Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

July 9, 2008

Tôi đi bán sách về Hoàng Sa – Trường Sa


7.7.2008

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13644&rb=0401

Cuối cùng thì, vượt qua mọi trở lực, cuốn Hoàng Sa, Trường Sa – Lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế của nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cũng ra được.

Sách do Nhà xuất bản Tri Thức chịu trách nhiệm pháp lý và ấn hành theo phương thức liên kết giữa NXB với tác giả, một phương thức khá phổ biến từ nhiều năm nay: tác giả tự bỏ tiền đóng cho NXB một khoản gọi là “quản lý phí” để NXB đọc duyệt và cấp giấy phép, rồi cầm giấy phép ấy đi thuê in và tự bán, bán được thì thu hồi đủ vốn, không bán được thì…, chuyện này dịp khác xin sẽ kể dài dài.

Ấy thế nên mới có chuyện tôi đi bán sách về Hoàng Sa, Trường Sa.

Sách in đẹp, công phu, 400 trang, khổ 16×24, giá 86 ngàn đồng. Nội dung sách gồm những cứ liệu lịch sử lâu đời (văn bản và họa đồ) của Việt Nam và nước ngoài kể cả Trung Quốc, được hệ thống hóa, đã minh chứng rành mạch chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách cũng hệ thống hóa diễn biến tranh chấp cùng các văn bản pháp lý của các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ, đối chiếu với tiêu chuẩn công pháp quốc tế để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên hai quần đảo ấy.

Nghe tin sách ra, tôi liền gọi điện chúc mừng nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng và giục ông gửi gấp vài ba chục cuốn để tôi bán tại Đà Lạt. Tôi cũng điện đề nghị bạn hữu, đồng nghiệp của tôi ở các nơi giúp bán sách.

Cuộc bán sách khá lý thú, đáng được kể lại.

Những khách mua đầu tiên ở Đà Lạt đương nhiên là các bạn tôi, các cụ lão thành, các cựu chiến binh, các nhà giáo…, ai cũng lấy ngay một cuốn, không phải với giá bìa 86 ngàn mà đưa luôn 100 ngàn. Tiếp đó là những khách mà khi mời mua, thâm tâm tôi cũng có hơi ngại bị hờ hững (vì ấn tượng đáng lo về thái độ đối ngoại không tương xứng ở hàng lãnh đạo quốc gia trước đòi hỏi của tình hình), không ngờ lại được hồ hởi đón nhận: đó là ủy viên thường vụ trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, là chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh, rồi cựu phó chủ tịch Hội Văn nghệ, cựu giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình… Cũng mua với giá 100 ngàn cả. Tổng biên tập báo Đảng của tỉnh còn yêu cầu được mua hẳn 10 cuốn để cung cấp cho phóng viên, biên tập viên. Chi hội Văn nghệ thị xã Bảo Lộc nhận bán 10 cuốn. Tôi hỏi thăm trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy: “Trong tỉnh ủy, mối quan tâm đối với vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và ý thức cảnh giác trước âm mưu và hành động của chủ nghĩa bành trướng thế nào?” Được trả lời: “Rất quan tâm, rất cảnh giác anh ạ.” Mở đọc lướt mục lục cuốn sách, anh gật gù nói tiếp: “Tốt quá, tốt quá, thế là có thêm tư liệu để báo cáo thời sự.” Cũng là một tín hiệu đáng khích lệ. Hy vọng rằng các thành ủy, các tỉnh ủy trong cả nước đều được như thế.

Một giáo sư, giảng viên trường Đại học Đà Nẵng, nói với tôi (qua điện thoại): “Đọc bản tuyên bố ngày 6/9/1951 của Thủ tướng Trần Văn Hữu tại hội nghị quốc tế San Francisco thấy rất tự hào về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam mình, đọc những phân tích của tiến sĩ luật Từ Đặng Minh Thu ở Đại học Sorbonne – Paris in trong phần phụ lục mới thấy bấy lâu Trung Quốc cứ cố dựa vào bức thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai để biện minh cho hành động xâm lấn của họ là họ cố tình quay lưng với công pháp quốc tế, cho nên bây giờ nhất định ta phải đưa vấn đề này ra Hội đồng Bảo an mà đấu tranh.

Vị giáo sư trẻ này là người giúp bán nhiều sách nhất, chỉ trong thời gian ngắn anh báo tin đã bán hết 30 cuốn, lại phải photo thêm 20 cuốn để tặng bạn bè. Anh cho biết các cán bộ lãnh đạo của trường anh đều là khách mua sách đầu tiên, anh còn đem sách tặng cho bí thư, chủ tịch thành phố Đà Nẵng và trao đổi ý kiến với các cán bộ ấy về quốc sự.

Rồi anh em ở Quảng Ngãi, Nha Trang, Huế đều báo tin đã bán hết sách. Tận Hải Phòng xa xôi, nhà văn già 74 tuổi Bùi Ngọc Tấn cũng nhận bán 10 cuốn, và độ mươi hôm sau bán xong đã gửi tiền vào.

Bán sách thì được nhận một khoản phát hành phí. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng cho biết, đem ký gửi ở các công ty sách thì khoản đó họ lấy 30 – 40% giá bìa. Tôi nói với anh em bạn hữu đồng nghiệp của tôi, mọi người thống nhất 20%, nhưng khi bán xong, nhiều anh em chẳng lấy đồng nào hoặc chỉ lấy chút xíu tượng trưng, còn gửi hết cả cho tôi. Tôi đã gom số tiền ấy cùng tiền phát hành phí của mình và cả tiền khách mua giá cao lại thành một khoản dành riêng đây và báo tin với NXB Tri Thức, đề nghị NXB lập một quĩ để tất cả những ai đi bán sách về Hoàng Sa, Trường Sa mà muốn góp tiền công phát hành cho việc ích nước lợi dân thì gửi vào quỹ.

Quỹ dùng chi những việc gì ?

Theo tôi thì quỹ này trước hết là dùng để đi thăm hỏi gia đình các liệt sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Tôi cũng đề nghị NXB Tri Thức cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng tổ chức biên soạn một cuốn ngắn gọn về Hoàng Sa, Trường Sa, in số lượng lớn với giá rẻ, để sao cho:

  • mỗi học sinh, sinh viên Việt Nam

  • mỗi công dân Việt Nam

đều có thể có một cuốn.

Đồng thời phát động tổ chức việc bán sách rộng rãi đến tận thôn cùng xóm vắng.

  • người người đi bán sách về Hoàng Sa Trường Sa

  • người người mua sách về Hoàng Sa, Trường Sa.

Đồng thời tổ chức cuộc thi viết bài về lịch sử, địa lý Hoàng Sa, Trường Sa dùng cho sách giáo khoa.

Để người người Việt Nam từ già đến trẻ luôn biết và nhớ rằng còn một phần lãnh thổ lãnh hải máu thịt của Tổ quốc thân yêu đang nằm trong tay thế lực bành trướng Trung Quốc.

Để toàn Đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo tối cao phải xem xét lại một cách căn bản mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, có phải trên thực tế bấy lâu nay mối quan hệ ấy là lợi bất cập hại?

Để mỗi đại biểu đại hội Đảng và các đoàn thể từ cơ sở tới trung ương, mỗi đại biểu dân cử từ hội đồng nhân xã tới quốc hội phải tỏ rõ lập trường dứt khoát và chương trình hành động cụ thể về nhiệm vụ chống bành trướng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của Tổ quốc trình bày trước nhân dân, xem đây là tiêu chuẩn hàng đầu trong phẩm chất chính trị của người đại biểu, rồi đảng viên cùng nhân dân sẽ căn cứ vào đó mà quyết định lá phiếu khi bầu chọn.

Đồng thời rất cần tổ chức dịch sách về Hoàng Sa Trường Sa của ta sang tiếng Trung Quốc để sao cho mọi người dân Trung Quốc có được thông tin đầy đủ và chính xác về vấn đề này. Tôi tin rằng khi biết rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam thì người dân Trung Quốc nhất định sẽ không tán thành việc nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa.

Đà Lạt 06.7.2008

Địa chỉ dành cho các bạn cần mua hoặc giúp bán sách:

NXB TRI THỨC 53 Nguyễn Du – Hà Nội. ĐT: 9454661. E-mail: lienhe@nxbtrithuc.com.vn

CÔNG TY TNHH THƯ LÂM 61/420A Phan Huy Ích Gò Vấp TPHCM. ĐT: 9968045

© 2008 talawas

—————————————————————–

Ý kiến:
Phải chăng nên tài trợ mua tặng thư viện mỗi trường Đai hoc, trung học, … ở khắp cả nước 5 quyển / thư viện !!?
Nếu cả nước có 200 trường:
90 000 đ vn x 200 x 5 = 135 000 000 đ vn = khoảng 7950 $ usd !
Phần còn lại xin phép tác giả photocopy ra, trả giá rẻ hơn cho SV HS. Sẽ để sách dưới dạng numeric trên internet, ai muốn vào download thì trả “giá vốn” + 20% cho tác giả qua paypal … ?

May 11, 2008

“Môi Hở Răng Lạnh” TK 21 – Phần 2: Việt Gian – Hán Tặc

 Hùng Nguyễn

 

 

Khi bàn đến vị trí của Việt Nam, tác giả Hoàng Văn Chí trong cuốn “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản” đã dựa vào quá trình 100 trăm năm Pháp thuộc để hình dung Việt Nam giống như một cái đáy phễu, mà muốn vào đất Tầu người ta phải tiến từ đáy phễu lên. Bằng chứng là Âu châu, đặc biệt là Pháp,  muốn “xâm nhập” Tầu thì thường vào Việt Nam trước rồi mới dùng lãnh thổ Việt Nam làm bàn đạp tiến vào Tầu.

Trong Phần 1 (1), người viết đã bàn về “sách lược trục” Hải Nam-Hoàng Sa-Trường Sa như một chiến lược chính trị – quân sự địa dư của Tầu Cộng, và đã khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong cái thế “Môi răng” đối với Việt Nam, mà chính là da, là thịt, là xương của Việt Nam. Nhưng Hoàng Sa, Trường Sa trong Biển Đông không phải là toàn bộ máu thịt Việt Nam, mà phần chính là lãnh thổ hình chữ S. Trong bài này, người viết vận dụng tầm nhìn chiến lược về lãnh thổ Việt Nam để thử tìm hiểu xem Việt Nam có phải ở thế “môi, răng” với Tầu hay không, và nếu có, thì nó như thế nào?

 

§ Đại Chiến Lược là Then Chốt của Vấn Đề. (2)

Khi bàn về chiến lược – strategy, người ta thường lưu ý đến hai khía cạnh là đoản kỳ (ngắn hạn) và trường kỳ (dài hạn). Chiến lược đoản kỳ có thể kéo dài một, vài ba năm; còn chiến lược trường kỳ kéo dài hàng chục, có khi hàng trăm năm hay hơn nữa. Khi một chiến lược tạo thành căn bản nhằm bảo vệ các quyền lợi sinh tử của một quốc gia thì đó là một “đại chiến lược – grand strategy”. Thí dụ, đại chiến lược của Mỹ là làm chủ Bắc Mỹ và bá chủ đại dương, đại chiến lược của Tầu là Hán hóa toàn cầu, đại chiến lược của Liên Xô là khoác áo Mác đi thôn tính toàn cầu, v.v… Vậy việc không duy trì được một đại chiến lược đồng nghĩa với sự suy vi hay tệ hơn nữa là sự tan rã của một quốc gia, vì các quyền lợi sinh tử của quốc gia ấy đã không còn được bảo đảm hoặc ngay cả không còn tồn tại nữa. Một thí dụ điển hình cho trường hợp này chính là sự sụp đổ của đế chế Liên Xô!

 

1. Đoản Kỳ vs. Trường Kỳ.

Với các phương tiện giao thông phi mã như ngày nay, cụ thể là phi cơ – bạn có thể nêu ra câu hỏi, là từ khắp nơi trên thế giới, người ta có thể tiếp cận vùng Đông Nam Á bằng máy bay mà không cần thông qua Việt Nam.

Nghi vấn trên rất xác đáng và nếu áp dụng trong đoản kỳ; thí dụ, khi một cuộc chiến bùng nổ, nếu cần người ta có thể đổ quân vào Thái Lan chẳng hạn, bằng một cầu không vận nào đó. Tuy nhiên, trên thực tế chiến tranh chỉ là đoản kỳ; lại nữa, phương tiện hàng không tuy nhanh nhưng lại rất tốn kém và gây ra rất nhiều … ô nhiễm cũng như bất ổn về mặt an toàn; đến cái độ hầu như trên trường kỳ không quốc gia nào có thể hết năm này đến tháng nọ chịu đựng nổi một chiến lược tiếp vận hoàn toàn bằng không vận như thế.

Do đó, một trong những khía cạnh quan trọng của chiến lược trường kỳ phải là xây dựng, củng cố “bàn đạp”, tức là xây dựng hạ tầng cơ sở tại những “tụ điểm chiến lược” rồi từ đó “bước” thêm một hay nhiều bước xa hơn. Có thế, nếu là chiến tranh quân sự thì mới là một chiến lược có hiệu năng, còn nếu là “chiến tranh” phi quân sự thì mới có tính “kinh tế” và “có hiệu năng”.

Như vậy, chiến lược đoản kỳ được đưa ra nhằm giải quyết những đột biến bất ngờ, trong khi đó chiến lược trường kỳ nhằm giải quyết trên một tổng thể lâu dài. Còn đại chiến lược là chiến lược gắn bó với một quốc gia và tạo thành căn bản chiến lược lâu dài của quốc gia đó.

 

2. Đại Chiến Lược Bắc Tiến của Việt Nam?

Hiển nhiên, trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, Việt Nam không hề có một chiến lược Bắc tiến! Dĩ nhiên, bạn có thể phản bác, cho rằng Lý Thường Kiệt đã từng phạt Tống và đưa ra bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành sơn thủ bại hư.”

Nếu vậy, người viết xin mời bạn ôn lại một trang sử cũ, trích từ “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim:

“Nguyên nhà Tống lúc bấy giờ [1068-1078, thời vua Thần-tông nhà Tống] bị nước Bắc Liêu và Tây Hạ ức hiếp, hàng năm phải đem vàng bạc và lụa vải sang cống hai nước ấy. Mà trong nước thì không có đủ tiền để chi dụng. Vua Thần Tông mới dùng ông Vương An Thạch làm Tể tướng để sửa sang mọi việc.

….

Vương an Thạch lại có ý muốn lập công ở ngoài biên, để tỏ cái công hiệu việc cải tổ của mình. Bấy giờ Ung-châu có quan tri-trâu là Tiêu Chú biết được ý Vương an Thạch, mới sai làm sớ tâu về rằng: nếu không đánh lấy Giao Châu thì về sau thành một điều lo cho nước Tầu.

Vua nhà Tống nghe lời tâu ấy, sai Tiêu Chú kinh lý việc đánh Giao Châu. Nhưng Tiêu chú  từ chối, lấy việc ấy làm khó, đang không nổi. …

Bên Lý triều ta thấy sự tình như thế mới viết thư sang hỏi Tống triều, thì Lưu Gi lại giữ lại không đệ về kinh. Lý triều tức giận, bèn sai Lý thường Kiệt và Tôn Đản đem 10 vạn binh chia ra làm 2 đạo thủy bộ cùng tiến sang đánh nhà Tống, lấy cớ rằng nhà Tống đặt ra phép mới làm khổ trăm họ. Vậy quân Đại Việt sang đánh để cứu vớt nhân dân, v.v….

Tống triều được tin quân nhà Lý sang đánh phá ở châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, lấy làm tức giận lắm, bèn sai Quách Quì làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó sứ, đem 9 tướng quan cùng hội với nước Chiêm Thành và Chân Lạp chia đường sang đánh nước Nam ta.

Tháng chạp năm bính thìn (1076) quân nhà Tống vào địa hạt nước ta. Lý triều sai Lý Thường Kiệt đem binh đi cự địch. Thường kiệt đánh chặn quân nhà Tống ở sông Như Nguyệt (Làng Như Nguyệt ở Bắc Ninh, tức là sông Cầu bây giờ)….”

