Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 26, 2008

Trại súc vật

Tóm tắt nội dung :
Một con lợn già tên là Thủ Lĩnh (Old Major) bất chợt nhận ra rằng muôn loài trong trang trại đang bị bóc lột bởi ông chủ trại, và muôn loài xứng đáng được hưởng cuộc sống tự do và sung sướng hơn bây giờ. Thế nhưng lý tưởng tốt đẹp này của Thủ Lĩnh đã bị những con lợn kế nghiệp thay đổi và xuyên tạc: Loài lợn, sau khi lãnh đạo thành công các gia súc khác dành tự do từ ông chủ trại, đã tự cho mình quyền thống trị các loài và hưởng mọi đặc quyền đặc lợi.
Chúng sống trong nhung lụa, đồ ăn thức uống loại hảo hạng, trong khi các loài khác lao động cực nhọc vì sự nghiệp chung. Trong giấc mơ tự do, độc lập và bình đẳng, muôn loài sống khổ cực hơn so với khi bị “bóc lột” bởi loài người, và luôn phải thực hiện những ý tưởng điên khùng duy ý chí của loài lợn.
Để duy trì quyền lực của mình, loài lợn đã đưa ra những điều luật có lợi cho mình, xây dựng một hệ thống “cảnh sát” mạnh để đàn áp, xử tử những kẻ bất đồng chính kiến vì tội “phản quốc” “phản động” hoặc “gián điệp”, và dùng những báo cáo thành tích giả tạo để lừa dối muôn loài…
Tác phẩm ra đời cách nay đã hơn nửa thế kỷ vậy mà giờ đây khi đọc nó chúng ta có thế thấy được 1 xã hội Việt Nam hiện lên rõ ràng, trần trụi qua từng con chữ .
Bạn có thể đọc 2 tác phẩm ở đây :
-Trại súc vật
-1984
Bạn nào lười đọc thì có thể download sách nói (audio book) trại súc vật bản tiếng việt ở đây : Animal Farm
chương trình đọc truyện đêm khuya đến đây xin kết thúc, hẹn gặp lại các bạn vào đêm mai , mong các bạn không gặp ác mộng với cái trại súc vật này .
————–
Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và Ukraine. Sau hơn 50 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31.
Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt.
Phạm Minh Ngọc
“Kể đến những sách tố cáo chế độ cực quyền phát xít hay cộng sản, truyện “1984” của George Orwell là một trong những tác phẩm đứng hàng đầu. Hơn cả chục bộ khảo luận dày cộm, “1984″ mô tả một cách xúc động rõ ràng guồng máy độc tài và thân phận hãi hùng của con người bị tước hết quyền tự do, biến thành một đám nô lệ ngoan ngoãn phục vụ một lũ cầm quyền nặc danh vô nhân đạo.”
Tuy ai cũng phải công nhận văn chương của ông trong hai cuốn này rất điêu luyện, sắc bén chẳng kém những ý tưởng sâu xa của ông, trước khi được nhà Seder & Warburg nhận in, quyển “Trại súc vật” đã bị khoảng mười nhà xuất bản viện lẽ này nọ từ khước. Chung qui vì những đề tài do ông nêu ra đụng chạm các học thuyết xã hội thịnh hành lúc bấy giờ (và tới tận đầu năm tám mươi).
Trái với dự đoán của nhà xuất bản, “Trại súc vật” được độc giả Âu Mỹ nhiệt liệt hoan nghênh, và sự hưởng ứng đó khuyến khích ông viết “1984″ (84 là ngược số của 48, tức năm ông khởi sự viết truyện này) mặc dầu lúc ấy ông đang bị bệnh lao hoành hành. Ông đã dồn hết sinh lực và tâm tư của ông vào sự hoàn thành tác phẩm chót này, đến độ học viết tay trái khi tay phải của ông bị liệt vì bị tiêm quá nhiều. Bởi được viết khi ông đang chống chọi với tử thần – ông mất đầu năm 1950, vài tháng sau khi được thấy sách xuất bản – “1984″ cũng là di chúc của ông khuyến cáo nhân loại cảnh giác trước mối đe dọa nguy ngập của nền độc tài cực quyền.
*******
Trại súc vật (tên tiếng Anh trong nguyên bản là Animal Farm) là một tiểu thuyết trào phúng chỉ trích nước Liên Xô thời Stalin của nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ tên là George Orwell (1903-1950).
Trong tác phẩm, George Orwell đã dùng hình tượng những con gia súc trong trang trại để thể hiện những tiên đoán của ông về một nhà nước Xã hội Chủ nghĩa. Tác phẩm được hoàn thành năm 1945, vào thời điểm đó phương Tây không có thông tin đầy đủ về những nhà nước này, như Liên Xô, và hệ tư tưởng Xã hội Chủ nghĩa đang ở thời kỳ thịnh vượng nhất chưa bộc lộ những yếu kém của mình. Thế nhưng những tiên đoán của George Orwell hoàn toàn đúng với những gì xảy ra sau này, dù là ở Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hay Việt Nam.
Tác phẩm ra đời cách nay đã hơn nửa thế kỷ vậy mà giờ đây khi đọc nó chúng ta có thế thấy được 1 xã hội Việt Nam hiện lên rõ ràng, trần trụi qua từng con chữ
NHững bài Có liên quan:
Tội ác của STalin
Tội ác của LêNin
Tội ác của chế độ diệt chủng Pôn pốt
Tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc chống lại nhân loại&Thiên AN Môn đẫm máu
Trích:
xem tiếp video, photos:
http://blog.360.yahoo.com/blog-ZHIzJg47eqUKQD3WYUe0Y4tQGAKgwQ–?cq=1&p=1024
- Trại súc vật
- Animal Farm

VIDEO:
video Animal Farm (ENGLISH) – Trại súc vật
1-

http://www.youtube.com/watch?v=Rqko1yNUv5I

2-

3-

4-

5-

6-

7-

8-

June 2, 2008

Thể chế Tự do dân chủ !







http://blog.360.yahoo.com/blog-fkTaeFY2dbKNOic32.Yv?p=14720

April 8, 2008

Những gì truyền thông VN không nhắc tới

Nhóm Lửa Biển Đông
sinh viên tại Anh quốc

Biểu tình phản đối rước đuốc ở London

Thông tin biểu tình được chú ý trong những ngày qua

Gần đây thế giới được biết đến hai sự kiện lớn đang xảy ra cho Trung Quốc trước thời gian Thế Vận Hội sẽ được khai mạc vào tháng Tám năm nay.

Đó là: người dân Tây Tạng biểu tình bị Trung Quốc đàn áp bằng vũ trang, và nay là ngọn đuốc Thế Vận Hội bị biểu tình chống đối tại London và Paris.

Người dân Trung Quốc biết gì về các sự kiện này?

Tất cả thông tin trên báo chí tại Trung Quốc đều đồng loạt cáo buộc Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tổ chức cuộc biểu tình bạo động giết chết 19 người Trung Quốc. Trong khi đó, những người Tây Tạng lưu vong cho rằng gần 100 người đã bị thiệt mạng vì vũ lực của an ninh Trung Quốc.

Về ngọn đuốc, xin trích từ trang web BBC tiếng Anh: “Phóng viên BBC James Reynolds tại Bắc Kinh cho rằng Chính phủ Trung Quốc dường như đang trì hoãn việc đưa tin về rước đuốc và sau đấy làm giảm sự quan trọng của nó.”

“Tân Hoa Xã mất 6 giờ đồng hồ mới đưa tin về cuộc biểu tình, và tờ báo nhà nước Nhân Dân Nhật Báo đăng tin chính ‘Đón tiếp nồng ấm tại London lạnh lẽo’ cùng với một bức ảnh Thủ Tướng Gordon Brown chúc mừng ngọn đuốc.”

Lửa Biển Đông không thể đến được Tây Tạng để kiểm chứng độ chính xác của thông tin nhà nước Trung Quốc, nhưng đã có mặt ở London để chứng kiến cuộc biểu tình chống đuốc Olympic.

Hàng ngàn người đã tụ tập chống rước đuốc, ủng hộ Tây Tạng theo dọc lộ trình rước đuốc dài 31 dặm Anh từ sân vận động Wembley cho tới tận Greenwich.

Đã có 37 người bị bắt sau khi cố tình lao vào giật hoặc dập tắt đuốc bằng bình xịt cứu hỏa vì đã chống rước đuốc một cách bạo động.

Vạn Lý Tường Lửa bao bọc Việt Nam

Không bàn tới truyền thông tại Trung Quốc, chúng tôi chỉ muốn nói về Việt Nam.

Cả thế giới đều viết về hai sự kiện biểu tình tại Tây Tạng và tại London , nhưng toàn bộ báo chí Việt Nam (cho tới thứ Ba, 8/4/2008 ) không hề bình luận gì. Chỉ có một số trích lại vài dòng tin của Tân Hoa Xã cáo buộc Đạt Lai Lạt Ma và hoàn toàn im lặng với các biểu tình chống đuốc.

Sự thật là toàn bộ những sự kiện không có lợi cho Chính phủ Trung Quốc đều không được đăng trên báo Việt Nam.

Cuối 2007 và đầu 2008, các cuộc biểu tình của sinh viên Việt Nam chống lại việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn biển Đông, Hoàng Sa-Trường Sa đã nổ ra tại Hà Nội và TPHCM.

Sau đó Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã nhắc nhở Việt Nam phải xử lý việc này nếu không muốn quan hệ hai nước bị tổn hại. Các cuộc biểu tình này không được báo chí Việt Nam nhắc tới, mặc dù đã tạo nên cơn sốt trong giới trẻ.

Người dân Việt Nam không biết gì về các sự kiện có thật đang diễn ra bất lợi cho Trung Quốc.

Phải chăng toàn bộ Việt Nam đã được “The Great Firewall” (Vạn lý Tường Lửa) bao phủ một cách hoàn hảo? Chúng tôi thật sự hồ nghi và muốn đặt câu hỏi về sự độc lập của truyền thông Việt Nam với sự kiểm duyệt báo chí của Trung Quốc

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/04/080408_olympic_protest.shtml

April 4, 2008

Một vài đặc điểm của hệ thống chính trị và những thay đổi khi có dân chủ (*)

Ý kiến độc giả

Evil

(*) Tựa đề do BBT X-cafe đặt

Các chú nên phân biệt:
http://www.x-cafevn.org/node/997
- Các vị trí lãnh đạo mang tính dân cử và các vị trí lãnh đạo đòi hỏi chuyên môn: Lãnh đạo chuyên môn là các vị bộ, thứ trưởng, vụ trưởng vụ phó ở các bộ, các cơ quan. Lãnh đạo dân cử do tín nhiệm là các vị trí trong TW, quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, các phong trào, phường, hội. (Đấy là lý thuyết nhưng thực tế ở ta, tất cả các vị trí dân cử đều là do Đảng cử hết.)

- Lãnh đạo cấp trung ương với việc Hoạch định chính sách: Hoạch định chính sách là do các bộ đề xuất, cụ thể là chuyên viên cấp dưới của các bộ đề xuất lên, thậm chí tham khảo các ý tưởng của các cơ quan độc lập bên ngoài. Hiện nay có rất nhiều người không phải là Đảng viên đang thực hiện việc soạn thảo các chính sách này, đề xuất lên các cấp vụ, rồi cấp vụ đề lên cấp Bộ để phê duyệt. Việc này không liên quan gì đến vai trò của Đảng, Đảng không tự nghĩ ra chính sách nào cả. Vai trò của các Đảng cầm quyền là lựa chọn chính sách chứ không phải là đề ra các chính sách.

Thực ra, làm đến chức Ủy Viên Trung Ương, Thủ tướng, Chủ tịch, các cơ quan đoàn đội, ủy ban nhân dân các cấp … thì chỉ cần là một người không quá kém và đã có một chút ít kinh nghiệm lãnh đạo

»Evil

Lãnh đạo cấp trung ương là những người lựa chọn các chính sách dài hạn và giải quyết các vấn đề ngắn hạn có độ phức tạp thấp, không đòi hỏi chuyên môn sâu (ví dụ: đài truyền hình bênh Vàng Anh cởi truồng là đúng hay sai? Có nên đầu tư xây dựng toilet Nhật bản ở VN không). Các vấn đề phức tạp cao hơn một chút thì đã có ban cố vấn trung ương hùng hậu. Ban cố vấn này hiện nay cũng không nhất thiết là người trong Đảng Cộng sản. Thực ra, làm đến chức Ủy Viên Trung Ương, Thủ tướng, Chủ tịch, các cơ quan đoàn đội, ủy ban nhân dân các cấp … thì chỉ cần là một người không quá kém và đã có một chút ít kinh nghiệm lãnh đạo (có thể là kinh nghiệm từ dưới lên). Chính vì vậy những người không có gì đặc sắc về đầu óc như Trương Mỹ Hoa, Cù Thị Hậu, Nguyễn Minh Triết mới ngoi lên được TW.

Nói như vậy để thấy rằng, Đảng Cộng sản không tự nghĩ ra được cái gì cả. Tất cả các chính sách hiện nay đều do NHÂN DÂN đóng góp. Các Đảng cầm quyền như Đảng Cộng sản chỉ có chức năng chọn lựa chính sách. Đảng chỉ dựng lên các vị trí lãnh đạo dân cử (các vị trí mà đáng lẽ ra cũng phải là do dân bầu lên). Các vị trí lãnh đạo chuyên môn thì ở nước nào cũng vậy, do các lãnh đạo cao cấp ở TW chọn lựa, để tạo thành 1 equipe hợp rơ, hoạt động nhịp nhàng từ trên xuống dưới.DD

Tuy nhiên, ở các nước dân chủ, các Đảng cầm quyền chọn đến chức bộ thứ trưởng. Còn ở nhà mình, thì chọn thậm chí đến chức trưởng phó phòng, để thâu tóm toàn bộ quyền lực. Vòi bạch tuộc của Đảng còn vươn đến các tổ chức xã hội, các cơ quan khoa học: trường học, bệnh viện, công đoàn, các tổ chức thanh niên, các đoàn thể, hội dân sự… Trong khi, ở các nước dân chủ, các cơ quan này hoạt động một cách độc lập. Nhà nước không được quyền can thiệp vào công việc quản lý của họ. Quyền hạn của các Đảng ở các xã hội dân chủ ít hơn ở ta nhiều.

Các ý tưởng nâng cao vị thế của VN thì cũng là dân đóng góp. Xin nhấn mạnh là Đảng Cộng sản chả có công lao gì ở đây cả. Sự can thiệp của Đảng Cộng sản chỉ làm cho mọi thứ có thể tồi hơn, bởi lẽ khác với các Đảng khác trên thế giới Đảng Cộng sản chọn lãnh đạo chuyên môn đề cao tiêu chuẩn số 1 phải là người trung thành với Đảng, đảm bảo sự thống trị độc tài, chứ không phải là người giỏi chuyên môn nhất để phát huy cao nhất sự phát triển của VN.

Nhưng ưu điểm nhãn tiền về mặt dân chủ, công bằng, tự do, dễ dàng thay thế một chính quyền tồi thì ai cũng thấy. Những điều này sẽ hứa hẹn chống tham nhũng tốt hơn, đảm bảo cho người tài có cơ hội được tham gia quản lý đất nước bất kể chính kiến chính trị, nhân dân được tự do hơn.

»Evil

Ngoài ra, mọi chính sách đúng đắn đều có thể kế thừa, chứ không phải là dân chủ sẽ xóa sạch hoàn toàn dấu vết của Đảng Cộng sản. Các đảng cầm quyền trong một xã hội dân chủ vẫn có thể tiếp tục lựa chọn một số chính sách đúng đắn từ thời Đảng Cộng sản. Đây là Trí tuệ của Nhân dân chứ không phải của Đảng nào cả.

Bản chất của Dân chủ là khoan dung. Thậm chí bây giờ nhiều người sẵn lòng cho các Đảng viên cao cấp hạ cánh an toàn. Đảm bảo một số quyền lợi nhất định cho thân quyến của họ, để VN mau đạt tới xã hội dân chủ. Các Đảng viên cấp dưới thì có thể xử lý theo sự thỏa thuận với Đảng Cộng sản. Hiện nay Đảng Cộng sản sẵn sàng trừng phạt một số đảng viên cấp dưới.

Giữ chính quyền thì đã có công an và quân đội độc lập. Điều quan trọng là đi theo đúng quỹ đạo và dòng chảy dân chủ của thế giới, sẽ được nhiều đồng minh lớn hỗ trợ về mặt quân sự, quốc phòng.

Đảng Cộng sản, cũng giống như các Đảng cầm quyền khác, không có chức năng hoạch định chính sách mà chỉ có chức năng lựa chọn chính sách. Không nên đặt ra vấn đề: đảng cầm quyền trong một xã hội dân chủ luôn luôn phải lựa chọn được chính sách đúng đắn. Bởi vì thực tế Đảng Cộng sản cũng lựa chọn rất nhiều chính sách sai. Không nên đặt vấn đề kinh tế sau khi có xã hội dân chủ phải hơn đứt kinh tế do Đảng Cộng sản lãnh đạo bởi vì hiện nay là kinh tế thị trường, theo đường lối phát triển tư bản, không liên quan gì đến tư duy chính trị. Và các kinh tế gia trên thế giới không có sự khẳng định thống nhất nào về mối quan hệ giữa dân chủ hoặc độc tài với kinh tế.

Nhưng ưu điểm nhãn tiền về mặt dân chủ, công bằng, tự do, dễ dàng thay thế một chính quyền tồi thì ai cũng thấy. Những điều này sẽ hứa hẹn chống tham nhũng tốt hơn, đảm bảo cho người tài có cơ hội được tham gia quản lý đất nước bất kể chính kiến chính trị, nhân dân được tự do hơn. Tiếng nói của dân được tôn trọng. Như vậy, đảm bảo xã hội sẽ được phát triển một cách hài hòa tất cả các mặt (không chỉ có kinh tế). Điều này chắc chắn là hơn đứt Đảng Cộng sản.

Hồ Chí Minh, cuộc tước đoạt lòng yêu nước

Ho Chi Minh, le détournement du patriotismecủa Jean – François REVEL

Hồ Chí Minh, cuộc tước đoạt lòng yêu nước Bùi Tín (dịch)Lời người dịch : Một số bạn trong nước khuyên tôi không nên đụng đến ông Hồ, vì đó vẫn còn là thần tượng, là khu vực cấm, số đông trong nước còn chưa tỉnh. Tôi nghĩ khác.Sự thật luôn cứng đầu và có sức thuyết phục. Sau khi nước ta vào WTO, sự công khai minh bạch trong sáng là nếp sống mới. Đã đến lúc không thể tiếp tục lừa dối nhân dân.Phải nói lên sự thật, dù với ai đó, đó là những sự thật đau lòng, chua chát, cay đắng. Phục vụ đảng hay nhân dân? trung thành với đảng hay với nhân dân? Tôi đã lựa chọn, tôi đã dứt khoát chọn nhân dân, cho dù bộ máy công an và tư tưởng cuả đảng CS lại sẽ chụp mũ tôi là phản bội.

Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả bài này J.F.Revel, một trí thức chân chính, đầy trí tuệ và nhân cách.Hồ Chí Minh đã có thể được coi là anh hùng sáng lập nên nước Việt nam hiện đại và dân chủ, đã có thể được coi là nhà lãnh đạo đã đưa đất nước của ông ra khỏi cảnh thuộc địa để bước lên nền văn minh mới, kết hợp truyền thống với đổi mới.

Nhưng khốn thay, mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt nam, mà là sự hội nhập vào quốc tế cộng sản. Mục tiêu của ông Hồ không phải là giành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và lối sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả đặc điểm của nó: những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong ‘’cải tạo ‘’, quần chúng chết đói và tham nhũng của kẻ lãnh đạo.Hồ Chí Minh là một trong những người kiên định nhất trong áp dụng phương thức cai trị kiểu cộng sản suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược với những khát vọng ấp ủ bởi quần chúng đã bị ông ta lợi dụng.

Khi quần chúng nhận được ra sự lừa đảo thì đã quá muộn, họ đã bị cầm tù, chính quyền độc đóan đã được thiết lập, cũi đã khóa chặt. Thật không có gì ma quái hơn là sự tước đoạt những tình cảm cao quý, những sự dấn thân đông đảo, những ý nguyện sâu sắc và chính đáng đầy nhân tính để đưa đến sự đầy đọa, bần cùng, ô nhục và đơn giản là Tội Ác . Chúng ta chớ quên rằng chế độ cộng sản là một trong những chế độ đẫm máu nhất, – cũng có thể là đẫm máu nhất, của toàn bộ Lịch Sử, bởi vì không một chế độ nào đã cai trị đồng thời nhiều nước đến vậy . Vào những năm 1980, hơn 2 tỷ người đã sống dưới ách cai trị dã man tàn bạo, và cũng bất lực vì ngu xuẩn của nó.Dựa vào khát vọng tự do để ngư trị, đó là phương pháp Hồ Chí Minh, rất mực trung thành tuân theo phương pháp của nhân vật tồi tệ Lênin. Phương pháp này đã tàn phá những nơi khác : Cambốt, Êthiôpi, Môzambich, Algiêri, Cuba, Angôla. Đằng sau cuộc chiến tranh giải phóng, một cuộc chiến đấu giành quyền sống bình đẳng, trong đó các chiến sỹ thành thật hiến thân, luôn ẩn dấu âm mưu của những kẻ cầm đầu chống lại tự do và quyền con người.

Hồ Chí Minh có thật lòng tin ở sự tốt đẹp trong tương lai của chủ nghĩa cộng sản ? Tôi nghi ngờ điều này, bởi vì ông ta đã thấy chế đó đó vận hành ra sao trong nhiều nước. Có lý tưởng và cực đoan, có thể ông ta không tự đặt ra câu hỏi ấy. Và cũng như tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán, ông ta vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ ông ta đã lựa chọn. Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người! mà là của hành đông của họ. Mà những hệ quả thì sờ sờ ra đó, cảnh đọa đầy, máu chảy, chết chóc và nạn đói. Người ta không thể xin lỗi sau khi đã tước đoạt cuộc chiến đấu chống thực dân của quần chúng để dẫn đến cảnh tàn phá đến vậy. Trái lại, đó là một cuộc ăn cắp, một cuộc lừa đảo, với hoàn cảnh tăng thêm phần nghiêm trọng cho kẻ phạm tội.( Trích từ bài:Ho Chi Minh, l’homme et son héritage Ho Chí Minh, con người và di sản

của Jean–François Revel, nhà văn, nhà triết học Pháp, từng đứng hàng đầu cánh tả, mất ngày 30-4-2006, 82 tuổi, bài đăng trên Viet nam infos , số 36, ra ngày 15-05-2006 ) ./.Hô Chi Minh, le détournement du patriotisme

Jean-François Revel (*)

Hô Chi Minh aurait pu être le héros fondateur d’un Viêt-Nam moderne et démocratique, l’homme qui aurait guidé son pays à la fois hors de la subordination coloniale et vers la civilisation contemporaine, une synthèse des traditions et d’une nouvelle identité nationale.Malheureusement, son objectif n’était pas l’indépendance du Viêt-Nam, c’était son intégration à l’internationale communiste. Ce n’était pas de donner au peuple le droit de se déterminer, de voter, de choisir ses dirigeants, ses lois et sa manière de vivre ; c’était de lui imposer par la contrainte, le totalitarisme stalinien, avec toutes ses composantes : les exécutions sommaires, les camps de concentration, la dégradation de l’homme par la « rééducation », la famine des masses et la corruption des chefs (…).

Hô Chi Minh fut aussi l’un des plus implacables praticiens d’une méthode que le communisme a utilisée tout le long du vingtième siècle. Cette méthode consiste à capter l’énergie contenue dans les désirs naturels des hommes, désir de liberté, de prospérité, de progrès, d’indépendance nationale, pour détourner cette énergie au service de buts qui constituent le contraire exact de ceux espérés et poursuivis par les populations abusées. Lorsque ces populations s’aperçoivent de la supercherie, il est trop tard, elles sont prisonnières, le pouvoir totalitaire est constitué, la cage est fermée. Rien de plus diaboliquement pervers que cette captation de sentiments généreux et de dévouements innombrables, des élans les plus profonds et les plus légitimes de la nature humaine, au bénéfice de la servitude, de la misère, de l’humiliation et aussi du crime pur et simple ; puisque, n’oublions pas, le système communiste est l’un des plus meurtriers de toute l’histoire, peut-être même le plus meurtrier, puisque nul autre n’a régné simultanément sur autant de pays ; Aux alentours de 1980, plus de deux milliards d’ hommes étaient encore asservis à ce système aussi barbare et destructeur que stupidement inefficace.S’appuyer sur le désir de liberté pour asservir, telle est la méthode Hô Chi Minh, très fidèlement copiée sur celle du sinistre Lénine. Elle a fait des ravages ailleurs : au Cambodge, en Ethiopie, au Mozambique, en Algérie, à Cuba, en Angola. Derrière une guerre de libération, un combat pour l’égalité des droits, dont les troupes sont sincères, peut se cacher un complot de chefs contre la liberté et les droits de l’homme.

Hô Chi Minh croyait-il honnêtement aux bienfaits futurs du communisme ? J’en doute, puisqu’il l’avait vu fonctionner dans d’autres pays. Idéologue et fanatique, il ne se posait probablement même plus la question ; et, comme tous les dirigeants totalitaires, il avait la faculté de garder bonne conscience, tout en constatant les ravages du système auquel il avait fait le sacrifice de son intelligence. L’histoire est le résultat non des intentions des hommes, mais de leurs actions. Or les résultats sont là : la servitude, le sang, la mort et la famine. Avoir confisqué la lutte anticoloniale pour aboutir à ce champ de ruines ne constitue nullement une excuse. Au contraire, c’est une circonstance aggravante, un vol, une escroquerie.(Ho Chi Minh, l’homme et son héritage, DUONG MOI LA Voie Nouvelle, Paris, mai 1990)

(*) Ecrivain et philosophe, J-F Revel nous a quittés le 30 avril 2006, à l’âge de 82 ans.

April 1, 2008

Đối lập chính trị là gì ?

cố gs N V Bông (bị cs ám sát 197x)

I. ĐịNH NGHĨA và CÁC QUAN NIệm

Về đối lập Nói đến Dân chủ là chúng ta nghĩ ngay đến vấn đề đối lập, mà đối lập là gì? Và được quan niệm như thế nào?

A. ĐịNH NGHĨA

Chúng ta đã dùng nhiều danh từ đối lập. Mà đối lập là gì? Thế nào là đối lập? Đứng về phương diện lịch sử mà suy xét, đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch trình biến chuyển của chế độ Đại nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viện của vấn đề. Ý niệm đối lập cần phải được phân tích rõ ràng hơn nữa để phân biệt nó với những hiện tượng tương tự. Đối lập có ba đặc điểm: Một sự bất đồng về chánh trị, có tánh cách tập thể và có tính cách hợp pháp

.1. Trước nhất, đối lập phải là một sự bất đồng về chánh trị.

Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào những kẻ chống đối có thể tổng hợp lại tất cả những vấn đề được đặt ra , đưa những vấn đề ấy lên một mực độ đại cương và phán đoán theo một tiêu chuẩn chính trị. Có thể có một số đông người dân chận đường chận xá để phản đối một chính sách của chính phủ, có thể có một số đông sinh viên, một đoàn thể văn hóa hay tôn giáo biểu tình đòi hỏi những cái gì. Đành rằng những sự kiện ấy có thể có hậu quả chính trị, nhưng đó không phải là đối lập. Đó chỉ là một sự khước từ, kháng cự hay phản đối. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào sự khước từ ấy, sự kháng cự ấy, sự phản đối ấy được chính trị hóa.

2. Là một sự bất đồng về chính kiến. Đối lập phải có tính cách tập thể. Trong bất cứ lúc nào, luôn luôn có những người bất đồng chính kiến với chính quyền. Có thể có một thiểu số đông anh em, thỉnh thoảng họp nhau, rồi trong lúc trà dư tửu hậu, bàn quốc sự, có một thái độ chống đối đường lối, chủ trương của chính phủ. Đó là những kẻ chống đối, những cá nhân đối lập. Và những kẻ chống đối ấy có thể có trong chính thể Độc tài, Cộng sản. Đó không phải là đối lập.

Đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến ấy có tính cách tập thể, khi nào nó là kết quả biểu hiện một sự hành động có tổ chức của những kẻ chống đối. Nói đến sự hành động có tổ chức là nghĩ ngay đến chính đảng. Chỉ có đối lập khi nào có một chính đảng đối lập.

3. Là một sự bất đồng về chính kiến có tính cách tập thể, đối lập phải hợp pháp nữa. Có thể vì một lý do gì mà một đoàn thể phải dùng võ lực chống lại chính quyền. Có thể vì một lý do gì mà một chính đảng phải hoạt động âm thầm trong bóng tối. Những hành động ấy, đành rằng nó có tính cách tập thể và kết quả của một sự bất đồng chính kiến, không được xem là đối lập. Những hành động ấy chỉ được xem là những cuộc âm mưu phiến loạn hay kháng chiến, nó không còn là đối lập nữa. Vì đối lập chỉ hoạt động trong vòng pháp luật.

