Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 2, 2008

Thể chế Tự do dân chủ !







http://blog.360.yahoo.com/blog-fkTaeFY2dbKNOic32.Yv?p=14720

March 15, 2008

Sự hình thành của giải pháp Bảo Đại

Phạm Ngọc Lân

PNL Bài này được viết theo yêu cầu của vài người bạn muốn biết thêm về một giai đoạn hệ trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Đây không phải là một công trình nghiên cứu sử học, mà chỉ là một bài viết có tính cách phổ thông. Sự giản lược của một bài như thế sẽ có những thiếu sót không thể tránh khỏi. Xin được đón nhận mọi ý kiến của quý độc giả.

Giải pháp Bảo Đại” (có lẽ được dịch từ tiếng Pháp “la solution Bảo Đại”), nhen nhúm từ đầu năm 1947 khi Cựu hoàng Bảo Đại lưu vong ở Hương Cảng (Hong Kong – DCV), và thành hình vào năm 1949 khi ông về nước sau khi ký hiệp định Elysées (Paris) với Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Theo hiệp ước này, Pháp công nhận Việt Nam là một nước “độc lập trong khuôn khổ của Liên Hiệp Pháp”, và Nam Kỳ trở về lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất.

Bối cảnh lịch sử

Tưởng cũng nên nhắc lại, dù chỉ rất sơ lược, lịch sử cận đại của Việt Nam để hiểu rõ trong trường hợp nào giải pháp Bảo Đại ra đời.

Người Pháp đặt nền thống trị lên toàn cõi Đông Dương trong nửa sau của thế kỷ 19, chia ra làm năm “nước”, trong đó ba miền của Việt Nam bị cắt thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với những quy chế khác nhau. Nam Kỳ (Cochinchine) là một thuộc địa, có nghĩa rằng đó là “đất Pháp”, còn Bắc Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam) theo hai chế độ bảo hộ hơi khác nhau. Vẫn có Hoàng đế và triều đình, nhưng mọi quyết định đều qua tay một khâm sứ, cai quản một kỳ, và một toàn quyền, cai trị toàn bộ Đông Dương. Nên chú ý rằng hai từ Tonkin và Cochinchine là do người Pháp đặt ra, không phải dịch từ tiếng Việt, còn Annam là phiên âm của từ An Nam, do người Trung Hoa đặt ra. Tên “Việt Nam”hoàn toàn không được dùng đến trong thời kỳ thuộc địa này.

Thế chiến thứ hai bùng nổ năm 1939, và qua năm sau, Pháp bị Đức xâm lăng, phải đầu hàng và chia nửa nước phía Bắc cho Đức cai trị. Ở Viễn Đông, Nhật cũng chiếm đóng những vùng rộng lớn và chính quyền thuộc địa Pháp đã bắt buộc phải ký với Nhật một thoả hiệp cho phép Nhật dùng Đông Dương làm nơi đóng quân và làm căn cứ đánh chiếm các nơi khác trong vùng, để đổi lại việc Nhật để nguyên cho Pháp cai trị Đông Dương như trước.

Năm 1944, Hoa Kỳ và đồng minh đổ bộ lên Âu châu, và dần dần chiếm lại những vùng Đức xâm lấn. Nước Pháp được giải phóng và tướng de Gaulle về nước cầm quyền, thiết lập một chính phủ lâm thời chống lại phe Trục (Đức, Ý và Nhật). Chính quyền thuộc địa ở Đông Dương bỗng nhiên lâm vào tình trạng khó xử: quân đội Nhật có mặt đông đảo ở Đông Dương, trước kia là “thân hữu”, bỗng trở thành thù nghịch!

Và việc gì phải đến đã đến: Nhật quyết định cướp chính quyền ở Đông Dương để củng cố một địa thế chiến lược, mong vớt vát tình thế nguy ngập của họ trong vùng Đông Á. Đêm mùng 9 tháng 3, 1945, quân đội Nhật đồng loạt đánh chiếm tất cả vị trí hành chánh và quân sự của Pháp, giam giữ tất cả quan chức Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Quân đội Pháp phần lớn bị bắt làm tù binh, một số ít chạy được qua Tàu.

Chính quyền bảo hộ đột nhiên không còn nữa. Với sự khuyến khích của Nhật, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11 tháng 3, 1945, hủy bỏ tất cả các hiệp định đã ký kết với Pháp trước đó. Triều đình được thay thế bằng một nội các theo kiểu các nước tây phương, với một Thủ tướng và các Bộ trưởng. Đó là chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ tân thời đầu tiên của Việt Nam.

Nhưng chính phủ đó còn quá non yếu, phải dựa vào Nhật để tồn tại, và chỉ sống được vài tháng. Khi Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8, 1945, Việt Minh đã chụp được thời cơ lên nắm chính quyền vào những ngày sau đó, và ông Hồ Chí Minh từ rừng núi Việt Bắc về Hà Nội, thành lập chính phủ lâm thời, và làm lễ tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9-1945. Hoàng đế Bảo Đại thoái vị ngày 23 tháng 8, và trở thành công dân Vĩnh Thuỵ, nhận lời mời của tân chính phủ ra Hà Nội làm cố vấn tối cao, dù lúc đó ông chưa biết Hồ Chí Minh là ai.

Đó là việc nội bộ của Việt Nam. Về phương diện quốc tế, phe Đồng Minh hội họp ở Postdam (Đức) từ tháng 07/1945 để định kế hoạch giải giới quân đội Nhật sau khi Nhật đầu hàng. Riêng tại Đông Dương, họ giao cho quân đội Anh giải giới phía nam vĩ tuyến 16 (phía nam Đà Nẵng), và quân đội của Trung Hoa Dân Quốc, phía bắc vĩ tuyến này. Pháp không được tham dự hội nghị Postdam, không được hỏi ý kiến, và cũng không biết gì về quyết định này. Rõ ràng là Mỹ không muốn cho Pháp lấy lại Đông Dương làm thuộc địa như trước.

Nhưng chính phủ Anh cũng không muốn phải bận tâm lâu dài về Đông Dương, vì họ còn phải lo giải quyết những vấn đề thuộc địa của họ, nên quân đội Anh đã cho phép quân đội Pháp tháp tùng khi họ vào miền nam Việt Nam tháng 09/1945. Và chỉ vài tháng sau, Pháp đã tái lập chính quyền thuộc địa ở phía nam vĩ tuyến 16, khi quân Anh đã hoàn tất nhiệm vụ và rút về.

Tướng de Gaulle rất quyết tâm trong việc khôi phục uy tín của Pháp đã bị sứt mẻ trầm trọng vì thua trận, nên chủ trương phải nắm lại các thuộc địa, dù có phải thay đổi hình thức và danh xưng, đặt ra những tên mới như “Liên bang Đông dương”, hay “Liên hiệp Pháp”. Và “để vãn hồi an ninh trật tự”trên toàn cõi Đông Dương, tướng Leclerc, người hùng giải phóng Paris, được phái qua vùng này, cầm đầu đoàn quân viễn chinh mới. Phía nam vĩ tuyến 16, Leclerc không gặp trở ngại nào vì quân đội Anh đã rút đi nhường chỗ cho Pháp như đã nói trên. Nhưng ở phía bắc, quân đội Trung Hoa Dân Quốc có mặt để giải giới quân Nhật không dễ dàng nhường chỗ cho Pháp. Paris phải thương thuyết ráo riết với Trùng Khánh (lúc đó là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc) để quân đội Pháp được thay thế quân đội Trung Hoa. Cuối cùng, một thoả ước được ký kết ngày 28 tháng 2-1946 giữa Pháp và Trung Hoa, cho phép quân đội Pháp đổ bộ lên miền Bắc để thay quân đội Trung Hoa, đánh đổi một số nhượng bộ quan trọng của Pháp cho Trung Hoa.

Jean Sainteny và Hồ chí Minh (06/03/1946)
Nguồn: boomer-cafe.net

Đồng thời, để cuộc đổ bộ có thể xảy ra êm thắm, không gặp sức chống cự của Việt Minh đang nắm chính quyền tại miền Bắc, Pháp giao cho Sainteny, Cao uỷ Pháp tại Bắc Kỳ, đàm phán mật với Hồ Chí Minh trong nhiều tháng. Kết quả là ngày 6 tháng 3-1946, một hiệp định sơ bộ được ký kết giữa một bên là Sainteny, và một bên là Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh. Ông Vũ Hồng Khanh là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, có mặt trong chính phủ liên hiệp lúc đó.

Qua hiệp định này, Pháp công nhận Việt Nam là một “Quốc gia tự do (Etat libre)”nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp. Đổi lại, Việt Nam tuyên bố sẽ đón tiếp một cách thân thiện quân đội Pháp khi họ đến thay thế quân đội Trung Hoa. Sẽ có những cuộc đàm phán, dự trù ở Paris, để cụ thể hoá việc trao trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Nên chú ý rằng hai chữ “độc lập”không được nhắc đến trong văn bản hiệp định.

Ông Hồ Chí Minh bị chỉ trích kịch liệt vì hiệp định này, không những từ phía các đảng phái quốc gia, mà cả từ phía một số đồng đội của ông trong mặt trận Việt Minh, vì trong ngày tuyên bố độc lập 2 tháng 9, mọi người đều hiểu rằng sẽ không bao giờ ông thương lượng với Pháp. Vậy mà chỉ sau mấy tháng, Hà Nội đã phải “đón tiếp”quân đội Pháp, để đổi lấy sự công nhận một “quốc gia tự do”. Ngay cả hai chữ “độc lập”cũng không được nhắc đến. Ông Hồ Chí Minh bào chữa cho việc này là phải tạm thời chấp nhận quân đội Pháp để có thể thoát nạn chiếm đóng của quân đội Tàu, sẽ kéo dài không biết đến bao giờ.

Trước khi mở những cuộc đàm phán chính thức ở Paris như dự trù, một cuộc đàm phán sơ bộ diễn ra tại Đà Lạt vào tháng 4-1946. Phái đoàn Việt Nam được cầm đầu bởi ông Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh), lúc đó làm bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ liên hiệp. Nhưng cuộc đàm phán không đem lại kết quả nào.

Sau đó, ngày 1 tháng 6-1946, phái đoàn Phạm Văn Đồng lên đường qua Pháp để dự hội nghị Paris, đồng thời ông Hồ Chí Minh cũng được Pháp mời qua như một quốc khách. Trên đường đi, phái đoàn nghe tin Pháp công nhận “Nước cộng hoà tự trị Nam Kỳ”. Sự kiện này trái ngược hẳn với một đòi hỏi bất khả nhượng của phía Việt Nam, đó là sự thống nhất đất nước, nghĩa là Nam Kỳ phải là một phần của quốc gia tương lai. Đây sẽ là nguyên do chính đưa đến đổ vỡ của hội nghị sắp tới.

Vẫn còn trên đường đến Pháp thì nội các Pháp sụp đổ, nội các mới chưa lên, nên thay vì đến Paris, phái đoàn được đưa thẳng đến thành phố biển Biarritz để nghỉ ngơi và chờ đợi. Sau đó, hội nghị đã không được tổ chức ở Paris, mà khai diễn ngày 6 tháng 7-1946 ở Fontainebleau, cách Paris 50 km về phía đông nam.

Qua tháng 9, hội nghị Fontainebleau đổ vỡ, phái đoàn Phạm Văn Đồng bỏ về, ông Hồ Chí Minh ở lại Paris để tìm cách cứu vãn tình thế, và cuối cùng ký với bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet một “modus vivendi”ngày 14 tháng 9-1946. Đây là một “tạm ước”với mục đích xoa dịu những căng thẳng tại Việt Nam, trong khi chờ đợi tổ chức một hội nghị khác. Nhưng làm sao có thể dung hoà được khi một bên đòi hỏi độc lập và thống nhất lãnh thổ, một bên kiên quyết bảo vệ quyền lợi về thuộc địa, bằng cách không chịu trả Nam Kỳ về cho Việt Nam?

Tháng 11, một vụ đụng độ nhỏ ở Hải Phòng về chuyện quan thuế đưa đến một cuộc pháo kích của Pháp vào thánh phố làm hàng ngàn người chết. Vụ thảm sát này mở đầu cho những căng thẳng càng ngày càng thêm trầm trọng, để cuối cùng đi đến chiến tranh ngày 19 tháng 12-1946 tại Hà Nội. Chính phủ Hồ Chí Minh rút lên căn cứ bí mật ở chiến khu vùng rừng núi Việt Bắc, và kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Vai trò của Bảo Đại trước khi chiến tranh bùng nổ cuối năm 1946

Hoàng thân Vĩnh Thụy sinh năm 1913, con Hoàng đế Khải Định (đó là theo chính sử, theo huyền sử thì ông Khải Định không có con). Khi lên 9, cậu bé được gửi sang Pháp học, sau khi được tấn phong làm Hoàng Thái tử, sẽ nối ngôi Hoàng đế. Cậu được nuôi nấng dạy dỗ bởi ông Charles, một công chức cao cấp của Pháp đã về hưu. Trước đó ông là Khâm sứ Trung Kỳ, rồi quyền Toàn quyền Đông Dương. Lần đầu tiên trong lịch sử triều Nguyễn, một hoàng đế tương lai được hấp thụ nền văn hoá tây phương.

Trong hồi ký “Con rồng Việt Nam”xuất bản năm 1990, sau cuốn tiếng Pháp “Le dragon d’Annam”xuất bản năm 1980, ông Bảo Đại tâm sự:

Khi bắt đầu nhận nuôi tôi, cụ bà Charles may âu phục cho tôi mặc. Từ đó, tôi sống như một tên Tây con. Tôi hoà đồng nhanh chóng vào tập quán của Pháp, cũng như về ẩm thực. (1)

Năm 1925, Hoàng đế Khải Định băng hà, cậu bé 12 tuổi về nước lên ngôi, niên hiệu Bảo Đại, sau đó trở qua Pháp tiếp tục học hành. Năm 1932, 19 tuổi, Bảo Đại về nước cầm quyền. Ông muốn cải cách triều đình, trả tự do cho các cung phi của Khải Định, bỏ bớt tục lệ phức tạp trong hoàng cung. Ông muốn trẻ trung hoá guồng máy, dùng hai nhân vật trẻ là Phạm Quỳnh (do ông Charles giới thiệu) và Ngô Đình Diệm (do ông Nguyễn Hữu Bài đề cử). Nhưng ông tỏ ra bất lực trước sự khống chế của guồng máy cai trị Pháp, và chỉ sau bốn tháng, ông Ngô Đình Diệm, lúc đó 31 tuổi, từ chức Thượng thư Bộ Lại, và được thay thế bởi Phạm Quỳnh.

Từ đó, tôi để mặc cho Phạm Quỳnh lèo lái, múa may trên sân khấu. (2)

Năm 1934, Bảo Đại kết hôn với một thiếu nữ miền Nam, công giáo, cũng du học bên Pháp về, và tấn phong làm Nam Phương Hoàng hậu, đi ngược lại với tập quán của triều Nguyễn không phong Hoàng hậu khi vua còn sống.

