sau, hể tòa tuyên án tử-hình thì tức khắc một cán-bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi. Một điều đáng thương cho những người bị hành-quyết là những tự-vệ xã cầm súng bắn phần nhiều mới cầm súng lần đầu, nên bắn trật bậy trật bạ. Nhiều nạn nhân bị lôi đi chôn chưa chết hẳn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa-chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu-tình. Công-chúng vỗ tay hoan-hô khi nạn nhân ngã gục dưới lằn đạn. Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng-sản đối với địa-chủ cũng in hệt như vậy. Mang địa-chủ ra đấu-tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa-chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục-đích : thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín và gieo khiếp đảm vào trong tâm hồn toàn thể nhân-dân.

Cảì-cách Ruộng-đất còn một hình-thức khác cần phải nói tới là chính sách “cô-lập địa-chủ”. Số người chết vì chính-sách này còn đông gấp mười số người bị Tòa án Nhân-dân Ðặc-biệt kêu án tử-hình.

Chính-sách “Cô-lập địa-chủ”

Hễ bị quy là địa-chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa-chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến-dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến-dịch thứ hai, địa-chủ và gia-đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra ủy-ban có việc. Vì chính-sách “cô-lập” này, phần lớn gia-đình địa-chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau. Mục-đích của chính-sách vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu-diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông-thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống-kê về số người bị chết đói vì chính-sách “cô-lập địa-chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành-phần giai-cấp “địa-chủ” đã bị chết như vậy. Trong bài diễn văn đọc trước Ðại-hội Toàn quốc của Mặt-trận Tổ-quốc, luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường đã nói : “Trong khi đập tan giai-cấp địa-chủ, ta không phân-biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu-diệt”. Cũng về mục này Nguyễn-hữu-Ðang, Bộ-trưởng bộ Văn-hóa trong chính-phủ Việt-minh đầu tiên, đã viết trong báo Nhân-Văn như sau :

“Trong Cải-cách Ruộng-đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch-thu tài-sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu-nhi vô tội trong các gia-đình địa-chủ, hoặc chính là nông-dân bị quy sai thành-phần”.

Quả thực ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai-cấp địa-chủ không khác Ðức Quốc-xã diệt chủng người Do-Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do-Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách-nhiệm về quyết-định của họ trước công-luận và trước lịch sử. Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai-cấp địa-chủ một cái “chết tự nhiên”, không ai mang tiếng giết họ, bắt họ phải “bất đắc kỳ tử”. Ngay cả sau Cải-cách Ruộng-đất, nếu ốm đau, địa-chủ và thân-thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men, trong khi người Do-Thái dưới chế-độ Quốc-xã vẫn có bác-sĩ Do-Thái trông nom. Tình trạng này đã được luật-sư Nguyễn-mạnh-Tường tóm tắt như sau :

“Khi đưa tới bệnh-viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn-đề mang ra thảo luận trước tiên là : Bệnh-nhân thuộc thành-phần giai-cấp nào ? Chữa cho địa-chủ thì “mất lập-trường”. Ðể nó chết mới chứng minh mình có “lập-trường giai-cấp”.

Những địa-chủ còn sống sót tới phong-trào Sửa Sai . sau phong-trào hạ-bệ Stalin ở Nga . là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia-đình khỏi chết.

(còn tiếp)
 

Bài đã đăng: Mời quý bạn đọc bấm vào đây xem

Phần 1 Cái Vinh & Cái Nhục Của Một Tiểu Nhược Quốc

Phần 2 Nước Mất Lại Còn

Phần 3 Chuẩn Bị Thành Lập Chế Ðộ Ðộc Tài

Phần 4 Cải Tạo Tư Tưởng

Phần 5 Cải Cách Ruộng Đất
           
- Ðại cương về cải-cách ruộng-đất

May 17, 2008

Thư Ngỏ cuả TT Thích Quảng Ba gởi Ông Nguyễn Tấn Dũng

http://blog.360.yahoo.com/blog-GmX2jkElaaeeZdwlEqSVDM7.?p=20

The United Vietnamese Buddhist Congregation of Canberra & Surrounding Districts, Inc. [ABN 20 648 948 015]