B. CÁC QUAN NIệm về ĐỐI LẬP

Một khi đã ý thức được danh từ “đối lập” và nhận định tầm quan trọng của nó trong cuộc sinh hoạt chính trị, vấn đề then chốt được đặt ra là xác định vị trí của đối lập trong các chính thể. Nếu tinh túy của dân chủ là lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, thì lẽ tất nhiên lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị ấy được thể hiện trên bình diện chính trị, qua những quyền của đối lập và sự hiện diện của đối lập chỉ là kết quả của sự thừa nhận tự do chính trị. Đối lập chỉ có giá trị và hiệu quả trong một chế độ mà triết học chính trị là Dân chủ tự do. Vì đối lập dựa trên tinh thần khoan dung, trên sự chính đáng của bất đồng chính kiến. Vì thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chính trị.Một quan niệm đối lập như thế, dựa trên Chủ nghĩa tự do, Chính thể độc tài không thể chấp nhận được. Trong chính thể này, chính quyền là tất cả, còn đối lập chẳng những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì những nhà độc tài luôn cho rằng ý thức hệ của mình là bất di bất dịch và vai trò của cơ quan công quyền không phải tìm lấy một ý chí đi sát với nguyện vọng của quốc gia mà trái lại chỉ có nhiệm vụ áp dụng mệnh lệnh của chính đảng nắm quyền lãnh đạo. Chẳng những vô ích, đối lập còn nguy hiểm nữa. Nguy hiểm cho sự thực hiện nguyện vọng của quần chúng, vì hành động của đối lập phân ly quần chúng. Bởi thế, đối lập cần phải được thanh trừng và những cái mà người ta gọi là Dân chủ, quyền tự do công cộng, những lợi khí mà đối lập dùng để họat động, lợi khí ấy cần phải được cấm nhặt. Bị khước từ bởi những chính thể Độc tài, đối lập chỉ được thừa nhận trong chính thể Dân chủ, chẳng những trên bình diện triết lý chính trị, đối lập còn được chứng minh qua khía cạnh cuộc điều hành thực tiễn của định chế. Chính sự hiện diện của đối lập phản ảnh tính cách chân chính của ý chí quốc gia. Trong những chế độ mệnh danh là “nhất tề – nhất trí”, trong những chế độ mà người ta chỉ nghe 99 phần trăm, đành rằng không phải không thể có được, nhưng sự vắng mặt của đối lập làm cho người ta lắm lúc phải hoài nghi. Chỉ trên bình diện thực tại, vai trò của đối lập chứng tỏ rằng, mặc dù bị loại ngòai hệ thống chính quyền, đối lập cần có mặt và phát biểu.Một quan niệm quá ư rộng rãi về Dân chủ, lẽ tất nhiên – dựa trên một sự đối lập chân thành, xây dựng. Nhưng ý niệm đối lập ngày nay quá biến chuyển. Một hiện tượng mới đã xảy ra, một đối lập, không phải trong chính thể, mà chống chính thể Dân chủ, một sự đối lập hoàn toàn phủ nhận nguyên tắc Dân chủ, một sự đối lập về ý thức hệ. Tất cả vấn đề là thử hỏi, trước một sự đối lập như thế, thái độ của chính thể Dân chủ phải như thế nào. Một vấn đề hết sức phức tạp, tế nhị và trên bình diện quốc tế, những giải pháp bảo vệ chính thể Dân chủ tùy thuộc hoàn cảnh thực tại chính trị của mỗi nước.

Dù sao, để trở lại vấn đề đối lập trong chính thể Dân chủ, không ai có thể chối cãi tính cách chính đáng của sự hiện diện của đối lập. Nhưng đối lập, chẳng những phải có mặt mà còn phải có thể phát biểu nữa. Mà đối lập phát biểu để làm gì và hành động của đối lập sẽ có tác dụng gì trong guồng máy chính trị quốc gia? Và theo thủ tục nào, dưới hình thức nào, với những bảo đảm nào, đối lập có thể mạnh dạn và thành thực phát biểu ý kiến?

Đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng, vấn đề vai trò của đối lập và vấn đề qui chế của đối lập, hai vấn đề căn bản mà chính thể Dân chủ cần phải giải quyết một cách phân minh để ổn định cuộc sinh hoạt chính trị và để đối lập làm tròn sứ mạng của nó.

II- VAI TRÒ CỦA ĐỐI LẬP

Trong chính thể Dân chủ thật sự, hiện diện của đối lập là một điều hết sức chính đáng. Chính đáng vì thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tự do chính trị. Chẳng những chính đáng, đối lập lại còn cần thiết nữa. Cần thiết cho phẩm tính, đối lập còn cần thiết cho sự hiện hữu của chính quyền nữa. Trong cuộc sinh hoạt chính trị ổn định, đa số ở đâu ra, chính quyền hiện tại ở đâu ra, nếu không phải là sự kết tinh của sự tranh chấp với đối lập? Trên khía cạnh này, đối lập đóng vai trò căn bản, vai trò hợp tác với chính quyền, đó là hai khía cạnh của vai trò đối lập.

A. VAI TRÒ HạN CHẾ VÀ KIểM SOÁT CHÍNH QUYềN

1- Hạn chế và kiềm soát chính quyền.

 Đó là một trong những hoạt động cốt yếu của đối lập ở bất cứ lúc nào trong cuộc sinh hoạt chính trị. Trước hết, ở giai đoạn tuyển cử Đối lập có mặt, có thể phát biểu ý kiến, đối lập có quyền phủ nhận làm cho chính quyền bỏ bớt thái độ cứng rắn, những chương trình mỵ dân, những hứa hẹn hão huyền. Đối lập chận đứng lại những tư tưởng hẹp hòi, những quan điểm thiển cận, tư tưởng và quan điểm không phải của một chính phủ quốc gia mà hoàn toàn lệ thuộc vào mệnh lệnh của đảng phái.

2- Đối lập bảo đảm tính cách đích xác công khai của những quyết định của nhà nước.

Thật vậy, khi mà chúng tạ nói đến ý chí của toàn dân, ý chí của quốc gia, cần phải nhận định rằng đó chỉ là ý chí của đa số. Ý chí của đa số là ý chí của quốc gia, cái phương trình ấy chỉ có giá trị khi nào quyết định của đa số được chấp thuận trong một bầu không khí cởi mở, sáng tỏ và tự do. Chính đối lập bảo đảm tính cách đích xác của quyết định của đa số và bắt buộc đa số nắm chính quyền phải tham dự một cuộc tranh luận công khai. Vẫn biết rằng, trong chế độ Tổng Thống hay trong chế độ Đại nghị mà chính phủ có đa số ở Quốc Hội, đối lập không thể ngăn cản chính quyền hành động theo ý của họ. Nhưng, tự do chỉ trích, đối lập bắt buộc địch thủ phải tiết lộ dự định của họ, những lý do của một quyết định của họ. Và như thế, đối lập bảo đảm rằng, khi một biện pháp hay chính sách được chấp thuận, những lý lẽ chống đối hay bênh vực biện pháp, chính sách ấy, đều được công khai đưa ra dư luận. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền, đối lập đảm đương một cách thiết thực hơn nữa trên diễn đàn Quốc Hội.

3 – Với phương tiện nào đối lập đóng vai trò của nó trên bình diện nghị viện? Đành rằng cơ cấu chính phủ nước này không giống nước kia, nhưng trong bất cứ chính thể Dân chủ nào, người ta cũng tìm thấy từng ấy phương tiện cho phép đối lập phát biểu công khai ý kiến của họ. Trong những lúc bàn cãi và biểu quyết ngân sách quốc gia, sự hiện hữu của đối lập bắt buộc chính quyền bỏ hẳn chương trình mỵ dân, thái độ cứng rắn, và nhứt là chính quyền hết sức dè dặt khi bắt buộc toàn dân phải hy sinh quá độ. Cuộc đối thoại giữa chính phủ và quốc hội – chung qui giữa chính quyền và đối lập – qua những cuộc tranh luận, những câu hỏi, những cuộc tiếp xúc với ủy ban hay giữa phiên họp công khai là những dịp mà các vị Dân biểu đối lập nói lên những lạm dụng của cơ quan hành chánh, hay nhận được – qua cuộc trình bày của các vị Bộ trưởng – tin tức về một vấn đề nhất định hay câu trả lời đích xác. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền được biểu hiện một cách thiết thực nữa qua nguyên tắc trách nhiệm chính trị. Chúng ta biết rằng trong chế độ Đại nghị, chính phủ bắt buộc phải từ chức khi đa số ở Quốc Hội biểu quyết chống chính phủ. Yếu điểm này sẽ là một ảo mộng nếu không có một đối lập thực sự. Vậy qua từng giai đoạn của sự khởi thảo chương trình và trong hành động hàng ngày, chính quyền luôn luôn để ý đến lập trường của đối lập, tự kiểm soát lấy mình và trong việc ấn định kế hoạch quốc gia, lắm lúc phải nhận lấy chủ trương của đối lập. Thái độ này không nhằm làm vui lòng đối lập mà cho toàn dân, vì để ý đến lập trường của đối lập trong việc xác định đường lối chính trị, chính quyền hướng về nguyện vọng của quốc gia.

4 – Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Vai trò tối quan trọng này, không phải đối lập luôn luôn đảm đương với tất cả hiệu quả thật sự. Không, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề là ở khía cạnh tâm lý của toàn dân. Vấn đề là mỗi công dân có thể chắc chắn rằng, ngoài Quốc Hội hay trên diễn đàn Quốc Hội, có những người đại diện có thể phát biểu ý kiến của mình, không phải theo đường lối của chính quyền mà khác hẳn chính quyền. Và dù rằng ý kiến không được chấp thuận đi nữa, họ có cảm giác rằng sự kiện ấy do nơi quyền lợi tối cao của quốc gia, chứ không phải vì tính thị hiếu nhất thời, chuyên chế. Cần phải nhận định rằng, đối lập không những là tượng trưng cho một khuynh hướng chính trị, đối lập còn có giá trị tự bản chất nó nữa. Vì chỉ có đối lập và bởi đối lập mà việc kiểm soát của toàn dân mới có tính cách chân thành và hiệu lực trong một chế độ thương nghị, không những hạn chế, kiểm soát chính quyền, đối lập còn cộng tác với chính quyền nữa.

B. VAI TRÒ CộNG TÁC VỚI CHÍNH QUYềN

Cho rằng đối lập cộng tác với chính quyền, đó là một khẳng định có hơi mâu thuẫn. Tuy nhiên chính đó là khía cạnh tích cực của vai trò đối lập. Và chúng ta có thể quả quyết rằng cái lợi của chính quyền là dung túng đối lập.

1 - Qua những cuộc tranh luận trong một bầu không khí cởi mở, những ý tưởng khích động tinh thần, những định kiến bớt phần cứng rắn, những ý kiến được chọn lọc và uy quyền sáng tỏ. Bất cứ một chính quyền nào cũng có khuynh hướng tự giam mình trong tình trạng cô đơn, chỉ nghe lời của đồng chí và lấy quyết định phù hợp với ảo vọng hoang đường qua những nhận xét riêng biệt của mình về thời cuộc. Đối lập có mặt, nhắc lại cho đoàn thể ở chính quyền tính cách phức tạp của thực tại chính trị, đem lại những màu sắc chính trị và đôi khi phản kháng lại những truyền tin báo cáo đơn phương của chính phủ. Qua những hành vi tích cực ấy, chính quyền thâu lượm được những dấu hiệu quý giá về tình trạng tinh thần của dư luận. Chẳng những trong lãnh vực thông tin, vai trò cộng tác với chính quyền của đối lập nổi bật lên nữa qua khía cạnh nghị viện.

 2 – Tất cả những công việc thuộc về thiết lập chương trình nghị sự, về những vấn đề cần phải được thảo luận, những dự án ưu tiên, những cuộc tiếp xúc Ẩ., tóm lại, vấn đề liên hệ đến việc tổ chức công tác của Quốc Hội, sự thỏa thuận giữa đối lập và chính quyền là điều kiện cốt yếu của một tình trạng chính trị ổn định. Và lịch sử đã chứng minh rằng, trong những trường hợp đặc biệt, trong những tình trạng khẩn cấp, tối cần, trong những trường hợp mà sinh tồn của quốc gia được đặt ra, trong những trường hợp ấy, lịch sử đã chứng minh rằng đối lập từ khước độc lập và lắm lúc lại ủng hộ chính quyền để bảo vệ uy thế của chính quyền lúc phải đương đầu với mọi cuộc ngoại xâm. 3 – Hướng dẫn chính quyền tham gia vào cuộc điều hành công tác Quốc Hội, một sự đối lập có tổ chức, có hệ thống đóng một vai trò cực kỳ quan trọng là chủ trương một chính sách để thay thế cho chính sách chính quyền. Cần phải nhấn mạnh đặc điểm này. Trong những xứ mà tình trạng chính trị chưa ổn định, trong những xứ mà đối lập vắng mặt, người ta luôn luôn lo ngại cho tương lai chính trị quốc gia. Ai sẽ thay thế nhà lãnh tụ hôm nay? Viễn tượng những cuộc cách mạng đẫm máu, những cuộc chính biến, viễn tượng những gián đoạn chính trị đầy hậu quả làm cho cuộc sinh hoạt chính trị kém phần tích cực. Đối lập, trong chính thể Dân chủ, cho phép Quốc gia xoay chiều, đổi hướng trong khung cảnh của định chế và không tổn thương đến sự liên tục của cuộc sinh hoạt chính trị. Đối lập là chính phủ của ngày mai, đối lập tượng trưng sự tin tưởng vào định chế quốc gia, đối lập duy trì sự liên tục của chính quyền.

Một sự đối lập hữu hiệu là một lực lượng tích cực. Cần phải nhận định rằng đối lập không phải là lực lượng luôn luôn chống đối chính quyền. Đối lập và chính quyền là hai yếu tố căn bản của thế quân bình chính trị trong chính thể Dân chủ.

Hạn chế và kiểm soát chính quyền, cộng tác với chính quyền, một khi đã hiểu như thế, vai trò của đối lập, vấn đề được đặt ra bây giờ là thử hỏi trong điều kiện nào đối lập có thể làm tròn sứ mạng của nó trong một bầu không khí khoan dung, khi mà một số quyền hạn của đối lập được xem là bất khả xâm phạm và đồng thời đối lập thông suốt nhiệm vụ của mình. Kê khai những quyền hạn ấy, ấn định nghĩa vụ của đối lập, tức là bàn đến vấn đề quy chế của đối lập.

III – QUI CHẾ CỦA ĐỐI LẬP

Vấn đề ấn định qui chế của đối lập tùy thuộc mỗi quan niệm riêng về đối lập. Nếu đối lập chỉ được xem là một quyền đối lập, nó chỉ là hậu quả tất nhiên của thể chế chính trị Dân chủ tự do. Đối lập tức là có quyền xử dụng tất cả những tự do hợp pháp. Trái lại, nếu đối lập được đưa lên hàng một chức vụ rất cần thiết cũng như chính quyền, nếu đối lập được xem không phải là một việc bất đắc dĩ, mà là một liều thuốc kích thích chính quyền, thì theo quan niệm này, quy chế chẳng những bảo đảm tự do của đối lập mà còn chú ý tới công hiệu của nó nữa. Tổ chức đối lập, định chế hóa đối lập đó là quan niệm thứ hai của đối lập.Nhưng dù có được định chế hóa hay không, đối lập để có thể đảm đương vai trò chủ yếu của nó, phải là một đối lập tự do và xây dựng. Nói đến đối lập tự do là phải nghĩ ngay đến quyền hạn của nó; nói đến đối lập xây dựng là nghĩ đến ngay nghĩa vụ của nó.

A – MộT TRONG NHữNG QUYềN Hạn CỦA ĐỐI LẬP

1 – Là quyền không thể bị tiêu diệt. Vì đối lập luôn luôn là một chướng ngại, chính quyền hay có khuynh hướng thừa một cơ hội nào đó, tẩy trừ phần tử rối loạn ấy đi. Vẫn biết rằng, có những lúc, những giờ phút nguy nan, đối lập hoặc tự mình, hoặc thỏa thuận với chính quyền, ngưng hẳn những phê bình hay chỉ trích. Nhưng đó chỉ là im hơi, lặng tiếng; chớ quyền sinh tồn vẫn là quyền tối cao của đối lập. Tiêu diệt đối lập tức là dọn đường cho Chủ nghĩa độc tài. Đối thoại trở thành độc thoại.

2 – Quyền thứ hai của đối lập là quyền phát biểu. Và quyền phát biểu này được thể hiện bởi những cái mà người ta gọi là tự do công cộng. Số phận của đối lập sẽ ra sao nếu đối lập không tự do có ý kiến khác hẳn ý kiến chính quyền, và tự do phát biểu ý kiến ấy trên báo chí và sách vở? Nếu đối lập không được tự do hội họp? Chỉ có đối lập thật sự trong một chế độ mà các tự do này được ấn định và chế tài một cách hợp lý.Chúng ta có nói rằng thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân chủ. Tính cách tương đối này được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc bầu cử. Trên bình diện đại nghị, đối lập cần phải được đặc biệt bảo vệ. Trường hợp Dân biểu đối lập bị bắt bớ hay tống giam không phải là những trường hợp hiếm có. Vì thế mà quyền bất khả xâm phạm của Dân biểu là một thực tại.Những quyền hạn mà chúng tôi đã sơ lược kê khai không phải chỉ dành riêng cho đối lập. Đó là quyền bảo vệ tất cả công dân trong chính thể Dân chủ. Nhưng phải thành thật mà nhận định rằng tự do phát biểu, tự do tuyển cử, quyền bất khả xâm phạm v..v.. là những điều kiện quí giá cho đối lập luôn luôn bị chính quyền đe dọa. Đó là điều kiện tối thiểu. Một quan niệm cấp tiến đã đi đến chỗ định chế hóa đối lập. Đối lập trở thành một thực thể có hiến tính. Đó là trường hợp của Anh quốc vậy.

Ở nước Anh, đối lập có một tước vị chính thức “đối lập của Nữ hoàng”. Và đối lập của Nữ hoàng có cả chính phủ riêng của họ, một nội các bóng trong Hạ nghị viện. Vị lãnh tụ đối lập của Nữ hoàng là một nhân vật cao cấp đầy uy thế, luôn luôn được mời đến cùng vị Thủ tướng tham dự những buổi lễ chính thức và luôn luôn được tham khải ý kiến về những vấn đề chính trị trọng đại. Và xin nhắc lại một điều rất lý thú là “nhà nước lại phải trả lương cho vị lãnh tụ đối lập”.

Nhưng dù sao, định chế hóa hay không, quyền sinh tồn và những điều kiện thuận tiện để tự do phát biểu, chỉ có ý nghĩa khi nào đối lập tin tưởng có quyền nắm lấy chính quyền. Chính sự bình đẳng trong vận hội ấy làm cho cuộc sinh hoạt chính trị thêm phần phấn khởi.

Đối lập có vài quyền hạn để đảm đương vai trò của nó. Nhưng đối lập không phải chỉ có quyền. Một số nghĩa vụ hạn chế hoạt động của đối lập, nghĩa vụ nhằm mục tiêu tôn trọng tinh thần Dân chủ.

B – NHữNG NGHĨA Vụ CỦA ĐỐI LẬP

Một trong những nghĩa vụ của đối lập là thừa nhận qui luật đa số. Những ai quan tâm đến cuộc bầu cử đều rõ rằng có thể xảy ra trường hợp mà vị Tổng thống đắc cử hay một chính đảng chiếm đa số ở Quốc Hội trong lúc phiếu của mình lại kém địch thủ thất bại. Nhưng đó chỉ là hậu quả kỹ thuật của luật tuyển cử. Và công lý là một chuyện, mà hợp pháp là một chuyện khác nữa. Trường chính trị là một cuộc tranh đấu công nhận qui luật đa số, tức là thẳng thắn tham gia cuộc đấu tranh bởi đó là luật lệ của nguyên tắc dân chủ. Nghĩa vụ thứ hai của đối lập là hoạt động một cách ôn hòa xây dựng và có tinh thần trách nhiệm. Những chỉ trích vớ vẩn, những vu khống không có căn bản chính trị của những kẻ tự cho là chính khách, những phê bình chỉ đem lại hoài nghi và bất mãn, đó là những tệ đoan của sự đối lập không xứng đáng với danh hiệu của nó. Vì đâu lại có một hiện tượng bất thường như thế? Ngoài tham vọng cá nhân, hiện tượng này phát sinh từ một hệ thống chính đảng nhất định và liên quan đến khía cạnh ý thức hệ của một vài chính đảng.Trong một xứ, một hệ thống đa đảng là một thực tại chính trị, khi mà không một chính đảng nào chiếm đa số hay ưu thế trên sân khấu chính trị, Chính phủ luôn luôn là một chính phủ liên hiệp. Mà liên hiệp tức là tập hợp những khuynh hướng mâu thuẫn, dung hòa những chính sách tương phản. Chính cái viễn tượng không bao giờ tự mình chiếm được hoàn toàn quyền và thực hiện những chương trình hứa hẹn làm cho chính đảng thiếu ý thức xây dựng và tinh thần trách nhiệm. Tính cách rời rạc và chia rẽ của đối lập, chỉ biết phá hoại biến đổi hẳn mối tương quan truyền thống giữa đa số và thiểu số. Đối lập không còn là đối lập ngoài và chống chính phủ, đối lập ở đây là đối lập trong chính phủ.Chẳng những thế, khía cạnh ý thức của một vài chính đảng là nguyên do thứ nhì của sự thiếu tinh thần xây dựng. Đối lập chỉ có nghĩa trong một khung cảnh chính trị nhất định. Nếu chúng ta đồng ý về một nguyên tắc căn bản, nếu chúng ta thừa nhận chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân quyền, tự do chính trị, nếu chúng ta tôn trọng nhân vị, sự độc lập của Thẩm phán hay quyền tự do phát biểu, thì cuộc tranh chấp chính trị chỉ nằm trên lãnh vực thực tiễn qua những nguyên tắc thứ yếu. Trái lại, nếu đối lập nhằm chống lại, không phải một khuynh hướng chính trị hay một chính sách nhất định, mà chính cả nền tảng của xã hội, nghĩa là chống cả chính thể, thì khẳng định rằng đối lập là chính phủ tương lai không còn giá trị nữa. Vì đặc tính của đối lập về ý thức hệ là chiếm chính quyền để rồi thủ tiêu quyền đối lập. Trong một tình trạng như thế, trước tình trạng mà đối lập không thi hành nghĩa vụ của nó, những quyền hạn không còn lý do tồn tại nữa. Và “Chính thể dân chủ” cần phải có những biện pháp thích nghi để đối phó. Sa thải những phần tử bất chính trong hành chính, bắt buộc đối lập phải có một chương trình và có năng lực nắm chính quyền trước khi lật đổ chính phủ, sửa đổi luật bầu cử, đặt ngoài vòng pháp luật những chính đảng quá khích, đó là một vài ví dụ cụ thể về biện pháp được áp dụng để bảo vệ Chính thể dân chủ.IV – ĐỐI LẬP TRONG CÁC QUỐC GIA CHẬM TIẾN

Phác họa như thế, vai trò và “qui chế đối lập” trong “chính thể dân chủ” qua sự biến chuyển của ý niệm trong xã hội cận đại, chúng ta không khỏi tự nhủ rằng đó là lý tưởng. Và tự hỏi rằng lý tưởng ấy có phù hợp với những quốc gia trên đường phát triển, với hiện tình những nước vừa thu hồi độc lập. Thực tại chính trị cho chúng ta biết rằng, đối lập nếu không hoàn toàn vắng mặt, thì chỉ được dung túng một phần nào, một phần nhỏ nào, trong những nước mới này, những nước mệnh danh là Dân chủ và đồng thời cũng được xem là những chính thể không độc tài. Tại sao lại có một sự kiện oái oăm như thế? Lý do thứ nhất mà người ta đưa ra là sự đe dọa trầm trọng của độc tài Cộng sản. Những nước mới này, là những nước bị nạn Cộng sản đe dọa và có nước đang chiến đấu một mất một còn với Cộng sản. Dung túng đối lập tức là cho Cộng sản cơ hội núp sau lá cờ đối lập để phá hoại nền dân chủ. Đối lập Cộng sản là đối lập về ý thức hệ, và chúng ta biết rằng đối lập về ý thức hệ là đối lập chống chính thể Dân chủ.Lý do thứ hai là trình độ giáo dục của quần chúng. Người ta cho rằng dân chúng chưa có một trình độ giáo dục về chính trị khá đầy đủ để cho có thể xử dụng một cách hoàn hảo những quyền tự do công cộng. Và như thế, đối lập chỉ có hại vì nó sẽ là bức bình phong của những tham vọng cá nhân của những kẻ không cơ sở chính trị chỉ dựa trên cuộc chính đồ sinh hoạt. Hơn nữa, thì giờ gấp rút, nâng cao mực sống của toàn dân là một việc tối cần, lúc kiến quốc không phải lúc bàn cãi, phê bình hay chỉ trích.

Những lý do mà chúng ta vừa nêu ra rất là chính đáng. Nhưng chính đáng không có nghĩa là phải chấp nhận. Trong lĩnh vực chính trị và xã hội, sự hoàn hảo của một định chế chính trị là kết quả của kinh nghiệm. Làm sao hy vọng một nhận thức khá cao của quần chúng, nếu hôm nay không có học tập hướng về Dân chủ? Không phải nhất thiết áp dụng tất cả những gì đã có hay đang có ở Tây phương. Thực tại chính trị xã hội văn hóa của mỗi nước là yếu tố căn bản. Nhưng điều kiện tối thiểu phải có để đối lập được phép khởi đầu và phát triển.

Vả lại, vì thiếu đối lập mà Cộng sản và những phần tử phản Dân chủ nắm mất chính nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn, than phiền của quần chúng.

Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chính quyền và nhân dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách ôn hòa, để cho phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra. Và như thế không những trong những nước tiền tiến, mà chính ngay trong những tân quốc gia, công cuộc kiến quốc và cứu quốc, công cuộc xây dựng nền Dân chủ phải là kết tinh của hoạt động song phương giữa chính quyền và đối lập

Chiến Tranh, Bản Chất và Mục Đích

1). Mối Tương Quan Nhân Tính.

Mâu thuẫn và xung đột là những hiện tượng thường thấy trong xã hội loài người. Đó cũng là một khía cạnh căn bản của nhân tính được biểu lộ rõ rệt nhất trong mối tương quan giữa người với người. Từ những kết hợp nhỏ như gia đình đến những tổ chức lớn lao vĩ đại như xã hội, dân tộc, quốc gia, nhân loại … đều có dấu vết của mâu thuẫn và xung đột. Tùy theo mức độ nghiêm trọng, tùy theo lãnh vực xảy ra mâu thuẫn và xung đột mà chúng ta có những ngôn từ thích hợp.

Bài viết này chỉ đề cập đến chiến tranh, tức là ở phần cao nhất của mối mâu thuẫn giăng mắc giữa Quyền và Lực của những thực thể như xã hội, quốc gia, dân tộc… Chiến tranh là điều ai cũng e sợ, kinh khiếp vì bản chất tàn nhẫn gây giết chóc đỗ vỡ của nó , nhưng ở một khía cạnh khác tích cực hơn, chiến tranh lại là một nhu yếu của nhân loại, có mục đích dùng để giải quyết những bế tắc căn bản mà những vận dụng ngoại giao chính trị đã không đạt được kết quả như dự ước. Với thành quả chiến tranh, (chiến thắng hay chiến bại) mối tương quan quyền lợi giữa những đối thủ được sắp xếp lại theo một trật tự mới căn cứ vào khả năng võ lực hiện có. Cũng trong bài viết này, giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam từ 1945 – 1954 sẽ được dùng như một điển hình để minh chứng bản chất và mục đích của chiến tranh.

Để tránh ngộ nhận, có một điều cần phải xác quyết đây là cuộc chiến tranh quật khởi của toàn dân Việt Nam chống đế quốc thực dân Pháp để dành độc lập, tự do, hạnh phúc. Sức mạnh cảm xúc vô biên của lòng yêu nước thương nòi, đã thúc đẩy đại khối dân tộc gạt bỏ những tị hiềm thua thiệt cá nhân, để đoàn kết chấp nhận hy sinh xương máu cho sự vinh quang của tổ quốc và lý tưởng cao đẹp Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, chứ không phải chủ nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít với đấu tranh giai cấp làm suy yếu nước nòi. Dân tộc Việt Nam đã thật sự chiến thắng thực dân Pháp, nhưng dân tộc Việt Nam cũng đã bị dối gạt bởi những người Cộng Sản giả danh Quốc Gia. Họ đã phản bội lý tưởng “Tổ Quốc Trên Hết”, định đề của những hệ luận Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc khi đưa tổ quốc Việt Nam vào quỹ đạo nô lệ để phục vụ tham vọng của đế quốc Cộng Sản bằng những dịch vụ xương máu, được gọi một cách hoa mỹ là “làm nghĩa vụ quốc tế cao đẹp” …

2). Chiến Tranh

A. Định nghĩa chữ chiến tranh

Chiến tranh là một danh từ kép gồm hai chữ Chiến và Tranh. Riêng chữ Chiến có nghĩa là đánh nhau, hai bên bày trận để phân thắng bại, hơn thua. Phân tích tự dạng theo lối chiết tự thì Chiến ( ) gồm bộ Qua ( ) là cái mác một loại binh khí thời cổ và chữ Đơn ( ) là cô đơn, lẻ loi, trái nghĩa với chữ Phúc rất nhiều. Kết hợp hai ý trên thì Chiến là dùng võ lực để loại đối thủ đoạt địa vị chí tôn, vì một nước không thể có hai Vua. Còn chữ Tranh có nghĩa là giành giật, cãi cọ để được hơn người. Chữ Tranh ( ) thuộc bộ Trảo ( ) tức là móng chân, móng tay ở loài người hay là móng vuốt của loài thú dùng để tự vệ hay sát hại con mồi.