Phải qua biến cố ngày 9 tháng 3-1945, khi người Pháp bị Nhật đảo chính, Hoàng đế Bảo Đại mới có cơ hội trở lại chính trường. Được sự hỗ trợ của Nhật, ông ký cùng toàn thể nhân viên Cơ mật viện một tuyên ngôn độc lập ngày 11 tháng 3, 1945:

Chiếu tình hình thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.
[...]
Huế, ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại. (3)

Sau đó, ông nhờ đại sứ Nhật Yokoyama tìm ông Ngô Đình Diệm đang ở Sài Gòn để về làm thủ tướng.

Ngày 19 tháng 3, tôi báo cho Phạm Quỳnh biết tôi sẽ tự tay đảm trách quyền lãnh đạo quốc gia. Ý thức được tình thế, Phạm Quỳnh liền đệ đơn xin từ chức tập thể của cả Nội các. (4)

Dù ông Ngô Đình Diệm mang tiếng là thân Nhật, nhưng người Nhật đã không tìm ông Diệm theo lời yêu cầu của Bảo Đại. Sau ba tuần lễ chờ đợi, Bảo Đại đành phải nhờ họ mời sử gia Trần Trọng Kim đang được Nhật cho lánh nạn ở Singapore vì trước đây bị Pháp đe dọa. Và ngày 17 tháng 4, 1945, chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt với mười bộ trưởng phần đông trẻ và theo tây học, và chọn quốc kỳ là cờ “quẻ ly”, nền vàng với ba sọc đỏ, sọc giữa đứt quãng. Chính phủ này chỉ tồn tại chưa được bốn tháng, đã từ chức khi Nhật thua trận tháng 8, và Việt Minh đã chụp được thời cơ để lên nắm chính quyền ngày 19 tháng 8, 1945. Họ dùng làm quốc kỳ cờ đỏ sao vàng là cờ mặt trận Việt Minh đã dùng trước đó.

Ngày 22 tháng 8, Bảo Đại nhận được một điện văn từ Hà Nội:

“Trước ý chí đồng nhứt của toàn thể dân chúng Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu vãn nền độc lập quốc gia, chúng tôi thành kính xin đức Hoàng đế hãy làm một cử chỉ lịch sử để từ bỏ ngai vàng.”
Bức điện này được ký dưới là “Ủy ban nhân dân cứu quốc”đại diện cho tất cả đảng phái, và tầng lớp dân chúng. (5)

Dù không biết “Uỷ ban nhân dân cứu quốc” là ai, Bảo Đại chấp nhận thoái vị “vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, vì nền độc lập của Việt Nam”và chiều ngày 25 tháng 8, trước hàng ngàn người tụ hội trước Ngọ Môn, ông đọc bản tuyên ngôn thoái vị, đoạn cuối như sau:

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao điều cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
Việt Nam độc lập muôn năm.
Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm.
Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945. (6)

Ngày 4 tháng 9, công dân Vĩnh Thuỵ rời Huế đi Hà Nội. Trong buổi gặp riêng ông Hồ Chí Minh, ông được mời làm Tối cao Cố vấn cho chính phủ, và có nhận xét như sau:

Hồ Chí Minh giống như một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ vịnh phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hoà nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. (8)

Bảo Đại được Hồ Chí Minh tiếp đón như thượng khách, mời dự tất cả những buổi gặp gỡ các yếu nhân quốc tế. Nhưng chỉ được vài tuần, ông được đưa ra Sầm Sơn, bãi biển nghỉ mát thuộc tỉnh Thanh Hoá, hoàn toàn cô lập với Hà Nội, và chỉ trở về vào giữa tháng 1 năm 1946, sau khi đã trúng cử đại biểu tỉnh Thanh Hoá, dù ông chẳng được đi bầu, cũng không biết đến cả ngày giờ bầu cử!

Sau ngày ký kết hiệp định sơ bộ 6 tháng 3, 1946, Bảo Đại được Hồ Chí Minh gửi qua Trùng Khánh cùng với một phái đoàn chính phủ, tại đây ông đã gặp Tưởng Giới Thạch. Khi phái đoàn trở về Côn Minh để lấy máy bay về Hà Nội, ông nhận được điện tín của Hồ Chí Minh yêu cầu ông đùng về, lúc sắp lên máy bay. Hành lý đã đưa lên máy bay, Bảo Đại ở lại Côn Minh không tiền bạc, không hành trang. May sao ông gặp một luật sư người Hoa tên Yu, từng học ở Paris, mời về nhà cho tá túc. Sau đó ông lại được Trung Hoa Quốc dân đảng mời lên Trùng Khánh, và khi chinh phủ Tưởng Giới Thạch dời đô về Nam Kinh, đề nghị ông cùng lên đó. Bảo Đại không muốn dựa vào chính phủ này, nên tìm cách đi Hương Cảng, vẫn phải nhờ đến ông Yu làm mạnh thường quân. Ông đến Hương Cảng ngày 15 tháng 9, 1946.

Tại đây, ông tình cờ gặp một người Pháp, chính là giám đốc một chi nhánh Nhà Băng Đông Dương mà ông đã biết ở Việt Nam, ứng cho một số tiền, và sau đó lại được một cơ quan truyền giáo của Pháp cho vay tiền, nên từ đấy bắt đầu một nếp sống vương giả.

Phạm Ngọc Thạch (1909-1968)
Nguồn: cimsi.org.vn

Giữa tháng 11, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một người thân tín của Hồ Chí Minh, từ Việt Nam đến thăm ông, biếu mấy lạng vàng của Hồ Chí Minh gửi tặng. Bảo Đại hỏi thăm tình hình trong nước, và khi ngỏ ý muốn trở về Hà Nội vào đầu năm 1947, lúc mở lại cuộc hội nghị được dự trù trong modus vivendi đuợc Hồ Chí Minh ký với Marius Moutet, thì được Phạm Ngọc Thạch cho biết là Hồ Chí Minh muốn Bảo Đại ở lại Hương Cảng. Bảo Đại rút kết luận sau buổi viếng thăm của Phạm Ngọc Thạch như sau:

Đối với tôi, sự việc đã rõ rệt. Hồ Chí Minh chẳng ưa gì tôi. Trước đây, ông ta muốn đẩy tôi đi khi người Pháp quay trở lại, và giữ tôi ở thật xa khi có hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau, thì bây giờ ông cũng không mong tôi trở về khi các cuộc bàn cãi với Pháp đang thực hiện. (9)

Chỉ vài ngày sau, Bảo Đại tiếp một phái đoàn gồm ba lãnh tụ phe quốc gia: Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc Dân Đảng) và Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, từ Quảng Châu qua. Sau đó Trần Trọng Kim cũng từ Quảng Châu qua yết kiến.

Trong nước, chiến tranh bùng nổ ngày 19 tháng 12, 1946.

Vai trò của những người quốc gia trong giải pháp Bảo Đại

Như đã nói trên đây, một số lãnh tụ đảng phái quốc gia đã đến gặp Bảo Đại khi biết ông đang ở Hương Cảng. Tất cả đều yêu cầu ông trở lại chính trường, gánh vác việc nước, vì họ không thấy ai khác có thể điều đình được với Pháp.

Từ đầu thập niên 40, đã có nhiều người trong phe quốc gia phải chạy qua lánh nạn trên đất Trung Hoa, thời kỳ đầu để thoát khỏi khủng bố của Pháp, thời kỳ sau để khỏi bị Việt Minh tiêu diệt.

Trong giai đoạn này, ở miền Bắc, nhiều đảng phái quốc gia hoạt động tích cực. Xin lược qua vài đảng phái đã có đóng góp trong giải pháp Bảo Đại sau này. Việt Nam Quốc dân đảng thành lập năm 1927 do hai ông Nguyễn Khắc Nhu và Nguyễn Thái Học, qua năm 1930 tổ chức khởi nghĩa, thất bại; đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng mười hai đảng viên lãnh đạo lên đoạn đầu đài ở Yên Báy, phần đông còn lại hoặc bị đi tù Côn Đảo, hoặc chạy qua Trung Hoa lánh nạn (10). Đại Việt Quốc dân đảng do ông Trương Tử Anh lập ra năm 1938, lấy chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn làm căn bản, hoạt động chủ yếu trong giới sinh viên học sinh. Bị Pháp bắt hai lần trong đệ nhị thế chiến, ông mất tích cuối năm 1946, có lẽ bị Việt Minh thủ tiêu (11). Đại Việt Duy Dân do Lý Đông A thành lập, lấy chủ nghĩa Duy Dân làm đường lối. Ông Lý Đông A cũng mất tích sau khi lập chiến khu ở Hoà Bình năm 1946 chống lại Việt Minh (12).

Đại Việt Dân Chính do ông Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh) thành lập cuối thập niên 30. Năm 1941, ông bị Pháp lùng bắt và phải trốn qua Trung Hoa. Tại đây, ông đã sáp nhập Đại Việt Dân Chính vào Việt Nam Quốc dân đảng, và ông trở thành một lãnh tụ quan trọng của đảng này (13).

Một tổ chức chính trị quốc gia khác là Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Cách, để phân biệt với Việt Quốc là Việt Nam Quốc dân đảng) được thành lập tại Liễu Châu bên Tàu năm 1942, gồm bảy người nòng cốt trong đó có ông Trương Bội Công, một người Việt nhưng là một sĩ quan cao cấp trong quân đội Trung Hoa, ông Nguyễn Hải Thần, một nhà cách mạng lão thành sống lưu vong lâu năm trên đất Tàu, và hai ông Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ thuộc Việt Nam Quốc dân đảng. Đến năm 1944, theo đề nghị của ông Trương Phát Khuê, tư lệnh Đệ tứ quân khu của Trung Hoa, Việt Cách được tổ chức lại với sự tham dự của ông Hồ Chí Minh và vài nhân vật khác của Việt Minh. Nhưng sau đó, Hồ Chí Minh bỏ về nước và không còn tham gia tổ chức này nữa.

Cuối năm 1945, khi quân đội Trung Hoa từ các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây kéo qua Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, ông Nguyễn Hải Thần về theo với quân Việt Cách, ông Vũ Hồng Khanh về theo cầm đầu quân Việt Quốc. Cả hai lực lượng này chống lại chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng cuối cùng, dưới sức ép của tướng Trung Hoa, hai phe đối nghịch Việt Minh và quốc gia vẫn phải ngồi chung trong một chính phủ liên hiệp vào đầu năm 1946. Các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh đều giữ những chức vụ quan trọng. Vũ Hồng Khanh cùng với Hồ Chí Minh ký với Pháp hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, 1946, còn Nguyễn Tường Tam dẫn đầu phái đoàn của Việt Nam tham dư hội nghị Đà Lạt tháng 4, 1946, mục đích bàn với Pháp về việc trả lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Như đã nói trên, hội nghị này có mục đích chuẩn bị cho hội nghị sẽ họp bên Pháp, nhưng cả hai đều thất bại.

Chính phủ liên hiệp chỉ có tính cách gượng ép, giữa hai phe cộng sản quốc gia đã có mâu thuẫn trầm trọng từ lâu. Và ngay khi quân Trung Hoa rút đi nhường chỗ cho quân Pháp thay thế, Việt Minh công khai tấn công các lưc lượng võ trang của các đảng phái quốc gia. Phe quốc gia yếu thế, đành rút qua biên giới Trung Hoa.

Sau ngày chiến tranh bùng nổ tháng 12, 1946, các lãnh tụ quốc gia lưu vong ở Trung Hoa liền tìm đến Cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó đang ở Hương Cảng, yêu cầu ông đứng ra làm biểu tượng quy tụ phe quốc gia để điều đình với Pháp việc trả lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Hồi ký của Bảo Đại nói một cách tổng quát như sau:

Trong số khách thăm viếng này, người thì đến để theo phò, người thì đến để thăm dò đường lối cho Pháp hay cho nước khác. Bác sĩ Phan Huy Đán, luật sư Đinh Xuân Quảng, cả hai đều thuộc phe xã hội, thêm Việt Nam Quốc Dân Đảng Trần Văn Tuyên, đều từ Quảng Châu sang. Người em họ trung thành với tôi, Vĩnh Cẩn, cùng người em khác trẻ hơn, là tay đá banh nổi tiếng Vĩnh Tường, và Phan Văn Giáo tạo thành cái nhân vĩnh viễn [thường trực] thân cận. Rồi đến quý vị khác khá danh tiếng như Bác sĩ Lê Văn Hoạch, thuộc nhóm Cao Đài, cựu phó thủ tướng Nam Bộ, Phạm Văn Bính, Ngô Đình Diệm trước tôi tưởng là tai mắt của Mỹ, Phạm Công Tắc, giáo chủ Tây Ninh, Lê Văn Soái, tướng Hoà Hảo, v.v… Tất cả các nhân vật đó đều đưa ra ý kiến và đồng nhứt về chính trị, nhấn mạnh là tôi phải trở về, để đem lại hoà bình cho đất nước. (14)

Trong thực tế, những cuộc vận động này kéo dài suốt năm 1947, có thể lược kể qua nhiều giai đoạn.

1. Tại Thượng Hải, bảy người họp nhau làm một nhóm, gồm Lưu Đức Trung, Phan Huy Đán, Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Hợi và Trương Bảo Sơn. (15)

Nhóm này tích cực vận động cho giải pháp Bảo Đại. Ngày 3 tháng 1, 1947, ba ông Đinh Xuân Quảng, Phan Huy Đán và Trần Văn Hợi đến Hương Cảng găp Cựu hoàng. Cựu thủ tướng Trần Trọng Kim, đến Hương Cảng trước đó, cũng làm việc đắc lực với Cựu hoàng, trong việc liên lạc với phái viên của Pháp là ông Cousseau. Đầu tháng 2, Bảo Đại cử ba ông Trần Trọng Kim, Phan Huy Đán và Đinh Xuân Quảng về nước vận động cho ông trở về chấp chính. (16)

2. Trong khi đó, tại Nam Kinh, ngày 17 tháng 2, 1947, Mặt trận Quốc gia Thống nhất toàn quốc được thành lập bởi năm đại biểu các đảng phái và hội đoàn: Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, Nguyễn Tường Tam, lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Nguyễn Bảo Toàn từ trong nước ra, đại diện các đảng phái Nam bộ, Lưu Đức Trung, một mạnh thường quân của các đảng phái lưu vong, lãnh tụ của Việt Nam Dân chúng Vận động đoàn, và Trần Văn Tuyên, bí danh Trần Côn, lãnh tụ Việt Nam Thanh niên đoàn. (17)

Mặt trận ra tuyên ngôn gửi đồng bào toàn quốc, vận động với Bảo Đại để ông đứng ra cầm đầu phong trào quốc gia, tung truyền đơn kêu gọi Việt Minh quay về với chính nghĩa quốc gia. Một phái đoàn được Tổng thống Tưởng Giới Thạch tiếp kiến, nhưng cũng không có kết quả cụ thể.