 

Đoạn sử trên cho thấy nhà Lý sang đánh nhà Tống chỉ là để đánh phủ đầu, chặn trước âm mưu xâm lược nước ta, và nhà Tống lúc bấy giờ cũng đang ở trong thời Mạt Tống, do đó không có sức mạnh để sang xâm lăng: “Nhưng Tiêu chú  từ chối, lấy việc ấy làm khó, đang không nổi.” (Tại đây, tưởng ta cũng nên ôn lại, rằng nhà Tống là triều đại chú trọng về “dân sinh” và khoa bảng hơn là bành trướng, nhiều hơn bất kỳ triều đại nào trong lịch sử nước Tầu!)

Trang sử trên cũng mơ hồ không cho thấy Lý Thường Kiệt xuất binh từ đâu, Quảng Đông, Quảng Tây, hay Thăng Long, v.v… vậy có nghĩa là một biên giới rõ rệt đã không hề được vạch ra một cách rõ ràng cho thấy lãnh thổ Đại Việt thời bấy giờ là những đâu!

Tóm lại, như vậy tức là nước ta đã không có một đại chiến lược Bắc tiến nào; hoặc giả nếu có, thì cũng chỉ là thứ “đại chiến lược” phòng vệ chống giặc phương Bắc chứ không phải là Bắc tiến!

 

3. Đại Chiến Lược Xâm Thực, Bành Trướng, và Nam Tiến của Tầu.

Có lẽ đại chiến lược xâm thực, bành trướng, đặc biệt về phương nam của Hán tộc đã có từ nhiều ngàn năm trước. Công trình nghiên cứu khoa học thuyết phục nhất đối với người viết được diễn giải trong bài diễn văn của Giáo sư Trần Đại Sỹ tại Viện Pháp Á (Institut Franco-Asiatique – IFA) đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 (http://www.vietnamsante.com/trandaisy/tds-nguongoctocviet.pdf). Từ sự nghiên cứu này, ông đưa ra kết luận: 

Đến thời điểm khoảng 5000 năm trước, Việt tộc gốc từ phi châu (đã di cư đến đây từ hàng chục ngàn năm trước đó), đi dọc theo các bờ biển Đông-Nam-Á và dừng lại tại phía nam sông Trường Giang. Hán tộc cũng từ Phi Châu, đi bọc theo hai đường: Trung Á vào Bắc Á, và  Âu châu vào Bắc Á, rồi dừng lại ở vùng bắc sông Trường giang. Việt tộc vốn thủy tổ nghề nông, Hán tộc nghề … du mục. Cuộc xâm lăng đầu tiên của Hán tộc qua tay Triệu Đà (179 B.C.).

Cho đến thời Hai Bà Trưng (năm 39 sau Tây lịch), biên giới Lạc Việt vẫn là phía bắc đến sông Trường Giang ngày nay (hàng ngàn dặm phía bắc biên giới hiện tạị), phía đông giáp biển, phía tây đến Tứ Xuyên. Các trận đánh của hai Bà tập trung quanh khu vực Động Đình Hồ bây giờ chứ không phải là miền Bắc Việt Nam như hiện nay chúng ta lầm tưởng. Trong hình đính kèm, người viết đã ghi chú về lãnh địa của Văn Lang, dựa trên sự nghiên cứu của GS Trần Đại Sỹ. Xin quý bạn xem bản đồ đính kèm trên để hình dung ra biên giới Văn Lang qua nghiên cứu này.

Trong bài “Đi Tìm Căn Cước Thật Việt Nam”  (http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4546), tác giả Phan Nam cũng trưng dẫn một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đương đại để đi đến kết luận tương tự. Tác giả còn phân ra: Lạc Việt làm chủ vùng đông nam sông Trường Giang, Âu Việt vùng tây nam.

Qua hai dẫn chứng cụ thể nêu trên, ta thấy việc dòng Bách Việt khởi đi từ phía nam sông Trường Giang quả rất thuyết phục, và như vậy cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng phải là ở quanh khu vực quanh tỉnh lỵ Trường Sa hiện nay (tức là khoảng trên 1000 km phía bắc biên giới hiện tại) chứ không phải ngay trong lãnh thổ Việt Nam mà người ta thường lầm tưởng.

Như vậy, đại chiến lược đông tiến của Hán tộc có thể coi là được khởi sự trước thời Xuân Thu, tức thời nhà Châu (khoảng 700 B.C., ); đại chiến lược tây tiến của Hán tộc bắt nguồn từ tư tưởng của Bách Lý Hề khi ông này làm quân sư cho Tần Mộ Công nước Tần (khoảng 600 BC), chủ trương xâm chiếm và đồng hóa hàng chục tiểu quốc, bộ tộc phía tây nước Tần; và sau đó chuyển thành bành trướng thời nhà Hán, đặc biệt là nam tiến, khởi đi từ thời Hai Bà Trưng qua tay tên tướng Mã Viện nhà Hán! Hơn thế, đại chiến lược này còn được tiến hành một cách vô cùng thâm độc:  Chính nhà Hán là triều đại đã “quốc hữu hóa” Khổng, chính chúng đã kết hợp học thuyết Khổng làm “áo khoác” cho đại chiến lược bành trướng của chúng. Mà người viết có thể cụ thể hóa trong vài bước chính như sau:

- Nuôi dưỡng, kích động lòng tham, tự tôn Hán tộc: Hán tộc với Khổng là “thiên tử”, là Vạn Thế Sư Biểu(vị thầy làm khuôn mẫu cho 10 ngàn thế hệ), các dân tộc khác đều là “man di”, “mọi rợ”, do vậy phải chầu “thiên triều”.

- Xâm lăng quân sư để “hiện thực hóa” lòng tham đó.

- Đồng hóa bằng cách “diệt môn”, diệt tộc. Nếu không diệt môn được thì dùng Khổng để đồng hóa. Mà đây mới là võ khí trường kỳ và lợi hại nhất!

- Bành trướng, đại bành trướng.

Nhưng chúng diệt môn Việt tộc cách nào? Có thể tập trung vào hai cách: tàn sát và “thu thập”. Chúng “thu thập” hay nói khác đi là “đồng hóa” bằng cách dùng học thuyết Khổng và Hán tự làm nền. Chúng “bơm” Khổng lên như một thứ “thần thánh”, chúng bắt người Việt tộc phải học tiếng Hán, sử Việt do chúng viết bằng tiếng Hán, phải sống theo kiểu Khổng. Chúng đổi tên mọi địa danh để con cháu Việt tộc sau này mơ hồ không biết tổ tiên mình ở đâu. Thí dụ, trong sử Việt cứ nói đến Trụ Đồng Mã Viện, mà ngày nay chẳng ai biết trụ đồng nằm ở chỗ nào! Hoặc cuộc đào tẩu của hai Bà dài bao nhiêu cây số, v.v….

… Cho đến khi mà, như vua Trần Nhân Tôn đã nói: “… lãnh thổ từ cái ổ đại bàng biến thành ổ chim chích”, tức là mảnh đất hình chữ S hiện nay!

 

4. Việt Nam ở Vị Trí Chiến Lược Nào?

Như ai trong chúng ta cũng đã biết, Việt Nam là một nước nằm ngay bờ Thái Bình Dương, sát cạnh Biển Đông và do đó, trở thành một hành lang quan trọng trên bờ tây Thái Bình Dương cho con đường tiếp cận Đông Nam Á xuyên qua Thái Bình Dương hoặc thông qua eo bể Malacca từ Ấn Độ Dương và Âu Châu lên vùng Bắc Á.

Khi bàn đến việc “nam tiến”, thiết tưởng ta nên đi lại thời điểm gần đây hơn, thập niên 1945, quân Nhật đã đô hộ Tầu và sau đó lật đổ Pháp tại Việt Nam, rồi dùng cơ sở hạ tầng do Pháp để lại làm bàn đạp tấn công Đông Nam Á, như Mã Lai, Singapore chẳng hạn. Tuy nhiên, đây chỉ là một chiến lược đoản kỳ của Nhật mệnh danh “Đại Đông Á” chứ không phải là một thứ “đại chiến lược Nam tiến” kiểu Tầu như đã bàn trên.

Do vậy, điều dễ hiểu là trên trường kỳ, đặc biệt trên phương diện quân sự địa dư, Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong vùng Đông Nam Á. Quan trọng ở chỗ muốn bắc tiến, nam tiến, đông tiến, hay tây tiến người ta đều phải tìm cách dùng nơi này làm bàn đạp. Muốn kiểm soát Biển Đông người ta cũng phải dùng Việt Nam hoặc Phillipines làm hậu cứ. Từ Mỹ, nếu muốn chinh phục nam Thái Bình Dương người ta phải có căn cứ tại Phillipines hay Việt Nam, vì hai lãnh thổ này “ôm ngang” Biển Đông.

Câu hỏi mà có lẽ quý bạn có thể nêu ra ở đây là tại sao Hán tộc không có ý đồ tây-nam tiến, tức là tiến chiếm Miến Điện, Lào và Thái Lan? Có lẽ lý do chính yếu bao gồm ba mặt: địa dư, kinh tế, và chính trị.

Về mặt địa dư, có thể nói núi đồi vùng Việt Bắc tuy khá hiểm trở nhưng so ra không bằng các dãy núi trùng điệp cũng là biên giới thiên nhiên giữa vùng tây Hoa Nam đến các nước này. Giặc Hán cũng không phải loại giặc rành về đường thủy, cho nên khó tiến bước dọc theo hai bờ sông Mê-Kông, nhất là ở trong vùng Tam Giác Vàng (biên giới Miến-Thái-Lào). Cho đến nay, Hán tộc tuy cũng đã lăm le muốn mở rộng Mekông để “tiến ra biển lớn”, nhưng vùng Mê-Kông trong lãnh thổ Lào có địa thế rất hiểm trở, khó lòng có thể mở rộng theo ý chúng được.

Về kinh tế, đồng bằng sông Cửu Long và phía nam Đông Dương nói chung xem ra phì nhiêu và trù phú hơn nhiều so với khu vực trung lưu sông Mê-Kông, bao gồm Tây Tạng, Vân Nam, Miến, Thái, Lào.

Có lẽ chính nhờ hai mặt địa dư và kinh tế trên, mà về chính trị, mưu đồ tây-nam tiến của giặc Hán xem ra không ở mức độ cao như mưu đồ đông-nam tiến của chúng. Do đó các vương triều Thái Lan đã có nhiều cơ may hơn Việt Nam trong việc “yên ổn mà sống”!

 

5. Vậy Tầu Cộng Ở Vị Trí Chiến Lược Nào? (3)

Từ trên 2000 năm trước, việc trao đổi Đông-Tây, được thông qua trên Con Đường Tơ Lụa – Silks Roads, mà trên thực chất là một thứ “highway chiến lược” của thời đại đó. Con Đường tơ lụa này do nhà tiền Hán, đặt thủ đô là Trường-an (nay là Diên-an — Xin-an) bảo đảm về an ninh cho việc trao đổi không những chỉ là tơ lụa mà còn đủ mọi thứ sản phẩm có thể chất được trên lưng lạc đà, và kể cả … văn hóa. Nhận thức về một đại chiến lược của Hán tộc thiết tưởng đã có từ ít nhất là thời đó. Theo tài liệu hiện nay, con đường này có một đầu là Trường-an, kéo dài khoảng 2000 km tới tụ điểm Anxi thì chẻ làm hai lộ bắc và nam được khoảng vài ngàn km rồi lại gặp nhau tại tụ điểm Kaski rồi phân thành hai ngả, một tiến thẳng về tây-nam đến New Dehli, Ấn và một vào Afghanistan qua Mashhad, Tehran, Baghdad, Dimashq, rồi bọc ngược bằng đường thủy vào Âu châu qua Ankara rồi đến Rome (xin xem bản đồ trên).

Ta thấy do trở ngại địa dư với những vùng sa mạc rộng lớn và những cao nguyên, núi non hiểm trở ở mạn tây và tây-nam đã khiến Hán tộc không nuôi nổi một đại chiến lược bành trướng về phía tây. Như vậy chúng chỉ còn lại phía đông và nam.

Bành trướng về phía bắc đối với chúng hiển nhiên là điều “bất khả thi” vì khí hậu và địa dư. Nếu không chúng cần gì phải xây Vạn Lý Trường Thành để chống các dân tộc phía bắc???!!!

Nếu tiến về phía đông, chúng đụng Nhật, và cũng nên lưu ý rằng trong nhiều ngàn năm người ta vẫn tin rằng trái đất hình vuông, và lọt ra ngoài chân trời là … một vách đứng thăm thẳm. Hơn thế, Hán tộc xuất phát từ trung thổ nên không rành về thủy chiến, cũng không phát triển nổi một đội thương thuyền hùng hậu như châu Âu hay Nhật Bản. Chính nhờ các yếu tố này mà Hán tộc đành phải bỏ đại chiến lược đông tiến của chúng.

Vậy thì chúng chỉ còn một chọn lựa duy nhất, đó là … đại chiến lược nam và đông-nam tiến. Trong thời xa xưa, các vùng núi non hiểm trở tại Việt Bắc cùng với khí hậu khắc nghiệt trong vùng cũng đã là một trở lực lớn có tác dụng làm cản đà xâm lăng của các đạo quân phương Bắc. Có lẽ một phần nhờ đó mà Bách Việt còn lại được một dòng giống chính thống tồn tại là dân Việt Nam.

 

§ Đại Chiến Lược Thế Kỷ 21 của Hán Tặc:  Xâm Thực Toàn Cầu .

Trở lại với thời nay,  theo thống kê của trang mạng CIA.gov, thì cho đến năm 2002, Tầu có:

- Tổng diện tích 9,596,960 km2  trong đó diện tích đất là 9,326, 410 km2, còn lại là núi và sông; so với VN là 329,560 km2 v 325,360 km2 (tức là rộng hơn gấp 28.7 lần VN).

- Diện tích đất canh tác được là 13.31% đất đai, tức là khoảng 1,246,008 km2; so với VN là 20.14% = 65,527.5 km2 (tức là gấp 19 lần).

- Dân số 1,284,303,705 người (tháng 07-2007) , tức là trung bình mỗi người có 970 m2 để canh tác; so với VN là 85,262,356 người (tháng 07-2007) v768 m2/đầu người.


Dân số Tầu như vậy là gấp 15 lần dân số VN. Tuy nhiên, trên phương diện kinh tế và quân sự, ta phải tính đến thành phần còn có sức sản xuất, còn có sức đi lính, tại vùng địa dư nào, v.v… để tính thì mới có được một tỉ số đúng).

Dĩ nhiên, trên đây chỉ là những con số rất khái quát và kém chính xác. Tuy nhiên, nó cho ta thấy một điều:  Nhu cầu về cái gọi là “không gian sinh tồn” do tên Trì Hạo Điền, Quân ủy trung ương Tầu Cộng đưa ra (4), thì dân Việt Nam còn có cái nhu cầu này cao hơn Tầu một bực (768m2 so với 970m2 cho mỗi đầu người).

Các con số trên còn cho thấy nếu phát triển đúng mức, nếu xã hội thật công bình, thì dân của cả hai nước này ít nhất không bị nạn đói đe dọa. Mặt khác, do đã có nhiều người “vô gia cư, vô địa táng”, tại cả hai nước này, thì các con số này cho thấy sự bất ổn về mọi mặt của cả hai đến mức nào!

Vì thế, cái mà Trì Hạo Điền gọi là “mở rộng không gian sinh tồn” trên thực chất chỉ là cách phô trương tham vọng xâm thực đã được nuôi dưỡng từ mấy ngàn năm, tức là đại chiến lược của Hán tộc.

Trong thế kỷ 21  này, âm mưu Hán hóa toàn cầu như vậy có thể coi là khởi động từ Tây Tạng năm 1949 và mở rộng trong toàn vùng Đông Nam Á ở bước thứ hai, dưới dạng “phát triển hòa bình”. Theo bản tin do đài BBC đưa lên mạng ngày 29-01-2008 vừa qua (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/01/080129_chinanewstratergic.shtml), thì nhóm cố vấn thuộc Học Viện Khoa Học Tầu Cộng đã đưa ra một bản báo cáo chiến lược dùng “khái niệm ‘chim bồ câu’ nhằm vẽ ra một trật tự thế giới mới.”:

“Bản báo cáo mới nhất về Hiện đại hóa tập trung vào chuyện hiện đại hóa các thể chế quốc tế và chỉ ra Trung Quốc đứng đâu trong trật tự thế giới này.

Bản phúc trình công bố kế hoạch mà Trung Quốc mong ước là sẽ cải tổ và phát triển một số tổ chức chủ chốt.