Vậy chiến tranh là mức độ cao nhất của mối mâu thuẫn giữa hai hay nhiều thực thể phải tất yếu giải quyết bằng sức mạnh của gươm giáo, súng đạn. Ở đó, kẻ chiến thắng bao giờ cũng áp chế kẻ chiến bại bằng “công lý” của sức mạnh võ lực.

B. Bản chất của chiến tranh

Riêng trong thế kỷ hai mươi vừa qua, nhân loại cũng đã chứng kiến hai cuộc thế chiến và vô vàn các cuộc chiến tranh địa phương có tính chất cục bộ. Hơn ai hết, người Việt chúng ta trong cái bất hạnh phải chấp nhận sống trong tình trạng chiến tranh thường trực, kéo dài từ năm 1940 đến nay, tất phải nhìn rõ cái khuôn mặt khủng khiếp của chiến tranh. Hai trái bom nguyên tử nổ ở Hiroshima và Nagasaki vào thượng tuần tháng 8 năm 1945, đã làm cho cả nhân loại kinh hoàng vì tính chất phá hoại tàn khốc và quy mô của loại vũ khí khoa học hiện đại. Qua những tài liệu báo cáo về tổn thất nhân mạng và tài sản, chắc chắn cũng đã không tạo được những ấn tượng hãi hùng trong tâm khảm người Việt Nam bằng những kinh nghiệm đẫm máu như Đại Lộ Kinh Hoàng, Mậu Thân Huế và những cuộc “di tản chiến thuật” hay các cuộc tháo chạy của người dân miền Nam khi Cộng Sản tiến chiếm Sài Gòn vào năm 1975 (sẽ có một bài viết khác cho cuộc chiến năm 1975 đến nay). Lý do thật giản dị, vì nó có liên hệ sâu sắc và có ảnh hưởng trực tiếp đến thân phận chúng ta.

Bản chất của chiến tranh là chém giết, đốt phá, tróc nã … và vũ khí, gươm đao, bom đạn là những thứ vô tình. Một khi đao kiếm đã hoa lên, tên đã rời khỏi dây cung, đạn đã bắn ra khỏi nòng, bom (hỏa tiễn) đã rời dàn phóng bay lên, thì mọi sự xét lại đều quá chậm so với độ bay của hỏa tiễn. Lúc đó tất cả đều tuân theo những luật tắc của khoa học chính xác đến độ lạnh lùng và không bao giờ có trường hợp ngoại trừ.

Nhân loại từ cổ chí kim vẫn đề cao con người như một linh thiêng đứng đầu vạn vật, “linh ư vạn vật”. Người Cộng Sản duy vật cũng luôn miệng đề cao “Người là vốn quý”, nhưng trong thực tế tàn nhẫn của thời chiến cả con người lẫn nhân phẩm đều bị Cộng Sản hủy hoại, chà đạp một cách thô bạo.

Có một cuộc chiến nào mà không có nhà cháy, người chết những mất mát vật chất, những đổ vỡ tình cảm, những suy sụp tinh thần?. Đứng trên nhiều phương diện, người ta có thể đồng ý với nhau coi chiến tranh là một thảm họa để kết tội và xua đuổi chiến tranh; nhưng chiến tranh vẫn còn đó, vẫn gần gũi với chúng ta nhiều hơn nửa, tồn tại thường trực như một nhu cầu thực tiễn không thể loại bỏ, như một cây cầu chênh vênh tất yếu phải vượt qua để đi đến đích điểm: Lý tưởng Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc trong hòa bình mà loài người mơ ước.

Vì lòng yêu chuộng hòa bình, hay nói đúng ra vì lòng yêu sống và ghét chết nên loài người đã e sợ chiến tranh và ảo tưởng coi chiến tranh như một tình trạng bất thường, trong khi đó chính hòa bình mới là một sự hãn hữu, một tình trạng mong manh. Câu nói thời danh vẳng lại từ ngàn xưa ở phương trời Âu: “Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” vẫn còn đúng tận đến giờ.

Phương ngôn Việt Nam có câu “mềm cắn rắn buông” phản ảnh sự thấu triệt nhân tính của ông cha ta trong thuật trị quốc. Văn Mô bao giờ cũng đi kèm với Võ Lược “Văn dìu cánh phượng yên trăm họ, Võ thét oai hùng dẹp bốn phương”, với một triều đình gồm đủ hai hàng Văn quan, Võ tướng, với một sách lược phối hợp hành động thật nhịp nhàng “Tiên Lễ Hậu Binh”. Nói đến quân binh tất là nói đến bộ máy chiến tranh. Tôn Tử binh gia lừng danh kim cổ, đã đưa ra những quy luật chiến tranh được quan niệm đúng đắn như quy luật khoa học xây dựng trên định đề căn bản “Binh là việc lớn của quốc gia”. Nước nguy hay an chủ yếu là ở khả năng tự vệ bằng võ lực. Vì trọng đức hiếu sinh nên tổ tiên người Việt tự ngàn xưa, đã coi việc dùng binh là hung khí và không dám khinh xuất lạm dụng, nhưng không có nghĩa là không dám chấp nhận chiến tranh với những quy luật tàn bạo của nó. Trương Dự một trong mười nhà chú giải binh pháp đã làm rõ ý của Tôn Tử về bản chất chiến tranh như sau:

“Nhân Nghĩa có thể trị nước mà không thể trị quân. Quyền Biến có thể dùng trị quân mà không thể dùng trị nước. Cái lẽ nó phải như thế. Quắc Công không làm điều từ ái mà bị nước Tấn diệt mất. Tấn Hầu không chịu giữ bốn đức mà bị nước Tần đánh thua. Ấy là không lấy nhân nghĩa để mà trị nước đó. Tề Hầu không bắn người quân tử mà bị hại với nước Tấn. Tống Công không bắt người hai thứ tóc mà bị thua với Sở. Ấy là không lấy quyền biến mà trị quân vậy. Cho nên đáng nhân nghĩa mà dùng quyền quyệt thì nước tất nguy, như nước Tấn nước Quắc đó; đáng biến trá mà chuộng lễ nghĩa thì binh tất bại, như nước Tề nước Tống đó. Vậy cái đạo trị quốc vốn không thể đem dùng trị quân được”.

Sự ngộ nhận Đạo trị quốc với Thuật làm chiến tranh đã đưa đến những ngộ nhận vô cùng tai hại, cũng là nguyên nhân diệt vong của nhiều nước nòi. Đành rằng tín nghĩa là điều phải trọng, lừa người là chuyện đáng chê trách, nhưng Khổng Minh cả một đời chuyên dùng mưu thuật lừa ngưòi sao lại được nhân dân Tứ Xuyên ngàn năm hương khói, được sử sách ghi lại như gương sáng của một trung thần lương đống?. Đại Vương Trần Hưng Đạo hai lần thắng cường địch bằng những quỷ kế, mưu thần, chém Phạm Nhan, giết Ô Mã Nhi mà lúc chết lại được muôn dân thờ phụng?. Có phải chăng đó là cái hơn người của bậc đại trí biết phân biệt nên không, tùy lúc, tùy nơi, tùy người mà ứng dụng không câu nệ tiểu tiết, khuôn sáo!. Riêng Dực Tông tức vua Tự Đức, khi đọc đến việc giết Ô Mã Nhi của Hưng Đạo Vương có hạ bút phê bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa”. Dực Tông là ông vua nhân từ hiếu thuận, giỏi văn thơ … nhưng những phẩm tính đó chưa đủ để làm một người của một dân tộc đang phải đối đầu với hiểm họa ngoại xâm và sự phân hóa nội bộ. Bốn chữ “Bất nhân phi nghĩa” mà Tự Đức phê cho Đại Vương Trần Hưng Đạo đã chứng tỏ là Tự Đức thiếu một nhãn quan chính trị sắc bén, không nhìn được xa, không trông được rộng để phát hiện kẻ thù, phân loại kẻ thù và thiết kế dự mưu đối phó. Tự Đức đã lẫn lộn giữa Đạo trị quốc và Thuật làm chiến tranh. Đó là sự ngộ nhận tai hại đưa đến nguyên nhân trực tiếp của hơn 80 năm nước Việt Nam bị Pháp đô hộ.

Bản chất của chiến tranh là phá hoại, triệt hạ gây chết người, mất của, đói rét, nghèo khổ, ngu dốt, trụy lạc và bệnh tật … rồi đi đến diệt vong. Hiểu được bản chất của chiến tranh tất hiểu được thể dụng của chiến tranh. Chiến tranh là một phương tiện, một phương tiện tối hậu để thực hiện một mục tiêu, đạt được một mục đích sau khi những phương tiện khác đã được xử dụng nhưng thất bại.

C. Mục Đích Của Chiến Tranh

Chiến tranh là một phương tiện và như một phương tiện, chiến tranh tự nó không tốt, không xấu. Tốt hay xấu là tùy theo người làm chiến tranh và mục đích mà chiến tranh nhằm thực hiện. Cũng như một khẩu súng được xử dụng trong mục đích tự vệ chính đáng hay được dùng để uy hiếp dọa người, cướp của. Trước công lý loài người, không phải là chiến tranh mà là kẻ dùng chiến tranh phục vụ cho mưu đồ đen tối cá nhân và bè nhóm bị xét xử rồi kết tội. Tòa án quốc tế Nuremberg đã xử tử, xử tù những tội phạm chiến tranh người Đức trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Nhưng điều đáng cho chúng ta suy nghĩ là Hitler và những cộng sự viên chỉ trở thành tội phạm xét xử sau khi họ đã là kẻ chiến bại, đã thua trận.

Trên thế giới hiện nay vẫn còn biết bao nhiêu những bạo chúa, độc tài phạm đủ loại tội lỗi trong chiến tranh cũng như trong hòa bình. Họ đang sống phè phỡn trong kiêu sa, sống thừa thãi trên nỗi thống khổ, đói rét, bệnh tật của toàn dân họ. Thực tế , họ đã là tội phạm ít ra là đối với dân tộc họ. Nhưng làm sao xét xử họ theo công lý của loài người khi quyền uy còn nằm trong tay họ và tiếp tục lan rộng, vươn dài theo khả năng tác xạ của tầm bom, đạn khi họ còn được bảo vệ bởi cả một hệ thống chính quyền? ! …

Để chống lại những thế lực đã có đó tất nhiên phải tạo ra một thế lực mới. Để chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược tất nhiên cũng phải thực hiện một cuộc chiến tranh tự vệ. Mục đích xâm lược và mục đích tự vệ, tự bản chất đã nói lên được mục đích tốt xấu của cuộc chiến và phủ lên cuộc chiến một ý nghĩa bẩn thỉu, hay một lý tưởng xứng đáng cho sự hy sinh xương máu của nhân dân và sự đồng tình hổ trợ của cả loài người.

Lý tưởng là một mục đích cao đẹp dùng để hướng dẫn hành động. Lý tưởng chính nó đã là sức mạnh có hấp lực quấn hút và thuyết phục lẽ phải, chính nghĩa và chân lý. Vì nhu cầu biện minh cho mục đích của hành động, nên chiêu bài cũng được đặt ra. Chiêu bài là bảng hiệu quảng cáo thương mại được treo cao để tạo sự chú ý của quần chúng và chiêu dụ khách hàng. Trong chính trị chiêu bài là một lý tưởng giả mạo, vì thực chất không dùng đúng danh xưng, chủ ý là để lừa gạt đám đông nhẹ dạ cả tin kiểu gian thương “treo đầu dê bán thịt chó”. Vì vậy ta phải sáng suốt phân biệt chân, giả, đâu là thực chất, đâu là chiêu bài để khỏi bị lừa dối đau thương:

*. Đạo nghĩa gớm cho quân lợm khẩu,

*. Nhân quyền khiếp cả lũ xanh ngươi !

(Đạo trường ngâm – X. Y. Thái Dịch Lý Đông A)

Lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc là một lý tưởng vô cùng cao đẹp nhưng nó đã bị những người Cộng Sản xử dụng như một chiêu bài trong cuộc kháng chiến chống Pháp để tạo danh: có chính nghĩa, để tạo lực: có sự đoàn kết tạo thế: nắm chính quyền. vì là chiêu bài nên Lý Tưởng Quốc Gia chỉ được xử dụng tùy giai đoạn và như một hậu quả tất yếu, những người Quốc Gia tham gia kháng chiến đã bị thủ tiêu, tù đày, bôi nhọ hay phải trốn chạy. Vì lòng yêu nước nhiệt thành mà biết bao nhiêu kẻ đã ngộ nhận về bản chất người Cộng Sản và mục đích tối hậu của con người Cộng Sản là để làm cho chúng ta phải sống đau, chết hận với những lỗi lầm đã trót phạm phải mà ăn năn một đời khôn nguôi:

… Than ôi! Tôi là một kẻ ngu trung

Thân chiến sĩ đi a tòng lang sói …

(Kỷ Niệm Vào Thu – Chu Phụng Kỳ)

Dưới ngọn cờ của chính nghĩa, chiến tranh là một phương tiện để thực hiện lý tưởng. Chiến tranh là phải hao tổn tài sản, xương máu của toàn dân. nhưng đó là sự hy sinh cao cả, cần thiết và được mọi người chấp nhận. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình là những thứ hiếm có trên đời, không thể bỗng nhiên mà có như lượm được của rơi, cũng không ai có dư để có thể đem phát cho không cho mọi người. Trái lại, đó là thứ phải Chiến để mà có, phải Tranh để mà được. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình là những kết quả trực tiếp hay gián tiếp của sự đấu tranh, giữa những hệ thống quyền lực giăng mắc chằng chịt khắp thế giới của những thực thể quốc gia, của những liên minh chính trị, của những khối quân sự. Quyền và Lực bao giờ cũng tạo tương xứng. Lực là điều kiện cơ bản để tạo Quyền. Vô lực tức sẽ vô quyền. Đó là một chân lý đúng ở bất cứ nơi nào, ở bất cứ thời đại nào được phản ảnh rõ rệt trong những điều khoản luật quy định về sự vô năng lực của cá nhân. Trong đấu tranh, chiến tranh là hình thức cao độ và hữu hiệu nhất để hai bên lâm chiến, có cơ hội để duyệt xét lại quyền lực của mình một cách thực tế và rồi sẽ thiết lập lại một mối tương quan xứng hợp. Do đó bản chất hòa bình chỉ là một sự thăng bằng về quyền lực giữa hai thực thể đối nghịch nhau.

Với những người bị áp bức, đè nén, dối gạt, phản bội, chiến tranh là một sự cần thiết, một giải pháp tất yếu, một thời cơ thuận lợi để đánh đổ kẻ thù bằng Lực đòi lại Quyền sống, quyền làm người. Giá của việc thực hiện lý tưởng là giá máu xương của những người đã giác ngộ, quyết làm và dám chết một cách hiên ngang như những kẻ chịu chết để bảo vệ lòng tin yêu. Không đổ máu tất không xoay chuyển được vận mạng của dân tộc mình, cho chính mình và cục diện thời đại. Vì chỉ có đồng đẳng con người mới có bình đẳng thật sự, sự kỳ thị vẫn là một thực tế đang tồn tại trong nhiều xã hội.

Không có những cuộc chiến tranh tự vệ thời Đinh, Lê, Lý, Trần, không có cuộc chiến tranh quật khởi của Lê Lợi …, thì Việt Nam chẳng còn tới ngày nay, mà chịu chung số phận bị đồng hóa như những chi Việt khác ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây. Khi tổ quốc đã không còn dân tộc đã bị diệt vong thì lý tưởng Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc và Hòa Bình chỉ là những sáo ngữ, trơ trẽn vô duyên.

Nhưng chiến tranh chỉ là một phương tiện, như là một phương tiện, chiến tranh có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau tùy theo mưu tính của người nắm quyền lực. Phát xuất từ những mưu tính này là những Chính Lược căn bản có tính cách toàn diện, ở đó chiến tranh và chiến lược chỉ đạo và chiến thuật áp dụng chỉ được coi là thành phần, nhưng tùy hoàn cảnh sẽ giữ vai trò hổ trợ, phụ thuộc hay sẽ trở thành chủ yếu trong số các mặt trận ngoại giao, kinh tế, gián điệp, tuyên truyền … Với khối trục Đức-Ý-Nhật, chiến tranh đã được coi như là phương tiện chính để bành trướng quyền lực hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Với khối Cộng Sản và các cường quốc Anh, Pháp …, cuộc chiến tranh Việt Nam với sự tham dự của Hoa Kỳ cho tới tháng 4/1975, chỉ là cục bộ có tính cách hổ trợ dùng làm suy yếu tiềm năng kinh tế và uy tín Hoa Kỳ trên toàn cầu. Nghĩa là chiến tranh được dùng như một phương tiện kéo Hoa Kỳ xuống để họ lên xấp xỉ ngang hàng.

Và với chúng ta, trường hợp Việt Nam hiện giờ chỉ có thể giải quyết bằng một Cuộc Chiến Tranh Cách Mạng Dân Tộc và Nhân Chủ được thực hiện từ Bắc chí Nam với sự hổ trợ của các mặt trận ngoại giao, tuyên truyền …, và mục đích tối hậu của cuộc chiến tranh đó là: Để đạt một nền hòa bình công chính, không những cho riêng Việt Nam mà cho cả Đông Nam Á và Á Châu, tạo ra một trật tự mới cho thế giới, ở đó đóa hoa lý tưởng Độc Lập, Tự Do, Bình Đẳng, Ấm No và Hạnh Phúc sẽ đời đời tươi thắm.

3). Kinh Nghiệm Lịch Sử

* – Thời lai đồ điếu thành công dị

* – Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

(Đặng Dung)

Cuộc chiến Việt Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946 và kết thúc ngày 20 tháng 7 năm 1954 bằng hội nghị Genève chia đôi đất nước ngang vĩ tuyến 17. Dưới cái nhìn bao quát toàn thể, trong bối cảnh của một thế giới đang phân cực và tranh giành ảnh hưởng, cuộc chiến Việt, Pháp trở nên phức tạp với những âm mưu can thiệp của các thế lực quốc tế luôn luôn khuynh loát lẫn nhau. Lý tưởng giành độc lập, tự do cho tổ quốc, xây đắp một tương lai no ấm trong hòa bình cho dân tộc, là một mục đích tối thượng đối với những người quốc gia, thì trái lại với người Cộng Sản, đó chỉ là một chiêu bài có tính giai đoạn. Mục đích của họ vươn ra ngoài biên cương quốc gia và dẫm lên quyền lợi dân tộc, để phục vụ cho chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít, tạo lập một siêu đế quốc thống trị toàn thế giới. Sự khác biệt sâu sắc về lập trường chính trị, đã tất yếu đưa đến sự xung đột Quốc – Cộng và sau năm 1954 là sự hình thành của hai nước Việt Nam.

Tuy nhiên trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, giai đoạn lịch sử 1945 – 1954 được nhìn lại chỉ để tìm hiểu xem người Cộng Sản trong vai trò “lãnh đạo” đã khôn khéo dùng chiến tranh như một phương cách để loại bỏ những người Quốc Gia ra sao?. Họ đã đạt được những mục đích gì?. Người Pháp tại sao lại thua trận?. Họ đã phạm vào những sai lầm căn bản nào trên phương diện chính trị cũng như trong lãnh vực quân sự?.

A. Chiến Tranh và Người Cộng Sản

Người Cộng Sản đã tỏ ra khôn khéo khi vận dụng chiến tranh như một phương tiện tạo nên uy tín chính trị cho chính họ, một phương tiện để thủ tiêu và vô hiệu hóa kẻ tử thù là người Quốc Gia và kẻ thù giai đoạn là thực dân Pháp. Họ chính là người đã đuợc lãnh nhận tất cả những “vinh quang” do chiến thắng đưa lại. Họ thành công trong chiến tranh nhưng người Cộng Sản đã thất bại trong hòa bình. Sự đói nghèo, chậm tiến, lạc hậu của miền Bắc sau hơn 50 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa và cũng như miền Nam sau gần 30 năm “giải phóng”, là một bằng chứng tỏ rõ tính cách tay sai mà người Cộng Sản chỉ là công cụ của Đảng, đảng Cộng Sản Hà Nội trong vai trò “cai thầu lãnh đạo” một dân tộc, để cung ứng những dịch vụ xương máu cần thiết cho âm mưu bành trướng thế lực Cộng Sản quốc tế. Mặt nạ của đảng Cộng Sản Hà Nội đã rơi xuống để toàn dân Việt nhìn rõ chân tướng sài lang của bọn Hồ, Duẫn, Chinh, Đồng và giới cầm quyền chóp bu nội thù hiện tại, chỉ là những kẻ buôn dân, bán nước, làm tay sai, tôi mọi cho ngoại xâm.

B. Những Nhận Định Sai Lầm Về Người Cộng Sản

Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, mọi phong trào quần chúng và các tổ chức chính trị đều bị đàn áp thẳng tay và trừng trị nặng nề bằng sự giết chóc, tù đày, khổ sai. Trong sự khao khát độc lập, tự do, quần chúng đã quan niệm một cách giản dị là: “làm cách mạng chống Pháp là yêu nước”.người Cộng Sản với những thành tích xách động quần chúng chống Pháp, những thành phần bất hảo bị tù đày, cũng được Cộng Sản coi là những người yêu nước. Trong thập niên 1940′s, chủ nghĩa Cộng Sản là một cái gì xa lạ không riêng với quần chúng, mà ngay cả giới trí thức có hoạt động đảng phái hay đã từng tham gia chính quyền. Bằng chứng là Trần Trọng Kim với tư cách thủ tướng chính phủ, đã hết lòng can thiệp với Bộ Tổng Tư Lệnh Nhật ở Hà Nội để xin tha cho những cán bộ Cộng Sản bị Nhật bắt giữ. Bà Cả Tề một nhân sĩ đã hết lòng che chở cho các đảng viên cao cấp Cộng Sản, khi họ hoạt động ở ngoài và đi thăm nuôi khi họ bị bắt cầm tù. Hình như tất cả đã cố tình quên đi những sự thật lịch sử phủ phàng đáng suy gẫm về bản chất tráo trở của các lãnh tụ Cộng Sản. Cụ Phan Bội Châu đã bị bán cho mật vụ Pháp bắt với giá mười vạn đồng vào ngày 30 tháng 6 năm 1925, người chủ mưu bán Cụ Phan không ai khác hơn là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này và Lâm Đức Thụ một đảng Viên Cộng Sản. Ngoài Cụ Phan Bội Châu, các thanh niên thuộc các đảng phái Quốc Gia không theo Cộng Sản đều bị Cộng Sản mật báo cho Pháp bắt khi những người này lén lút trở về Việt Nam tổ chức cơ sở và hoạt động quần chúng (Đây là những kinh nghiệm bằng Máu và nước mắt của những người đi trước để cảnh tỉnh giới trẻ ở hải ngoại và những người đang tranh đấu nhưng thiếu kinh nghiệm hiện nay, phải nhìn cho thật rõ đâu là chính nghĩa đâu là gian tà, kẻo sa chân vào cạm bẩy của kẻ nội thù Cộng Sản và ngoại xâm phương Bắc đang giương ra). Đây là một sách lược thủ lợi đôi đường vừa hiểm độc mượn tay Pháp diệt được các đảng viên trung kiên, nòng cốt của những đảng phái Quốc Gia đối thủ của đảng Cộng Sản khi thời cơ đến cùng ra tranh thủ quần chúng, mà cũng vừa là một hình thức kinh tài (của Cộng Sản) để hoạt động và cũng để giữ được mối giao hảo ngấm ngầm với thực dân Pháp. Sau này vào năm 1943 lại chính Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội đã can thiệp với Trương Phát Khuê, một tướng lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa để tha cho Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh lúc đó đang bị bắt giam vì hoạt động Cộng Sản. Trương Phát Khuê đồng ý nhưng bắt Hồ Chí Minh phải từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản và gia nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội tức Việt Cách.

Đại để là người Quốc Gia đã quá khinh xuất không phân định được ai là kẻ đồng hội, ai là người đồng thuyền, ai là thành phần chủ lực trung kiên, ai là đồng minh giai đoạn, ai là tối hậu địch nhân, ai là tương đối địch nhân, ai là người Quốc Gia, ai là kẻ nội thù Cộng Sản, chúng ta phải phân biệt, thẩm định và xếp loại kẻ thù.

C. Những Cơ Hội Thuận Lợi Dành Cho Cộng Sản Việt Nam

Ngày 23 tháng 8 năm 1939 trùm Cộng Sản Stalin ký với Hitler một thỏa ước bất tương xâm giữa Nga và Đức. Với hiệp ước này, Cộng Sản Nga mở rộng biên cương về phía Tây bằng cách sát nhập một nửa nước Ba Lan và một số đất đai quanh vùng. Cộng Sản Nga ngồi nhìn thế giới chiến tranh, đóng vai trò ngư ông thủ lợi.

Vào tháng 6 năm 1941, Hitler bất thần tung quân xâm chiếm Nga. chỉ trong khoảng 5 tháng Đức đã chiếm được một phần lớn nước Nga, kiểm soát 40% dân số, khai thác hơn 60% tổng sản lượng than và thép của Nga. Nga tổ chức kháng chiến chống Đức. Trước đó ít lâu, Hồ Chí Minh được lệnh rời Mạc Tư Khoa về nước hoạt động, phát triển đảng và bắt liên lạc với Đồng Minh. Vào năm 1943 khi được Trương Phát Khuê phóng thích, Hồ Chí Minh đã cam kết dùng người của mình đi thu thập tin tức về quân Nhật cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Hồ Chí Minh cũng đã bắt liên lạc với một số sĩ quan tình báo Hoa Kỳ (OSS thời đó), nhận công tác đưa những phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi trốn sang Trung Hoa. Để trả công, Hoa Kỳ đã cho lại một số máy truyền tin và vài chục khẩu súng. Với sự lệ thuộc vào Đệ Tam Quốc Tế về đường lối chính lược và chiến lược, người Cộng Sản đã tỏ ra am hiểu tình hình quốc tế hơn những người Quốc Gia. Họ đã mạnh dạn tung biểu ngữ khẩu hiệu “chống thực dân Pháp, diệt phát xít Nhật” và đã thành công, vì nói lên được sự căn hờn của quần chúng về nạn đói năm Ất Dậu đã gây ra hơn 2 triệu người chết. Lý do đói là vì thực dân Pháp đã tận thu lúa gạo để cung cấp cho quân Nhật ở Đông Dương và bán sang Đông Kinh theo hiệp ước 40 – 41 để Nhật thừa nhận Pháp ở Đông Dương, lý do nửa là cũng vì Nhật bắt phá lúa trồng đay để xử dụng trong chiến tranh. Với uy danh “cách mạng” trước quần chúng qua một số hành động bắt cóc, ám sát được thổi phồng qua sự tuyên truyền đồn đãi rỉ tai, ngày 18 tháng 8 năm 1945 cán bộ Cộng Sản đã cướp cuộc biểu tình tụ tập trước nhà hát thành phố Hà Nội, để tuần hành hoan hô chính phủ Trần Trọng Kim, đã thu hồi chủ quyền toàn vẹn từ tay người Nhật (Nhật Hoàng đầu hàng vào ngày 15/8/1945) và biến cuộc tuần hành thành hoan hô giải phóng, hoan hô Việt Minh với cờ đỏ sao vàng dẫn đầu và đôi ba người mang súng đi kèm. Cộng Sản gấp rút thành lập ủy ban nhân dân rồi tổ chức quần chúng đến chiếm các công sở, tòa Đốc Lý và Bắc Bộ Phủ mà không gặp trở ngại nào. Quần chúng với sự háo hức đổi đời được thúc đẩy gia nhập các đoàn thể như Phụ Lão Cứu Quốc, Thanh Niên Cứu Quốc, Thiếu Nhi Cứu Quốc. Mỗi khu phố đều có ban điều hành và một toán tự vệ, bằng đường lối nửa đe dọa nửa hứa hẹn, Cộng Sản yêu cầu chính phủ Trần Trọng Kim từ chức và vua Bảo Đại thoái vị.

Thế là trong sự ngơ ngác, hoang mang hay sợ sệt của mọi người, Cộng Sản đã chiếm được thời cơ, đoàn ngũ hóa quần chúng và tiến lên địa vị lãnh đạo. Sự xuất hiện của các đảng phái để công khai tranh thủ nhân dân và phản ứng đối với việc Cộng Sản cướp chính quyền có thể coi là chậm chạp, chỉ khởi sự khi Quốc Quân Trung Hoa tiến vào Hà Nội để giải giới Nhật theo đúng quy định của hiệp ước Postdam. Với sự có mặt của Quốc Quân Trung Hoa (thời đó dân chúng thường gọi là quân Tàu Phù, vì đa số bị phù xưng sốt rét, phù thủng ghẻ Tàu), các đảng phái đã áp lực Cộng Sản phải nhượng bộ cải tổ chính phủ và dành một số ghế, 70 trong tổng số 444 ghế trong quốc hội cho các đảng phái. Nhưng dưới con mắt nghi kỵ của quốc dân, hậu quả của hơn ngàn năm lệ thuộc Tàu và hơn tám mươi năm lệ thuộc Pháp, hào quang cách mạng yêu nước của các đảng phái đã bị hoen ố phần nào vì dựa thế quân ngoại quốc quá lộ liễu.

