Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 6, 2008

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 6.7.2008

Filed under: Phật giáo, Quốc tế, Việt Nam — tudo @ 8:06 pm

******************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d’Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 63 – 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) – Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 – E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
*******************************************************************************

Lễ Nhập Kim quan Đức Tăng thống Thích Huyền Quang do GHPGVNTN cử hành sáng nay tại Tu viện Nguyên Thiều – Lễ Thọ tang sẽ cử hành long trọng tại hải ngoại ở chùa Diệu Pháp ngày 13.7

PARIS, ngày 6.7.2008 (PTTPGQT) – Văn phòng Viện Tăng thống vừa cho Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế được biết tình hình tại Tu viện ngày hôm nay, 6.7, như sau:

Chư Tăng chung quanh Kim quan Đức Tăng thống tại Tu viện Nguyên Thiều, 6.7.2008

Chư Tăng chung quanh Kim quan Đức Tăng thống tại Tu viện Nguyên Thiều, 6.7.2008

Theo đứng như chương trình dự liệu, 8 giờ sáng hôm nay, 6.7, hàng trăm chư Tăng Ni đã làm lễ nhập Kim quan tại Tu viện Nguyên Thiều. Rất đông đồng bào Phật tử Bình Định và hàng chục Huynh trưởng Gia Đình Phật tử từ Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng và Bình Định thuộc Gia Đình Phật tử Vụ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), cùng tham dự. Buổi lễ vô cùng trang nghiêm, trọng thể giữa khung cảnh u tịch của Tu viện Nguyên Thiều. Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Đại lão Hoà thượng Thích Bảo An cùng Hoà thượng Thích Thiện Hạnh và hàng giáo phẩm Viện Tăng thống, Viện Hoá Đạo hướng dẩn lễ Nhập Kim Quan này.

Một sự cố có thể xem như riêng biệt, nhưng cũng có thể là động tác thăm dò phản ứng của hàng giáo phẩm lãnh đạo Hội đồng Lưỡng viện GHPGVNTN hiện đang quy tụ về Tu viện Nguyên Thiều dự lễ tang Đức đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang. Đó là một vị Hoà thượng có tên Thích Đổng Quán đến cổng chùa Tu viện Nguyên Thiều tự tay xé tờ Cáo Bạch lễ tang Đức Tăng thống. Ông tự nhận và nói rằng : « Tôi là người sáng lập Tu viện Nguyên Thiều này, tôi không cho phép dán tên GHPGVNTN bất hợp pháp và chức Đệ tứ Tăng thống ». Nghe động tịnh như vậy, Đại đức Thích Đồng Thọ, thị giả của Đức Tăng thống, liền chạy ra và phản ứng : «Thầy không được làm như vậy ! Thầy không được làm như vậy!» Tiếng nói như một lời xua đuổi. Hoà thượng Thích Đổng Quán chưa kịp xé hết tờ Cáo Bạch liền bỏ chạy, sau lưng có một công an chạy theo.

Phật tử Bình Định tự hỏi đây là hành động lẻ loi hay một sự giật dây nhằm so gân nắn túi xem phản ứng ? Tuy nhiên sự kiện một « Hoà thượng » phải ra tay như vậy, có thể báo hiệu những sự gì xẩy tới sẽ trầm trọng hơn chăng về một dự trù mà nhà cầm quyền Hà Nội đang vận động ráo riết để giành giật cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tổ chức lễ tang cho Đức Tăng thống.

Mặt khác, kể từ sáng nay, đường dây điện thoại của Tu viện Nguyên Thiều đã bị cắt, một số điện thoại di động cũng đã bị phong toả.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đang theo dõi tình hình và sẽ xin báo động đến các cơ quan quốc tế, báo chí, truyền thông, và đồng bào ở hải ngoại với mong mỏi sự kết hợp rộng lớn và chặt chẽ để bảo vệ cho tự do người dân Việt nói chung và GHPGVNTN nói riêng.

Trong cuộc điện đàm với ông Võ Văn Ái hôm nay, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cho biết rằng kể từ hôm qua, chư Tăng đã thay phiên liên tục tụng niệm 24 giờ trên 24 giờ cho đến ngày Lễ cung nghinh Kim quan nhập Bảo tháp vào lúc 7 giờ sáng 11.7 tuần sau.

Tam vị Hoà thượng Th�ch Quảng Độ, Th�ch Bảo An và Th�ch Thiện Hạnh dâng lễ thọ tang tại Tu viện Nguyên Thiều, 6.7.2008

Tam vị Hoà thượng Thích Quảng Độ, Thích Bảo An và Thích Thiện Hạnh dâng lễ thọ tang tại Tu viện Nguyên Thiều, 6.7.2008

Lễ Thọ tang đức Đệ tứ Tăng thống chiều Chủ nhật ngày 13 tháng 07 năm 2008 tại Chùa Diệu Pháp, miền Nam CaliforniaTrong một Thông tư Khẩn, Đại lão Hoà thượng Thích Hộ Giác cho biết Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ sẽ long trọng tổ chức LỄ TƯỞNG NGUYỆN VÀ THỌ TANG đức Đệ tứ Tăng thống, lúc 02 giờ chiều Chủ nhật ngày 13 tháng 07 năm 2008 (nhằm ngày 11 tháng 06 năm Mậu Tý) tại

Chùa Diệu Pháp, trụ sở Trung ương của Giáo hội
311 E. Mission Rd. – San Gabriel, CA 91776 – Tel: (626) 614 – 0566.

Thay mặt Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và Hội đồng Điều hành, Đại lão Hoà thượng Thích Hộ Giác ngỏ lời chân thành kính mời chư Tôn đức Giáo phẩm Tăng Ni, đồng bào Phật tử, Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, Quý đoàn thể tổ chức, cộng đồng, Quý cơ quan truyền thông, báo chí hoan hỷ đến Trụ sở Trung Ương của Giáo Hội để tham dự Lễ Tưởng Nguyện đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang.

SH, DD TNTD thanh kinh phan uu Duc Tang Thong Thich Huyen Quang

Filed under: a1 audio, Phật giáo, Quốc tế, Tự do tôn giáo, Việt Nam — tudo @ 8:01 pm

06072008_SH_Phan Uu Duc Tang Thong Thich Huyen Quang

Tin Buồn

Filed under: Phật giáo, Quốc tế, Việt Nam — tudo @ 7:57 pm
Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thch Huyền Quang

Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang

Chúng con một nhóm Phật tử hải ngoại vô cùng đau buồn khi nhận được Ai Tín từ Hội Ðồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Môn Ðồ Pháp Quyến cùng Tăng chúng Tu Viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Ðịnh Việt Nam báo tin:

Ðức Ðại Lão Hoà Thượng thượng HUYỀN hạ QUANG,
Ðệ Tứ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất;
Viện chủ Tu Viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Ðịnh
Ðã xả báo thân, an thần thị tịch vào lúc 1 giờ trưa
Ngày 05 tháng 7 năm 2008 nhằm ngày mùng 3 tháng 6 năm Mậu Tý
Tại Tu Viện Nguyên Thiều do Ngài sáng lập 50 năm trước
Trụ thế 89 năm – Pháp lạp: 69 năm.

Lễ nhập kim quan đã được cử hành lúc 8 giờ sáng ngày 06-7-2008
Lễ cung nghinh Kim Quan nhập Bảo Tháp lúc 7 giờ sáng ngày 11-7-2008
trong khuôn viên Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Ðịnh, Việt Nam.

Trước Ai Tín này, chúng con một nhóm Phật tử tại Houston Texas và Hoa Kỳ nhất tâm cầu nguyện:

Giác Linh Ðại Lão Hoà Thượng thượng HUYỀN hạ QUANG
sớm được Cao Ðăng Phật Quốc

Xin Ngài tiếp tục hộ trì cho chư tôn Ðại Lão Hoà Thượng, Thượng Toạ, Ðại Ðức, Tăng Ni thuộc Hội Ðồng Lưỡng Viện Gíao Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Văn Phòng II Viện Hoá Ðạo Hải Ngoại, quý Môn Ðồ Pháp Quyến của Ngài cùng Gia Ðình Phật Tử các Miền tiếp tục công nghiệp hoằng hoá lợi sanh, giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn theo đúng hạnh nguyện của Ðức Tăng Thống lúc nào cũng ân cần nhắc nhở mọi người con Phật luôn nhất tâm và tích cực hơn nữa để giữ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một Giáo Hội do Dân Lập luôn có mặt cùng với Dân Tộc.

Ðồng Thành Kính Cầu Nguyện

- Các thành viên trong Ban Tổ Chức Lễ Vinh Danh nhị vị đại lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Ðộ ngày 18-5-2008 tại thành phố Houston Texas – Cac thành viên thuộc Uỷ Ban Bảo Vệ Chánh Pháp tại Hoa Kỳ – Nguyên Minh Trương Như Phùng, Nguyên Tú Lê Thị Nam, Chân Minh Trần Hiến – Nguyễn Văn Bé & Viên Hạnh – Bùi Lang & Bùi Thị Lê – Thiện Tòng Ðào Hữu Hạnh – Minh Hạnh Võ Văn Hiếu – Minh Hải Ngô Văn Thu – Tánh Hương Tôn Nữ Hoàng Hoa – Tuệ Tâm Nguyễn Khắc Anh Tâm – Giác Tấn Trương Minh Danh – Quảng Tâm Ðặng Tâm Hạnh -Hạnh Chân Ðỗ Chánh – Tâm Ðại Bi Bích Thuận – Diệu Quý Võ Kim Ngân – Minh Lạc Nguyễn Thọ – Hải Băng và gia đình – Văn Ðình & Mai Hoa – Nguyên Chánh Phạm Tấn Thất – Huệ Thông TSL- Phạm Thế Phương Take2Tango.com – Không Minh Trần Minh Tâm – An Như Trần Kim Vy.

Thành Kính Phân Ưu

Filed under: Phật giáo, Quốc tế, Việt Nam — tudo @ 7:54 pm

Vô cùng thương tiếc khi hay tin:

Đức Đại lão Hòa thượng THÍCH HUYỀN QUANG, đệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN); Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định, đã xả báo thân lúc 13 giờ 00 ngày 05 tháng 07 năm 2008 , tức mùng 03 tháng 06 năm Mậu Tý, trụ thế 89 năm, pháp lạp 69.

Trước nỗi mất mát lớn lao này của toàn thể Phật Tử Việt Nam
trên thế giới và của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.


Diển đàn Paltalk : TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam
Xin thành kính phân ưu cùng quý chư tôn giáo phẩm,
Hội Đồng Viện:
-Viện Tăng Thống
-Viện Hóa Đạo
-Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Hải Ngoại
-Tu Viện Nguyên Thiều và môn đồ pháp quyến các giới thuộc
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở trong và ngoài nước.
Xin nguyện cầu giác linh Đức đệ tứ Tăng thống sớm cao đăng
Phật quốc.


Làm tại Canada ngày 5 tháng 7 năm 2008
TM. Diển đàn,
Nam Sơn Simon Nguyễn

Ngưỡng Vọng Cuộc Đời và Hành Trạng Của Đức Đệ Tứ Tăng Thống thượng Huyền hạ Quang

Filed under: Phật giáo, Quốc tế, Việt Nam — tudo @ 7:51 pm

(Chỉ một câu nói của Ngài : thời thế thế thời, Chú còn nhỏ, cố gắng nghe, Thầy rất thương Chú. Câu nói đó vẫn canh cánh bên lòng, ngồi ở đây, một chốn xa xôi, xin viết dâng Ngài. Cuộc đời Ngài quá lớn, viết dù không có chỗ, nhưng một thời đã gần Ngài dù lúc đó còn nhỏ, và giữa vạn lý muôn trùng, nhiều lần cũng đã thưa chuyện, hầu chuyện, đôi lúc nhắc chuyện ngày xưa với Ngài, thế tại sao không viết ? Thích Nhật Tân)

· Ghi chú : Viết xong ngày hôm nay 26-10-2006, viết trước để sau này sử dụng.
· Bài này tôi đã gởi về và HT Không Tánh đã đọc cho Ngài nghe tại Chùa Giác Hoa (Sài Gòn) trong chuyến vào trị bịnh năm ngoái.
· Hôm nay, mới nhận tin Ngài vừa viên tịch 1.15pm (giờ VN) Thứ Bảy 05-7-2008 tại Tu viện Nguyên Thiều, và Ngài mới vừa về lại Nguyên Thiều lúc 4pm ngày hôm qua 04-7, sau hơn 1 tháng điều trị tại bịnh viện Đa Khoa Qui Nhơn, tỉnh Bình Định, trụ thế 89 tuổi.

Cuộc đời Ngài là ngọn núi cả, ngước nhìn, đã mỏi cổ
Cuộc đời Ngài là khu rừng thiêng, đứng ngó, đã rùng mình
Cuộc đời Ngài là biển đại thệ, như triều dâng sóng vỗ
Cuộc đời Ngài là sông đại nguyền, như nước biếc lung linh
Dùng chữ nghĩa để tôn vinh
Xứng danh, nhưng quá thường tình
Dùng tâm lượng phàm phu ca ngợi
Không đủ ngôn từ diễn tả
Dùng giải này giải kia đánh giá
Như những mòn quà dâng tặng, thế thôi
Dùng cương vị này cương vị kia, tôn ngôi
Tư thế đó, đâu cần ai đặt để
Mà chỉ có nhất nhất, tâm tâm, niệm niệm, chân thành đảnh lễ
Mà chỉ có rưng rưng, cảm cảm, bi bi, sụp lạy, cúi đầu
Trong vũ trụ bao la kia, hằng hà sa số tinh cầu
Đứng lại trong giờ phút này đây, lặng yên bất động
Trong vạn hữu phù sinh kia, hằng hà chúng sinh trầm lắng
Im bặt trong giờ phút này đây, thầm nguyện kinh cầu
Ngài về trong cõi nhiệm mầu
Ngài đi từ cõi nhiệm mầu mà đi
Ngài về trong cõi vô nghì
Ngài đi Ánh Đạo Từ Bi óng vàng
Ngài về thăm cõi Lạc Bang
Ngài quay trở lại trần gian cứu đời
Như Ngài đã nói :
‘Cuộc đời tôi
Ở không nhà
Sống không đất
Tù không tội
Chết không mồ’ (1)
Do đó :
Ngài sinh ra, bởi vận mệnh, cơ đồ
Ngài sống đó, bởi dân tộc, tổ quốc
Ngài ngồi đó, bởi thế thời thành thất
Ngài ra đi, bởi Đạo Pháp Quê Hương
Dù ai nói, núi là sông
Dù ai nói, đá là vàng
Dù ai nói, trắng là đen
Vẫn không có gì thay đổi được
Không lợi dụng, không giả danh, không quyền chước
Không vọng cầu, không vong bản, không phi nhân
Không cướp công, không tranh đoạt, không thủ phần
Là Long Tượng, lương đống, trượng phu, đâu cần thứ đó
Cuộc đời Ngài, cả một trăm năm, xem như tròm trèm thế kỷ
Thì Đạo Pháp và quê hương, xem như trải qua ba thời
Dị khẩu đồng âm, dõng dạt tuyên bố một lời
Cả ba thời, đều mệnh danh, thủ thuật
Cả ba thời, đều đội dù, che khuất
Cả ba thời, không thực thì cũng ngoại lai
Cả ba thời, thế nước lòng dân, ách tai
Ai không bon chen danh lợi leo đài
Ai không trùm mền, nhắm mắt, buông tay
Ai nói lên tiếng nói : vận nước điêu linh, thế nước bị xéo dày
Thì ngưỡng cửa ngục tù, nhốt khóa hãm kìm, chứ làm sao kết tội
Đã biết rồi, nếu muốn nói, thì phải nói
Đất nước Việt Nam, lịch sử đã năm ngàn năm
‘Phật Giáo Việt Nam, lịch sử đã hai ngàn năm
Cơ sở Phật Giáo, là núi rừng, hải đảo, thôn quê, thị thành
Địa vị Phật Giáo, là tám mươi phần trăm dân số Việt Nam
Đạo lý Phật Giáo, là đường dài mở nước, dựng nước, cứu nước’ (2)
Như vầng nguyệt thanh trong, không vẩn màu uế trược
Như vầng nhật ánh dương, không vẩn áng mây mù
Dù đời Ngài sống với lao tù, nhưng lao lý để lại thiên thu
Ai dám hỏi lao lý, lao tù, lao tình, lao tội
Cuộc đời Ngài, một trăm năm, nay qua khỏi
Ngài gian truân, vì cả đất nước gian truân
Ngài khổ thân, vì cả dân tộc cực hình
Nay Ngài chết, nhưng oai linh Ngài bất diệt
Ai đã biết và ai chưa hay biết
Mảnh trời Nam nước Việt giống Lạc Hồng
Một ngàn năm trầm thống nhớ không
Một trăm năm tai ách chất chồng
Hăm mốt năm tơi bời khói lửa
Mấy chục năm trường ray rứt hồn thiêng
Khổ đau phủ cả ba Miền
Tang thương phủ cả mọi miền quê hương
Đan tâm cay xé tư lường
Đan tay vá víu nhiểu nhương cơ đồ
Biển Đông trào sóng nhấp nhô
Trường Sơn nhả khói vật vờ hồn đau
Nước kia đã lắm nương dâu
Non kia đã lắm sắc màu nát tan
Tâm tư trăn trở tâm can
Tự tình trăn trở, tương tàn thế ni
Hùng tâm, hùng lực, ai vì
Đại bi, đại nguyện, ai vì cho ai
Hai ngàn năm qua
Bao nhiêu bậc khai tổ, danh sư, quốc sư
Vẫn phương đài, truyền đăng tục diệm
Năm ngàn năm qua
Bao nhiêu bậc minh quân, danh tướng, anh hùng
Vẫn phương đài, kim cổ soi chung
Hàng ngàn năm sau
Muốn thắm tô Dân tộc, Đạo pháp, Quê hương
Vẫn noi gương đời đời liệt Tông, liệt Tổ
Hôm nay :
Ngài đã Tây quy
Lá rụng về cội
Nước quay về nguồn
Pháp cổ trầm hùng ngân ngân mãi
Huyền Quang tâm lực sắt sắt son
Đạo pháp muôn đời bi bi nguyện
Giang sơn muôn thuở châu châu viên
Từ đông tây nam bắc
Từ quốc nội hải ngoại
Khắp bốn biển năm châu
Khác màu da chủng tộc
Của thế kỷ hai mươi
Đầu thế kỷ hăm mốt hôm nay
Tăng tín đồ cúi lạy dâng Ngài
Cả dân tộc kính vọng tên Ngài
Cả nhân loại hướng vọng tên Ngài
Một con người Việt Nam
Của dân tộc Việt Nam
Của Phật Giáo Việt Nam
Đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang
Đức Đệ Tứ Tăng Thống Huyền Quang bất tử !!!

Thích Nhật Tân ngưỡng bái
(1) và (2) : Trích những câu nói khẳng khái lịch sử
của chính Đức Tăng Thống.

July 4, 2008

7-2-2008 Do Phu – Tuong Thang – Dung Xa Mau – Sbtn

Filed under: a1 Video, Chính trị, xã hội, Quốc tế, Việt Nam — tudo @ 6:58 pm

July 3, 2008

Chuyển hoá một số quốc gia

Filed under: Chính trị, xã hội, Quốc tế — tudo @ 2:24 pm

Peter D. Sutherland, Trần Ngọc Cư dịch

Tóm tắt: Tổ chức Thương mại Thế giới đã làm thay đổi thế giới trong thập niên qua bằng cách đón mời sự gia nhập của Trung Quốc và biến đổi vận mạng quốc gia tại Căm-pu-chia và Ả-rập Xê-út. Tổ chức này cung ứng lực xúc tác mà các lãnh đạo chính trị cần đến để cải tổ đất nước.

Peter D. Sutherland là Chủ tịch của tập đoàn dầu khí BP đồng thời cũng là Chủ tịch của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs International. Ông từng là Tổng giám đốc của cơ cấu GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại) từ 1993 đến 1995 và cũng là Giám đốc Sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). [1]
Không một du khách nào đặt chân đến Phnom Penh, Bắc Kinh hay Rihadh vào lúc này mà không cảm nhận sự đổi thay, tinh thần lạc quan và tính năng động mới mẻ trong sinh hoạt kinh tế. Căm-pu-chia, Trung Quốc và Ả-rập Xê-út đang chuyển động và chủ yếu chuyển động theo một hướng tốt đẹp hơn. Tại sao? Vì một lý do là, cả ba quốc gia – cùng với Croatia, Georgia, Đài Loan, Việt Nam và nhiều nước khác – vừa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong vòng mấy năm qua.

Người ta thường dễ quên lãng sức mạnh của WTO trong việc trợ giúp một quốc gia đổi mới. Chuyện thường xảy ra là, nhiều nước đang phát triển đo lường sự thành công của mình ở Vòng đàm phám Doha [2] của WTO bằng mức độ họ có thể tránh né nghĩa vụ mở cửa kinh tế. Do đó, theo cách nói lễ độ ở Geneva, tiềm năng dùng đến biện pháp kỷ luật của WTO để thúc đẩy việc cải tổ thị trường, cải tổ định chế và các cơ quan điều tiết, một cách triệt để, bị coi là một đề tài thiếu nghiêm chỉnh chính trị (politically incorrect). Nhưng chính các nước vừa gia nhập WTO trong thập niên qua mới là những thành viên được hưởng nhiều lợi ích nhất từ việc tuân thủ các luật lệ thương mại toàn cầu. Những thành viên WTO kỳ cựu, vì khỏi cần đàm phán tiến trình gia nhập, nên ít thu hoạch lợi lạc nhất.

WTO đã thay đổi thế giới trong thập niên qua bằng cách đón tiếp sự gia nhập của Trung Quốc. Và nếu tổ chức này có thay đổi vận mạng các quốc gia chăng, chẳng hạn tại Căm-pu-chia và Ả-rập Xê-út, thì âu cũng nhờ vào chính những thủ tục gia nhập tổ chức này. Nếu đem so sánh những điều kiện của khu vực tự do mậu dịch song phương, thì những điều kiện để làm thành viên của WTO có thể ví như một cuộc cách mạng. Tiến trình gia nhập hiên nay đòi hỏi một thời gian lâu dài hơn bao giờ cả. Trung Quốc nộp đơn gia nhập với tiền thân của WTO (tức cơ cấu Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, hay GATT) vào năm 1986 và thực sự gia nhập WTO năm 2001, Căm-pu-chia nộp đơn năm 1994 và gia nhập năm 2003, còn Ả-rập Xê-út thì gia nhập năm 2005 sau 12 năm chuẩn bị và đàm phán.