Trung Quốc giờ muốn dẫn đầu chứ không muốn đi theo các nguyên tắc về chính trị của thế giới.

Các tác giả đưa ra chiến lược của họ theo sơ đồ hình chim bồ câu, ý ám chỉ rằng mục đích của Trung Quốc là phải phát triển một cách hòa bình.

Trung Quốc muốn Liên Hiệp Quốc giữ vai trò cái đầu của chim bồ câu.

Đầu này sẽ nối với thân là một Liên hiệp châu Á trong tương lai, là tổ chức hình thành từ các đơn vị hiện nay gồm tổ chức hợp tác Thượng Hải, cơ chế Asean cộng ba và Diễn đàn châu Á có trụ sở tại đảo Hải Nam.

Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương, Apec, sẽ được giữ nguyên, và là một cánh của chim bồ câu.

Cánh kia sẽ bao gồm cơ chế hội nghị thượng đỉnh Á Âu hiện nay nhưng nâng lên thành tổ chức hợp tác kinh tế Âu Á.

Đuôi chim bồ câu sẽ là Nam Mỹ, châu Đại dương và châu Phi.

Để thực hiện chiến lược này trong 20 đến 50 năm tới, Trung Quốc sẽ điều chỉnh một số ưu tiên địa chính trị chiến lược và sẽ gia tăng sức mạnh của nước này.

Trung Quốc cũng hy vọng sẽ thành lập trụ sở của một Liên hiêp châu Á mới trên đảo Hải Nam, biến hòn đảo này thành khu vực mậu dịch tự do cho toàn bộ các nước châu Á tới thăm viếng và đầu tư.

Giới quan sát giờ đây sẽ theo dõi xem các láng giềng hùng mạnh của Trung Quốc, như Nhật Bản và Ấn Độ, sẽ có phản ứng ra sao trước tham vọng chính trị mới được tiết lộ của Trung Quốc.”

 

Bản tin trên cho thấy Hán tặc đang tìm kiếm một một chiến lược mới cho đại chiến lược của chúng:  Hán hóa toàn vùng Đông Nam Á để từ đó xâm lược toàn cầu. Mà ta có thể nhìn thấy khái quát như sau:

 

* Về đối ngoại:

- Đầu con chim, tức Liên Hiệp Quốc là nơi Hán tặc sẽ tận dụng, dùng cái chân trong Hội Đồng Bảo An để từ ngấm ngầm đến công khai khuynh đảo, tận dụng tổ chức này thành một công cụ cho đại chiến lược xâm thực toàn cầu của chúng.

- Chim bồ câu là “áo khoác”, giống như kiểu áo khoác Mác-Lê vậy, mà trên thực chất, đó là cách di dân “hợp pháp” bằng các chế độ “x-gian” dùng bình phong là “phát triển kinh tế”, và nếu không thành công thì con chim bồ câu này sẽ là SU-xx và tầu ngầm nguyên tử, hỏa tiễn, v.v…

- Thân chim như vậy sẽ tạo thành bởi cái gọi là “Liên Hiệp Châu Á”, một liên minh của “các quốc gia hung đồ”, được che đạy bằng cách tái lập học thuyết Khổng, bơm lên như một “trái bóng văn hóa”, nhưng trên thực chất là để thành lập một màn hỏa mù che dấu tội ác của chúng, cũng như dụ dỗ bọn Hán tộc cực đoan sẵn sàng làm chiến tranh khi cần thiết.

- Không hạ bệ, nhưng cũng không tâng bốc Mao, để tạo ra hình ảnh một “chim bồ câu trắng” nhằm lừa bịp Tây phương vốn không biết nhiều về cái “máu thịt” của con “chim hòa bình này”: đại chiến lược Hán tộc, trong đó không có nhiều phân biệt giữa Tần Thủy Hoàng và Mao.

- Và sau cùng, tức là tận cùng của chiến lược này, biến châu Phi và châu Đại Dương thành sân sau của một “nước Hán toàn cầu”!

 

* Về đối nội:

- Tiếp tục đưa hình ảnh Mao lên như một vị “cha già Hán tộc”, đồng thời đưa Khổng vào làm áo che để dụ dỗ thành phần Hán tộc cực đoan, hầu có nhân lực phục vụ cho đại chiến lược của chúng.

Dĩ nhiên, để tiến hành một đại chiến lược kiểu này, Hán tặc cần có một số “x-gian”, cụ thể là muốn biến Hải Nam thành một “khu vực mậu dịch tự do cho toàn bộ các nước châu Á”, chúng phải có một bọn Việt gian làm bàn đạp cho chúng tiến xuất. Mà đó chính là tập đoàn Việt gian do tên thái thú Hồ đẻ ra. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì với vị trí chiến lược nằm dọc theo Biển Đông, cũng như sát đảo Hải Nam, nếu không có một tập đoàn thái thú tay sai kiểu đó, làm sao chúng có thể khống chế Biển Đông, tạo ra một môi trường an toàn cho cái “an toàn khu” Hải Nam của chúng được!!!

Tới đây, chắc quý bạn cũng có thể hình dung ra cái gọi là “trật tự thế giới mới” của Tầu Cộng: là một thế Xuân Thu, Chiến Quốc rộng lớn ở mức độ toàn cầu, trong đó các đại cường là các “bá” ở thế tranh chấp cho một cứu cánh là cái gọi là “trật tự thế giới mới.”

Với thâm đồ này, tưởng thế kỷ 21 này sẽ là thế kỷ của:

- Hoặc là một nước Tầu bị phân làm nhiều mảnh, mỗi mảnh là một nước kiểu thời Xuân Thu, Chiến Quốc, nếu thế giới biết mà ra tay trước. Mà có vậy thì thế giới mới có thể yên ổn trong trật tự được.

- Hoặc một thế Xuân Thu, Chiến Quốc toàn cầu luôn có tranh chấp về bất kỳ phương diện nào, tức là một “trật tự thế giới mới” mà trong đó cái trật tự này luôn luôn bị đảo điên, bị đặt trong vòng tranh chấp – tức là hoàn toàn vô trật tự! (5)

 

§ Phải Chăng “Con Chim Bồ Câu” Bắt Đầu Cất Cánh???!!!

Luận cứ trên về thế chiến lược đầu thế kỷ 21 của Hán tặc đã được củng cố qua việc Tầu Cộng từ cả thập niên nay đã và đang âm thầm xây dựng một căn cứ tầu ngầm nguyên tử trong khu vực đảo Hải Nam. Theo bài viết trên tờ điện tử atimes.com số ngày 09-05-2008 vừa qua, thì:

“Tờ nhật báo nổi tiếng ‘British Daily’ đã mô tả căn cứ này như một ‘căn cứ khổng lồ kiểu James Bond có khả năng che dấu 20 tiềm thủy đĩnh nguyên tử giúp cho Tầu có thể phóng sức mạnh xuyên vùng.

Tầu ngầm nguyên tử có thể ở dưới mặt nước lâu hơn các loại tầu chạy bằng diesel-điện và do đó khó khám phá hơn. Chúng cũng có thể được dùng để phóng ra các phi đạn nguyên tử.

Khước từ cả việc phủ nhận lẫn xác nhận căn cứ này, một phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Tầu Cộng nói, “Các quốc gia Tây phương chẳng cần phải quan ngại, lo lắng, hay đưa ra bất kỳ lời vu khống vô trách nhiệm nào. Chúng tôi có một hải phận rộng lớn. Đây là nhiệm vụ thiêng liêng của của quân đội Trung Quốc nhằm đảm bảo an ninh trên biển của chúng tôi.”

 

Quốc gia đầu tiên nêu ra quan ngại lại là Ấn. Nhưng tại sao là Ấn mà không phải là Nhật hay Đài Loan, trong khi đảo Hải Nam chẳng ăn nhập gì đến Ấn Độ cũng như ở rất xa Ấn?

Vấn đề ở đây có thể đặt trên hai khía cạnh:  Về an ninh chiến lược biển, nó cho thấy Ấn đã đi sau Tầu Cộng cả thập niên về sức mạnh trên biển. Về khía cạnh thứ hai, nếu Tầu phóng sức mạnh dọc theo trục chiến lược Hải Nam-Hoàng Sa – Trường Sa của chúng, thì chẳng phải chỉ các nước Bắc Á mà ngay cả đường giao thương giữa Ấn Độ đến Bắc Á bị đe dọa và do đó Ấn bị đe dọa.

Nếu là “chim hòa bình” thì cần gì loại căn cứ tầu ngầm nguyên tử “mật” kiểu James Bond như vậy???!!! Hiển nhiên cái “thịt” của thân con chim như vậy phải là sức mạnh quân sự. Đó là chủ tâm chính của Hán tặc, theo đúng đại chiến lược kiểu Hán Khổng của chúng!!!

 

§ Vậy Việt Nam-Tầu: Cái Thế “Môi Răng”???

Như đã trinh bày trên, qua suốt dòng lịch sử 5 ngàn năm. Việt Nam luôn luôn ở thế thụ động chờ giặc Hán xuống thôn tính: Một lãnh thổ Văn Lang rộng lớn như vậy nay đã thu nhỏ đến thế! Một dòng Bách Việt văn minh đã bị bọn Hán tặc thôn tính từ NHIỀU xuống còn MỘT.

Vậy nếu tính đúng theo quan niệm chiến lược, thì Việt Nam và Tầu Cộng là hai “tử đối đầu” chứ không phải “môi răng” nào hết. Tuy nhiên, ta thấy ở cái thế giới đang ngày càng thu hẹp hiện nay, giặc Tầu không thể phát triển xuống Đông Nam Á nếu không có một bọn Việt gian dâng biển, hiến đảo, và ký những “khế ước mật” với chúng. Do đó, Việt gian-Hán tặc mới là ở cái thế “môi, răng”, chứ không phải là Việt Nam-Tầu ở cái thế “môi răng”.

Và cái thế “môi răng” này cũng không phải cái thế môi răng kiểu Ngu-Quắc mà là một thứ  “môi răng” tân thời. Mà ở đây nó nằm ở chỗ ngày nào tập đoàn thái thú Việt gian bị dân ta treo cổ, thì cái họa diệt vong của bọn Hán tộc, tức là đại chiến lược Hán hóa toàn cầu của chúng cũng tiêu ma.  Và mặt khác, nếu vì một lý do nào đó mà bọn Hán tặc bị tiêu diệt, hay không thể theo đuổi cái đại chiến lược của chúng nữa, thì tập đoàn Việt gian sẽ bị quốc dân Việt Nam … treo cổ. Và đó cũng là ngày mà trên mả của tên thái thú Hồ tại Ba Đình, một bản án lịch sử nặng nề nhất phải trấn trên mả của nó để làm bài học cho hậu thế!

Đã biết đây là một bọn Việt gian, thiết tưởng bà con trong nước, là những người ở trận tuyến thật, cần phải có thái độ thích đáng với chúng. Đã đến lúc bà con không nên chờ quốc tế can thiệp, mà phải nuôi dưỡng phát triển nhận thức rằng chúng không phải là một chính quyền, chúng là một bọn thái thú Việt gian. Mà vì sự vẹn toàn lãnh thổ, bảo toàn nòi giống, đã đến lúc bà con nên nghĩ đến tương lai đen tối của đất nước, của con cháu chính quý vị, mà có hành động thích hợp với chúng.

Xin ghi nhớ rằng trong lịch sử Việt Nam, bản án cho bọn Việt gian là Tử Hình!

HN – 05-10-2008.


 

Ghi Chú:

1. Link vào phần 1: http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=3895 .

2. a. Tưởng ta nên phân biệt rõ theo thứ tự từ cục bộ đến toàn phần:

- Chiến thuật – Tactics: là cách thức, kế hoạch dụng binh, phối trí binh mã trong một trận chiến nào đó. Thí dụ: chiến thuật biển người, chiến thuật tiền pháo hậu xung của bọn Việt gian trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam, v.v…

- Kết hợp chiến thuật – Maneuver: một loạt các chiến thuật điều binh và tấn công trong một trận chiến lớn.

- Sách Lược – Tạm gọi là “Policy”: Là kết hợp của hai chữ “chính sách” và “mưu lược” hay “kế hoạch + chính sách” và “mưu lược”. Vậy sách lược có thể coi là các chính sách (chính trị) nhằm đạt được hoặc nhằm tiến hành một loạt các chính sách hầu đạt được một mục tiêu rộng lớn nào đó, thường là trên bình diện quốc gia.

- Chiến lược – Strategy: Là kế hoạch và nghệ thuật của việc lập kế hoạch để phối hợp và điều khiển mọi phương tiện, mọi hoạt động, và mọi chiến dịch hành quân ở bình diện rộng và lâu dài.

Ngày nay, từ “chiến lược” được dùng cho mọi lãnh vực không nhất thiết là về quân sự, với ý chỉ một kế hoạch lớn và lâu dài nhằm đạt được một mục tiêu nào đó, hay một phương thức tổng quát nhằm giải quyết một vấn đề nào đó.

- Đại Chiến Lược – Grand Strategy: Một chiến lược lớn nhằm bảo đảm quyền lợi sinh tử của một quốc gia nào đó. Như vậy đại chiến lược có thể coi là đồng nghĩa với sự tồn vong, tức là bản chất của một quốc gia nào đó.

- Chính Lược:  Từ ngữ Việt Nam — Sách lược / chiến lược chính trị, văn hóa có khả năng thay đổi vận mạng của nhiều thế hệ, một hay nhiều quốc gia, và có tính toàn cầu.

2.b. Đại chiến lược Đại Dương của Mỹ:  Trong cuốn “Cuộc Chiến Mỹ-Nhật trong Tương Lai – The Coming War with Japan”, hai tác giả George Friedman và Meredith Lebard đã trình bày rất rõ về nguồn gốc của đại chiến lược này mà người viết xin dịch lại (tr. 19):

“Thế giới thì tròn, và gồm có hai khối lớn, là đông và tây bán cầu. Đông bán cầu lớn hơn, đông dân hơn, và giầu hơn (mặc dù không giầu hơn tính theo đầu người). Khi đông bán cầu đối đầu tây bán cầu trong suốt giai đoạn 1500-1900, tức là, khi Âu châu đối đầu Mỹ châu, đã có sự toàn thắng của một bên. Điều này xảy ra mặc dù trên thực tế đông bán cầu bị vướng vào các tranh chấp nội bộ liên tục trong suốt giai đoạn này.

Có nhiều lý do khiến châu Âu chiến thắng, đây không phải là kiểu chiến thắng với lý do ít quan trọng nhất là  dùng số đông của người Da Đỏ phía bắc đối với người Da đỏ phía nam. Nhưng quan trọng hơn cả là sự giải thích chiến lược bằng quân sự: người Âu châu kiểm soát đại dương. Kiểm soát đại dương là chìa khóa dẫn đến cả thịnh vượng lẫn an ninh. Vì người châu Âu kiểm soát được đại dương, họ có thể đổ bộ vào chỗ và tại thời điểm họ muốn, với quân lực mạnh tùy ý. Người Da Đỏ đã không thể cắt nguồn tiếp vận đến Âu châu, hoặc tấn công Âu châu. Lực chọn chiến lược duy nhất của họ là liên minh một cách hệ thống mọi thổ dân bản xứ, mà điều này lại bất khả thi vì sự thiếu kết hợp và khả năng của người Âu có thể đổ bộ lên bờ một số vô giới hạn hỏa lực siêu cấp. Vì thiếu sức mạnh trên biển, điều không tránh khỏi cho người Da Đỏ là họ bị tràn ngập. Chiến lược trường kỳ của Mỹ cũng giống như vậy để cản trở một cuộc xâm lăng của đông bán cầu vào tây bán cầu.”

Tuy nhiên, trong thế kỷ 21 này, các công bố của TT Mỹ George W. Bush về một chính sách không gian mới cho Mỹ vào khoảng tháng 5, 2005 dựa trên những nghiên cứu từ cả thập niên trước cho thấy Mỹ đã mở ra một lãnh vực mới trong “đại chiến lược” Mỹ: chiến lược không gian do Bộ Quốc Phòng Mỹ – U.S. Department of Defense – DoD soạn thảo, mà từ đó có khả năng dẫn đến một sự thay đổi toàn diện “đại chiến lược đại dương” của Mỹ. Nhưng đây là vấn đề nằm ngoài chủ đề của bài viết này.

3. Để biết thêm về mưu đồ tây tiến của Hán tặc, xin đọc thêm trong trang: http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=3849 .