SAKYAMUNI BUDDHIST CENTRE

Office: Van Hanh Monastery, 32 Archibald St, Lyneham ACT 2602 Australia. Email: quangba@tpg.com.au; Mob. 0412-224 553

 

Postal Address: PO box 1004 Dickson ACT 2602 Australia; Tel (02) Monastics: 6257 5517; Office: 6257 5280; Fax 6257 7733.

Thư Ngỏ

Kính gởi: Ông Nguyễn Tấn Dũng,

Thủ Tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Hà nội – Việt Nam.

http://www.chinhphu.vn/portal/page?pageid= 33,4074371&dad=portal&schema=PORTAL

Thưa ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tôi viết thư nầy để phản đối Chính phủ Việt Nam (CPVN) đã lạm dụng vị thế là quốc gia duy nhất xin -nên được giao, vì không có chọn lựa khác, khi Thailand ngưng bảo trợ sau 4 năm- tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hiệp quốc (UNDV) 2008 tại Hà nội, để rồi thay vì tuân hành, trân trọng những quy định và đòi hỏi của Ban Tổ Chức Quốc Tế (IOC), vốn do hảo ý của vị Trưởng Ban và Ban Tổ Chức UNDV cho những năm 2004-7 đã mời gọi và thành lập được, mục đích để cộng đồng Phật giáo quốc tế cùng nhau tổ chức ngày trọng đại nầy, thì CPVN của ông đã hoàn toàn khống chế, chủ động và chỉ đạo toàn bộ từ nội dung đến hình thức của UNDV 2008, và do dụng ý chính trị hóa Lễ hội mang tính văn hóa và tôn giáo nầy thúc đẩy, mặc nhiên CPVN của ông đã tước bỏ hầu hết mọi trách nhiệm và quyền hạn của IOC, trong đó chúng tôi là một Thành viên từ Úc đại lợi.

Chúng tôi cũng phản đối việc

-(1)- CPVN của ông lợi dụng vị thế bảo trợ để thay đổi toàn bộ phương cách, trách nhiệm, giảm thiểu tối đa quyền hạn tổ chức UNDV 2008, như vạch rõ trong Hiến Chế IOC (http://vesakday2008.com/lichsu/ index.php? menu=detail&mid=53&nid=159 ), qua đó IOC lẽ ra phải nắm phần chủ động mọi mặt trong việc tổ chức; và việc

 

-(2)- CPVN từ hồi tháng 9/2007 đã tự ý thành lập một Ban Điều Phối Quốc Gia, do Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ và các Thứ Trưởng điều hành, và một Ban Tổ Chức Quốc Gia do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN-, do Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam -ĐCSVN- Nguyễn Văn Linh năm 1981 ra lệnh thành lập để ‘cải tạo’ -dẹp bỏ- GHPGVNTN của chúng tôi và tất cả những Giáo Hội Phật giáo truyền thống khác, đều đã có mặt tại Việt Nam rất lâu trước 1975) chủ động, mà không hề phối kiểm, tham khảo hay xin sự đồng thuận của IOC; và việc

 

-(3)- CPVN đã cố ý trì trệ không cho IOC tự tổ chức các phiên họp Trù Bị sớm hơn, mãi đến giữa tháng 11/2007 một số khá ít thành viên IOC mới được gặp nhau lần đầu, và cũng chỉ gặp nhau trong một ngày ngắn ngủi để ‘nghe’ 2 thành viên IOC của VN (theo Hiến Chế thì một vị là Chủ tịch IOC và vị kia là Trưởng Ban Hành Chánh của IOC) báo cáo (ở vào tình thế mà dù muốn dù không các thành viên IOC ngoài VN cũng không thể phủ nhận hay sửa đổi), vì tất cả những diễn tiến, cả nội dung và hình thức, của kỳ UNDV 2008 nầy đều đã do CPVN của Ông sắp đặt, quyết định và chỉ đạo tất.