Bảo Đại không có nhiều thiện cảm với những nhân vật của Mặt Trận này. (18)

3. Bảo Đại lập văn phòng làm việc, với sự cộng tác của Lưu Đức Trung, Trần Văn Tuyên, và sau đó, thường trực có Phan Văn Giáo và Hoàng thân Vĩnh Cẩn. Ông cho phổ biến một chính cương ba điểm về chế độ quân chủ lập hiến (Dân tộc độc lập và thống nhất, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc). Văn phòng cũng tổ chức họp báo để ông tuyên bố quan điểm về các đảng phái quốc gia, Việt Minh, cộng sản, Hồ Chí Minh, Pháp và các nước khác. (19)

4. Tháng 9, 1947, sau nhiều tiếp xúc với đại diện của Pháp tại Hương Cảng (sẽ nói đến trong phần sau), và sau khi nắm chắc sự ủng hộ của đa số trí thức trong nước, Bảo Đại triệu tập các đại biểu ở trong và ngoài nước về Hương Cảng họp hội nghị kéo dài một tuần, bắt đầu từ ngày 9 tháng 9.

Hội nghị kết thúc bằng biểu quyết:
1. Triệt để ủng hộ ông Bảo Đại, đứng ra thương thuyết với Pháp để thực hiện độc lập và thống nhất quốc gia.
2. Danh từ “Hoàng đế Bảo Đại” được sử dụng trên địa hạt ngoại giao.(20)

Sau hội nghị Hương Cảng và quyết định về danh từ “Hoàng đế Bảo Đại”, Cựu hoàng công bố một bản tuyên ngôn gửi đồng bào, lần đầu tiên từ khi thoái vị:

Đồng bào Việt Nam thân mến,

Để khỏi làm đổ máu đồng bào, tôi đã từ bỏ ngai vua của tổ tiên tôi.

Đồng bào đã muốn trao vào tay những nhà lãnh đạo mới, trách nhiệm hướng dẫn số phận của mình, tôi đã sẵn sàng rút lui. Tôi đã thoái vị và chọn con đường lưu vong để khỏi là một trở ngại cho cuộc thí nghiệm này, mà đồng bào đã nghĩ rằng có thể đem hạnh phúc đến cho mình.
[...]
Như vậy, dần dà niềm hy vọng và hạnh phúc của đồng bào cũng bị mất đi, dù đã được sự tuyên truyền khôn khéo, và một lý tưởng ngoại lai cám dỗ ban đầu. Trong niềm tuyệt vọng, đồng bào đã chạy đến tôi.
[...]
Đáp ứng lời kêu gọi của đồng bào, tôi nhận sứ mạng mà đồng bào trao phó, và sẵn sàng để bắt liên lạc với nhà cầm quyền Pháp. Với họ, tôi sẽ nghìên cứu tất cả mọi khía cạnh của những lời đề nghị đối với chúng ta.

Trước hết, tôi muốn đạt được độc lập và thống nhứt, đúng như nguyện vọng của đồng bào.
[...] (21)

(Còn tiếp)

Phụ đính 1: Hình chụp bản tin của báo Le Journal de Saigon ngày 5 tháng 1, 1948, lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Pháp quốc hải ngoại (CAOM, HCI, 68/241). Bản pdf
Phụ đính 2: Hình chụp nguyên bản hiệp định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6, 1948. Đây là nguyên bản số 1 của phía Pháp, hiện lưu trữ tại CAOM (Centre d’Archives d’Outre-Mer, Trung tâm lưu trữ Pháp quốc hải ngoại, tại thành phố Aix-en-Provence). Bản pdf


Bài do tác giả gửi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

(1) Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990, tr. 37
(2) Bảo Đại, sđd, tr. 96
(3) Bảo Đại, sđd, tr. 162
(4) Bảo Đại, sđd, tr. 165
(5) Bảo Đại, sđd, tr. 183
(6) Bảo Đại, sđd, tr. 188
(7) Bảo Đại, sđd, tr. 198
(8) Bảo Đại, sđd, tr. 241
(9) Bảo Đại, sđd, tr. 258
(10) Nguyễn Khắc Ngữ, Lịch sử các đảng phái Việt Nam, tập 1, Tủ sách nghiên cứu sử địa xuất bản, 1989, tr. 23
(11) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 40
(12) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 41, 45
(13) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 40
(14) Bảo Đại, sđd, tr. 264
(15) Nguyễn Khắc Ngữ, Lịch sừ các đảng phái Việt Nam, tập 2, Tủ sách nghiên cứu sử địa xuất bản, 1991, tr. 140
(16) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 196
(17) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 112
(18) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 200
(19) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 207
(20) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 251
(21) Bảo Đại, sđd, tr. 286. Sách của Nguyễn Khắc Ngữ dịch từ cuốn Le Dragon d’Annam của Bảo Đại, viết bằng Pháp ngữ, dùng từ “Trẫm”, nhưng hồi ký Con Rồng Việt Nam của Bảo Đại, cũng dịch từ bản tiếng Pháp của ông, dùng từ “Tôi”. Hiện nay người viết chưa có bản tiếng Việt nguyên thuỷ để xác định, nên đã chọn cách viết trong hồi ký của Bảo Đại.

Phạm Ngọc Lân

Vai trò của Pháp trong giai đoạn đầu của sự hình thành Giải pháp Bảo Đại

Cuối đệ nhị thế chiến, tướng de Gaulle, người lãnh đạo kháng chiến Pháp chống Đức quốc xã, lên cầm quyền vào tháng 6, 1944. Ông chủ trương hồi phục tất cả thuộc địa cũ, dưới những mỹ từ mới. Chủ trương này được định nghĩa trong bản tuyên bố ngày 24 tháng 3, 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương.

Sau khi Nhật đầu hàng, Đô đốc Thierry d’Argenlieu được phái qua Đông Dương lám Cao uỷ (thay vì Toàn quyền như ngày trước) và tướng Leclerc, người hùng giải phóng Paris, cầm đầu đoàn quân viễn chinh đến Sài Gòn với nhiệm vụ chiếm lại toàn cõi Đông Dương. Trước khi qua Việt Nam, Cao uỷ d’Argenlieu, từ Chandernagor, Ấn Độ, ra chỉ thị mật cho thuộc cấp ngày 15 tháng 9, 1945, sau khi Hồ Chí Minh tổ chức tuyên ngôn độc lập. Chỉ thị có đoạn:

Chúng ta phải lập lại nền bảo hộ của nước Pháp đối với các dân tộc Đông Dương, nghĩa là cho phép các dân tộc này chín chắn về chính trị, và phát triển về kinh tế dựa vào nước Pháp, trong sự tôn trọng những tập quán và những nguyện vọng sâu xa của họ.[...]

Chúng ta không thể nói đến độc lập. Vả lại, chúng ta không được chính phủ cho phép nói đến chữ đó. (22)

Tháng 1, 1946, de Gaulle rút lui khỏi chính trường, mở đầu cho những nội các chỉ tồn tại thời gian ngắn, nên không có thì giờ để đưa ra những đường lối dài hơi. Năm 1946, ba chính phủ: Félix Gouin, Georges Bidault và Léon Blum nối tiếp nhau. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp tháng 6, 1946 để thương thuyết, đúng lúc chính phủ Gouin đổ, chính phủ Bidault chưa lên, nên phải nghỉ mát bất đắc dĩ ở Biarritz một thời gian.

Ngày 1 tháng 6, 1946, khi phái đoàn vừa lên đường, Cộng hoà Nam Kỳ (République de Cochinchine) được Pháp chính thức công nhận. Một chính phủ lâm thời, đứng đầu là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, đã được thành lập từ ngày 26 tháng 3, 1946 (23). Đây là một kế hoạch của Pháp để giữ lại thuộc địa Nam Kỳ, họ dự tính nếu cần phải trao trả độc lập cho Việt Nam, sẽ chỉ có Bắc Kỳ và Trung Kỳ thôi. “Nước”Cộng hoà Nam Kỳ thực chất vẫn chỉ là một thuộc địa trá hình, và chính phủ Nguyễn Văn Thinh không có một quyền hành gì. Khi ý thức được sự ngây thơ của mình, chỉ đóng vai trò trang trí cho chính quyền thuộc địa, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh đã tự tử ngày 10 tháng 11, 1946. Bác sĩ Lê Văn Hoạch lên thay, nhưng chưa được một năm đã phải từ chức. Tháng 10, 1947, đến phiên nội các Nguyện Văn Xuân, một cựu học sinh trường Bách khoa nổi tiếng của Pháp (ancien élève de l’école Polytechnique), thiếu tướng trong quân đội Pháp, sống rất lâu bên Pháp, có vợ người Pháp.

Chủ trương đi tìm một nền hoà bình cho Việt Nam, Nguyễn Văn Xuân cho rằng tốt hơn hết là thành lập một liên bang Việt Nam với sự thoả thuận của những lãnh tụ sẵn có của ba kỳ: Hồ Chí Minh ở Bắc Kỳ, Bảo Đại ở Trung Kỳ và Thủ tướng Chính phủ Nam Kỳ do Hội đồng Nam Kỳ bầu ra. (24)

Chủ trương này rơi vào quên lãng vì không đáp ứng nguyện vọng thật sự thống nhất của Việt Nam.

Bên Pháp, những chính phủ kế tiếp sau khi tướng de Gaulle từ chức đều thuộc cánh tả, đảng xã hội là chính, nhưng có những bộ trưởng cộng sản trong nội các. Vì vậy, sau khi hội nghị Fontainebleau bế tắc tháng 9, 1947, ông Hồ Chí Minh còn vớt vát bằng tạm ước “modus vivendi”được ký với bộ trưởng Marius Moutet thuộc đảng xã hội, là chỗ quen biết từ thời thanh niên của Nguyễn Ái Quốc ở Paris.

Qua năm 1947, tình hình chính trường Pháp cũng không cách nào ổn định được. Chính phủ Léon Blum chỉ tồn tại được một tháng, được thay bằng chính phủ Ramadier vào tháng 1, 1947, rồi đến Robert Schuman tháng 11, 1947.

Sau khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ tháng 12, 1946, Cao uỷ d’Argenlieu thấy không còn nói chuyện với Hồ Chí Minh được nữa, phải tìm cách khác để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông phái Cousseau, một viên chức Pháp ở Việt Nam lâu năm, nói thành thạo tiếng Việt, qua làm việc tại toà lãnh sự Pháp ở Hương Cảng, mục đích để tiếp xúc và thăm dò Cựu hoàng Bảo Đại.

Điều đình Bảo Đại – Bollaert

Nhưng chỉ vài tháng sau, Đô đốc d’Argenlieu được thay thế bằng một viên chức cao cấp dân sự, ông Bollaert. Ông này đến Sài Gòn ngày 1 tháng 4, 1947, và tiếp tục thăm dò Bảo Đại qua ông Cousseau ở Hương Cảng.

Đầu tháng 5, 1947, Cao uỷ Bollaert cử Giáo sư Paul Mus, cố vấn chính trị, bí mật lên chiến khu Việt Bắc gặp Hoàng Minh Giám và Hồ Chí Minh.

Ông này đã đưa ra những điều kiện của chính phủ Pháp để ngưng mọi hận thù: Ngưng ngay tức khắc các hoạt động chiến tranh, khủng bố và tuyên truyền, trao trả lại hầu hết các quân cụ, binh sĩ Pháp đi lại tự do trên toàn lãnh thổ, trao trả tất cả các con tin, các tù binh, hay binh sĩ đào ngũ. Những điều khoản ấy đều do Bộ Tham mưu Pháp đòi hỏi. Tất nhiên, Hồ Chí Minh đã coi là không thể chấp nhận được, nếu không muốn nói là ô nhục. (25)

Đó là lần cuối cùng Pháp thăm dò để điều đình với Hồ Chí Minh. Từ đó trở đi, họ không còn trông cậy gì vào con đường thương thuyết với Việt Minh nữa, dù chưa chính thức nói ra. Giải pháp còn lại chính là Giải pháp Bảo Đại.

Trong khi Bảo Đại triệu tập hội nghị Hương Cảng ngày 9 tháng 9, 1947 như đã nói ở phần trên, thì ngày hôm sau, 10 tháng 9, Cao uỷ Bollaert đọc một bài diễn văn quan trọng ở Hà Đông, xác định đường lối của chính phủ Pháp (26). Bài diễn văn khá dài nói đến “những nguyện vọng của dân chúng Việt Nam: tự do trong khối Liên Hiệp Pháp, và thống nhất ba Kỳ”. Tuyệt đối không có hai chữ “độc lập”. Còn vấn đề thống nhất phải do người dân quyết định, không thể là một điều kiện tiên quyết.

Bài diễn văn bị các đại diện họp tại Hương Cảng bác bỏ, vì hai đòi hỏi quan trọng nhất không được thoả mãn. Một là độc lập, đã không được nhắc tới trong bản tiếng Pháp của bài diễn văn. Hai là thống nhất, Pháp đặt điều kiện, trong khi phía Việt Nam xem như là một điều đương nhiên. Bởi vì nước Việt Nam trước khi người Pháp đến cai trị đã là một nước thống nhất, chính người Pháp đã chia làm ba kỳ. Nay việc người Pháp trả lại độc lập cho Việt Nam phải đi đôi với sự toàn vẹn lãnh thổ, nên việc đòi hỏi thống nhất là một điểm không thể bàn cãi (27).

Cao uỷ Bollaert bắt đầu đẩy mạnh “Giải pháp Bảo Đại”, và gửi đại diện sang Hương Cảng điều đình một cuộc gặp gỡ Bollaert – Bảo Đại trên chiến hạm Duguay-Trouin ở vịnh Hạ Long. Ngày 6 tháng 12, 1947, Bảo Đại cùng với người thân cận là Vĩnh Cẩn thuê một chiếc thuỷ phi cơ bay ra vịnh Hạ Long, không cho ai khác biết. Hồi ký của Bảo Đại viết không mấy thiện cảm về thái độ của Cao uỷ Bollaert khi ông này nài nỉ ép Cựu hoàng ký vào hai văn kiện, ngày hôm sau, 7 tháng 12.

Tài liệu đầu, đươc trình bày như bản tuyên ngôn chung, mà tôi nhặt được một cách hài lòng hai chữ “độc lập”đã được nói đến. Và tài liệu thứ hai là một tờ lịch trình ghi chú có hình thức đặt căn bản cho những vấn đề sẽ bàn đến. Nó liên quan đến hình thức ngoại giao, quân sự, văn hoá, tài chánh, chuyên môn…
[...]
Bản dự thảo về lờì tuyên bố chung có thể coi như tạm được, nhưng về bản thể chế thực hiện đã mang tính chất hạn chế không thể chấp nhận được đối với chủ quyền của Việt Nam.

Bảo Đại đã phải nhượng bộ Bollaert ký vào văn kiện thứ nhất, nhưng chỉ ký tắt hai chữ VT vào văn kiện thứ hai (28)

Trở về Hương Cảng, và trước khi đi Âu châu để nhận định tình hình tại chỗ, Cựu hoàng cho mời từ Việt Nam qua ba nhân vật để tham khảo ý kiến: Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam (danh xưng mới của Cộng hoà tự trị Nam Kỳ), Trần Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng An dân Huế, và Ngô Đình Diệm.