Sau bao khó khăn, quốc hội Việt Nam đầu tiên đã họp khoáng đại vào ngày 8/11/1946 tại Hà Nội, để nhất trí chấp nhận bản dự thảo luật căn bản làm hiến pháp. Tất cả những thủ tục có tính cách nghi lễ trên được hoàn tất trong một ngày và quốc hội tự giải tán trao quyền lại cho ủy ban thường trực quốc hội gồm 15 người do chính phủ đề cử và học giả Nguyễn Văn Tố không thuộc đảng phái nào làm trưởng ban.

Về phía hành pháp, các người Quốc Gia nắm ghế bộ trưởng như: Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính) nắm ngoại giao, Trương Đình Trị (Việt Cách) nắm y tế, Bồ Xuân Luật (Việt Cách) nắm canh nông và kể cả Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) làm Phó Chủ Tịch nhà nước, đều chỉ nắm hư vị, ngồi chơi xơi nước. Mọi việc từ nhỏ đến lớn đều do người Cộng Sản giải quyết. Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và tổng đảng bộ Cộng Sản họp bàn hoạch định đường lối và điều động việc thi hành. Hồi đó, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản gồm có: Hạ Bá Cang, Nguyễn Lương Bằng, Bùi Lân, Trường Chinh tức Đặng Xuân Khu, Bùi Công Trừng và hai đảng viên Cộng Sản quốc tế, một người Tàu tên Pô, một người Nhật tên Tiêu Xung (cả hai đều dấu Họ).

Sự có mặt hư vị của các đảng phái Quốc Gia trong chính quyền được người Cộng Sản tính toán và chấp nhận như một chiến thuật: Là chia xẻ trách nhiệm trước quốc dân và tạo một bộ mặt Quốc Gia cho chính họ, để tránh sự có thể bị đàn áp bằng võ lực của Quốc Quân Trung Hoa. Kinh nghiệm về những cuộc đàn áp Cộng Sản thẳng tay của Quốc Quân Đảng Trung Hoa còn quá mới đối với những người Cộng Sản và nhất là Hồ Chí Minh, mà cuộc tháo chạy tơi tả dài cả vạn lý của Mao Trạch Đông là một điển hình.

Đối với người Cộng Sản, trở ngại lớn nhất trên đường thực hiện chủ nghĩa không phải là thực dân Pháp mà là người Quốc Gia Chân Chính, vì thực dân Pháp là “thời địch” có tính giai đoạn sẽ qua đi. Chính người có tinh thần Quốc Gia mới là kẻ tử thù, “tối hậu địch nhân” của Cộng Sản, khi mà họ nhận ra được bản chất của Cộng Sản là đế quốc cực quyền chủ trương độc tài và áp chế. Chỉ cần xét qua bản điều lệ gồm 21 điểm quy định tổ chức Comintern, Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản thì đủ rõ. Điểm 6 triệt để ngăn cấm các đảng viên Cộng Sản địa phương không được có khuynh hướng quốc gia. Điểm 14 buộc các đảng viên Cộng Sản địa phương phải triệt để và vô điều kiện ủng hộ Liên Bang Cộng Hòa Sô Viết. Điểm 16 buộc các đảng viên Cộng Sản địa phương phải tuyệt đối trung thành chấp hành toàn bộ mệnh lệnh của vô sản quốc tế, trong đó đảng Cộng sản Nga nắm quyền quyết định tối hậu.

Tổ chức Đệ Tam Quốc Tế do V. I. Lenin triệu tập tại Mạc Tư Khoa năm 1919, với khẩu hiệu “Vô sản các nước hãy đoàn kết lại”, đã bị Stalin giải tán vào năm 1943 sau khi bị Đức đánh chiếm gần nửa lãnh thổ. Tuy nhiên, đây chỉ là một chiến thuật của Stalin với mục đích làm an lòng “đế quốc” Mỹ, để Mỹ rộng tay viện trợ cho Nga thêm nhiều quân trang, quân dụng, vũ khí, thực phẩm … Sau khi cùng đồng minh thắng Đức, Nga đương nhiên bước lên địa vị siêu cường chia vùng ảnh hưởng với Mỹ, thì Stanlin lại tái thiết lập Cộng Sản đệ tam quốc tế vào năm 1948, với danh xưng mới Comintern để kiểm soát chặc chẻ hơn các đảng Cộng Sản địa phương.

Chiến Thuật của Stalin vào năm 1943 cũng đã được đảng Cộng Sản Đông Dương áp dụng vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, khi tuyên bố tự giải tán để trấn an dư luận quần chúng, để giải tỏa sự chống đối càng ngày càng gia tăng của các đảng phái Quốc Gia và nhất là để dành cảm tình của Hoa Kỳ. Trong nhiều cuộc tiếp xúc với các đảng phái và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn luôn chứng tỏ, cam kết và dùng tới cả lời thề độc để làm cho những người được Hồ Chí Minh tiếp xúc tin rằng, họ Hồ là người Quốc Gia hay ít ra cũng đã dứt khoát với quá khứ Cộng Sản của mình. Cố vấn chính phủ giám mục Lê Hữu Từ là một trong những nhân vật đã được Hồ Chí Minh vận dụng tình cảm theo kiểu này, để yêu cầu Thiên Chúa Giáo cộng tác với Cộng Sản vào những ngày đầu tiên khi Cộng Sản lên nắm chính quyền.

Vì những áp lực chống đối nặng nề, nhất là từ phái các đảng phái qua thế lực Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản đã tính đến việc đưa công dân Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại, đang giữ chức cố vấn tối cao cho chính phủ liên hiệp ra lập chính phủ. Nhưng vì sự tham nhũng của các tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Cộng Sản đã khôn khéo dùng vàng quyên góp được của dân chúng để xây dựng tổ quốc, hối lộ những người có quyền hành như tướng Tiêu Văn và Lư Hán. Được vàng của Cộng Sản, Quốc Dân Đảng Trung Hoa bỏ rơi các đảng phái Quốc Gia và để người Cộng Sản rộng tay hoạt động tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, những người nhẹ dạ ngây thơ tin vào sự giúp đỡ vô vị lợi của ngoại bang. Đây cũng là cái gương để cho người Cộng Sản Hà Nội hiện nay soi lại và đừng tin vào những gì kẻ ngoại xâm nhất là người Tàu hứa hẹn giúp đỡ, trong giờ phút thập tử này khi mà chế độ không còn đường sinh lộ.

D. Chiến Tranh, Phương Tiện Hoàn Hảo Thực Hiện Chủ Nghĩa Cộng Sản

Hòa ước Trùng Khánh ký ngày 28/2/1946 giữa Pháp và Trung Hoa đã cho Pháp tiến quân lên phía trên vĩ tuyến 16 thay thế Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật. Đổi lại Pháp nhượng cho Trung Hoa đường xe lửa Lào Kay – Vân Nam, trả lại các tô giới cũ và hứa ưu đãi Hoa kiều ở Đông Dương. Thâm ý của Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) là rút quân về dồn lực tiêu diệt Trung Cộng đang được Nga giúp tiếp thu đất Mãn Châu từ tay Nhật, và dùng tay Pháp trấn áp Cộng Sản Việt Nam rồi làm phên dậu che an toàn mặt biên giới phía Nam cho Trung Hoa.

Sự rút quân Trung Hoa khỏi Việt Nam đã làm cho Việt Quốc và Việt Cách mất một thế dựa và sau đó bị Cộng Sản bao vây tiêu diệt nếu không kịp tháo chạy sang Tàu. Tuy nhiên đó là một may mắn vô cùng đối với người Cộng Sản. Từ nay họ được rộng tay hành động đối với thời địch bây giờ là thực dân Pháp và đối với tối hậu địch nhân là các đảng phái Quốc Gia Việt Nam. Trước một kẻ thù chung của cả dân tộc là thực dân Pháp đang cố tâm tái lập nền bảo hộ, người Cộng Sản đã lớn tiếng hô hào thống nhất ý chí, thống nhất lực lượng với khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”, “Đoàn kết để kháng chiến chống ngoại xâm”. Bằng những kỹ thuật tuyên truyền khôn khéo Cộng Sản đã kích động được tình tự yêu nước của toàn dân, đặc biệt ở tầng lớp thanh niên đầy nhiệt tình và lý tưởng. Bằng sự lý luận ngụy biện, Cộng sản đã đưa ra một tiền đề của tam đoạn luận đầy sai lạc Đánh Pháp là yêu nước”. Họ không định rõ lý do đánh Pháp trên lập trường nào, nhưng với lòng yêu nước bồng bột mọi người đã nhắm mắt chấp nhận không thắc mắc, như chấp nhận tiền đề đầy sai lạc này là: đã ủy nhiệm toàn quyền hành động cho Cộng Sản trong vai trò lãnh đạo cuộc chiến. Các đảng phái quốc gia bị đẩy vào một tình thế khó khăn, tiến thoái lưỡng nan. Nếu chống Cộng là bị mang tiếng là phản động chia rẽ, làm Việt gian tiếp tay với thực dân Pháp phản đồng bào, bán nước – đó là một điều sỉ nhục lớn nhất đối với những người đã từng hiến dâng cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc, từng chấp nhận chết chóc, tù đày, đánh đập, hành hạ, đói rét, nghèo khổ Nếu chống Pháp để thực hiện lý tưởng hằng đeo đuổi và phù hợp với “nguyện vọng của toàn dân”, tránh được tiếng Việt gian bán nước đầy ô nhục, thì tất yếu phải gia nhập hàng ngũ kháng chiến, chịu sự lãnh đạo của Cộng Sản. Và cộng tác với Cộng Sản là một việc cực kỳ nguy hiểm, mà những người có kinh nghiệm đấu tranh đều đã ít nhiều thể nghiệm bằng xương máu của chính mình và các đồng chí. Cộng tác, liên hiệp với Cộng Sản chỉ có hai điều có thể xảy ra: Một là bị Cộng Sản nhuộm đỏ, có giá trị như sự đầu hàng, để trở thành Cộng Sản phục vụ tổ chức Cộng Sản quốc tế, coi tổ quốc, dân tộc chỉ là phương tiện như: Bồ Xuân Luật, Đinh Chương Dương của Việt Cách … Hai là bị thủ tiêu trong bí mật hay là bị chụp mũ gián điệp, Viêt gian, bị hủ hóa để làm nhục rồi cũng bị giết đi để trừ hậu họa, có giá trị như một sự tự sát vô ý thức. Với các lãnh tụ đảng phái quốc gia đã nổi danh, đa số chọn giải pháp tiêu cực. Họ không chấp nhận Pháp, cũng không theo Cộng Sản. Họ chạy ra ngoại quốc hoặc trốn tránh nằm im đợi thời. Dưới cái nhìn tích cực của người đấu tranh cách mạng, thì đó là thái độ bất lợi, gây nhiều ngộ nhận, dễ bị lên án … Như mọi người đã thấy qua những bài báo, sách vở xuất hiện cả hai phía Cộng Sản và Tự Do. Nhưng nếu nhìn ra cái thế kẹt của người Quốc Gia nằm trên đe dưới búa, đứng giữa hai lằn đạn thù của hai thế lực quốc tế, đó là Cộng Sản đế quốc thực dân mới, và Pháp đế quốc thực dân cũ, tất sẽ thông cảm nỗi đau nhục, xót xa này của những người muốm làm một cái gì, nhưng bị mắc cứng trong sự trói buộc của Thời và Thế, chỉ có thể an ủi như Ngô Thời Nhiệm, người lỡ thời, thất thế trả lời Đặng Trần Thường kẻ đắc thời, đắc thế và đầy tự mãn khi ra câu đối:

* – Ai Công hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai !

(Đặng Trần Thường)

* – Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

(Ngô Thời Nhiệm)

Người Cộng Sản cố mềm mỏng trong việc điều đình với Pháp để mua thời gian củng cố lực lượng và phát triển cơ sở tổ chức. Cộng Sản đã ký hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 với Pháp, thừa nhận sự đóng quân của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Với hiệp ước này, Cộng Sản đã bị người Quốc Gia chỉ trích và quần chúng mất tin tưởng. Dư Luận đã xôn xao, nghiêm khắc lên án kết tội Việt Minh là kẻ rước Pháp vào tái lập chế độ thực dân, như xưa Hồ Chí Minh đã từng cộng tác với mật vụ Pháp để điềm chỉ bắt người Quốc Gia, nên thời đó có thơ rằng:

Đánh tan cái lũ bất nhân,

Đánh tan cái lũ rước quân Pháp về.

Cùng nhau hẹn một lời thề,

Đã làm cách mạng chẳng hề sợ chi.

Nhớ lời mạnh bước chân đi

Diệt quân Cộng Sản bỏ khi cực lòng”

Và ngay cả những người thiên tả trong nhóm thợ thuyền Việt Nam tại Pháp cũng tỏ lộ sự phẫn nộ, công khai đã kích Hồ Chí Minh. Tờ Paria xuất bản tại Ba Lê vào những ngày đầu tháng 7/1946, đã đăng một bức thư ngỏ gởi Hồ Chí Minh như sau:

“Chúng tôi một số đồng chí ít ỏi do chính đồng chí (Hồ Chí Minh) đào tạo 1925. Những “tư tưởng?” của đồng chí đã thấm sâu vào chúng tôi. Chúng tôi xem đồng chí như biểu tượng cho tất cả tầng lớp thợ thuyền Việt Nam trẻ.

Chúng tôi không ngờ lại phải mất hết hy vọng sau thỏa ước 6/3. Đồng chí đã ký một thỏa ước chấp nhận tự trị mà không phải độc lập. Sức mạnh lòng tin tưởng của chúng tôi đặt vào nơi đồng chí là lãnh tụ phong trào cách mạng phản đế, cũng ngang ngửa với lòng căm phẫn của chúng tôi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ là đã chọn lầm lãnh tụ, nhưng nhân dân Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng. Chúng tôi sẽ tiếp tục con đường đồng chí đã chọn nhưng đã không noi theo đến cùng”.

Hội nghị Đà Lạt họp vào tháng 4 và tháng 5/1946 và Fontainebleau vào tháng 3 tháng 7, 8 và tháng 9/1946 để cố gắng sửa lại thiếu sót đó, để đòi hỏi hoàn toàn độc lập cho Việt Nam đã bị thất bại. Hồ Chí Minh đích thân đi Ba Lê vận động qua đường dây Cộng Sản Pháp nhưng cũng không xong.

Sợ mất quyền lực chính trị với quần chúng, họ Hồ đành phải ký một Tạm Ước với tổng trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại, Marius Moutet, đảng viên xã hội (đã quen biết họ Hồ từ hai mươi năm qua) vào ngày 14/9/1946. Tạm Ước này chỉ là sự tái xác nhận nhiều đặc quyền của thực dân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam.

Trào lưu chính trị thế giới đã biến đổi với sự hình thành của các thế lực siêu cường và những vùng ảnh hưởng. Người Pháp đại diện bằng De Gaulle và các chính khách thực dân vẫn chủ quan nuôi tham vọng tái lập toàn vẹn thuộc địa, được gọi là Pháp Quốc Hải Ngoại. Chính sách duy trì toàn vẹn đế quốc thực dân dưới danh hiệu mới Liên Hiệp Pháp được chấp thuận tại hội nghị Brazzaville, thủ đô Congo thuộc Pháp vào tháng 4/1945, mà sự áp dụng đầu tiên là cuộc tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.

Với chính lược đã quy định, việc Pháp tái chiếm Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn cho Cộng Sản, ngoài thì bị kẻ thời địch là thực dân Pháp lấn át, đòi những điều kiện không thể chấp nhận được, trong thì bị những đảng phái quốc gia lật mặt nạ chỉ trích và dân chúng bắt đầu nghi kỵ là thỏa hiệp bắt tay với Pháp, Tổng Đảng Bộ Cộng Sản sau những suy tính hơn thiệt đã chấp nhận giải pháp chiến tranh như con bài gỡ thế bí. Hồ Chí Minh hạ lệnh “Tiêu Thổ Kháng Chiến”. Súng nổ vào tối ngày 19/12/1946.

Với chiến tranh người Cộng Sản lấy lại được uy thế chính trị, nắm được hào quang chính nghĩa quốc gia. Chiến tranh như một phương tiện tuyệt hảo được người Cộng Sản dùng để thực hiện mục tiêu ngắn hạn thuộc chiến thuật, cũng như những mục tiêu dài hạn nằm trong chiến lược và cả những mục tiêu tối hậu nằm trong chính lược toàn cầu của Cộng Sản quốc tế, Cộng Sản luôn luôn tâm niệm dùng cách mạng bạo lực để thực hiện một chế độ vô sản chuyên chính. Chém giết là phương tiện tốt nhất để trấn áp chống đối và đạt thắng lợi, trong một xã hội mà bản chất đấu tranh và sinh tồn giữa những con người làm nên giai cấp xung đột nhau trong mối tương quan Quyền, Lực. Với người Cộng Sản chủ trương chiến tranh toàn diện để đạt được mục đích, tối hậu của chiến tranh là hoàn toàn tiêu diệt được quân địch với tất cả năng lực Công cũng như Thủ và không để kẻ thù khôi phục tiềm năng, vì hòa bình chỉ được coi là một giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới.

Trong cuộc chiến tranh Pháp Việt 1945-1954, chiến tranh đã là một duyên cớ chính đáng được Cộng Sản triệt để vận dụng để biện minh cho những hành động áp chế dân chúng của họ, quần chúng đã cúi đầu chấp nhận chiến tranh như chấp nhận số phận hẩm hiu của chính họ. Với chiến lược tiêu thổ kháng chiến, người Cộng Sản đã cho lệnh đốt phá thẳng tay nhiều thành phố, cầu cống, nhà máy trước khi rút lui. Nằm trong chiến lược trên, Cộng Sản cũng đã lùa dân triệt để tản cư về thôn quê, ra ngoại thành. Dụng ý xấu xa của Cộng Sản khi cho đốt phá triệt hạ các thành phố và lùa dân đi không chỉ đơn thuần trong mục tiêu quân sự là: Di tản chiến thuật tạo khó khăn cho quân Pháp, không cho chúng xử dụng các cơ sở, tiện nghi vật chất để làm chiến tranh, cũng không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu chính trị giai đoạn: Tranh thủ dân với Pháp để Pháp không có dân cai trị và xử dụng trong các dịch vụ … Đành rằng các mục tiêu kể trên là những mục tiêu thực tế và cấp thời, vì yếu tố cơ bản để làm chiến tranh là nhân dân. Không có dân không có chiến tranh, không có dân không có người cầm súng. Không có dân không có lương thực nuôi quân. Không có dân không có tình báo để thấu triệt tình địch. Không có dân không có chổ nương náu an toàn. Dân là nước và quân là cá. Nhưng hành động đốt phá thành phố của Cộng Sản nó còn mang thêm một ý nghĩa cao hơn của chính lược Cộng Sản: vô sản hóa quần chúng bằng chiến tranh, chuẩn bị nền móng khai quang đất địa để xây dựng chế độ vô sản chuyên chính. Người dân thành phố sau khi bị cắt đứt với những liên hệ tài sản của họ ở thành thị, họ chỉ còn hai bàn tay trắng, và họ phải lệ thuộc vào chính quyền về đồng lương nếu họ là công chức, về thuế khóa nếu là người dân buôn bán. Họ trong tình trạng vô sản tất sẽ dễ dàng chấp nhận những biện pháp cải cách của chính quyền Cộng Sản hơn cả những nông dân thiếu ăn, thiếu mặc nhưng thừa đầu óc tư hữu.

Sau khi Mao Trạch Đông thống nhất Hoa Lục, tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân vào ngày 1/10/1949, Cộng Sản Việt Nam cũng để lộ nguyên hình, họ không cần dùng tới mặt nạ ngụy trang quốc gia như trước nửa. Với họ, tư tưởng Quốc Gia Dân Tộc bị kết án là hẹp hòi, lạc hậu và … phản động. Lòng yêu nước chân chính (suy nghĩ theo kiểu Cộng Sản) phải là phục vụ lý tưởng Cộng Sản và giai cấp vô sản quốc tế. Đảng Cộng Sản được tái lập với danh xưng mới: Đảng Lao Động Việt Nam vào ngày 3/3/1951. Chủ trương của đảng được sửa đổi lại, không chỉ chú trọng đánh đế quốc thực dân Pháp (Phản Đế) như những ngày đầu kháng chiến khi đảng còn yếu, phải giải tán và Cộng Sản phải đội danh Quốc Gia. Họ đã kết hợp đồng thời phản Đế với phản Phong (tức đánh phong kiến, cường hào ác bá, tư sản mại bản … ). Sự xuất hiện của Đảng Lao Động là nguyên nhân trực tiếp của những vụ học tập chính trị, đường lối trong bộ máy quân đội, bộ máy chính quyền và các tổ chức quần chúng. Đảng đã thiết kế và điều động thi hành những vụ thanh trừng, thủ tiêu, đấu tố khủng khiếp sau đó tại những vùng Cộng Sản kiểm soát, trong mục đích bần cùng hóa nhân dân và thủ tiêu những phần tử có tư tưởng Quốc Gia đang nắm những chức vụ chỉ huy trong các tổ chức chính quyền, quân đội và quần chúng để diệt trừ hậu họa.

Được sự giúp đỡ tận tình của Cộng Sản Trung Cộng như một hậu phương lớn, vững chắc và an toàn, Cộng Sản Việt Nam đã phản công Pháp và dần dần đẩy Pháp vào thế bị bao vây. Sự chênh lệch đã quá rõ rệt khi đem cân lực lượng đôi bên, giữa thế lực quốc tế đang lên là Cộng Sản và thế lực đã suy tàn của đế quốc thực dân Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Minh ký hiệp định Genève chia đôi Việt Nam, trên Vĩ Tuyến 17 Cộng Sản tiếp tục công việc đang làm dang dở qua phương tiện chiến tranh: Cải tạo nhân dân, cải tạo xã hội mà điển hình là cuộc cải cách ruộng đất thực hiện từ 1953 – 1956 với trên nửa triệu người dân bị Cộng Sản giết chết oan uổng, vì những ý niệm mơ hồ trong một nội dung co dãn như Địa Chủ, Phú Nông, Tư Sản … Vì những tội danh chụp mũ như: hút máu mủ nhân dân, chống phá cách mạng, Việt gian bán nước … để bắt ép cả nước vững chắc tiến nhanh, tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, bảo đảm hoàn tất tốt đẹp nghĩa vụ quốc tế vô sản được Mạc Tư Khoa giao phó: là tiền đồn của Xã Hội Chủ Nghĩa.

4). Chiến Tranh Và Người Pháp

A. Những Thời Điểm Đáng Ghi Nhớ.

Ngày 16/6/1940 Đức chiếm Ba Lê. Thống chế Pétain được sự ủy nhiệm của quốc hội Pháp để cộng tác với Đức, thành lập chính phủ Vichy. Đức để cho Pháp giữ nguyên các thuộc địa. Jean Decoux, Tư Lệnh Hạm Đội Viễn Đông được cử làm toàn quyền Đông Dương thay tướng Catroux bỏ theo phe kháng chiến De Gaulle.

Ngày 25/4/1944 lực lượng kháng chiến của De Gaulle theo chân Đồng Minh vào giải phóng Ba Lê. De Gaulle cử Đô Đốc Thierry D’Argenlieu làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương. Nhưng vì những khó khăn chính trị De Gaulle tự ý rút lui, Georges Bidault lên làm thủ tướng. Sự rút lui của De Gaulle không thuần lý do nội bộ mà còn có những lời hứa tốt đẹp đối với các thuộc địa khi De Gaulle còn cần sự giúp đỡ về nhân lực và vật lực của các thuộc địa để kháng chiến chống Đức (Thủ đoạn chính trị này lại được thấy vào năm 1973 sau khi Mỹ và Việt Cộng ký hiệp định Ba Lê. Tổng Thống Richard Nixon phải từ nhiệm vì vụ Watergate. Nhìn dưới khía cạnh chính trị, đây chỉ là một vụ trốn thi hành những mật ước mà Mỹ đã hứa với Việt Cộng như: viện trợ tái thiết cầu cống, cơ sở kỹ nghệ và Kinh Tế. Bằng chứng dù bị báo chí bôi bẩn, Nixon vẫn được Tổng Thống Reagan chính thức nhờ đại diện đi dự đám tang của Tổng Thống Saddat và lãnh những sứ mạng đặc biệt đi Trung Cộng).

Tháng 4/1945, hội nghị Brazzaville tại thủ đô Congo thuộc Pháp, quyết định chính lược của Pháp chấp nhận canh tân, nhưng vẫn duy trì đế quốc dưới danh hiệu Liên Hiệp Pháp.

Cuối tháng 8/1945, Anh đổ quân giải giới Nhật theo hiệp ước Postdam từ vĩ tuyến 16 trở xuống. Với sự đồng ý và sự giúp đỡ của Anh, Pháp đã theo chân Anh vào tái chiếm Nam Bộ Việt Nam.

Ngày 28/2/1946 Pháp ký hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa và thay thế Quốc Quân Trung Hoa giải giới Nhật từ trên vĩ tuyến 16 trở lên.

Ngày 6/3/1946 Sainteney đại diện D’Argenlieu ký với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh hiệp định sơ bộ. Hiệp định này thừa nhận quyền đóng quân của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam thay quân Trung Hoa. Do đó ngày 18/3/1946 sư đoàn cơ giới của Tướng Leclerc và bộ binh Pháp từ Hải Phòng lên đóng tại Hà Nội.

Trong hai tháng 4 và 5/1946, hội nghị Đà Lạt bàn tiếp về hiệp định sơ bộ. Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn, Võ Nguyên Giáp làm phụ tá. Hội nghị bế tắc vì thái độ cứng rắn của Pháp.

Ngày 4/6/1946 Pháp tách rời Nam Bộ, đưa bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng lập chính phủ Nam Kỳ tự trị.

Trong ba tháng 7, 8 và 9/1946 hội nghị Fontainebleau tiếp tục, hội nghị Đà Lạt bàn về hiệp định sơ bộ cũng bế tắc và ngày 12/9 một số nhân viên phái đoàn Việt Nam bỏ về nước trước.

Ngày 14/9/1946 một mình chủ tịch nhà nước là Hồ Chí Minh đến gặp riêng Bộ Trưởng Moutet tại tư gia vào nửa đêm để ký bản tạm ước tái xác nhận hiệp định sơ bộ 6/3/1946.

Ngày 20/11/1946 Pháp đánh chiến Hải Phòng.

Ngày 19/12/1946 chiến tranh Việt Pháp bùng nổ.

Ngày 5/6/1948 hiệp định Hạ Long được ký kết. Cao Ủy Bollaert đại diện Pháp long trọng tuyên bố thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Cựu Hoàng Bảo Đại, chỉ định thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ trung ương lâm thời. Giải pháp Quốc Gia đã được người Pháp nói đến từ lâu nay mới được thành hình.

Ngày 8/3/1949 thỏa ước Elyseé ký giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại tái xác nhận hiệp định Hạ Long, thừa nhận Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp.

Ngày 20/7/1954 chiến tranh kết thúc bằng hiệp ước Genève giữa Pháp và Việt Minh chia đôi Việt Nam bằng vĩ tuyến 17.

5). Những Sai Lầm Chính Lược Của Pháp

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, đế quốc thức dân Pháp hoàn toàn suy yếu, trong một bối cảnh thế giới đã có những đổi thay tận gốc rễ với những thế lực đang hình thành và chia vùng ảnh hưởng. Sự thân thiết có tính chiến lược của Mỹ với Nga qua Roosevelt và Stalin đã nói lên sự kém vế của Anh, Pháp dù được xếp vào hàng cường quốc. Chủ nghĩa thực dân đã trở thành lỗi thời và là mục tiêu công kích của toàn thế giới với sự hổ trợ của hai siêu cường Mỹ (tự do), Nga (Cộng Sản). Nhìn được trào lưu chính trị của thời đại, Anh đã khôn khéo sớm trao trả độc lập cho các thuộc địa và chân thành cộng tác với họ để thành lập khối thịnh vượng chung Liên Hiệp Anh. Trái lại, Pháp còn muốn cố gắng duy trì đế quốc thực dân, dùng thuộc địa như những phương tiện hữu hiệu để phục hồi mẫu quốc Pháp đã bị tàn phá sau những năm bị Đức chiếm đóng. Hội nghị Brazzaville đề ra chính lược tương lai của Pháp là lỏng tay hơn đối với các thuộc địa, chấp nhận canh tân nhưng vẫn duy trì thuộc địa dưới danh hiệu mới là Liên Hiệp Pháp. Bằng chứng là Pháp có riêng một bộ coi về thuộc địa được gọi một cách hoa mỹ là Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại. Bằng chứng nửa là De Gaulle đã phải rút lui để tránh không thực hiện những gì đã hứa với các thuộc địa và khi có những khuynh hướng cấp tiến trong chính trường muốn Pháp bắt chước Anh thực tâm trao trả độc lập cho các thuộc địa, thì chính De Gaulle lại ra thông báo nghiêm khắc cảnh cáo: “Người Pháp nào làm cho nước Pháp mất đi một phần lãnh thổ trong Pháp Quốc Hải Ngoại, thì sớm muộn cũng bị xét xử trước tòa án tối cao”.

Pháp ngoan cố muốn đi ngược lại tiến trình hướng thượng của nhân loại, với một chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời được ngụy trang dưới chiêu bài “khai hóa” đã bị tố cáo và lật tẩy, Pháp đã bị chống đối đương nhiên bởi các thuộc địa, là đối tượng để công kích của toàn thể loài người yếu và của thế lực quốc tế nay đã trở thành siêu đế quốc thực dân kiểu mới (kiểu Cộng Sản).