 

Phần cá nhân chúng tôi, như một thành viên IOC với tinh thần trách nhiệm với kỳ lễ hội UNDV 2008, tuy có dự trù đến Việt Nam cùng các thành viên IOI quốc tế khác tham dự các phiên họp trù bị cho UNDV 2008 để trù liệu, góp ý và chung biểu quyết mọi chi tiết tổ chức, nhưng với một thủ thuật do ‘ai đó’ sắp đặt, thư mời hợp lệ chỉ được email đến chúng tôi vài ngày trước phiên họp, và visa chỉ có thể được cấp 20 giờ trước khi phiên họp khai mạc, đã làm tôi thêm phần quyết định không thể tham dự với các thành viên IOC khác.

 

Như mọi người đều đã và rồi sẽ thấy biết, do CPVN của ông khống chế toàn diện, các thành viên IOC ngoài VN, ngay cả 2 thành viên IOC của VN, cũng như trường hợp chúng tôi, được vị Chủ Tịch tiền nhiệm và IOC tuyển thỉnh mời để đóng góp cho 3 cuộc lễ UNDV từ 2005-2007, cả IOC sẽ không ai có thể chủ động trong mọi phần hành tổ chức UNDV 2008.

 

Tuy sức khỏe cá nhân không hoàn hảo, chúng tôi đã 3 năm liên tục rất hoan hỷ hợp tác với các đồng đạo năm Châu góp phần cử hành lễ Tam Hợp kỷ niệm đức Phật, như một danh nhân văn hóa và nhà sáng lập tôn giáo vĩ đại và ân phước chung cho cả nhân loại, mà Liên Hiệp Quốc đã trân trọng tôn vinh.

 

Chúng tôi rất thông cảm với các vị chư Tăng GHPGVN nào nhân cơ hội UNDV 2008 nầy mà cảm nhận chút vui sướng và mừng rỡ có cơ hội được ‘sổ lồng’ sau 33/62 năm bị trói buộc, hạn chế, cấm đoán trong chế độ của Ông, mãi đến nay mới đón nhận được chút đỉnh loại tự do ‘ân huệ’ để tưng bừng tổ chức hay tham dự được cuộc Lễ UNDV 2008 mang tính khoa trương, do chính trị chứ không phải do niềm tin khởi xướng, mà cũng chỉ trong phạm vi khá hạn chế, kỳ nầy. Đúng ra, UNDV 2008 chưa thể gọi là vừa lòng thích ý theo cung cách mà lẽ ra nếu toàn thể Tăng Ni Phật tử VN được thực sự có đủ tự do để tổ chức, chứ không phải nhất nhất mỗi chi tiết đều do Nhà Nước của ông dành quyền chỉ đạo từ trên xuống, thì họ đã làm khác hơn.

 

Nhưng trong nhãn quan và tri kiến của tôi, một Tăng sỹ Úc gốc Việt bình thường, để tạo được chút tin tưởng thật tâm nào nơi hàng Giáo phẩm lãnh đạo của GHPGVN, nhất là giáo phẩm GHPGVNTN cả trong và ngoài nước, cả hai đều đã nhận lãnh quá nhiều đau khổ từ CP của Ông suốt 62 năm qua, về chút thiện chí, nếu có, của CP Ông về nổ lực sửa chữa các lỗi lầm quá khứ đối với nền đạo Phật Việt nói chung và GHPGVNTN nói riêng, CP Ông còn phải làm nhiều điều hơn nữa. Việc CP ông nhận tổ chức cuộc lễ mang tính cơ hội UNDV 2008 nầy hoàn toàn chưa thể gọi là đủ thích hợp để minh chứng thành tâm thiện ý của CP Ông.