Tất cả ba đều nhận định là bản tuyên bố chung thì được, nhưng khi đọc bản văn kiện nói về thể chế, đều tỏ vẻ tức giận. Diệm là người nổi sùng nhất. Đối với ông ta, sự nhượng bộ của Pháp ít ỏi rõ rệt, còn về sự hạn chế chủ quyền khi vào Liên Hiệp Pháp, thì lại càng vô lý. (29)

Sau đó, ngày 24 tháng 12, 1947, Cựu hoàng lấy máy bay của công ty hàng không Anh để đi Geneva cùng với Vĩnh Cẩn, sau khi từ chối máy bay của Pháp dành cho ông để đi Paris. Ông muốn đến một nước trung lập để quan sát. Tại đây, Cao uỷ Bollaert từ Việt Nam bay qua đã đến gặp ông lần đầu ngày 7 tháng 1, 1948 (xem phụ đính 1, bản tin của báo “Le Journal de Saigon”). Ông thôi thúc Cựu hoàng trở về Việt Nam “để áp dụng những điều khoản đã tuyên bố trong bản thông cáo chung và trong bản thể chế ngày 7 tháng 12, 1947”tại vịnh Hạ Long. Bảo Đại trả lời:

- Thưa Ngài Cao uỷ, chắc hẳn Ngài cho phép tôi được ngạc nhiên về sự thôi thúc của Ngài. Tôi xin nhắc lại rằng, tôi đến vịnh Hạ Long thể theo lời mời của Ngài, với tư cách tư, và tôi không nhân danh chức vụ gì, uỷ nhiệm gì, để hoàn tất bất cứ công tác nào. Sau nữa, Ngài đã có tại chỗ tướng Xuân, hiện đang là thủ tướng Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam, rất có khả năng điều đình với Pháp.
- Nhưng thưa Hoàng thượng, chính Hoàng thượng là người mà chúng tôi muốn, mà nước Pháp muốn điều đình.
- Như vậy thì thưa Ngài Cao uỷ, nước Pháp hãy phục lại cho tôi danh hiệu Hoàng đế, Vua nước Việt Nam độc lập, bao gồm cả ba kỳ thống nhứt, bao gồm thêm đầy đủ các dân tộc thiểu số miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Có như vậy, vấn đề mới có thể giải quyết và mọi việc mới thực hiện được.

Hơi ngạc nhiên và bối rối trước sự đòi hỏi của tôi, ông ta rút lui và nói rằng sẽ xin chỉ thị của chính phủ. Rời Geneva về Paris ngay, hôm sau lại trở lại Geneva. (30)

Bollaert làm con thoi giữa Paris và Geneva, gặp Bảo Đại năm lần, không kết quả gì, vì không bên nào nhượng bộ. Sau đó Bảo Đại về Cannes với Nam Phương Hoàng hậu và các con. Đầu tháng 2, ông được thủ tướng Robert Schuman mời lên Paris dự tiệc ở điện Matignon (dinh thủ tướng), ở đây ông đã làm mọi người ngạc nhiên về thái độ cứng rắn của ông.

Khi Bảo Đại thấy rằng chưa đến lúc đạt được một thoả hiệp như mong muốn, ông quay trở lại Hương Cảng vào tháng 3, 1948. Tại đây, Cựu hoàng hội kiến với Ngô Đình Diệm và yêu cầu ông Diệm về Sài Gòn thăm dò. Ông Diệm được Cao uỷ Bollaert tiếp kiến ngày 22 tháng 3, nhưng thái độ của Bollaert rất cứng rắn, không nhân nhượng điểm nào cả. Trong bản báo cáo hàng tháng của Cao uỷ, ông Bollaert nhận định về Bảo Đại như sau:

[...] Tôi tin rằng ông ta sợ bị Pháp “lừa”. Những người thân cận của ông, từ khi ông trở lại Hương Cảng ngày 15 tháng 3, thúc giục ông không công nhận chữ ký của ông tại vịnh Hạ Long ngày 7 tháng 12 vừa qua. Nhưng thái độ tiêu cực đó để lộ một sự ngượng nghịu, mà tôi đã cảm được khi ông Ngô Đình Diệm đến gặp tôi, theo chỉ thị của ông [Bảo Đại]. (31)

Để tìm một lối thoát cho tình hình bế tắc, và sau nhiều cuộc bàn thảo với những người thân cận, cuối cùng Bảo Đại đưa ra một công thức được Bollaert chấp nhận: sự thành lập một chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam do Cựu hoàng tấn phong, sau khi hai vị Chủ tịch Hội đồng An dân ở Hà Nội và Huế (do Pháp lập nên) cùng với vị Thủ tướng Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam đồng từ chức. Và Thủ tướng của chính phủ trung ương lâm thời sẽ ký vào hai văn kiện cùng với Cao uỷ Bollaert, với nội dung không thay đổi. (32)

Ngày 27 tháng 5, 1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trình diện với Bảo Đại nội các mới của chính phủ trung ương lâm thời. Cùng ngày, Paris công nhận sự thành lập chính phủ này.

Ngày 2 tháng 6, 1948, chính phủ Xuân công bố bản quốc ca vả quốc kỳ Việt Nam: ba vạch đỏ song song tượng trưng cho ba kỳ, trên màu vàng, là màu của hoàng gia. (33)

Và buổi lễ trọng thể ký kết hai văn kiện (tuyên cáo chung và nghị định thư về thể chế) được tổ chức trên tàu Duguay-Trouin trong vịnh Hạ Long, ngày 5 tháng 6, 1948, giữa một bên là Cao uỷ Bollaert, một bên là thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và các cộng sự viên. Bảo Đại đóng vai trò chứng nhân, ký vào bản tuyên cào chung. Trong hồi ký của ông, Bảo Đại viết “chỉ ký tắt vào bản thể chế”, nhưng trên nguyên bản còn lưu giữ trong văn khố Pháp có chữ ký của ông trên cả hai văn bản (xin xem phần phụ đính ở cuối bài viết).

Cao uỷ Bollaert viết trong báo cáo mật hàng tháng gửi về cho thượng cấp của ông:

Chúng ta đã nối lại được đường dây liên lạc đã bị cắt đứt bởi cuộc tấn công ngày 19 tháng 12 [năm 1945, khi chiến tranh bùng nổ], trong những điều kiện danh dự, với những đại diện có thẩm quyền, trên những căn bản mà người ta có thể hy vọng là vững chắc. Một chính quyền đã được thành lập, sẽ cùng chúng ta xây dựng một thể chế mới, tôn trọng những nguyện vọng quốc gia và những quyền lợi thiết yếu của nước Pháp.(34)

Khác với sáu tháng trước, cũng trong khung cảnh của vịnh Hạ Long, Bảo Đại gặp riêng Bollaert, còn lần này là một buổi lễ long trọng, với nghi thức chào quốc kỳ mới của Việt Nam.

Tiến tới hiệp định Elysées

Sau buổi lễ ký kết trên chiến hạm Duguay-Trouin, Cựu hoàng Bảo Đại dùng chiếc thuỷ phi cơ bay thẳng qua Bangkok, và sau đó đi Paris, không trở về Hương Cảng nữa. Ông sang Pháp để tiếp tục thương thảo với chính phủ Pháp việc lấy lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Buổi lễ ký kết tại vịnh Hạ Long mới chỉ là bước đầu của tiến trình.

Thật vậy, về phía Pháp; hiệp định Hạ Long còn phải được Quốc hội Pháp phê chuẩn. Nhưng dư luận bên Pháp nói chung, chống đối việc làm của ông Bollaert, không chấp nhận trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam, vì họ xem Nam Kỳ là một phần lãnh thổ của họ, “bất khả nhượng”. Đó cũng là luận điệu của đa số người Pháp sống tại Việt Nam. Còn về phía Việt Nam, nghị định thư vẫn là một văn kiện không chấp nhận được, vì nước Việt Nam mang tiếng là “độc lập”, nhưng vì “trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp”nên vẫn không có quân đội riêng, không có nền ngoại giao riêng, không có tài chánh riêng, v.v…

Ba ngày sau khi hiệp định được ký kết tại vịnh Hạ Long, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Paul Coste-Floret tuyên bố trước Quốc hội nhấn mạnh đến việc không bỏ Nam Kỳ, và nhắc lại những quyền hành của Liên hiệp Pháp. Bảo Đại viết trong hồi ký:

Khi lời tuyên bố ấy bay đến Sài Gòn, đó là một tai hoạ. Chúng tôi không còn ở vị trí năm 1945 nữa, mà trở về hiệp ước năm 1884… Thật vô lý, không ai hiểu nổi nữa. Việt Minh được lợi: “Thấy chưa, chúng ta không thể tin vào Pháp được.” Bọn thực dân ăn mừng. (35)

Phải chờ qua tháng 8, 1948, hơn hai tháng sau ngày ký hiệp định Hạ Long, tình trạng bế tắc mới bắt đầu khai thông. Chính phủ Schuman đổ, chính phủ André Marie thay, ông Coste-Floret vẫn giữ chức bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại. Ngày 18, tân nội các trình bày đường lối chính trị trước quốc hội, đã ngợi khen Cao uỷ Bollaert và nhắc lại những điều khoản của hiệp định. Quốc hội vẫn chưa chuẩn y hiệp định này, nhưng đã có sự đồng tình. (36)

Chính phủ André Marie tồn tại được hơn một tháng, nên vấn đề Việt Nam vẫn bỏ lửng. Ông Henri Queuille lập tân nội các ngày 11 tháng 9, 1948.

Cao uỷ Bollaert còn gặp Cựu hoàng Bảo Đại hai lần nữa để thúc giục ông trở về Việt Nam, nhưng Cựu hoàng nhất định không về khi chưa đạt được nguyện vọng độc lập và thống nhất thực sự. Ông Bollaert, cũng thất vọng vì thái độ của chính phủ Pháp, đã không xin tái nhiệm nữa. Cao uỷ mới, được bổ nhiệm ngày 20 tháng 10, 1948, là ông Léon Pignon, đã từng làm việc lâu năm ở Đông Dương, đặc biệt đã làm cố vấn chính trị cho Sainteny năm 1945.

Trước khi đi Sài Gòn nhận nhiệm sở, Pignon gặp Cựu hoàng, cũng chỉ để giục ông trở về Việt Nam, vẫn không hiệu quả.

Sau nhiều cuộc tiếp xúc với các yếu nhân trong chính giới Pháp, kể cả Tổng thống Vincent Auriol mời dự tiệc ở lâu đài Rambouillet, Cựu hoàng vẫn chưa đạt được tiến bộ khả quan nào trong đòi hỏi của mình.

Qua tháng 12, Cao uỷ Pignon lại qua Paris gặp Cựu hoàng, và lần này ông tỏ vẻ lạc quan hơn. Ông yêu cầu Cựu hoàng tiếp xúc với thủ tướng Queuille. Và thế là, sau sáu tháng dậm chân tại chỗ, công việc bắt đầu chạy.

Vào trung tuần tháng giêng năm 1949, cuộc đàm phán bắt đầu. Rất nhanh chóng, nó thành hình rõ rệt. Sự đe doạ của cộng sản Tàu càng củng cố thêm cho nó, vì quân đội của Mao Trạch Đông đã tiến vào Bắc Kinh ngày 22 tháng giêng. Một hội đồng hỗn hợp được thành lập ngày 12 tháng 2 để nghiên cứu từng điểm một ghi trong bản thể chế [nghị định thư] ở vịnh Hạ Long.

Hội đồng này gồm phái đoàn Pháp do ông Herzog cầm đầu, và phái đoàn Việt Nam do Hoàng thân Bửu Lộc làm trưởng phái đoàn, gồm các ông Nguyễn Đắc Khê, Phan Huy Đán, Phạm Văn Bính, Trương Công Cừu, Nguyễn Quốc Định, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Mạnh Đôn. Ông Trần Văn Hữu từ Việt Nam qua theo dõi cuộc đàm phán, đại diện cho Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Các nhà chuyên môn kết thúc các bản tường trình ngày 28 tháng 2. (38)

Hiệp định Elysées và sự hình thành của Quốc gia Việt Nam

Ngày 8 tháng 3, 1949, một buổi lễ long trọng được tổ chức tại điện Elysées, dinh Tổng thống Pháp ở Paris, để ký kết hiệp định mới hoàn thành. Phía Pháp, ngoài Tổng thống Vincent Auriol, còn có Thủ tướng Queuille, và một số bộ trưởng. Phía Việt Nam, bên cạnh Cựu hoàng Bảo Đại là Hoàng thân Vĩnh Cẩn, Hoàng thân Bửu Lộc, hai ông Trần Văn Hữu và Nguyễn Mạnh Đôn.

Hiệp định Elysées có hình thức ba bức thư trao đổi giữa Tổng thống Pháp kiêm Chủ tịch Liên hiệp Pháp Vincent Auriol và Hoàng đế Bảo Đại. Chữ “Hoàng đế”được sử dụng chính thức trong các văn kiện. Nội dung của hiệp định này tóm lược như sau:

Về điều kiện tiên quyết do phía Việt Nam đòi hỏi là thống nhất, Pháp long trọng xác nhận sẽ không chống lại việc Nam Kỳ trở về lãnh thổ của Việt Nam, sau khi qua một số thủ tục hợp với hiến pháp của Cộng hoà Pháp quốc. Pháp hứa sẽ cho tiến hành các thủ tục đó.

Về ngoại giao, Việt Nam vẫn còn bị ràng buộc trong giới hạn của Liên hiệp Pháp, mà Việt Nam là một thành viên. Một giới hạn quan trọng là Việt Nam chỉ được quyền có phái bộ ngoại giao ở một số nước, sau khi được sự đồng ý của chính phủ Pháp.

Về quân sự, Việt Nam có quân đội quốc gia riêng. Quân đội Liên hiệp Pháp được quyền trú đóng trên lãnh thổ Việt Nam ở những địa điểm do hai bên cùng thoả thuận. Trong thời chiến, những phương tiện quân sự của Việt Nam và của Liên hiệp Pháp được đặt dưới quyền điều khiển của một uỷ ban quân sự thường trực, đứng đầu là một tướng lãnh Pháp, vị tham mưu trưởng quân đội Việt Nam sẽ là một thành viên của uỷ ban này.

Những điểm khác đi vào chi tiết các vấn đề chủ quyền nội bộ, tư pháp, văn hoá, kinh tế và tài chánh. (39)

Một tiến bộ quan trọng mà Bảo Đại đã đạt được là Nam Kỳ được trả về cho Việt Nam. Ngoài ra, những điều khoản khác, nhất là về ngoại giao và quân sự, vẫn còn những giới hạn quan trọng cho một nước thực sự độc lập. Bảo Đại viết trong hồi ký:

Từ đây trở đi, tôi đã thu hồi được đất Nam Kỳ, tôi coi như nhiệm vụ của tôi về điều đình đã chấm dứt.
[...]
Sau nữa, thoả hiệp này trước mắt tôi, chỉ là một giai đoạn để tiến tới độc lập hoàn toàn. Sự thành đạt về độc lập như thế đã xảy ra cho các nước lân cận ở Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Miến Điện, Ấn Độ… làm tôi càng tin tưởng trong hy vọng.Tôi tin tưởng rằng thoả ước mùng 8 tháng 3 phải là một yếu tố nhất định đưa đến vãn hồi hoà bình. Hỏi Việt Minh còn có thể đòi hỏi gì nữa khi tôi đã thành công, mà họ thì bị thảm bại ở các hội nghị Fontainebleau và Đà Lạt, vào năm 1946? (40)

Thủ tục pháp lý của Pháp để trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam được thực hiện nhanh chóng, tuy rất phức tạp. Quốc hội Pháp phải bầu ra một đạo luật đặt ra một quốc hội địa phương của Nam Kỳ. Quốc hội địa phương này được nhanh chóng thành lập, gồm 50 đại biểu, cả Pháp lẫn Việt, đã họp để biểu quyết việc sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam. Kết quả 25 phiếu chống, 25 phiếu thuận. Cựu hoàng Bảo Đại đã chuẩn bị bay về nước, huỷ bỏ chuyến đi vì kết quả này.

