Pham Quynh Anh & Marc Lavoine – J’espère (Tôi Hy Vọng)
Hello Vietnam
Bonjour Vietnam – Pham Quynh Anh
Pham Quynh Anh & Marc Lavoine – J’espère (Tôi Hy Vọng)
Hello Vietnam
Bonjour Vietnam – Pham Quynh Anh
Thanh Nga ” nang chieu 1 ” phim truoc 75′
Thanh Nga “nang chieu 2 “phim truoc 1975
Hung Cuong Mai Le Huyen”Hon anh Gian Em” nhac truoc 75
Hung cuong “nhung ngay nghi phep+dam cuoi nha binh”nhac 1975
Hung Cuong”thuy thu bien ca”(south Vietnam Navy 1974)
Hung Cuong “thienthan mu do” South Vietnam military 1973
Hung Cuong Mai le Huyen”Linh Du Len Diem”nhac truoc 75′
http://www.youtube.com/watch?v=2WC9fQZyWu4&feature=related
SaiGon truoc 1975 “hon ngoc vien dong”
Saigon truoc’ 1975 “Hon ngoc Vien Dong ” 2
Thanh Lan “tu do em buon ” South Vietnam Military 1972
Hung Cuong& Mai Le Huyen
Duy Khanh ” bong co may” nhac truoc 75
Truong Vu”Sai Gon thu 7 ” Saigon truoc 1975
Mai le Huyen”nho minh anh thoi ” South Vietnam Military 1970
Hon Vong Phu 1 & 2( ai Nam Quan ,thac Ban Gioc )
Duy Nam ” loi dau nam cho con ” nhac truoc 1975
Duy Khanh ” Dua em vao ha ” South Vietnam Military 1972
Cai Luong Ben Cau Det Lua – Phan 1
http://www.youtube.com/user/freedom4vietnam
Vietnam: 1964-1975
South Vietnam An Loc battle 1972
Vietnam War – Ngo Dinh Diem on Geneva Agreement of 1954
LA CHUTE DE SAIGON LE 30 AVRIL 1975
South Vietnam Military 1973 (1)
http://www.youtube.com/watch?v=QTg_C9bT5u4
Yeu Nhu Tinh Co
Paris và Em
Phố đêm
Để Lại Cho Em Một Mảnh Cờ Vàng, Thơ Hà Huyền Chi
RONG TIEN OI XIN GIU VEN SON HA
25/ Vu’t DDu+o+`ng Ma^y
http://www.youtube.com/watch?v=QTg_C9bT5u4
24/ Buo^`n Ngu.y Trang
http://www.youtube.com/watch?v=tDk0ipCC4Vw
23/ Em Phu+o+ng Na`o
http://www.youtube.com/watch?v=OFhbzikKiIU
22/ Phi’m Nga`
http://www.youtube.com/watch?v=kaaMgt35u5E
21/ U+o+’c Mo+ Ba?o Quo^’c
http://www.youtube.com/watch?v=bQw36EPO_nM
20/ DDe^? La.i Cho Em Mo^.t Ma?nh Co+` Va`ng:
http://www.youtube.com/watch?v=9oUZtXbLiHY
19/ Ye^u Nhu+ Ti`nh Co+`
http://www.youtube.com/watch?v=OEL1razQHfA
18/ Vu+o+`n Hu+o+ng Ngo~ Tru’c:
http://www.youtube.com/watch?v=nk6gUXkWIL0
17/ Vu+.c Vo^ Thu+o+`ng
http://www.youtube.com/watch?v=_0q45vtMSAE
16/ Tru+.c Ngo^.