4. Bài diễn văn của Trì Hạo Điền: “Chiến Tranh Không Xa Chúng Ta và Là Bà Mụ của Thế Kỷ Người Tàu” – xin vào trang: http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Pages/Article%2076.htm

5. Về cái thế “Xuân Thu, Chiến Quốc” thế kỷ 21, các chiến lược gia Mỹ đã nêu ra một chiến lược phân vùng ảnh hưởng ngay từ đầu thập niên 1900, nhưng chiến lược này chú trọng hầu như thuần túy về kinh tế, theo đó, kinh tế toàn cầu được chia thành nhiều vùng khác nhau. Hiệp ước Mậu Dịch Tự Do Bắc Mỹ là một thành tựu điển hình. Nhưng ở cái giai đoạn hỗn mang toàn cầu này, xem ra chiến lược phân vùng kinh tế của Mỹ không, hoặc ít ra là chưa, giải quyết nổi các khó khăn toàn cầu của thời đại. Một thí dụ điển hình là các khuynh hướng bảo trợ mậu dịch, cũng như việc di dân lậu ào ạt đột nhập Mỹ qua ngả Mễ-tây-cơ.
(VNE)

Hào khí tuổi trẻ Việt Nam – Khi cái tôi Việt Nam lên tiếng

Lê Trung Thành- April 26, 2008

Hào khí tuổi trẻ Việt Nam -
Bài trích từ blog của một sinh viên Việt Nam – Lê Trung Thành
Khi cái tôi Việt Nam lên tiếng .

Có lẽ tôi sẽ không viết cái Entry này nếu như không nhận được tin nhắn của công an Việt Nam

Trong những ngày gần đây, Công an TP.HCM phát hiện âm mưu, ý đồ và kế hoạch của các thế lực thù địch, phản động, trong đó có tổ chức phản động khủng bố “Việt Tân”, trang web “Tập hợp thanh niên dân chủ”, diễn đàn X-caphe và một số trang blog trên Yahoo 360o… lợi dụng mạng internet để kích động thanh niên, sinh viên, học sinh xuống đường tuần hành, biểu tình phản đối Trung Quốc.

Việc lợi dụng kích động tuần hành, biểu tình gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố là vi phạm pháp luật Việt Nam.

Công an TP.HCM kêu gọi thanh niên, sinh viên, học sinh bình tĩnh, kìm chế, tuân theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

xxx

Cách đây đúng 1 năm khi đó tôi đang ở SàiGòn , tôi có cùng một số anh em trong đó có cả an ninh mạng của Hà Nội tham gia các diễn đàn chống lại các thế lực thù địch . Đến nay tôi vẫn còn thấy tự hào vì hành động yêu nước đó của mình .

Nhân đây tôi xin nói rõ cho những người bạn ngày xưa cùng chung chiến hào hiểu rằng :

Thứ 1 :

Tôi vẫn giữ nguyên quan điểm : những đảng phái đối lập như Việt Tân , khối 8406 … đang đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam nhưng tôi nghi ngờ rằng họ có mưu đồ chính trị của họ chứ không đơn thuần chỉ vì nhân dân Việt Nam .

Thứ 2 :

Tôi muốn bạn hiểu rằng tôi không thuộc những đảng phái chính trị vừa nêu cũng không phải là người của Đảng Cộng Sản Việt Nam . Tôi nhận mình chỉ là thanh niên Việt Nam yêu tự do và dân chủ .

Thứ 3 :

bạn hỏi tôi thế nào là tự do dân chủ !

Tôi chỉ có thể nói 1 cách đơn giản nhất rằng :

nếu 1 xã hội thực sự tự do và dân chủ thì hôm nay trước tinh thần sục sôi của toàn dân tộc , thì Đảng Cộng Sản Việt Nam với hơn 600 cơ quan truyền thông và báo chí phải lên tiếng , nói với mọi người rằng : Đảng sẽ cùng toàn dân tổ chức biểu tình , hay nói 1 tiếng rõ ràng : cấm nhân dân biểu tình .

Tại sao lại hèn nhát và nhục nhã đến thế, nhân dân chúng tôi chỉ cần 1 tiếng ủng hộ của Đảng thì ngày mai tám mươi bảy triệu con tim Việt Nam sẽ xuống đường cùng Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược .

Đảng viện lý do : vì sợ các tổ chức phản động lợi dụng khủng bố .

Đảng viện lý do : vì sợ người anh em núi liền núi sông liền sông phật lòng .

Đảng viện lý do : sự tình rất phức tạp rất khó giải thích cho nhân dân hiểu .

Đảng viện lý do : mọi việc nhân dân không phải lo đã có Đảng ngày đêm ghánh vác .

Như vậy Đảng và Nhà nước đã quá coi thường sức mạnh và tri thức của toàn thanh niên Việt Nam nói riêng và của toàn dân tộc nói chung .

Đảng Cộng Sản Việt Nam nếu còn muốn là tinh thần của nhân dân Việt Nam thì hãy nhớ lấy điều này :

“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau , song hào kiệt đời nào cũng có “

Blacky blog viết cho ngày toàn dân xuống đường vì Trường Sa thân yêu .
16-12-2007
cuối cùng xin những người bạn cùng chiến hào năm xưa đừng bao giờ gọi tôi bằng 2 chữ : phản động .
xxx
Xem người lao động ở Đài Loan biểu tình

Tôi không hiểu ai đã làm cho nhân dân Việt nam có 1 tâm lý là chỉ cần nghe nói đến 2 chử ” Biểu tình “ thì lập tức cho rằng đó là 1 hành vi không tốt , là vi phạm pháp luật .

Nhưng Ở những nơi mà quyền tự do của con người được tôn trọng , ở đó người ta không cần phải đợi đến chuyện quốc gia đại sự , mọi người có thể xuống đường biểu tình cho dù chỉ là những lý do bình dị nhất .

Chúng tôi muốn tăng lươngBiểu tình

Chúng tôi muốn thực phẩm an toànBiểu tình

Chúng tôi muốn giảm học phíBiểu tình

Chúng tôi muốn giao thông được thuận lợiBiểu tình

Chúng tôi muốn được tôn trọng - Biểu tình

Chúng tôi muốn hít thở không khí trong lànhBiểu tình

…. và nếu muốn bạn có thể nghĩ ra một lý do nào đấy để kêu gọi mọi người cùng biểu tình

Và mới đây trưa chiều ngày 9-12-2007 cùng ngày với nhân dân Việt nam biểu tình ,

liên hiệp hội lao động quốc tế của Đài Loan cũng xuống đường biểu tình với khẩu hiệu .

Chúng tôi muốn nghỉ ngơi .

 

và người lao động Việt Nam ở Đài Loan cũng tham gia cuộc biểu tình này – 1 điều mà họ không bao giờ dám mơ đến ở ngay trên chính quê hương của mình .

 

 

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
Thậm chí họ còn có thể lập 1 tờ báo riêng của mình để nói những gì họ muốn .
cái đó gọi là tự do báo chí
trong khi đó , khi mà cả dân tộc đang sục sôi tinh thần chống giặc ngoại xâm thì hơn 600 cơ quan truyền thông và báo chí ViệtNam im thin thít và lặn mất tăm trước vận mệnh dân tộc .
.
Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
.
.Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
.
.Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
.
Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
.
Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
(Phạm Dzoãn : Hình ảnh Áo Dài biểu tình ở Đài Loan xúc động lắm!
Một cơ hội phát triển nhận thức về quyền cơ bản!)
1 điều họ không dám nghĩ đến ngay trên chính quê hương mình

 

Ai đã nói và ai đã nhắc lại câu nói :

” mọi người sinh ra đều có quyền sống , quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ” ?

Chúng ta biểu tình vì mưu cầu 1 cuộc sống tốt đẹp hơn ,

chúng ta biểu tình vì muốn xã hội ngày càng tiến bộ .

Chúng ta biểu tình vì đất Mẹ Việt nam không bị cắt lìa .

Cuối cùng tôi xin hỏi :

có luật pháp nào ngăn cấm chúng ta mưu cầu hạnh phúc .

Hãy trả lời tôi .!

.

Blacky Blog – viết cho cuộc biểu tình lịch sử – 9 giờ sáng ngày 16 -12 -2007

có người chất vấn tôi rằng : thế nào là hạnh phúc ?

tôi xin thưa :

Hạnh phúc đơn giản là khi bạn muốn cười không ai có quyền bắt bạn khóc. khi bạn muốn khóc to không ai có quyền đưa tay bịt miệng bạn .

khóc và cười là cách biểu lộ tình cảm , và chúng tôi biểu tình là muốn biểu lộ nên những tình cảm đó .
xxx

và cuối cùng , có người bảo tôi là ngựa non háu đá , nhưng xin thưa nếu không có mấy con ngựa non này thì lũ ngựa già sẽ làm bạc nhược nguyên khí quốc gia !!!

April 9, 2008

Nhìn nhận qua bài viết về “Đối thoại, hợp tác liên tôn giáo vì hòa bình khu vực”

Một người thanh niên như tôi trải qua phong trào sinh viên , học sinh …biểu tình chống Trung quốc thành lập Tam Sa vào những tháng cuối năm 2007, được gặp gỡ các nhà đấu tranh dân chủ chân chính trong cả nước thông qua các cuộc gặp gỡ và phương tiện truyền thông và “chưa hiểu rõ về thế thời thời thế (lời của công an an ninh việt nam nói khi thẩm vấn tôi)” , nhưng khi tôi đọc bài báo “Đối thoại, hợp tác liên tôn giáo vì hòa bình khu vực” của báo Vietnamnet thì tôi đã thấy rõ bộ mặt giả dối của cái gọi là “ban Tôn giáo Chính phủ “….

Những người này sống ở Việt nam, mà lời họ nói tôi lại nghĩ họ đang sống ở một nước dân chủ, tự do tôn giáo thực sự chứ không phải ở Việt nam, hoặc giả họ phải nói dối để làm vừa lòng chế độ độc tài CSVN đang hàng ngày hàng giờ kìm hãm đất nước, kìm hãm các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của con người. Họ giới thiệu với thế giới rằng “Việt Nam muốn giới thiệu một nền tôn giáo đa dạng, hòa hợp với bạn bè trong khu vực”. Trong thư gửi Đối thoại ở Phnom Penh, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cho biết : “Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo. Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân, đoàn kết các tôn giáo, tôn trọng đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng của người dân”. Họ đang lừa dối thế giới bằng những lời lẽ xảo quyệt , họ nghĩ tất cả mọi người trên thế giới ai cũng nghe họ nói dối tất.

Ở Việt Nam có tự do tôn giáo theo cách của nó các bạn ạ! Hãy nhìn xem tự do tôn giáo ở Việt nam là thế nào : “Riêng trong năm 2007, Việt Nam đã cho xuất bản 620 đầu sách với 1,2 triệu bản in cho các tổ chức tôn giáo và 180 xuất bản phẩm tôn giáo khác. Hiện Nhà xuất bản Tôn giáo đang xem xét việc in Kinh Thánh bằng tiếng H’Mông.” Họ in sách kinh thánh cho người H’mông nhưng cấm đồng bào Hmông theo Thiên chúa giáo, họ nói với đồng bào” người Hơ’mông chỉ có đạo Vàng chứ thôi” thế thì họ in sách để cho ai ? Vì họ cấm người Hơ’mông, không cho đến nhà thờ , lập nhà thờ mới và như những đồng bào Tây nguyên bị cấm theo đạo năm trước đây làm tôi nhớ đến 1 đoạn trong bài hát cho đồng bào tôi

“…..trong Buôn im bặt những câu kinh
công an bộ đội bốn xung quanh
mang thân điêu tàn chạy trốn từng đêm……”

Vâng, đảng cộng sản Việt nam, nhà nước XHCN Việt nam họ đã quan tâm đến đồng bào theo đạo công giáo, đạo tin lành như thế đây các bạn ạ!

Còn các tôn giáo khác họ thực hiện cái chính sách mà thời phong kiến các bạo chúa vẫn thường dùng “thuận ta thì sống, chống ta thì chết ” . Họ cướp đất của đồng bào Công giáo gần 6 thập kỷ qua mà khi đồng bào cầu nguyện trong hòa bình để nhà cầm quyền lại dạo nạt dùng biện pháp mạnh, rồi vu khống tội gây rối trật tự nơi công cộng và cao tay hơn họ lại dựng lên chuyện này nọ để kích động hằn thù giữa Công giáo và Phật giáo.

Người nào dám đứng lên tố cáo họ thì bị tù đày . Một linh mục công giáo không thể chịu đựng được chính sách áp đặt tôn giáo phải theo ý đảng làm tay sai cho 1 lũ ăn cướp, Cha đã đứng lên nói lên tiếng nói của lương tâm con người “tự do tôn giáo hay là chết” , Họ đã lại đưa Cha ra tòa rồi và cái quyền tối thiểu của một con người là dược tự biện luận cho lý tưởng cho lẽ phải của Cha đã bị “vung tay bịt miệng không cho phản đối” . Theo lời bài báo : ” Phó trưởng ban Tôn giáo Chính phủ cho biết, hiện nay ở Việt Nam, ngoài 6 tôn giáo với 16 tổ chức tôn giáo đã được chính thức công nhận. Nhà nước đã cấp đăng ký hoạt động cho 13 tổ chức tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo mới “.

Chắc chắn rằng những cái tổ chức tôn giáo của ông Phó trưởng ban Tôn giáo Chính phủ nói ở đây chính là những tổ chức tôn giáo thuận theo ý đảng thôi còn có hợp lòng dân hay không thì họ không cần biết, những tôn giáo này thường được nhân dân gọi là tôn giáo quốc doanh. Còn tổ chức nào hợp lòng dân mà không theo ý đảng CSVN thì họ vu cho tổ chức đó là “phản động” như Giáo hội phật giáo Việt nam thống nhất (GHPGVNTN) chẳng hạn.  Chỉ vì Giáo hội này đòi hỏi toàn quyền hoạt động ngoài sự chỉ đạo của đảng mà các vị tăng thống lãnh đạo giáo hội đã bị bắt bớ đàn áp tù đày không sao đếm hết. Đại lão hòa thượng Thích Quảng Độ đã trải qua trên 25 năm trong tù vì những hoạt động kêu gọi chính phủ Việt Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng và để các tôn giáo hành đạo không qua sự chỉ đạo của nhà nước, chính vì những công lao đấu tranh bất bạo động đó mà Cụ đã nhiều lần được đề cử giải Nobel Hoà bình. Những tín đồ theo GHPGVNTN bị cấm đoán dọa nạt khủng bố tinh thần mỗi khi đi lễ ở những chùa thuộc GHPGVNTN – Thì đó có phải là tự do tín ngưỡng tự do tôn giáo như ông phó thủ tường Phạm Gia Khiêm nói không thưa các bạn ?


“Đối thoại và hợp tác liên tôn giáo sâu sắc sẽ góp phần giải quyết những thách thức đối với hòa bình và an ninh trong khu vực. Đó là tinh thần cuộc Đối thoại Liên tôn giáo Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Góp tiếng nói chung, đại diện Chính phủ Việt Nam nhấn mạnh đối thoại liên tôn giáo là “kênh trao đổi quan trọng giữa các tôn giáo khác nhau nhằm thúc đẩy hợp tác và hiểu biết vì hòa bình, hữu nghị và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới”. Đối thoại tạo sự hòa hợp nhưng không hòa tan vì hòa bình ,đoàn kết tôn giáo thúc đẩy sự phát triển giữa các nước trong khu vực là rất tốt cho Việt Nam và các nước nhưng cũng nên nhìn nhận rõ vấn đề Việt nam đang đối xử thế nào với các tôn giáo ,tổ chức tôn giáo… họ đàn áp khủng bố bắt bớ bất kỳ ai dám lên tiếng phản đối chính sách của Đảng Cộng Sản đối với sự tự do tôn giáo tự do tín ngưỡng.  Nhà nước XHCN, Đảng cộng sản Việt nam của họ muốn tất cả các tôn giáo phải lệ thuộc vào họ vào cái gọi là Mặt trận tổ quốc Việt Nam hữu danh vô thực để họ dễ bề thâu tóm muốn làm mưa làm gió gì thì làm, để cho nhân dân đồng bào các tôn giáo lúc nào cũng phải đặt cái lợi ích của đảng cộng sản VN lên trên hết,  phải thờ phụng đảng cộng sản VN như người nô bộc thờ Vua chứ không phải là thờ Phật, thờ Đức chúa, cái khẩu hiệu ” Đạo pháp, dân tộc và CNXH ” treo lủng lẳng, la liệt khắp nơi là minh chứng cho vấn đề đó quá ró rang rồi.