 

Do vậy, dù chúng tôi vẫn sẵn sàng đóng góp phần nhỏ nhoi của mình cho các đại lễ UNDV tương lai, nay nhân vì mưu ý chính trị hóa, các mẹo thuật chính trị và kỷ thuật, sự can dự quá đáng, sự kiểm soát toàn diện và sự coi thường vai trò và quyền hạn của IOC, cũng như đối với cá nhân tôi, như đã kể trên, CP Ông hành xử, nên không còn lựa chọn nào khác là tôi phải tẩy chay không tham dự Đại Lễ UNDV 2008 sắp diễn ra ở Hà Nội.

 

Hàng giáo phẩm và quan khách PG quốc tế có mặt ở Hà Nội trong mấy ngày 13-17/5 tới đây cũng sẽ thấu hiểu nhiều hơn, sâu hơn những mỹ từ ca tụng mà chắc là chư Tăng GHPGVN sẽ phải nêu cao trong những diễn văn gởi đến đại biểu tham dự Hội nghị UNDV 2008, nhằm đền đáp những món ‘nợ lễ nghi’ mà quý vị ấy gượng gạo cảm thấy, hay để nhằm mua sự yên ổn, dù là tạm thời, cho ngôi chùa và vị trí đương tại của họ.

 

Tại miền Bắc từ 1946 và tại miền Nam từ 1975, CPVN của ông liên tục duy trì các sách lược đầy sai lầm với PG nói chung, và rất độc ác riêng với Giáo Hội chúng tôi, là Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống Nhất -GHPGVNTN-, qua việc CP của ông tiến hành ám hại hàng chục, giam giữ và quản thúc hàng trăm, cưỡng chế hoàn tục và cấm chế hàng ngàn Tăng Ni của tất cả các GH, đến nay vẫn còn trừng phạt, cấm đoán, cản trở hơn 45,000 Tăng Ni không cho họ bảo tồn, và đòi hỏi được bảo tồn, cách thế hành đạo mà họ lựa chọn. CPVN cũng cấm ngăn và lên án phi lý việc chúng tôi thực hiện Hiến Chương và duy trì cơ cấu lãnh đạo đương nhiệm của GHPGVNTN. CPVN của ông trong khi đòi buộc GHPGVN phải cam kết trung thành với, và tồn tại cho, chủ thuyết chính trị lỗi thời mà nhân loại đã xoá bỏ, là Chủ Nghĩa Xã Hội của Đảng CSVN, đồng thời lại không công nhận GHPGVNTN chúng tôi quyền được truyền thừa truyền thống tu hành và lý tưởng phụng sự ‘đạo pháp-dân tộc’ cao quý, đúng đắn suốt 2000 năm qua của PGVN. Có vẻ như CP của ông chưa bao giờ muốn giải quyết những đòi hỏi chính đáng nầy và còn luôn từ chối thực thi quyền tự do tôn giáo theo lề thói mà toàn thế giới đã chấp nhận.

 

Chúng tôi cũng muốn nhân đây chỉ trích việc Nhà Nước VN các cấp, sau 1946 ở miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam, đã hung hãn và mưu kế chiếm đoạt, thậm chí phá hủy, rất nhiều chùa viện và trưng thu, đóng cửa hàng trăm cơ sở giáo dục, từ thiện, xã hội, văn hóa, vv.. của PGVN, hầu hết là của GHPGVNTN, mà hơn 30 năm sau, đến nay vẫn chưa bồi thường hay hoàn trả lại cho chủ nhân.

 

Để nhân quyền và phẩm cách người dân được coi trọng, để đạo đức và luân lý xã hội bớt đà tuộc dốc do những tắc trách và độc tài cai trị của CPVN, chúng tôi đòi hỏi CPVN của ông chấm dứt sách nhiễu, cấm cản, cưỡng chế 45,000 Tăng Ni và 50 triệu Phật tử thuộc nhiều GHPG, mà hãy tôn trọng tính tự trị, tự quản việc thành lập và điều hành công cuộc tu trì, truyền bá, hoá đạo, hành đạo theo truyền thống của mỗi Giáo Hội Phật giáo.