Hoang mang tột độ, chính phủ cử ông Pignon về gấp Sài Gòn. Ngày 23 tháng 4, Quốc hội địa phương họp lại, thì số phiếu đạt được là 45 phiếu thuận, chỉ còn 5 phiếu chống. Hy vọng của tôi tràn trề. Nền thống nhất đất nước đã được phục hồi. (41)

Ngay sau đó, Cựu hoàng Bảo Đại đáp máy bay về nước sau ba năm xa cách. Ông về thẳng Đà Lạt, được Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và Cao uỷ Pignon đón tiếp.

Ngày 20 tháng 6, 1949, tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin giải nhiệm toàn thể chính phủ lâm thời, và mười ngày sau, 1 tháng 7, Bảo Đại lập chính phủ đầu tiên do ông làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân phó thủ tướng, với ba vị Thủ hiến là Nguyễn Hữu Trí ở Bắc Việt, Pham Văn Giáo ở Trung Việt và Trần Văn Hữu ở Nam Việt.

Giải pháp Bảo Đại được hình thành từ đây.

Thay lời kết

Giải pháp Bảo Đại” cũng chỉ là một bước ngắn trong lịch sử của dân tộc. Mỗi khuynh hướng chính trị có những nhận định và phê phán khác nhau về sự kiện này. Kẻ cho rằng đó chỉ là một chính phủ bù nhìn do Pháp dựng lên để kéo dài nền thống trị tại Việt Nam, người thì xem đó như một chặng đường tiến tới độc lập thật sự mà không cần phải đổ máu, kéo theo bao đổ vỡ trầm trọng trong lòng dân tộc.

Một điều hiển nhiên là Giải pháp Bảo Đại đã không đem lại hoà bình như Cựu hoàng tiên đoán. Chiến tranh vẫn tiếp tục, và càng ngày càng khốc liệt khi Mao Trạch Đông thắng thế, quân Trung Hoa tiến tới biên giới Việt Hoa và giúp cho phe Việt Minh vững mạnh và dần dần thắng thế. Cuộc kháng chiến năm 1946 trở thành cuộc chiến ý thức hệ, giữa hai khối cộng sản và không cộng sản đối đầu trên bình diện thế giới, bắt đầu cuộc “chiến tranh lạnh”. Đảng Cộng sản Việt Nam, mang tên Đảng Lao động, lãnh đạo cuộc chiến tranh chống Pháp, với sự trợ giúp của khối cộng sản quốc tế. Hoa kỳ trước đây vẫn chống việc Pháp lấy lại thuộc địa cũ, nay cũng nhảy vào trợ giúp Pháp về tài chánh vì ý thức được cuộc chiến tại Việt Nam không phải đơn thuần là một cuộc chiến để giải phóng thuộc địa nữa, mà là một điểm nóng của chiến tranh lạnh. Quân đội của Quốc gia Việt Nam mới thành lập còn non yếu, chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Pháp.

Về phương diện chính trị, các thủ tục trả lại độc lập cho Việt Nam kéo dài, các chính phủ kế tiếp gồm nhiều thành phần thân Pháp, làm nản lòng những người quốc gia yêu nước. Sau chính phủ đầu tiên do chính Bảo Đại đứng đầu, những nội các kế tiếp là chinh phủ Nguyễn Phan Long (tháng 1, 1950), Trần Văn Hữu (tháng 7, 1950, rồi tháng 2, 1951), Nguyễn Văn Tâm (tháng 6, 1952), Bửu Lộc (tháng 1, 1954), và Ngô Đình Diệm (tháng 7, 1954).

Hiệp định đình chiến Geneva ngày 20 tháng 7, 1954 chia cắt đất nước, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ còn phân nửa lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17. Cựu hoàng Bảo Đại khi bổ nhiệm ông, đã giao toàn quyền cho ông, và không trở về Việt Nam nữa. Tháng 10, 1955, ông Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại.

Giải pháp Bảo Đại”kết thúc

Phụ đính 3: Hình chụp nguyên bản Tuyên cáo chung, 2 trang. Trang 2 có 8 chữ ký của phái đoàn Nguyễn Văn Xuân, chữ ký của Cao uỷ Bollaert, và chữ ký của Cựu hoàng Bảo Đại. Bản pdf

Phụ đính 4: Hình chụp nguyên bản Nghị định thư đính kèm Tuyên cáo chung, 4 trang. Trang cuối có 8 chữ ký của phái đoàn Nguyễn Văn Xuân, chữ ký của Cao uỷ Bollaert, và chữ ký của Cựu hoàng Bảo Đại. Bản pdf


Bài do tác giả gửi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

(22) Instructions de l’Amiral d’Argenlieu (de Chandernagor), le 15-09, 1945. CAOM (Centre d’Archives d’Outre-mer, Trung tâm Văn khố Hải ngoại của Pháp tại Aix-en-Provence), HCI, 62/218.
(23) Journal Officiel de la Fédération Indochinoise du 11 juillet 1946, sur la convention concernant la République de Cochinchine. CAOM, HCI, 62/218
(24) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 226
(25) Bảo Đại, sđd, tr. 278
(26/) Discours prononcé par M. Bollaert, Haut Commissaire de France en Indochine, à Hadong (Tonkin), le 10-9-47. La documentation française, hors série N° 117 du 13 septembre 1947. CAOM, HCI, 43/166.
(27) Bảo Đại, sđd, tr. 285
(28) Bảo Đại, sđd, tr. 294
(29) Bảo Đại, sđd, tr. 298
(30) Bảo Đại, sđd, tr. 301
(31) “Je crois qu’il a surtout peur d’être “roulé” par la France. Son entourage, depuis son retour à HONGKONG, le 15 mars, l’incite évidemment à renier sa signature donnée en Baie d’Along le 7 décembre dernier. Mais cette attitude négative trahit un certain embarras, qui ne m’a pas échappé lors de la visite que, sur ses instructions, est venu me faire S.E. NGO DINH DIEM.” Rapport politique du mois de mars 1948, signé Bollaert. N° 614 CP/SAT, 11 pages. SECRET. CAOM, HCI 93/310
(32) Bảo Đại, sđd, tr. 313
(33) Bảo Đại, sđd, tr. 316
(34) “Nous avons renoué des liens rompus brutalement à la suite de l’agression du 19 décembre, dans des conditions honorables avec des représentants qualifiés, sur une base que l’on peut espérer solide. Un pouvoir politique s’est installé avec qui nous aurons maintenant à élaborer un nouveau statut tenant compte des aspirations nationales et des intérêts essentiels de la France.” Rapport politique du mois de juin 1948. N° 1071 CP/SAT, 12 pages. SECRET. CAOM, HCI 93/310
(35) Bảo Đại, sđd, tr. 322
(36) Agence France Presse: Information et Documentation. Bulletin hebdomadaire du 28-08, 1948: Conséquence de la déclaration gouvernementale du 19 août, signé J. H. G. CAOM, Bib, AOM, 20266/1948
(37) Agence France Presse: Information et Documentation. Bulletin hebdomadaire du 06, 11, 1948: Les premières répercussions de la nomination de M. Pignon. CAOM, Bib, AOM, /20266/1948
(38) Bảo Đại, sđd, tr. 341
(39) Tài liệu tiếng Pháp, nguyên bản hiệp định Elysées, in lại trong hồi ký Bảo Đại, sđd, tr. 599
(40) Bảo Đại, sđd, tr. 343
(41) Bảo Đại, sđd, tr. 345

March 9, 2008

audio hội luận với Ts Nguyen Anh Tuấn : kinh tế và dân chủ

March 7, 2008

Ông Nguyễn Minh Cần bàn về nội hàm của chủ nghĩa Mác Lê Nin

Trích lại:

2005.09.29

Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Gần đây, một văn kiện đựơc dư luận trong ngoài nước quan tâm tìm đọc là bản ‘Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới’ của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt. Trong văn kiện ấy, ông Kiệt đã nêu lên những vấn đề mà ông cho là căn bản phải thực hiện, để Việt Nam có thể nắm bắt đựơc những vận hội mới.

Tổng bí thư Nông Đức Mạnh (giữa), cựu Chủ tịch nước Võ Chí Công (trái), và Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) tại hội nghị BCH đảng CSVN lần thứ 9. AFP PHOTO
>> See larger image

Ban Việt ngữ đài Á châu tự do đã thực hiện các cuộc trao đổi với một số nhân vật từng sinh hoạt lâu năm trong đảng Cộng sản, hiểu rõ nội tình cũng như những vấn đề của Đảng trong vai trò lãnh đạo đất nước.

Những kỳ trước, chúng tôi đã gửi đến quý thính giả ý kiến của cựu đại tá Bùi Tín, và nhà tranh đấu dân chủ Nguyễn Thanh Giang. Hôm nay, chúng tôi xin gửi đến quý vị ý kiến của ông Nguyễn Minh Cần. Ông Cần nguyên là một đảng viên cao cấp và kỳ cựu. Hiện ông đang sinh sống tại Nga. Trước hết, ông Cần nói lên cảm tưởng đầu tiên của ông về bản văn của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Vẫn còn dè dặt

Nguyễn Minh Cần: Đây là một sự kiện quan trọng trong sinh hoạt chính trị của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì đây là lần đầu tiên một người từng nắm giữ một chức vụ lãnh đạo hàng cao nhất trong Đảng và Nhà nước nói lên những điều mà ngay bây giờ các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam chưa dám nói. Đó là điểm tích cực của sự kiện này.

Tuy nhiên, ông Kiệt, mặc dù dùng những từ ngữ rất to lớn như bứt phá mạnh mẽ…, nhưng ông lại vẫn rất dè dặt, vẫn đứng yên một chỗ thôi.

Nguyễn An: Thưa ông NMC, ông Kiệt cho là cần phải có những bứt phá mạnh dạn về tư duy để từ đó đưa đến những thay đổi cơ bản…

Đây là một sự kiện quan trọng trong sinh hoạt chính trị của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì đây là lần đầu tiên một người từng nắm giữ một chức vụ lãnh đạo hàng cao nhất trong Đảng và Nhà nước nói lên những điều mà ngay bây giờ các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam chưa dám nói. Đó là điểm tích cực của sự kiện này.

Ông Nguyễn Minh Cần

Nguyễn Minh Cần: Nhưng ông Kiệt nói như vậy thì ông đã mâu thuẫn với vấn đề mà ông đặt ra với chủ nghĩa Mác Lê Nin.

Nội hàm của chủ nghĩa Mác Lê Nin

Nguyễn An: Về chủ nghĩa Mác Lê Nin thì ông Kiệt cho là phải xác định cho rõ nội hàm của chủ nghĩa ấy, chứ không thể nói chung chung. Là một người từng sinh hoạt lâu năm trong đảng Cộng sản Việt Nam, ông nghĩ sao về yêu cầu này?

Nguyễn Minh Cần: Nội hàm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, hay nôm na là nội dung cơ bản của chủ nghĩa ấy đã nằm sờ sờ ra từ bao nhiêu năm rồi, trong văn bản của các ông thừơng đựơc gọi là kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Nội dung ấy gồm bốn điểm, đựơc coi là bốn trụ cột. Thứ nhất là học thuyết đấu tranh giai cấp.

Thứ hai, đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân phải đi đến chuyên chính vô sản. Thứ ba là đảng Cộng sản phải độc quyền lãnh đạo, tuyệt đối không chia quyền ấy cho bất cứ ai, và điểm thứ tư, là chủ nghĩa tập trung dân chủ

Với cái nội hàm ấy, áp dụng những điều đó trong các nước xã hội chủ nghĩa trong 80 năm nay rồi, từ nước XHCN đầu tiên là Liên Xô, đến các nước XHCN còn lại là Việt Nam, Triều Tiên, Trung quốc và Cuba, thì kết quả thế nào?

Tám mươi năm qua, bao nhiêu đầu rơi máu chảy, đau thương tang tóc, ở các nước xã hội chủ nghĩa đó, đã xác lập nên một chế độ toàn trị, độc ác không kém gì chế độ Phát xít. Ông Kiệt vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng nói một cách mập mờ, là phải xác định nội hàm của những khái niệm đó.

Có thể thay đổi hay không?

Nguyễn An: Như vậy, thì có thể thay đổi các nội hàm này, hay ít nhất, thay đổi cách nhìn về những nội hàm ấy hay không?

Bạn nghĩ gì về ý kiến này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Nguyễn Minh Cần: Không có thể nào thay đổi. Nếu thay đổi thì sẽ không còn chủ nghĩa Mác Lênin nữa.

Nguyễn An: Thưa ông Nguyễn Minh Cần, như thế, có vẻ như ông có cái nhìn tích cực hơn, mạnh dạn hơn và cách mạng hơn ông Kiệt nữa!

Nguyễn Minh Cần: Vấn đề đặt ra, theo tôi, muốn có một bứt phá về mặt tư duy, thì phải dứt khoát là từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin. Đó mới là điều căn bản. Nói như vậy, là thế nào?

Từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin có cái nội dung cụ thể của nó. Nội dung ấy gồm sáu điểm: Một là xoá bỏ điều bốn trong hiến pháp, tức là xoá bỏ cái quyền độc tôn thống trị của đảng trong xã hội. Thứ hai là tách rời đảng ra khỏi chính quyền nhà nước. Thứ ba là tổ chức đầu phiếu dân chủ và tự do.

Thứ tư là ban hành các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, đồng thời, thứ năm là phải xoá bỏ ngay những đạo luật hay những quy định dưới luật đi ngựơc lại với quyền tự do dân chủ của người dân chẳng hạn như nghị định 31CP do chính ông Kiệt ký trước đây và thứ sáu là xây dựng một xã hội dân sự tại Việt Nam.

Đó là những điểm cơ bản để xoá bỏ chuyên chính vô sản, chế độ toàn trị ở trong nước để tiến tới một chế độ dân chủ, tạo điều kiện cho đất nước tiến lên mạnh mẽ và thoát khỏi nguy cơ tụt hậu.

Điều đó rất rõ ràng nhưng ông Kiệt không dám đụng đến, vì đụng đến là đụng vào giai cấp quan liêu đang thống trị đất nước. Cho nên, ông Kiệt cứ phải nói quanh, nói mơ hồ, nói để mà nói.

Nguyễn An: Xin cảm ơn ông Nguyễn Minh Cần.

Vừa rồi là cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ với ông Nguyễn Minh Cần, nguyên là một đảng viên cao cấp và kỳ cựu của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỳ tới, ông Cần sẽ nói về vấn đề tả khuynh trong đảng, cũng là một nội dung quan trọng trong bản góp ý của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Những bài liên quan:

——————————————————————————–

Tâm tư của cụ Phạm Văn Xô gửi đến nhà nước Việt Nam lần cuối trước khi từ trần

2005.08.23

Việt Hùng, phóng viên đài RFA

Cụ Phạm Văn Xô, nhà lão thành cách mạng, người đã có mặt từ những ngày đầu tiên khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, đã qua đời cách đây không lâu vào ngày 17 tháng 8 vừa qua hưởng thọ 95 tuổi.