Tại sao các chính phủ lại chịu tự đặt mình qua những thử thách như thế để vào cho bằng được một tổ chức có thời bị gán nhãn hiệu là “hội nhà giàu”? Câu trả lời có thể chỉ vỏn vẹn là để làm giàu. Nhưng trả lời như thế hoá ra lại quá tầm thường, vì không lí giải được những nỗ lực của Trung Quốc hay Ả-rập Xê-út, là những nơi cơ hội làm giàu tồn tại từ lâu. Thật vậy, lối giải thích hợp lí hơn cả phải là: đến một thời điểm nào đó, các lãnh đạo chính trị nhận thức rằng thay đổi từ cơ bản là điều cần thiết hoặc không thể tránh né được nữa, và họ cũng hiểu được rằng nếu không có hậu thuẫn từ bên ngoài thì không thể thực hiện những cải tổ cơ bản đó. Họ cần một chất xúc tác; và WTO có khả năng cung ứng lực tác động này. Đổi mới có nghĩa là phải đụng chạm đến những quyền lợi do một số người thủ đắc, có nghĩa là phải giảm thiểu vai trò của nhà nước, có nghĩa là phải cải tổ các định chế, và chống tham nhũng. Đổi mới cũng có nghĩa là tác động khu vực tư bằng cách khuyến khích cạnh tranh, giải phóng doanh nhân ra khỏi vòng kềm kẹp của nhà nước, và đảm bảo các dịch vụ vừa kiến hiệu vừa hợp với khả năng chi trả của người tiêu thụ. Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá sâu rộng này, những nền kinh tế nhỏ bé hay còn phải phấn đấu chật vật chỉ có thể vươn lên trong một môi trường có thể sản sinh ra cơ hội làm ăn và hậu thuẫn giới kinh doanh. Trong thực tế, công tác chủ yếu của WTO là hỗ trợ các thành viên cải thiện việc điều hành quốc gia.

Không nơi nào mà sức mạnh chuyển hoá các quốc gia của WTO được biểu hiện rõ nét bằng trong tiến trình gia nhập của một hội viên. Vào những năm đầu của GATT (Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại), cơ cấu này không đòi hỏi gì nhiều ở các thành viên mới gia nhập; và ngay cả những thành viên sáng lập GATT lúc bấy giờ vẫn còn lún lầy trong hàng rào thuế quan cao ngất và hạng ngạch (quotas) khắt khe. Những thành viên này và các nước hội viên công nghiệp khác đã đàm phám để hạ thấp thuế quan, bãi bỏ chế độ đãi ngộ mậu dịch, và kí thêm nhiều hiệp định về những biện pháp ngoài lãnh vực thuế quan. Nhưng hầu hết các nước đang phát triển lúc bấy giờ chỉ việc khoanh tay đứng nhìn. Kể từ thập niên 1960 trở đi, những nước này mới được hưởng quyền “đãi ngộ đặc biệt và chênh lệch” (special and differential treatment). Mãi đến thập niên 1980s nhiều điều khoản khắt khe hơn của GATT mới bắt đầu được áp dụng cho các hội viên mới.

Kể từ khi WTO được thành lập năm 1995, mọi việc hoàn toàn đổi khác. Các điều kiện gia nhập trở nên khắt khe đến nỗi bị phe chỉ trích gọi là các điều khoản bất công. Những cải tổ cần thiết nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của WTO phải sâu rộng đến nỗi một số quốc gia không có khả năng thực hiện – còn đối với hầu hết những quốc gia chịu đổi mới, những cuộc đàm phán trong tiến trình xin gia nhập chí ít cũng kéo dài cả một thập niên. Ngày nay, nhiều nước đang phát triển (developing countries) trong tổ chức WTO đã chấp nhận những cam kết có thực chất và sâu rộng hơn cả một số thành viên sáng lập của tổ chức này, nhất là trong khu vực nông nghiệp. Điều này có vẻ như là các nước này phải trả một giá khá đắt, nhưng có thật đây là một điều xấu không? Phải chăng những thành viên mới gia nhập không hưởng được lợi ích? Phải chăng cứ triền miên tạo ra biệt lệ cho các nước nghèo lại không phản tác dụng hay không có hại? Hàng chục nền kinh tế có mức thu nhập bậc trung (middle-income economies) trong WTO tiếp tục bỏ mất cơ hội vì có não trạng tự cho mình là thành công khi không chịu khoan nhượng bất cứ điều gì thực sự quan trọng trong lãnh vực mậu dịch. Trong khi đó, Căm-pu-chia, Trung Quốc, và Ả-rập Xê-út đã có nhiều thay đổi bất ngờ – chủ yếu theo chiều hướng tốt đẹp hơn – trong bối cảnh các nước này xúc tiến việc xin gia nhập WTO.

Giá trị cơ bản của việc làm thành viên WTO – và của các cuộc đàm phán diễn ra trước đó – chính là cơ hội để các quốc gia ứng viên lập ra một chương trình nghị sự và xác định các ưu tiên. Các bộ trưởng, quan chức chính phủ, và doanh nhân ở những quốc gia này bị buộc phải xét đến vấn đề tuân thủ luật lệ của WTO, mỗi khi họ bị cám dỗ quay về với lề thói cũ. Nói rộng ra, những kềm toả do WTO áp đặt đã thúc đẩy một số nước hội viên cải thiện chính sách điều hành quốc gia. Nhưng trước hết, các luật lệ mậu dịch toàn cầu cung cấp một lá chắn cần thiết cho phe đổi mới. Mặc dù các nhà hoạch định chính sách này có thể lớn tiếng chỉ trích luật lệ mậu dịch toàn cầu khi việc này có lợi cho họ về mặt chính trị đối nội, nhưng chính hệ thống luật lệ toàn cầu này lại cung ứng hậu thuẫn cho họ làm việc ích quốc lợi dân nếu họ có đủ ý chí chính trị để làm việc đó.

Kinh nghiệm của Căm-pu-chia, Trung Quốc, Ả-rập Xê-út chắc chắn cho chúng ta một bài học. Trong mỗi nước đều có các thành phần chỉ trích việc gia nhập WTO, và trong một số phương diện nào đó những người này có thể đúng. Nhưng cả ba nước đều đã thực hiện những đổi mới ngoạn mục trong bối cảnh họ xin gia nhập WTO. Vì thế chúng ta cũng nên điều tra phương cách, lý do và hệ quả của sự thay đổi này. Trên hết và trước hết, cả ba nước Căm-pu-chia, Trung Quốc và Ả-rập Xê-út đều có lợi điểm là có được những nhà lãnh đạo xuất sắc vào thời điểm những quốc gia này đi tìm một chỗ đứng trong cộng đồng mậu dịch toàn cầu. Trong mỗi một trường hợp, viễn kiến về sự tiến bộ cho quốc gia và quyết tâm mở cửa ra thế giới trong đấu trường kinh tế đã thắng lướt những bản năng yếu kém và lề thói tồi dỡ–mặc dù không phải mọi chuyện đều diễn tiến tuyệt vời. Hun Sen, Đặng Tiểu Bình, và Vua Abdullah lại càng không phải là những người cỗ xuý lí tưởng dân chủ phương Tây hay thị trường tự do, nhưng họ nhận chân rằng việc gia nhập WTO là tối cần cho việc đưa đất nước đi tới.

Không một cá nhân lãnh đạo nào có thể tự mình theo đuổi hết mọi đòi hỏi chi tiết khúc mắc của việc gia nhập WTO. Hunsen, Đặng và Abdullah được các bộ truởng và viên chức thuộc cấp tài giỏi trợ tá, những vị này làm việc trên thực địa tại Geneva và, quan trọng hơn cả, họ làm việc với các cấp chính quyền quốc gia và địa phương ở trong nước. Nhưng chính sự hiện diện có tính chỉ đạo, sự quyết tâm và quyền lực của các nguyên thủ quốc gia đã thúc đẩy Căm-pu-chia, Trung Quốc, và Á-rập Xê-út vượt qua được quán tính của các nhóm quyền lợi trong nước. Sức thuyết phục của các lãnh đạo này thậm chí thắng lướt cả sức nặng trì kéo của tiền lệ và ý thức hệ. Hầu như trước khi bắt tay vào việc đổi mới Trung Quốc, họ Đặng không có một chút lí lịch nào mang khuynh hướng tân tự do, khả dĩ dẫn đến một chương trình cải tổ như thế: Đặng Tiểu Bình từng giữ chức tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung quốc từ 1956 đến 1967 và chủ tịch Quân uỷ Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc từ 1981 đến 1989 – một lí lịch khó tưởng tượng là phù hợp với một nhân vật sắp chuyển hoá một thành trì kinh tế do nhà nước chỉ huy lớn nhất trong lịch sử thành một thị trường có tiềm năng lớn nhất thế giới. Tương tự như thế, vua Abdullah, vị tư lệnh Vệ binh Quốc gia của Ả-rập Xê-út từ năm 1962, không có gì chứng tỏ là một ứng viên nổi bật nhất có khả năng mở cửa một trong những quốc gia khép kín và hướng nội nhất trên thế giới, chí ít là vào thời điểm ông ta bắt đầu lèo lái vận mạng của Ả-rập Xê-út năm 1995 khi vua Fahd bị bại liệt vì tai biến mạch máu não. Rồi còn phải kể đến thủ tướng của Căm-pu-chia là ông Hun Sen, một cựu tư lệnh chiến trường của Khờ-me Đỏ đã bỏ ngũ sang với Việt Nam vào thời điểm những cảnh khủng khiếp do chế độ Pol Pot gây ra ngày một gia tăng. Khi đưa quân xâm lăng Căm-pu-chia năm 1979, người Việt Nam dựng nên chính quyền bù nhìn của họ, trong đó có Hun Sen. Năm 1993, khi nước này trở lại chế độ đa đảng, Hun Sen trở thành đồng-thủ-tướng của Căm-pu-chia. [3] Năm 1998, ông nắm trọn quyền hành của một vị thủ tướng duy nhất, và tiếp tục lãnh đạo một tiến trình chính trị không mấy gương mẫu. Nhưng cũng như Đặng Tiểu Bình và Abdullah, Hun Sen đã triển khai, trong mức độ tình hình và văn hoá cho phép, một viễn kiến tiến bộ cho tương lai, với chủ trương mở cửa ra cùng thế giới, gia tăng ổn định kinh tế, và dần dần xoá đói giảm nghèo xuyên qua việc hội nhập với kinh tế toàn cầu.

Công ty Căm-pu-chia

Vào đầu thập niên 1990, mặc dù quân Khmer Đỏ vẫn còn hoạt động dọc theo biên giới Thái Lan, nhưng Căm-pu-chia đã để lại đằng sau thảm kịch diệt chủng và bắt đầu lao vào một tiến trình cải tổ kinh tế. Trong vòng vài năm sau đó, một thí nghiệm đặc biệt dưới dạng thức đối thoại công-tư bắt đầu tiến hành, dưới thẩm quyền trực tiếp của Hun Sen. Thí nghiệm này hiện đang diễn tiến sinh động. Được Tập đoàn Tài chánh Quốc tế của Ngân hàng Thế giới hướng dẫn, cuộc đối thoại này đã đảm bảo khả năng ảnh hưởng của khu vực tư doanh lên việc hoạch định chính sách, một triển khai làm chỗ dựa cho tương lai của quốc gia này. Và nếu thiếu sự triển khai này thì không thể nói đến khả năng xoá đói giảm nghèo dài hạn của Căm-pu-chia.

Căm-pu-chia nộp đơn xin gia nhập WTO năm 1994, nhưng hồ sơ phải nằm chờ ở Geneva đến 5 năm. Trong thời gian này, người Căm-pu-chia ra sức chuẩn bị cho những cuộc đàm phán gia nhập sẽ xảy ra. Chính phủ Hun Sen giản lược cấu trúc thuế nhập cảng thành vỏn vẹn bốn bậc và giảm mức thuế trung bình từ 35 phần trăm xuống dưới 20 phần trăm là tối đa. Trong khi các cuộc đàm phán đang tiến hành, Căm-pu-chia còn đưa ra một loạt những cam kết có thực chất và đầy viễn kiến trong khu vực kinh tế dịch vụ nhằm đảm bảo tạo ra những dịch vụ hữu hiệu, có tính cạnh tranh để hỗ trợ cho sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Giáo dục bậc đại học và dịch vụ y tế, hai lãnh vực mà trước đó khu vực nhà nước bất lực trong việc cung ứng phương tiện vững chắc và đầy đủ, nay được mở ra cho tư nhân vào đầu tư. Chính phủ cũng chấp nhận thêm nhiều nhượng bộ quan trọng bằng cách mở cửa đón mời tư doanh vào các khu vực như ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, dịch vụ chuyên môn, và viễn thông.

Hầu hết những động thái này được thiết kế để thu hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh cho các công ty cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ bản địa, và đưa ra thị trường nhiều sản phẩm vừa có chất lượng vừa hợp túi tiền hơn. Nhưng chỉ mở cửa thị trường quốc gia thôi cũng chưa đủ, đó là điều hiển nhiên. Các định chế chính phủ, thủ tục hành chánh, và cả môi trường điều tiết kinh tế cũng cần phải được tăng cường và củng cố. Điều này có nghĩa là, phải lập ra một chương trình nghị sự cho ngành lập pháp và các cơ quan điều tiết. Chương trình này bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau như là: luật đầu tư, tư hữu hoá, luật khế ước, các loại toà án, luật hình sự và dân sự, và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ… Những cải thiện luật pháp này được hỗ trợ bằng nỗ lực thực thi các định chế tư pháp và tài chánh hiện hành và bằng nỗ lực gia tăng tính chuyên nghiệp trong các bộ ngành nhà nước. Cho đến nay Căm-pu-chia vẫn chưa thực hiện hết mọi cam kết đúng hạn kỳ hay trong cách thế mà các thành viên WTO khác mong muốn. Nhưng quốc gia này đã và đang từng bước chuyển động đúng phương hướng, và việc này diễn tiến bất chấp cả những xáo trộn chính trị xảy ra sau cuộc tuyển cử năm 2003. Những điều Căm-pu-chia cam kết với WTO đang mang lại lợi ích; mà kết quả cụ thể, dù chưa đồng bộ, sẽ biểu hiện rõ nét nay mai.

Sự thiếu tự tin lâu đời của Căm-pu-chia vì nằm dưới bóng của các nước lân bang giàu mạnh hơn như Trung Quốc, Việt Nam, và Thái Lan cũng bắt đầu tan biến. Hàng hoá xuất khẩu tăng mạnh, dẫn đầu là khu vực hàng may mặc có sức cạnh tranh cao (một khu vực người ta cho rằng đã bị sự cạnh tranh của Trung Quốc xoá bỏ kể từ năm 2005, thời điểm những hạn ngạch quốc tế áp đặt lên hàng may mặc của Trung Quốc được tháo gỡ). Lượng hàng xuất khẩu gia tăng từ 284 triệu Mĩ kim năm 1993 lên 1,4 tỉ Mĩ kim năm 2000, rồi gia tăng xấp xỉ gấp ba lần trong thời gian từ năm 2000 đến 2006. Lương công nhân vẫn còn thấp trong các xưởng may, nhưng nhân dân Căm-pu-chia đang làm ra của cải, và sự kiện này biểu hiện trên đường phố.

Các ngành dịch vụ đã phát triển mạnh, và ngành du lịch đang cất cánh; lợi tức của ngành giao thông và du lịch tăng gần gấp ba kể từ năm 2000. Ngân hàng nước ngoài hoặc đang thiết lập chi nhánh địa phương tại Căm-pu-chia, hoặc bày tỏ ý định làm điều này – đảo ngược hẳn khuynh hướng của các công ty muốn rút ra khỏi quốc gia này, vốn đã manh nha từ trước khi Căm-pu-chia gia nhập WTO. Thị trường nhà đất đã cất cánh trên lưng của ngành xây dựng đầy sinh lực. Các cam kết mà Căm-pu-chia đưa ra khi gia nhập WTO, trong đó có việc cho đóng băng trần thuế hải quan, đã tạo nên sự tin tưởng của giới đầu tư. Làm kinh doanh ở Căm-pu-chia, mặc dù còn nhiều vấn đề, nhưng ngày càng dễ dàng hơn trước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bắt đầu thực sự từ số không vào đầu thập niên 1990 đã lên đến 180 triệu Mĩ kim vào năm 2000, rồi lên đến khoảng 500 triệu Mĩ kim năm 2006. Chưa bao giờ quốc gia này có khả năng mua hàng hoá từ các đối tác quốc tế nhiều như hiện nay; lượng hàng nhập khẩu năm 2006 nhiều gấp mười lần năm 1993 và vượt quá số lượng gấp đôi hàng nhập khẩu năm 2000.

Nhưng thử thách tối hậu về sự thành công kinh tế của một nước như Căm-pu-chia là cuộc chiến chống nghèo đói. Cho đến nay, kết quả của nỗ lực này vẫn chưa đồng bộ, có nhiều lí do để lạc quan nhưng vẫn còn nhiều lí do để bi quan. Theo Chỉ số Phát triển Nhân sự do Liên hiệp quốc đưa ra, Căm-pu-chia đang ở hướng đi lên. Tổng sản lượng quốc nội (GDP) tính theo đầu người đang gia tăng. Theo tài liệu Chỉ số Phát triển Thế giới Năm 2007 của Ngân hàng Thế giới, Căm-pu-chia phát triển nhanh gấp đôi các quốc gia khác có khởi điểm ở một mức GDP tương tự trên mỗi đầu người. Còn Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kết luận rằng “những chính sách kinh tế vĩ mô bền vững đã cho phép Căm-pu-chia đạt được mức phát triển rất ấn tượng và bắt đầu đẩy lùi nạn nghèo đói”. Nhưng mặt khác và mới đây thôi, IMF lại nhận xét rằng nạn tham nhũng tại Căm-pu-chia vẫn còn tràn lan.

Những người thợ lặn trong sa mạc

Theo Ngân hàng Thế giới, hiện giờ Á-rập Xê-út là quốc gia đứng thứ 23 trên toàn thế giới và đứng đầu trong thế giới Ả-rập về mức độ thuận lợi cho doanh nghiệp. Sự tập trung chú ý gần đây vào giá dầu leo thang không ngừng đã làm cho người ta quên mất những thay đổi kinh tế to lớn đang diễn tiến trên đất nước này, một quốc gia sản xuất dầu hoả nhiều đứng thứ hai và là quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới.

Lại thêm một trường hợp nữa, WTO có nhiều can dự vào những biến chuyển này. Mối lo ngại mà người Xê-út canh cánh bên lòng suốt thời gian giá dầu xuống thấp là nền kinh tế của họ rất thiếu tính đa dạng. Và đây là một yếu tố chính thúc đẩy chính quyền Riyadh đi theo đường lối của WTO trong việc mở rộng nền kinh tế quốc gia. Kể từ đầu thập niên 1990, nhiều bộ phận đông đảo trong giới trẻ có trình độ giáo dục cao càng ngày càng trở nên bất mãn vì thiếu cơ hội để kiếm công ăn việc làm. Do đó, việc đa dạng hoá nền kinh tế là điều tất yếu. Nhất là khi nước Nga nhanh chóng đóng một vai trò rất quan trọng trong lãnh vực dầu khí và các sản phẩm liên hệ, thì bản thân ngành dầu hoả của Xê-út rất cần phải đa dạng hoá và để thực hiện điều này nó cần đến một số điều kiện mậu dịch ổn cố và khả dĩ tiên liệu. Việc Ả-rập Xê-út gia nhập WTO cũng hỗ trợ cho những mục tiêu khác của chính quyền Thái tử Abdullah lúc bấy giờ, đó là: đạt được mức phát triển quân bình khắp vương quốc, tăng cường khu vực tư doanh, phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, nhờ đó thu hút thêm đầu tư nước ngoài, đạt mục tiêu hội nhập xã hội và kinh tế giữa các nước trong tổ chức Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council), đồng thời hỗ trợ sự hợp tác kinh tế với các nước khác.

Chương trình tư hữu hoá của chính phủ Xê-út được ghi lại sau cùng trong những điều lệ kí kết với WTO là một chương trình đầy tham vọng. Trong những khu vực mà chính phủ dự trù tư hữu hoá có cả các ngành như cung cấp nước sạch, xử lý chất thải, khử muối; viễn thông và bưu điện; đường sắt, đường bộ, hải cảng và hàng không dân dụng; các tiện ích công cộng tại các thành phố công nghiệp; các công ty, khách sạn và câu lạc bộ thể thao hiện do nhà nước làm chủ; các ngành giáo dục, y tế, và nông nghiệp. Cam kết của chính phủ Xê-út có một chiều sâu và nó vẫn tồn tại đến sau năm 2002, thời điểm khi giá dầu bắt đầu lên lại.

Tuy vậy, việc Ả-rập Xê-út gia nhập WTO không xảy ra dễ dàng. Qua vài năm đầu trong quá trình đàm pháp, chính quyền Riyadh gặp khó khăn trong việc nắm bắt và chấp nhận những nguyên tắc nền tảng của hệ thống pháp lí đa phương. Trong khi ở thế giới Ả-rập châm ngôn “Lời nói của tôi là một tờ trái phiếu” là phong cách truyền thống của giới kinh doanh, thì chủ nghĩa đa phương mà một quốc gia xin gia nhập WTO phải thực hành lại đòi hỏi luật pháp rõ ràng, đòi hỏi các quy tắc điều tiết, các nghĩa vụ và các thoả ước. Ngoài ra, chủ nghĩa đa phương còn đòi hỏi sự cam kết sau đây: các điều khoản do một thành viên kí kết khi gia nhập có thể bị tất cả các thành viên khác trong tổ chức đem ra áp dụng với chính thành viên mới ấy. Lập trường của Ả-rập Xê-út về các dịch vụ ngân hàng theo tín lí Hồi giáo, việc cấm nhập khẩu một số mặt hàng vì lí do tôn giáo và việc Ả-rập tẩy chay Do Thái, tất cả đều có tiềm năng làm hỏng việc trong các giai đoạn đầu của quá trình Ả-rập Xê-út đàm phán xin gia nhập WTO. Nhưng rốt cuộc các yếu tố này đã không trở thành chướng ngại nghiêm trọng, vì các cuộc đàm phán chỉ tập trung vào tính minh bạch, vào việc mở cửa thị trường, vào chính sách không phân biệt đối xử và vào các điều kiện mậu dịch công bằng.