 

Chúng tôi phải được trọn quyền thừa kế, phụng hành, bảo tồn nề nếp tu hành như đức Phật đã dạy, như liệt Tổ tiên hiền 2000 năm qua đã gầy dựng, như GHPGVNTN chúng tôi đã khởi xướng chấn hưng và thừa kế, qua đó Tăng Ni không ai bị bó buộc phải xu phụ thế quyền, và không GH nào bị ép buộc phải tham chính, thân chính, cụ thể như thảm cảnh các đồng đạo chúng tôi trong GHPGVN đang bị CPVN của Ông đạo dẫn, kềm chế một cách quá thô lỗ, khinh xuất.

 

Chúng tôi lấy làm tiếc là trong vài ngày sắp đến, khi hơn 600 khách mời của IOC chúng tôi, bao gồm đồng đạo quốc tế và pháp hữu cao cấp Á châu khả kính của PGVN chúng tôi đến Hà Nội, tuy có thể sẽ được nghênh đón bỡi các vị chư Tăng của GHPGVN thường tiếm xưng là GH duy nhất (mà khá đông trong đó hoặc là đảng viên của ĐCSVN, là chính khách Quốc Hội, viên chức Ủy Ban hay Hội Đồng hành chánh, là ủy viên Mặt Trận Tổ Quốc, đều của ĐCS hay NNCS lại đồng thời mang áo Tăng sỹ, hay là những cựu thành viên của GHPGVNTN chúng tôi do không thể cưỡng lại các áp lực chính trị và hành chánh suốt 27 năm qua đã phải tham gia GHPGVN), nhưng điều chắc chắn là không Tăng khách quốc tế khả kính nào, được CP của ông bao trả chi phí đến Hà Nội tham dự UNDV 2008, sẽ có cơ hội gặp lại để tay bắt mặt mừng với hàng Giáo phẩm quốc nội và hải ngoại của GHPGVNTN chúng tôi (đang bị quản thúc hay quyết định tẩy chay), mà chính cũng là những vị cao Tăng đại biểu đã từng được PG Quốc Tế cung thỉnh đến Colombo 1951 để đồng sáng lập World Fellowship of Buddhists, đến Taipei năm 1966 để đồng sáng lập World Buddhist Sangha Council, đến Belgium 1972, Toyko 1974, Melbourne 1989 v.v. để đồng tham dự các World Conference for Religion and Peace. Cũng trong khoảng 20-25 năm qua, giáo phẩm GHPGVNTN hải ngoại đã từng gặp gỡ, hợp tác, thảo luận với các đại biểu khả kính của Phật giáo quốc tế tại rất nhiều những Hội nghị, những Đại hội PG cấp châu lục hay cấp quốc tế ở Nhật bản, Đài Loan, Nepal, Ấn độ, Miến điện, Thái lan, Tích lan, Mã lai, Tân gia ba, Úc, Hoa kỳ, Gia nã đại, Pháp, vv.. nhưng năm nay 2008 lại không thể gặp nhau tại Hà nội, chỉ vì các vị Tôn túc Giáo phẩm ấy của GHPGVNTN, hoặc 27 năm qua đã bị CPVN của ông ép buộc tham gia GHPGVN, đã 33 năm qua bị thủ tiêu trong nhà tù, trại cải tạo, đã viên tịch trong cô quạnh, hay vẫn còn đang bị CP của Ông giam cầm, quản thúc, hay đã rời bỏ chế độ ‘hà chính mãnh ư hổ’ của Ông để lưu thân hành đạo xứ người, và quyết định tẩy chay UNDV nầy. Sự thiếu vắng giáo phẩm GHPGVNTN tại UNDV 2008 là một xấu hổ cho CPVN.

 

Và đặc biệt là tất cả hàng giáo phẩm GHPGVNTN đều dường như không được chính phủ Ông cho phép IOC long trọng cung thỉnh đến tham dự UNDV 2008 tại Hà nội tuần tới với tất cả vị trí quan trọng và trong vai trò chính thức là hàng lãnh đạo của GHPGVNTN, một GH hợp đạo và hợp pháp với quá trình 57 năm thành lập, tồn tại và phát triển tại đất nước Việt Nam, và nguyện chỉ phụng sự cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam, chứ không cho một chế độ và một chủ thuyết chính trị nào.