Mong quý vị đang nghe những người chỉ đại diện cho một bộ phận nhỏ về tôn giáo của Việt nam – đó là 1 đạo mới được hình thành đạo Marx-Lênin kết hợp với tư tưởng lừa dối, quý vị hãy nhìn nhận rõ vấn đề tôn giáo của Việt nam ngày nay để tránh bị lừa bịp hết lần này đến lần khác.

Trên đây chỉ là đôi lời từ thâm tâm suy nghĩ của thanh niên không biết nhiều về ”thế thời – thời thế”, và với những vị trong ban tôn giáo chính phủ, mặt trận tổ quốc Việt nam thì tôi có lời khuyên các vị rằng không phải là tất cả các nước trên thế giới yêu chuộng hòa bình tôn trọng dân chủ nhân quyền, tự do tôn giáo cũng tin lời quý vị đâu sẽ có 1 lúc nào đó bộ mặt thật của quý vị sẽ được cả thế giới biết đến, các vị cũng nên chuẩn bị những câu trả lời để ông Lê Dũng học thuộc lòng để lại tiếp tục điệp khúc dối trá như vụ cha Nguyễn Văn Lý trong TP Huế đi, nhưng tôi tin lần này không ai tin quý vị nữa đâu và chắc chắn quý vị sẽ không thấy cái lỗ nẻ nào để mà chui xuống đó đâu.
 
Thị xã ( thành phố cũng được ) Yên bái, tỉnh Yên Bái  ngày 6/4/2008
 
Công dân
Nguyễn Tiến Nam.
Địa chỉ nhà ở hiện nay của tôi là : Tổ 24, Phường Yên Thịnh,Thành Phố Yên Bái,  Tỉnh Yên Bái
Email liên lạc : daibangxanhyb@gmail.com

Chú thích bài báo trên vietnamnet
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/04/776732/

April 1, 2008

Đối lập chính trị là gì ?

cố gs N V Bông (bị cs ám sát 197x)

I. ĐịNH NGHĨA và CÁC QUAN NIệm

Về đối lập Nói đến Dân chủ là chúng ta nghĩ ngay đến vấn đề đối lập, mà đối lập là gì? Và được quan niệm như thế nào?

A. ĐịNH NGHĨA

Chúng ta đã dùng nhiều danh từ đối lập. Mà đối lập là gì? Thế nào là đối lập? Đứng về phương diện lịch sử mà suy xét, đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch trình biến chuyển của chế độ Đại nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viện của vấn đề. Ý niệm đối lập cần phải được phân tích rõ ràng hơn nữa để phân biệt nó với những hiện tượng tương tự. Đối lập có ba đặc điểm: Một sự bất đồng về chánh trị, có tánh cách tập thể và có tính cách hợp pháp

.1. Trước nhất, đối lập phải là một sự bất đồng về chánh trị.

Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào những kẻ chống đối có thể tổng hợp lại tất cả những vấn đề được đặt ra , đưa những vấn đề ấy lên một mực độ đại cương và phán đoán theo một tiêu chuẩn chính trị. Có thể có một số đông người dân chận đường chận xá để phản đối một chính sách của chính phủ, có thể có một số đông sinh viên, một đoàn thể văn hóa hay tôn giáo biểu tình đòi hỏi những cái gì. Đành rằng những sự kiện ấy có thể có hậu quả chính trị, nhưng đó không phải là đối lập. Đó chỉ là một sự khước từ, kháng cự hay phản đối. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào sự khước từ ấy, sự kháng cự ấy, sự phản đối ấy được chính trị hóa.

2. Là một sự bất đồng về chính kiến. Đối lập phải có tính cách tập thể. Trong bất cứ lúc nào, luôn luôn có những người bất đồng chính kiến với chính quyền. Có thể có một thiểu số đông anh em, thỉnh thoảng họp nhau, rồi trong lúc trà dư tửu hậu, bàn quốc sự, có một thái độ chống đối đường lối, chủ trương của chính phủ. Đó là những kẻ chống đối, những cá nhân đối lập. Và những kẻ chống đối ấy có thể có trong chính thể Độc tài, Cộng sản. Đó không phải là đối lập.

Đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến ấy có tính cách tập thể, khi nào nó là kết quả biểu hiện một sự hành động có tổ chức của những kẻ chống đối. Nói đến sự hành động có tổ chức là nghĩ ngay đến chính đảng. Chỉ có đối lập khi nào có một chính đảng đối lập.

3. Là một sự bất đồng về chính kiến có tính cách tập thể, đối lập phải hợp pháp nữa. Có thể vì một lý do gì mà một đoàn thể phải dùng võ lực chống lại chính quyền. Có thể vì một lý do gì mà một chính đảng phải hoạt động âm thầm trong bóng tối. Những hành động ấy, đành rằng nó có tính cách tập thể và kết quả của một sự bất đồng chính kiến, không được xem là đối lập. Những hành động ấy chỉ được xem là những cuộc âm mưu phiến loạn hay kháng chiến, nó không còn là đối lập nữa. Vì đối lập chỉ hoạt động trong vòng pháp luật.

B. CÁC QUAN NIệm về ĐỐI LẬP

Một khi đã ý thức được danh từ “đối lập” và nhận định tầm quan trọng của nó trong cuộc sinh hoạt chính trị, vấn đề then chốt được đặt ra là xác định vị trí của đối lập trong các chính thể. Nếu tinh túy của dân chủ là lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, thì lẽ tất nhiên lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị ấy được thể hiện trên bình diện chính trị, qua những quyền của đối lập và sự hiện diện của đối lập chỉ là kết quả của sự thừa nhận tự do chính trị. Đối lập chỉ có giá trị và hiệu quả trong một chế độ mà triết học chính trị là Dân chủ tự do. Vì đối lập dựa trên tinh thần khoan dung, trên sự chính đáng của bất đồng chính kiến. Vì thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chính trị.Một quan niệm đối lập như thế, dựa trên Chủ nghĩa tự do, Chính thể độc tài không thể chấp nhận được. Trong chính thể này, chính quyền là tất cả, còn đối lập chẳng những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì những nhà độc tài luôn cho rằng ý thức hệ của mình là bất di bất dịch và vai trò của cơ quan công quyền không phải tìm lấy một ý chí đi sát với nguyện vọng của quốc gia mà trái lại chỉ có nhiệm vụ áp dụng mệnh lệnh của chính đảng nắm quyền lãnh đạo. Chẳng những vô ích, đối lập còn nguy hiểm nữa. Nguy hiểm cho sự thực hiện nguyện vọng của quần chúng, vì hành động của đối lập phân ly quần chúng. Bởi thế, đối lập cần phải được thanh trừng và những cái mà người ta gọi là Dân chủ, quyền tự do công cộng, những lợi khí mà đối lập dùng để họat động, lợi khí ấy cần phải được cấm nhặt. Bị khước từ bởi những chính thể Độc tài, đối lập chỉ được thừa nhận trong chính thể Dân chủ, chẳng những trên bình diện triết lý chính trị, đối lập còn được chứng minh qua khía cạnh cuộc điều hành thực tiễn của định chế. Chính sự hiện diện của đối lập phản ảnh tính cách chân chính của ý chí quốc gia. Trong những chế độ mệnh danh là “nhất tề – nhất trí”, trong những chế độ mà người ta chỉ nghe 99 phần trăm, đành rằng không phải không thể có được, nhưng sự vắng mặt của đối lập làm cho người ta lắm lúc phải hoài nghi. Chỉ trên bình diện thực tại, vai trò của đối lập chứng tỏ rằng, mặc dù bị loại ngòai hệ thống chính quyền, đối lập cần có mặt và phát biểu.Một quan niệm quá ư rộng rãi về Dân chủ, lẽ tất nhiên – dựa trên một sự đối lập chân thành, xây dựng. Nhưng ý niệm đối lập ngày nay quá biến chuyển. Một hiện tượng mới đã xảy ra, một đối lập, không phải trong chính thể, mà chống chính thể Dân chủ, một sự đối lập hoàn toàn phủ nhận nguyên tắc Dân chủ, một sự đối lập về ý thức hệ. Tất cả vấn đề là thử hỏi, trước một sự đối lập như thế, thái độ của chính thể Dân chủ phải như thế nào. Một vấn đề hết sức phức tạp, tế nhị và trên bình diện quốc tế, những giải pháp bảo vệ chính thể Dân chủ tùy thuộc hoàn cảnh thực tại chính trị của mỗi nước.

Dù sao, để trở lại vấn đề đối lập trong chính thể Dân chủ, không ai có thể chối cãi tính cách chính đáng của sự hiện diện của đối lập. Nhưng đối lập, chẳng những phải có mặt mà còn phải có thể phát biểu nữa. Mà đối lập phát biểu để làm gì và hành động của đối lập sẽ có tác dụng gì trong guồng máy chính trị quốc gia? Và theo thủ tục nào, dưới hình thức nào, với những bảo đảm nào, đối lập có thể mạnh dạn và thành thực phát biểu ý kiến?

Đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng, vấn đề vai trò của đối lập và vấn đề qui chế của đối lập, hai vấn đề căn bản mà chính thể Dân chủ cần phải giải quyết một cách phân minh để ổn định cuộc sinh hoạt chính trị và để đối lập làm tròn sứ mạng của nó.

II- VAI TRÒ CỦA ĐỐI LẬP

Trong chính thể Dân chủ thật sự, hiện diện của đối lập là một điều hết sức chính đáng. Chính đáng vì thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tự do chính trị. Chẳng những chính đáng, đối lập lại còn cần thiết nữa. Cần thiết cho phẩm tính, đối lập còn cần thiết cho sự hiện hữu của chính quyền nữa. Trong cuộc sinh hoạt chính trị ổn định, đa số ở đâu ra, chính quyền hiện tại ở đâu ra, nếu không phải là sự kết tinh của sự tranh chấp với đối lập? Trên khía cạnh này, đối lập đóng vai trò căn bản, vai trò hợp tác với chính quyền, đó là hai khía cạnh của vai trò đối lập.

A. VAI TRÒ HạN CHẾ VÀ KIểM SOÁT CHÍNH QUYềN

1- Hạn chế và kiềm soát chính quyền.

 Đó là một trong những hoạt động cốt yếu của đối lập ở bất cứ lúc nào trong cuộc sinh hoạt chính trị. Trước hết, ở giai đoạn tuyển cử Đối lập có mặt, có thể phát biểu ý kiến, đối lập có quyền phủ nhận làm cho chính quyền bỏ bớt thái độ cứng rắn, những chương trình mỵ dân, những hứa hẹn hão huyền. Đối lập chận đứng lại những tư tưởng hẹp hòi, những quan điểm thiển cận, tư tưởng và quan điểm không phải của một chính phủ quốc gia mà hoàn toàn lệ thuộc vào mệnh lệnh của đảng phái.

2- Đối lập bảo đảm tính cách đích xác công khai của những quyết định của nhà nước.

Thật vậy, khi mà chúng tạ nói đến ý chí của toàn dân, ý chí của quốc gia, cần phải nhận định rằng đó chỉ là ý chí của đa số. Ý chí của đa số là ý chí của quốc gia, cái phương trình ấy chỉ có giá trị khi nào quyết định của đa số được chấp thuận trong một bầu không khí cởi mở, sáng tỏ và tự do. Chính đối lập bảo đảm tính cách đích xác của quyết định của đa số và bắt buộc đa số nắm chính quyền phải tham dự một cuộc tranh luận công khai. Vẫn biết rằng, trong chế độ Tổng Thống hay trong chế độ Đại nghị mà chính phủ có đa số ở Quốc Hội, đối lập không thể ngăn cản chính quyền hành động theo ý của họ. Nhưng, tự do chỉ trích, đối lập bắt buộc địch thủ phải tiết lộ dự định của họ, những lý do của một quyết định của họ. Và như thế, đối lập bảo đảm rằng, khi một biện pháp hay chính sách được chấp thuận, những lý lẽ chống đối hay bênh vực biện pháp, chính sách ấy, đều được công khai đưa ra dư luận. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền, đối lập đảm đương một cách thiết thực hơn nữa trên diễn đàn Quốc Hội.

3 – Với phương tiện nào đối lập đóng vai trò của nó trên bình diện nghị viện? Đành rằng cơ cấu chính phủ nước này không giống nước kia, nhưng trong bất cứ chính thể Dân chủ nào, người ta cũng tìm thấy từng ấy phương tiện cho phép đối lập phát biểu công khai ý kiến của họ. Trong những lúc bàn cãi và biểu quyết ngân sách quốc gia, sự hiện hữu của đối lập bắt buộc chính quyền bỏ hẳn chương trình mỵ dân, thái độ cứng rắn, và nhứt là chính quyền hết sức dè dặt khi bắt buộc toàn dân phải hy sinh quá độ. Cuộc đối thoại giữa chính phủ và quốc hội – chung qui giữa chính quyền và đối lập – qua những cuộc tranh luận, những câu hỏi, những cuộc tiếp xúc với ủy ban hay giữa phiên họp công khai là những dịp mà các vị Dân biểu đối lập nói lên những lạm dụng của cơ quan hành chánh, hay nhận được – qua cuộc trình bày của các vị Bộ trưởng – tin tức về một vấn đề nhất định hay câu trả lời đích xác. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền được biểu hiện một cách thiết thực nữa qua nguyên tắc trách nhiệm chính trị. Chúng ta biết rằng trong chế độ Đại nghị, chính phủ bắt buộc phải từ chức khi đa số ở Quốc Hội biểu quyết chống chính phủ. Yếu điểm này sẽ là một ảo mộng nếu không có một đối lập thực sự. Vậy qua từng giai đoạn của sự khởi thảo chương trình và trong hành động hàng ngày, chính quyền luôn luôn để ý đến lập trường của đối lập, tự kiểm soát lấy mình và trong việc ấn định kế hoạch quốc gia, lắm lúc phải nhận lấy chủ trương của đối lập. Thái độ này không nhằm làm vui lòng đối lập mà cho toàn dân, vì để ý đến lập trường của đối lập trong việc xác định đường lối chính trị, chính quyền hướng về nguyện vọng của quốc gia.

4 – Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Vai trò tối quan trọng này, không phải đối lập luôn luôn đảm đương với tất cả hiệu quả thật sự. Không, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề là ở khía cạnh tâm lý của toàn dân. Vấn đề là mỗi công dân có thể chắc chắn rằng, ngoài Quốc Hội hay trên diễn đàn Quốc Hội, có những người đại diện có thể phát biểu ý kiến của mình, không phải theo đường lối của chính quyền mà khác hẳn chính quyền. Và dù rằng ý kiến không được chấp thuận đi nữa, họ có cảm giác rằng sự kiện ấy do nơi quyền lợi tối cao của quốc gia, chứ không phải vì tính thị hiếu nhất thời, chuyên chế. Cần phải nhận định rằng, đối lập không những là tượng trưng cho một khuynh hướng chính trị, đối lập còn có giá trị tự bản chất nó nữa. Vì chỉ có đối lập và bởi đối lập mà việc kiểm soát của toàn dân mới có tính cách chân thành và hiệu lực trong một chế độ thương nghị, không những hạn chế, kiểm soát chính quyền, đối lập còn cộng tác với chính quyền nữa.

B. VAI TRÒ CộNG TÁC VỚI CHÍNH QUYềN

Cho rằng đối lập cộng tác với chính quyền, đó là một khẳng định có hơi mâu thuẫn. Tuy nhiên chính đó là khía cạnh tích cực của vai trò đối lập. Và chúng ta có thể quả quyết rằng cái lợi của chính quyền là dung túng đối lập.

1 - Qua những cuộc tranh luận trong một bầu không khí cởi mở, những ý tưởng khích động tinh thần, những định kiến bớt phần cứng rắn, những ý kiến được chọn lọc và uy quyền sáng tỏ. Bất cứ một chính quyền nào cũng có khuynh hướng tự giam mình trong tình trạng cô đơn, chỉ nghe lời của đồng chí và lấy quyết định phù hợp với ảo vọng hoang đường qua những nhận xét riêng biệt của mình về thời cuộc. Đối lập có mặt, nhắc lại cho đoàn thể ở chính quyền tính cách phức tạp của thực tại chính trị, đem lại những màu sắc chính trị và đôi khi phản kháng lại những truyền tin báo cáo đơn phương của chính phủ. Qua những hành vi tích cực ấy, chính quyền thâu lượm được những dấu hiệu quý giá về tình trạng tinh thần của dư luận. Chẳng những trong lãnh vực thông tin, vai trò cộng tác với chính quyền của đối lập nổi bật lên nữa qua khía cạnh nghị viện.