http://www.youtube.com/watch?v=xMbRLWhA4NE
15/ Ti`nh Ye^u, Ti`nh Nu+o+’c
http://www.youtube.com/watch?v=y95P2kwmneI
14/ Ti`nh Thie^n Di:
http://www.youtube.com/watch?v=CJOmx6Yt-WM
13/ Ti`nh Sa^`u The^m Ru+.c Ro+~
http://www.youtube.com/watch?v=TEQRA1hZrYM
12/ Tha? Gio’ Bay DDi
http://www.youtube.com/watch?v=inLc7iQwJ0Q
11/ Ro^`ng Tie^n O+i Xin Giu+~ Ve.n So+n Ha`:
http://www.youtube.com/watch?v=Iql9juHxV0M
10/ Paris Va` Em
http://www.youtube.com/watch?v=MmbSwNnKKhg
9/ Nhu+ Mo^.t Ti`nh Co+`
http://video.google.com/videoplay?docid=-282498468026055593&hl=en
8/ Nghe Kho^ng Em Nga`n Lo+`i Ca Ma’u Tu+o+i
http://www.youtube.com/watch?v=LsfOLCVH9FU&feature=related
7/ Lu+?a Thu:
http://www.youtube.com/watch?v=59V7at_LEPY
6/ Le^. Xanh:
http://www.youtube.com/watch?v=ovXApZGsYGQ
5/ La.nh Nga(‘t Cung Ha`n
http://www.youtube.com/watch?v=c6YTkK1OV8o
4/ Ha.t Bu.i:
http://www.youtube.com/watch?v=F4BIF2YrrgI
3/ Giu+~ Ve,n Bie^n Cu+o+ng, La~nh Ha?i, So+n Ha`
http://www.youtube.com/watch?v=RQS48ugFH1o&feature=related
2/ Gio.t Le^. Thu+o+ng Vay:
http://www.youtube.com/watch?v=cMZ4pTomXoI
1/ Cuo^’i Thang DDo’i Nghe`o
http://www.youtube.com/watch?v=60b33KWV_0E
Phỏng vấn cô Dương Như Nguyện, tác giả cuốn tiểu thuyết Daughters of the River Huong – Con Gái Sông Hương.

Luật sư Uyên Nicole Dương (Dương Như Nguyện)
Tác giả cuốn tiểu thuyết
Con Gái Sông Hương
photo courtesy of University of Denver

Cộng đồng Việt Nam tại Mỹ không ai lại không biết và nghe nói đến nữ thẩm phán Việt Nam đầu tiên tại Hoa Kỳ: cô Dương Như Nguyện. Là một người sống về ngành luật, nhưng lại mang nghiệp văn chương, cô Dương Như Nguyện vừa cho xuất bản cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh: Daughters of the River Huong, và bản dịch tiếng Việt Con Gái Sông Hương. Khi nhà xuất bản Ravensyard Publishing đoc bản thảo cuốn Con Gái Sông Hương đã quyết định đầu tư vào cuốn sách này với lời bình phẩm rằng cuốn tiểu thuyết này có thể sách ngang với tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió.
Luật và văn chương có thể đi đôi với nhau được không? Thân phụ và thân mẫu của cô Dương Như Nguyện có ảnh hưởng gì đến tài nghệ văn chương của cô? Phải chăng người phụ nữ mới chính là những người gánh vác cả giang sơn khi người đàn ông phải ra mặt trận, hoặc bị đi tù cải tạo? Người đọc đã nói gì về văn tài của cô Dương Như Nguyện? Đó là những đề tài được thảo luận trong buổi nói chuyện mà tác giả Con Gái Sông Hương dành cho quý bạn đọc. Xin quý ban đoc theo dõi
Dương Như Nguyện sinh ở Hội An, lớn lên ở Huế và Sài Gòn, rỿi Việt Nam năm 1975. Cha bà là giáo sư ngôn ngữ học, mẹ dạy văn chương ở trường nữ trung học Ŀồng Khánh, Huế. Tuy Những người con gái của sông Hương là quyển tiểu thuyết đầu tiên của Dương Như Nguyện được xuất bản ở Hoa Kỳ (tháng 8, 2005), đây không phải là tác phẩm đầu tay của bà. Tháng Ba năm 1975, một tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, vào năm 16 tuổi, bà đã đoạt giải danh dự Văn chương Phụ nữ Toàn quốc, nhân dịp lễ Hai Bà Trưng. Bà cũng đoạt hai giải văn chương khác ở Hoa Kỳ: truyện “Người con gái tập hát” (“The Young Woman who Practiced Singing”, tiền thân của tiểu thuyết Những người con gái của sông Hương) đoạt giải Stewart Miller của Luật sư Đoàn Hoa Thịnh Ŀốn, đồng thời đoạt giải truyện ngắn hay nhất do Luật sư Đoàn Houston trao cùng năm 1998; Truyện ngắn “Hồn ma tỉnh Hà Tây” (“The Ghost of Ha Tay”) được đề cử nhận giải Columbine ở Liên hoan Phim Moondance năm 2001. Hai tập truyện Chín chữ của nàng và Mùi hương quế được Văn Nghệ và Văn Mới xuất bản ở Mỹ.