 

Chúng tôi do đó đòi hỏi Ông trong cương vị là Thủ Tướng của CPVN, hãy khẩn cấp tái xét, thừa nhận và sớm sửa đổi những đường hướng, sách lược thù nghịch, sai lầm mà ĐCS và CP của Ông đã hành xử, đã đối phó với PGVN nói chung, và với GHPGVNTN của chúng tôi nói riêng, suốt 62 năm qua, từ 1946 năm ĐSCVN các ông áp đặt một chính phủ Cộng sản toàn trị lên người dân Việt Nam.

 

CPVN nếu muốn khơi dậy được chút niềm tin và mời gọi được chút thiện cảm chân thật của hàng Giáo phẩm tôn kính và các nhà thiện tri thức thông thái của PG quốc tế, đặc biệt là các khách mời của IOC từ Á châu (nơi các hậu quả khốc liệt do chính sách đàn áp tôn giáo và sự cấm chế khắc nghiệt đối với GHPGVNTN của CP ông được quảng bá sâu rộng và được giới thức giả ghi nhận đầy đủ), CP Ông không nên và không thể hy vọng là sẽ tiếp tục dấu diếm, dối trá, và tiếp tục khoa trương những thành tích không thật có, hay không do Nhà Nước ông làm ra (công cuộc phục hưng và phục hoạt PGVN 10-15 năm qua chủ yếu là do Tăng Ni Phật tử trong nước và hải ngoại thuộc GHPGVNTN, các GH khác, cũng có sự âm thầm phối hợp của nhiều cá nhân Tăng Ni trong GHPGVN, ai nấy tự nguyện giúp nhau, nhọc nhằn, hy sinh, chịu đựng, tiếp trợ, an nhẫn biết bao kỳ thị, hiếp đáp, chống phá, cấm đoán, đe dọa, nhũng lạm của chế độ XHCN, để mới có thể trùng tu được nhiều chùa chiền, đào tạo được nhiều Tăng Ni trẻ, ủy lạo từ thiện cứu tế được nhiều triệu dân nghèo bất hạnh). Chỉ khi nào CP các ông can đãm thừa nhận các sự thật xấu xa, và quyết tâm giải quyết chúng cách dứt khoát, may ra CP ông mới sẽ được các quan khách IOC tham dự UNDV 2008 thật tình trân trọng mà không chỉ bày tỏ các cử chỉ mang tính ngoại giao suông.

 

Chúng tôi nhân đây lập lại 4 yêu sách tiên khởi cần được CPVN của Ông đáp ứng trọn vẹn và thành thật để làm nền tảng cho một đất nước Việt nam có được chút ít công bằng và dân chủ thực sự, mà Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, qua Ngài Viện Trưởng Hòa thượng Thích Quảng Độ khả kính của chúng tôi, đã gởi đến CP ông mấy năm qua, đến nay vẫn chưa được hồi đáp:

 

- “Thứ nhất, CHXHCNVN phải phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ; (TQB chú: GHTN không thể bị coi như là một GH tân lập, không thể bị buộc làm thủ tục đăng ký trở lại như GH mới hoàn toàn trên đất nưóc VN, mà CPVN phải nên thừa nhận Hiến Chương và cấu trúc nhân sự và hành đạo hiện tại của GHTN)
- “Thứ hai, hoàn trả Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tất cả các cơ sở chùa viện, văn hóa, giáo dục, từ thiện mà Nhà nước chiếm dụng sau năm 1975. Bước đầu, hoàn trả ngay cho Giáo hội hai cơ sở chính yếu là Việt Nam Quốc tự và Trung tâm Văn hóa Quảng Đức để Giáo hội có cơ ngơi đặt trụ sở cho Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo;
- “Thứ ba, đưa Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Đảng và Nhà nước thiết lập năm 1981 ra khỏi Mặt trận Tổ quốc;

 

- và “Thứ tư, làm sáng tỏ cái chết của Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh năm 1978″.