Tiến độ đàm phán giữa Ả-rập Xê-út và WTO tăng tốc sau năm 2000. Việc chuẩn bị để gia nhập WTO đã mang lại những cải tổ căn bản trong cấu trúc thuế quan dành cho hàng nhập khẩu. Thuế suất trung bình dành cho “tối huệ quốc”, một dạng thuế đơn giản đánh lên các sản phẩm không thuộc khu vực nông nghiệp và dầu khí, được giảm từ 12,2 phần trăm (1994) xuống 6,1 phần trăm (2004). Ả-rập Xê-út đưa ra nhiều cam kết với WTO như bất cứ thành viên nào của tổ chức mậu dịch này, trong đó có nhiều cam kết còn khắt khe hơn cả những điều khoản áp dụng cho Trung Quốc. Ngành dịch vụ của Ả-rập Xê-út được mở ra cho các công ti cung cấp vật liệu cũng như giới đầu tư nước ngoài; luật bảo vệ sở hữu trí tuệ và việc thực thi luật này ở Ả-rập Xê-út đã trở thành mẫu mực. Quốc gia này đã đa dạng hoá hàng xuất khẩu của mình: khối lượng hàng xuất khẩu không thuộc ngành dầu khí và hầm mỏ đã tăng trị giá gấp đôi trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2000 và tăng gấp mười trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, là lúc khối lượng này đạt gần 70 tỉ Mĩ kim. Hiện nay hàng nhập khẩu của Xê-út đã tăng quá mức gấp đôi, so với năm 2000. Ngoài ra, dịch vụ thương mại cũng đang tăng trưởng mạnh, với các phương tiện vận chuyển từ ngoài vào – tức các hoạt động của tàu bè do người nước ngoài làm chủ và các máy bay dân dụng nước ngoài bay vào bay ra Ả-rập Xê-út – tăng gấp đôi trong vòng tám năm qua.

Ả-rập Xê-út ngày càng thu hút sự chú ý của thế giới như là một nơi để đầu tư vào những ngành không liên hệ đến dầu khí. Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc cho biết rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Ả-rập Xê-út đã gia tăng từ 312 triệu Mĩ kim năm 1993 lên đến 4,6 tỉ Mĩ kim năm 2005. Theo tài liệu của IMF (Quĩ Tiền tệ Quốc tế), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (được tính trên một cơ sở khác hẳn) tại Ả-rập Xê-út gia tăng hơn 50 phần trăm từ năm 2005 đến 2006, đạt được 18,3 tỉ Mĩ kim. Dựa trên chỉ số “dễ dãi với doanh nghiệp” (ease of doing business) của Ngân hàng Thế giới, Ả-rập Xê-út đã tiến bộ thêm 10 bậc, từ thứ 33 năm 2007 lên thứ 23 vào năm 2008. Đây là một biểu hiện rất tốt nếu đem so với hầu hết các quốc gia đã phát triển. Trong khi đó, nền kinh tế nước này càng ngày càng trở nên đa dạng; tháng Mười năm 2007, IMF cho biết rằng mặc dù mức tăng trưởng GDP (tổng sản lượng quốc nội) của Ả-rập Xê-út chỉ còn 4,3 phần trăm, nhưng mức tăng trưởng GDP của những khu vực ngoài ngành dầu khí lại lên tới 6,3 phần trăm vào năm đó.

Hiển nhiên là phương Tây vẫn còn chỉ trích nhiều phương diện trong hệ thống xã hội, chính trị và pháp lý của Ả-rập Xê-út. Nhưng những lãnh vực này đang được cải tổ, một phần cũng nhờ chính những cam kết với WTO. Ý niệm về Ả-rập Xê-út như một vương quốc khép kín, đóng cửa với thế giới bên ngoài, là hình ảnh đã chìm vào dĩ vãng. Liệu những đổi thay do việc Ả-rập Xê-út xin gia nhập WTO tạo ra cuối cùng có thật sự thay đổi xã hội nước này không thì chưa ai biết được. Nhưng có một điều không thể tranh cãi là, Ả-rập Xê-út đang trở thành một quốc gia khác trước rất nhiều.

Cuộc chạy đường trường của Trung Quốc

Chắc chúng ta không cần kể lại nơi đây gương thành công kinh tế của Trung Quốc; thành tích thương mại của nước này vẫn còn giữ được mức cao ngất. Mọi người đều ý thức được sự gia tăng không ngừng lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc, và một số quốc gia thậm chí đang cố gắng chống trả khuynh hướng này của Trung Quốc bằng những biện pháp bảo hộ mậu dịch. Tuy thế, thành tích nhập khẩu của Trung Quốc lại ít khi được bàn đến. Lượng hàng Trung Quốc mua từ các nước khác đã tăng mạnh và tăng đều, song hành với mức độ gia tăng của hàng xuất khẩu – Trung Quốc đã nhập khẩu một lượng hàng từ 53 tỉ Mĩ kim vào năm 1990 lên tới 800 tỉ Mĩ kim năm 2006. Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2006, mức tăng trưởng hằng năm của lượng hàng nhập khẩu là 23 phần trăm; còn mức tăng trưởng hằng năm của lượng hàng xuất khẩu là 25 phần trăm. Mặc dù các nền kinh tế chính của thế giới đang chịu những khoản thâm thủng mậu dịch to lớn có tính cơ cấu với Trung Quốc, nhưng không phải quốc gia vĩ đại này xuất khẩu bất chấp cả sự thua thiệt của mọi nước khác đâu. Thành tích thu nhận đầu tư từ ngoài vào cuả Trung Quốc không kém phần ấn tượng. Trong khoảng từ năm 1986 và 1991, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trung bình hàng năm ở Trung Quốc là vào khoảng 3 tỉ Mĩ kim; nhưng vào năm 2006 vốn đó lên đến 70 tỉ Mĩ kim. Dần dần, việc kinh doanh ở Trung Quốc trở nên ít tốn kém hơn và dễ dàng hơn trước.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng đạt nhiều tiến bộ trong việc xoá đói giảm nghèo. Theo Ngân hàng Thế giới, lợi tức bình quân đầu người của Trung Quốc tăng trưởng hơn năm lần kể từ năm 1990 đến năm 2006, tức là từ 320 Mĩ kim đến 1.740 Mĩ kim một năm. Mặc dù một phần cực lớn của cải tăng trưởng này đi vào túi của một thiểu số, nhưng mức độ nghèo đói trong cả nước đang xuống thấp. Tỉ lệ bách phân của số người Trung Hoa sống đắp đỗi với số tiền chưa được 1 Mĩ kim một ngày đã rơi từ 33 phần trăm vào năm 1990 xuống dưới mười phần trăm vào năm 2005. Mức suy dinh dưỡng trong trẻ em đã xuống rất thấp. Nhiều người vẫn còn sống chật vật, nhất là ở vùng quê, nhưng một giai cấp trung lưu to lớn và ngày một phình ra thì đang làm ăn phát đạt. Số người sử dụng điện thoại di động gia tăng từ 11 phần trăm năm 2001 lên đến 30 phần trăm năm 2005.

Rõ ràng là, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã kích thích khiến những thay đổi ngoạn mục xảy ra trên nước này. Vào tháng Chín năm 1982, bốn năm trước khi Bắc Kinh xin gia nhập WTO, Đặng Tiểu Bình đã nói trước Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng đất nước này “phải tự khai mở một lối đi riêng, xây dựng chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Hoa. Hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa là đường lối cơ bản của chúng ta. Muốn thực hiện đường lối này và mang lại phồn vinh cho Trung Quốc, chúng ta phải thực thi những chính sách cải tổ và mở cửa ra thế giới bên ngoài”.

Nhưng hoá ra, con đường canh tân đất nước là một tiến trình khó khăn và lâu dài. Vốn là hội viên thành lập cơ cấu GATT (nhưng đã từ bỏ tổ chức này năm 1950), Trung Quốc không cho rằng mình bị đòi hỏi phải xin gia nhập WTO như một thành viên mới; nói đúng ra, Trung Quốc chỉ xin “tiếp tục lại tư thế cũ của mình”. Nhưng, dù nói gì đi nữa, ý định thực tiễn của Trung Quốc luôn luôn rõ ràng. Ngay cả những khi việc cải tổ kinh tế có thay đổi chiều hướng và cường độ qua nhiều năm tháng, Trung Quốc vẫn liên tục xích gần đến việc gia nhập WTO và mở cửa kinh tế. Nghị định thư mà Trung Quốc gửi đến các thành phần tham gia cơ cấu GATT năm 1987 đã công khai nhìn nhận: “Việc hoạch định chính sách kinh tế quá tập trung ở cấp Trung ương và công tác điều tiết kinh tế bằng kế hoạch cưỡng bách của nhà nước đã bỏ qua vai trò của những kỹ xảo trong thị trường (market mechanisms). Do đó, các xí nghiệp đạt hiệu năng kinh tế rất thấp vì thiếu sức sống và nền kinh tế hàng hoá không được triển khai đúng mức.”

Vào thời điểm năm 1987, Trung Quốc vẫn còn tự coi mình là một nước đang phát triển có lợi tức thấp (lúc bấy giờ ở thôn quê mức thu nhập bình quân mỗi năm trên đầu người là 136 Mĩ kim và, cũng theo nghị định thư, “mức chi tiêu bình quân một năm trên mỗi đâu người ở thành thị là 256 Mĩ kim), mặc dù trước đó nhiều cải tổ đã bắt đầu diễn ra ở vùng quê từ năm 1979 và được khởi động trong nền kinh tế tại các thành thị sau năm 1984. Nghị định thư giải thích rõ một số thay đổi căn bản: “Hiện nay hệ thống phân phối bình quân ‘mọi người ăn chung từ một nồi lớn’ đang bị dẹp qua một bên. Trong các tổ chức và định chế nhà nước, hệ thống thang lương đang được thay thế bằng hệ thống lương có cấu trúc, nghĩa là nhân viên được hưởng lương tương xứng với chức vụ mà họ nắm giữ. Việc tái lập chế độ tiền thưởng và thử nghiệm liên kết toàn bộ tiền lương-tiền thưởng với năng suất đã gia tăng mức sản xuất của xí nghiệp và sự hăng hái làm việc của công nhân viên rất nhiều”. Nghị định thư còn nói thêm: “Nhiều cải tổ đã được thực hiện trong hệ thống giá cả vốn rất phi lí và trong việc quản lí giá cả vốn quá nặng nề”. Tuy vậy, việc dứt bỏ quá khứ vẫn chưa dứt khoát: mặc dù việc kế hoạch hoá ở trung ương có thể đã bị bãi bỏ, nhưng theo nghị định thư, hệ thống kinh tế mới bắt buộc phải là một “nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch”.

Rõ ràng là chế độ mậu dịch của Trung Quốc cần phải được phát triển. Bắc Kinh đã hợp lí hoá những thủ tục vốn quá cứng rắn trong các định chế nhà nước và trong các cơ quan điều tiết kinh tế, nhưng cần phải thay đổi nhiều hơn nữa để đáp ứng ngay cả những đòi hỏi tương đối lỏng lẻo của cơ cấu GATT lúc bấy giờ. Nổi cộm nhất là cơ cấu thuế quan kỳ quặc của Trung Quốc, với thuế xuất-nhập khẩu “tối thiểu” và “tổng quát” dàn trải từ 3 phần trăm đến 160 phần trăm, một hệ thống không thể nào thoả mãn đòi hỏi của các thành viên chính trong cơ cấu GATT. Ngoài ra, Trung Quốc còn có một số vấn đề khác, như là: chế độ cấp giấy phép xuất-nhập khẩu kềnh càng, những kiểm soát hối suất rất o-ép, các chức năng bảo vệ sở hữu trí tuệ chỉ hiện hữu ở mức tối thiểu, luật đầu tư thiếu hấp dẫn, các thủ tục kiểm tra kỹ thuật và y tế của hàng nhập khẩu không đáng tin cậy.

Mặc dù có nhiều khiếm khuyết nghiêm trọng về tính trong sáng trong một số nhượng bộ của Trung Quốc, thoả ước gia nhập sau cùng mà Trung Quốc kí kết được với WTO là một thành công xuất sắc. Đây là một thoả ước có chiều sâu và mức độ phức tạp chưa hề thấy. Ngày nay, cơ cấu thuế quan mà Trung Quốc dành cho các nước bạn hàng trong WTO được định ở mức trung bình là 10 phần trăm. Mức thuế trung bình tính theo hệ số mậu dịch (trade-weighted) thực sự áp dụng cho hàng nhập khẩu hiện nay là chưa được 5 phần trăm. Những dàn xếp trong giai đoạn quá độ đã cho phép Trung Quốc có đủ thì giờ để thích nghi thêm với luật lệ của WTO, trong khi đó các thị trường lớn nhất của Trung Quốc cũng chứng tỏ họ đã biết tự chế trong việc bảo hộ các công nghiệp đang gặp phải khó khăn. Giới tiêu thụ khắp thế giới nhờ vậy mà được hưởng lợi. Nhu cầu của một nền kinh tế Trung Quốc đang lên đã tạo ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho các nước đang phát triển, tức các nước cung cấp thương phẩm nông nghiệp và nguyên vật liệu. Nhờ có những cam kết mà Trung Quốc kí với WTO, nhiều công ti chế tạo và công ti cung cấp dịch vụ nước ngoài đã và đang lũ lượt vào kinh doanh ở nước này. Ít có quốc gia nào có thể tưởng tượng mình không cần đi vào thị trường của Trung Quốc trong những thập niên sắp tới.

Vào năm 1986 [thời điểm Trung Quốc xin gia nhập WTO] đố ai có thể tưởng tượng trong vòng 20 năm sau sẽ có hai công ty Đức kí hợp đồng xây cất và điều hành một bệnh viện trị giá 145 triệu Mĩ kim tại Thượng Hải? Hay tưởng tượng được rằng tới năm 2007 sẽ có đến 1200 cơ xưởng chế tạo đồ phụ tùng xe hơi với vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc – chiếm đến 50 phần trăm của thị trường này? Hay tưởng tượng rằng hãng Volkswagen sẽ xuất khẩu xe do người Trung Quốc chế tạo sang 80 quốc gia. Mặc dù vấn đề hàng giả hàng nhái vẫn còn tồn tại, lượng hàng bán ra của công ty châu Âu LVMH, một công ty sản xuất hàng xa xỉ tại Trung Quốc, trong thời gian qua vẫn tăng lên 50 phần trăm một năm. Hãng chế tạo máy bay Boeing [của Mĩ] dự kiến các hãng hàng không dân dụng của Trung Quốc sẽ chi tiêu 183 tỉ Mỹ kim để mua máy bay mới trong vòng hai thập niên tới; cho đến nay Boeing đã nhận của Trung Quốc chí ít 50 đơn đặt mua 787 Dreamliner (hàng trăm máy bay Boeing thuộc các kiễu trước đó hiện đang được Trung Quốc sử dụng). Theo thống kê chính thức của Trung Quốc, trong năm 2006 có 34 triệu du khách Trung Quốc đi ra nước ngoài (kể cả Hồng Kông và Macao). Nội trong nửa năm đầu của 2007 đã có hơn 38 triệu du khách Trung Quốc đi ra nước ngoài.

Đây chỉ là vài ví dụ về một chuyện tự nó đã không thể xảy ra, nếu không có những nỗ lực gay cấn của nhiều nhà lãnh đạo và viên chức kế tiếp nhau của Trung Quốc trong việc chuẩn bị đường dài cho nước này gia nhập WTO. Ở Trung Quốc, cũng như ở Căm-pu-chia và Ả-rập Xê-út, WTO đã có ảnh hưởng rất to lớn trong việc biến viễn kiến của các nhà lãnh đạo đất nước thành hiện thực. Bất chấp chuyện gì có thể xảy ra ở Vòng đàm phán Doha, các lãnh đạo chính trị cũng nên vận dụng tốt sức tác động của WTO.
——————————————————————————–
[1]GATT (dịch giả sẽ giữ nguyên dạng viết tắt này trong toàn bài): The General Agreement of Tariff and Trade (Hiệp ước Chung về Thuế quan và Thương mại), tiền thân của WTO. Sau Thế chiến II, song song với nỗ lực đàm phán với mục đích thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), 23 quốc gia tham dự hội nghị đã kí Hiệp ước Chung về Thuế quan và Thương mại, hay GATT, vào ngày 1-1-1948 với mục đích hạ thấp các rào cản thuế quan. Vì Hoa Kỳ rút lui, Tổ chức Thương mại Quốc tế bất thành, nhưng GATT là thành quả còn lại để tiếp tục chi phối các hoạt động mậu dịch giữa các nước kí kết (trong đó có Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc).
[2]Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) điều hành các cuộc đàm phán xuyên qua cái gọi là các vòng đàm phán. Vòng đàm phán Doha bắt đầu bằng cuộc họp cấp bộ trưởng, tổ chức tại thủ đô Doha, Quốc gia Qatar, và vẫn còn tiếp diễn. Mục đích của Vòng đàm phán Doha là hạ thấp những rào cản thuế quan khắp thế giới, mở rộng tự do mậu dịch giữa các quốc gia có trình độ kinh tế khác nhau. Các cuộc họp cấp bộ trưởng tiếp theo đã diễn ra tại Cancun, Mê-hi-cô (2003) và Hồng Kông, Trung Quốc (2005). Còn các cuộc đàm phán liên hệ thì diễn ra ở Geneva, Thuỵ Sĩ; Pa-ri, Pháp; rồi trở lại Geneva.
[3]Từ năm 1993 đến năm 1998, Hun Sen là đồng-thủ-tướng với Hoàng tử Norodom Ranariddh. Lấy lí do Ranariddh liên minh với tàn dư của Khmer Đỏ, Hun Sen tung ra một cuộc đảo chánh đẫm máu và sau đó nắm trọn quyền bính của một vị thủ tướng duy nhất kể từ năm 1998.

Nguồn: Foreign Affairs, tháng Ba/tháng Tư 2008

June 27, 2008

Dân Biểu Sanchez Kêu Gọi Dũng Đưa Ra Bằng Cớ

Filed under: Chính trị, xã hội, Quốc tế — tudo @ 2:08 am

Video: Dân Biểu Sanchez Kêu Gọi Thử Tướng Dũng Đưa Ra Bằng Chứng về Chính Sách Cải Thiện Nhân Quyền Tại Việt Nam

 

 

 

WASHINGTON, D.C. – Hôm nay, Dân Biểu liên bang Loretta Sanchez, đồng chủ tịch Nhóm Việt Nam Caucus đã có một bản điều trần trước Hạ Viện Hoa Kỳ và đã được tuyền trình  nhằm đáp lại cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Bush và Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng hôm Thứ ba vừa qua.
 
 Dưới đây là bản tuyền trình nguyên văn của Dân Biểu Sanchez . Xin vào clip dưới đây để xem.

http://www.cq.com/floorvideo/play.do?id=abab31e0187b78718a051005f1f5c5477d8776269d05bf99bbbe6ca34e00f3ca2d3ddfe014fd74e08dcd8d68087ef864059f85f4492af0a7af057dd99be1ced00ee91d5d05f0086c.  

 
 “Xin cám ơn Ông Chủ Tịch, tôi đứng đây hôm nay để bàn thảo về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Thủ Tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng trong tuần này.
 
 “Theo tôi được biết trong cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Bush và Thủ Tướng Dũng vừa qua, tình trạng nhân quyền tại Việt Nam đã được thảo luận đến, và Thủ Tướng Dũng đã nói với Tổng Thống Bush rằng chính quyền Việt Nam đã luôn tích cực quảng bá và cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.
 
 “Tuy nhiên, là một người tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam và đồng thời đại diện đại diện cho một trong những cộng đồng Việt-Mỹ lớn nhất hải ngoại – thực tế cho chúng tôi biết không những tình trạng nhân quyền tại Việt Nam không được cải thiện mà càng ngày càng tồi tệ.
  
 “Chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp, giam giữ và kết tù các nhà đấu tranh dân chủ – công dân Việt Nam, và kể cả công dân Hoa Kỳ! 
 
 “Để tăng cường chiến dịch đàn áp, chính quyền Việt Nam đã đi ngược lại quyền tự do ngôn luận trong Hiến Pháp của họ bằng cách không ngừng quấy rối và giam giữ những nhà viết nhật ký điện viết về chế độ về các tệ nạn xã hội.
 
 “Nếu có sự cải thiện, tôi kêu gọi Thử Tướng Dũng hãy đưa ra các bằng chứng về chính sách mà chính quyền Việt Nam dùng để cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam đến với Quốc Hội Hoa Kỳ – NHƯNG, tôi lo đây chỉ là một trong những lời hứa tróng không từ phía Chính Quyền Việt Nam.
 
  “Vì đó, Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới phải cùng đứng lên tạo áp lực đến với nhà cầm quyền Việt Nam để sớm ngày chấm dức tình trạng đàn áp nhân quyền và tôn giáo.”
 VNE

June 12, 2008

Bầu Cử 2008: Tìm Hiểu về Hai Ứng Cử Viên Barack Obama và John McCain

Hùng Nguyễn

 

 

Trước một số vấn nạn toàn cầu như giá xăng dầu tăng vọt theo tốc độ phi mã, một cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang có nguy cơ bùng nổ, vai trò của Mỹ trên thế giới xem ra đang suy thoái, cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu có thể xảy ra, quân khủng bố có khả năng thủ đắc võ khí giết người hàng loạt, mưu đồ xâm lược toàn cầu của Bắc Kinh, v.v…. Thì tưởng trong trong mấy thập niên gần đây, vai trò của một TT Mỹ sắp tới trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trên tinh thần đó, cùng với việc ông Obama đã chính thức được đại diện đảng Dân Chủ tranh ghế TT với TNS John McCain của đảng Cộng Hòa. Người viết xin mời quý bạn dù là cử tri hay không, dù là ở Mỹ hay không, hãy tìm hiểu về hai ứng cử viên này, từ đó giúp chúng ta có một nhận xét đúng đắn cho kỳ bầu cử sắp tới.

 

Trong cuộc vận động tranh cử 2008 này, mỗi ứng cử viên đều khởi động cuộc tranh cử bằng một bài nghị luận qua một cuộc họp có tầm mức và sau đó được đăng trên các cơ quan truyền thông lớn của Mỹ. Vậy tưởng một trong những cách cụ thể nhất để tìm hiểu về một ứng cử viên là biết về tiểu sử, cũng như bài nghị luận bàn về đường lối chung của ứng cử viên đó. Dĩ nhiên, các bài nghị luận này, dù có phải do ứng cử viên đó tự tay viết hay không, cũng là những bài nghị luận với văn phong đáng cho ta tham khảo hay học hỏi, dù chúng không hẳn đã được thực thi hoàn toàn khi ứng cử viên đó đắc cử.