 2 – Tất cả những công việc thuộc về thiết lập chương trình nghị sự, về những vấn đề cần phải được thảo luận, những dự án ưu tiên, những cuộc tiếp xúc Ẩ., tóm lại, vấn đề liên hệ đến việc tổ chức công tác của Quốc Hội, sự thỏa thuận giữa đối lập và chính quyền là điều kiện cốt yếu của một tình trạng chính trị ổn định. Và lịch sử đã chứng minh rằng, trong những trường hợp đặc biệt, trong những tình trạng khẩn cấp, tối cần, trong những trường hợp mà sinh tồn của quốc gia được đặt ra, trong những trường hợp ấy, lịch sử đã chứng minh rằng đối lập từ khước độc lập và lắm lúc lại ủng hộ chính quyền để bảo vệ uy thế của chính quyền lúc phải đương đầu với mọi cuộc ngoại xâm. 3 – Hướng dẫn chính quyền tham gia vào cuộc điều hành công tác Quốc Hội, một sự đối lập có tổ chức, có hệ thống đóng một vai trò cực kỳ quan trọng là chủ trương một chính sách để thay thế cho chính sách chính quyền. Cần phải nhấn mạnh đặc điểm này. Trong những xứ mà tình trạng chính trị chưa ổn định, trong những xứ mà đối lập vắng mặt, người ta luôn luôn lo ngại cho tương lai chính trị quốc gia. Ai sẽ thay thế nhà lãnh tụ hôm nay? Viễn tượng những cuộc cách mạng đẫm máu, những cuộc chính biến, viễn tượng những gián đoạn chính trị đầy hậu quả làm cho cuộc sinh hoạt chính trị kém phần tích cực. Đối lập, trong chính thể Dân chủ, cho phép Quốc gia xoay chiều, đổi hướng trong khung cảnh của định chế và không tổn thương đến sự liên tục của cuộc sinh hoạt chính trị. Đối lập là chính phủ của ngày mai, đối lập tượng trưng sự tin tưởng vào định chế quốc gia, đối lập duy trì sự liên tục của chính quyền.

Một sự đối lập hữu hiệu là một lực lượng tích cực. Cần phải nhận định rằng đối lập không phải là lực lượng luôn luôn chống đối chính quyền. Đối lập và chính quyền là hai yếu tố căn bản của thế quân bình chính trị trong chính thể Dân chủ.

Hạn chế và kiểm soát chính quyền, cộng tác với chính quyền, một khi đã hiểu như thế, vai trò của đối lập, vấn đề được đặt ra bây giờ là thử hỏi trong điều kiện nào đối lập có thể làm tròn sứ mạng của nó trong một bầu không khí khoan dung, khi mà một số quyền hạn của đối lập được xem là bất khả xâm phạm và đồng thời đối lập thông suốt nhiệm vụ của mình. Kê khai những quyền hạn ấy, ấn định nghĩa vụ của đối lập, tức là bàn đến vấn đề quy chế của đối lập.

III – QUI CHẾ CỦA ĐỐI LẬP

Vấn đề ấn định qui chế của đối lập tùy thuộc mỗi quan niệm riêng về đối lập. Nếu đối lập chỉ được xem là một quyền đối lập, nó chỉ là hậu quả tất nhiên của thể chế chính trị Dân chủ tự do. Đối lập tức là có quyền xử dụng tất cả những tự do hợp pháp. Trái lại, nếu đối lập được đưa lên hàng một chức vụ rất cần thiết cũng như chính quyền, nếu đối lập được xem không phải là một việc bất đắc dĩ, mà là một liều thuốc kích thích chính quyền, thì theo quan niệm này, quy chế chẳng những bảo đảm tự do của đối lập mà còn chú ý tới công hiệu của nó nữa. Tổ chức đối lập, định chế hóa đối lập đó là quan niệm thứ hai của đối lập.Nhưng dù có được định chế hóa hay không, đối lập để có thể đảm đương vai trò chủ yếu của nó, phải là một đối lập tự do và xây dựng. Nói đến đối lập tự do là phải nghĩ ngay đến quyền hạn của nó; nói đến đối lập xây dựng là nghĩ đến ngay nghĩa vụ của nó.

A – MộT TRONG NHữNG QUYềN Hạn CỦA ĐỐI LẬP

1 – Là quyền không thể bị tiêu diệt. Vì đối lập luôn luôn là một chướng ngại, chính quyền hay có khuynh hướng thừa một cơ hội nào đó, tẩy trừ phần tử rối loạn ấy đi. Vẫn biết rằng, có những lúc, những giờ phút nguy nan, đối lập hoặc tự mình, hoặc thỏa thuận với chính quyền, ngưng hẳn những phê bình hay chỉ trích. Nhưng đó chỉ là im hơi, lặng tiếng; chớ quyền sinh tồn vẫn là quyền tối cao của đối lập. Tiêu diệt đối lập tức là dọn đường cho Chủ nghĩa độc tài. Đối thoại trở thành độc thoại.

2 – Quyền thứ hai của đối lập là quyền phát biểu. Và quyền phát biểu này được thể hiện bởi những cái mà người ta gọi là tự do công cộng. Số phận của đối lập sẽ ra sao nếu đối lập không tự do có ý kiến khác hẳn ý kiến chính quyền, và tự do phát biểu ý kiến ấy trên báo chí và sách vở? Nếu đối lập không được tự do hội họp? Chỉ có đối lập thật sự trong một chế độ mà các tự do này được ấn định và chế tài một cách hợp lý.Chúng ta có nói rằng thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân chủ. Tính cách tương đối này được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc bầu cử. Trên bình diện đại nghị, đối lập cần phải được đặc biệt bảo vệ. Trường hợp Dân biểu đối lập bị bắt bớ hay tống giam không phải là những trường hợp hiếm có. Vì thế mà quyền bất khả xâm phạm của Dân biểu là một thực tại.Những quyền hạn mà chúng tôi đã sơ lược kê khai không phải chỉ dành riêng cho đối lập. Đó là quyền bảo vệ tất cả công dân trong chính thể Dân chủ. Nhưng phải thành thật mà nhận định rằng tự do phát biểu, tự do tuyển cử, quyền bất khả xâm phạm v..v.. là những điều kiện quí giá cho đối lập luôn luôn bị chính quyền đe dọa. Đó là điều kiện tối thiểu. Một quan niệm cấp tiến đã đi đến chỗ định chế hóa đối lập. Đối lập trở thành một thực thể có hiến tính. Đó là trường hợp của Anh quốc vậy.

Ở nước Anh, đối lập có một tước vị chính thức “đối lập của Nữ hoàng”. Và đối lập của Nữ hoàng có cả chính phủ riêng của họ, một nội các bóng trong Hạ nghị viện. Vị lãnh tụ đối lập của Nữ hoàng là một nhân vật cao cấp đầy uy thế, luôn luôn được mời đến cùng vị Thủ tướng tham dự những buổi lễ chính thức và luôn luôn được tham khải ý kiến về những vấn đề chính trị trọng đại. Và xin nhắc lại một điều rất lý thú là “nhà nước lại phải trả lương cho vị lãnh tụ đối lập”.

Nhưng dù sao, định chế hóa hay không, quyền sinh tồn và những điều kiện thuận tiện để tự do phát biểu, chỉ có ý nghĩa khi nào đối lập tin tưởng có quyền nắm lấy chính quyền. Chính sự bình đẳng trong vận hội ấy làm cho cuộc sinh hoạt chính trị thêm phần phấn khởi.

Đối lập có vài quyền hạn để đảm đương vai trò của nó. Nhưng đối lập không phải chỉ có quyền. Một số nghĩa vụ hạn chế hoạt động của đối lập, nghĩa vụ nhằm mục tiêu tôn trọng tinh thần Dân chủ.

B – NHữNG NGHĨA Vụ CỦA ĐỐI LẬP

Một trong những nghĩa vụ của đối lập là thừa nhận qui luật đa số. Những ai quan tâm đến cuộc bầu cử đều rõ rằng có thể xảy ra trường hợp mà vị Tổng thống đắc cử hay một chính đảng chiếm đa số ở Quốc Hội trong lúc phiếu của mình lại kém địch thủ thất bại. Nhưng đó chỉ là hậu quả kỹ thuật của luật tuyển cử. Và công lý là một chuyện, mà hợp pháp là một chuyện khác nữa. Trường chính trị là một cuộc tranh đấu công nhận qui luật đa số, tức là thẳng thắn tham gia cuộc đấu tranh bởi đó là luật lệ của nguyên tắc dân chủ. Nghĩa vụ thứ hai của đối lập là hoạt động một cách ôn hòa xây dựng và có tinh thần trách nhiệm. Những chỉ trích vớ vẩn, những vu khống không có căn bản chính trị của những kẻ tự cho là chính khách, những phê bình chỉ đem lại hoài nghi và bất mãn, đó là những tệ đoan của sự đối lập không xứng đáng với danh hiệu của nó. Vì đâu lại có một hiện tượng bất thường như thế? Ngoài tham vọng cá nhân, hiện tượng này phát sinh từ một hệ thống chính đảng nhất định và liên quan đến khía cạnh ý thức hệ của một vài chính đảng.Trong một xứ, một hệ thống đa đảng là một thực tại chính trị, khi mà không một chính đảng nào chiếm đa số hay ưu thế trên sân khấu chính trị, Chính phủ luôn luôn là một chính phủ liên hiệp. Mà liên hiệp tức là tập hợp những khuynh hướng mâu thuẫn, dung hòa những chính sách tương phản. Chính cái viễn tượng không bao giờ tự mình chiếm được hoàn toàn quyền và thực hiện những chương trình hứa hẹn làm cho chính đảng thiếu ý thức xây dựng và tinh thần trách nhiệm. Tính cách rời rạc và chia rẽ của đối lập, chỉ biết phá hoại biến đổi hẳn mối tương quan truyền thống giữa đa số và thiểu số. Đối lập không còn là đối lập ngoài và chống chính phủ, đối lập ở đây là đối lập trong chính phủ.Chẳng những thế, khía cạnh ý thức của một vài chính đảng là nguyên do thứ nhì của sự thiếu tinh thần xây dựng. Đối lập chỉ có nghĩa trong một khung cảnh chính trị nhất định. Nếu chúng ta đồng ý về một nguyên tắc căn bản, nếu chúng ta thừa nhận chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân quyền, tự do chính trị, nếu chúng ta tôn trọng nhân vị, sự độc lập của Thẩm phán hay quyền tự do phát biểu, thì cuộc tranh chấp chính trị chỉ nằm trên lãnh vực thực tiễn qua những nguyên tắc thứ yếu. Trái lại, nếu đối lập nhằm chống lại, không phải một khuynh hướng chính trị hay một chính sách nhất định, mà chính cả nền tảng của xã hội, nghĩa là chống cả chính thể, thì khẳng định rằng đối lập là chính phủ tương lai không còn giá trị nữa. Vì đặc tính của đối lập về ý thức hệ là chiếm chính quyền để rồi thủ tiêu quyền đối lập. Trong một tình trạng như thế, trước tình trạng mà đối lập không thi hành nghĩa vụ của nó, những quyền hạn không còn lý do tồn tại nữa. Và “Chính thể dân chủ” cần phải có những biện pháp thích nghi để đối phó. Sa thải những phần tử bất chính trong hành chính, bắt buộc đối lập phải có một chương trình và có năng lực nắm chính quyền trước khi lật đổ chính phủ, sửa đổi luật bầu cử, đặt ngoài vòng pháp luật những chính đảng quá khích, đó là một vài ví dụ cụ thể về biện pháp được áp dụng để bảo vệ Chính thể dân chủ.IV – ĐỐI LẬP TRONG CÁC QUỐC GIA CHẬM TIẾN

Phác họa như thế, vai trò và “qui chế đối lập” trong “chính thể dân chủ” qua sự biến chuyển của ý niệm trong xã hội cận đại, chúng ta không khỏi tự nhủ rằng đó là lý tưởng. Và tự hỏi rằng lý tưởng ấy có phù hợp với những quốc gia trên đường phát triển, với hiện tình những nước vừa thu hồi độc lập. Thực tại chính trị cho chúng ta biết rằng, đối lập nếu không hoàn toàn vắng mặt, thì chỉ được dung túng một phần nào, một phần nhỏ nào, trong những nước mới này, những nước mệnh danh là Dân chủ và đồng thời cũng được xem là những chính thể không độc tài. Tại sao lại có một sự kiện oái oăm như thế? Lý do thứ nhất mà người ta đưa ra là sự đe dọa trầm trọng của độc tài Cộng sản. Những nước mới này, là những nước bị nạn Cộng sản đe dọa và có nước đang chiến đấu một mất một còn với Cộng sản. Dung túng đối lập tức là cho Cộng sản cơ hội núp sau lá cờ đối lập để phá hoại nền dân chủ. Đối lập Cộng sản là đối lập về ý thức hệ, và chúng ta biết rằng đối lập về ý thức hệ là đối lập chống chính thể Dân chủ.Lý do thứ hai là trình độ giáo dục của quần chúng. Người ta cho rằng dân chúng chưa có một trình độ giáo dục về chính trị khá đầy đủ để cho có thể xử dụng một cách hoàn hảo những quyền tự do công cộng. Và như thế, đối lập chỉ có hại vì nó sẽ là bức bình phong của những tham vọng cá nhân của những kẻ không cơ sở chính trị chỉ dựa trên cuộc chính đồ sinh hoạt. Hơn nữa, thì giờ gấp rút, nâng cao mực sống của toàn dân là một việc tối cần, lúc kiến quốc không phải lúc bàn cãi, phê bình hay chỉ trích.

Những lý do mà chúng ta vừa nêu ra rất là chính đáng. Nhưng chính đáng không có nghĩa là phải chấp nhận. Trong lĩnh vực chính trị và xã hội, sự hoàn hảo của một định chế chính trị là kết quả của kinh nghiệm. Làm sao hy vọng một nhận thức khá cao của quần chúng, nếu hôm nay không có học tập hướng về Dân chủ? Không phải nhất thiết áp dụng tất cả những gì đã có hay đang có ở Tây phương. Thực tại chính trị xã hội văn hóa của mỗi nước là yếu tố căn bản. Nhưng điều kiện tối thiểu phải có để đối lập được phép khởi đầu và phát triển.

Vả lại, vì thiếu đối lập mà Cộng sản và những phần tử phản Dân chủ nắm mất chính nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn, than phiền của quần chúng.

Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chính quyền và nhân dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách ôn hòa, để cho phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra. Và như thế không những trong những nước tiền tiến, mà chính ngay trong những tân quốc gia, công cuộc kiến quốc và cứu quốc, công cuộc xây dựng nền Dân chủ phải là kết tinh của hoạt động song phương giữa chính quyền và đối lập

March 23, 2008

Hãy Cùng Nhau Chống Cuộc Rước Đuốc Olympic Bắc Kinh 2008

Tác giả: Trung Điền

Ngày gởi đăng: 3/22/2008

bejinglogo.jpg

Trong những ngày vừa qua, hàng ngàn nhà sư Tây Tạng đã cùng nhau xuống đường đòi độc lập và tố cáo sự đàn áp chính trị của nhà cầm quyền Bắc Kinh tại Thủ đô Lhara của Tây Tạng, đã tạo một sự chú ý đặc biệt nơi công luận. Cuộc đấu tranh của các nhà sư Tây Tạng đã làm cho nhà cầm quyền Trung Quốc hoảng sợ vì có thể tác động lên các nhóm sắc tộc khác cùng đứng lên đòi độc lập trong bối cảnh chuẩn bị Lễ Hội Olympic sẽ khai mạc vào tháng 8 tại Bắc Kinh. Do đó mà Bắc Kinh đã một mặt ra lệnh trấn áp các cuộc biểu tình, bắt giữ hơn một ngàn người, giết chết hơn 100 nhà sư Tây Tạng trong hai ngày cuối tuần vừa qua. Mặt khác Bắc Kinh đã ra lệnh cho hàng chục sư đoàn bộ đội tiến vào Tây Tạng để ngăn chận các cuộc nổi dậy có thể xảy ra. Trong khi đó, Thủ tướng Trung Quốc đã tố cáo Đức Daila Lama Tây Tạng xúi giục những nhà sư Tây Tạng nổi dậy nhằm phá hoại Lễ Hội Olympic, cũng như ra lệnh cho quân đội phải đặt trong tình trạng khẩn cấp để ứng phó trước các cuộc nổi dậy có thể xảy ra trong Hoa Lục.