Trước khi nhắm mắt xuôi tay, mặc dù tuổi đã cao, sức đã yếu do mắc bệnh hiểm nghèo nhưng nhà lão thành cách mạng với 75 tuổi đảng này vẫn còn nhiều những trăn trở, tâm huyết với Ðảng, với dân tộc.

Mời quí thính giả theo dõi cuộc nói chuyện cuối cùng của nhà lão thành cách mạng Phạm Văn Xô với Việt Hùng về những ý kiến mà ông muốn gửi lên Ðảng và nhà nước lần cuối cùng.

Cuộc nói chuyện được thực hiện ít ngày trước khi cụ Phạm Văn Xô qua đời: “Bởi vì tôi là Uỷ viên thường vụ của Việt Nam, tôi đã gặp đồng chí Lê Đức Anh khi còn ở chiến trường Việt Nam.”

Bạn nghĩ gì về việc này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Việt Hùng: Một số các nhà lão thành cách mạng cả ở trong Nam và ngoài Bắc không hài lòng với việc mà trên báo Hà Nội Mới có nói rằng Đại tá Lê Đức Anh cũng là một lão thành cách mạng. Chúng tôi muốn hỏi thăm khi tướng Lê Đức Anh có vào thăm cụ có hỏi thăm vào trao đổi và nói gì với cụ?

Cụ Phạm Văn Xô: Không có nói chuyện gì. Tôi mệt thì đồng chí đến thăm tôi thôi.

Việt Hùng: Phải chăng có liên quan gì đến 2 lá thư mà cá nhân cụ, cũng như là cụ Nguyễn Văn Thi và Đồng Văn Cống gửi cho trung ương để làm sáng tỏ lý lịch của Đại tướng Lê Đức Anh hay không?

(Xin theo dõi toàn bộ cuộc phỏng vấn trong phần âm thanh bên trên)

——————————————————————————

Ý kiến của ông Nguyễn Minh Cần về vấn đề tả khuynh trong đảng CSVN

2005.09.30

Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Gần đây, một văn kiện được dư luận trong ngoài nước quan tâm tìm đọc là bản ‘Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới’ của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt. Trong văn kiện ấy, ông Kiệt đã nêu lên những vấn đề mà ông cho là căn bản phải thực hiện, để Việt Nam có thể nắm bắt được những vận hội mới.

Những nhân vật lãnh đạo của đảng CSVN. AFP PHOTO
>> See larger image

Ban Việt ngữ đài Á châu tự do đã thực hiện các cuộc trao đổi với một số nhân vật từng sinh hoạt lâu năm trong đảng Cộng sản, hiểu rõ nội tình cũng như những vấn đề của Đảng trong vai trò lãnh đạo đất nước.

Kỳ trước, chúng tôi đã gửi đến quý thính giả ý kiến của ông Nguyễn Minh Cần về quan điểm của ông Kiệt, liên quan đến nội hàm của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Kỳ này là ý kiến của ông về vấn đề ‘Tả Khuynh’. Ông Cần nguyên là một đảng viên cao cấp và kỳ cựu. Hiện ông đang sinh sống tại Nga. Mời quý thính giả nghe cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An và ông Nguyễn Minh Cần.

Khuynh hướng tả khuynh

Nguyễn An: Thưa ông Nguyễn Minh Cần, trong phần ‘Phương Pháp Tư Tưởng, ông Kiệt đã nêu lên vấn đề ‘Tả khuynh’ mà ông ta cho là một phương pháp tư duy. Ý ông thế nào?

Nguyễn Minh Cần: Khuynh hướng tả khuynh trong đảng Cộng Sản Việt Nam là rất rõ. Những điều mà ông Kiệt nêu lên vừa chưa đủ, lại vừa đã được các đảng viên nói rất nhiều và từ lâu rồi. Từ khi đảng nắm chính quyền thì khuynh hướng Tả khuynh lại càng mạnh mẽ, đặc biệt là trong cụôc cải cách ruộng đất, các cuộc cải tạo công thương nghiệp, nông nghiệp ở miền bắc, rồi ở miền nam nữa.

Từ khi đảng nắm chính quyền thì khuynh hướng Tả khuynh lại càng mạnh mẽ, đặc biệt là trong cụôc cải cách ruộng đất, các cuộc cải tạo công thương nghiệp, nông nghiệp ở miền bắc, rồi ở miền nam nữa.

Ông Nguyễn Minh Cần

Tất cả những cái đó là biểu hiện tả khuynh cả, nhưng ông Kiệt cho rằng tả khunh là do phương pháp tư tưởng. Theo tôi thì không phải như vậy. Đó không phải là phương pháp tư tưởng. Mà đó chính là bản chất của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Nó là như vậy đó. Là vì những người phạm tội tả khuynh, gây ra không biết bao nhiêu là đau thương cho nhân dân, thì hầu như không ai bị kỷ luật cả.

Nguyễn An: Ông vừa nói là trong lịch sử của đảng, không ai bị kỷ luật vì ‘tội’ tả khuynh cả…?

Nguyễn Minh Cần: Chỉ có trong cải cách ruộng đất thì có bị kỷ luật là bốn cái ông Trường Chinh, Lê Văn Lương, Hoàng quốc Việt và Hồ Việt Thắng. Nhưng thực ra, kỷ luật ấy chỉ là ‘giơ cao đánh khẽ’, có mục đích làm giảm bớt sự bất bình của quần chúng, đảng viên, chứ còn những người bị kỷ luật ấy vẫn nắm quyền lãnh đạo: người thì chủ tịch quốc hội, người thì là bí thư thành uỷ, người thì là uỷ ban kế hoạch nhà nước, người thì ở viện kiểm sát. Tất cả những chuyện đó chỉ là trò hề. Những người tả khuynh bao giờ cũng coi là họ có lập trường vững chắc.

Thực chất chủ nghĩa Mác Lênin

Nguyễn An: Thế người chống lại hành động như vậy thì sao?

Nguyễn Minh Cần: Thường là bị quy kết là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, là tư tưởng địa chủ, là tư tưởng tư sản. Không biết bao nhiêu trường hợp đã xẩy ra như vậy. Họ đều bị thi hành kỷ luật, bị trì chết. Tất cả những điều đó thì mọi người đều biết cả, ngay chính ông Võ Văn Kiệt cũng biết.

Bạn nghĩ gì về nhận xét này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Ông chính là một trong những người đã đàn áp Câu lạc bộ Những người kháng chiến cũ của ông Nguyễn Hộ, hay là việc ông ký nghị định 31 CP, để quản chế không biết bao nhiêu người trong đó có nhiều văn nghệ sĩ, trí thức phát biểu quan điểm của mình đối với tình hình đất nước, nào là Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Hoàng Minh Chính … kể không hết. Rồi lại còn những người ngoài đảng nữa như Nguyễn Đan Quế, hay trong các tôn giáo.

Như vậy, tả khuynh không phải là phương pháp tư tưởng, mà là thực chất chủ nghĩa Mác Lênin đó.

Không thể thay đổi

Nguyễn An: Bây giờ ông Kiệt đề nghị phải thay đổi, đừng ‘Tả khuynh’ nữa vì mỗi lần theo ‘Tả khuynh’ là một lần thất bại. Là người từng sinh hoạt nhiều năm trong đảng Cộng Sản, ông nhận định thế nào?

Nguyễn Minh Cần: Chính cái tả khuynh đó là lập trường của Đảng. Cho nên, những ông tả khynh là những ông giữ lập trường. Những ông đó chỉ bị phê bình là ‘hơi quá đáng một tí thôi’, chứ còn về cơ bản thì lập trường là đúng, chứ không phải như những cái ông bị quy là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại.

Nguyễn An: Như vậy, nói tóm lại là không thể thay đổi được?

Nguyễn Minh Cần: Nếu, nếu, nếu còn giữ cái chủ nghĩa Mác Lê Nin làm nền tảng tư tưởng của đảng, thì không tránh khỏi tả khuynh. Điều đó, theo tôi, gần như là một quy luật.

Nguyễn An: Xin cảm ơn ông Nguyễn Minh Cần

- vnguyenan092905aChuNghiaMacLe_NMC.mp3
- vnguyean093005aNMCan_taKhuynh.mp3
vhung082205pPhamVanXo.mp3 
- 200802 : 20080302  LVX : nhận định thời sự về csvn, và vấn đề Madison Nguyen, … tại San Jose hiện nay  QG030208LVX.wma 

March 1, 2008

Ghi nhận: vài nét những thể chế, chế độ chính trị độc tài/dân chủ

Ghi nhận trên mạng:
Thể chế chính trị: political system , système politique (ex: thể chế dân chủ tự do, độc tài toàn trị cs, …)
Chế độ chính trị : form of gouvernment, régime politique (chế độ cộng hòa, chế độ cs, chế độ đại nghị, tổng thống chế, …)

Trong thể chế dân chủ tự do, người dân thực sự làm chủ lá phiếu của mình, có khả năng truất phế những lãnh đạo bất tài bất lực bất lương, qua bầu cử tự do, có cạnh tranh đảng phái khác nhau, công bằng trong sáng. Mặt khác họ cũng có quyền xuống đường phản đối những chính sách phản lòng dân, những người bất tài, tham ô, lạm quyền.

Ngược lại, trong thể chế độc tài toàn trị, nhóm nhỏ người cầm quyền (BCT) tướt đoạt mọi quyền căn bản của con người, cả dân quyền  để bảo vệ sự độc tôn, độc tài, sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ, ngay cả khi chế độ đó “bán nước buôn dân, tham nhũng, tay sai ngoại bang” vì không có đối trọng chính trị đảng phái độc lập. Đảng ngồi xổm lên hiến pháp, điều hành mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, báo chí, truyền thông, quân đội, công an, quốc hội, tòa án, nhà nước, …. tất cả và không lấy trách nhiệm (đúng đắn, đầy đủ, kịp thời) về hệ lụy của chọn lựa, quyết định, hành động của các cấp  !!  Nhà nước có tất cả cơ ngành cần thiết, nhưng chỉ là hình thức mị dân, bù nhìn.

Nếu là một nước lớn, chế được súng đạn, họ sẽ “có lý có lợi” khi dàn dựng, bảo trợ cho 1 đcs đàn em khác để “thu hoạch, thôn tính từ từ” ( tằm ăn dâu) qua cánh tay nối dài  này. Đó là chế độ thực dân đỏ kiểu mới dùng người bản xứ thừa sai cai trị người bản xứ. Sách lựợc :

- Về mặt lý thuyết: khóa tư tưởng của đàn em, dân họ bằng chủ thuyết man rợ hoang tưởng Mac-Le, y chang như là che mắt con ngựa bắt phải đi tới, đi tới …. bờ vực thẳm.
- Về mặt thực dụng : áp dụng nhiều chiêu bài, thủ đoạn để bưng bít, bịt miệng, lừa bịp, khống chế, khủng bố người dân; mua chuộc, đe dọa, … nhóm cầm quyền.
Người dân sẽ làm nô lệ nuôi đảng, giúp làm giàu cho đảng, làm món hàng mua bán đổi chác với ngoại bang. Đảng con thừa sai phải cung cấp, phục vụ cho lợi ích của đảng cha (thành trì XHCN) hầu được bảo trợ về mặt chính trị, quyền lực, quyền lợi bè phaí .

Quân đội, công an “nhân dân” : đánh đồng, mượn danh nhân dân, nhưng thực chất là để bảo vệ quyền lực của đảng, sẵn sàng vu cáo, đàn áp nhân dân khi dân đòi công lý, lẽ phải, nói lên sự thật. Đó là chế độ công an trị, hộ khẩu, kềm kẹp người dân, song song với chính sách ngu dân, dùng tham nhũng (tiền của dân) để chiêu dụ và khống chế cán bộ phải trung thành với đảng. Bởi vậy, cán bộ cao cấp cs đã thú nhận : “chống tham nhũng thật tình là chống đảng” ; tham nhũng muôn năm, từ trung ương trên xuống địa phương, từ trái sang phải, khắp mọi cơ quan, nẻo đường đất nước, … quên đi họa mất nước : “nước mất thì nhà phải tan !!”, làm thân trâu ngựa từ đời này sang đời khác  cho ngoại bang qua cánh tay nối dài của 1 tập đoàn bản xứ thừa sai.

Nhà nước, tòa án “nhân dân”: mượn danh nhân dân, nhưng thực chất là để bảo vệ quyền lực quyền lợi của đảng, chèn ép người dân.
Quốc hội, nhà nước:  chỉ là công cụ bù nhìn của bộ chính trị đảng. Các vị “dân biểu” thực chất chỉ là tay sai của đảng, do cơ cấu tổ chức dựng lên : “độc đảng cử buộc dân bầu” ! Quốc hội chỉ là đại diện của 3 triệu đảng viên chứ không là đại diện của 80 triệu dân. Như vậy, hiến pháp, luật pháp cũng chỉ để bảo vệ quyền lợi của đảng mà thôi, không có hiệu quả thực sự cho lợi ích của dân, cho công lý, nhất là cái hiến pháp đó không được trưng cầu dân ý tự do của toàn dân !!
Bộ máy tuyên truyền vĩ đại (tất cả báo chí, truyền thông), dùng ngân sách quốc gia để lừa gạt, bóp méo sự thật theo lợi ích của đảng.
Tôn giáo quốc doanh, tổ chức, đoàn, hội … đều trực thuộc Mặt trận tổ quốc : toàn là những công cụ bù nhìn tay sai của đảng nhằm tập hợp, lũng đoạn, khống chế, lừa bịp người dân và che mắt thế giới.

Mặt trận tổ quốc là một tổ chức mị dân, cánh tay của đảng, nhằm sàn lọc, cài đặt những tổ chức bù nhìn tay sai, khống chế toàn bộ xã hội dân sự.  Đó là chính sách bất di bất dịch của mọi chế độ độc tài toàn trị, đảng trị.

Để “an toàn trên xa lộ độc tài toàn trị” đảng “chế ra và nhập cảng bên TQ” rất nhiều mủ ( phản động, chống đảng, lợi dụng dân chủ, gián điệp, ….) , và sẵn sàng CHỤP lên đầu bất kỳ ai can đảm nói lên sự thật, đòi công bằng, công lý, yêu nước, bảo vệ vẹn toàn đất tổ.

Đạo lý, công lý, lẽ phải, công bằng đều bị đảo lộn dưới chế độ cs, phi nhân bản, phản dân tộc, phản tự nhiên, hoang tưởng.