Định cư tại Hoa Kỳ sau năm 1975, bà ra trường đại học với văn bằng cử nhân báo chí truyền thông. Sau đó theo đuổi ngành luật, và đỗ văn bằng tiến sĩ Luật tại đại học Houston và thạc sĩ Luật tại đại học Harvard Law School.
Bà cũng là thẩm phán Việt Nam đầu tiên ở Hoa Kỳ (Houston), được Hội đồng Luật gia Mỹ ABA/American Bar Association vinh danh. Sau 18 năm hành nghề luật sư ở Nữu Ước, Hoa Thịnh Ŀốn, Texas, Âu và Á châu trong địa hạt luật quốc tế, hiện bà làm giáo sư luật ở Đại học Denver.
|
Tốc độ DSL/CABLE |
Tốc độ 56K Modem |
Tải Xuống Máy Để Nghe |
| Xin bấm vào đây để nghe toàn bộ buổi nói chuyện. | Xin bấm vào đây để nghe toàn bộ buổi nói chuyện. | Xin bấm vào đây để tải xuống máy rồi nghe. |
(VNE)
http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=3079
Tất nhiên, không ai tin việc tập thơ Trần Dần bị “niêm phong” chỉ vì vài cái lỗi về thủ tục. Nhưng thôi, đó cũng là một lối ra rất đỡ mất mặt. Dù sao, Thơ Trần Dần cũng đã bán rất chạy, ngay đến cậu con trai tôi, 15 tuổi, cũng tò mò.
Thơ ông đa nghĩa quá. Chỉ riêng một bài Nhất Định Thắng, tôi nghĩ, đã có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm, vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn. Không hiểu sao, cho tới nay, chưa thấy ai làm một bộ phim truyện dựa trên bài thơ ấy. Ta ở phố Sinh Từ… Một giai đoạn lịch sử buồn đau của đất nước hiện ra mồn một trong mỗi câu thơ của ông.
Khi Trần Dần viết bài thơ ấy, đất nước đang bị phân đôi, ở miền Bắc chiến tranh kết thúc. Nhưng, cuộc sống của người dân thì không có hòa bình. Trần Dần viết: Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm? Không hiểu, hình tượng “vết chém ngang lưng” ông viết ở đây là để nói về nỗi đau chia cắt tổ quốc hay chỉ đơn giản nói về cái không khí ngột ngạt ở miền Bắc, cái không khí mà đến 30 năm sau, Hữu Loan vẫn nhớ: “Thành viên nào (trong cộng đồng) cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh”.
Theo Hiệp định Geneve, người dân có một thời gian dài để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Trong khi, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà trên đất Bắc. Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ – Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng?
Trong những ngày xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ấy, tình hình Thế giới được “quán triệt” thành hai “phe” Xô- Mỹ. Nhưng cái “phe” mà ông quan tâm cũng “căng thẳng” vô cùng: Gặp em trong mưa/Em đi tìm việc/Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/- Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ… Ông nghĩ: Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt./Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt./Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù/Chúng còn đương bày kế hại đời ta? Nhưng “cơm áo” không phải là những gì ngột ngạt nhất mà những người như ông đã từng nếm trải.
Theo tác giả của Màu Tím Hoa Sim, nhà thơ Hữu Loan: Trên thực tế, khi ấy, rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Các văn nghệ sỹ lúc ấy phải học tập những tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đưa về, rồi tự Diên An (Trung Quốc) đưa sang. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có, chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Theo ông Hữu Loan: Khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?” Ông Trường Chinh sửng sốt: “Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.” Tố Hữu là một trong những nhà lãnh đạo hăng hái đưa “hiện thực XHCN” vào văn nghệ. Trong khi Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… phản đối đường lối này. Những người phản đối sau đó, lần lượt dính vào một vụ án gọi là “Nhân Văn Gia Phẩm”.