Bài này viết ra không nhằm mục đích vận động “chùa” cho một ứng cử viên nào; mà là một cử tri Mỹ gốc Việt độc lập (không đảng phái), người viết sẽ ủng hộ ứng cử viên hay liên danh nào có được một trong mấy căn bản sau:

- Liên danh đó có khuynh hướng tạo ra lợi thế nhất cho việc đấu tranh tiêu diệt, lật đổ chế độ Việt Gian CS.

- Liên danh đó phải có thái độ thích đáng đối với Bắc Kinh; nếu không được như vậy thì ít nhất cũng phải nhận ra rằng vấn nạn sâu xa nhất, lâu dài nhất, và nguy hiểm nhất của nhân loại ngày chính là tham vọng của Hán tộc.

- Nếu không, liên danh đó phải có khả năng giải quyết ít nhất càng nhiều vấn nạn toàn cầu hiện nay càng tốt, đặc biệt vấn đề khủng hoảng kinh tế đang mấp mé đe dọa nước Mỹ cũng như toàn cầu.

Người viết không có cái “máu” chống Hán tộc; tuy nhiên, nếu Mao không thành công nhuộm đỏ được Hoa Lục, thì tên thái thú Việt gian Hồ hiển nhiên không có cơ hội nhuộm đỏ Việt Nam, và do đó Việt Nam đã không phải trở thành một bãi chiến trường nóng, thành nơi cung cấp nhân mạng, lãnh thổ cho thị trường võ khí Nga, Tầu khoác áo XHCN, và nay nếu không là một nước mạnh như Nam Hàn thì ít nhất cũng không đến nỗi ở trong tình trạng mấp mé bị mất nước, diệt tộc như bây giờ. Do vậy, chống Hán tặc và chống Việt gian tuy hai mà một, tuy một nhưng lại là hai, và người viết không thể không lưu tâm tới vấn đề này.

 

JOHN MC CAIN.

§ Vài Hàng Tiểu Sử.

a. Họ và Tên: John Sidney McCain.

b. Ngày, Nơi Sinh: 29-08-1936 tại vùng Kinh Đào Panama.

c. Cư Ngụ: Phoenix, thành phố thuộc tiểu bang Arizona.

d. Gia Đình: Đã lập gia đình, với phu nhân là bà Cindy, cùng 4 con trai Douglas, Andrew, John IV, James; và 3 con gái là Sidney, Meghan và Bridget.

e. Gia Cảnh và Sự Nghiệp:  

Sinh ra trong một gia đình có gốc gác Hải Quân với cả cha lẫn ông của ông đều là Đề Đốc Tư Lệnh toàn bộ lực lượng Thái Bình Dương thuộc Hải Quân Hoa Kỳ. Cha ông, Đề đốc Hải Quân  John Sydney McCain, Jr., người thuộc tiểu bang Indiana và mẹ là Roberta (nhũ danh Wright) McCain, người gốc tiểu bang Oklahoma. Ông trải qua thời thơ ấu và vị thành niên tại những căn cứ Hải quân khác nhau tại Mỹ và quốc ngoại.

Năm 1958, ông tốt nghiệp Học Viện Hải Quân tại Annapolis chuyên ngành phi công Hải quân. Khi chiến tranh Việt Nam bùng nổ, McCain tình nguyện tham gia lực lượng chiến đấu và bắt đầu lái loại phi cơ không kích bay  ở cao độ thấp để tấn công Bắc Việt. Ngày 26-10-2008, trong phi vụ thứ 23, phi cơ của ông bị bắn hạ tại Hà Nội. Bọn Việt gian mau chóng biết ông là con trai của một viên chức cao cấp Mỹ nên đã luôn đề nghị thả ông sớm, nhưng ông từ chối, vì không muốn vi phạm quân luật và biết rằng Bắc Việt có thể dùng việc thả ông để tuyên truyền.

Kết quả là ông bị tù trong 5 năm rưỡi tại các nhà tù khác nhau, trong đó có 3 năm rưỡi bị biệt giam và liên tục bị đánh đập và tra tấn trước khi được phóng thích trong đợt trao trả tù binh tháng 03-1973.  Mặc dù qua thời gian tù tội ông bị mất hầu hết sức khỏe và sự bén nhậy nhưng ông vẫn quyết định tiếp tục phục vụ trong vai trò điều khiển hải quân phi hành.Chín tháng sau đó ông tiếp tục bay, nhưng chẳng bao lâu sau ông nhận ra là mình đã bi chấn thương và do đó không thể tiếp tục tiến tới trong nghề phi công Hải quân được nữa.

Ông bắt đầu bước vào chính trường năm 1977 khi được giao nhiệm vụ điều phối viên – liaison – giữa Hải quân và Thượng Viện. Năm 1980, sau khi lấy vợ kế là bà Cindy Hensley, Mccain di chuyển đến Phoenix, Arizona và bắt đầu các liên lạc chính trị. Năm 1982 ông đắc cử chức Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ một cách dễ dàng khi hồ sơ chiến tranh của ông đã giúp ông thắng được các mối nghi ngờ cho rằng ông chỉ là một kẻ “cơ hội chủ nghĩa đến từ miền Bắc — carpetbagger”.

Năm 1986, sau khi TNS nổi tiếng thời bấy giờ của đảng Cộng Hòa, Barry Goldwater, về hưu, ông thắng cử vào Thượng Viện Hoa Kỳ. Ở cả hai viện McCain nổi tiếng là một chính trị gia bảo thủ có đường lối riêng — maverick politician. Thí dụ, tuy thuộc đảng Cộng Hòa nhưng ông không ngần ngại đặt nghi vấn về các nên tảng của đảng Cộng Hòa. Thí dụ, ông kêu gọi rút Thủy quân lục chiến Mỹ khỏi Lebanon năm 1983 và công khai chỉ trích chính phủ Reagan về vụ Iran-Contra.

Năm 1987-1989, McCain bị liên bang điều tra vì bị nghi ngờ là một thành viên trong nhóm “Keating Five,” tức là một nhóm thượng nghị sĩ bị tố cáo can thiệp một cách không thích hợp vào công việc của các nhân viên kiểm soát liên bang giúp Charles H. Keating Jr, nguyên giám đốc hệ thống Lincoln Savings  Load Association, mà biến cố này sau cùng đã trở thành một tai họa cho ngành tài trợ vào giai đoạn cuối thập niên 1980. Nhưng sau cùng ông được kết án vô tội, mặc dù các nhân viên điều tra  tuyên bố ông đã thực hành một “phán đoán kém” qua việc gặp gỡ các nhân viên kiểm soát.

McCain sau cùng đã trải qua cơn sóng gió và tái đắc cử Thượng nghi sĩ 3 nhiệm kỳ liền, lần nào cũng với đa số phiếu cao. Uy tín với tư cách một chính trị gia ở tầm vóc “maverick” với một niềm tin cứng cỏi và tính tình mau mắn của ông càng lúc càng tăng cao. Nhiều người còn rất có ấn tượng vì sự cởi mở với giới truyền thông và đại chúng của ông.

Năm 2000, mặc dù McCain không thành công trong vòng đua làm ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa trước đối thủ là Thống đốc Texas, George W. Bush trong cuộc đua sơ bộ đảng CH tại New Hampshire, nhưng trên thực tế ông đã trở thành một trong vài thượng nghị sĩ được cả nước biết đến.

f. Tôn Giáo: Tin Lành, giáo phái Episcopalian.

g. Giáo Dục:

- Tốt nghiệp: Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ – United States Naval Academy năm 1958.

- Đại Học Chiến Tranh Quốc Gia – National War College năm 1974.

h. Nghề Nghiệp:

- Hạ nghị sĩ Mỹ từ năm 1983 đến năm 1987.

- Thượng Nghị Sĩ Mỹ từ năm 1987 cho đến nay.

- Có chân trong: Ủy Ban về Thương Mại, Khoa Học và Giao Thông Hoa Kỳ; Giám đốc Ủy Ban Da Đỏ — Commitee on Indian Affairs, 1995-1997, 2005-2007.

i. Sách Đã Xuất Bản:

- Niềm Tin của Các Cha Tôi — Faith of My Fathers (1999)

- Đáng Để Chiến Đấu – Worth Fighting For (2002)

- Cá Tính Là Định Mệnh: Những Mẩu Chuyện Khích Lệ mà Mỗi Người Trẻ Nên Biết và Mỗi Người Trưởng Thành Nên Ghi Nhớ — Character Is Destiny: Inspiring Stories Every Young Person Should Know and Every Adult Should Remember (2005)

- Kêu Gọi Khó Khăn: Các Quyết Định Đúng và Thành Phần Ngoại Hạng Đưa Ra Những Quyết Định Này — Hard Call: Great Decisions and the Extraordinary People Who Made Them (2007)

(Trích dịc từ: http://www.biography.com/search/article.do?id=9542249)

§ Chủ Trương – Đường Lối.

A. Chủ Trương.

Trong bài nghị luận tranh cử tựa đề MỘT NỀN HÒA BÌNH VĨNH CỬU DỰA TRÊN TỰ DO — An Enduring Peace Built on Freedom,
(Tiếng Việt: http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Pages/Article%20199.htm,
Tiếng Mỹ: http://www.foreignaffairs.org/20071101faessay86602/john-mccain/an-enduring-peace-built-on-freedom.html)

John McCain có lẽ rút kinh nghiệm về chính sách “tháo chạy” khỏi Việt Nam nên đã đề cao chủ trương của ông, là:

“Ngay từ thuở lập quốc, người Mỹ đã tin rằng đất nước của chúng ta được khai sinh cho một mục đích. Chúng ta, như Alexander Hamilton đã nói, là ‘một dân tộc có một định mệnh cao cả.’ Từ Cách Mạng Hoa Kỳ cho đến Chiến Tranh Lạnh, người Mỹ đã thấu hiểu nhiệm vụ của họ là phải phục vụ cho một mục tiêu cao cả ấy hơn là cho quyền lợi cá nhân và giữ vững niềm tin với các điểm phổ quát và vĩnh cửu đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Bằng cách chiến thắng các đe dọa đến sự tồn tại của đất nước chúng ta và cách sống của chúng ta, và bằng cách nắm bắt các cơ hội quan trọng, người Mỹ đã và đang làm thay đổi thế giới.” 

Và qua đó, ta thấy chủ trương của John McCain có thể tập trung qua việc tái tạo uy tín của Mỹ trên trường thế giới, cụ thể là qua việc chiến thắng tình hình tại Iraq bằng mọi giá, dù có phải tổn hao thêm cả thời gian lẫn nhân, vật lực, chứ không “tháo chạy” như ở Việt Nam.

Để có thể tái tạo được niềm tin của thế giới vào vai trò lãnh đạo của Mỹ, ông chủ trương hồi sinh Liên Minh Đại Tây Dương và quan trọng không kém là thành lập một liên minh dân chủ trên thế giới theo dự kiến của TT Theodore Roosevelt:  “các quốc gia đồng tâm thức hợp nhất nhằm kiến tạo hòa bình và tự do”, có tác dụng bổ xung cho rất nhiều khiếm khuyết mà LHQ đang mắc phải (thi du, Tầu Cộng âm mưu lợi dụng LHQ cho mục tiêu Hán hóa toàn cầu chẳng hạn). Mà:  “Tổ chức này sẽ hành động nếu Liên Hiệp Quốc thất bại nhằm khôi phục lại sự sống ở những vùng khốn khổ như Darfur, chống HIV Aids ở Sahara, đề ra các chính sách chống lại cuộc khủng hoảng môi sinh, cung cấp cơ hội thương mại cho những ai đi theo con đường tự do trong kinh tế và chính trị và thực hiện các biện pháp cần thiết đối với các vùng chưa đạt đến trình độ chung.”

Về châu Á Thái Bình Dương, ông cho rằng: “Sức mạnh trên thế giới đang chuyển về phương Đông, Á Châu Thái Bình Dương đang lên. Nếu giữ vững vùng này của thế giới, thế kỷ này sẽ trở nên an hòa hơn cho cả Mỹ và Á Châu, cả sung túc lẫn tự do.”

Do đó, đối với Nhật, ông chủ trương giúp Nhật trở thành một thành viên trong Hội Đồng Bảo An LHQ. Đối với Tầu Cộng, ông cho rằng:

Trung Hoa vẫn lớn tiếng nói là: họ phát triển trong hòa bình nhưng chẳng thể giải thích được tại sao họ lại tăng cường quân lực. Khi Trung Hoa đóng tiềm thủy đĩnh, gia tăng hàng trăm oanh tạc cơ, tối tân hóa kho vũ khí hạch tâm và hỏa tiễn, thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh. Hoa Kỳ phải tự hỏi về ý đồ sau các hành động khiêu khích ấy. Khi Trung Hoa đe dọa nền dân chủ ở Đài Loan bằng khối lượng khổng lồ hỏa tiễn và các vũ khí khác, Hoa Kỳ phải ghi nhận. Khi Trung Hoa kết thân về kinh tế và chính trị với các quốc gia hung đồ như Miến Điện, Sudan, Zimbabwe các căng thẳng gia tăng. Khi Trung Hoa đề nghị một diễn đàn hợp tác kinh tế nhằm gạt Hoa Kỳ ra khỏi Á Châu, “nước Mỹ sẽ hành động”.

 

B. Các Vấn Đề – Đường Lối, Biện Pháp.

(Trích dịch từ: http://www.johnmccain.com/Informing/Issues/)

1. Kinh Tế: Đề ra các biện pháp tức thời nhằm cung cấp trợ giúp tức khắc cho các gia đình Mỹ đang cần trợ giúp, đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết dài hạn hơn nhằm bảo đảm sự thịnh vượng của nền kinh tế Mỹ và vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới; như: giúp dân Mỹ đối phó với nạn vật giá leo thang; giúp dân trong cuộc khủng hoảng nhà cửa; giảm thuế; giảm chi phí chính phủ, khuyến khích mậu dịch và cạnh tranh; tăng cường an ninh công việc và trợ giúp người thất nghiệp, v.v…

2. Y Tế: Đem chi phí y tế đang ngày càng gia tăng xuống mức cần thiết là cách duy nhất để chặn đứng sự xói mòn các chi phí y tế có thể chấp nhận được, bảo vệ hai chương trình Medicare và Medicaid, bảo về các quyền lợi y tế cho người về hưu, và cho phép các công ty được cạnh tranh một cách có hiệu quả trên thế giới. Cụ thể là: canh tân hầu có thể giảm chi phí bảo hiểm y tế đến mức mọi người có thể mua được; bảo đảm bảo hiểm cho những người có bệnh ngặt nghèo; giúp đỡ các trẻ em bị bệnh rối loạn thần kinh – autism, v.v…

3. An Ninh Quốc Gia: Có viễn kiến cần thiết và kinh nghiệm vô địch để lãnh chức Tư lệnh Quân Đội Hoa Kỳ cũng như biến báo hệ thống quốc phòng cho nhu cầu “bảo tồn và bảo vệ” các công dân Mỹ trước các nhu cầu của một thế giới đang thay đổi theo chiều hướng ngày càng nguy hiểm hơn. Cụ thể: xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh trong một thế giới nguy hiểm; chống các thành phần Hồi giáo cực đoan có khuynh hướng bạo động và các chiến thuật của chúng; ủng hộ một chương trình hỏa tiễn phòng vệ có hiệu quả; gia tăng kích thước của quân đội; hiện đại hóa các binh chủng; chi tiêu quốc phòng một cách khôn khéo hơn; chăm sóc các binh sĩ và gia đình của họ; vinh danh những nỗ lực của Mỹ nhằm hết lòng giúp đỡ các cựu chiến binh và chiến sĩ về hưu.

4. Giáo Dục: Nước Mỹ theo đuổi mục tiêu bình đẳng; sẽ không có bình đẳng về cơ hội nếu không có bình đẳng về một nền giáo dục xuất chúng. Do vậy, nền giáo dục Mỹ phải dựa trên sự xuất sắc, sự chọn lựa, và sự cạnh tranh.

5. Iraq: Về mặt chiến lược và đạo đức Mỹ có trách nhiệm phải ủng hộ chính phủ Iraq cho đến khi họ có đủ khả năng tự trị và bảo đảm an ninh cho dân chúng Iraq; mà cách thức tốt nhất để bảo đảm một nền hòa bình và an ninh lâu dài cho Iraq là thành lập một nhà nước Iraq ổn định, thịnh vượng và dân chủ.Khi nào các lực lượng Iraq đủ sức bảo đảm an ninh và ổn định cho nước họ, khi ấy quân Mỹ có thể rút về.

6. Thay Đổi Khí Hậu: Sẽ thành lập một hệ thống thị trường nhằm đối phó với nạn thải khí gây hiệu ứng nhà kính, tận dụng các kỹ thuật tân tiến, và củng cố nền kinh tế; hợp tác với các đối tác quốc tế nhằm bảo đảm sự cung ứng năng lượng trong tương lai, nhằm tạo ra những cơ hội cho kỹ nghệ Mỹ, và nhằm tạo một tương lai tươi sáng hơn cho các thế hệ mai sau. Cụ thể: tái ấn định mức khí thải theo “cap and trade”  (5) xuống còn 66% dưới mức 2005 vào năm 2050; canh tân, phát triển, và đưa vào thị trường các kỹ thuật mới; nuôi dưỡng một nền kinh tế phát triển nhanh và sạch; cung ứng vai trò lãnh đạo trong các nỗ lực quốc tế nhắm vào việc nâng cao hiệu suất; thành lập kế hoạch khả thi để đối phó với sự hâm nóng toàn cầu.

7. Cựu Chiến Binh:  Phải cung cấp các dịch vụ cho các binh lính và gia đình họ khi khi họ đang trên đường thi hành công vụ, phải tạo điều kiện cho các cựu chiến binh hội nhập với đời sống dân sự, phải vinh danh và không bao giờ được quên ơn những người tử sĩ.

8. Di Dân: An ninh biên giới phải được bảo đảm, và chính phủ liên bang đã thất bại trong nhiệm vụ bảo đảm an ninh biên giới; thiết lập quan hệ đồng minh thân cận với Mễ và các nước châu Mỹ Latin nhằm triệt tiêu các nhà độc tài kiểu Hugo Chavez; công nhận sự quan trọng của việc hòa đồng các sắc dân di trú; công nhận sự quan trọng của một thị trường lao động uyển chuyển đối với các xí nghiệp và nhất là kinh tế; công nhận rằng Mỹ sẽ luôn luôn là một “thành phố sáng chói trên đỉnh đồi”, một hành lang hy vọng và là cơ hội cho ai muốn tìm kiếm một đời sống tốt hơn bằng lao động cần cù và sự lạc quan.

9. Sự Tôn Nghiêm của Đời Sống: Do trải qua thời gian trong tù của bọn Việt gian, bị đánh đập tra tấn, McCain đã nhìn ra từ các bạn đồng tù sức mạnh của tinh thần con người và ý chí muốn thắng cái ác, ông theo đuổi sự bảo vệ tư cách con người và sẽ đưa mục tiêu này vào vai trò tổng thống của ông.

10. Tu Chính Hiến Pháp Số 2: Duy trì và bảo vệ điều khoản cho phép công dân dùng súng, nhưng phải bảo đảm các tội ác vi hiến phải bị xét xử đến nơi đến chốn, chứ không phải giới hạn quyền hiến định của các công dân trong việc tự võ trang.

11. Triết Lý về Tư Pháp: McCain tin rằng một trong những đe dọa nghiêm trọng nhất đến sự tự do và khuôn khổ Hiến Pháp là loại chánh án muốn lạm dụng quyền hạn được giao phó. Do đó, ông chỉ đề cử các chánh án thấu hiểu rằng vai trò của họ là áp dụng luật một cách đúng nghĩa như đã được ghi chép, chứ không phải là áp đặt ý kiến của họ vào phán quyết nơi tòa án.

12. Cải Cách về Cung Cách Hành Xử – Ethics:   Một chính quyền “của dân, do dân, và vì dân” phải duy trì sự trung thành với tôn chỉ đó. Vì thế nước Mỹ cần đến lãnh đạo cống hiến cho quyền lợi chung, chứ không phải đặc quyền. Vì thế những công chức phải có nhiệm vụ yêu nước để toàn tâm, toàn ý phục vụ quyền lợi quốc gia, nhằm dẫn dắt chính chúng ta theo cách thức xứng đáng với người dân mà chúng ta được đặc ân phục vụ.

13. Di Sản Thiên Nhiên: Ngoài việc phải hết mình bảo đảm một bầu không khí và nước dùng trong sạch, cần phải giải quyết nạn hâm nóng toàn cầu bằng cách kêu gọi cả nước có hành động trước một vấn đề mà chúng ta không thể bỏ qua được nữa.

14. Chương Trình Không Gian: Một trong các đặc tính của người Mỹ là sự tò mò và tính thích thám hiểm. Do đó McCain ủng hô chương trình không gian của cơ quan NASA, trong đó có cả việc đưa người trở lại mặt trăng để chuẩn bị cho một tiền trạm thám hiểm Hỏa Tinh.

 

§  Nghị Luận Tranh Cử.

Xin vào trang:

Tiếng Việt: http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Pages/Article%20199.htm)
Tiêng M
:  http://www.foreignaffairs.org/20071101faessay86602/john-mccain/an-enduring-peace-built-on-freedom.html)

 

 

BARACK OBAMA.

§ Vài Hàng Tiểu Sử.

a. Họ và Tên: Barack Hussein Obama.

b. Ngày và Nơi Sinh: 04-08-1961 tại Hawaii

c. Cư Ngụ: Chicago, Illinois, cao 1m87

d. Gia đình: Lập gia đình năm 1992 với bà Michelle, có hai con gái là Malisa và Sasha.

e. Gia Cảnh và Quá Trình Hoạt Động:

Cha lBarack Obama, Sr., người tỉnh Nyanza, Kenya – Phi châu, mẹ tên Ann Dunham, người sống ở tiểu bang Kansas. Obama sinh sống bằng nghề chăn nuôi dê với cha, vốn là một người hầu “nội địa” của người Anh. Tuy sinh ra trong thế giới Hồi Giáo, cha của Obama đã từng có lúc là người vô thần.