6). Pháp Sai Lầm Chiến Lược Trong Cuộc Chiến Đông Dương 1945-1954

Trong tầm mức chiến lược, Pháp đã sai lầm nghiêm trọng trên cả hai phương diện chính trị lẫn quân sự. Sự thua trận của Pháp chỉ là một kết quả đã thấy trước và tất yếu phải đến (hiện tại Pháp đã và đang sai lầm một lần nửa trên phương chính trị khi tự cho mình là siêu cường và muốn đối đầu với Hoa Kỳ, khi pháp bắt tay với Trung Cộng đối đầu với Mỹ trên bàn cờ chiến lược tại Á Châu).

A). Phương diện chính trị

Vì thiếu một chính lược đúng đắn nên thái độ chính trị của người Pháp cũng trở nên bất nhất. Nền Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp với những chia rẽ nội bộ và là những chính phủ yếu kém đã là nguyên do chính của thái độ chính trị không dứt khoát đó. Pháp đã thật sự thất bại trong việc tạo một chiêu bài Quốc Gia cho cuộc chiến tranh chống Cộng Sản. Bộ mặt thực dân quá lộ liễu của Pháp đã đẩy một số lớn dân chúng Việt Nam về phía Cộng Sản và làm cho những người Quốc Gia Việt Nam bị bế tắc. Họ bị chết đứng giữa hai gọng kềm Thực Dân – Cộng Sản và họ là điểm ngắm giữa hai lằn đạn thù.

Giải pháp Quốc Gia đã được giới chính trị lẫn quân sự Pháp đề cập đến từ lâu, nhưng chỉ thành hình vào ngày 5/6/1948 với khuôn mặt Bảo Đại. Vì sự không thực tế với người Pháp và thêm vào đó là sự phá hoại của Cộng Sản Pháp tại ngay nghị trường, điển hình là dân biểu Cộng Sản Maurice Thorez (Maurice Thorez một cấp trên của Hồ Chí Minh, được Stalin giao quyền trông coi Đông Dương Cộng Sản Đảng khi Hồ Chí Minh bị gọi về Mạc Tư Khoa khiển trách về vụ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1932, đã tố cáo Bollaert với âm mưu làm sao ép buộc được cả năm quốc gia Đông Dương vào Liên Hiệp Pháp ngay khi Bollaert được đề cử làm Cao Ủy Đông Dương ngày 5/3/1947) đã làm cho chiêu bài Quốc Gia mà họ dựng lên, thiếu hấp dẫn đối với những người Cách Mạng có tinh thần Quốc Gia đã có thành tích chống Cộng và chống cả thực dân Pháp. Chiêu bài Quốc Gia đó cũng kém hấp dẫn ngay cả những người dân Việt Nam đang khao khát một nền độc lập, tự do và hòa bình cho tổ quốc.

Không phải Pháp không có những người nhìn ra sự cần thiết phải có một chính nghĩa Quốc Gia để chống lại Cộng Sản, trong một cuộc đấu tranh chính trị để tranh thủ quần chúng, nhưng những người nhìn được vấn đề, đưa được giải pháp lại không phải là những người nắm nhiệm vụ giải quyết vấn đề. Hơn ai hết, với hơn 80 năm kinh nghiệm đô hộ Việt nam, người Pháp tất hiểu tinh thần đấu tranh kiên cường của những đảng phái cách mạng ra sao!. Và cũng hơn ai hết, những người Pháp có kinh nghiệm cai trị tất hiểu rằng Cộng Sản đã e sợ và thù ghét người Quốc Gia như thế nào!. Vì trên bản chất, người Việt Nam Quốc Gia với lý tưởng “Tổ Quốc Trên Hết” đã, đang và vĩnh viễn sẽ là kẻ thù của bất cứ thế lực xâm lược nào dù lộ liễu, lạc hậu như đế quốc thực dân kiểu cũ , dù họ có trá hình khôn khéo dưới một chủ thuyết (Cộng Sản) được tôn xưng là khoa học, là đỉnh cao trí tuệ như siêu đế quốc thực dân kiểu mới.

Vì e sợ giải pháp Quốc Gia được trao phó cho những Người Quốc Gia Chân Chính (người quốc gia chân chính là những người không thỏa hiệp, không nhân nhượng, không xem tổ quốc mình như một món hàng để trao trao đổi) nên Cộng Sản đã xuống tay thủ tiêu nhà văn Khái Hưng, đảng viên của Đại Việt Dân Chính Đảng năm 1947. Nhà văn Nhượng Tống, đảng viên Quốc Dân Đảng bị ám sát năm 1947. Nguyễn Văn Sâm, sáng lập viên phong trào Quốc Gia Thống Nhất bị bắn chết tại Sài Gòn năm 1947. Bác Sĩ Trương Đình Tri, Chủ Tịch Hội Đồng An Dân Bắc Việt, bị bắn chết tại Hà Nội năm 1947 (Bác Sĩ Trương Đình Tri đã từng làm Bộ Trưởng Y Tế trong chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945) và còn biết bao nhiêu các đảng viên trung kiên và nòng cốt của các đảng phái Quốc Gia khác, đã bị Cộng Sản cầm tù, tra tấn, xử bắn với tội danh Cộng Sản gán cho họ là Việt gian bán nước, trong mục đích bôi xấu các đảng phái Quốc Gia rồi có cớ giết đi để trừ hậu họa.

Năm 1948, vụ phá hoại chiến hạm Amio D’Inville ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) là một vụ phản gián của tình báo Cộng Sản phá giải pháp Quốc Gia, khi Pháp cố liên lạc với các đảng phái Quốc Gia tìm người cộng tác. Hoàng Đạo, một tên gián điệp Cộng Sản mạo danh đại diện của Việt Nam Dân Tộc Cách Mệnh Đảng (một đảng có thành tích chống Cộng quyết liệt ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định đã bị Cộng Sản đàn áp, bắt giam cả ngàn đảng viên), để điều đình với Pháp tổ chức một cuộc nổi dậy bằng võ trang ở Liên Khu IV với sự yểm trợ của Pháp ở vùng biển. Hoàng Đạo có nhờ Pháp mang gia đình về Hải Phòng trên chiến hạm Amio D’Inville. Những va ly hành lý chứa toàn chất nổ của gia đình Hoàng Đạo đã gây thiệt hại khá nặng cho chiếc tàu này.

Trong một cuộc công du Hoa Kỳ để yêu cầu tăng quân viện vào ngày 20/9/1951, Đại Tướng De Latre de Tassigny, Cao Ủy Kiêm Tổng Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương, đã đề cao sự hy sinh của quân Liên Hiệp Pháp đang giúp đỡ quân đội Quốc Gia Việt Nam chống kẻ thù chung của thế giới tự do là Cộng Sản. Nhưng báo chí Mỹ đã chỉ trích Pháp và đặt câu hỏi: Tại sao những người Việt Nam chiến đấu cho tổ quốc họ khỏi họa Cộng Sản, khi tử trận người Pháp lại đề trên mộ họ những hàng chữ ô nhục “Mort pour la France” (chết cho nước Pháp? ! )

Chiến tranh cũng cần có khôn khéo như trong chính trị, nghĩa là cũng cần những lý do chính đáng để biện minh cho hành động. Vì như một tiến trình, chiến tranh chỉ là một sự kế tiếp của đấu tranh chính trị, dưới hình thức bạo lực trên một tầng cấp cao có tính cách quyết liệt, triệt để và toàn diện.

B) Phương Diện Quân Sự

Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Hòa là những yếu tố cần thiết để tạo nên sự chiến thắng. Nhưng không phải lúc nào ba yếu tố đó cũng đi với nhau. Vì đó mà kẻ tài trí phải tranh, phải mượn, phải tạo, phải đợi … để đạt chiến thắng. Và xét cho cùng, địa lợi là việc quan trọng hơn cả đối với việc dùng binh. Có một yếu tố địa lợi là cũng đủ thắng người, tranh hơn với thiên hạ. Địa Lợi là thứ phải tranh mới được, không như Thiên Thời phải chờ mới có, không như Nhân Hòa phải tạo mới thành. Nói đến chiến tranh tất nói đến trận mạc với cách thế hành quân đánh địch, thủ thành. Chiến tranh phải căn cứ thực tế đất địa mà ứng biến thích nghi. Người xưa vẫn thường nói Trận Địa là có ý đó. Có thể khẳng định là không có đất địa, không có trận thế … và do đó có thể nói nguyên do thất trận của Pháp ở Việt Nam là Pháp đã không nhìn ra được bản chất và thực lực của đối thủ để từ đó chọn chiến trường, chọn lối đánh và ấn định thời gian dứt điểm.

Nếu người Pháp nhìn ra được vùng tam giác Hồng Hà và vùng Thanh Hóa như là đất tranh và dùng toàn lực để tranh và giữ vùng đó, thì cuộc chiến Đông Dương sẽ ra sao?

Đất Tranh theo binh pháp của Tôn Tử là vùng đất mà ta chiếm được thì ta lợi lớn, địch chiếm được thì địch cũng lợi vô cùng, đất tranh vì thế không thể nhường, mà phải xuất tận lực nhanh tay mà lấy.

Những ngày đầu của chiến tranh, lực lượng của Cộng Sản không có gì đáng so sánh với quân đội Viễn Chinh Pháp, thế mà Pháp không biết lợi dụng ưu thế để tốc chiến tốc thắng, Pháp đã để cho Cộng Sản lấy thời gian mua không gian, “dùng thời gian như thần hộ vệ của kẻ yếu như Clausewitz một chiến lược gia Âu Châu đã nhận định”. Cốt nhiên vấn đề không thuần quân sự, nhưng nếu nắm được vùng đông dân cư thuộc sông Hồng và Thanh Hóa, tức là nắm được nguồn tiếp tế chiến tranh, người và vật lực của Cộng Sản. Dân chúng cũng giống như nước, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Hiểu được bản chất bất định của quần chúng, Cộng Sản đã đổ khuôn, đóng dấu quần chúng bằng chiến dịch tản cư để lùa dân về vùng do Cộng Sản kiểm soát, đó là Cộng Sản đã phá cái thế Địa Lợi của Pháp.

Nếu những ngày đầu của chiến tranh Pháp chiếm trọn vùng đông dân cư châu thổ sông Hồng và sông Mã, rồi võ trang cho các đảng phái và tôn giáo để chống Cộng Sản, như Pháp đã làm tại vùng châu thổ sông Cửu Long, với giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo … thì Cộng Sản không thể vẫy vùng một mình một chợ. Nhưng Pháp đã để uổng phí cơ hội tốt đó, đến lúc Pháp nhìn ra được vấn đề là phải gom dân giữ đất, thì mọi việc đã quá chậm. Cộng Sản đã có cả một hậu phương vĩ đại tiếp tế nhân sự, vũ khí, lương thực đó là lục địa Trung Cộng. Kể từ đó, Cộng Sản (Tàu và Việt Cộng) bắt đầu phản công Pháp và đánh bật Pháp ra khỏi những đất sát biên giới Việt – Hoa mà Pháp đã tốn công sức rải quân trấn đóng từ những ngày đầu của cuộc chiến Đông Dương. Để cứu vãn tình thế, Pháp cử Đại Tướng De Latre làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương vào tháng 12/1950. Với tài năng quân sự, De Latre đã chận được địch, giải tỏa áp lực địch quanh vùng tam giác sông Hồng Hà và gây nhiều tổn thất nặng nề cho địch. Võ Nguyên Giáp được lịnh phải trở về du kích chiến. Tài năng của De Latre được biểu lộ rõ rệt nhất trong các trận: Tô Vũ ở vùng Hòa Bình, với cách nhử địch để diệt địch. Trận non nước Ninh Bình, chống chiến thuật cài răng lược của Cộng Sản và hệ thống pháo đài bê tông dây thép gai bảo vệ hữu hiệu vùng châu thổ. Nhưng vì lý do sức khỏe, De Latre phải trở về Pháp chửa bệnh vào cuối năm 1951 và chết vào đầu năm 1952. Cùng với cái chết của De Latre niềm hy vọng giữ vững miền châu thổ sông Hồng Hà như ngọn đèn tàn đã lóa lên rồi tắt liệm …

Chiến dịch đổ bộ Bùi Chu, Phát Diệm với ý định giúp Thiên Chúa Giáo tự trị cũng thất bại vì quá chậm. chỉ được thực hiện vào năm 1952, nghĩa là vào lúc tình thế đã ung thối đến tột độ.

Cuối cùng chuyện đến đã đến, Pháp thua trận nhưng được an toàn rút khỏi Việt Nam bằng hiệp ước Genève 20/7/1954, dù Cộng Sản Việt Nam không muốn ngưng chiến mà muốn tiếp tục khai thác lợi thế của chiến thắng. Nhưng vì quyền lợi của Cộng Sản quốc tế, Nga và Tàu trong những giăng mắc với Anh và Pháp nên Cộng Sản Việt Nam phải buộc lòng chấp nhận. Trong cái nhìn chung của các cường quốc Nga, Tàu, Anh, Pháp trước mặt họ còn một thế lực khác đáng sợ hơn, đó là siêu cường Hoa Kỳ. Và như một chân lý ngàn đời trong chính trị không có gì là tuyệt đối, không có Bạn, không có Thù, chỉ có những mối tương quan được tạo dựng nên bởi quyền lợi và uy lực.

7). Kết Luận

Tóm lại, chiến tranh với bản chất ngụy trá, tàn nhẫn, phá hoại và giết chóc đã là một phương tiện để thực hiện nhiều mục đích tùy theo sự mưu tính của người hoạch định. Như đã dẫn chứng, người Cộng Sản Việt Nam đã dùng chiến tranh như một phương tiện hữu hiệu để tiêu diệt người Quốc Gia Việt Nam. Khẩu hiệu “Tổ Quốc Trên Hết”, “Đoàn kết kháng chiến chống Pháp” chỉ là một chiêu bài chính trị không có thực chất. Thực dân Pháp chỉ là một lý do để biện minh cho những hành động tàn ác, mà Cộng Sản dùng để áp chế dân chúng và tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia trong tiến trình xây dựng vô sản thế giới theo đúng đường lối vạch ra của Đệ Tam Quốc Tế. Cứ nhìn những khẩu hiệu của họ đưa ra từng giai đoạn thì tất rõ. Từ “Phản Đế” họ tiến tới “Phản Phong”. Từ chống Pháp, họ tiến tới tiêu diệt giai cấp phản động và những sự cộng tác ngấm ngầm lén lút của người Cộng Sản với thực dân Pháp từ hồi còn xa xưa để tiêu diệt người Quốc Gia, đều là những yếu tố buộc tất cả mọi người chúng ta phải suy đi nghĩ lại về bản chất tráo trở của Người Cộng Sản về những gì họ đã phạm tới Tổ Quốc Việt Nam, với Dân Tộc Việt Nam, khi người Cộng Sản coi nước nòi như một phương tiện để xử dụng, chứ không như một cứu cánh cần phục vụ và một lý tưởng phải tôn thờ. Hơn 50 năm qua Cộng Sản xây dựng miền Bắc, miền Bắc vẫn đói khổ, gần 30 năm “giải phóng” miền Nam, miền Nam đã trở thành điêu tàn và sa đọa !.

Đọc lịch sử không chỉ đơn thuần để lòng cười khóc với những buồn vui của người xưa, để thả hồn trôi lênh đênh qua những hưng phế thăng trầm của thời đại. Đọc lịch sử mang một ý nghĩa tích cực hơn nhiều. Đọc sử là học hỏi, suy ngẫm, bàn luận nguyên do đã tác động làm nên những biến chuyển lịch sử, để rồi lại ứng dụng vào những hoàn cảnh tương tự trong tương lai, thể hiện di huấn ngàn đời “Con phải hơn cha … để rạng rỡ giống nòi”. Những thế hệ cha anh của chúng ta, vì những bất lực của bản thân, vì những khó khăn của thời cuộc, đã để lỡ một vận hội. Còn chúng ta, những thế hệ Việt Nam trưởng thành trong máu lửa đấu tranh sẽ làm gì trước hiện tình thê thảm của đất nước, trước nỗi thống khổ của toàn dân?. Đất nước sẽ bị diệt vong nếu chúng ta không sáng suốt nhìn ra vấn đề, gát bỏ mọi thành kiến, chung lưng góp sức cứu nguy cho dân tộc. Trung Quân là tình cảm riêng tư của mỗi người, nhưng phải biết Ái Quốc. Đó là lời của Án Anh bề tôi của nước Tề trả lời với nước Sở khi nghe tin Tề Vương chết … Nghĩa Công phải trên Tình Riêng … mong thay !.

* – Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

* – Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

* – ……………..

* – Mấy ai người đem hết tâm can ?

* – Trước quân thù (Cộng Sản) hung hiểm gian ngoan

* – Biết bao kẻ mơ hồ mong hưởng lạc !

* – Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

* – ……………………

* – Ai đứng dậy diệt trừ lũ qủy ?

* – Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn

(Vì Ấu Trĩ – Thơ Vô Đề – 1975)

March 26, 2008

Chính Trị Và Thua Cuộc

Nguyễn Bách
Truyện xưa kể rằng Đỗ Sinh, người xứ Tấn, là người tài hoa, văn võ tinh thông, nhưng suốt đời chỉ vui thú yên hà, làm bạn cùng mây nước. Là con nhà đại phú, Sinh rất vui với cuộc sống hiện tại nhàn tản, không phải bận tâm tới cuộc sống vật chất hàng ngày. Vua nước Tấn, An Lạc Vương, là người bạo ngược, không màng gì đến việc trị nước. Loạn lạc xẩy ra khắp nơi; dân tình đau khổ, ta thán. Giặc dã, loạn lạc nổi lên ngay tại quê hương của Sinh nhưng Sinh không bận tâm, coi việc trị nước an dân là việc của người khác. Sinh tuyên bố KHÔNG LÀM CHÁNH TRỊ mỗi khi bị người thân thúc dục từ bỏ thái độ rửa tay gói kiếm, từ bỏ cuộc sống nhàn hạ để làm một cái gì cho quê hương đất nước. Giặc dã tràn đến quê hương của Sinh. Sinh mất tất cả tài sản, đất đai, ruộng vườn, trở nên trắng tay. Khi Sinh biết hối hận về thái độ trùm chăn, không làm chánh trị của mình thì đã quá trễ, nước đã mất nhà đã tan; thân phận của Sinh là thân phận một kẻ lưu đầy, nhưng bị lưu đầy trên quê hương của chính mình.
.
Tại Việt Nam , trong suốt cuộc chiến chống Cộng bảo vệ quê hương, rất nhiều người đã trùm chăn, hành xử như Đỗ Sinh. Cho đến bây giờ tại Hải ngoại, chúng ta lại vẫn được nghe đi nghe lại điệp khúc cũ KHÔNG LÀM CHÁNH TRỊ. Ta tự hỏi Chánh trị là gì?
Theo Tự điển Larousse, Chánh trị (politique) là việc điều hành đất nước, xác định các thể chế sanh hoạt (direction de l’État et determination des formes de son activité).
Theo Tự điển Canadian Dictionary ( Oxford ): Chánh trị (politics) là nghệ thuật, phương pháp cai trị trong một nước  (the Art and Science of government).
Theo Việt Nam Tự điển của Nguyễn Văn Khôn, Chánh trị là việc thi hành quyền trị nước. Nghĩa rộng là lừa đảo khôn khéo như làm việc phải có chánh trị. Thiếu chánh trị khi làm việc có nghĩa là thực thà .
.
Thực ra hai chữ chánh trị có nghĩa rất rộng: việc đối xử, giao thiệp với nhau trong một gia đình, trong một đoàn thể, trong xã hội đều là việc chánh trị. Không làm chánh trị tức là làm chánh trị đó, làm cái KHÔNG LÀM. Việc bỏ nước ra đi làm thuyền nhân, không chịu sống với Cộng Sản là một hành vi có tính cách chánh trị. Theo những người tị nạn Cộng Sản thì đó là một hình thức bỏ phiếu bằng hai chân phủ nhận chế độ Cộng Sản. Trong ngôn ngữ thường dùng của đại chúng, hai chữ chánh trị được hiểu theo một nghĩa hạn hẹp là các tư tưởng, hành động có liên quan đến đảng phái, chánh quyền. Ta nên xác định rõ một vài từ ngữ có liên quan đến hai chữ chánh trị:

Làm chánh trị tức là trực tiếp tham dự vào các công việc có liên quan đến đảng phái, liên quan đến chánh quyền.
.
Lập trường chánh trị hay thái độ chánh trị là một hình thức xác định lập trường một cách tiêu cực trong một tổ chức, một tập thể.
Bất hợp tác, nhưng không tích cực chống đối, là một thái độ chánh trị. Lập trường của các người Việt quốc gia là không chấp nhận chế độ phản dân chủ Cộng Sản trên quê hương Việt Nam .
Trước ngày 30-4-1975, trong cuộc chiến đấu chống lại quân xâm lăng Cộng Sản Bắc Việt, mấy chữ KHÔNG LÀM CHÁNH TRỊ - được hiểu là đồng nghĩa với KHÔNG CHỐNG CỘNG - đã được Cộng Sản lợi dụng triệt để, làm lũng đoạn hậu phương của Miền Nam. Chắc hẳn bạn đọc còn nhớ:
.
- Nguyên Chủ tịch của Tổng Hội sinh viên Sàigòn Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch học sinh Sàigòn Lê Văn Nuôi, Dương Văn Đầy luôn luôn hô hào sinhviên, học sinh không làm chánh trị . Những sinh viên biểu lộ ý muốn chống Cộng đều bị đe dọa hay loại trừ. Điển hình là việc ám sát bắn chết đại diện sinh viên Luật Khoa Lê Khắc Sinh Nhật hay việc bắn bị thương sinh viên Ngô Vương Toại. Toại đã may mắn được các Bác sĩ của Bệnh viện Bình Dân, Sàigòn giải phẫu kịp thời cứu sống. Sau ngày 30-4-1975, Mẫm, Nuôi, Đầy đã hiện rõ là các cán bộ Cộng Sản của Thành ủy Sàigòn.
- Ni sư Huỳnh Liên là người đã luôn luôn to tiếng khích động và cầm đầu các đoàn biểu tình xuống đường chống đối Chánh phủ của Miền Nam , hô hào đưa chánh trị ra khỏi tôn giáo . Sau khi Cộng Sản hoàn toàn chiếm được miền Nam , Ni sư Huỳnh Liên đã hiện nguyên hình là một cán bộ tôn giáo vận của Cộng Sản.
- Các phong trào đòi hỏi đưa chánh trị ra khỏi học đường, các cuộc biểu tình trong ngày ký giả đi ăn mày, đòi hỏi tự do báo chí phi chánh trị … đã tạo ra nhiều bất ổn cho xã hội miền Nam .
- Tại miền Trung, nhứt là tại Huế, nhóm người trẻ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha(em rể của Trịnh Công Sơn) Trần Xuân Kiêm… luôn luôn hô hào đưa chánh trị ra khỏi các sanh hoạt học đường, ra khỏi tôn giáo. Trong cuộc thảm sát hồi Tết Mậu thân tại Huế, họ đã hiện hình là các cán bộ Cộng Sản rất khát máu. Họ chính là thủ phạm trong các vụ thảm sát tại đây. Mọi người đều không lạ gì về gốc tích và hành tung của anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan. Còn sinh viên Nguyễn Đắc Xuân thì không được nổi bằng anh em Tường, Phan, nhưng y đã nổi tiếng sau Tết Mậu Thân. Chính y là người đã tự tay xử tử bạn cũ là Trần Mậu Tý khi CS chiếm đóng Huế chỉ vì Tý là đảng viên Đảng Đại Việt (chuyện này đã được kể rõ trong tác phẩm GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ của nhà văn Nhã Ca). “ Thi sĩHoàng Phủ Ngọc Tường ngày nay ung dung ngồi xe lăn. Trần Xuân Kiêm là Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế vào thời điểm đó. Kiêm học Trung học tại Sàigòn (trường Trung học Pétrus-Ký). Kiêm đậu Tú Tài năm 1962, sau đó y về Huế học tại Đại Học Văn Khoa, Huế. Trong Phong trào Hướng đạo, Kiêm là Tráng sinh trong Tráng đoàn Lam Sơn thuộc Đạo Đông thành của Đỗ Ngọc Yến (nguyên Chủ báo Người Việt , California , USA ).
Kiêm không lộ mặt như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường… nhưng Kiêm đích thực là người giữ vai trò chánh, ẩn mình trong bóng tối, đứng đằng sau các vụ ruồng bố, thảm sát hàng ngàn đồng bào vô can trong vụ Tết Mậu Thân tại Huế. Những người dân Huế này có ai “làm chính trị” đâu?
- Trước năm 1975, các thành phố lớn như Sàigòn, Huế không bao giờ thiếu vắng các cuộc biểu tình đòi hỏi phi chánh trị, làm hậu phương của miền Nam trở nên luôn luôn bất ổn, gây khó khăn không ít cho các Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa.
Trong tham vọng và kế hoạch bành trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản theo lệnh Cộng Sản Quốc tế, Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngay sau khi chiếm được miền Bắc nước Việt, đã có kế hoạch xâm chiếm miền Nam. Sau năm 1954, Miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đạt được nhiều tiến bộ đã khiến cho các tên Cộng Sản nằm vùng hoặc bị vô hiệu hóa, hoặc bị lộ diện. Trước viễn tượng tan rã của đám Việt Cộng nằm vùng nên năm 1958, Lê Duẩn được cử vào miền Nam nghiên cứu tình hình, hầu mong cứu vãn tình thế. Bản phúc trình của Lê Duẩn gửi Bộ Chánh Trị ở Hà Nội: Đề cương cách mạng miền Nam khẳng định chỉ có một đường lối duy nhứt để cứu vãn tình thế ngõ hầu Cộng Sản hóa miền Nam là phát động một cuộc chiến tranh giải phóng , một cuộc chiến toàn diện trên mọi lãnh vực: kinh tế, chánh trị, quân sự. Lập tức các đảng viên nằm vùng được lệnh moi vũ khí chôn giấu, lập các mật khu trong rừng núi, bắt đầu gây loạn ở miền Nam, bằng cách khuấy động, khủng bố tàn bạo tại các vùng quê theo đúng sách lược của Cộng Sản Trung Quốc: Lấy rừng núi chế ngự nông thôn, lấy nông thôn bao vây thành thị. Gây xáo trộn trên toàn miền Nam về phương diện chánh trị là kế hoạch hàng đầu bên cạnh các áp lực về quân sự.
Tháng 5 năm 1959, Cộng Sản Bắc Việt cho mở lại đường mòn Hồ Chí Minh để bắt đầu chuyển vận võ khí, quân đội và cán bộ Cộng Sản vào thâm nhập miền Nam. Ngày 21-12-1959, cái gọi là Mặt Trận Giải phóng Miền Nam chánh thức ra đời, đánh dấu một khúc quanh quan trọng của những điên loạn giải phóng giếtngười do Cộng sản Việt Nam gây ra cho dân tộc. Nằm đúng trong sách lược của Bắc Việt, hậu phương miền Nam bị chúng làm xáo trộn bằng đủ mọi cách, bằng các cuộc biểu tình, xuống đường đòi đưa chánh trị ra khỏi các sanh hoạt như tôn giáo, học đường… Hầu hết, nếu không nói là tất cả, các phong trào chống đối đều bị Cộng Sản xâm nhập. Mục tiêu chánh trị hàng đầu của Cộng Sản là làm cho miền Nam trở nên bất ổn định, càng bất ổn định chừng nào thì càng tốt cho công cuộc Cộng sản hóa chừng đó.
Trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, chống lại cuộc xâm lăng của Cộng Sản, người Việt Quốc gia đã thua cuộc, để Cộng Sản thống trị cả nước từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Có nhiều nguyên nhân đưa đến sự thất trận của miền Nam . Các nguyên nhân này đã được nói tới rất nhiều kể từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một trong những nguyên nhân đưa đến sự xụp đổ của miền Nam, theo chúng tôi, là sự kém hiểu biết về hiểm họa Cộng Sản. không thấy được tầm quan trọng và nhiệm vụ của mỗi người trong việc bảo vệ quê hương. Điều đó đưa đến việc thờ ơ, không tích cực tham gia trong cuộc chiến đấu một mất một còn với Cộng Sản. Có nhiều người đã nhìn cuộc chiến với cặp mắt bàng quang, không mấy quan tâm, dấu mình trong cái vỏ không làm chánh trị như Đỗ Sinh trong truyện xưa. Họ coi cuộc chiến bảo vệ tổ quốc là cuộc chiến của riêng những người lính. Nay phần lớn đã thức tỉnh, nhưng thức tỉnh vào giờ thứ 25 của trận chiến. Than ôi quá muộn màng!!
.

Cuộc chiến Quốc-Cộng 1954-1975 là cuộc chiến mà người Quốc Gia đã thua từ đầu ngay khi Hiệp định Genève được ký ngày 20-7-1954 còn chưa ráo mực. Ta thua vì nhiều lý do, nhứt là ta không được người bạn đồng minh Hoa Kỳ cho phép thắng. Nhiệm vụ bảo vệ quê hương đè nặng trên vai người lính. Họ chiến đấu nhưng không được phép thắng, chỉ được phép tự vệ khi bị địch tấn công. Trong những ngày cuối của tháng 4-1975, họ đã chiến đấu trong bi thảm, trong đáy cùng của tuyệt vọng, Ta phải cảm ơn họ, các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, họ đã đơn độc chiến đấu. Mặc dù bị phản bội từ nhiều phía, họ đã giữ vững Miền Nam được 21 năm.
.