Thể chế chính trị một nước, nói chung, có tôn trọng dân quyền hay không được thể hiện qua: hoặc có dân chủ hoặc là độc tài (hay gọi là “tập trung dân chủ” -chơi chữ, trá hình-, hoặc dân chủ xã hội CN -chơi chữ để lừa bịp-). Phải nhìn vào cơ cấu tổ chức chính trị của xã hội một nước để thấy : quyền lực được tập trung vào ai ? có đối trọng quyền lực thực sự không ? người dân có tự do ứng cử, bầu cử, tranh cử không ? Có tự do báo chí tư nhân không ? có tự do ngôn luận không ? ….vv

Vài hệ lụy thấy rõ hiện nay:
- Mậu dịch Viet-Trung năm 2006 là khoảng 10 tỉ usd $, trong đó phần lợi nghiêng về phía TQ khoảng 8,5 tỉ $ usd. Như vậy, kinh tế TQ sẽ giết chết kinh tế VN ! Đó chỉ là 1 khía cạnh, còn nhiều khía cạnh khác nữa: chính trị, lịch sử, văn hóa, truyền thông, giáo dục, khoa học kỹ thuật, quân sự, công an, tư pháp, luật pháp, đất đai, biển, hải đảo vn, tiền giả, hóa chất thực phẩm độc hại,  …
- Lãnh thổ và hải phận, đảo của VN đã mất, thu hẹp lại, VN đã mất : Hoàng sa, gần mất hết quần đảo Trường Sa (qua công hàm Phạm văn Đồng 1958 và thái độ nhu nhược, mị dân của đcsvn); trên 720 km2 đất ở vùng biên giới phía bắc có mỏ vàng, … (Ải Nam quan, 1 thác Bản Giốc, suối Phi Khanh, …); trên 11000 km2 biển ở Vịnh bắc bộ có nhiều tài nguyên hải sản (qua hiệp định 12/1999 và 12/2000);  và VN sẽ tiếp tục bị mất tiếp trong tương lai.
- Dân TQ được tự do du lịch sang VN, đi khắp nơi không cần visa, để thăm viếng, làm ăn, tình báo, lấy vợ Việt, …. vv  (chính sách di dân của TQ trên khắp thế giới, một vấn đề nan giải cho những chính quyền dân chủ trong tương lai nếu muốn bảo vệ quyền lợi, độc lập dân tộc);

- Kinh tế VN bị TQ lũng đoạn.
- Đất đai, tài nguyên VN bị ngoại bang khai thác làm khánh kiệt, chỉ có lợi cho tư bản đỏ, trắng, vàng. Nhân dân và những thế hệ VN sẽ suốt đời làm nô lệ từ đời này sang đời khác, trả nợ cho ngân hàng thế giới, và bị bóc lột bới những thế lực “giàu, cơ hội” (tư bản đỏ, trắng, vàng).
- Môi trường, môi sinh, sức khỏe người dân không được bồi dưỡng, xây dựng, bảo vệ đúng đắn, bị khai thác một cách rất bừa bãi vì chạy theo lợi nhuận nhất thời, vì lợi ích cá nhân.

 

February 29, 2008

Thể chế chính trị, political systems, systèmes politiques

Political systems   (Political system )
A political system is a system of politics and government. It is usually compared to the law system, economic system, cultural system, and other social systems.

The main article for this category is Political systems.

See also: Category:Political theories and Category:Forms of government.

http://en.wikipedia.org/wiki/Category:Political_systems

———————————————————–

Subcategories
There are 12 subcategories in this category, which are shown below. More may be shown on subsequent pages
- Anarchism by genre
- Communism
- Democracy
- Electoral systems
- Forms of government
- Freely associated states
- Monarchy
- Political charters
- Socialism
Sultanates
- Voting systems
- Westminster system
—————————————————————- 

Chế độ chính trị

Có 7 tiểu thể loại trong thể loại này.
- Chính thể
- Chủ nghĩa xã hội
- Cộng hòa
- Dân chủ
- Phong kiến
- Quân chủ

Có ít nhất 14 trang trong thể loại này:
- Chế độ chính trị
- Chế độ quân chủ
- Chủ nghĩa phát xít
- Cộng hòa
- Cộng hòa nghị viện
Cực tả
Dân chủ đại nghị 
- Hệ thống đơn đảng
- Lịch sử Thể chế Đại nghị
- Phong kiến
- Quân chủ chuyên chế
- Thể chế Đại nghị
- Tự do chính trị

————————————————————————
Thể loại:  Chính thể

Xem bài chính thể và thể loại trùng lặp Thể loại:Chế độ chính trị
Có 5 tiểu thể loại trong thể loại này. 
- Chủ nghĩa toàn trị
- Chủ nghĩa xã hội
- Cộng sản
- Đế quốc
- Độc tài
- Chủ nghĩa phát xít
- Tự do dân chủ
Lập pháp 
- Quân chủ lập hiến

Thể loại (3): Chính phủ | Triết học chính trị | Chế độ chính trị

———————————————————————-

Chủ nghĩa toàn trị

Chủ nghĩa toàn trị hay Chế độ chuyên chế (totalitarianism) là một thuật ngữ được sử dụng bởi một vài nhà khoa học chính trị, đặc biệt là những người trong lĩnh vực chính trị so sánh, để mô tả một chính thể trong đó nhà nước hầu như qui định tất cả mọi hành vi cá nhân và công cộng trên mọi khía cạnh.

Những học giả có ảnh hưởng nhất về chủ nghĩa toàn trị, như Karl Popper, Hannah Arendt, Carl Friedrich, Zbigniew Brzezinski, và Juan Linz đều mô tả mỗi người một cách hơi khác nhau. Điểm chung của tất cả các định nghĩa là sự cố gắng động viên toàn thể dân chúng trong việc hỗ trợ hệ tư tưởng của nhà nước và sự không khoan nhượng đối với những hoạt động không hướng về mục tiêu của nhà nước, trấn áp kèm theo, hoặc là sự điều khiển của nhà nước đối với công đoàn lao động, nhà thờ hoặc là các đảng phái chính trị. Các chế độ toàn trị duy trì quyền lực chính trị bằng các công cụ như cảnh sát mật, các biện pháp tuyên truyền được gieo rắc qua các phương tiện truyền thông, các quy định và các hạn chế về tự do ngôn luận, việc sử dụng sự giám sát bằng truyền thông và việc sử dụng phổ biến các chiến thuật khủng bố.

Đường lối tập trung dân chủ

Đường lối tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản của các tổ chức cộng sản và được trình bày trong điều lệ chính thức của các đảng cộng sản.

Theo điều lệ chính thức, tất cả các cơ quan lãnh đạo và các bí thư các cấp được bầu bởi các đảng viên, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đại hội toàn thể đảng viên hay đại hội đại biểu đảng viên.

Ý nghĩa dân chủ của nguyên tắc này là thủ tục bầu cử này, cùng với quy tắc là các nghị quyết của đảng chỉ có thể thông qua bởi cơ quan được bầu. Còn ý nghĩa tập trung là quyết định của tổ chức đảng cấp trên là bắt buộc với các tổ chức đảng cấp dưới và cuối cùng là bắt buộc mỗi đảng viên phải chấp hành.

Mỗi vấn đề của đảng sẽ được thảo luận cho đến khi ra quyết định. Sau khi có quyết định, vấn đề đó phải được thực hiện mà không có sự tranh cãi, chống đối [cần dẫn chứng]; đảng viên dù có ý kiến khác khi phát biểu công khai vẫn phải nói theo nghị quyết chứ không được theo ý mình. [cần dẫn chứng]

Trong cuộc sống thực, ý nghĩa tập trung thể hiện rất mạnh mẽ. Theo quy định chính thức, tổ chức được xây dựng từ dưới lên nghĩa là các đại biểu cấp dưới sẽ quyết định trong việc bầu chọn lãnh đạo cấp trên nhưng thực tế lại khác xa điều đó: chủ yếu từ trên xuống, các lãnh đạo cấp trên sẽ là người quyết định ai sẽ là người được bầu chọn. [cần dẫn chứng]

Việc thực hiện nguyên tắc này được một bộ phận nhà nghiên cứu về chính trị cho rằng đã làm cho chủ nghĩa xã hội mà các đảng cộng sản theo đuổi biến thành chủ nghĩa toàn trị [cần dẫn chứng]. Một bộ phận nhà nghiên cứu khác phủ nhận giả thuyết này. Karl Popper, nhà triết học người Áo cho rằng đây chính là nguyên nhân làm cho xã hội do các đảng cộng sản nắm quyền trở thành một “xã hội đóng” đối lập với xã hội mở (xã hội cho phép người dân bày tỏ sự bất đồng chính kiến) mà ông đề xướng

—————————————————————–
Dân chủ
  

Dân chủ là một thể chế mà quyền thay đổi luật pháp và cơ cấu chính quyền thuộc về người dân. Trong hệ thống này, luật pháp được đặt ra do người dân hay những dân biểu được người dân bầu ra và mọi hoạt động xã hội đều tuân theo luật pháp.

Mục lục

[giấu]

Định nghĩa

Có rất nhiều biến thể của dân chủ, một số chỉ tồn tại trong giả thuyết và một số đã có thật.

[sửa] Dân chủ kiểu Athena

Từ “dân chủ” (tiếng Hy Lạp: δημοκρατíα) được đặt ra tại Athena (Hy Lạp) cổ trong thế kỷ thứ 5 TCN. Chính phủ đó được xem là hệ thống dân chủ đầu tiên. Tại đó, người dân bầu cho mọi việc. Nghĩa “dân chủ” này đã thay đổi qua thời gian, vì từ thế kỷ thứ 18 đã có nhiều chính phủ tự xưng là “dân chủ”. Nhiều người không xem hệ thống tại Athena chỉ diễn tả một phần của nền dân chủ vì chỉ có một thiểu số được bầu cử, trong khi nữ giớidân nô lệ không được phép bầu.

[sửa] Bầu cử

Việc bầu cử, tự nó, không phải là một điều kiện đủ cho nền dân chủ tồn tại.

Nhiều chế độ độc đoán hay độc tài thường tổ chức bầu cử để giả mạo một chế độ dân chủ. Tuy nhiên, trong các cuộc bầu cử, họ đã đặt ra nhiều hạn chế:

  • hạn chế người đủ tiêu chuẩn ra ứng cử

  • hạn chế quyền hạn của những đại biểu, hay những chính sách họ có thể lựa chọn

  • bầu cử không tự do và công bằng (đe dọa những người bầu cho một ứng cử viên nào đó)

  • giả mạo kết quả

Một số thí dụ trong lịch sử của những nền “dân chủ” này là Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trước khi sụp đổ trong năm 1991, Iraq dưới quyền Saddam Hussein, Philippines thời Ferdinand Marcos.

[sửa] Dân chủ tự do

Theo định nghĩa ngày nay, “dân chủ” thường được hiểu là “dân chủ tự do”. Trong khi dân chủ chỉ có nghĩa là một hệ thống chính phủ được thành lập và chính thống hoá bằng bầu cử, những nền dân chủ hiện đại còn được đặc trưng bởi những định chế sau đây:

  • Một hiến pháp để giới hạn các quyền và kiểm soát hoạt động của chính phủ, có thể là hiến pháp thành văn, bất thành văn hoặc hỗn hợp cả hai loại.

  • Bầu các ứng cử viên một cách tự do và công bằng.

  • Quyền bầu cử và ứng cử của người dân.

  • Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội v.v.

  • Quyền tự do báo chí và quyền truy cập thông tin từ nhiều nguồn.

  • Quyền tự do giao thiệp.

  • Quyền công bằng trước pháp luật và xét xử tuân theo quy tắc của pháp luật.

  • Người dân được thông tin về quyền lợi và trách nhiệm dân sự.

Nghĩa này thường có hạn chế. Không phải ai cũng được ứng cử trong các cuộc bầu cử; chỉ có những người tham gia mới được lựa chọn để ứng cử. Thêm vào đó, không phải ai cũng được đi bầu. Hầu hết các nước dân chủ chỉ cho phép những người dân đủ tuổi (thường là 18) bầu. Một số quốc gia không cho một số người khác bầu (chẳng hạn như người phạm tội).

Trong một số chính quyền, chế độ dân chủ tự do là chế độ thực tế, trong khi trong danh nghĩa là một chế độ khác; ví dụ Canada là một chế độ quân chủ, nhưng trong thực tế được lãnh đạo bởi một Nghị viện được bầu một cách dân chủ.

Một số người định nghĩa dân chủ là một “chế độ của đa số với một số quyền cho thiểu số”.

[sửa] “Dân chủ” và “Cộng hoà”

Nghĩa của từ “dân chủ” đã thay đổi nhiều lần từ thời Hy Lạp cổ đến nay. Trong cách sử dụng ngày nay, từ “dân chủ” chỉ đến một chính phủ được dân chọn, không cần biết bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.

Chữ “dân chủ” còn có một định nghĩa khác, trong lý thuyết hiến pháp và trong thảo luận hồi xưa, đặc biệt là khi nghiên cứu về công việc của những “Khai quốc công thần Hoa Kỳ“. Trong cách dùng này, thì chữ “dân chủ” để riêng chỉ đến “dân chủ trực tiếp“, trong khi “dân chủ đại biểu” trong đó dân chúng bầu người thay mặt cai trị theo một hiến pháp thì lại dùng chữ “cộng hòa” (republic). Các danh từ cổ này vẫn còn chút thông dụng trong cách cuộc tranh biện giữa Phe bảo thủĐảng Libertarian tại Hoa Kỳ.

Những nhà lập hiến nguyên thủy của Hiến pháp Hoa Kỳ được ghi nhận là đã biết điều mà họ cho là cái nguy hiểm của cách cai trị theo đa số, là có thể đàn áp tự do cá nhân. (Xem thêm bên dưới.) Thí dụ, James Madison, trong Federalist Papers số 10 đã cổ võ cho nền cộng hòa hơn là nền dân chủ chính là để bảo vệ cá nhân chống lại đa số. [1] Tuy vậy, trong thời điểm đó, các nhà lập hiến đã cẩn tâm dựng nên những cơ quan dân chủ và cải cách xã hội quan trọng trong khuôn khổ của hiến pháp và Dự luật Dân quyền (Bill of Rights). Họ giữ lại những yếu tố hay nhất của thể chế dân chủ, sau khi đã sửa sai bằng cách cân bằng quyền lực và với một cơ cấu liên bang nằm lên trên.

Tuy nhiên, theo cách dùng hiện thời thì chữ “cộng hòa” dùng để chỉ bất cứ một quốc gia nào có một người quốc trưởng được bầu lên làm việc một thời gian có hạn, khác với hầu hết các chính phủ quân chủ cha truyền con nối hiện thời đều là các chính phủ dân biểu và hiến pháp quân chủ nhưng cai trị theo chế độ nghị viện (parliamentarism). (Các chế độ quân chủ đại biểu cũng không gọi là “cộng hòa”.)

Theo như cách nói mạnh mẽ và sắc sảo của Thomas Jefferson thì lời hứa của dân chủ là “được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.

[sửa] Dân chủ xã hội chủ nghĩa

Chủ nghĩa vô chính phủchủ nghĩa cộng sản (giai đoạn cuối cùng trong tiến trình xã hội trong học thuyết Marx) là những học thuyết chính trị trong giả thuyết có nền dân chủ trực tiếp, và không có một chính quyền độc lập từ người dân. Tuy thế, những chính phủ dưới sự lãnh đạo của một đảng cộng sản hiện nay đã chưa đến giai đoạn đó và đảng cộng sản vẫn giữ độc quyền trong lúc cầm quyền.