Mẹ tên Ann Dunham, sinh trưởng tại Wichita, Kansas. Trong thời kỳ đại khủng hoảng, cha ông làm và sống trong một cơ sở khoan dầu. Sau khi người Nhật tấn công Trân Châu Cảng, ông tình nguyện nhập ngũ trong quân đội do tướng Patton chỉ huy. Mẹ ông lúc ấy làm việc trong một dây chuyền sản xuất oanh tạc cơ. Sau Thế Chiến II, họ được tiêu chuẩn cựu chiến binh, tậu một căn nhà ở Hawaii theo chương trình Trợ Cấp Nhà Liên Bang.

Cũng vào giai đoạn này, Cha Barack được học bổng cho phép ông rời Kenya đến Hawaii. Vào lúc Obama ra đời năm 1961, cha mẹ ông đang là sinh viên Trung Tâm Đông-Tây thuộc ĐH Hawaii tại Manoa.

Cha mẹ Obama ly thân năm  1963 và sau đó ly dị. Cha ông theo học ĐH Havard rồi sau đó trở về Kenya. Mẹ ông tái giá với một sinh viên cùng trường người Indonesia năm 1967, và gia đình di chuyển đến Jakarta. Obama theo học tại Jakarta bằng tiếng Indo.

Bốn năm sau ông trở về Hawaii sống với ông bà ngoại, Madelyn và Stanley, và sau đó với mẹ ông (qua đời năm 1995 vì bị ung thư tử cung).

Obama ghi danh học lớp năm và tốt nghiệp năm 1979. Lúc ấy ông là một trong ba học sinh da đen duy nhất trong trường. Đây cũng là nơi Obama trở nên có ý thức về chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc và ý nghĩa của việc là một người Mỹ gốc Phi châu.

Cha ông tử nạn xe cộ năm 1982, còn Obama chỉ gặp cha có một lần năm 1971, sau khi cha mẹ ly dị. Ông công nhận có vướng vào rượu, cần sa và bạch phiến khi ở tuổi dậy thì.

Sau khi tốt nghiệp trung học, ông theo học tại ĐH Occidental tại Los Angeles trong vòng 2 năm, sau đó chuyển sang học ĐH Colombia tại New York và tốt nghiệp bằng Khoa Học Chính Trị tại đây.

Sau khi làm việc cho hãng Business International Corporation và NYPIRG, Obama di chuyển đến Chicago năm 1985 và làm việc với chức vụ tổ chức một cộng đồng các cư dân có lợi tức thấp trong địa hạt Roseland của thành phố Chicago và chương trình phát triển trợ giúp nơi cư trú Altgeld Gardens tại phía nam thành phố.

Trong thời gian này, Obama tuyên bố ông “không sinh ra trong một gia đình tôn giáo,” và gia nhập Giáp Hội Chúa Kitô Ba Ngôi Nên Một – Trinity United Church of Christ. Ông cũng về viếng thân nhân tại Kenya, trong đó có phần mộ của cha và ông nội của ông.

Năm 1988, Obama theo học ĐH Luật Harvard. Đến năm 1990, ông được bầu làm chủ nhiệm tạp chí Harvard Law Review, và ra trường năm 1991.

Sau khi tốt nghiệp, Obama quay trở về Chicago để làm một luật sư chuyên về các vấn đề dân quyền cho công ty Miner, Barnhill & Garlland. Cùng lúc, ông dạy tại Trường Luật, ĐH Chicago, và giúp tổ chức các phong trào tham gia ghi danh bầu cử trong cuộc vận động tranh cử của Bill Clinton năm 1992.

Các hoạt động nêu trên của Obama dẫn đến việc ông tranh cử chức Thượng nghị sĩ Dân Chủ tiểu bang Illinois, và đắc cử ở địa hạt phía nam năm 1996.

Trong những năm này, ông sinh hoạt với cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ trong việc soạn thảo các đạo luật về cách hành xử, phát triển hệ thống y tế, và các chương trình giáo dục ấu nhi cho các gia đình nghèo. Ông cũng sáng lập ra hệ thống giảm thuế cho các công nhân nghèo. Và sau khi một số tù nhân bị tử hình một cách oan uổng, ông đã hợp tác với các viên chức công lực địa phương để đòi hỏi việc thu hình các phiên điều tra và thú tội của tù nhân trong mọi trường hợp tử tội.

Năm 2000, Obama đã không thành công trong việc thay thế chức vụ Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ để thế chỗ dân biểu đã tại chức 4 nhiệm kỳ Bobby Rush.

Sau biến cố 9/11, Obama đã phản đối việc tấn công Iraq của TT Bush. Khi phát biểu cảm tưởng chống cuộc chiến Iraq tháng 10, 2002 tại Tòa Nhà Liên Bang thuộc Chicago, Obama vẫn còn là một TNS tiểu bang Illinois:

“Tôi không chống chiến mọi cuộc chiến. Tôi chống các cuộc chiến dại dột. Cái mà tôi chống là các nỗ lực không chính đáng của Richard Perle và Paul Wolfowitz và các chủ sự khác, … trong Nội các này nhằm đẩy ý tưởng và lịch trình hành động của họ lên cổ chúng ta, bất chấp giá sinh mạng và các khó khăn.”

và:

Hắn [Saddam Hussein] là kẻ tà ác. Thế giới này, và nhân dân Iraq, sẽ khá hơn nếu không có hắn. Nhưng tôi cũng biết rằng Saddam không tạo ra một đe dọa nghiêm trọng nào cho Mỹ, hoặc các nước lân bang, rằng nền kinh tế Iraq đang rung động, rằng quân đội Iraq chỉ còn sức mạnh của một phần so với trước, và rằng với sự tiếp tay của thế giới hắn có thể bị bao vây cho đến khi, cũng giống như các tên tiểu độc tài khác, hắn sẽ sa vào sọt cặn bã của lịch sử.”
 

“Tôi biết rằng ngay cả một cuộc chiến thành công tại Iraq cũng đòi hỏi Mỹ phải chiếm đóng trong một thời gian không biết trước, một giá phải trả không biết trước, với các hậu quả không lường trước. Tôi biết rằng một cuộc tấn công vào Iraq mà không có một lý do rõ ràng cũng như không có sự tham gia ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế sẽ chỉ quạt thêm ngọn lửa Trung Đông, và khích lệ điều tệ hại nhất, thay vì điều tốt nhất, kích động thế giới Ả-rập và tăng cường sức tuyển mộ của al Qaeda mà thôi.”

Năm 2003 chiến tranh Iraq xảy ra và Obama quyết định ra tranh cử chức Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ điền khuyết chỗ do Nghị sĩ Cộng Hòa Peter Fitzgerald bỏ lại. Trong cuộc tranh cử sơ bộ đảng Dân Chủ năm 2004, Obama thắng 52% số phiếu đánh bại nhà triệu phú Blair Hull và Giám sát viên tiểu bang Illioins Daniel Hynes.

Sau kỳ hội nghị toàn quốc đảng Dân Chủ năm 2004, Obama tái ứng cử cạnh tranh với ứng cử viên Cộng Hòa Jack Ryain. Nhưng đến tháng 06, 2004, Ryan phải rút lui sau khi các hành động lem nhem tình dục của ông bị vợ là nữ tài tử Jeri Ryan tiết lộ. Trong cuộc bầu cử năm 2004, Obama giành được 70% số phiếu so với ứng cử viên đối thủ thuộc đảng Cộng Hòa, Alan Keyses, cũng là người da đen.

Sau khi nhậm chức ngày 04-01-2005, Obama kết hợp với TNS Cộng Hòa Richard Lugar thuộc tiểu bang Indiana đề xuất đạo luật nhằm gia hạn việc tiêu hủy các loại võ khí hủy diệt hàng loạt tại Đông Âu và Nga. Sau đó ông cùng TNS Cộng Hòa Tom Corburn thuộc tiểu bang Oklahoma thành lập một website theo dõi mọi chi tiêu của chính quyền liên bang.

Obama cũng là người đầu tiên đề cao sự nguy hại của nạn cúm gia cầm tại Thượng Viện, bênh vực các nạn nhân trận bão Katrina, đẩy mạnh việc phát triển nhiên liệu thay thế và dẫn đầu cuộc tranh đấu cho quyền lợi của các cựu chiến binh Mỹ. Ông cũng hợp tác với Dân biểu Dân Chủ Russ Feingold thuộc tiểu bang Wisconsin nhằm ngán cấm việc tặng quà du lịch trên các chuyến bay tư của các nhà vận động hành lang dành cho các thành viên Quốc Hội.

Trong công ty luật Sidley  Austin tại Chicago, Obama đã gặp gỡ vợ ông, Michelle, năm 1988. Họ đã thành hôn tháng 10-1992 và hiện đang sống tại Kenwood Khu Nam thành phố Chicago với 2 con gái là Malia (sinh năm 1999) và Sasha (sinh năm 2001).


e. Tôn Giáo: Tin Lành, giáo phái United Church of Christ.

f. Học Vấn:

- Tốt nghiệp ngành Khoa Học Chính Trị – Political Science, ĐH Columbia năm 1983.

- Bằng Luật ĐH Havard năm 1991, ngành J.D. – Magna Cum Laude (Juris Doctor – Tiến Sĩ Luật, Danh Dự Cao).

- Từng theo học ĐH Occidental.

g. Nghề Nghiệp:

Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ tiểu bang Illinois, tuyên thệ ngày 04-01-2005.

* Hoạt Động trong Chính Quyền:

- Y Tế, Giáo Dục, có chân trong Ủy Ban Lao Động và Hưu Bổng.

- Ủy Ban Đặc Tránh Đối Ngoại.

- Ủy Ban Cựu Chiến Binh.

- Từng phục vụ trong Ủy Ban Môi Trường và Công Tác Công Cộng trong giai đoạn 2005-2006.

h. Sách:

- Những Ước Mơ từ Cha Tôi: Một Câu Chuyện về Chủng Tộc và Thừa Kế — Dreams From My Father: A Story of Race and Inheritance (1995), đoạt giải Gammy cho ấn bản âm thanh.

- Khát Vọng của Hy Vọng: Các Ý Tưởng về Việc Khôi Phục Giấc Mơ Hoa Kỳ — The Audacity of Hope: Thoughts on Reclaiming the American Dream (2006)

- Đòi Hỏi Cả Một Quốc Gia: Làm Cách Nào Những Kẻ Xa Lạ Trở Thành Gia Đình khi Bừng Tỉnh Từ Cơn Bão Lụt Katrina — It Takes a Nation: How Strangers Became Family in the Wake of Hurricane Katrina (2006)

(http://www.biography.com/search/article.do?id=12782369&page=1)

 

§ Chủ Trương – Đường Lối.

A. Chủ Trương.

Chủ trương của Obama được đánh mạnh lên hàng đầu trong các buổi tranh cử của ông: Chúng Ta Có Thể Tạo Ra Thay Đổi. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là kết hợp lượng đảng để tạo sức mạnh.

Và để có thể thay đổi ta có thể thấy tư tưởng chỉ đạo của Obama có đăng làm tựa cho trang web tranh cử của ông:

TÔI ĐANG MỜI BẠN TIN.
Không phải chỉ vào khả năng của tôi trong việc đem lại sự thay đổi thật sự tại Washington … Tôi mời bạn hãy tin vào chính bạn.”

I’AM ASKING YOU TO BELIEVE.
Not just in my ability to bring about real change in Washington … I’m asking you to believe in yours.”

(http://www.barackobama.com/index.php)

 

Cụ thể hơn, ta có thể thấy Obama theo đuổi chủ trương dùng ngoại giao hội nhập thế giới, trong đó sức mạnh quân sự được củng cố để làm tạo thế mạnh trên trường ngoại giao.

Trên mặt ngoại giao, Obama nhìn nhận và muốn củng cố vai trò lãnh đạo của Mỹ. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, Obama có chủ trương giống kiểu Clinton đã làm trước kia, và nay là bà Hillary Clinton muốn theo đuổi, đó là củng cố Liên Hiệp Quốc, và từ cơ quan này vai trò của Mỹ được củng cố.

Chúng ta nên nhớ lại rằng biến cố 911 đã được bọn khủng bố lập kế hoạch từ thời Clinton, và do sự lơ là của Clinton mà chúng mới có cơ hội ra tay trước. Vậy có thể nói kế hoạch an ninh của Clinton chứng tỏ sự bất lực của một tay cựu phản chiến khi lãnh trách nhiệm là một tổng thống Mỹ. Cho đến nay, cơ quan Liên Hiệp Quốc trở thành một tổ chức rất lỏng lẻo và không có thực lực cũng như thực quyền để theo đúng cái chủ trương phục vụ nhân sinh mà tổ chức này theo đuổi.

Chính chủ trương của Clinton đã khiến cho Tầu Cộng “mọc cánh” và ngấm ngầm khuynh loát LHQ như hiện nay. Do đó, mức độ khả thi của việc canh tân LHQ theo chủ trương của Obama là điều chúng ta nên suy nghĩ.

Về đối sách với Tầu Cộng, chủ trương của Obama được thể hiện khá rõ trong bài nghị luận, nó rất giống kiểu của Hillary Clinton, tức là “khuyến khích” sự hợp tác thay vì đưa ra và giải quyết vấn đề:

“… Khi Tầu Cộng vươn lên trong khi Nhật và Nam Hàn tái khẳng định vị trí của họ, tôi sẽ tìm cách tạo ra một khung hiệu quả hơn tại Á châu mà cái khuôn khổ này sẽ đi xa hơn khuôn khổ các hiệp định song phương, các cuộc họp thượng đỉnh, hoặc các sắp xếp có chủ đích, như kiểu thảo luận sáu bên về Bắc Hàn chẳng hạn. Chúng ta cần đến một thượng tầng cấu trúc bao gồm các nước châu Á có thể khích lệ sự ổn định và thịnh vượng trong vùng cũng như góp phần trong việc đôi phó với các loại đe dọa liên quốc gia, từ các ổ khủng bố ở Phillipines đến nạn cúm gia cầm tại Inđô. Tôi sẽ khuyến khích Tầu giữ một vai trò có trách nhiệm như một thế lực đang lớn mạnh – để dẫn đầu trong việc giải quyết các vấn đề của thế kỷ 21 này. Chúng ta sẽ cạnh tranh với Tầu trong một số lãnh vực và hợp tác trong một số lãnh vực khác. Thách đố chính của chúng ta là xây dựng một quan hệ trong đó sự hợp tác được nới rộng trong khi tăng cường khả năng cạnh tranh của chúng ta.”

 

B. Các Vấn Đề – Đường Lối, Biện Pháp.

1. Dân Quyền:

Không có quyền căn bản nào dành cho người Mỹ ngoài quyền tự do đầu phiếu. Trước bối cảnh của Đạo Luật Đầu Phiếu – Voting Rights Act 1965, các loại rào cản như thi biết đọc biết viết, đòi hỏi về thuế tài sản và bầu cử đã làm tê liệt nhiều người Mỹ, đặc biệt là thành phần thiểu số. Hơn 40 năm sau, vẫn còn nhiều trở ngại trong việc bảo đảm các công dân có khả năng đi bầu.

2. Thành Phần Tàn Tật:

“Chúng ta phải xây dựng một thế giới trong đó các cản trở không cần thiết, các thứ nhàm chán, và nạn kỳ thị …. các chính sách phải được phát triển, các hành vi phải được hình thành, và các cấu trúc và cơ quan phải được thiết kế để bảo đảm rằng mọi người có cơ hội được đi học theo nhu cầu và được sống độc lập như một công dân toàn phần trong cộng đồng của họ.”

3. Kinh Tế:

Phát triển một lịch trình kinh tế thế kỷ 21 nhằm bảo đảm Mỹ có thể cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, và bảo đảm giai cấp trung lưu phải thịnh vượng và phát triển; bằng cách gia tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, độc lập về năng lượng, giáo dục, nghiên cứu và phát triển, hiện đại hóa và đơn giản hóa luật thuế khóa hầu nó có thể cung ứng cơ hội tốt hơn và giúp đỡ nhiều người Mỹ hơn; và áp dụng các chính sách mậu dịch tạo lợi thế cho giới thợ thuyền Mỹ cũng như tăng cường xuất cảng hàng hóa Mỹ.

4. Giáo Dục:

Nhà trường phải là nơi chẳng những chuẩn bị cho học sinh hội đủ đòi hỏi của một nền kinh tế toàn cầu, mà còn phải giúp học sinh coi đó là nơi tham gia các hoạt động dân sự. Củng cố hệ thống trường công để cực đại hóa thứ tài nguyên thiên nhiên giầu có nhất — dân chúng Hoa Kỳ; điển hình là trang bị thêm cho các học khu đang nghèo, cả thành thị lẫn thôn quê, với sự ủng hộ và tài nguyên cần thiết hầu cung cấp cho các học sinh kém lợi thế một cơ hội có thể vươn lên đến toàn bộ khả năng của mình.

5. Năng Lượng và Môi Sinh.

Giảm lượng khí thải carbon đến mức 80% thấp hơn so với mức của năm 1990 vào thời điểm 2050; đầu tư 150 tỉ mỹ kim trong vòng 10 năm vào các chương trình năng lượng sạch; ủng hộ các loại năng lượng thế hệ mới như tế bào nhiên liệu ethanol, phát triển các nhà máy sản xuất năng lượng sinh học, thành lập đạo luật án định tiêu chuẩn giới hạn khí thải, gia tăng số nhiên liệu tái sinh; tăng cường hiệu xuất năng lượng đến mức 50% vào năm 2030, v.v…

6. Cung Cách Hành Xử – Ethics:

Minh bạch hóa các cuộc vận động hành lang tại Washington; minh bạch hóa các giao kèo liên bang, mức thuế và mức lợi tức; đem người dân Mỹ vào chính quyền; giải phóng Hành Pháp khỏi ảnh hưởng của các nhóm quyền lợi, v.v…

7. Niềm Tin:

Obama công khai tranh luận về việc cải đạo của ông tháng 06, 2006, và về nhu cầu tranh luận sâu rộng hơn vai trò của niềm tin trong đời sống Mỹ.

8. Gia Đình:

Gia đình mạnh sẽ giúp con cái thành công và gắn kết xã hội lại với nhau. Do đó, Obama không tin rằng chúng ta đơn giản chỉ làm luật về gia đình mạnh khỏe, các tài khéo làm cha mẹ hoặc thành công về kinh tế là đủ, mà còn phải loại bỏ mọi cản trở mà bậc cha mẹ phải đối đầu và cung cấp các dụng cụ cần thiết giúp họ thành công.

9. Ngân Sách Chính Phủ:

Phải giảm chi tiêu trong ngân sách liên bang để thay thế vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở cầu, đường, cảng, cũng như các đầu tư quan yếu khác như giáo dục và cải cách y tế và hưu bổng cho người già, v.v… bằng cách phục hồi kỷ luật hành chánh tại Washington và biến hệ thống hiện nay trở thành công bằng hơn và hiệu quả hơn.

10. Chính sách ngoại giao:

Lập tức tiến hành việc rút quân khỏi Iraq trong vòng 16 tháng; tạo áp lực khiến các lãnh tụ Iraq phải hòa giải với nhau; lập ké hoạch ngoại giao đột phá trong vùng để ổn định vùng; trợ giúp nhân đạo cho dân tị nạn Iraq; tạo áp lực với Iran bằng thuần túy ngoại giao và kinh tế; chống lại việc dùng lực lượng quân sự Mỹ tại Iraq để tấn công Iran; canh tân ngoại giao Mỹ; chấm dứt cuộc chiến chống al Qaeda và lãnh đạo thế giới chống các đe dọa của thế kỳ 21: võ khí nguyên tử và khủng bố, thay đổi khí hậu toàn cầu cũng như nạn nghèo đói, tội ác diệt chủng và bệnh tật, v.v…. “Và tôi một lần nữa muốn gửi một thông điệp đến các khuôn mặt đang mỏi mòn chờ đợi bên kia bờ đại dương, rằng ‘Quý vị có liên quan đến chúng tôi. Tương lai của quý vị là tương lai của chúng tôi. Và thời điểm của chúng ta chính là lúc này.”

11. Y Tế:

“…. Đây là lúc phải đem các xí nghiệp, cộng đồng y khoa, và thành viên của cả hai đảng tập trung vào giải pháp cho cuộc khủng hoảng này, đây là lúc mà kỹ nghệ dược phòng và bảo hiểm phải biết rằng trong khi họ sẽ có một chỗ ngồi trong bàn họp, họ không thể mua mọi chỗ ngồi.” Bằng cách: bán bảo hiểm với giá hợp lý cho mọi người; giảm giá bằng cách hiện đại hóa hệ thống y tế Mỹ; đấu tranh nhằm đạt được các đề xuất mới.

12. Nội An:

Chi phí cho nội an dựa trên mức độ bất an hơn là đồng đều. Củng cố an ninh cho các nhà máy hóa chất và nước dùng để gia tăng việc đề phòng các biến cố; bảo vệ dân cư khỏi các loại phóng xạ điện từ, v.v….

13. Di Dân:

Phải đưa gia giải pháp thực sự cho vấn đề di dân, thay vì chỉ tranh luận gây chia rẽ quốc gia. Sự chia rẽ đã làm vấn đề di dân lậu trở nên tồi tệ hơn, biên giới kém an ninh hơn bao giờ hết và một nền kinh tế lệ thuộc vào hàng triệu lao công sống trong bóng tối:  Tạo ra an ninh biên giới; cải tiến hệ thống di trú hiện nay; loại trừ các động lực lôi kéo di dân lậu vào Mỹ; đem di dân lậu ra ánh sáng; “làm việc” với chính quyền Mễ, v.v….

14. Iraq:

Xin đọc điều 10 trên và bài nghị luận tranh cử bên dưới.

15. Chống Nghèo Đói:

Giúp đỡ 37 triệu người Mỹ nghèo như:  tăng số công ăn việc làm; việc làm phải là việc có lương cho mọi người Mỹ; củng cố đời sống gia đình; tăng số nhà trợ cấp qua các chương trình housing; giải quyết các vùng nghèo khó bằng cách thành lập 20 đặc khu Láng Giềng Hứa Hẹn, bảo đảm việc đầu tự địa phương trong mỗi cộng đồng nghèo thành phố.

16. Thôn Quê:

Bảo đảm cơ hội kinh tế cho gia đình các nông gia; ủng hộ việc phát triển kinh tế nông thôn; cải tổ tiêu chuẩn đời sống nông thôn.

17. Phục Vụ Xã Hội:

Giúp mọi người Mỹ có thể phục vụ; kết hợp phục vụ và học hỏi; đầu tư vào các tổ chức bất vụ lợi, v.v….

18. Người Già và An Sinh Xã Hội:

Bảo vệ chương trình an sinh xã hội cho người già; tăng cường các quỹ tiết kiệm hưu trí; cung cấp các chương trình bảo hiểm y tế giá rẻ; bảo vệ và vinh danh các vị cao niên.