Cuộc di cư vĩ đại bỏ nước ra đi sau ngày miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản là một hành vi chánh trị, một lập trường chánh trị. Đó là khẳng định không chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản.

Trên thực tế, cuộc chiến chống Cộng Sản chưa chấm dứt. Mặt trận chống Cộng đã thay đổi hình thái. Hiện nay cuộc chiến Quốc-Cộng được trải dài trên khắp thế giới.Trong suốt cuộc chiến 1954-1975, người Quốc gia chúng ta bị bắt buộc chỉ ở thế phòng thủ, không được phép tấn công, không được Hoa Kỳ bật đèn xanh cho phép đem chiến tranh ra tận hậu phương của quân xâm lăng, tức là miền Bắc của vĩ tuyến số 17. Bây giờ thế trận đã khác, hiện nay người Việt Quốc Gia đang đối đầu với bọn Cộng Sản -đối đầu trong thế công- tại khắp mọi nơi trên thế giới, tại bất kỳ nơi nào mà bọn hậu duệ của “già Hồ” héo lánh tới.
Trong cuộc chiến mới mẻ này, chúng ta hoàn toàn không tùy thuộc vào đồng dollars, chúng ta không bị các chủ nhân ông sai khiến. Chúng ta đã và đang thắng bọn Cộng Sản tại bất cứ nơi nào họ đặt chân tới. Chúng ta đang giữ thế chủ động. Nơi nào có người Việt Quốc gia cư ngụ là nơi đó có ngọn lửa chống Cộng. Tại khắp mọi nơi trên thế giới tự do, ta không thấy một Cộng đồng thân cộng nào cả. Trên thế giới, bất cứ một lãnh tụ nào khi đến thăm viếng một nước tự do cũng được đồng hương của họ long trọng tiếp đón. Trái lại, lãnh đạo của Việt Nam Cộng Sản, khi đến bất kỳ một nước tự do nào khác, như thủ tướng Cộng Sản Phan Văn Khải, chủ tịch Việt cộng Nguyễn minh Triết sang Hoa Kỳ, đều phải trốn chui trốn nhủi, không dám gặp đồng hương.
Cộng Sản đã áp đặt chế độ vô sản lên dân tộc ta bằng bạo lực, bằng phá hoại, bằng giết người một cách man rợ. Nói dối và giết người tàn bạo không gớm tay là sở trường của Cộng Sản. Nay sở trường khốn nạn đó trở nên vô dụng khi họ phải đối đầu với đám Người Việt di tản đang sống tại các nước tự do Ta phải nhìn nhận rằng các cuộc tranh đấu, biểu dương lực lượng, các cuộc vận động dư luận của người Việt Hải ngoại, tuy chưa thành công làm tan vỡ đảng ăn cướp Cộng Sản Việt Nam, đã thành công trên nhiều phương diện, thí dụ:
- CS Bắc Việt đã không dám làm cuộc tắm máu ở Miền Nam như Cộng Sản Cao Miên đã làm ở xứ Chùa Tháp khi chiếm được nước này.
- Cộng Sản Việt Nam đã không dám tự do giết người như họ đã từng làm trong quá khứ.
- Cộng Sản Việt Nam đã không dám đàn áp một cách công khai các thành phần dân chúng không đồng ý với họ.
- Cộng Sản Việt Nam , dưới áp lực của Hoa Kỳ và của thế giới tự do, đã phải thả hết tù cải tạo. Áp lực đó, sở dĩ có được là nhờ các vận động của người Việt Hải ngoại.
- Cũng vì nhờ sự vận động nói rõ sự thực về con người Hồ Chí Minh trước dư luận thế giới của người Việt Hải ngoại khiến tên tội đồ của lịch sử dân tộc này không được UNESCO của Liên Hiệp Quốc tôn vinh là danh nhân của thế giới.
- Qua các cuộc vận động, tố cáo của người Việt tị nạn, công luận thế giới đã biết rõ về bản chất lưu manh, tráo trở, gian dối, độc tài chà đạp nhân quyền của những người Cộng Sản Việt Nam. Thí dụ tấm hình Cha Nguyễn Văn Lý bị Công An bịt miệng trong một cái được gọi là phiên toà tại Huế đã được truyền đi khắp thế giới, tố cáo nền Công lý bịt miệng của Cộng Sản Việt Nam .
Tại quê hương Việt Nam, sau 32 năm độc quyền cai trị đất nước, Cộng Sản đã phải thay hình đổi dạng nhiều lần (métamorphose) để sống còn. Nhứt là kể từ khi các chế độ Cộng Sản trên khắp thế giới cáo chung vào đầu thập niên 90.
“Công lý Bịt miệng” của CSVN”

Các người lãnh đạo mới của Cộng Sản Việt Nam tương đối có học thức hơn đám hậu duệ già nua của Hồ Chí Minh nên họ rất tinh ma trong việc độc quyền cai trị đất nước. Họ đã thay đổi hoàn toàn kế hoạch để đối phó và khai thác đám người Việt quốc gia đang sống tại các nước tự do trên khắp thế giới. Nghị quyết 36, hoạch định các kế sách đối với khối Việt kiều di tản, là một trong muôn vàn mưu chước của Cộng Sản nhằm khống chế các Cộng Đồng người Việt Hải ngoại. Nào đổi mới, nào mở cửa, các chương trình du lịch, chấp nhận cho phép có quyền tư hữu, nới lỏng gọng kìm cai trị của chuyên chính vô sản… là những bước lùi chiến lược của Cộng Sản Việt Nam để được tồn tại. Xin cứ về du lịch, tiêu tiền ở Việt Nam nhưng tuyệt đối không được chống đối, đụng đến chế độ. Công An của họ có tai mắt ở khắp mọi nơi. Mọi mầm mống chống đối đều bị lực lượng Công An của họ dập tắt từ trong trứng nước. Mọi ý đồ thay đổi chế độ đều bị đàn áp một cách tàn bạo. Sau cùng tất cả đều trông cậy vào các áp lực đến từ bên ngoài, nhứt là các áp lực đến từ phía các người Việt Hải ngoại.
Người Việt Quốc gia vẫn chưa thành công trong mục tiêu tối hậu: đó là dứt điểm những người Cộng Sản Việt Nam , đem lại dân chủ, tự do cho đồng bào ở quê nhà. Vì đâu nên nỗi? Lý do nào đã giúp bọn phản dân hại nước vẫn nhởn nhơ trên quê hương ta? Sau đây là một vài lý do đã khiến người Việt Quốc gia chưa thắng, và có lẽ sẽ không bao giờ thắng bọn Cộng Sản nếu vẫn chưa thức tỉnh và cảnh giác:
Người Việt tị nạn Cộng Sản vẫn tiếp tục gửi tiền quá m ứccần thiết về Việt Nam vô tình gián ti ếp giúp đỡ Cộng Sản chuyển tài sản tham nhũng, bóc lột ra nước ngoài. Vietcong dùng chính tiền bạc nầy mua chuộc tay sai khống chế cộng đồng. Ngay từ những ngày đầu tị nạn, chúng ta đã gửi tiền quá mức cần thiết đủ sống về giúp đỡ thân nhân còn kẹt tại quê nhà. Có ai lại không xót thương người thân đang gặp khó khăn đâu? CSVN có cả một hệ thống tổ chức qui mô để tóm thâu các số tiền gửi về quê nhà. Các trung tâm gửi tiền về Việt Nam mọc lên như nấm, tại tất cả các nước có người Việt tị nạn sanh sống. Khoảng những năm 80, CS đã đứng trên bờ vực thẳm của tan vỡ vì kinh tế lụn bại do bất tài và quản lý dở. Nhưng họ đã thoát hiểm chính vì tiền của chúng ta gửi về. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và đồng đảng đã thoát hiểm. Chánh sách đổi mới được phát động từ đó. Người Việt Hải ngoại hết bị gọi là lũ lưu manh phản động, trốn khỏi nước để đi làm đĩ điếm. Chúng ta được CSVN gọi với một cái tên mỹ miều khúc ruột ngàn dặm . Hiện nay, mỗi năm các khúc ruột ngàn dăm gửi về quê độ 3 tỷ dollars USA . Ngoài ra, CSVN có trăm phương ngàn kế để dụ dỗ chúng ta mang tiền về Việt Nam : du lịch, đầu tư, các chương trình được gọi là chương trình từ thiện…..

- Bản tánh dễ quên của người Việt Quốc gia. Một số lớn người Việt tị nạn đã quên cái quá khứ tị nạn Cộng Sản của họ; quên những ngày vượt biên hãi hùng; quên những chết chóc của bạn bè, đồng đội, của người thân mà thủ phạm là các tên Cộng Sản. Điều tai hại là họ đã cố tình quên những đổ vỡ của quê nhà do CS gây ra. Họ đã và đang trở về Việt Nam hoặc để làm ăn, buôn bán với kẻ thù hoặc để hưởng thụ các thú vui vật chất để thỏa mãn thú tánh. Họ đã và đang làm hại cho chánh nghĩa của người Quốc gia. Hai vị Cựu Chủ tịch của một Hội đoàn chống Cộng khá nổi tiếng ở Montréal (Hội đoàn của những người đã cầm súng bảo vệ quê hương), đã đầu hàng CSVN để được về Việt Nam ăn chơi, du hý. Chỉ mới cách đây vài năm, mọi người trong Cộng Đồng còn tin tưởng 2 vị Cựu CT này thuộc nhóm của những người thề không đội trời chung với Cộng Sản. Nay mọi sự đã đổi thay, lời thề năm nào đã thành chuyện của quá khứ, nên chôn vùi đi là hơn. Cơn nguy biến đã qua, người ta không mấy khi nhớ những gì đã hứa (Le péril passé, on ne se souvient guère de ce qu’on a promis ) như người xưa đã nói. Một số tên tuổi trong các Cộng Đồng người Việt tị nạn như Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu… đã về Việt Nam, đầu hàng những kẻ thù cũ. Họ đã muối mặt phủ nhận cái quá khứ chiến đấu chống Cộng để đánh đĩ tâm hồn, thốt lên những lời ca tụng những kẻ đang phá hoại quê hương.

- Thời gian là yếu tố bất lợi cho những người chống Cộng. Sau hơn 30 năm tại Hải ngoại, số người chống Cộng nhiệt tình nhứt càng ngày càng bớt đi vì tuổi tác, bệnh tật. Tinh thần Quốc gia chống Cộng sẽ không còn ở thế hệ thứ hai, thứ ba. Các thế hệ đó được sanh ra, lớn lên và trưởng thành tại các xứ tự do. Họ không có kinh nghiệm sống với Cộng Sản, không có một quá khứ chống Cộng như cha ông của họ. Trái lại tại quê nhà, các con cháu của những tai to mặt lớn Cộng Sản được huấn luyện để kế nghiệp cha ông, tiếp tục cầm quyền ở Việt Nam. Vì mệt mỏi và tuổi tác nên một số Hội đoàn bị khủng hoảng lãnh đạo, tìm không ra người gánh vác công việc chung. Cộng Sản đã lợi dụng khủng hoảng này để từ từ đưa người của chúng hay đưa người có cảm tình với chúng vào các vị trí lãnh đạo. Khủng hoảng lãnh đạo đã khiến một Hội đoàn có quá trình hoạt động và lập trường chống Cộng khá vững chắc tại Montréal đã lần lượt chịu đựng 2 Chủ tịch rất kém tài đức, không có phong thái của người lãnh đạo, chưa nói đến khả năng. Một ông Chủ tịch một Hội đoàn khác đã vì quyền lợi cỏn con của gia đình mà hi sinh danh dự cuả cả cộng đồng người Việt chúng ta tại đây, trước chính quyền và người dân điạ phương, nhưng ông vẫn được bầu ra vì không có người nào ra ứng cử, ngoại trừ ông.
- Kế hoạch xâm nhập các Cộng Đồng tị nạn tinh vi của Cộng Sản
Kế hoạch xâm nhập các CĐ của CS rất tinh vi. Một thí dụ theo nghị quyết 36 của chúng: Tích cực đầu tư cho các chương trình dậy tiếng Việt cho người Việt ở nước ngoài. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhứt là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn… Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài như đài phát thanh, truyền hình và internet… Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài .
Tác dụng của nghị quyết 36 đã được cảm thấy tại Montréal. Ngay tại Montréal, một số các hội đoàn (như Gia đình Giáo chức, Hội Phụ nữ…) công khai tuyên bố không làm chánh trị tức là không chống Cộng Sản. Họ từ chối tham dự mọi sanh hoạt có tánh cách biểu dương lập trường quốc gia của người Việt tị nạn. Mới đây, một Hội đoàn quốc gia rất có uy tín tại Montréal đã bầu một vị Chủ tịch mới để thay thế Chủ tịch tiền nhiệm vừa đột ngột từ trần (bị đầu độc???). Chủ tịch đắc cử qua cuộc bầu cử độc diễn này là người đã và đang buôn bán công khai với Cộng Sản Việt Nam từ hàng chục năm qua. Trong quá khứ, người ta chưa bao giờ thấy vị CT này có mặt trong các hoạt động chánh trị của Cộng Đồng. Các thắc mắc về các hoạt động buôn bán với Cộng Sản của vị Tân Chủ tịch đều bị cố tình lờ đi, bảo rằng: Hội ta không làmchánh trị. Các ténors của hội đã không ngớt lời ca tụng vị CT mới này, khẳng định tính cách phi chánh trị của Hội. Phải chăng phi chánh trị có nghĩa là nếu Cộng Sản thiệt lên làm CT cũng không sao ?
Cuốn sách giới thiệu các hoạt động của một Trung tâm văn hóa (?) tại Montréal đầy các từ ngữ Cộng Sản. Thí dụ Ban Giám Đốc được họ gọi là Ban Giám Hiệu, y hệt ngôn ngữ của Cộng Sản tại Việt Nam. Chủ tịch của Trung tâm đã đi đi về về Việt Nam như đi chợ, Chủ tịch tuyên bố về Việt Nam để tìm tài liệu cho cơ sở (?). Cờ quốc gia mầu vàng ba sọc đỏ ít được họ nghiêm chào trong các buổi sanh hoạt. Chúng ta sẽ không lấy làm ngạc nhiên, một ngày nào đó họ sẽ cho trưng bầy lá cờ máu của Cộng Sản để chào.
Ban Điều hành của một tờ báo có số phát hành khá cao tại Montréal đã không bao giờ cho đăng tải các bài viết có ý tưởng chống Cộng. Lý do: Báo của chúng tôi không làm chánh trị . Nhưng họ đã cố ý tổ chức Đại nhạc hội đúng vào ngày sanh nhựt của Hồ Chí Minh: 19 tháng 5. Vô tình hay cố ý đây? Phải chăng CS đã âm thầm theo đúng nghị quyết 36 để mua đứt tờ báo? Hay Ban Chủ trương của tờ báo đã bán linh hồn cho quỉ dữ CS?
Những hội đoàn và những cá nhân từng tuyên bố “không làm chính trị” hay thậm chí làm ăn, giúp đỡ, che chở, kinh tài cho CS hãy nhớ kỹ tấm gương của người dân vô tội Huế, gương của bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) trong Cải cách Ruộng đất (che chở cho “bác” và các đồng chí cuả “bác” để rồi cũng bị xử tử), hay gương cuả một ông dược sĩ nọ ở Saigon trước 75, đã mua thuốc trị bệnh cho “bác” để rồi khi CS chiếm miền Nam cũng bị đánh tư sản như thường. Cái gương đau đớn nhất cuả các ông bà trí thức trong Mặt Trận giải phóng miền Nam hãy còn ngờ ngờ đó. Quí vị đừng mơ tưởng khi CS đã chiếm đoạt được sự lãnh đạo người Việt hải ngoại nhờ thái độ “khôn ngoan” (hay hèn nhát?) “không làm chính trị” của quí vị là họ sẽ tiếp tục để quí vị vẫn lãnh đạo các Hội đoàn của quí vị và tiếp tục hợp tác hay sử dụng quí vị nữa.
***
Trong cuộc đấu tranh chống CS, người Việt quốc gia tại Hải ngoại khó đạt được thắng lợi, nếu không nói là sẽ thất bại, vì chính chúng ta không muốn thắng lợi:
- chúng ta vẫn gián tiếp cung cấp phương tiện, bằng cách này hay cách khác, chuyển tiền bạc cho kẻ thù.
- chúng ta tiếp tục đầu hàng kẻ thù, về VN để làm ăn, buôn bán, tìm thú vui
- chúng ta không tích cực dấn thân hoạt động, để mặc kẻ thù càng ngày càng thành công len lỏi trong hàng ngũ của chúng ta
- trong tập thể của chúng ta vẫn có người kêu gọi PHI CHÁNH TRỊ tức là từ chối tham dự mọi hoạt động có tính cách chống Cộng trong tập thể người Việt tha hương vì họa Cộng Sản tại quê nhà.
- thời gian là yếu tố bất lợi (le temps joue contre nous) cho chúng ta. Bệnh tật, tuổi tác, sức khỏe hao mòn với thời gian sẽ làm hàng ngũ của chúng ta càng ngày càng thưa vắng.Đã hơn 30 năm rồi mà kẻ thù vẫn nhởn nhơ trên quê hương.
Chúng ta đã đánh mất một nửa quê hương năm 1954, chúng ta đã mất cả quê hương năm 1975 vì chúng ta không có quyền lấy quyết định điều khiển cuộc kháng Cộng, vì chúng ta bị địch cấy độc tố không làm chánh trị . Nay chúng ta đang đứng trước viễn tượng có thể sẽ thua cuộc một lần nữa, nhưng thua cuộc lần này là do lỗi của chính chúng ta:
Chúng ta đã và đang trợ giúp kẻ thù bằng cách này hay cách khác.
Montreal 06-07-2007
Nguyễn Bách

March 22, 2008

Cơ chế khiến người Việt nói dối

Những khuyết tật trong hệ thống nhà nước ở Việt Nam đang khiến người Việt phải ‘tự nói dối với nhau để sống’, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội thừa nhận.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn thẳng thắn trên báo Thanh Niên, ông Trần Quốc Thuận nói tham nhũng ở Việt Nam không chỉ gây ra thiệt hại vật chất mà còn khiến đạo đức của cả xã hội suy thoái.

“Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Không tham nhũng mới là lạ! Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ.”

“Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.”

Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhận xét nói dối đã trở thành thói quen hàng ngày trong xã hội Việt Nam.

Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.

Ông Trần Quốc Thuận

“Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành “đạo đức”, mà cái “đạo đức” đó là rất mất đạo đức. Đấy là một cái nguy, nhưng tôi thấy ít người quan tâm, chỉ chăm chăm vào vụ tham nhũng này, vụ tham nhũng kia.”

Ông cho rằng bộ máy hiện tại quá cồng kềnh, chồng chéo và cần phải có một cuộc đại phẫu.

“Phải làm triệt để giống như chúng ta chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường.”

“Quốc hội phải thực sự đại diện cho nhân dân, vì quyền lợi nhân dân…Thực tế là đại biểu QH đều biết rằng số phận của họ không gắn với sự tín nhiệm của cử tri, nó gắn với tín nhiệm của một nơi khác. Vậy thì làm sao họ làm theo ý kiến của cử tri được?”

Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội kêu gọi mở rộng quyền tự do ứng cử, bầu cử.

“Phải mở rộng quyền tự do ứng cử, bầu cử, tranh cử. Phải để cho Quốc hội có thực quyền. Thực quyền mới quyết được các vấn đề. QH phải có cơ quan chuyên trách, tổ chức điều tra tới nơi tới chốn. QH đâu phải là diễn đàn để nói cho xả hơi. Anh ra đây báo cáo rồi xin lỗi là xong, đâu có được!”

Gần đây, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, người được dự kiến sẽ sớm chuyển giao chức vụ của mình, cũng lên tiếng rằng ‘cần sửa lỗi hệ thống.’

Trích BBC 2007

- Hồng Y Phạm Minh Mẫn:
“Kinh nghiệm giải phóng nô lệ da đen trong lịch sử nước Mỹ dạy cho tôi bài học nầy.
+ Được tự do mà không được “ăn học”, nhiều người không thể sống xứng với phẩm cách làm người. Vì lẽ không được “học”, nhiều người chỉ biết “ăn”. Ăn mày, ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp. Khi có thế lực, thì ăn hiếp, ăn gian, ăn hối lộ. Khi có tiền, thì ăn xài, ăn chơi…
+ Vậy để có thể sống xứng với phẩm cách làm người, cần có sự giáo dục toàn diện. Giáo dục toàn diện gồm có trí dục, thể dục, kỹ dục và đức dục. Đối với người công giáo, phải cộng thêm dưỡng dục đức tin”

March 15, 2008

Sự hình thành của giải pháp Bảo Đại

Phạm Ngọc Lân

PNL Bài này được viết theo yêu cầu của vài người bạn muốn biết thêm về một giai đoạn hệ trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Đây không phải là một công trình nghiên cứu sử học, mà chỉ là một bài viết có tính cách phổ thông. Sự giản lược của một bài như thế sẽ có những thiếu sót không thể tránh khỏi. Xin được đón nhận mọi ý kiến của quý độc giả.

Giải pháp Bảo Đại” (có lẽ được dịch từ tiếng Pháp “la solution Bảo Đại”), nhen nhúm từ đầu năm 1947 khi Cựu hoàng Bảo Đại lưu vong ở Hương Cảng (Hong Kong – DCV), và thành hình vào năm 1949 khi ông về nước sau khi ký hiệp định Elysées (Paris) với Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Theo hiệp ước này, Pháp công nhận Việt Nam là một nước “độc lập trong khuôn khổ của Liên Hiệp Pháp”, và Nam Kỳ trở về lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất.

Bối cảnh lịch sử

Tưởng cũng nên nhắc lại, dù chỉ rất sơ lược, lịch sử cận đại của Việt Nam để hiểu rõ trong trường hợp nào giải pháp Bảo Đại ra đời.

Người Pháp đặt nền thống trị lên toàn cõi Đông Dương trong nửa sau của thế kỷ 19, chia ra làm năm “nước”, trong đó ba miền của Việt Nam bị cắt thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với những quy chế khác nhau. Nam Kỳ (Cochinchine) là một thuộc địa, có nghĩa rằng đó là “đất Pháp”, còn Bắc Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam) theo hai chế độ bảo hộ hơi khác nhau. Vẫn có Hoàng đế và triều đình, nhưng mọi quyết định đều qua tay một khâm sứ, cai quản một kỳ, và một toàn quyền, cai trị toàn bộ Đông Dương. Nên chú ý rằng hai từ Tonkin và Cochinchine là do người Pháp đặt ra, không phải dịch từ tiếng Việt, còn Annam là phiên âm của từ An Nam, do người Trung Hoa đặt ra. Tên “Việt Nam”hoàn toàn không được dùng đến trong thời kỳ thuộc địa này.

Thế chiến thứ hai bùng nổ năm 1939, và qua năm sau, Pháp bị Đức xâm lăng, phải đầu hàng và chia nửa nước phía Bắc cho Đức cai trị. Ở Viễn Đông, Nhật cũng chiếm đóng những vùng rộng lớn và chính quyền thuộc địa Pháp đã bắt buộc phải ký với Nhật một thoả hiệp cho phép Nhật dùng Đông Dương làm nơi đóng quân và làm căn cứ đánh chiếm các nơi khác trong vùng, để đổi lại việc Nhật để nguyên cho Pháp cai trị Đông Dương như trước.

Năm 1944, Hoa Kỳ và đồng minh đổ bộ lên Âu châu, và dần dần chiếm lại những vùng Đức xâm lấn. Nước Pháp được giải phóng và tướng de Gaulle về nước cầm quyền, thiết lập một chính phủ lâm thời chống lại phe Trục (Đức, Ý và Nhật). Chính quyền thuộc địa ở Đông Dương bỗng nhiên lâm vào tình trạng khó xử: quân đội Nhật có mặt đông đảo ở Đông Dương, trước kia là “thân hữu”, bỗng trở thành thù nghịch!

Và việc gì phải đến đã đến: Nhật quyết định cướp chính quyền ở Đông Dương để củng cố một địa thế chiến lược, mong vớt vát tình thế nguy ngập của họ trong vùng Đông Á. Đêm mùng 9 tháng 3, 1945, quân đội Nhật đồng loạt đánh chiếm tất cả vị trí hành chánh và quân sự của Pháp, giam giữ tất cả quan chức Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Quân đội Pháp phần lớn bị bắt làm tù binh, một số ít chạy được qua Tàu.

Chính quyền bảo hộ đột nhiên không còn nữa. Với sự khuyến khích của Nhật, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11 tháng 3, 1945, hủy bỏ tất cả các hiệp định đã ký kết với Pháp trước đó. Triều đình được thay thế bằng một nội các theo kiểu các nước tây phương, với một Thủ tướng và các Bộ trưởng. Đó là chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ tân thời đầu tiên của Việt Nam.

Nhưng chính phủ đó còn quá non yếu, phải dựa vào Nhật để tồn tại, và chỉ sống được vài tháng. Khi Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8, 1945, Việt Minh đã chụp được thời cơ lên nắm chính quyền vào những ngày sau đó, và ông Hồ Chí Minh từ rừng núi Việt Bắc về Hà Nội, thành lập chính phủ lâm thời, và làm lễ tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9-1945. Hoàng đế Bảo Đại thoái vị ngày 23 tháng 8, và trở thành công dân Vĩnh Thuỵ, nhận lời mời của tân chính phủ ra Hà Nội làm cố vấn tối cao, dù lúc đó ông chưa biết Hồ Chí Minh là ai.

Đó là việc nội bộ của Việt Nam. Về phương diện quốc tế, phe Đồng Minh hội họp ở Postdam (Đức) từ tháng 07/1945 để định kế hoạch giải giới quân đội Nhật sau khi Nhật đầu hàng. Riêng tại Đông Dương, họ giao cho quân đội Anh giải giới phía nam vĩ tuyến 16 (phía nam Đà Nẵng), và quân đội của Trung Hoa Dân Quốc, phía bắc vĩ tuyến này. Pháp không được tham dự hội nghị Postdam, không được hỏi ý kiến, và cũng không biết gì về quyết định này. Rõ ràng là Mỹ không muốn cho Pháp lấy lại Đông Dương làm thuộc địa như trước.

Nhưng chính phủ Anh cũng không muốn phải bận tâm lâu dài về Đông Dương, vì họ còn phải lo giải quyết những vấn đề thuộc địa của họ, nên quân đội Anh đã cho phép quân đội Pháp tháp tùng khi họ vào miền nam Việt Nam tháng 09/1945. Và chỉ vài tháng sau, Pháp đã tái lập chính quyền thuộc địa ở phía nam vĩ tuyến 16, khi quân Anh đã hoàn tất nhiệm vụ và rút về.

Tướng de Gaulle rất quyết tâm trong việc khôi phục uy tín của Pháp đã bị sứt mẻ trầm trọng vì thua trận, nên chủ trương phải nắm lại các thuộc địa, dù có phải thay đổi hình thức và danh xưng, đặt ra những tên mới như “Liên bang Đông dương”, hay “Liên hiệp Pháp”. Và “để vãn hồi an ninh trật tự”trên toàn cõi Đông Dương, tướng Leclerc, người hùng giải phóng Paris, được phái qua vùng này, cầm đầu đoàn quân viễn chinh mới. Phía nam vĩ tuyến 16, Leclerc không gặp trở ngại nào vì quân đội Anh đã rút đi nhường chỗ cho Pháp như đã nói trên. Nhưng ở phía bắc, quân đội Trung Hoa Dân Quốc có mặt để giải giới quân Nhật không dễ dàng nhường chỗ cho Pháp. Paris phải thương thuyết ráo riết với Trùng Khánh (lúc đó là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc) để quân đội Pháp được thay thế quân đội Trung Hoa. Cuối cùng, một thoả ước được ký kết ngày 28 tháng 2-1946 giữa Pháp và Trung Hoa, cho phép quân đội Pháp đổ bộ lên miền Bắc để thay quân đội Trung Hoa, đánh đổi một số nhượng bộ quan trọng của Pháp cho Trung Hoa.

Jean Sainteny và Hồ chí Minh (06/03/1946)
Nguồn: boomer-cafe.net

Đồng thời, để cuộc đổ bộ có thể xảy ra êm thắm, không gặp sức chống cự của Việt Minh đang nắm chính quyền tại miền Bắc, Pháp giao cho Sainteny, Cao uỷ Pháp tại Bắc Kỳ, đàm phán mật với Hồ Chí Minh trong nhiều tháng. Kết quả là ngày 6 tháng 3-1946, một hiệp định sơ bộ được ký kết giữa một bên là Sainteny, và một bên là Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh. Ông Vũ Hồng Khanh là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, có mặt trong chính phủ liên hiệp lúc đó.

Qua hiệp định này, Pháp công nhận Việt Nam là một “Quốc gia tự do (Etat libre)”nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp. Đổi lại, Việt Nam tuyên bố sẽ đón tiếp một cách thân thiện quân đội Pháp khi họ đến thay thế quân đội Trung Hoa. Sẽ có những cuộc đàm phán, dự trù ở Paris, để cụ thể hoá việc trao trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Nên chú ý rằng hai chữ “độc lập”không được nhắc đến trong văn bản hiệp định.