[sửa] Văn hoá dân chủ

Tại các quốc gia không có truyền thống vững chắc của nền dân chủ đa số, chỉ riêng tự do bầu cử thì hiếm khi chuyển đổi được chế độ độc tài thành dân chủ, mà còn cần phải có sự thay đổi lớn trong nền nếp sinh hoạt chính trị và có tạo dựng được những định chế của một chính phủ dân chủ. Ta thấy như trong trường hợp Cách mạng Pháp hay Uganda hay Iran ngày nay, đều là chỉ đạt được dân chủ giới hạn một thời gian, cho đến khi xuất hiện những thay đổi lớn thì mới có được thực trạng đa số dân quyền.

Một yếu tố của nền nếp dân chủ là ý niệm “đối lập tốt, đối lập trung thành“. Tại những quốc gia vốn vẫn thay đổi chính quyền bằng bạo lực, thì điều này hẳn nhiên rất khó. Danh từ này ý nói là mọi phe trong một quốc gia dân chủ đều một lòng chấp nhận một số giá trị căn bản. Tuy vẫn có bất đồng ý kiến, các phe tương tranh đều nhận chịu nhau và chấp nhận là mỗi phe đều có vai trò chính đáng, quan trọng. Những quy tắc căn bản của xã hội phải khuyến khích việc tranh cãi trong tinh thần chấp nhận và lịch sự. Trong những xã hội đó, người thua chấp nhận quyết xét của lá phiếu chung sau khi bầu cử, và trao chuyển quyền lực trong hòa bình. Người thua như vậy sẽ được yên lòng là sẽ không mất mạng hay mất tự do, và có thể tiếp tục tham dự vào công cuộc. Họ không phải là trung thành với những chính sách của chính phủ, mà là với căn bản hợp pháp của quốc gia và chính với tiến trình dân chủ.

Một quyền cơ bản để tạo nên nền dân chủ là mọi cá nhân có quyền tự do hội họp, tự do tổ chức và thành lập các hội dưới nhiều dạng khác nhau của tổ chức phi chính phủ. Khi những người có cùng lợi ích tập hợp nhau lại, khi đó tiếng nói của họ sẽ được lắng nghe và cơ hội để gây ảnh hưởng đối với các cuộc tranh luận về chính trị sẽ được tăng lên. Như Alexis de Tocqueville, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng thế kỷ 19 đã viết: “Không có một đất nước nào mà sự đòi hỏi cấp thiết phải có các hiệp hội để chống lại sự chuyên chế bè cánh và sự độc đoán lãnh đạo như một đất nước được xây dựng theo kiểu dân chủ”.

[sửa] Đại diện tỷ lệ hay đa số

Vài hệ thống bầu cử, như các hình thức đại diện tỷ lệ, muốn nhắm chắc được là tất cả các nhóm chính trị kể cả nhóm thiểu số của các đảng nhỏ đều được có mặt “đồng đều” trong các cơ quan lập pháp, theo tỷ lệ số phiếu trong tay; thay vì theo hình thức đại diện đa số tức là theo tỷ số của toàn bộ cử tri mà họ chiếm được trong một vùng nào đó.

Cái mâu thuẫn của tỷ lệ với đại diện không phải chỉ là một vấn đề lý thuyết, vì thực ra cả hai hình thức rất thông dụng trên thế giới, mỗi hình thức dựng nên một loại chính phủ khác biệt. Một điểm chính hay được tranh biện là vấn đề có một người trực tiếp thay mặt cho vùng nho nhỏ của ta, trong quê nhà của ta, hay là để cho lá phiếu của mỗi người đều giống nhau, bất kể ta đang sống nơi nào trong quốc gia. Vài quốc gia như ĐứcTân Tây Lan muốn có cả đại diện từng vùng lẫn đại diện tỷ lệ, cả hai hiện diện song song mà không lấn át nhau. Hệ thống này thường được gọi là Mixed Member Proportional tạm dịch là Phân thân Tỷ lệ.

[sửa] Các luận điểm ủng hộ và chống đối

[sửa] Vai trò các đảng phái

Có người chỉ trích là trong đại biểu dân chủ, các phe phái chính trị sẽ khiến cho các đại biểu phải tuân theo đường hướng của đảng, thay vì đi theo ý muốn của cử tri hoặc chính lương tâm. Nhưng chính ra ta có thể nói là cử tri đã tỏ ý muốn của mình qua cuộc bầu cử, đã chú trọng đến những chương trình của người tranh cử, thì chỉ cần theo đó mà làm thôi.

Một khó khăn đang thấy trong các nền đại biểu dân chủ là phí tổn ngày càng cao của các mùa tranh cử, khiến cho ứng cử viên phải thương lượng với người giàu mua chuộc luật có lợi cho họ.

Les Marshall, chuyên gia nghiên cứu về dân chủ cho các xứ vốn chưa có dân chủ, ghi nhận rằng “trên toàn cầu, ngoài chính thể đại biểu dân chủ đa đảng, không còn cách nào khác” cho các xứ này có thể tạo dựng dân chủ cả. Thật ra điều này chẳng có gì khúc mắc: đại biểu dân chủ là chính thể duy nhất được dùng trong các quốc gia “dân chủ”.

[sửa] Đa số chuyên chế

Xin xem thêm bài về Thể chế đa số (Majoritarianism).

Người ta sợ rằng cai trị bằng đa số có thể đưa đến nạn “đa số chuyên chế”, dù có được ủy quyền bởi số lớn từ mọi tầng lớp hay không. Đó là cái nạn xẩy ra khi một hệ thống dân chủ có thể trao quyền cho đại biểu dân cử để họ thay mặt hành động theo ý kiến của đa số, chống lại một thiểu số nào đó. Như vậy rõ ràng là có thể phá hỏng nguyện vọng dân chủ, là muốn trao quyền cho tất cả mọi công dân. Thí dụ, trên lý thuyết thì một chế độ dân chủ tự do có thể bầu lên những đại biểu và họ quyết định bắt tội một nhóm thiểu số (tôn giáo, chính trị, v.v.) nào đó, bằng cách trực hay gián tiếp.

Sau đây là vài trường hợp tỷ dụ mà sự đối xử của đa số với thiểu số cần được phân tích:

  • Tại Pháp, có người cho rằng việc cấm biểu dương các dấu hiệu tôn giáo trong trường công là xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng của người dân.

  • Tại Hoa Kỳ:

    • lưu hành tài liệu khiêu dâm được coi là bất hợp pháp nếu các tài liệu này vi phạm những “tiêu chuẩn cộng đồng” trong vấn đề công xúc tu sỉ.

    • các người sách động phe “duy sinh” (chống phá thai) gọi những đứa bé chưa sinh là một phe thiểu số vô cố vô thân bị áp bức.

    • trong cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, chế độ quân dịch bị chỉ trích là áp bức một thiểu số bị mất quyền, là các người 18 đến 21 tuổi. Đáp lại, người ta nâng tuổi quân dịch lên 19 tuổi và tuổi đi bầu hạ xuống khắp nước (cùng với tuổi được uống rượu tại vài tiểu bang). Như vậy, tuy không còn bị mất quyền, số người tuổi quân dịch càng bị ít đi hơn.

  • Phe đa số thường đánh thuế giới thiểu số giàu có với tỷ lệ cao hơn, với mục đích buộc giới giàu có phải gánh vác số thuế cao hơn để phục vụ những nhu cầu xã hội.

  • Tại nhiều nước trên thế giới, những nguời nghiện thuốc cho vui thì được coi là một thiểu số đáng kể đang bị đa số áp bức qua luật pháp bắt tội nghiệp ngập. Tại nhiều nước, phạm luật nghiện ngập còn bị mất quyền bỏ phiếu.

  • Trong vấn đề này, người ta cũng hay nói đến thái độ của xã hội với những người đồng tình luyến ái. Thí dụ là Anh Quốc trong thế kỷ 19 và hầu hết thế kỷ 20 đã ra hình sự hóa tôi tình dục của giới này, nổi tiếng nhất là vụ án Oscar WildeAlan Turing.

  • Viện cớ nghịch đạo, nghĩa là bất đồng ý, nền dân chủ Athena đã xử tử Socrates. Đến nay vẫn chưa quyết được là việc này có làm tổn hại gì đến cho dân chủ không.

  • Adolf Hitler đã đạt được nhiều nhất tổng số phiếu của các phe thiểu số trong nền dân chủ Cộng hòa Weimar năm 1933. Điều này đáng bàn đến vì Hitler đã chẳng bao giờ chiếm được đa số phiếu, cho nên vụ này có thể gọi là chuyên chế của một thiểu số. Sau khi hủy bỏ hệ thống dân chủ, thì chế độ này liền bắt đầu đàn áp.

Phe đề xướng dân chủ bào chữa như sau:

  • Một thì nói là đã có hiến pháp bảo vệ phía sau chống lại nạn chuyên chế của đa số. Nói chung, muốn thay đổi hiến pháp cần phải có đa số tuyệt đối toàn đại biểu, hoặc cần thẩm phán và thẩm phán đoàn nhận là các tiêu chuẩn thủ tục và bằng cớ đã được thoả thuận, hoặc, trường hợp hiếm là cần một cuộc trưng cầu dân ý. Những điều kiện này thường được kết hợp với nhau.

  • Ngoài ra, sự phân quyền thành lập pháp, hành pháptư pháp làm thiểu số khó có thể làm theo ý riêng. Như vậy, đa số vẫn có thể bắt buộc thiểu số một cách hợp pháp (tuy có thể là phi đạo), nhưng thiểu số đó phải là ít người lắm, và trên thực tế thì phải có một số đông người đồng ý điều đó.

  • Một lý luận nữa là các nhóm, đa số hay thiểu số, tùy theo vấn đề, thường rất là những nhóm khác nhau; như vậy phe đa số phải cẩn thận cân nhắc ý kiến của thiểu số, đề phòng trường hợp tối hậu trở thành thiểu số.

  • Một lý luận thường nghe nữa là: tuy có những bất trắc, cai trị theo đa số vẫn tốt hơn các chính thể khác, và đa số chuyên chế dù sao thì cũng là khá hơn là thiểu số chuyên chế.

Phe đề xướng dân chủ cho rằng bằng chứng theo thống kê rõ ràng chứng tỏ là càng nhiều dân chủ thì càng ít bạo động nội bộ và diệt chủng (democide). Điều này thường được gọi là Luật Rummel, rằng người dân càng ít tự do dân chủ thì càng dễ bị giới cai trị giết chết.

[sửa] Ổn định chính trị

hệ thống dân chủ cho phép công chúng có quyền tước bỏ giới cầm quyền mà không cần thay đổi căn bản luật pháp của chính thể, nó làm cho công dân tin rằng họ có thể bất đồng với chính sách hiện thời, nhưng sẽ luôn có cơ hội thay đổi giới cầm quyền, hoặc thay đổi chính sách. Điều này có thể giảm bớt những bất trắc và bất an chính trị hơn là thay đổi chính trị bằng bạo động.

[sửa] Nạn nghèo đói

Nơi nào có dân chủ thì càng nâng cao Tổng sản phẩm quốc nội trên mỗi đầu người và chỉ số phát triển nhân sinh (human development index), và chỉ số nghèo thì càng thấp.

Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý là những cái hay này là đều nhờ vào dân chủ. Có người cho là hầu hết chứng cớ lại đưa đến kết luận là chính nhờ tư bản (đo bằng Chỉ số Tự do Kinh tế chẳng hạn) đã tạo ra nhiều phát triển kinh tế làm dân giàu có hơn đưa đến dân chủ hóa.

Kinh tế gia nổi tiếng Amartya Sen ghi nhận là chưa có một chế độ dân chủ thực sự đã từng bị nạn đói lớn, kể cả những nước dân chủ vốn không giàu có suốt lịch sử, như Ấn Độ.

[sửa] Chiến tranh

Lý thuyết dân chủ hoà bình cho rằng chứng cớ thực tế cho thấy là hầu như không bao giờ có chiến tranh giữa các nước dân chủ.

Thí dụ là một công trình nghiên cứu vế những chiến tranh từ 1816 đến 1991 — định nghĩa chiến tranh là khi nào có quân lính đánh nhau làm cho hơn 1000 người chết trận, và định nghĩa dân chủ là khi hơn 2/3 đàn ông có quyền bầu cử. Nghiên cứu này tìm ra 198 chiến tranh giữa các nước không dân chủ, 155 giữa các nước dân chủ đánh với các nước không dân chủ, và không có chiến tranh nào giữa những nước dân chủ với nhau. [2]

Hiện nay các quốc gia đã có nền dân chủ thật sự vẫn luôn ước mong và vận động kêu gọi các quốc gia chưa có nền dân chủ hãy nên mạnh dạn có tinh thần cải thiện, cải cách chính trị để tạo điều kiện thiết lập, hình thành một nền dân chủ thật sự qua sự dân chủ hóa của mình.

Nay sự lan triền tư tưởng dân dân chủ từ các nước nước phát triển đã lan triền thành một làn sóng dân chủ sang các nước chưa nền dân chủ thật sự[cần dẫn chứng]. Làn sóng dân chủ đã trở thành một cao trào tất yếu toàn cầu[cần dẫn chứng].

[sửa] Dân chủ ở Việt Nam

Theo điều 4 Hiến pháp 1992, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động của xã hội. Theo Hiến pháp thì người dân Việt Nam bầu ra Quốc hội là những người đại diện cho dân để họ bầu ra chủ tịch nước và chính phủ.

[sửa] Liên kết ngoài

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7

———————————————————————
Système politique
Régime politique.
———————————————————————-

Ghi nhận:
Thể chế chính trị: political system , système politique (ex: thể chế dân chủ tự do, độc tài toàn trị cs, …)
Chế độ chính trị : form of gouvernment, régime politique (chế độ cộng hòa, chế độ cs, chế độ đại nghị, tổng thống chế, …)

Trong thể chế dân chủ tự do, người dân thực sự làm chủ lá phiếu của mình, có khả năng truất phế những lãnh đạo bất tài bất lực bất lương, qua bầu cử tự do, có cạnh tranh đảng phái khác nhau, công bằng trong sáng. Mặt khác họ cũng có quyền xuống đường phản đối những chính sách phản lòng dân, những người bất tài, tham ô, lạm quyền.

Ngược lại, trong thể chế độc tài toàn trị, nhóm nhỏ người cầm quyền (BCT) tướt đoạt mọi quyền căn bản của con người, cả dân quyền  để bảo vệ sự độc tôn, độc tài, sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ, ngay cả khi chế độ đó “bán nước buôn dân, tham nhũng, tay sai ngoại bang” vì không có đối trọng chính trị đảng phái độc lập. Đảng ngồi xổm lên hiến pháp, điều hành mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, báo chí, truyền thông, quân đội, công an, quốc hội, tòa án, nhà nước, …. tất cả và không lấy trách nhiệm (đúng đắn, đầy đủ, kịp thời) về hệ lụy của chọn lựa, quyết định, hành động của các cấp  !!  Nhà nước có tất cả cơ ngành cần thiết, nhưng chỉ là hình thức mị dân, bù nhìn.
Privé: Ghi nhận: vài nét những thể chế, chế độ chính trị độc tài/dân chủ

 …

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.