19. Kỹ Thuật:

Bảo đảm một hệ thống Internet tự do; thiết lập sự trong sáng và liên kết dân chủ; khuyến khích một hệ thống hạ tầng thông tin hiện đại; dùng kỹ thuật để giải quyết các vấn nạn quốc gia; tăng cường khả năng cạnh tranh của Mỹ.

20. Chính Sách Về Trung Tâm Đô Thị – Urban:

Tăng cường hoạt động của liên bang đối với các thành phố; kích thích kinh tế trong các trung tâm dân cư thành phố; trợ cấp gia cư; chống nghèo khó; giáo dục đô thị; tội ác và thi hành luật pháp; tăng cường nội an; giúp đỡ các gia đình, v.v…

21. Cựu Chiến Binh:

Thành lập quỹ cựu chiến binh; giúp đỡ những chiến sĩ vừa giải ngũ; tăng cường hệ thống trị liệu bệnh tâm thần, v.v…

 

§ Nghị Luận Tranh Cử.

Canh Tân Vai Trò Lãnh Đạo của Mỹ – Renewing American Leadership

Barack Obama

Dịch từ tạp chí Foreign Affairs, số tháng 8/9-2007.

Tóm Lược:  Sau Iraq, chúng ta có thể sẽ tìm cách lui về. Đó có thể là một sai lầm. Giai đoạn lịch sử của Mỹ chưa chấm dứt, nhưng phải biết nắm bắt tình hình mới. Chúng ta phải đưa cuộc chiến vào một kết cuộc có trách nhiệm và rồi canh tân vai trò lãnh đạo của chúng ta — về quân sự, ngoại giao, và đạo đức — để có thể đối phó với các đe dọa mới và đầu tư vào các cơ hội mới. Nước Mỹ không thể đơn độc đối đầu với các thách đố mới của thế kỷ này; mà thế giới cũng chẳng đối phó nổi nếu không có Mỹ.

 

AN NINH CHUNG CHO NHÂN BẢN CHUNG CỦA CHÚNG TA

Vào giai đoạn hỗn mang trong thế kỷ trước, những lãnh tụ Mỹ như Franklin Roosevelt, Harry Truman, và John F. Kennedy đã khéo léo để vừa bảo vệ dân Mỹ lại vừa phát triển cơ hội cho thế hệ tiếp theo. Điều đi xa hơn nữa, là họ đã bảo đảm rằng Mỹ, qua hành động và thí dụ, đã dẫn đầu và nâng thế giới – rằng chúng ta đứng lên và chiến đấu cho sự tự do mà hàng tỷ người nằm ngoài biên giới lãnh thổ của chúng ta đang tìm kiếm.

Khi Roosevelt thành lập một quân đội hùng mạnh mà thế giới chưa từng thấy, nguyên tắc Bốn Quyền Tự Do (1) đã đưa ra lý do để chúng ta phải chiến đấu chống lại chế độ Phát-xít. Truman đã đứng đầu trong việc thành lập một cấu trúc nhằm đáp ứng với sự đe dọa của Liên Xô — một cấu trúc sóng đôi sức mạnh quân sự với Kế Hoạch Marshall và giúp bảo đảm cho sự hòa bình và thịnh vượng của các quốc gia trên thế giới. Khi chủ nghĩa thực dân rung chuyển và Liên Xô đạt được khả năng nguyên tử tương đương, Kennedy đã hiện đại hóa học thuyết quân sự, tăng cường sức mạnh quy ước của chúng ta, và thành lập Binh Chủng Hòa Bình – Peace Corp. và Đồng Minh cho Tiến Bộ. Họ đã dùng sức mạnh để cho mọi nơi trên thế giới thấy rằng Mỹ đang làm hết sức mình.

Ngày nay, chúng ta một lần nữa lại được kêu gọi phải cung ứng vai trò lãnh đạo có thể nhìn thấy được. Các mối đe dọa của thế kỷ này ít nhất phải nguy hiểm như, mà một cách nào đó còn phức tạp hơn, những cái mà chúng ta đã phải đối đầu trong quá khứ. Những mối đe dọa này đến từ các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và từ các tổ chức khủng bố toàn cầu với thái độ tách rời hoặc thấu hiểu sự bất công bằng chủ nghĩa tàn sát vô luật pháp. Các đe dọa này đến từ các nước hung đồ liên minh với bọn khủng bố và từ các thế lực đang đi lên có khả năng thách đố cả Mỹ lẫn các căn bản về tự do dân chủ quốc tế. Chúng đến từ các nhược quốc vốn không thể kiểm soát lãnh thổ và cung cấp căn bản đời sống cho dân chúng của họ. Và chúng đến từ một hành tinh đang bị hâm nóng sẽ lan tràn các loại bệnh mới, lan tràn các loại thiên tai, và từ đó cấu thành các cuộc tranh chấp chết người.

Để nhận định được con số và sự phức tạp của các mối đe dọa này không phải là chúng ta không thể bi quan. Nhưng, nó đòi hỏi phải hành động. Các mối đe dọa này đòi hỏi phải có một cái nhìn mới của giới lãnh đạo trong thế kỷ 21 này — một cái nhìn rút tỉa từ quá khứ nhưng không bị giới hạn bởi các tư tưởng đã lỗi thời. Chính phủ Bush đã đáp ứng với cuộc tấn công không quy ước 9/11 bằng quan niệm quy ước của quá khứ, nhìn tổng thể vấn đề như theo quan niệm quốc gia và chính yếu là gắn liền với giải pháp quân sự. Chính quan niệm sai lạc một cách đáng buồn này đã đẩy chúng ta vào cuộc chiến Iraq mà đáng lẽ ra không bao giờ nên được chấp thuận và không bao giờ nên được tuyên chiến. Trong sự thức tỉnh từ Iraq và vụ nhà tù Abu Ghraib (2), thế giới đã mất tín nhiệm vào các căn bản và mục tiêu của chúng ta.

Sau khi phải trả bằng giá hàng ngàn nhân mạng và hàng tỉ đôla, nhiều người Mỹ có thể tìm cách quay về và chấp nhận mất vai trò lãnh đạo của chúng ta trên thế giới. Nhưng đây là một lỗi lầm mà chúng ta không thể mắc phải. Người Mỹ không thể cô độc chống chọi lại các mối đe dọa của thế kỷ này, và thế giới cũng không thể chống chọi lại chúng nếu không có Mỹ. Chúng ta không thể rút lui khỏi thế giới hoặc nhu nhược chịu thua. Chúng ta phải lãnh đạo thế giới, bằng việc làm và thí dụ cụ thể.

Vai trò lãnh đạo này đòi hỏi chúng ta phải rút tỉa các ý niệm căn bản từ Roosevelt, Truman, và Kennedy — mà một điều trở thành đúng và thật hơn bao giờ hết: sự an sinh và thịnh vượng của mỗi người Hoa Kỳ phụ thuộc vào sự an sinh và thịnh vượng của những người sống ngoài biên giới của chúng ta. Mà nhiệm vụ của Hợp Chủng Quốc là phải cung ứng vai trò lãnh đạo toàn cầu bắt nguồn từ sự thấu hiểu rằng thế giới chia xẻ một nền an ninh chung và một tính nhân loại chung.

Thời đại của Mỹ chưa chấm dứt, nhưng Mỹ phải nắm bắt một thời đại mới. Cho rằng sức mạnh của Mỹ đang lui dần đến mức tận cùng là xem thường lời hứa vĩ đại và mục tiêu lịch sử của Mỹ trên thế giới. Nếu được bầu làm tổng thống, tôi sẽ bắt đầu canh tân sự hứa hẹn và mục tiêu đó ngay khi tôi nhậm chức.

 

RA NGOÀI PHẠM VI IRAQ

Để có thể canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, trước hết chúng ta phải đem cuộc chiến Iraq đến một kết thúc có trách nhiệm và tái tập trung vào một vùng Trung Đông rộng lớn hơn. Iraq là cái đã làm phân tán cuộc chiến của chúng ta chống lại bọn khủng bố đã tấn công chúng ta trong biến cố 9/11, và sự thiếu khả năng trong việc điều hành cuộc chiến của các lãnh tụ dân sự làm tệ hơn chiến lược kém cỏi là đưa cuộc chiến Iraq lên hàng đầu. Hiện chúng ta đã mất đi trên 3,300 binh sĩ, và hàng ngàn binh sĩ khác đã phải chịu đựng một vết thương cả về thể xác lẫn tinh thần.

Các nhân viên nam nữ của chúng ta đã thi hành một cách đáng thán phục trong khi phải hy sinh một cách vô bờ. Đây là lúc để các lãnh tụ dân sự của chúng ta công nhận một sự thực đau lòng: chúng ta không thể áp đặt một giải pháp quân sự trong một cuộc nội chiến giữa hai giáo pháo Sunni và Shiite. Cơ hội tốt nhất để chúng ta bỏ Iraq thành một nơi tốt hơn là tạo áp lực cho những đảng phái lâm chiến tìm ra một giải pháp chính trị lâu dài. Và cách thức hiệu quả nhất để tạo áp lực là bắt đầu một giai đoạn rút quân Mỹ, với mục tiêu là rút toàn bộ quân đội chiến đấu khỏi Iraq vào ngày 31-03-2008 — một ngày theo như mục tiêu do Nhóm Nghiên Cứu Iraq đưa ra. Cuộc tái phối trí này có thể tạm thời đình chỉ nếu chính phủ Iraq hội đủ mức độ an ninh, chính trị, và kinh tế mà họ đã theo đuổi. Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, sau cùng, chỉ có các lãnh tụ Iraq mới có thể đem lại hòa bình và ổn định cho đất nước của họ.

Cùng lúc, chúng ta phải đưa ra một đề xuất ngoại giao toàn bộ có tầm mức quốc tế và vùng hầu có thể chấm dứt cuộc nội chiến tại Iraq, ngăn chặn sự bành trướng của nó, và giới hạn mức độ phải chịu của người dân Iraq. Để đạt được uy tín trong nỗ lực này, chúng ta phải làm cho rõ ra rằng chúng ta không tìm cách đặt căn cứ vĩnh viễn tại Iraq. Chúng ta nên để lại một con số tối thiểu lực lượng trong vùng ngoài Iraq nhằm bảo vệ các nhân viên và phương tiện, tiếp tục huấn luyện các lực lượng an ninh Iraq, và tận diệt quân al Qaeda.

Tình trạng hỗn mang hiện nay tại Iraq đã khiến cho người ta khó đối phó và giải quyết hơn gấp bội các vấn đề trong vùng — và nó cũng đã làm cho nhiều trong số các vấn đề này trở thành nguy hiểm hơn. Thay đổi cơ động tại Iraq sẽ cho phép chúng ta tập trung và gây ảnh hưởng vào việc giải quyết cuộc tranh chấp ngày càng tồi tệ hơn giữa Israel và Palestine — một công việc mà chính phủ Bush đã lãng quên nhiều năm.

Trong hơn ba thập niên, các lãnh tụ Do Thái, Palestine, Arab, và phần còn lại của thế giới đã coi Mỹ dẫn đầu trong nỗ lực xây dựng một con đường dẫn tới hòa bình. Trong vài năm gần đây, tất cả họ đều tìm kiếm trong vô vọng. Điểm khởi sự của chúng ta phải là một sự tham gia rõ ràng và mạnh mẽ vào sự an ninh của Do Thái, vốn là đồng minh mạnh nhất của chúng ta trong vùng và cũng là quốc gia dân chủ duy nhất trong vùng. Sự tham gia này trở thành quan trọng hơn cả khi chúng ta phải đương đầu với các đe dọa ngày càng nhiều trong vùng — một nước Iran đang củng cố, một nước Iraq đang hỗn loạn, sự tái hoạt động của al Qaeda, sự tái bạo loạn của Hamas và Hezbollah. Bây giờ là lúc hơn bao giờ hết, chúng ta phải tranh đấu để bảo đảm một giải pháp lâu dài cho cuộc xung đột với hai nhà nước sống bên nhau trong hòa bình và ổn định. Để làm được như vậy, chúng ta phải giúp Do Thái nhận diện và củng cố các nước bạn thực sự tham gia vào công cuộc hòa bình, trong khi cô lập các nước tìm cách tạo ra tranh chấp và bất ổn. Duy trì vai trò lãnh đạo của Mỹ cho hòa bình và an ninh sẽ đòi hỏi nỗ lực kiên trì và sự tham gia của cá nhân vị tổng thống Mỹ. Mà đó chính là sự tham gia mà tôi sẽ thực hiện.

Trong khắp vùng Trung Đông, chúng ta phải đóng khuôn sức mạnh Mỹ để có thể kích động ngoại giao Mỹ. Thứ ngoại giao cứng rắn, được hỗ trợ bởi toàn bộ mọi dụng cụ của sức mạnh Hoa Kỳ — chính trị, kinh tế, và quân sự — có thể đem lại thành công ngay cả khi đối đầu với các đối thủ lâu đời như Syria và Iran. Chính sách của chúng ta trong việc đe dọa và phụ thuộc vào các phe trung gian để triệt tiêu chương trình nguyên tử, việc bảo trợ khủng bố, và sự khiêu khích của Iran trong vùng đang thất bại. Mặc dầu chúng ta không thể loại trừ khả năng dùng quân sự, chúng ta cũng không nên ngần ngại khi đối thoại trực tiếp với Iran. Chính sách ngoại giao của chúng ta nên nhắm vào việc làm gia tăng cái giá mà Iran phải trả nếu họ tiếp tục chương trình hạt nhân của họ bằng cách áp dụng các phương thức phong tỏa nặng nề hơn và gia tăng áp lực từ phía các bạn hàng của Iran. Thế giới phải làm việc để chặn đứng chương trình làm giầu uranium của Iran và ngăn cản Iran trong việc thủ đắc võ khí hạt nhân. Việc để võ khí nguyên tử lọt vào tay một chế độ cuồng tín là nguy hiểm vô cùng. Cùng lúc, chúng ta phải cho Iran — và đặc biệt là nhân dân Iran — thấy điều họ có thể đạt được là những thay đổi căn bản: hợp tác kinh tế, an ninh bảo đảm, và quan hệ ngoại giao. Ngoại giao kết hợp với áp lực cũng có thể kéo Syria khỏi đường lối cực đoan sang một vị thế mềm dẻo hơn — mà cũng là cái, sau đó, giúp ổn định Iraq, cô lập Iran, giải phóng Lebanon khỏi vòng kiềm tỏa của Damacus, và bảo đảm cho Do Thái hơn.

 

TÁI HOẠT QUÂN ĐỘI

Để canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, chúng ta phải lập tức khởi sự việc tái hoạt (revitalize) quân đội của chúng ta. Một quân đội mạnh, hơn hẳn mọi thứ khác, là cần yếu để duy trì hòa bình. Nhưng không may, theo các lãnh tụ quân sự, là Bộ Binh Mỹ và Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang có khủng hoảng. Ngũ Giác Đài không thể bảo đảm có được một đơn vị trong nội địa Mỹ mà hoàn toàn sẵn sàng đáp ứng lại trường hợp một cuộc khủng hoảng mới xuất hiện ngoài Iraq; 88% lực lượng Vệ Binh Quốc Gia không sẵn sàng để được giàn quân tại hải ngoại.

Chúng ta phải dùng lúc này để vừa tái thiết quân đội lại vừa chuẩn bị quân đội cho các nhiệm vụ trong tương lai. Chúng ta phải duy trì khả năng có thể mau chóng đánh bại bất kỳ đe dọa quy ước nào vào nước Mỹ cũng như các quyền lợi sinh tử của chúng ta. Chúng ta cũng phải sẵn sàng vào trận để tấn công các kẻ thù chiến đấu bất cân xứng (3) và thực hiện các chiến dịch thích ứng trên phạm vi toàn cầu.

Chúng ta cũng nên phát triển lực lượng trên bộ bằng cách gia tăng 65,000 binh sĩ bộ binh và 27,000 thủy quân lục chiến. Củng cố các lực lượng này có nghĩa là phải ở trên mức ấn định. Chúng ta phải tuyển mộ thành phần ưu hạng và đầu tư vào khả năng tiến đến thành công của họ. Điều đó có nghĩa là phải cung cấp cho nhân viên nam nữ của chúng ta với các trang bị, áo giáp, động cơ, và huấn luyện hạng nhất — trong đó có cả các khả năng về ngoại ngữ và khả năng tối cần thiết khác. Mỗi chương trình quốc phòng chính nên được tái lượng định chiếu theo nhu cầu hiện tại, thực tế chiến trường, và các loại đe dọa có khả năng xảy ra. Quân đội của chúng ta phải tái xây dựng đối với một số khả năng và hoán chuyển một số khả năng khác. Cùng lúc, chúng ta phải nỗ lực vào việc có đủ ngân khoản giúp cho Vệ Binh Quốc Gia tái lập được tình trạng sẵn sàng ứng phó.

Củng cố quân đội không cũng vẫn chưa đủ. Là một tổng tư lệnh quân đội, tôi cũng sẽ dùng các lực lượng quân sự một cách khôn ngoan. Khi chúng ta gửi người đến nơi nguy hiểm, tôi sẽ xác định một cách rõ ràng về nhiệm vụ, hội ý các vị tư lệnh quân sự, đánh giá một cách vô tư tình báo, và bảo đảm rằng quân đội của chúng ta có đầy đủ tài nguyên và sự ủng hộ họ cần có. Tôi sẽ không ngần ngại dùng đến quân sự, đơn phương nếu cần, để bảo vệ người Mỹ hoặc các quyền lợi chính yếu của chúng ta khi chúng ta bị tấn công hay đe dọa một cách khẩn cấp.

Chúng ta cũng phải nghĩ đến việc dùng sức mạnh quân sự trong trường hợp ngoài sự tự vệ hầu cung ứng cho an ninh chung trên bình diện toàn cầu — nhằm hỗ trợ các nước bạn, tham gia vào các hoạt động tái thiết và ổn định, hoặc đối đầu với các hình thức giết người hàng loạt. Nhưng khi dùng quân sự trong trường hợp khác hơn tự vệ, chúng ta nên dùng mọi nỗ lực để có được sự hỗ trợ rõ ràng và sự tham gia của các nước khác — như TT George H. W. Bush đã làm khi chúng ta dẫn đầu nỗ lực nhằm đẩy quân Saddam Hussein khỏi Kuwait hồi năm 1991. Hậu quả của việc lãng quên bài học đó trong trường hợp cuộc xung đột tại Iraq hiện nay quả là kinh khủng.

 

CHẤM DỨT SỰ LAN RỘNG CỦA CÁC LOẠI VÕ KHÍ NGUYÊN TỬ

Để canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, chúng ta phải đối phó với đe dọa khẩn cấp nhất đối với nên an ninh Mỹ và thế giới — sự lan rộng của võ khí, vật liệu, và kỹ thuật nguyên tử cũng như khả năng một loại võ khí nguyên tử lọt vào tay quân khủng bố. Một võ khí kiểu này nổ ra có thể tạo ra kinh hoàng, làm nhẹ tầm mức của biến cố 9/11 và làm rung chuyển từng góc địa cầu.

Như George Shultz, William Perry, Henry Kissinger, và Sam Nunn đã cảnh cáo, các biện pháp hiện nay của chúng ta không đủ để đối phó với đe dọa nguyên tử. Chế độ phi nguyên tử đang bị thách đố, và các chương trình nguyên tử dân sự khác có thể làm lan tràn phương tiện chế tạo các loại võ khí nguyên tử. Al Qaeda đã đặt mục tiêu đem “Hiroshima” vào Mỹ. Quân khủng bố không cần chế tạo võ khí nguyên tử từ đầu; chúng chỉ cần đánh cắp hoặc mua võ khí hoặc vật liệu để lắp ráp. Hiện nay đang có nhiều uranium đã được làm giầu — một số trong đó không được bảo đảm an ninh — nằm trong các lò nguyên tử dân sự tại hơn 40 quốc gia trên thế giới. Ở Liên Xô cũ, có ước lượng khoảng 15,000-16,000 võ khí nguyên tử và một kho uranium và plutonium có khả năng được dùng để chế ra 40,000 võ khí — tất cả đều tản rộng trong phạm vi 11 kinh tuyến giờ. Người ta đã khám phá ra các cuộc buôn lậu vật liệu nguyên tử để bán trên thị trường chợ đen.

Là một tổng thống, tôi sẽ làm việc với các nước khác để bảo đảm, tiêu hủy, và chấm dứt sự lan tràn của các loại võ khí này ngõ hầu có thể giảm thiểu đáng kể sự nguy hại của nguyên tử đối với Mỹ và thế giới. Mỹ phải dẫn đầu một nỗ lực toàn cầu nhằm bảo đảm toàn bộ các võ khí và vật liệu nguyên tử tại những vị trí bất an trong vòng bốn năm — là phương thức hữu hiệu để cản trở quân khủng bố thủ đắc một trái bom.

Điều này đòi hỏi một sự hợp tác tích cực của Nga. Mặc dầu chúng ta không ngại ngùng gì khi thúc đẩy dân chủ và các lãnh vực khác nhiều hơn tại Nga, chúng ta phải làm việc với quốc gia này trong các lãnh vực quyền lợi chung — trên hết, trong việc bảo đảm các loại võ khí và vật liệu nguyên tử phải được bảo đảm. Chúng ta cũng phải làm việc với Nga để cập nhật và đẩy lui sự nguy hiểm của thái độ kiểu nguyên tử Chiến Tranh Lạnh đã lỗi thời và làm nhẹ hơn vai trò của nguyên tử (4). Mỹ phải không hấp tấp sản xuất các loại đầu đạn nguyên tử thế hệ mới. Và chúng ta nên tận dụng các tiến bộ khoa học gần đây để thiết lập một đồng thuận hai bên đằng sau việc ký kết Hiệp Ước Cấm Thử Nghiệm Toàn Bộ – Comprehensive Test Ban Treaty. Tất cả các điều này có thể được thực hiện trong khi duy trì một hệ thống lá chắn nguyên tử mạnh. Những bước này sau cùng sẽ củng cố, chứ không làm suy yếu, nền an ninh của chúng ta.