 

Hơn 24 năm qua hành đạo như một công dân Úc, chung lo cho sự phát triển PG khắp nơi, lòng tôi vẫn đau đáu xót xa khi thấy, nghe, biết một đất nước Việt Nam tụt hậu trong mọi lãnh vực so với các lân bang, nhất là nền tảng tâm linh, luân lý, đạo đức suy sụp trầm trọng của đa số trong giới cầm quyền và một số đông trong dân chúng, nên chúng tôi thường nhờ các vị Chủ Tịch Quốc Hội Úc chuyển các yêu cầu (rất tiếc chúng tôi chỉ nhận các hồi đáp tiêu cực) của chúng tôi đến các phái đoàn CPVN của Ông đến thăm Úc, là giữa quý Ngài lãnh đạo GHPGVNTN chúng tôi và các đại diện thích hợp của phía CPVN, phải bắt đầu có những thương nghị song phương, tốt nhất là tại Việt nam, hay nếu cần thì hải ngoại, để CPVN nghiêm túc lắng nghe và giải quyết các yêu sách hợp lý, hợp tình của GHPGVNTN, qua đó CPVN có thể nhìn nhận và sửa đổi các sách lược sai trái trong quá khứ và hiện tại đối với PGVN và với GHPGVNTN, mà trước nhất là 4 yêu sách của Viện Hoá Đạo chúng tôi. Cũng trong nền tảng đạo lý làm người Việt Nam, CPVN của ông phải nên chấm dứt việc sử dụng truyền thông đại chúng để mạ lỵ, vu khống, châm chọt, khích động gây chia rẽ cách rẻ tiền với hàng Giáo phẩm GH chúng tôi cả trong ngoài nước.

 

Chỉ khi nào các truyền thống và các giáo hội PGVN có đủ tự do hành đạo theo lương tri, đạo nhãn của chúng tôi, một cách tự do, trong một khuôn khổ pháp luật thích hợp tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và công bằng xã hội, và tách rời mọi áp lực chính trị, như tất cả hay hầu hết khách mời UNDV 2008 của Ông đang đương nhiên được hưởng nhận nơi mọi đất của nước của họ, thì nền PGVN mới có thể góp phần hữu hiệu chuyển vận chánh pháp để xây đắp nền hòa bình thịnh vượng đầy ý nghĩa và nền tự do đầy nhân phẩm cho dân tộc và đất nước Việt Nam. Đảng và Chính phủ của Ông phải nhận lãnh mọi trách nhiệm lịch sử làm cho đất nước đổ vỡ, nền văn hiến lịch sử của dân tộc suy vong qua việc cấm đoán những tiêu chuẩn công bằng xã hội tối thiểu vừa nêu.

 

Chúng tôi đòi mong Ông Thủ Tướng ưu tiên giải quyết 4 yêu sách của Hòa Thượng Viện Trưởng chúng tôi.

 

Chúc Thủ Tướng và chính phủ Việt Nam mạnh dạn thực hiện được những cải cách chính trị quan trọng, sao cho các đòi hỏi của toàn dân về một đất nước có dân chủ, nhân quyền và tự do, no ấm sớm được đáp ứng.

 

Trân trọng

 

 

Tăng sỹ Thích Quảng Ba

 

- Viện Trưởng Tu viện Vạn Hạnh, Canberra

 

- Giáo Hội Trưởng, GHPGVNTN Hải ngoại thủ đô Canberra.

 

- Thành viên Ban Tổ Chức Quốc Tế, UNDV 2008.

 

Australia 10/5/2008. (thư hồi đáp nếu có, xin dùng email hay bưu chỉ ghi ở letterhead)

 

Gởi lúc 10.35pm AEST Monday 12/5/2008 qua website của Ông N.T.Dũng: http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,4075180&_dad=portal&_schema=PORTAL .

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.