Những diễn tiến xảy ra tại Tây Tạng trong hai ngày cuối tuần vừa qua, trên bề mặt là một biến cố bất ngờ đối với dư luận thế giới; nhưng nó là cuộc nổi dậy có chuẩn bị từ trước nằm trong một chuỗi những phản kháng mà các lực lượng dân chủ của những sắc dân Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương và các tổ chức dân chủ Trung Quốc tính toán từ trước. Mục tiêu của họ không chỉ là vận động công luận tẩy chay Olympic 2008 tại Bắc Kinh mà còn khai thác sự chú tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc trong việc tổ chức Olympic ở Thủ đô, để mở ra hàng loạt các cuộc nổi dậy tại địa phương nhằm đặt nhà cầm quyền Bắc Kinh ở vào thế lúng túng đối phó, đặc biệt là từ ngày 23 tháng 3, ngày bắt đầu lễ rước đuốc Olympic diễn ra ở Hy Lạp kéo dài cho đến giữa tháng 8 năm 2008. Do đó mà cuộc nổi dậy của các nhà sư Tây Tạng trong hai ngày cuối tuần vừa qua có thể được coi là sự khơi mào cho thế tấn công toàn diện của các lực lượng dân chủ Trung Quốc nhắm vào Lễ Hội Olympic. Đặc biệt là trung tuần tháng 4 tới đây, một Hội nghị quy tụ các lực lượng dân chủ Trung Quốc sẽ khai mạc tại Tokyo, thủ đô Nhật Bản để đúc kết những nỗ lực vận động chống Olympic. Những hoạt động chống đối của các lực lượng dân chủ Trung Quốc đang làm cho nhà cầm quyền Bắc Kinh điên đầu đối phó vì họ rất lo ngại rằng sẽ có những cảnh rối loạn ngay trong những ngày diễn ra lễ hội Olympic không chỉ ở Bắc Kinh mà còn ở nhiều địa phương.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh rất muốn Lễ Hội Olymic 2008 diễn ra suông sẻ và thành công, vì lễ hội này sẽ tạo một bước ngoặc lớn cho thế đứng của Trung Quốc nhằm chứng minh với thế giới về cái gọi là sự thành công của con đường cải cách ‘thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa’. Đồng thời qua lễ hội này, Bắc Kinh sẽ vươn lên một tư thế mới – siêu cường không địch thủ – ở tại Á Châu. Những bước đi của Trung Quốc nói trên chắc chắn sẽ giúp phát triển thế bá quyền của họ đối với các nước lân bang. Trong bối cảnh đó, Việt Nam sẽ mãi mãi rơi vào thế chèn ép của Bắc Kinh nếu không chọn một thế đứng độc lập. Dưới sự cai trị của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, Việt Nam khó có thể thoát ra khỏi thế chèn ép của Bắc Kinh khi mà nhóm lãnh đạo coi quyền lợi phe nhóm của họ cao hơn các quyền lợi của dân tộc trước những xâm phạm lãnh thổ của Bắc Kinh. Chỉ có sức mạnh đấu tranh của dân tộc Việt Nam mới có thể cứu đất nước ra khỏi sự chèn ép và khống chế của Bắc Kinh. Lễ Hội Olympic Bắc Kinh 2008 là một cơ hội để cho dân tộc Việt Nam biểu hiện sự phản kháng với nhiều ý nghĩa:

Đó là tố cáo sự ươn hèn của lãnh đạo Hà Nội trước các hành động xâm phạm lãnh thổ của Bắc Kinh.

Đó là tẩy chay mọi sự cộng tác của Hà Nội đối với Bắc Kinh để cho thấy là dân tộc Việt Nam không ủng hộ quan hệ của đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Đó là tạo thế liên đới với các lực lượng dân chủ Trung Quốc để đánh sập thế bá quyền của Bắc Kinh đồng thời tạo động lượng cho những xoay chuyển dân chủ tại Trung Quốc, Việt Nam và Tây Tạng.

Ngày 29 tháng 4 năm 2008, Cộng sản Việt Nam sẽ tổ chức một cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 tại thành phố Sài Gòn. Đây là thành phố thứ 20 trong lộ trình di chuyển đuốc Olympic 2008 đến các thành phố trên thế giới để tuyên truyền cho Olympic tại Bắc Kinh. Đây là cơ hội rất tốt để cho dân tộc Việt Nam biểu hiện bằng hành động cụ thể vừa phản kháng bản chất bá quyền và xâm lăng của Trung Quốc, vừa tố cáo sự ươn hèn của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội để mất các lãnh đảo, các khu vực biên giới vào tay Bắc Kinh. Sự biểu hiện hành động trong ngày 29 tháng 4 tới đây, không đòi hỏi mọi người phải làm những điều gì khó nhọc. Việc làm này không chỉ giới hạn những người đang sống tại Việt Nam mà ngay cả tại hải ngoại. Đó là hãy cùng nhau kêu gọi mọi người và kêu gọi cả chính mình và người thân, hãy mặc áo trắng đi ra khắp các đường phố Sài Gòn, vào ngày 29 tháng 4 năm 2008. Hãy cùng nhau ra ngoài đường, hãy mặc áo trắng và hãy cùng gặp nhau chào hỏi để biến ngày 29 tháng 4 là ngày khởi đầu của một sự tập họp.

Có người lo ngại rằng, nếu hô hào mọi người túa nhau ra đường đông đảo, Cộng sản Việt Nam sẽ quay hình và dùng sự đông đảo này để tuyên truyền rằng dân chúng đã hưởng ứng lời kêu gọi của họ ra đường ‘chào đón’ đuốc Olympic mà dâng cho Bắc Kinh. Điều lo ngại này có thể đúng nhưng chế độ chỉ có thể tuyên truyền với bên ngoài; đối với đồng bào khắp nơi, chúng ta hiểu rõ ý nghĩa hành động của mình: hàng ngàn người cùng mặc áo trắng, cùng xuất hiện trên các đường phố trong một ngày để nói lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của tập thể – công khai và bất bạo động – khởi đầu một tiến trình đấu tranh trên đường phố mà công an sẽ khó có thể đàn áp hay trù dập. Khi đã có số đông quần chúng trên đường phố Sài Gòn và cùng đồng lòng chống sự bá quyền của Trung Quốc về việc cưỡng chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta sẽ không thể im lặng nhìn nhau mà phải nói lên sự căm hờn dân tộc: Phản Đối Bắc Kinh. Tẩy Chay Olympic 2008. Bắc Kinh Phải Trả Lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam….

Hãy cùng nhau mặc áo trắng và bắt đầu những nỗ lực thật đơn giản nhưng phù hợp với nỗi trăn trở của mọi người về những phần lãnh thổ đang bị Bắc Kinh xâm chiếm. Nếu chúng ta không hành động, không lên tiếng thì ai sẽ làm cho chúng ta? Chẳng lẽ chờ cho thế hệ con cháu mai sau đứng lên đòi dùm lại cho thế hệ cha ông? Không thể nào trao cái nhục đó cho thế hệ mai sau. Thế hệ của chúng ta phải sòng phẳng với lịch sử.

Ngày 29 tháng 4, ngọn đuốc xâm lăng của bá quyền Bắc Kinh do đảng Cộng sản Việt Nam rước đến Sài Gòn còn là một điều ô nhục cho chúng ta – đánh dấu 33 năm Quốc Hận – về ngày tủi nhục 30 tháng 4. Chúng ta không thể im lặng nhìn con em chúng ta bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt cầm đuốc và ca hát chạy trên đường phố Sài Gòn để cổ võ cho thế bá quyền Bắc Kinh. Đây là hình ảnh vô cùng nhục nhã cho dân tộc. Chúng ta không thể chấp nhận được. Vậy thì mọi người Việt Nam trong và ngoài nước hãy liên đới đứng lên, biến tuần lễ Quốc Hận 30 tháng 4 năm nay thành một chiến dịch tố cáo sự ươn hèn của Hà Nội đã nhượng đất, dâng biển cho bá quyền Bắc Kinh, và làm bùng nổ phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.

Trung Điền

March 11, 2008

Đất nước này là của ai?

       Trả lời: Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Đất nước này là của nhân dân Việt Nam, sao còn phải hỏi một câu vớ vẩn như thế. Và chính quyền này cũng vậy, là của dân, do dân và vì dân.

Có phải như vậy không?Cái khối nhân dân trừu tượng đó là ai?  Là những thành phần nào?Trong bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy trước đây, ống kính của máy quay đã nhiều lần chĩa vào những chữ “nhân dân” xuất hiện ở khắp mọi nơi trên đất nước này: Tòa Án Nhân Dân tỉnh…, quận…, Viện Kiểm sát Nhân Dân tỉnh…, Bệnh viện Nhân Dân, Nhà thuốc Nhân Dân, Cửa hàng Nhân Dân…Cái khối nhân dân trừu tượng được quan tâm ưu đãi tuyệt vời đó là bao gồm những ai?Có phải là công nhân-giai cấp tiên phong, lực lượng nòng cốt của Đảng CSVN trong những cuộc cách mạng thần thánh vừa qua như những người lãnh đạo Đảng vẫn tiếp tục ca mãi bài ca này?Xin hãy nhìn thử xem hiện nay giai cấp công nhân ở nước này đang sống như thế nào? Họ đang phải vắt kiệt sức mình trong những công ty, nhà máy của Nhà Nước hoặc liên doanh với nước ngoài, với một mức lương bèo bọt trên dưới một triệu đồng/tháng, thường xuyên làm việc trong những điều kiện rất khe khắt căng thẳng do chủ đặt ra, thường xuyên bị đe dọa trừ lương, cắt lương, đuổi việc, bị la mắng và trong một số trường hợp còn bị các ông chủ người nước ngoài xúc phạm bằng lời lẽ hoặc bằng vũ lực. Và khi hàng trăm hàng ngàn công nhân ở nơi này nơi kia chịu không nổi vùng dậy biểu tình đòi tăng lương, đòi những quyền lợi nhỏ bé và cụ thể mà phải khó khăn lắm họ mới đạt được một phần nhỏ thắng lợi, thì gần đây nhất Chính phủ và Vị Thủ tướng nhân dân đã cho họ một đòn đau khi ra Nghị định số 12/2008/NĐ-CP ngày 30/1/2008 quy định buộc ngừng đình công và xử phạt những người đình công nếu những cuộc đình công đó gây thiệt hại đến kinh tế…Còn đối với những người không sống nổi với mức lương bèo bọt trong nước, cắn răng tìm con đường xuất khẩu lao động đem thân đi làm thuê ở xứ người mà chua chát thay,cũng là mang ngoại tệ về cho đất nước, khi có chuyện thiệt thòi hay bị đối xử tệ, chính phủ Việt Nam làm được gì để can thiệp và bảo vệ cho họ? Câu chuyện về những nữ công nhân bị đàn áp ở Jordan gần đây hay công nhân Việt Nam làm việc trong điều kiện khắc nghiệt ở Malaysia và theo BBC Vietnamese “ từ 2004 tới nay đã có trên 300 công nhân VN chết khi làm việc ở Malaysia. Riêng năm ngoái con số này là 107. Đa số các trường hợp được ghi nhận là ‘đột tử’.” Đất nước này do vậy không thể là của họ.

Đất nước này là của ai? Có phải là nông dân-lực lượng nòng cốt thứ hai của Đảng, tầng lớp đông đảo nhất ở Việt Nam từ trước đến nay?

Xin hãy nhìn thử xem hiện nay người nông dân ở nước này đang sống như thế nào? Bản thân họ trực tiếp làm ra hạt gạo nuôi sống dân tộc Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng đời sống của người nông dân cho đến tận bây giờ vẫn rất nghèo, đất đai của nông dân ở khắp mọi nơi đang bị giải tỏa và đền bù với giá rẻ mạt để giải phóng mặt bằng cho những dự án về kinh tế, quy hoạch…Nhưng thực chất là bọn đầu cơ kinh doanh về địa ốc kết hợp với đám quan chức địa phương gần như cướp ngang của người dân để mua đi bán lại đất đai, làm giàu nhanh chóng, đẩy hàng ngàn hàng triệu nông dân vào cảnh bần cùng.  Và khi họ chịu không nổi bồng bế nhau vác đơn đi khiếu kiện từ quê ra tỉnh lên tới thành phố thì chẳng ai trong đám “công bộc, đầy tớ của nhân dân” giải quyết cho họ. Thậm chí chính quyền còn vu cho họ tội “gây rối trật tự công cộng” và ra lệnh bắt tạm giam họ. Vụ việc công an bắt bớ hàng loạt dân oan quận 9 trong đêm 2.3.2008 vừa qua là một ví dụ. Xuất phát của mọi chuyện là do đâu? Nếu như chính quyền khi triển khai dự án Khu Công nghệ cao ở quận 9 đã không giải tỏa bao nhiêu đất đai của người dân rồi đền bù với một mức giá bèo bọt, phi lý và bất công thì đâu có chuyện gì xảy ra? Người dân đâu có lý do gì để phải bức xúc đi khiếu kiện xảy ra xô xát, để rồi bị khép tội gây rối trật tự và bị bắt? Đất nước này do vậy không thể là của họ.

Đất nước này là của ai? Cũng không phải là của hàng triệu người dân nghèo ở khắp nơi đang phải kiếm sống bằng những gánh hàng rong, chạy xe ba gác, xe lôi đi chở hàng…khi chính quyền vừa ra lệnh dẹp tất cả xe ba gác, xe tự chế, các loại hàng rong …mà không hề có một sự chuẩn bị và hỗ trợ chu đáo cho họ để chuyển đổi sang một phương cách mưu sinh khác. Người ta đã đơn giản gạt họ và con cái họ sang một bên để lạnh lùng tiến lên phía trước.

Đất nước này là của ai? Cũng không phải là của tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ, vốn là thành phần rất được ưu ái, xem trọng trong bất cứ một xã hội dân chủ nào. Bởi vì hãy thử nhìn xem, cũng như dân chúng, trí thức văn nghệ sĩ có đựơc hưởng những quyền công dân chính đáng ví dụ như quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp biểu tình một cách ôn hòa bất bạo động…không? Có được quyền sáng tác theo tiêu chí tôn trọng sự thật khách quan, theo lương tâm người nghệ sĩ và trách nhiệm công dân là phải phản ánh những mặt trái của xã hội, của chính quyền và đứng về phía nhân dân, về phía nước mắt? Hay là mỗi khi có một tác phẩm nào dám đụng chạm đến những vấn đề gai góc của xã hội, của lịch sử, đụng chạm đến Đảng…thì lập tức bị cấm phát hành, bị thu hồi, người sáng tác bị làm khó dễ, bị cô lập, vùi dập, thậm chí bắt bớ? Hay là mỗi khi muốn nói một điều gì là sự thật, các nhà văn nhà thơ nhà báo đành phải tìm đến các trang báo mạng bên ngoài, blog hoặc bằng con đừơng xuất bản độc lập? Đất nước này do vậy không thể là của họ.

Đất nước này cũng không phải của ngay cả một số những con người thụôc thành phần có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sĩ…trước đây đã từng đào hầm che giấu cán bộ, góp công góp gạo nuôi cán bộ, từng hy sinh xương máu để góp phần tạo dựng nên chế độ, nhưng vì vẫn còn lương tri và biết xấu hổ nên không mua quan bán tước, tìm mọi cách leo cao leo sâu vào hàng quan chức, ăn trên ngồi trốc, trở thành tầng lớp có chức quyền hoặc tư bản đỏ làm giàu nhanh chóng bằng cách tham nhũng lũng đoạn kinh tế, phù phép của công thành của riêng, làm nghèo đất nước một cách nhanh chóng với những dự án siêu lỗ, thất thoát hàng ngàn tỷ đồng…Không, trong số hàng đoàn người lầm lũi đi khiếu kiện kia hay trong số những người dân oan ở quận 9 bị bắt vừa rồi chẳng hạn, có rất nhiều người thuộc thành phần có công với cách mạng, thương binh liệt sĩ, cựu chiến binh…Đất nước này bây giờ cũng không phải là của họ như họ đã từng lầm tưởng là như vậy.