Khi chúng ta đã khóa được kho nguyên tử hiện nay rồi, tôi sẽ tìm cách thượng lượng để có một sự ngăn cấm có kiểm chứng toàn cầu về việc sản xuất vật liệu dùng chế tạo võ khí nguyên tử. Chúng ta cũng phải ngưng việc phổ biến kỹ thuật vũ khí nguyên tử và bảo đảm rằng các quốc gia không thể thành lập — hoặc mắp mé thành lập –  một chương trình vũ khí dưới sự bảo đảm rằng phát triển năng lượng nguyên tử hòa bình. Đây là lý do tại sao chính phủ của tôi sẽ lập tức cung cấp một ngân khoản 50 triệu mỹ kim để khởi sự việc thành lập một ngân hàng nhiên liệu và để cập nhật Hiệp Ước Phi Nguyên Tử – Nuclear Nonproliferation Treaty dưới sự kiểm soát của Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế. Chúng ta cũng phải thực hiện toàn bộ luật mà Thượng nghị sĩ Richard Lugar và tôi đã thông qua nhằm giúp Mỹ và đồng minh khám phá cũng như chấm dứt việc buôn lậu các loại võ khí hủy diệt hàng loạt trên khắp thế giới.

Sau cùng, chúng ta phải phát triển một liên đoàn quốc tế mạnh mẽ để cản trở không cho Iran  thủ đắc võ khí nguyên tử và loại bỏ chương trình nguyên tử của Bắc Hàn. Iran và Bắc Hàn có thể khơi mào cho một cuộc chạy đua võ trang vùng, tạo ra các điểm nóng nguyên tử nguy hại trong vùng Trung Đông và Đông Á. Để đối phó với các đe dọa này, tôi sẽ không loại bỏ việc dùng quân sự. Nhưng biện pháp đầu tiên của chúng ta là phải duy trì, trực tiếp, và chủ động ngoại giao — là thứ mà chính phủ Bush đã và đang không có khả năng và không muốn dùng.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ TOÀN CẦU

Để canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, chúng ta phải tôi luyện một sự đáp ứng hữu hiệu hơn đối với chủ nghĩa khủng bố đã thâm nhập vào bờ biển của chúng ta  ở một mức độ không lường trước như kiểu 9/11. Từ Bali đến London, Baghdad đến Algiers, Mumbai đến Mombasa Madrid, quân khủng bố, những kẻ khước từ sự  hiện đại hóa, chống Mỹ, và các thành phần Hồi Giáo không chính thống đã tàn sát và chấn thương hàng chục ngàn người trong thập niên này. Vì địch hoạt động toàn cầu, phải đối phó với chúng một cách toàn cầu.

Chúng ta phải tái tập trung mọi nỗ lực vào Afghanistan và Pakistan — là mặt trận trung tâm trong cuộc chiến chống al Qaeda — ngõ hầu chúng ta đối phó với quân khủng bố tại nơi mà chúng có sào huyệt sâu xa nhất. Chiến thắng tại Afghanistan vẫn có khả năng, nhưng chỉ nếu chúng ta hành động nhanh chóng, có tính toán, và một cách quyết định. Chúng ta nên theo đuổi một chiến lược kết hợp mà có thể tái củng cố quân đội của chúng ta tại  Afghanistan và tìm cách loại bỏ một số giới hạn do một số đồng minh NATO đặt ra đối với lực lượng của họ. Chiến lược của chúng ta cũng phải bao gồm luôn việc duy trì ngoại giao để cô lập phe Taliban và các chương trình phát triển hữu hiệu hơn nhằm trợ giúp những vùng nơi quân Taliban đang xâm nhập.

Tôi sẽ gia nhập với các đồng minh của chúng ta trong đòi hỏi — chứ không phải chỉ yêu cầu — rằng Pakistan phải tấn công phe Taliban, lùng bắt Osama bin Laden và các phụ tá của y, và chấm dứt quan hệ của nước này với mọi nhóm khủng bố. Cùng lúc, tôi sẽ khuyến khích sự đối thoại giữa Pakistan và Ấn Độ để tìm ra giải pháp cho cuộc tranh chấp giữa hai nước về lãnh thổ Kashmir cũng như giữa Afghanistan và Pakistan để giải quyết các bất đồng lịch sử và phát triển vùng biên giới Pashtun. Nếu Pakistan có thể nhìn về phương đông với sự tự tin hơn, thì điều khó xảy ra là nước này sẽ tin rằng quyền lợi của họ được tiến bộ nhất qua việc hợp tác với phe Taliban.

Mặc dù hoạt động mạnh mẽ tại Nam Á và Trung Á có thể là điểm khởi đầu, các nỗ lực của chúng ta phải rộng lớn hơn. Phải không còn an toàn khu cho những kẻ âm mưu giết người Mỹ. Để chiến thắng al Qaeda, tôi sẽ thành lập quân sự thế kỷ 21  và sự hợp tác thế kỷ 21 mạnh mẽ giống như đồng minh chống cộng mà đã thắng Chiến Tranh Lạnh trước kia để có thể tiếp tục nắm thế chủ động tại mọi nơi từ Djibouti cho đến Kandahar.

Tại quê nhà nơi đây, chúng ta phải củng cố lực lượng nội an và bảo vệ các hạ tầng cơ sở quan yếu mà toàn thể thế giới phụ thuộc vào. Chúng ta có thể khởi sự bằng cách chi phí cho lực lượng nội an trên căn bản bất ổn. Điều này có nghĩa là đầu tư nhiều tài nguyên hơn để bảo vệ các hệ thống di chuyển công cộng, chấm dứt khoảng cách an toàn trong an ninh hàng không bằng cách dò xét mọi kiện hàng trên các hệ thống hàng không dân sự và kiểm soát mọi hành khách đối với một số vật dụng trên danh sách, và cải tiến an ninh cảng bằng cách bảo đảm rằng các kiện hàng phải được khám xét bằng tia phóng xạ.

Để thành công, nội an và các hành động chống khủng bố của chúng ta phải liên kết với cộng đồng tình báo là phía đối phó trực tiếp với các loại đe dọa mà chúng ta phải đối đầu. Ngày nay, chúng ta phụ thuộc nhiều vào cùng cơ quan và cách hoạt động mà chúng ta đã có từ trước biến cố 9/11. Chúng ta cần tái thẩm định việc cải cách tình báo, ra ngoài việc sắp xếp các hộp dựa theo một đồ biểu  có tổ chức. Để có thể tiến bước  với các kẻ thù có khả năng thích ứng cao độ, chúng ta cần đến kỹ thuật và cách thực hành có thể giúp chúng ta thu thập và chia xẻ một cách hiệu quả các tin tức trong  và xuyên suốt các cơ quan tình báo của chúng ta. Chúng ta phải đầu tư nhiều hơn vào nhân lực tình báo và giàn thêm các hoạt động và chuyên viên có huấn luyện với kiến thức chuyên môn về văn hóa và ngôn ngữ địa phương. Và chúng ta nên cơ chế hóa (instutionalize) sư phát triển việc thực hành các đánh giá có tính cạnh tranh đối với các loại đe dọa và củng cố phương pháp phân tích của chúng ta.

Sau hết, chúng ta cần đến một chiến lược toàn bộ để chiến thắng bọn khủng bố toàn cầu — thứ chiến lược có thể tận dụng được toàn thể sức mạnh của Mỹ, chứ không phải chỉ riêng gì sức mạnh quân sự. Như lời một vị tư lệnh cao cấp của quân đội Mỹ đã nói, khi người ta có cá tính và cơ hội, thì:  “cơ may để chủ nghĩa cực đoan được rộng rãi chấp nhận, nếu không là hoàn toàn chấp nhận, sẽ tan biến.” Vì lý do này mà chúng ta cần phải đầu tư cùng các đồng minh vào việc gia tăng sức mạnh của các nhược quốc và giúp đỡ việc tái thiết các nước đã suy sụp.

Trong thế giới Hồi Giáo và xa hơn nữa, chiến đấu chống lời tiên tri về sự sợ hãi của đám khủng bố đòi hỏi nhiều hơn là chỉ diễn thuyết về dân chủ. Chúng ta cần phải tìm hiểu sâu xa hơn về hoàn cảnh và niềm tin  đã tạo ra chủ nghĩa cực đoan. Một cuộc tranh luận quan yếu đang xảy ra trong thế giới Hồi Giáo. Một số người tin vào một tương lai hòa bình, bao dung, phát triển, và dân chủ hóa. Trong khi một số khác lại ôm ấp sự bạo động cứng ngắc và bất bao dung đối với tự do cá nhân và thế giới nói chung. Để có thể tạo sức mạnh cho lực lượng ôn hòa, Mỹ cần phải tận dụng mọi nỗ lực để xuất cảng cơ hội — cho giáo dục và y tế, mậu dịch và đầu tư — và cung ứng một hình thức ủng hộ thường xuyên cho các nhà cải cách chính trị và xã hội dân sự mà đã khiến chúng ta chiến thắng cuộc Chiến Tranh Lạnh. Niềm tin của chúng ta đặt để vào hy vọng; thành phần cực đoan đặt để vào sự sợ hãi. Đó là lý do chúng ta có thể — và sẽ — chiến thắng cuộc tranh đấu này.

 

TÁI THIẾT SỰ HỢP TÁC

Để canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, tôi dự tính sẽ tái thiết các đồng minh, đối tác, cũng như các cơ chế cần thiết để đương đầu với các đe dọa nói chung và cải tiến an ninh nói chung. Sự cần thiết phải canh cải các đồng minh và cơ chế này sẽ không đến từ việc phỉnh gạt các nước khác trong việc chấp thuận các thay đổi mà chúng ta ấp ủ trong cô lập. Nó sẽ đến khi chúng ta thuyết phục chính phủ và quốc dân các nước khác rằng, họ, cũng  có phần trong một quan hệ đối tác có hiệu quả.

Chúng ta rất thường xuyên gửi các tín hiệu trái ngược đến các đối tác quốc tế của chúng ta. Trong trường hợp Âu châu, chúng ta đã giải tán quan niệm có sẵn của họ về sự khôn ngoan và điều cần yếu của chiến tranh Iraq. Tại Á châu, chúng ta không lưu tâm nhiều đến các nỗ lực của Nam Hàn nhằm tăng cường quan hệ với Bắc Hàn. Tại Châu Mỹ Latinh, từ Mexico đến Argentina, chúng ta đã thất bại trong việc bày tỏ mối quan tâm về vấn đề di dân, bình đẳng và sự phát triển kinh tế. Tại Phi châu, chúng ta đã để cho các tội ác diệt chủng tiếp tục hơn 4 năm tại Darfur và đã không làm đến mức gần đủ để đáp ứng lời kêu gọi của Liên Đoàn Phi Châu ủng hộ việc chấm dứt tàn sát. Tôi sẽ tái thiết quan hệ với các đồng minh của chúng ta tại Âu châu, Á châu và củng cố các đối tác trong suốt Mỹ châu và Phi châu.

Các đồng minh của chúng ta đòi hỏi đến một sự hợp tác và điều chỉnh thường xuyên nếu chúng còn hiệu quả và hiệu lực. NATO đã thực hiện nhiều đột phá trong vòng 15 năm, tự biến nó từ một cấu trúc an ninh thời Chiến Tranh Lạnh thành một đối tác cho hòa bình. Nhưng ngày nay, thách đố của khối NATO tại Afghanistan đã lộ rõ, như lời Thượng nghị sĩ Lugar đã phát biểu, “sự khác biệt ngày càng gia tăng giữa sứ mạng phát triển của NATO và khả năng hạn hẹp của nó.”  Để chấm dứt khoảng cách này, tôi sẽ cùng với các đồng minh NATO góp phần vào việc tăng thêm quân số cho các hoạt động an ninh chung và để đầu tư nhiều hơn vào việc tái cấu trúc và ổn định các khả năng của họ.


Và khi chúng ta tạo sức mạnh cho NATO, chúng ta phải xây dựng các đồng minh và đối tác mới trong các vùng quan yếu khác. Khi Tầu Cộng vươn lên trong khi Nhật và Nam Hàn tái khẳng định vị trí của họ, tôi sẽ tìm cách tạo ra một khung hiệu quả hơn tại Á châu mà cái khuôn khổ này sẽ đi xa hơn khuôn khổ các hiệp định song phương, các cuộc họp thượng đỉnh, hoặc các sắp xếp có chủ đích, như kiểu thảo luận sáu bên về Bắc Hàn chẳng hạn. Chúng ta cần đến một hạ tầng cơ sở bao gồm các nước châu Á có thể khích lệ sự ổn định và thịnh vượng trong vùng cũng như góp phần trong việc đôi phó với các loại đe dọa liên quốc gia, từ các ổ khủng bố ở Phillipines đến nạn cúm gia cầm tại Inđô. Tôi sẽ khuyến khích Tầu giữ một vai trò có trách nhiệm như một thế lực đang lớn mạnh – để dẫn đầu trong việc giải quyết các vấn đề của thế kỷ 21 này. Chúng ta sẽ cạnh tranh với Tầu trong một số lãnh vực và hợp tác trong một số lãnh vực khác. Thách đố chính của chúng ta là xây dựng một quan hệ trong đó sự hợp tác được nới rộng trong khi tăng cường khả năng cạnh tranh của chúng ta.


Hơn thế, chúng ta cần đến sự hợp tác hữu hiệu để đưa ra các vấn đề toàn cầu đối với mọi cường quốc chính – trong đó có cả các nước mới xuất hiện như Brazil, Ấn Độ, Nigeria, và Nam Phi. Chúng ta cần phải cho các nước này hưởng phần trong việc củng cố trật tự quốc tế. Đến tận cùng, Liên Hiệp Quốc đòi hỏi một cuộc cải cách xa hơn nhiều. Các thực hiện của sự điều hành của Tổng Thư Ký LHQ vẫn còn yếu. Các hoạt động gìn giữ hòa bình bị kéo dài quá lâu. Hội Đồng Nhân Quyền LHQ mới đã thông qua tám nghị quyết lên án Do Thái – nhưng lại không có một nghị quyết nào lên án nạn diệt chủng tại Darfur hoặc các vụ vi phạm nhân quyền trầm trọng ở Zimbabwe. Vậy mà chẳng có vấn đề nào trong số này được giải quyết trừ phi Mỹ tự mình cống hiến vào tổ chức này và các nhiệm vụ của nó.


Tăng cường các tổ chức này và tái hoạt các nước đồng minh và đối tác đặc biệt là việc quan yếu nếu chúng ta chiến thắng được đe dọa nhân tạo thời đại đối với hành tinh này: sự thay đổi khí hậu. Nếu không có các thay đổi mau chóng, mực nước biển dâng cao sẽ làm ngập lụt các vùng bờ biển khắp thế giới, trong đó bao gồm cả các vùng bờ đông. Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa giảm sẽ khiến mùa màng suy kém, tranh chấp, hạn hán, bệnh tật, và nghèo đói gia tăng. Vào năm 2050, nạn đói có thể sẽ đè nặng lên trên 250 triệu người trên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là làm gia tăng sự bất ổn trên một sô vùng vốn đã bất ổn nhất của thế giới.


Là nước tạo ra các loại khí nhà kính lớn nhất thế giới, nước Mỹ có trách nhiệm phải dẫn đầu. Trong khi một số đối tác kỹ nghệ của chúng ta đang cố gắng nhiều để giảm lượng khí thải của họ, thì chúng ta lại gia tăng lượng khí thải của chúng ta ở mức đều đặn – ở mức hơn 10% mỗi thập niên. Là tổng thống, tôi dự tính sẽ thiết lập một hệ thống trao đổi-và-tối đa (cap-and-trade) (5) sẽ giảm mau chóng số lượng khí thải carbon của chúng ta. Và tôi sẽ tìm cách làm Mỹ hoàn toàn thoát khỏi sự lệ thuộc vào dầu thô ngoại quốc – bằng cách dùng năng lượng một các hữu hiệu hơn đối với xe cộ, nhà máy, và gia dụng, phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn điện năng tái sinh, và củng cố khả năng của các loại nhiên liệu sinh học.


Việc tự lập đối với quê hương của chúng ta chỉ là bước đầu tiên. Tầu sẽ mau chóng thay thế Mỹ trở thành nước thải khí nhiều nhất trên thế giới. Các nghiên cứu về năng lượng sạch phải tập trung vào quan hệ của chúng ta với các nước chính tại Âu châu và Á châu. Tôi sẽ đầu tư và các kỹ thuật sạch và hữu hiệu tại nội địa trong khi dùng các chính sách trợ lực và các khuyến khích xuất cảng hầu giúp các nước phát triển tạo ra bước bộc phá giai đoạn tính dùng năng lượng carbon của quá trình phát triển. Chúng ta cần một đáp ứng toàn cầu đối với việc thay đổi khí hậu trong đó bao gồm các hình thức tham gia có liên đới và cưỡng bức hầu làm giảm lượng khí thải, đặc biệt đối với những nước thải nhiều nhất: Mỹ, Tầu, Ấn Độ, Liên Hiệp Âu Châu, và Nga. Thách đố này rất lớn, nhưng theo đuổi nó cũng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Mỹ. Vào năm 2050, nhu cầu toàn cầu đối với năng lượng ít carbon có thể tạo ra một thị trường trị giá 500 tỉ mỗi năm. Đạt được nhu cầu này sẽ mở ra một tiền tuyến mới cho các công nhân và kỹ nghệ gia Hoa Kỳ.

XÂY DỰNG XÃ HỘI CÔNG BÌNH, AN NINH VÀ DÂN CHỦ


Sau cùng, để canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, tôi sẽ tăng cường nền an ninh chung của chúng ta bằng cách đầu tư vào nhân bản chung. Sự giao tiếp toàn cầu của chúng ta không thể được định nghĩa bằng cái mà chúng ta chống; nó phải được hướng dẫn bằng một sự cảm nhận rõ ràng về điều mà chúng ta phải tranh đấu. Chúng ta có một phần đáng kể trong việc bảo đảm rằng những ai sống trong sợ hãi và mong muốn ngày nay có thể sống có tư cách và có cơ hội cho ngày mai.

Nhân loại trên thế giới đã nghe nhiều về sự phát triển tự do xuống đường một cách muộn màng. Một cách bi kịch mà nói, nhiều người đã đi đến chỗ là gắn nó với cuộc chiến này, với sự tra tấn, và cưỡng bức sự thay đổi chế độ bằng quân sự. Để xây dựng một thế giới tốt hơn, tự do hơn, trước hết chúng ta phải theo cách thức sao cho phản ảnh được sự tôn nghiêm và những khát vọng của người dân Mỹ. Điều này có nghĩa là phải chấm dứt việc chuyên chở tù binh trong đêm đen ra các nước xa để tra tấn, việc giam giữ hàng ngàn tù nhân mà không hề kết án hoặc xét xử, việc duy trì một hệ thống nhà tù bí mật để tống giam người ta ngoài phạm vi của luật pháp.

Công dân ở mọi nơi phải có quyền lựa chọn lãnh tụ của họ trong bầu không khí không lo sợ. Người Mỹ phải tham gia hết mình vào việc củng cố các trụ cột của một xã hội công bằng. Chúng ta có thể giúp xây cất các cơ quan có tín nhiệm có thể tạo ra các dịch vụ và cơ hội: hệ thống luật pháp mạnh mẽ, hệ thống tư pháp độc lập, lực lượng cảnh sát tử tế, tự do báo chí, các xã hội dân sự năng động. Tại những quốc gia bị tàn phá vì nghèo đói và tranh chấp, các công dân mong chờ được hưởng sự tự do mà mình mong muốn. Và vì các xã hội cực nghèo và các nhà nước yếu kém cung cấp môi trường nuôi dưỡng bệnh tật, khủng bố, và tranh chấp, Hiệp Chủng Quốc có quyền lợi quốc gia trong công việc giảm nghèo đói toàn cầu và hợp lực với các đồng minh nhằm chia xẻ sự giầu có của chúng ta với các nước cần giúp đỡ. Chúng ta cần đầu tư vào việc xây dựng các chính quyền dân chủ, có khả năng thành lập những cộng đồng lành mạnh và có giáo dục, phát triển thị trường, và tạo ra tài sản. Các chính quyền này cũng có các tổ chức quốc gia có khả năng nhiều hơn trong việc chống khủng bố, ngăn chặn việc lan tràn các loại võ khí giết người, và xây dựng các cơ sở hạ tầng y tế nhằm ngăn chặn, khám phá và chữa trị các thứ mệnh chết người như HIV/AIDS, sốt rét, và cúm gia cầm.

Là tổng thống, tôi sẽ tăng gấp đôi số đầu tư hàng năm của chúng ta để có thể đối phó với các thách đố này đến mức 50 tỉ vào năm 2012 và bảo đảm các nguồn tài nguyên mới này được dùng vào các mục tiêu đáng giá. Trong 20 năm qua, ngân sách viện trợ cho nước ngoài của Mỹ đã tăng chỉ hơn mức lạm phát một chút. Quyền lợi an ninh quốc gia của chúng ta là phải làm tốt hơn. Nhưng nếu Mỹ giúp các nước khác xây dựng các xã hội an ninh và công bằng hơn, thì các trao đổi mậu dịch, giảm bớt nợ, và viện trợ phải không thể không có điều kiện. Tôi sẽ gắn liền sự ủng hộ của chúng ta với đòi hỏi thường xuyên về cải cách, nhằm chống lại tham nhũng mà đã làm sói mòn các xã hội và chính quyền ngay từ bên trong. Tôi sẽ làm như vậy không trên tinh thần của một ủng hộ viên nhưng trên tinh thần đối tác – một đối tác biết đầy đủ về những bất toàn của chính mình.

Sự gia tăng nhanh chóng các chương trình quốc tế về AIDS đã chứng minh rằng sự gia tăng viện trợ có thể tạo ra sự khác biệt thực sự. Như một phần của ngân sách mới này, tôi sẽ hiện thực hóa một Ngân Sách Giáo Dục Toàn Cầu trị giá 2 tỉ mỹ kim nhằm đem thế giới lại với nhau hầu loại bỏ khiếm khuyết giáo dục toàn cầu, nhiều như là Ủy Ban 9/11 đề nghị. Chúng ta không thể tạo ra một thế giới trong đó cơ hội có nhiều hơn nguy hiểm trừ phi chúng ta đảm mỗi trẻ em tại mọi nơi được dạy để xây dựng chứ không phải phá hủy.

Có những lý do đạo lý bắt buộc và an ninh bắt buộc việc canh tân vai trò lãnh đạo của Mỹ trong đó thừa nhận quyền bình đẳng và giá trị đồng đều mà mọi người được thừa hưởng. Như TT Kennedy đã phát biểu trong bài diễn văn nhậm chức của ông năm 1961:  “Với những người sống trong những nhà tranh và làng mạc trên nửa trái đất đang đấu tranh để phá vỡ sự nghèo đói hàng loạt, chúng ta nguyện dồn nỗ lực lớn nhất hầu giúp họ tự cứu, dù thời gian này có dài bao lâu đi nữa – không phải vì người CS có thể làm, không phải vì chúng ta kiếm phiếu của họ, nhưng vì điều này là đúng. Nếu một xã hội tự do lại không thể giúp được nhiều người nghèo khó, thì cái xã hội ấy không thể cứu được một số người giầu.” Tôi sẽ cho thế giới thấy rằng Hoa Kỳ vẫn đúng với giá trị căn bản của nó. Chúng ta lãnh đạo chẳng phải chỉ vì cho riêng chúng ta mà còn cho cái thiện chung.