Ông Hồ Chí Minh bị chỉ trích kịch liệt vì hiệp định này, không những từ phía các đảng phái quốc gia, mà cả từ phía một số đồng đội của ông trong mặt trận Việt Minh, vì trong ngày tuyên bố độc lập 2 tháng 9, mọi người đều hiểu rằng sẽ không bao giờ ông thương lượng với Pháp. Vậy mà chỉ sau mấy tháng, Hà Nội đã phải “đón tiếp”quân đội Pháp, để đổi lấy sự công nhận một “quốc gia tự do”. Ngay cả hai chữ “độc lập”cũng không được nhắc đến. Ông Hồ Chí Minh bào chữa cho việc này là phải tạm thời chấp nhận quân đội Pháp để có thể thoát nạn chiếm đóng của quân đội Tàu, sẽ kéo dài không biết đến bao giờ.

Trước khi mở những cuộc đàm phán chính thức ở Paris như dự trù, một cuộc đàm phán sơ bộ diễn ra tại Đà Lạt vào tháng 4-1946. Phái đoàn Việt Nam được cầm đầu bởi ông Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh), lúc đó làm bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ liên hiệp. Nhưng cuộc đàm phán không đem lại kết quả nào.

Sau đó, ngày 1 tháng 6-1946, phái đoàn Phạm Văn Đồng lên đường qua Pháp để dự hội nghị Paris, đồng thời ông Hồ Chí Minh cũng được Pháp mời qua như một quốc khách. Trên đường đi, phái đoàn nghe tin Pháp công nhận “Nước cộng hoà tự trị Nam Kỳ”. Sự kiện này trái ngược hẳn với một đòi hỏi bất khả nhượng của phía Việt Nam, đó là sự thống nhất đất nước, nghĩa là Nam Kỳ phải là một phần của quốc gia tương lai. Đây sẽ là nguyên do chính đưa đến đổ vỡ của hội nghị sắp tới.

Vẫn còn trên đường đến Pháp thì nội các Pháp sụp đổ, nội các mới chưa lên, nên thay vì đến Paris, phái đoàn được đưa thẳng đến thành phố biển Biarritz để nghỉ ngơi và chờ đợi. Sau đó, hội nghị đã không được tổ chức ở Paris, mà khai diễn ngày 6 tháng 7-1946 ở Fontainebleau, cách Paris 50 km về phía đông nam.

Qua tháng 9, hội nghị Fontainebleau đổ vỡ, phái đoàn Phạm Văn Đồng bỏ về, ông Hồ Chí Minh ở lại Paris để tìm cách cứu vãn tình thế, và cuối cùng ký với bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet một “modus vivendi”ngày 14 tháng 9-1946. Đây là một “tạm ước”với mục đích xoa dịu những căng thẳng tại Việt Nam, trong khi chờ đợi tổ chức một hội nghị khác. Nhưng làm sao có thể dung hoà được khi một bên đòi hỏi độc lập và thống nhất lãnh thổ, một bên kiên quyết bảo vệ quyền lợi về thuộc địa, bằng cách không chịu trả Nam Kỳ về cho Việt Nam?

Tháng 11, một vụ đụng độ nhỏ ở Hải Phòng về chuyện quan thuế đưa đến một cuộc pháo kích của Pháp vào thánh phố làm hàng ngàn người chết. Vụ thảm sát này mở đầu cho những căng thẳng càng ngày càng thêm trầm trọng, để cuối cùng đi đến chiến tranh ngày 19 tháng 12-1946 tại Hà Nội. Chính phủ Hồ Chí Minh rút lên căn cứ bí mật ở chiến khu vùng rừng núi Việt Bắc, và kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Vai trò của Bảo Đại trước khi chiến tranh bùng nổ cuối năm 1946

Hoàng thân Vĩnh Thụy sinh năm 1913, con Hoàng đế Khải Định (đó là theo chính sử, theo huyền sử thì ông Khải Định không có con). Khi lên 9, cậu bé được gửi sang Pháp học, sau khi được tấn phong làm Hoàng Thái tử, sẽ nối ngôi Hoàng đế. Cậu được nuôi nấng dạy dỗ bởi ông Charles, một công chức cao cấp của Pháp đã về hưu. Trước đó ông là Khâm sứ Trung Kỳ, rồi quyền Toàn quyền Đông Dương. Lần đầu tiên trong lịch sử triều Nguyễn, một hoàng đế tương lai được hấp thụ nền văn hoá tây phương.

Trong hồi ký “Con rồng Việt Nam”xuất bản năm 1990, sau cuốn tiếng Pháp “Le dragon d’Annam”xuất bản năm 1980, ông Bảo Đại tâm sự:

Khi bắt đầu nhận nuôi tôi, cụ bà Charles may âu phục cho tôi mặc. Từ đó, tôi sống như một tên Tây con. Tôi hoà đồng nhanh chóng vào tập quán của Pháp, cũng như về ẩm thực. (1)

Năm 1925, Hoàng đế Khải Định băng hà, cậu bé 12 tuổi về nước lên ngôi, niên hiệu Bảo Đại, sau đó trở qua Pháp tiếp tục học hành. Năm 1932, 19 tuổi, Bảo Đại về nước cầm quyền. Ông muốn cải cách triều đình, trả tự do cho các cung phi của Khải Định, bỏ bớt tục lệ phức tạp trong hoàng cung. Ông muốn trẻ trung hoá guồng máy, dùng hai nhân vật trẻ là Phạm Quỳnh (do ông Charles giới thiệu) và Ngô Đình Diệm (do ông Nguyễn Hữu Bài đề cử). Nhưng ông tỏ ra bất lực trước sự khống chế của guồng máy cai trị Pháp, và chỉ sau bốn tháng, ông Ngô Đình Diệm, lúc đó 31 tuổi, từ chức Thượng thư Bộ Lại, và được thay thế bởi Phạm Quỳnh.

Từ đó, tôi để mặc cho Phạm Quỳnh lèo lái, múa may trên sân khấu. (2)

Năm 1934, Bảo Đại kết hôn với một thiếu nữ miền Nam, công giáo, cũng du học bên Pháp về, và tấn phong làm Nam Phương Hoàng hậu, đi ngược lại với tập quán của triều Nguyễn không phong Hoàng hậu khi vua còn sống.

Phải qua biến cố ngày 9 tháng 3-1945, khi người Pháp bị Nhật đảo chính, Hoàng đế Bảo Đại mới có cơ hội trở lại chính trường. Được sự hỗ trợ của Nhật, ông ký cùng toàn thể nhân viên Cơ mật viện một tuyên ngôn độc lập ngày 11 tháng 3, 1945:

Chiếu tình hình thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.
[...]
Huế, ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại. (3)

Sau đó, ông nhờ đại sứ Nhật Yokoyama tìm ông Ngô Đình Diệm đang ở Sài Gòn để về làm thủ tướng.

Ngày 19 tháng 3, tôi báo cho Phạm Quỳnh biết tôi sẽ tự tay đảm trách quyền lãnh đạo quốc gia. Ý thức được tình thế, Phạm Quỳnh liền đệ đơn xin từ chức tập thể của cả Nội các. (4)

Dù ông Ngô Đình Diệm mang tiếng là thân Nhật, nhưng người Nhật đã không tìm ông Diệm theo lời yêu cầu của Bảo Đại. Sau ba tuần lễ chờ đợi, Bảo Đại đành phải nhờ họ mời sử gia Trần Trọng Kim đang được Nhật cho lánh nạn ở Singapore vì trước đây bị Pháp đe dọa. Và ngày 17 tháng 4, 1945, chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt với mười bộ trưởng phần đông trẻ và theo tây học, và chọn quốc kỳ là cờ “quẻ ly”, nền vàng với ba sọc đỏ, sọc giữa đứt quãng. Chính phủ này chỉ tồn tại chưa được bốn tháng, đã từ chức khi Nhật thua trận tháng 8, và Việt Minh đã chụp được thời cơ để lên nắm chính quyền ngày 19 tháng 8, 1945. Họ dùng làm quốc kỳ cờ đỏ sao vàng là cờ mặt trận Việt Minh đã dùng trước đó.

Ngày 22 tháng 8, Bảo Đại nhận được một điện văn từ Hà Nội:

“Trước ý chí đồng nhứt của toàn thể dân chúng Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu vãn nền độc lập quốc gia, chúng tôi thành kính xin đức Hoàng đế hãy làm một cử chỉ lịch sử để từ bỏ ngai vàng.”
Bức điện này được ký dưới là “Ủy ban nhân dân cứu quốc”đại diện cho tất cả đảng phái, và tầng lớp dân chúng. (5)

Dù không biết “Uỷ ban nhân dân cứu quốc” là ai, Bảo Đại chấp nhận thoái vị “vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, vì nền độc lập của Việt Nam”và chiều ngày 25 tháng 8, trước hàng ngàn người tụ hội trước Ngọ Môn, ông đọc bản tuyên ngôn thoái vị, đoạn cuối như sau:

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao điều cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
Việt Nam độc lập muôn năm.
Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm.
Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945. (6)

Ngày 4 tháng 9, công dân Vĩnh Thuỵ rời Huế đi Hà Nội. Trong buổi gặp riêng ông Hồ Chí Minh, ông được mời làm Tối cao Cố vấn cho chính phủ, và có nhận xét như sau:

Hồ Chí Minh giống như một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ vịnh phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hoà nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. (8)

Bảo Đại được Hồ Chí Minh tiếp đón như thượng khách, mời dự tất cả những buổi gặp gỡ các yếu nhân quốc tế. Nhưng chỉ được vài tuần, ông được đưa ra Sầm Sơn, bãi biển nghỉ mát thuộc tỉnh Thanh Hoá, hoàn toàn cô lập với Hà Nội, và chỉ trở về vào giữa tháng 1 năm 1946, sau khi đã trúng cử đại biểu tỉnh Thanh Hoá, dù ông chẳng được đi bầu, cũng không biết đến cả ngày giờ bầu cử!

Sau ngày ký kết hiệp định sơ bộ 6 tháng 3, 1946, Bảo Đại được Hồ Chí Minh gửi qua Trùng Khánh cùng với một phái đoàn chính phủ, tại đây ông đã gặp Tưởng Giới Thạch. Khi phái đoàn trở về Côn Minh để lấy máy bay về Hà Nội, ông nhận được điện tín của Hồ Chí Minh yêu cầu ông đùng về, lúc sắp lên máy bay. Hành lý đã đưa lên máy bay, Bảo Đại ở lại Côn Minh không tiền bạc, không hành trang. May sao ông gặp một luật sư người Hoa tên Yu, từng học ở Paris, mời về nhà cho tá túc. Sau đó ông lại được Trung Hoa Quốc dân đảng mời lên Trùng Khánh, và khi chinh phủ Tưởng Giới Thạch dời đô về Nam Kinh, đề nghị ông cùng lên đó. Bảo Đại không muốn dựa vào chính phủ này, nên tìm cách đi Hương Cảng, vẫn phải nhờ đến ông Yu làm mạnh thường quân. Ông đến Hương Cảng ngày 15 tháng 9, 1946.

Tại đây, ông tình cờ gặp một người Pháp, chính là giám đốc một chi nhánh Nhà Băng Đông Dương mà ông đã biết ở Việt Nam, ứng cho một số tiền, và sau đó lại được một cơ quan truyền giáo của Pháp cho vay tiền, nên từ đấy bắt đầu một nếp sống vương giả.

Phạm Ngọc Thạch (1909-1968)
Nguồn: cimsi.org.vn

Giữa tháng 11, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một người thân tín của Hồ Chí Minh, từ Việt Nam đến thăm ông, biếu mấy lạng vàng của Hồ Chí Minh gửi tặng. Bảo Đại hỏi thăm tình hình trong nước, và khi ngỏ ý muốn trở về Hà Nội vào đầu năm 1947, lúc mở lại cuộc hội nghị được dự trù trong modus vivendi đuợc Hồ Chí Minh ký với Marius Moutet, thì được Phạm Ngọc Thạch cho biết là Hồ Chí Minh muốn Bảo Đại ở lại Hương Cảng. Bảo Đại rút kết luận sau buổi viếng thăm của Phạm Ngọc Thạch như sau:

Đối với tôi, sự việc đã rõ rệt. Hồ Chí Minh chẳng ưa gì tôi. Trước đây, ông ta muốn đẩy tôi đi khi người Pháp quay trở lại, và giữ tôi ở thật xa khi có hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau, thì bây giờ ông cũng không mong tôi trở về khi các cuộc bàn cãi với Pháp đang thực hiện. (9)

Chỉ vài ngày sau, Bảo Đại tiếp một phái đoàn gồm ba lãnh tụ phe quốc gia: Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc Dân Đảng) và Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, từ Quảng Châu qua. Sau đó Trần Trọng Kim cũng từ Quảng Châu qua yết kiến.

Trong nước, chiến tranh bùng nổ ngày 19 tháng 12, 1946.

Vai trò của những người quốc gia trong giải pháp Bảo Đại

Như đã nói trên đây, một số lãnh tụ đảng phái quốc gia đã đến gặp Bảo Đại khi biết ông đang ở Hương Cảng. Tất cả đều yêu cầu ông trở lại chính trường, gánh vác việc nước, vì họ không thấy ai khác có thể điều đình được với Pháp.

Từ đầu thập niên 40, đã có nhiều người trong phe quốc gia phải chạy qua lánh nạn trên đất Trung Hoa, thời kỳ đầu để thoát khỏi khủng bố của Pháp, thời kỳ sau để khỏi bị Việt Minh tiêu diệt.

Trong giai đoạn này, ở miền Bắc, nhiều đảng phái quốc gia hoạt động tích cực. Xin lược qua vài đảng phái đã có đóng góp trong giải pháp Bảo Đại sau này. Việt Nam Quốc dân đảng thành lập năm 1927 do hai ông Nguyễn Khắc Nhu và Nguyễn Thái Học, qua năm 1930 tổ chức khởi nghĩa, thất bại; đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng mười hai đảng viên lãnh đạo lên đoạn đầu đài ở Yên Báy, phần đông còn lại hoặc bị đi tù Côn Đảo, hoặc chạy qua Trung Hoa lánh nạn (10). Đại Việt Quốc dân đảng do ông Trương Tử Anh lập ra năm 1938, lấy chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn làm căn bản, hoạt động chủ yếu trong giới sinh viên học sinh. Bị Pháp bắt hai lần trong đệ nhị thế chiến, ông mất tích cuối năm 1946, có lẽ bị Việt Minh thủ tiêu (11). Đại Việt Duy Dân do Lý Đông A thành lập, lấy chủ nghĩa Duy Dân làm đường lối. Ông Lý Đông A cũng mất tích sau khi lập chiến khu ở Hoà Bình năm 1946 chống lại Việt Minh (12).

Đại Việt Dân Chính do ông Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh) thành lập cuối thập niên 30. Năm 1941, ông bị Pháp lùng bắt và phải trốn qua Trung Hoa. Tại đây, ông đã sáp nhập Đại Việt Dân Chính vào Việt Nam Quốc dân đảng, và ông trở thành một lãnh tụ quan trọng của đảng này (13).

Một tổ chức chính trị quốc gia khác là Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Cách, để phân biệt với Việt Quốc là Việt Nam Quốc dân đảng) được thành lập tại Liễu Châu bên Tàu năm 1942, gồm bảy người nòng cốt trong đó có ông Trương Bội Công, một người Việt nhưng là một sĩ quan cao cấp trong quân đội Trung Hoa, ông Nguyễn Hải Thần, một nhà cách mạng lão thành sống lưu vong lâu năm trên đất Tàu, và hai ông Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ thuộc Việt Nam Quốc dân đảng. Đến năm 1944, theo đề nghị của ông Trương Phát Khuê, tư lệnh Đệ tứ quân khu của Trung Hoa, Việt Cách được tổ chức lại với sự tham dự của ông Hồ Chí Minh và vài nhân vật khác của Việt Minh. Nhưng sau đó, Hồ Chí Minh bỏ về nước và không còn tham gia tổ chức này nữa.

Cuối năm 1945, khi quân đội Trung Hoa từ các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây kéo qua Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, ông Nguyễn Hải Thần về theo với quân Việt Cách, ông Vũ Hồng Khanh về theo cầm đầu quân Việt Quốc. Cả hai lực lượng này chống lại chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng cuối cùng, dưới sức ép của tướng Trung Hoa, hai phe đối nghịch Việt Minh và quốc gia vẫn phải ngồi chung trong một chính phủ liên hiệp vào đầu năm 1946. Các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh đều giữ những chức vụ quan trọng. Vũ Hồng Khanh cùng với Hồ Chí Minh ký với Pháp hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, 1946, còn Nguyễn Tường Tam dẫn đầu phái đoàn của Việt Nam tham dư hội nghị Đà Lạt tháng 4, 1946, mục đích bàn với Pháp về việc trả lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Như đã nói trên, hội nghị này có mục đích chuẩn bị cho hội nghị sẽ họp bên Pháp, nhưng cả hai đều thất bại.

Chính phủ liên hiệp chỉ có tính cách gượng ép, giữa hai phe cộng sản quốc gia đã có mâu thuẫn trầm trọng từ lâu. Và ngay khi quân Trung Hoa rút đi nhường chỗ cho quân Pháp thay thế, Việt Minh công khai tấn công các lưc lượng võ trang của các đảng phái quốc gia. Phe quốc gia yếu thế, đành rút qua biên giới Trung Hoa.

Sau ngày chiến tranh bùng nổ tháng 12, 1946, các lãnh tụ quốc gia lưu vong ở Trung Hoa liền tìm đến Cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó đang ở Hương Cảng, yêu cầu ông đứng ra làm biểu tượng quy tụ phe quốc gia để điều đình với Pháp việc trả lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Hồi ký của Bảo Đại nói một cách tổng quát như sau:

Trong số khách thăm viếng này, người thì đến để theo phò, người thì đến để thăm dò đường lối cho Pháp hay cho nước khác. Bác sĩ Phan Huy Đán, luật sư Đinh Xuân Quảng, cả hai đều thuộc phe xã hội, thêm Việt Nam Quốc Dân Đảng Trần Văn Tuyên, đều từ Quảng Châu sang. Người em họ trung thành với tôi, Vĩnh Cẩn, cùng người em khác trẻ hơn, là tay đá banh nổi tiếng Vĩnh Tường, và Phan Văn Giáo tạo thành cái nhân vĩnh viễn [thường trực] thân cận. Rồi đến quý vị khác khá danh tiếng như Bác sĩ Lê Văn Hoạch, thuộc nhóm Cao Đài, cựu phó thủ tướng Nam Bộ, Phạm Văn Bính, Ngô Đình Diệm trước tôi tưởng là tai mắt của Mỹ, Phạm Công Tắc, giáo chủ Tây Ninh, Lê Văn Soái, tướng Hoà Hảo, v.v… Tất cả các nhân vật đó đều đưa ra ý kiến và đồng nhứt về chính trị, nhấn mạnh là tôi phải trở về, để đem lại hoà bình cho đất nước. (14)

Trong thực tế, những cuộc vận động này kéo dài suốt năm 1947, có thể lược kể qua nhiều giai đoạn.

1. Tại Thượng Hải, bảy người họp nhau làm một nhóm, gồm Lưu Đức Trung, Phan Huy Đán, Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Hợi và Trương Bảo Sơn. (15)

Nhóm này tích cực vận động cho giải pháp Bảo Đại. Ngày 3 tháng 1, 1947, ba ông Đinh Xuân Quảng, Phan Huy Đán và Trần Văn Hợi đến Hương Cảng găp Cựu hoàng. Cựu thủ tướng Trần Trọng Kim, đến Hương Cảng trước đó, cũng làm việc đắc lực với Cựu hoàng, trong việc liên lạc với phái viên của Pháp là ông Cousseau. Đầu tháng 2, Bảo Đại cử ba ông Trần Trọng Kim, Phan Huy Đán và Đinh Xuân Quảng về nước vận động cho ông trở về chấp chính. (16)

2. Trong khi đó, tại Nam Kinh, ngày 17 tháng 2, 1947, Mặt trận Quốc gia Thống nhất toàn quốc được thành lập bởi năm đại biểu các đảng phái và hội đoàn: Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, Nguyễn Tường Tam, lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Nguyễn Bảo Toàn từ trong nước ra, đại diện các đảng phái Nam bộ, Lưu Đức Trung, một mạnh thường quân của các đảng phái lưu vong, lãnh tụ của Việt Nam Dân chúng Vận động đoàn, và Trần Văn Tuyên, bí danh Trần Côn, lãnh tụ Việt Nam Thanh niên đoàn. (17)

Mặt trận ra tuyên ngôn gửi đồng bào toàn quốc, vận động với Bảo Đại để ông đứng ra cầm đầu phong trào quốc gia, tung truyền đơn kêu gọi Việt Minh quay về với chính nghĩa quốc gia. Một phái đoàn được Tổng thống Tưởng Giới Thạch tiếp kiến, nhưng cũng không có kết quả cụ thể.

Bảo Đại không có nhiều thiện cảm với những nhân vật của Mặt Trận này. (18)

3. Bảo Đại lập văn phòng làm việc, với sự cộng tác của Lưu Đức Trung, Trần Văn Tuyên, và sau đó, thường trực có Phan Văn Giáo và Hoàng thân Vĩnh Cẩn. Ông cho phổ biến một chính cương ba điểm về chế độ quân chủ lập hiến (Dân tộc độc lập và thống nhất, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc). Văn phòng cũng tổ chức họp báo để ông tuyên bố quan điểm về các đảng phái quốc gia, Việt Minh, cộng sản, Hồ Chí Minh, Pháp và các nước khác. (19)

4. Tháng 9, 1947, sau nhiều tiếp xúc với đại diện của Pháp tại Hương Cảng (sẽ nói đến trong phần sau), và sau khi nắm chắc sự ủng hộ của đa số trí thức trong nước, Bảo Đại triệu tập các đại biểu ở trong và ngoài nước về Hương Cảng họp hội nghị kéo dài một tuần, bắt đầu từ ngày 9 tháng 9.

Hội nghị kết thúc bằng biểu quyết:
1. Triệt để ủng hộ ông Bảo Đại, đứng ra thương thuyết với Pháp để thực hiện độc lập và thống nhất quốc gia.
2. Danh từ “Hoàng đế Bảo Đại” được sử dụng trên địa hạt ngoại giao.(20)

Sau hội nghị Hương Cảng và quyết định về danh từ “Hoàng đế Bảo Đại”, Cựu hoàng công bố một bản tuyên ngôn gửi đồng bào, lần đầu tiên từ khi thoái vị:

Đồng bào Việt Nam thân mến,

Để khỏi làm đổ máu đồng bào, tôi đã từ bỏ ngai vua của tổ tiên tôi.

Đồng bào đã muốn trao vào tay những nhà lãnh đạo mới, trách nhiệm hướng dẫn số phận của mình, tôi đã sẵn sàng rút lui. Tôi đã thoái vị và chọn con đường lưu vong để khỏi là một trở ngại cho cuộc thí nghiệm này, mà đồng bào đã nghĩ rằng có thể đem hạnh phúc đến cho mình.
[...]
Như vậy, dần dà niềm hy vọng và hạnh phúc của đồng bào cũng bị mất đi, dù đã được sự tuyên truyền khôn khéo, và một lý tưởng ngoại lai cám dỗ ban đầu. Trong niềm tuyệt vọng, đồng bào đã chạy đến tôi.
[...]
Đáp ứng lời kêu gọi của đồng bào, tôi nhận sứ mạng mà đồng bào trao phó, và sẵn sàng để bắt liên lạc với nhà cầm quyền Pháp. Với họ, tôi sẽ nghìên cứu tất cả mọi khía cạnh của những lời đề nghị đối với chúng ta.

Trước hết, tôi muốn đạt được độc lập và thống nhứt, đúng như nguyện vọng của đồng bào.
[...] (21)

(Còn tiếp)

Phụ đính 1: Hình chụp bản tin của báo Le Journal de Saigon ngày 5 tháng 1, 1948, lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Pháp quốc hải ngoại (CAOM, HCI, 68/241). Bản pdf
Phụ đính 2: Hình chụp nguyên bản hiệp định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6, 1948. Đây là nguyên bản số 1 của phía Pháp, hiện lưu trữ tại CAOM (Centre d’Archives d’Outre-Mer, Trung tâm lưu trữ Pháp quốc hải ngoại, tại thành phố Aix-en-Provence). Bản pdf


Bài do tác giả gửi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

(1) Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990, tr. 37
(2) Bảo Đại, sđd, tr. 96
(3) Bảo Đại, sđd, tr. 162
(4) Bảo Đại, sđd, tr. 165
(5) Bảo Đại, sđd, tr. 183
(6) Bảo Đại, sđd, tr. 188
(7) Bảo Đại, sđd, tr. 198
(8) Bảo Đại, sđd, tr. 241
(9) Bảo Đại, sđd, tr. 258
(10) Nguyễn Khắc Ngữ, Lịch sử các đảng phái Việt Nam, tập 1, Tủ sách nghiên cứu sử địa xuất bản, 1989, tr. 23
(11) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 40
(12) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 41, 45
(13) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 40
(14) Bảo Đại, sđd, tr. 264
(15) Nguyễn Khắc Ngữ, Lịch sừ các đảng phái Việt Nam, tập 2, Tủ sách nghiên cứu sử địa xuất bản, 1991, tr. 140
(16) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 196
(17) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 112
(18) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 200
(19) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 207
(20) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 251
(21) Bảo Đại, sđd, tr. 286. Sách của Nguyễn Khắc Ngữ dịch từ cuốn Le Dragon d’Annam của Bảo Đại, viết bằng Pháp ngữ, dùng từ “Trẫm”, nhưng hồi ký Con Rồng Việt Nam của Bảo Đại, cũng dịch từ bản tiếng Pháp của ông, dùng từ “Tôi”. Hiện nay người viết chưa có bản tiếng Việt nguyên thuỷ để xác định, nên đã chọn cách viết trong hồi ký của Bảo Đại.

Phạm Ngọc Lân

Vai trò của Pháp trong giai đoạn đầu của sự hình thành Giải pháp Bảo Đại

Cuối đệ nhị thế chiến, tướng de Gaulle, người lãnh đạo kháng chiến Pháp chống Đức quốc xã, lên cầm quyền vào tháng 6, 1944. Ông chủ trương hồi phục tất cả thuộc địa cũ, dưới những mỹ từ mới. Chủ trương này được định nghĩa trong bản tuyên bố ngày 24 tháng 3, 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương.

Sau khi Nhật đầu hàng, Đô đốc Thierry d’Argenlieu được phái qua Đông Dương lám Cao uỷ (thay vì Toàn quyền như ngày trước) và tướng Leclerc, người hùng giải phóng Paris, cầm đầu đoàn quân viễn chinh đến Sài Gòn với nhiệm vụ chiếm lại toàn cõi Đông Dương. Trước khi qua Việt Nam, Cao uỷ d’Argenlieu, từ Chandernagor, Ấn Độ, ra chỉ thị mật cho thuộc cấp ngày 15 tháng 9, 1945, sau khi Hồ Chí Minh tổ chức tuyên ngôn độc lập. Chỉ thị có đoạn:

Chúng ta phải lập lại nền bảo hộ của nước Pháp đối với các dân tộc Đông Dương, nghĩa là cho phép các dân tộc này chín chắn về chính trị, và phát triển về kinh tế dựa vào nước Pháp, trong sự tôn trọng những tập quán và những nguyện vọng sâu xa của họ.[...]

Chúng ta không thể nói đến độc lập. Vả lại, chúng ta không được chính phủ cho phép nói đến chữ đó. (22)

Tháng 1, 1946, de Gaulle rút lui khỏi chính trường, mở đầu cho những nội các chỉ tồn tại thời gian ngắn, nên không có thì giờ để đưa ra những đường lối dài hơi. Năm 1946, ba chính phủ: Félix Gouin, Georges Bidault và Léon Blum nối tiếp nhau. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp tháng 6, 1946 để thương thuyết, đúng lúc chính phủ Gouin đổ, chính phủ Bidault chưa lên, nên phải nghỉ mát bất đắc dĩ ở Biarritz một thời gian.

Ngày 1 tháng 6, 1946, khi phái đoàn vừa lên đường, Cộng hoà Nam Kỳ (République de Cochinchine) được Pháp chính thức công nhận. Một chính phủ lâm thời, đứng đầu là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, đã được thành lập từ ngày 26 tháng 3, 1946 (23). Đây là một kế hoạch của Pháp để giữ lại thuộc địa Nam Kỳ, họ dự tính nếu cần phải trao trả độc lập cho Việt Nam, sẽ chỉ có Bắc Kỳ và Trung Kỳ thôi. “Nước”Cộng hoà Nam Kỳ thực chất vẫn chỉ là một thuộc địa trá hình, và chính phủ Nguyễn Văn Thinh không có một quyền hành gì. Khi ý thức được sự ngây thơ của mình, chỉ đóng vai trò trang trí cho chính quyền thuộc địa, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh đã tự tử ngày 10 tháng 11, 1946. Bác sĩ Lê Văn Hoạch lên thay, nhưng chưa được một năm đã phải từ chức. Tháng 10, 1947, đến phiên nội các Nguyện Văn Xuân, một cựu học sinh trường Bách khoa nổi tiếng của Pháp (ancien élève de l’école Polytechnique), thiếu tướng trong quân đội Pháp, sống rất lâu bên Pháp, có vợ người Pháp.

Chủ trương đi tìm một nền hoà bình cho Việt Nam, Nguyễn Văn Xuân cho rằng tốt hơn hết là thành lập một liên bang Việt Nam với sự thoả thuận của những lãnh tụ sẵn có của ba kỳ: Hồ Chí Minh ở Bắc Kỳ, Bảo Đại ở Trung Kỳ và Thủ tướng Chính phủ Nam Kỳ do Hội đồng Nam Kỳ bầu ra. (24)

Chủ trương này rơi vào quên lãng vì không đáp ứng nguyện vọng thật sự thống nhất của Việt Nam.