Đất nước này cũng không thuộc về các tầng lớp nhân dân nói chung bởi vì khi một phần lãnh thổ và lãnh hải của Tổ Quốc bị ngang nhiên chiếm đoạt, khi lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam bị xúc phạm nặng nề, người dân đã không được quyền lên tiếng!

Vậy thì đất nước này là của ai, thuộc về ai?

Vậy thì đất nước này là của ai, thuộc về ai?

Vậy thì đất nước này là của ai, thuộc về ai?

—–
Để giải đáp mọi mâu thuẫn, vô lý, bế tắc, nghịch lý, nói càng nói lấy được, câu trả lời là:Thực tế, cách tổ chức dàn dựng, ứng xử của cs đã xác nhận, nói lên rất rõ : đất nước này là của :
- riêng vài nhân vật chóp bu csvn, đang nắm quyền lực, và đám tay sai;
- đcs TQ;  (VN đã và đang là một tỉnh của TQ: chiến lược tằm ăn dâu )
- tư bản đỏ, trắng;
Toàn dân VN chỉ là những món hàng mua bán, đổi chác, là nô lệ cho đảng và cho ngoại bang.  Đó là sự thật trong mọi chế độ độc tài toàn trị cs.
Chúng ta đang mất nước !
Cs TQ đã và đang gậm nhấm đất nước và dân tộc VN về mọi mặt: đất đai, đảo, biển, di dân, chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử, quyền làm chủ đất nước, dân quyền, …. Đcsvn là 1 quan thái thú thừa sai, cai thầu.

March 7, 2008

Hội Liên Hiệp Thanh Niên Lạc Việt Vừa Mới Xuất Hiện Tại Việt Nam

Việt Nam

 

Chúng tôi vừa được biết Hội Liên Hiệp Thanh Niên Lạc Việt vừa mới xuất hiện tại Việt Nam. Đây là một hội quy tụ những người trẻ có quan tâm đến đất nước và đặc biệt nhất là trên báo điện tử của hội có việc kêu gọi tẩy chay thế vận hội Bắc Kinh 2008 vì Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Quý bạn đọc có thể tham khảo trang báo điện tử của hội Thanh Niên Lạc Việt tại:

 

www.thanhnienlacviet.org

(VNE)

February 26, 2008

Chuẩn bị kế hoạch vận động biểu tình khi Trung Quốc rước đuốc Olympic qua Sài Gòn

Chuẩn bị kế hoạch vận động biểu tình khi Trung Quốc rước đuốc Olympic qua Sài Gòn
phale
Thành viên chính thức của X- cafe
Theo lịch trình rước đuốc trong website này
http://torchrelay.beijing2008.cn/en/journey/map/ dưới đây thì TQ sẽ rước đuốc vào Sài Gòn của chúng ta, láo một cái là nếu xem kỹ thì lịch trình của TQ sẽ đi ngang qua quần đảo Hoàng Sa, vậy việc bọn chúng dám rước đuốc qua lãnh thổ nước ta mà chưa được sự đồng ý của chúng ta là xem thường dân VN một cách trắng trợn, nếu để bọn chúng thản nhiên rước đuốc qua Sài Gòn rồi rước đuốc qua Hoàng Sa thì chẳng phải chúng ta đã im lặng để cho TQ thôn tính Hoàng Sa à?  Do tính nghiêm trọng của vấn đề nên tôi đề nghị toàn thể anh em cà cuốc cùng nhau họp bàn thảo luận kế hoạch vận động biểu tình phản đối bọn TQ ngay khi bọn chúng rước đuốc vào Sài Gòn, nếu chúng ta thành công thì sẽ gây được tiếng vang lớn trên thế giới cũng như tát vào mặt những lãnh đạo chóp bu của TQ và gửi đến chúng một thông điệp rằng “Nhân dân Việt nam không nhu nhược như đảng cộng sản Việt Nam“. Ngoài ra chúng ta cũng sẽ thảo luận phương án tẩy chay Omlypic Bắc Kinh và gửi đơn yêu cầu các tuyển thủ, lực sĩ của VN tẩy chay không tham dự.ọi người vào cho ý kiến nhé!

troi-oi
Thành viên chính thức
Tớ xin đóng góp một số ý kiến:

1. Chủ đề chính của công tác này là phản đối TQ xâm lấn Trường Sa – Hoàng Sa và tuyên vận đồng bào cả nước (cũng như phản đối đuốc Olympic đi qua TS-HS nếu có), đó là ĐIỂM . Còn v/d tẩy chay Olympic 2008 là phụ, là công cụ, là DIỆN . Xin đừng lơ là đi xa mục tiêu chính .

2. Cần điều tra rõ ngày đuốc Olympic đến Sài gòn là 29/4 hay 30/4.

3. Kêu gọi Sinh Viên, Học Sinh toàn quốc bãi khoá (ít nhất là các thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng , Đà Nẳng, Cần Thơ, Huế). Nhấn mạnh lý do tại sao phải bãi khoá và nếu làm tập thể thì công an không thể đuổi học tất cả mọi người (dù có kỳ thi thường lệ hay đột xuất cũng cứ làm vì đây là v/d hệ trọng của tổ quốc)

4. Dĩ nhiên kêu gọi biểu tình trong ngày đó . Cần điều nghiên nơi chốn, thời gian, thời tiết (sẽ rất nóng nực). Hoặc kêu gọi SV-HS từ các tỉnh đổ về SG, HN để cùng biểu tình .

5. V/d màu sắc và biểu tượng tớ không dám bàn (cờ đỏ sao vàng hay bảng đen với 5 còng). Nhưng tớ nghĩ “bảng đen với 5 còng” thì tốt hơn vì nếu có chuyện gì không may sẽ được các tổ chức như hội Ân xá quốc tế, Phóng viên không Biên giới lưu tâm và cứu giúp.

6. Kêu gọi các vận động viên không tham gia rước đuốc ở Sài Gòn và Olympic 2008 ở Bắc kinh, nếu không thì tên tuổi của mình sẽ bị nhơ nhuốc. Nếu được họ lên tiếng từ chối tham gia lại càng tốt nữa.

7. Kêu gọi tẩy chay báo Thanh niên.

8. Viết thư cho hãng Coca-Cola yêu cầu rút lại sự tham gia bảo trợ vào việc rước đuốc, nếu không sẽ bị dân VN tẩy chay (trong cuộc biểu tình có thể làm bảng hình Coca-cola có gạch chéo, …)

9. Đồng bào hải ngoại cũng nên tổ chức phản đối và nêu vấn đề TS-HS ở những thành phố có đuốc đi qua (St. Petersburg, London, Paris, San Francisco, Canberra, Nagano, …). Tớ sẽ lo vận động mặt này trên các diễn đàn ở hải ngoại.

phale
Thành viên chính thức
Chúng ta nên liệt kiệt kê ra đây danh sách những diễn đàn lớn nhất (Có từ 5000 thành viên trở lên) và những blogger hot nhất (Có 100,000 ngàn lượt truy cập trở lên) Sau đó cùng soạn và biểu quyết một bài viết tuyên truyền cho mọi ngưới biết TQ sẽ đi rước đuốc qua Sài Gòn vào ngày nào và sau Sài Gòn TQ sẽ rước đuốc qua Hoàng Sa, rồi sau đó phân công nhau post lên các diễn đàn đó và gửi Email kêu gọi các blogger đó cùng tham gia post bài hỗ trợ.

Tạm thời bài viết này không kêu gọi biểu tình gì hết chỉ cần tuyên truyền cho mọi người biết thông tin này tự động những người yêu nước sẽ hiểu ngay vấn đề mà hô hào biểu tình tẩy chay này nọ, chủ yếu là chúng ta phải cho mọi người biết “Trong lịch trình rước đuốc Olympic của TQ có đi ngang qua Hoàng Sa” để mọi người thấy được cái mưu đồ chính trị trong việc rước đốc này mà tẩy chay. (Lạ cái sao chính phủ Việt Nam không thấy mà vẫn đồng ý để TQ rước đuốc vào Sài Gòn nhỉ?)  Phải làm được bước này thì chúng ta mới có những bước đi tếp theo được, với lại bài viết đầu tiên chúng ta chỉ trình bày khách quan hành trình rước đuốc chứ không chống đối, hô hào biểu tình gì thì phù hợp với nội qui chung của các diễn đàn mà các blogger cũng không ngại bị công an làm khó dễ khi post lên blog của mình. Mọi người thấy ý kiến của tôi thế nào?

Khachquan
Nếu xem kỹ cái bản đồ “thế giới” về lịch trình rước đuốc tôi suy nghĩ hoài tại sao khu vực biển đông có vạch ra một khu vực với những nét gạch đứt khoảng?. Có phải là ám chỉ vùng biển đó là của TQ ?

Cần vận động cho tất cả người Việt trên thế giới biểu tình trên hành trình rước đuốc.

Thanh_Niên_Cộng_Hòa
Thành viên chính thức

Nếu ngọn đuốc này mà đi vào Hoàng Sa rồi mới đến Saigon thì còn nỗi nhục nào hơn cho nước Nam ta ( Đảng CS mà để chuyện này xảy ra thì muôn đời sẽ mang tiếng xấu cam tâm luồn cúi ngoại bang bán rẻ danh dự dân tộc)

February 10, 2008

Tản mạn thêm về thế giới blog

http://blog.360.yahoo.com/blog-xHHl4WUidKhoJ3Ce.agDycCVSA–?cq=1

Sự phát triển của blog ở VN và tác động của nó đến đời sống tinh thần của cộng đồng blogger cũng như đời sống xã hội bên ngoài buộc người ta phải suy nghĩ về nó.

Câu hỏi đầu tiên: vì sao anh/chị mở blog? Câu trả lời có lẽ mỗi người mỗi ý, nhưng suy cho cùng vẫn có điểm chung: đó là nhu cầu muốn chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc của mình với người khác. Bởi vì không có (hoặc rất hiếm) ai mở blog mà hoàn toàn đóng cửa chỉ cho mỗi mình mình viết, mỗi mình mình đọc. Khác với nhật ký, mỗi blogger ý thức rất rõ rằng những điều mình viết chắc chắn sẽ có người khác đọc. Và như vậy cái bẫy đẩu tiên ở đây là người viết sẽ tự thành thật tới đâu.

Rộng hơn, đó là nhu cầu muốn tự giới thiệu về mình (với các văn nghệ sĩ còn là giới thiệu những tác phẩm của mình…). Tùy theo anh/chị trưng bày bộ mặt của mình trên blog như thế nào và đề cập đến những vấn đề gì, sẽ thu hút sự quan tâm của những người có cùng quan điểm và đang cùng có những mối bận tâm như vậy. Điều đó dân gian vẫn gọi là “ ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” ấy mà.

Cái hay của thế giới blog là người viết và người đọc có thể tương tác với nhau nhanh chóng và thẳng thắn qua những dòng comment hoặc gửi message. Sự phản hồi này giúp mỗi blogger nhận ra những điều mình quan tâm có trùng với những điều mà đa số trong cộng đồng blogger và cả xã hội quan tâm hay không, cũng như giúp cho mỗi blogger tự nhận thức và hoàn thiện những suy nghĩ, lập luận…của mình.

Trong một xã hội có quá nhiều điều phi lý, bất công cần phải lên tiếng mà hệ thống báo chí chính thống từ lâu nay đã bị hạn chế rất nhiều do bị kiểm duyệt, nhiều người có nhu cầu mở blog hoặc tìm đến blog để phát biểu hoặc chia sẻ với người khác những suy tư của mình trước thực trạng chính trị-xã hội của đất nước. Nhưng vì sự an toàn, hầu hết mọi người vẫn thường sử dụng nickname để phát biểu chính kiến trên thế giới blog. Mà thế giới blog thì bao la nên cũng khó để nhận ra ai là bạn thật, ai không phải là bạn. Rất nhiều trường hợp một blogger nào đó nhận được một comment phản bác lại quan điểm của mình, thậm chí chửi bới xúc phạm đến mình, nhưng khi mở blog của kẻ đó lên thì…no image, no profile data, no entry, no friend-nghĩa là trống trơn. Có vẻ như kẻ đó chỉ mở blog để làm cái việc nhảy xổ vào nhà người khác, thoải mái comment, mà thoải mái thật vì có ai biết mình là ai. Điều này phải nói là hơi thiếu lương thiện, và thế giới blog bây giờ không phải hiếm trường hợp như vậy.

Trong thế giới blog, thật ra cũng có rất nhiều cái bẫy mà nếu không thận trọng chúng ta rất dễ mắc vào. Với mỗi blogger mà việc mở blog không chỉ đơn thuần là kết bạn, “tám”chuyện tào lao cho đỡ buồn, thì việc viết về cái gì, viết về ai, đưa tin hoặc bình luận về một sự việc nào đó đều không còn là chuyện cá nhân muốn viết gì thì viết nữa rồi. Đã từng có chuyện kiện tụng xung quanh những gì được viết trên trang blog nhắc cho mỗi blogger nhớ sự cẩn trọng, có trách nhiệm với những gì mình viết là không thừa chút nào.

Cái bẫy thứ hai là mắc vào sự…muốn nổi tiếng. Như vì muốn cho blog của mình có nhiều người đọc, nghĩa là lượng page views cao, cũng chẳng khác nào ở ngoài đời, người ta phải tìm chiêu này chiêu kia để lôi kéo người đọc. Nếu việc đó không ảnh hưởng đến ai thì cũng không sao, ngược lại, thì cái trò này cũng lại hơi thiếu lương thiện.

Hoặc nhiều khi vì quá say sưa với thế giới blog, chúng ta cứ có cảm tưởng rằng những gì chúng ta đang viết đang bàn đến hoặc đang làm trong thế giới blog là có tác động ghê gớm lắm đến xã hội, nhưng thật ra nếu xét trên tổng dân số Việt Nam hiện nay cũng xấp xỉ cả trăm triệu (chứ không phải chỉ mới hơn 80 triệu) thì cũng chỉ mới có khoảng hơn 6 triệu blog thôi mà trong đó thì không phải ai cũng mở blog với ý thức chia sẻ những quan tâm về tình hình chính trị-xã hội của đất nước. Đến khi gặp những người không hề lướt mạng, không đọc báo mạng cũng không biết blog là gì, và do vậy, cũng chẳng biết hoặc có biết mà rất lơ mơ những điều chúng ta đang tranh cãi, xôn xao trong thế giới blog, chúng ta mới nhận ra là không phải như vậy.

Con đường để cho cả dân tộc VN tỉnh thức còn dài, dài lắm. Nhưng dù sao, nếu chỉ nhìn vào sự phát triển của blog hiện nay và xu hướng nhìn chung tích cực của nó, cũng là đáng mừng rồi. Sự chuyển dịch, thay đổi của một xã hội phải bắt đầu từ nhận thức của mỗi người trong cái xã hội đó, và đó là điều mà thế giới blog hiện nay đang làm.

Với mỗi cá nhân, blog giúp người ta có thêm nhiều người bạn-có khi cách nhau cả nửa vòng trái đất. Một nụ cười, một lời chia sẻ, một câu comment có cùng chung quan điểm…làm cho người ta cảm thấy ấm áp hơn nhiều giữa cuộc đời bề bộn này. Và ngược lại, blog cũng khiến người ta có thêm những “kẻ thù”, âu cũng là chuyện bình thường.

Cũng giống như khi chat qua mạng, có những blogger kết bạn với nhau qua blog và khi gặp nhau ngoài đời, nhiều tình huống khác nhau sẽ xảy ra. Có khi người ở ngoài đời hay hơn thú vị hơn trên blog, có khi trên blog sao ngoài y vậy và cũng có khi ở một người nào đó, giữa điều người đó nói và viết có một khoảng cách với điều người đó sống và làm. Mong sao trường hợp này không nhiều!

Dù sao đi nữa, tôi cho rằng ở VN hiện nay thế giới blog có nhiều điều tích cực-đó là một thế giới sinh động, phong phú, rất đời, rất nhạy bén với mọi chuyện đang diễn ra trong cuộc sống và đang dịch chuyển với một tốc độ khá nhanh. Điều quan trọng nhất, có lẽ đó là, blog giúp người ta quan tâm hơn đến chính mình, đến cộng đồng và xã hội.

Tags: vềchínhtrị-xãhội

Sunday February 10, 2008 – 12:46am (ICT) Permanent Link | 7 Comments

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.