PHỤC HỒI UY TÍN CỦA MỸ

Đối đầu với Hitler, Roosevelt tuyên bố rằng sức mạnh của chúng ta phải được “hướng về cái thiện tối hậu cũng như chống lại cái ác hiện tại. Người Mỹ chúng ta không phải những người đi hủy diệt; chúng ta là những người đi xây dựng.” Đây chính là thời điểm của một tổng thống có khả năng xây dựng một sự đồng thuận tại quê nhà này cho một giai đoạn tham vọng đồng đều.

Tối hậu, không một chính sách ngoại giao nào có thể thành công trừ phi dân Mỹ hiểu về nó và cảm thấy họ có phần trong sự thành công – trừ phi họ tin tưởng rằng chính phủ của họ cũng nghe thấy mối ưu tư của họ. Chúng ta sẽ không thể gia tăng viện trợ cho ngoại quốc nếu chúng ta không thành công trong việc đầu tư vào an sinh và cơ hội của chính người dân của chúng ta. Chúng ta không thể thương lượng được các thỏa ước mậu dịch nhằm trải rộng sự phát triển vào các nước nghèo khi chúng ta chẳng cung ứng một trợ giúp có ý nghĩa cho giới lao động Mỹ đang bị đè nặng bởi sự phối trí của nền kinh tế toàn cầu. Chúng ta không thể giảm lệ thuộc vào dầu thô ngoại quốc hoặc đánh bại sự hâm nóng toàn cầu trừ phi dân Mỹ muốn canh tân và bảo tồn năng lượng. Chúng ta không thể mong đợi dân Mỹ sẽ ủng hộ việc đưa nam nữ của chúng ta vào hoạn lộ nếu chúng ta không thể cho thấy chúng ta sẽ dùng quân lực một cách khôn ngoan và có phán đoán. Nhưng nếu vị tổng thống kế tiếp có thể phục hồi niềm tin của dân Mỹ – nếu họ biết rằng vị tổng thống này hành xử với hết con tim của mình, với khôn ngoan và khéo léo và theo một mức độ nhân bản nào đó – thì tôi tin rằng dân Mỹ sẽ nôn nóng muốn thấy Mỹ lãnh đạo trở lại.


Tôi tin rằng họ cũng sẽ đồng ý rằng đây là thời điểm cho một thế hệ mới tạo ra một lịch sử vĩ đại tiếp theo của Mỹ. Nếu chúng ta hành xử bằng sự can đảm và viễn kiến, chúng ta sẽ có thể nói với con cháu chúng ta rằng đây là thời điểm mà chúng ta đã góp phần tạo ra một khuôn khổ hòa bình Trung Đông. Đây là thời điểm mà chúng ta phải đã phải đối phó với nạn khí hậu thay đổi và bảo đảm an toàn cho các loại võ khí có thể hủy diệt nhân loại. Đây là thời điểm mà chúng ta đã phải đánh bại bọn khủng bố toàn cầu và đem lại cơ hội cho các góc bị bỏ quên của thế giới. Và đây là thời điểm chúng ta đã phải canh tân nước Mỹ mà từ đó đã dẫn dắt nhiều thế hệ của các du khách mệt mỏi từ mọi nơi trên thế giới đến tìm cơ hội, tự do và hy vọng trên thềm nhà của chúng ta.

Không lâu trước đây các nhà nông ở Venezuela và Inđô đã chào đón các bác sĩ Mỹ đến các làng mạc của họ và treo ảnh của John F. Kennedy trên tường phòng khách, khi hàng triệu người, như cha tôi chẳng hạn, đã phải chờ đợi từng ngày một lá thư cho họ quyền được đến Mỹ để học, làm, sống, hoặc để được tự do.

Chúng ta có thể trở lại một nước Mỹ như vậy. Đây là thời điểm để canh tân sự tín cẩn và niềm tin của quốc dân chúng ta – và dân chúng mọi dân tộc – vào một nước Mỹ muốn đấu tranh chống lại cái ác, khích lệ cái thiện tối hậu, và lãnh đạo thế giới một lần nữa.

 

Ghi Chú của Người Dịch:

* Xin ghi nhận rằng trong toàn bài viết, “an ninh” có nghĩa là “an ninh khỏi một cuộc chiến nào đó – kinh tế, quân sự”, còn “an sinh” là “an ninh sinh sống của toàn dân”, vậy “an sinh” có ý nghĩa tương tự nhưng rộng hơn “an ninh”. Trong tiếng Mỹ, cả hai đều được gọi là “security”.

1. Bốn Quyền Tự Do - Four Freedoms: Gồm tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do theo đuổi nhu cầu, và tự do khỏi sự sợ hãi (reedom of speech, freedom of worship, freedom from want, and freedom from fear) là các mục tiêu của chính sách Hoa Kỳ do TT Franklin D. Roosevelt đưa ra ngày 06-01-1941.

2. Abu Ghraib: Nhà tù bên Iraq, nơi xảy ra scandal hành hạ và ngược đãi tù nhân Iraq năm 2003.

3. Chiến tranh bất cân xứng: một lực lượng nhỏ dùng phương pháp “đánh rồi chạy” chống lại một lực lượng có hỏa lực mạnh hơn nhiều lần. Điển hình nhất là cái gọi là “du kích chiến” hay “chiến tranh nhân dân” kiểu Hồ hay Giáp.

4. Nguyên tử Chiến Tranh Lạnh: Hai bên dùng nguyên tử làm dù che. Nếu một cuộc chiến nguyên tử bùng nổ thì hai bên đều “lưỡng bại”, từ đó mà không bên nào dám dùng nguyên tử tấn công bên nào. Từ đó mà hai bên đều chỉ tiến hành hình thức “chiến tranh ủy nhiệm”, tức là cho đàn em” đánh nhau ở một chiến trường nào đó, cụ thể như chiến trường miền Nam 1954-1975.

5. Cap and Trade: Luật ấn định mức tối đa loại và lượng khí thải cho phép. Mỗi nguồn thải khí có thể thiết kế chiến lược thải khí sao cho hội đủ yêu cầu của “cap”, trong đó bao gồm việc buôn bán mức độ thải (vào các nước “sân sau”), lắp đặt các hệ thống kiểm soát khí thải, theo đuổi các biện pháp hữu hiệu. Điều kiện “cap” riêng rẽ cho từng nguồn thì không có, nhưng mỗi nguồn thải khí đều phải chấp nhận số lượng cho phép bằng với số khí mà nguồn đó thực sự thải ra. Các nguồn phải đo lường một cách  hoàn toàn và chính xác đồng thời báo cáo lên cơ quan chức năng theo đúng hạn kỳ để bảo đảm tổng số khí thải không vược quá mức ấn định.

June 8, 2008

Hiểm Họa Trung Hoa Đỏ Trong Tầm mình Của Hoa Kỳ

Charles R. Smith – (Hạ Miên trích dịch)

Hiểm Họa Trung Hoa Đỏ Trong Tầm mình Của Hoa Kỳ

Charles R. Smith – (Hạ Miên trích dịch)

Chính phủ Hoa Kỳ từ lâu đă chính thức nhìn nhận Trung Hoa Đỏ là mối đe dọa hàng đầu đối với nền an ninh thế giới và Hoa Kỳ. Điều này được lập lại ít nhất hai lần trong báo cáo của Ngũ Giác Đài và của Hội Đồng An Ninh – Kinh Tế Hoa Kỳ – Trung Quốc trong tháng 6 năm 2004 tŕnh lên Quốc Hội.

Cả hai bản báo cáo đều ghi nhận việc gia tăng khả năng quân sự của Trung cộng kết hợp với chính sách kinh tế trục lợi đều nhắm trực tiếp vào Hoa Kỳ. Bản báo cáo mới nhất của Hội Đồng An Ninh Kinh Tế Hoa Kỳ – Trung Quốc được thông qua bởi sự đồng thuận của tất cả mười một vị Ủy viên Hội Đồng (by a unanimous vote of all eleven Commissioners). Theo bản báo cáo này sự hợp tác của Trung Cộng trên các vấn đền an ninh thế giới là không thỏa đáng (un-satisfactory).

Dựa vào những bản báo cáo này, hiện nay năm vấn đề mấu chốt đã được xem xét để đánh giá tiềm năng kinh tế và tiềm lực gây chiến tranh của Trung Hoa Đỏ. Đó là những chủ đề thường được nói tới trên báo giới trong thời gian gần đây, nhưng khi các chuyên viên của bộ quốc pḥòng và Hội Đồng An Ninh – Kinh Tế Hoa Kỳ cùng đi đến một kết luận đă làm những người quan tâm giật mình. Bảng phân tích chung cho thấy có một vạch liên kết giữa Trung Hoa và các vũ khí mới nước cộng sản này vừa thủ đắc sẽ đưa thế giới đi từ cuộc chiến tranh kinh tế đến nguy cơ chiến tranh nguyên tử là hiện thực.

1. Chiến tranh kinh tế.

§ Trung Cộng chủ tâm sử dụng xung đột kinh tế để chống lại Hoa Kỳ nhằm tìm kiếm một lợi thế cạnh tranh để qua mặt các nhà sản xuất của Hoa Kỳ.

§ Những nguyên tắc kinh tế cơ bản đã dẫn chứng đồng Nhân Dân tệ được quy giá thấp hơn giá trị thực loại tiền tệ này cần phải có. Điều này được khẳng định bởi các sự kiến đồng thuận ngày càng nhiều của các chuyên gia kinh tế về mệnh giá thực từ 50% đến 40 cao hơn cho trị giá hiện nay của tiền Trung Quốc. Chính phủ Trung Cộng đã liên tục can thiệp vào thị trường tiền tệ thế giới để giữ hối xuất trao đổi ở mức cố định mỗi đô-la tương đương 8.28 Nhân Dân tệ. Qua những hành động can thiệp này, người ta thấy được hành động của chính phủ Trung quốc cố ý làm ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền của họ.

§ Trung Quốc hiện đang vi phạm những điều nước này đã hứa hẹn với Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới và các nhà đầu tư Hoa Kỳ có thể thực tế đang đầu tư tiền vào tổ chức phát triển quân đội giải phóng (the PLA) của Trung Cộng.

§ Trung quốc vẫn tiếp tục ngăn trở có chủ đích tính hiệu quả và hạ thấp giá trị của cơ chế kiểm soát của cơ quan mậu dịch thế giới trong thời gian nước này trong thời kỳ đầu gia nhập tổ chức này. Cơ quan này (the WTOs TRM) đảm nhận trọng trách đánh giá sự tuân thủ của Trung Hoa đối với các quy chế của tổ chức mậu dịch thế giới, đồng thời áp đặt các quy chế dưới nhiều hình thức để buộc Trung Cộng phải chấp nhận việc không thực hiện đầy đủ những điều đă cam kết.

§ Việc thiếu sót các thông tin chính đáng về các tổ chức kinh doanh của Trung Hoa đang hoạt động trên thị trường tư bản thế giới có thể đang đưa các nhà đầu tư Hoa Kỳ đến chỗ đổ tiền của họ một cách vô ý thức vào các công ty có quỹ đen thiếu các cơ cấu kiểm soát cơ bản điều hành công tỵ Các công ty này đồng thời cũng có thể có liên hệ với các hoạt động có hại cho quyền lợi được bảo đảm của Hoa Kỳ.

2. Đổi vũ khí các loại lấy dầu hỏa.

Cũng theo bản báo của Hội Đồng Giám Sát An Ninh Kinh Tế, Trung Cộng vẫn tiếp tục cung cấp các loại vũ khí hiện đại cho nhiều quốc gia khách hàng như Bắc Triều Tiên, Pakistan, và Iran. Hơn nữa, đă có dấu hiệu cho thấy Trung Hoa hiện đang tự nguyện thực hiện các chương trình trao đổi vũ khí lấy dầu hỏa. Các dẫn chứng cụ thể liên quan đến thực tế biểu hiện bằng hành động như sau:

§ Nhu cầu tiêu dùng năng lượng của Trung Cộng ngày càng tăng liên quan đến nền kinh tế phát triển nhanh chóng là các mối quan tâm ngày càng lớn của Hoa Kỳ trên các lĩnh vực kinh tế và an ninh. Các chính sách bảo đảm năng lượng của Trung Cộng đă đưa nước này đến các thỏa hiệp song phương ngấm ngầm phá hoại các nỗ lực từ nhiều phía nhằm ổn định nguồn cung cấp dầu hỏa và giá cả trên thế giới, và trong nhiều trường hợp các thỏa hiệp này có thể dính líu đến việc chuyển giao các loại vũ khí nguy hiểm.

§ Trung Cộng đă và đang tìm kiếm các nguồn hợp tác cung cấp năng lượng từ các quốc gia được liệt vào danh sách cần quan tâm của Hoa Kỳ trong đó có Iran và Sudan. Một số các nhà phân tích đã đưa ra lời cảnh cáo rằng Trung Cộng có thể đã đưa ra lời đề nghị trao đổi các vật liệu để chế tạo các loại vũ khí tàn sát hằng loạt cho các cuộc thương lượng để lấy dầu hỏa.

3. Các loại vũ khí mới

Bản báo cáo của Hội Đồng Giám Sát cũng vạch rõ rằng Nga mới đây đă bán cho Trung Cộng một loại tàu tên lửa tàn sát cấp cao mang tên SUNBURN (3M83 Moskit). Cố vấn tổng giám đốc của viện nghiên cứu khoa học hàng hải về kỹ nghệ điện tử tên Altair là Nikolay Shcherbakov mới đây được báo cáo rằng họ (Nga) đang cung cấp cho Trung Cộng trang thiết bị đời mới nhất và với sự đồng ý của cấp trên cơ quan này được phép giao cho Trung Cộng các tàu tên lửa phá tàu chiến với tầm hoạt động xa hơn gấp hai lần trước đây. Đó là loại tên lửa siêu thanh MOSKIT có tầm di động 240 km để thay thế loại hiện nay có tầm hoạt động trong phạm vi 120 km (“We are supplying China with new-generation equipment. We have been allowed to supply MOSKIT supersonic antiship cruise missiles with twice the range – 240 km instead of the existing 120 km.”).

Song song với những dẫn chứng vừa nêu trên, bản báo cáo của Hội Đồng Giám Sát Anh Ninh – Kinh Tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng quan tâm đến vấn đề Trung Cộng có thể sẽ sử dụng các loại vũ khí hạt nhân để tấn công và đánh bại các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trong trường hợp Trung Cộng mở cuộc tấn công Đài Loan.

Về điều này, bản báo cáo của Ngũ Giác Đài nhận xét: “Nhận thức được mức độ liên hệ có thể có của quân đội Hoa Kỳ, nhóm học giả nghiên cứu các chương tŕnh nghiên cứu và phát triển Hoa Lục (Chinás R&D) phát hiện ra rằng các chuyên viên chiến lược của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa tin tưởng rằng một lực lượng hải quân tinh nhuệ vẫn có thể bị đánh bại vì sự mất liên lạc giữa các hệ thống thông tin vệ tinh, chẳng hạn như sự nổ của một đầu đạn nguyên tử bên ngoài không gian sẽ tạo ra những xung động điện từ trường gây nhiễu sóng liên lạc giữa các hạm đội và vệ tinh viễn thông.”

Ngoài ra, Cơ Quan Giám Sát còn cho biết Trung Hoa đang thử nghiệm chế tạo một loại vũ khí sử dụng tia hồng ngoại để chống lại các lực lượng quân sự của Đài Loan và Hoa Kỳ. Bản báo cáo tường thuật sự kiện này như sau: “Nguồn tin gần đây cho thấy Hoa Lục vừa thành công trong việc phát triển một loại đại bác bắn bằng tia laser với tầm xa hơn 100 km và có thể đã được dàn trận trên địa phận tỉnh Fujian đối diện với đảo Đài Loan.”

4. Chiến tranh bùng nổ trong năm 2005

Bản báo cáo của Hội Đồng Giám Sát An Ninh – Kinh Tế giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng đã vẽ ra một bức tranh về thảm họa chết người ngày càng gần là mối đe dọa với khả năng xung đột trong vòng một năm trước mắt.

“Bản tường thuật của buổi họp về tiến trình dân chủ của bộ Ngoại Giao Trung Hoa báo cáo về các khả năng quân sự cơ bản của Hoa Lục tiết lộ Beijing hiện đă hoạch định một chiến lược tấn công bất ngờ vào Đài Loan. Câu chuyện này thảo luận một viễn cảnh trong đó cuộc tấn công có thể bao gồm một cú chấn động ban đầu chỉ 7 phút đồng hồ và đợt tấn công hỗ trợ của các đầu đạn sẽ làm tê liệt hệ thống điều khiển của Đài Loan, tiếp theo là đợt tấn công 17 phút khác vào bầu trời đảo quốc này bằng sự oanh tạc của các chiến đấu cơ của Hoa Lục. Chỉ trong vòng 24 phút đồng hồ của đợt tấn công, một lực lượng quân đội của 258 ngàn lính bộ binh sẽ đổ quân vào Đài Loan. Các chương tŕnh hiện đại hóa và phát triển các lực lượng quân sự của Hoa Lục đều nhắm vào một cuộc chiến tranh có nhiều khả năng xảy ra giữa năm 2005 và 2010.”

Khoảng đầu tháng 6 năm nay, Ngũ Giác Đài đă chính thức đưa ra bản tường thuật dưới sự ủy thác của Quốc Hội Hoa Kỳ về các diễn biến mới về quân sự của Trung Cộng. Bản báo cáo của bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ đă đưa ra các chỉ số tăng cấp chục đơn vị trong các chi tiêu quốc pḥòng của Hoa Lục và các ngân khoản mua các loại vũ khí chủ yếu từ Ngạ

Hiện tại Trung Cộng đứng hàng thứ ba sau Hoa Kỳ và Nga về tổng ngân sách quốc pḥòng với ngân sách gần $100 tỉ mỹ kim cho PLA năm nay. Bản báo cáo cũng ghi nhận mức gia tăng ngân sách cấp hàng chục của Hồng quân Trung quốc dự tính sẽ tiếp tục cho đến năm 2010.

Ngoài ra, theo bản báo cáo của Ngũ Giác Đài, các tên lửa đạn đạo của Trung Cộng đang làm thay đổi cán cân quyền lực ở khu vực Thái Bình Dương, đưa đến nguy cơ bùng nổ chiến tranh trên đảo quốc Đài Loan. Ước đoán hiện Hoa Lục có khoảng 550 tên lửa tầm ngắn nhắm vào Đài Loan.

Về khả năng triệt hạ bản báo cáo này viết: “Trung Cộng hầu như có khả năng gây thiệt hại lớn cho toàn bộ các phi cảng của Đài Loan và nhanh chóng triệt hạ các địa điểm phòng không đặt trên đất liền của đảo quốc này. Bằng sự kết hợp sử dụng một hệ thống tấn công kết hợp sử dụng các tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBMs) với tàu tên lửa tấn công các lực lượng quân sự trên đất liền, các lực lượng hành quân đặc biệt cùng các loại trang thiết bị khác, Hoa Lục có thể cùng lúc làm tê liệt hệ thống tư lệnh hành quân của Đài Loan.” Ngoài ra, Trung Cộng hiện đang tăng cường khả năng hoạt động của các tên lửa tầm xa và có thể, đến cuối năm 2005, số vũ khí loại này lên đến con số 30 trong kho vũ khí của Trung Cộng. Ngũ Giác Đài tiên đoán trước cuối thập niên đầu thế kỷ 21, lực lượng tên lửa hạt nhân tầm xa của Hoa Lục sẽ vượt con số 60.

5. Chiến tranh hạt nhân

Song song với những dẫn chứng kể trên, Ngũ Giác Đài qua bản báo cáo gởi chính phủ Hoa Kỳ đă khuyến cáo rằng các chiến lược gia của Trung Cộng hiện đang cân nhắc việc sử dụng các vũ khí nguyên tử để chống lại các lực lượng quân sự của cả Hoa Kỳ lẫn Đài Loan. Bộ Quốc Pḥòng Hoa Kỳ thẩm định rằng một quả bom nguyên tử cho nổ ở độ cao sẽ tạo nên một đợt sóng gây nhiễu của điện từ trường và đưa đến hậu quả làm tê liệt các hệ thống thông tin viễn thông của Hoa Kỳ và đổi tần số hoạt động của các máy điện toán tinh vi của quân lực Hoa Kỳ. Bản báo cáo của cơ quan này báo cáo: “Các lý thuyết gia quân sự của Hồng quân Trung quốc đă biết được hiệu năng của sóng điện từ có thể đang nghiên cứu việc sử dụng một quả bom hạch nhân như một loại tấn công không quy ước trong số các chọn lựa họ có thể triển khai nếu cần.”

Các bản báo cáo mới đây của chính phủ Hoa Kỳ đă khiến giới cầm quyền Trung Cộng phản đối ầm ĩ, đặc biệt về lời cam kết của Hoa Kỳ đối với Đài Loan. Người phát ngôn của bộ Ngoại Giao Trung Hoa, Liu, Jianchao, đã nhấn mạnh vào tính chất bất ổn trong mối quan hệ của Hoa Lục bằng cách đe dọa sử dụng sức mạnh quân sự để nắm quyền kiểm soát đảo quốc tí hon này.

Cũng theo nguồn tin chính thức của chính phủ Trung Hoa nước này sẽ không và chẳng bao giờ chấp nhận “nền độc lập của Đài Loan,” cũng như sẽ chẳng cho phép bất cứ ai cố tách Đài ra khỏi Hoa Lục bằng bất cứ phương cách nào. Liu tuyên bố: “Các hoạt động đòi độc lập của Đài Loan là mối đe dọa lớn nhất cho ḥa bình và ổn định trong khu vực eo biển Đài Loan.” Người phát ngôn của chính phủ Hoa Lục cũng yêu cầu Hoa Kỳ ngưng bán các vũ khí hiện đại cho Đài Loan dưới bất cứ hình thức che đậy nào và chấm dứt việc cung cấp cho Đài Loan những tín hiệu không đúng sự thật.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.