Bên Pháp, những chính phủ kế tiếp sau khi tướng de Gaulle từ chức đều thuộc cánh tả, đảng xã hội là chính, nhưng có những bộ trưởng cộng sản trong nội các. Vì vậy, sau khi hội nghị Fontainebleau bế tắc tháng 9, 1947, ông Hồ Chí Minh còn vớt vát bằng tạm ước “modus vivendi”được ký với bộ trưởng Marius Moutet thuộc đảng xã hội, là chỗ quen biết từ thời thanh niên của Nguyễn Ái Quốc ở Paris.

Qua năm 1947, tình hình chính trường Pháp cũng không cách nào ổn định được. Chính phủ Léon Blum chỉ tồn tại được một tháng, được thay bằng chính phủ Ramadier vào tháng 1, 1947, rồi đến Robert Schuman tháng 11, 1947.

Sau khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ tháng 12, 1946, Cao uỷ d’Argenlieu thấy không còn nói chuyện với Hồ Chí Minh được nữa, phải tìm cách khác để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông phái Cousseau, một viên chức Pháp ở Việt Nam lâu năm, nói thành thạo tiếng Việt, qua làm việc tại toà lãnh sự Pháp ở Hương Cảng, mục đích để tiếp xúc và thăm dò Cựu hoàng Bảo Đại.

Điều đình Bảo Đại – Bollaert

Nhưng chỉ vài tháng sau, Đô đốc d’Argenlieu được thay thế bằng một viên chức cao cấp dân sự, ông Bollaert. Ông này đến Sài Gòn ngày 1 tháng 4, 1947, và tiếp tục thăm dò Bảo Đại qua ông Cousseau ở Hương Cảng.

Đầu tháng 5, 1947, Cao uỷ Bollaert cử Giáo sư Paul Mus, cố vấn chính trị, bí mật lên chiến khu Việt Bắc gặp Hoàng Minh Giám và Hồ Chí Minh.

Ông này đã đưa ra những điều kiện của chính phủ Pháp để ngưng mọi hận thù: Ngưng ngay tức khắc các hoạt động chiến tranh, khủng bố và tuyên truyền, trao trả lại hầu hết các quân cụ, binh sĩ Pháp đi lại tự do trên toàn lãnh thổ, trao trả tất cả các con tin, các tù binh, hay binh sĩ đào ngũ. Những điều khoản ấy đều do Bộ Tham mưu Pháp đòi hỏi. Tất nhiên, Hồ Chí Minh đã coi là không thể chấp nhận được, nếu không muốn nói là ô nhục. (25)

Đó là lần cuối cùng Pháp thăm dò để điều đình với Hồ Chí Minh. Từ đó trở đi, họ không còn trông cậy gì vào con đường thương thuyết với Việt Minh nữa, dù chưa chính thức nói ra. Giải pháp còn lại chính là Giải pháp Bảo Đại.

Trong khi Bảo Đại triệu tập hội nghị Hương Cảng ngày 9 tháng 9, 1947 như đã nói ở phần trên, thì ngày hôm sau, 10 tháng 9, Cao uỷ Bollaert đọc một bài diễn văn quan trọng ở Hà Đông, xác định đường lối của chính phủ Pháp (26). Bài diễn văn khá dài nói đến “những nguyện vọng của dân chúng Việt Nam: tự do trong khối Liên Hiệp Pháp, và thống nhất ba Kỳ”. Tuyệt đối không có hai chữ “độc lập”. Còn vấn đề thống nhất phải do người dân quyết định, không thể là một điều kiện tiên quyết.

Bài diễn văn bị các đại diện họp tại Hương Cảng bác bỏ, vì hai đòi hỏi quan trọng nhất không được thoả mãn. Một là độc lập, đã không được nhắc tới trong bản tiếng Pháp của bài diễn văn. Hai là thống nhất, Pháp đặt điều kiện, trong khi phía Việt Nam xem như là một điều đương nhiên. Bởi vì nước Việt Nam trước khi người Pháp đến cai trị đã là một nước thống nhất, chính người Pháp đã chia làm ba kỳ. Nay việc người Pháp trả lại độc lập cho Việt Nam phải đi đôi với sự toàn vẹn lãnh thổ, nên việc đòi hỏi thống nhất là một điểm không thể bàn cãi (27).

Cao uỷ Bollaert bắt đầu đẩy mạnh “Giải pháp Bảo Đại”, và gửi đại diện sang Hương Cảng điều đình một cuộc gặp gỡ Bollaert – Bảo Đại trên chiến hạm Duguay-Trouin ở vịnh Hạ Long. Ngày 6 tháng 12, 1947, Bảo Đại cùng với người thân cận là Vĩnh Cẩn thuê một chiếc thuỷ phi cơ bay ra vịnh Hạ Long, không cho ai khác biết. Hồi ký của Bảo Đại viết không mấy thiện cảm về thái độ của Cao uỷ Bollaert khi ông này nài nỉ ép Cựu hoàng ký vào hai văn kiện, ngày hôm sau, 7 tháng 12.

Tài liệu đầu, đươc trình bày như bản tuyên ngôn chung, mà tôi nhặt được một cách hài lòng hai chữ “độc lập”đã được nói đến. Và tài liệu thứ hai là một tờ lịch trình ghi chú có hình thức đặt căn bản cho những vấn đề sẽ bàn đến. Nó liên quan đến hình thức ngoại giao, quân sự, văn hoá, tài chánh, chuyên môn…
[...]
Bản dự thảo về lờì tuyên bố chung có thể coi như tạm được, nhưng về bản thể chế thực hiện đã mang tính chất hạn chế không thể chấp nhận được đối với chủ quyền của Việt Nam.

Bảo Đại đã phải nhượng bộ Bollaert ký vào văn kiện thứ nhất, nhưng chỉ ký tắt hai chữ VT vào văn kiện thứ hai (28)

Trở về Hương Cảng, và trước khi đi Âu châu để nhận định tình hình tại chỗ, Cựu hoàng cho mời từ Việt Nam qua ba nhân vật để tham khảo ý kiến: Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam (danh xưng mới của Cộng hoà tự trị Nam Kỳ), Trần Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng An dân Huế, và Ngô Đình Diệm.

Tất cả ba đều nhận định là bản tuyên bố chung thì được, nhưng khi đọc bản văn kiện nói về thể chế, đều tỏ vẻ tức giận. Diệm là người nổi sùng nhất. Đối với ông ta, sự nhượng bộ của Pháp ít ỏi rõ rệt, còn về sự hạn chế chủ quyền khi vào Liên Hiệp Pháp, thì lại càng vô lý. (29)

Sau đó, ngày 24 tháng 12, 1947, Cựu hoàng lấy máy bay của công ty hàng không Anh để đi Geneva cùng với Vĩnh Cẩn, sau khi từ chối máy bay của Pháp dành cho ông để đi Paris. Ông muốn đến một nước trung lập để quan sát. Tại đây, Cao uỷ Bollaert từ Việt Nam bay qua đã đến gặp ông lần đầu ngày 7 tháng 1, 1948 (xem phụ đính 1, bản tin của báo “Le Journal de Saigon”). Ông thôi thúc Cựu hoàng trở về Việt Nam “để áp dụng những điều khoản đã tuyên bố trong bản thông cáo chung và trong bản thể chế ngày 7 tháng 12, 1947”tại vịnh Hạ Long. Bảo Đại trả lời:

- Thưa Ngài Cao uỷ, chắc hẳn Ngài cho phép tôi được ngạc nhiên về sự thôi thúc của Ngài. Tôi xin nhắc lại rằng, tôi đến vịnh Hạ Long thể theo lời mời của Ngài, với tư cách tư, và tôi không nhân danh chức vụ gì, uỷ nhiệm gì, để hoàn tất bất cứ công tác nào. Sau nữa, Ngài đã có tại chỗ tướng Xuân, hiện đang là thủ tướng Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam, rất có khả năng điều đình với Pháp.
- Nhưng thưa Hoàng thượng, chính Hoàng thượng là người mà chúng tôi muốn, mà nước Pháp muốn điều đình.
- Như vậy thì thưa Ngài Cao uỷ, nước Pháp hãy phục lại cho tôi danh hiệu Hoàng đế, Vua nước Việt Nam độc lập, bao gồm cả ba kỳ thống nhứt, bao gồm thêm đầy đủ các dân tộc thiểu số miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Có như vậy, vấn đề mới có thể giải quyết và mọi việc mới thực hiện được.

Hơi ngạc nhiên và bối rối trước sự đòi hỏi của tôi, ông ta rút lui và nói rằng sẽ xin chỉ thị của chính phủ. Rời Geneva về Paris ngay, hôm sau lại trở lại Geneva. (30)

Bollaert làm con thoi giữa Paris và Geneva, gặp Bảo Đại năm lần, không kết quả gì, vì không bên nào nhượng bộ. Sau đó Bảo Đại về Cannes với Nam Phương Hoàng hậu và các con. Đầu tháng 2, ông được thủ tướng Robert Schuman mời lên Paris dự tiệc ở điện Matignon (dinh thủ tướng), ở đây ông đã làm mọi người ngạc nhiên về thái độ cứng rắn của ông.

Khi Bảo Đại thấy rằng chưa đến lúc đạt được một thoả hiệp như mong muốn, ông quay trở lại Hương Cảng vào tháng 3, 1948. Tại đây, Cựu hoàng hội kiến với Ngô Đình Diệm và yêu cầu ông Diệm về Sài Gòn thăm dò. Ông Diệm được Cao uỷ Bollaert tiếp kiến ngày 22 tháng 3, nhưng thái độ của Bollaert rất cứng rắn, không nhân nhượng điểm nào cả. Trong bản báo cáo hàng tháng của Cao uỷ, ông Bollaert nhận định về Bảo Đại như sau:

[...] Tôi tin rằng ông ta sợ bị Pháp “lừa”. Những người thân cận của ông, từ khi ông trở lại Hương Cảng ngày 15 tháng 3, thúc giục ông không công nhận chữ ký của ông tại vịnh Hạ Long ngày 7 tháng 12 vừa qua. Nhưng thái độ tiêu cực đó để lộ một sự ngượng nghịu, mà tôi đã cảm được khi ông Ngô Đình Diệm đến gặp tôi, theo chỉ thị của ông [Bảo Đại]. (31)

Để tìm một lối thoát cho tình hình bế tắc, và sau nhiều cuộc bàn thảo với những người thân cận, cuối cùng Bảo Đại đưa ra một công thức được Bollaert chấp nhận: sự thành lập một chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam do Cựu hoàng tấn phong, sau khi hai vị Chủ tịch Hội đồng An dân ở Hà Nội và Huế (do Pháp lập nên) cùng với vị Thủ tướng Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam đồng từ chức. Và Thủ tướng của chính phủ trung ương lâm thời sẽ ký vào hai văn kiện cùng với Cao uỷ Bollaert, với nội dung không thay đổi. (32)

Ngày 27 tháng 5, 1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trình diện với Bảo Đại nội các mới của chính phủ trung ương lâm thời. Cùng ngày, Paris công nhận sự thành lập chính phủ này.

Ngày 2 tháng 6, 1948, chính phủ Xuân công bố bản quốc ca vả quốc kỳ Việt Nam: ba vạch đỏ song song tượng trưng cho ba kỳ, trên màu vàng, là màu của hoàng gia. (33)

Và buổi lễ trọng thể ký kết hai văn kiện (tuyên cáo chung và nghị định thư về thể chế) được tổ chức trên tàu Duguay-Trouin trong vịnh Hạ Long, ngày 5 tháng 6, 1948, giữa một bên là Cao uỷ Bollaert, một bên là thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và các cộng sự viên. Bảo Đại đóng vai trò chứng nhân, ký vào bản tuyên cào chung. Trong hồi ký của ông, Bảo Đại viết “chỉ ký tắt vào bản thể chế”, nhưng trên nguyên bản còn lưu giữ trong văn khố Pháp có chữ ký của ông trên cả hai văn bản (xin xem phần phụ đính ở cuối bài viết).

Cao uỷ Bollaert viết trong báo cáo mật hàng tháng gửi về cho thượng cấp của ông:

Chúng ta đã nối lại được đường dây liên lạc đã bị cắt đứt bởi cuộc tấn công ngày 19 tháng 12 [năm 1945, khi chiến tranh bùng nổ], trong những điều kiện danh dự, với những đại diện có thẩm quyền, trên những căn bản mà người ta có thể hy vọng là vững chắc. Một chính quyền đã được thành lập, sẽ cùng chúng ta xây dựng một thể chế mới, tôn trọng những nguyện vọng quốc gia và những quyền lợi thiết yếu của nước Pháp.(34)

Khác với sáu tháng trước, cũng trong khung cảnh của vịnh Hạ Long, Bảo Đại gặp riêng Bollaert, còn lần này là một buổi lễ long trọng, với nghi thức chào quốc kỳ mới của Việt Nam.

Tiến tới hiệp định Elysées

Sau buổi lễ ký kết trên chiến hạm Duguay-Trouin, Cựu hoàng Bảo Đại dùng chiếc thuỷ phi cơ bay thẳng qua Bangkok, và sau đó đi Paris, không trở về Hương Cảng nữa. Ông sang Pháp để tiếp tục thương thảo với chính phủ Pháp việc lấy lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Buổi lễ ký kết tại vịnh Hạ Long mới chỉ là bước đầu của tiến trình.

Thật vậy, về phía Pháp; hiệp định Hạ Long còn phải được Quốc hội Pháp phê chuẩn. Nhưng dư luận bên Pháp nói chung, chống đối việc làm của ông Bollaert, không chấp nhận trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam, vì họ xem Nam Kỳ là một phần lãnh thổ của họ, “bất khả nhượng”. Đó cũng là luận điệu của đa số người Pháp sống tại Việt Nam. Còn về phía Việt Nam, nghị định thư vẫn là một văn kiện không chấp nhận được, vì nước Việt Nam mang tiếng là “độc lập”, nhưng vì “trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp”nên vẫn không có quân đội riêng, không có nền ngoại giao riêng, không có tài chánh riêng, v.v…

Ba ngày sau khi hiệp định được ký kết tại vịnh Hạ Long, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Paul Coste-Floret tuyên bố trước Quốc hội nhấn mạnh đến việc không bỏ Nam Kỳ, và nhắc lại những quyền hành của Liên hiệp Pháp. Bảo Đại viết trong hồi ký:

Khi lời tuyên bố ấy bay đến Sài Gòn, đó là một tai hoạ. Chúng tôi không còn ở vị trí năm 1945 nữa, mà trở về hiệp ước năm 1884… Thật vô lý, không ai hiểu nổi nữa. Việt Minh được lợi: “Thấy chưa, chúng ta không thể tin vào Pháp được.” Bọn thực dân ăn mừng. (35)

Phải chờ qua tháng 8, 1948, hơn hai tháng sau ngày ký hiệp định Hạ Long, tình trạng bế tắc mới bắt đầu khai thông. Chính phủ Schuman đổ, chính phủ André Marie thay, ông Coste-Floret vẫn giữ chức bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại. Ngày 18, tân nội các trình bày đường lối chính trị trước quốc hội, đã ngợi khen Cao uỷ Bollaert và nhắc lại những điều khoản của hiệp định. Quốc hội vẫn chưa chuẩn y hiệp định này, nhưng đã có sự đồng tình. (36)

Chính phủ André Marie tồn tại được hơn một tháng, nên vấn đề Việt Nam vẫn bỏ lửng. Ông Henri Queuille lập tân nội các ngày 11 tháng 9, 1948.

Cao uỷ Bollaert còn gặp Cựu hoàng Bảo Đại hai lần nữa để thúc giục ông trở về Việt Nam, nhưng Cựu hoàng nhất định không về khi chưa đạt được nguyện vọng độc lập và thống nhất thực sự. Ông Bollaert, cũng thất vọng vì thái độ của chính phủ Pháp, đã không xin tái nhiệm nữa. Cao uỷ mới, được bổ nhiệm ngày 20 tháng 10, 1948, là ông Léon Pignon, đã từng làm việc lâu năm ở Đông Dương, đặc biệt đã làm cố vấn chính trị cho Sainteny năm 1945.

Trước khi đi Sài Gòn nhận nhiệm sở, Pignon gặp Cựu hoàng, cũng chỉ để giục ông trở về Việt Nam, vẫn không hiệu quả.

Sau nhiều cuộc tiếp xúc với các yếu nhân trong chính giới Pháp, kể cả Tổng thống Vincent Auriol mời dự tiệc ở lâu đài Rambouillet, Cựu hoàng vẫn chưa đạt được tiến bộ khả quan nào trong đòi hỏi của mình.

Qua tháng 12, Cao uỷ Pignon lại qua Paris gặp Cựu hoàng, và lần này ông tỏ vẻ lạc quan hơn. Ông yêu cầu Cựu hoàng tiếp xúc với thủ tướng Queuille. Và thế là, sau sáu tháng dậm chân tại chỗ, công việc bắt đầu chạy.

Vào trung tuần tháng giêng năm 1949, cuộc đàm phán bắt đầu. Rất nhanh chóng, nó thành hình rõ rệt. Sự đe doạ của cộng sản Tàu càng củng cố thêm cho nó, vì quân đội của Mao Trạch Đông đã tiến vào Bắc Kinh ngày 22 tháng giêng. Một hội đồng hỗn hợp được thành lập ngày 12 tháng 2 để nghiên cứu từng điểm một ghi trong bản thể chế [nghị định thư] ở vịnh Hạ Long.

Hội đồng này gồm phái đoàn Pháp do ông Herzog cầm đầu, và phái đoàn Việt Nam do Hoàng thân Bửu Lộc làm trưởng phái đoàn, gồm các ông Nguyễn Đắc Khê, Phan Huy Đán, Phạm Văn Bính, Trương Công Cừu, Nguyễn Quốc Định, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Mạnh Đôn. Ông Trần Văn Hữu từ Việt Nam qua theo dõi cuộc đàm phán, đại diện cho Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Các nhà chuyên môn kết thúc các bản tường trình ngày 28 tháng 2. (38)

Hiệp định Elysées và sự hình thành của Quốc gia Việt Nam

Ngày 8 tháng 3, 1949, một buổi lễ long trọng được tổ chức tại điện Elysées, dinh Tổng thống Pháp ở Paris, để ký kết hiệp định mới hoàn thành. Phía Pháp, ngoài Tổng thống Vincent Auriol, còn có Thủ tướng Queuille, và một số bộ trưởng. Phía Việt Nam, bên cạnh Cựu hoàng Bảo Đại là Hoàng thân Vĩnh Cẩn, Hoàng thân Bửu Lộc, hai ông Trần Văn Hữu và Nguyễn Mạnh Đôn.

Hiệp định Elysées có hình thức ba bức thư trao đổi giữa Tổng thống Pháp kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp Vincent Auriol và Hoàng đế Bảo Đại. Chữ “Hoàng đế”được sử dụng chính thức trong các văn kiện. Nội dung của hiệp định này tóm lược như sau:

Về điều kiện tiên quyết do phía Việt Nam đòi hỏi là thống nhất, Pháp long trọng xác nhận sẽ không chống lại việc Nam Kỳ trở về lãnh thổ của Việt Nam, sau khi qua một số thủ tục hợp với hiến pháp của Cộng hoà Pháp quốc. Pháp hứa sẽ cho tiến hành các thủ tục đó.

Về ngoại giao, Việt Nam vẫn còn bị ràng buộc trong giới hạn của Liên hiệp Pháp, mà Việt Nam là một thành viên. Một giới hạn quan trọng là Việt Nam chỉ được quyền có phái bộ ngoại giao ở một số nước, sau khi được sự đồng ý của chính phủ Pháp.

Về quân sự, Việt Nam có quân đội quốc gia riêng. Quân đội Liên hiệp Pháp được quyền trú đóng trên lãnh thổ Việt Nam ở những địa điểm do hai bên cùng thoả thuận. Trong thời chiến, những phương tiện quân sự của Việt Nam và của Liên hiệp Pháp được đặt dưới quyền điều khiển của một uỷ ban quân sự thường trực, đứng đầu là một tướng lãnh Pháp, vị tham mưu trưởng quân đội Việt Nam sẽ là một thành viên của uỷ ban này.

Những điểm khác đi vào chi tiết các vấn đề chủ quyền nội bộ, tư pháp, văn hoá, kinh tế và tài chánh. (39)

Một tiến bộ quan trọng mà Bảo Đại đã đạt được là Nam Kỳ được trả về cho Việt Nam. Ngoài ra, những điều khoản khác, nhất là về ngoại giao và quân sự, vẫn còn những giới hạn quan trọng cho một nước thực sự độc lập. Bảo Đại viết trong hồi ký:

Từ đây trở đi, tôi đã thu hồi được đất Nam Kỳ, tôi coi như nhiệm vụ của tôi về điều đình đã chấm dứt.
[...]
Sau nữa, thoả hiệp này trước mắt tôi, chỉ là một giai đoạn để tiến tới độc lập hoàn toàn. Sự thành đạt về độc lập như thế đã xảy ra cho các nước lân cận ở Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Miến Điện, Ấn Độ… làm tôi càng tin tưởng trong hy vọng.Tôi tin tưởng rằng thoả ước mùng 8 tháng 3 phải là một yếu tố nhất định đưa đến vãn hồi hoà bình. Hỏi Việt Minh còn có thể đòi hỏi gì nữa khi tôi đã thành công, mà họ thì bị thảm bại ở các hội nghị Fontainebleau và Đà Lạt, vào năm 1946? (40)

Thủ tục pháp lý của Pháp để trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam được thực hiện nhanh chóng, tuy rất phức tạp. Quốc hội Pháp phải bầu ra một đạo luật đặt ra một quốc hội địa phương của Nam Kỳ. Quốc hội địa phương này được nhanh chóng thành lập, gồm 50 đại biểu, cả Pháp lẫn Việt, đã họp để biểu quyết việc sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam. Kết quả 25 phiếu chống, 25 phiếu thuận. Cựu hoàng Bảo Đại đã chuẩn bị bay về nước, huỷ bỏ chuyến đi vì kết quả này.

Hoang mang tột độ, chính phủ cử ông Pignon về gấp Sài Gòn. Ngày 23 tháng 4, Quốc hội địa phương họp lại, thì số phiếu đạt được là 45 phiếu thuận, chỉ còn 5 phiếu chống. Hy vọng của tôi tràn trề. Nền thống nhất đất nước đã được phục hồi. (41)

Ngay sau đó, Cựu hoàng Bảo Đại đáp máy bay về nước sau ba năm xa cách. Ông về thẳng Đà Lạt, được Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và Cao uỷ Pignon đón tiếp.

Ngày 20 tháng 6, 1949, tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin giải nhiệm toàn thể chính phủ lâm thời, và mười ngày sau, 1 tháng 7, Bảo Đại lập chính phủ đầu tiên do ông làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân phó thủ tướng, với ba vị Thủ hiến là Nguyễn Hữu Trí ở Bắc Việt, Pham Văn Giáo ở Trung Việt và Trần Văn Hữu ở Nam Việt.

Giải pháp Bảo Đại được hình thành từ đây.

Thay lời kết

Giải pháp Bảo Đại” cũng chỉ là một bước ngắn trong lịch sử của dân tộc. Mỗi khuynh hướng chính trị có những nhận định và phê phán khác nhau về sự kiện này. Kẻ cho rằng đó chỉ là một chính phủ bù nhìn do Pháp dựng lên để kéo dài nền thống trị tại Việt Nam, người thì xem đó như một chặng đường tiến tới độc lập thật sự mà không cần phải đổ máu, kéo theo bao đổ vỡ trầm trọng trong lòng dân tộc.

Một điều hiển nhiên là Giải pháp Bảo Đại đã không đem lại hoà bình như Cựu hoàng tiên đoán. Chiến tranh vẫn tiếp tục, và càng ngày càng khốc liệt khi Mao Trạch Đông thắng thế, quân Trung Hoa tiến tới biên giới Việt Hoa và giúp cho phe Việt Minh vững mạnh và dần dần thắng thế. Cuộc kháng chiến năm 1946 trở thành cuộc chiến ý thức hệ, giữa hai khối cộng sản và không cộng sản đối đầu trên bình diện thế giới, bắt đầu cuộc “chiến tranh lạnh”. Đảng Cộng sản Việt Nam, mang tên Đảng Lao động, lãnh đạo cuộc chiến tranh chống Pháp, với sự trợ giúp của khối cộng sản quốc tế. Hoa kỳ trước đây vẫn chống việc Pháp lấy lại thuộc địa cũ, nay cũng nhảy vào trợ giúp Pháp về tài chánh vì ý thức được cuộc chiến tại Việt Nam không phải đơn thuần là một cuộc chiến để giải phóng thuộc địa nữa, mà là một điểm nóng của chiến tranh lạnh. Quân đội của Quốc gia Việt Nam mới thành lập còn non yếu, chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Pháp.

Về phương diện chính trị, các thủ tục trả lại độc lập cho Việt Nam kéo dài, các chính phủ kế tiếp gồm nhiều thành phần thân Pháp, làm nản lòng những người quốc gia yêu nước. Sau chính phủ đầu tiên do chính Bảo Đại đứng đầu, những nội các kế tiếp là chinh phủ Nguyễn Phan Long (tháng 1, 1950), Trần Văn Hữu (tháng 7, 1950, rồi tháng 2, 1951), Nguyễn Văn Tâm (tháng 6, 1952), Bửu Lộc (tháng 1, 1954), và Ngô Đình Diệm (tháng 7, 1954).

Hiệp định đình chiến Geneva ngày 20 tháng 7, 1954 chia cắt đất nước, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ còn phân nửa lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17. Cựu hoàng Bảo Đại khi bổ nhiệm ông, đã giao toàn quyền cho ông, và không trở về Việt Nam nữa. Tháng 10, 1955, ông Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại.

Giải pháp Bảo Đại”kết thúc

Phụ đính 3: Hình chụp nguyên bản Tuyên cáo chung, 2 trang. Trang 2 có 8 chữ ký của phái đoàn Nguyễn Văn Xuân, chữ ký của Cao uỷ Bollaert, và chữ ký của Cựu hoàng Bảo Đại. Bản pdf

Phụ đính 4: Hình chụp nguyên bản Nghị định thư đính kèm Tuyên cáo chung, 4 trang. Trang cuối có 8 chữ ký của phái đoàn Nguyễn Văn Xuân, chữ ký của Cao uỷ Bollaert, và chữ ký của Cựu hoàng Bảo Đại. Bản pdf


Bài do tác giả gửi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

(22) Instructions de l’Amiral d’Argenlieu (de Chandernagor), le 15-09, 1945. CAOM (Centre d’Archives d’Outre-mer, Trung tâm Văn khố Hải ngoại của Pháp tại Aix-en-Provence), HCI, 62/218.
(23) Journal Officiel de la Fédération Indochinoise du 11 juillet 1946, sur la convention concernant la République de Cochinchine. CAOM, HCI, 62/218
(24) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 226
(25) Bảo Đại, sđd, tr. 278
(26/) Discours prononcé par M. Bollaert, Haut Commissaire de France en Indochine, à Hadong (Tonkin), le 10-9-47. La documentation française, hors série N° 117 du 13 septembre 1947. CAOM, HCI, 43/166.
(27) Bảo Đại, sđd, tr. 285
(28) Bảo Đại, sđd, tr. 294
(29) Bảo Đại, sđd, tr. 298
(30) Bảo Đại, sđd, tr. 301
(31) “Je crois qu’il a surtout peur d’être “roulé” par la France. Son entourage, depuis son retour à HONGKONG, le 15 mars, l’incite évidemment à renier sa signature donnée en Baie d’Along le 7 décembre dernier. Mais cette attitude négative trahit un certain embarras, qui ne m’a pas échappé lors de la visite que, sur ses instructions, est venu me faire S.E. NGO DINH DIEM.” Rapport politique du mois de mars 1948, signé Bollaert. N° 614 CP/SAT, 11 pages. SECRET. CAOM, HCI 93/310
(32) Bảo Đại, sđd, tr. 313
(33) Bảo Đại, sđd, tr. 316
(34) “Nous avons renoué des liens rompus brutalement à la suite de l’agression du 19 décembre, dans des conditions honorables avec des représentants qualifiés, sur une base que l’on peut espérer solide. Un pouvoir politique s’est installé avec qui nous aurons maintenant à élaborer un nouveau statut tenant compte des aspirations nationales et des intérêts essentiels de la France.” Rapport politique du mois de juin 1948. N° 1071 CP/SAT, 12 pages. SECRET. CAOM, HCI 93/310
(35) Bảo Đại, sđd, tr. 322
(36) Agence France Presse: Information et Documentation. Bulletin hebdomadaire du 28-08, 1948: Conséquence de la déclaration gouvernementale du 19 août, signé J. H. G. CAOM, Bib, AOM, 20266/1948
(37) Agence France Presse: Information et Documentation. Bulletin hebdomadaire du 06, 11, 1948: Les premières répercussions de la nomination de M. Pignon. CAOM, Bib, AOM, /20266/1948
(38) Bảo Đại, sđd, tr. 341
(39) Tài liệu tiếng Pháp, nguyên bản hiệp định Elysées, in lại trong hồi ký Bảo Đại, sđd, tr. 599
(40) Bảo Đại, sđd, tr. 343
(41) Bảo Đại, sđd, tr. 345

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.