Phong trào Giai phẩm và Nhân Văn bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Trần Dần là người phê nặng lời nhất. Tuy nhiều người tán thành với nhận xét này nhưng tập thơ vẫn giành được giải nhất đầu năm 1956. Về sau, nhóm Nhân Văn còn viết nhiều bài được coi như là những “Thất Trảm Sớ”, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước Pháp quyền. Ngày nay, nếu đọc lại những bài viết của nhóm Nhân Văn, phải công nhận là nước ta đã từng có những nhà trí thức khả kính. Đất nước ra nông nỗi hiện nay là bởi lịch sử đã không chọn họ. Trần Hữu Đang bị tù 17 năm (sau 7 năm thì được tha); Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”: 7 năm tù giam; Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha; Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm… Khi Hoàng Cầm cho in Nhất Định Thắng, Trần Dần bị mất chức và sau đó bị bắt giam. Nếu Trần Dần không dùng lưỡi lam rạch cổ, có lẽ thời gian “ở trong lao” của ông không chỉ là 3 tháng. Trong tình cảnh ấy, mấy câu thơ: Những ngày ấy bao nhiêu thương xót/Tôi bước đi/không thấy phố/không thấy nhà/Chỉ thấy mưa sa/ trên màu cờ đỏ… không hẳn là không mang ít nhiều ẩn dụ chính trị.
Cho dù phải sau khi Tố Hữu chết, các ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt… mới được “chiêu tuyết”, vụ “Nhân Văn” không đơn giản chỉ là những vấn đề giữa các cá nhân với nhau. Một nhà nghiên cứu viết, ở thời điểm ấy, thay đổi là một quy luật. Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng; hay xa lánh như Nguyên Hồng. Người không biết, thì đành phải sa hầm sẩy hố… Kể ra thì, các bác ấy sống quá tử tế, làm thơ quá thơ, tính đa nghĩa trong thơ của các bác ấy thật dễ để mà suy diễn. Nếu, 50 năm trước, các bác ấy cứ theo Tố Hữu, viết huỵch toẹt: Má thét lớn tụi bay đồ chó/Cướp nước tao, cắt cổ dân tao…; hay thật xạo: Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin… rồi trơ trẽn khi nghe tin Stalin chết: Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười, thì cuộc đời các bác ấy chắc chắn đã không phải thế.
Viết như thế không chỉ giúp Tố Hữu leo dần tới BCT, đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu này lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế cho đất nước. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của ông ở góc độ “giá lương tiền”. Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tổ Hữu. Bài thi nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã tưởng đấy là thơ. Dân trí đã từng bị đặt trong cái “thênh thang 8 thước” đó. Nay thì Tố Hữu đã chết. Mới đây, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính bằng đô la cũng hơn 7 triệu.
Trong khi những người như Tố Hữu được ban những bổng lộc như vậy, những người như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đọa đày. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan, kể: “Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học.” Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì lý lịch của một kẻ “Nhân Văn”. Một người con thi đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ: “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”. Ông giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày”.
Đôi khi nghĩ, những người như Hữu Loan, Trần Dần dại thật. Nhưng, Những ngày ấy bao nhiêu thương xót, làm sao có thể bắt những người như các ông có thể quay lưng lại với nhân dân!
Wednesday March 12, 2008 – 06:05pm (ICT) Permanent Link | 49 Comments

“Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố
văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngõ, tôi hỏi:”Này các cháu có biết nhà ông Xã trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?”Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn:”Biết, nhưng đéo chỉ!”
Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ văn hóa, gặp một thanh niên hỏi:”Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh ?”.
Gã trẻ tuổi này chẳng thèm dòm ngó gì đến tôi, trả lời cộc lốc:”Ðéo biết!”
Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở:” Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây đã không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với người khách lạ, thô bỉ đến thế hả anh?!”
Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:”Có dạy đấy chứ, nhưng
chúng nó đéo nghe!”
Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trả
lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện như sau:
“Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v..v..
Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ:”dũng cảm là gì?”.
Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:
- Nghĩa là .. là .. đéo sợ !”
Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, liền đem chuyện thằng bé học trò đã
cắt nghĩa 2 chữ “dũng cảm” là: “đéo sợ!” cho ông nghe.
Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm.
Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lý, chậm rãi đáp:
- Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng đéo sai ! ..
- !!!
” Ðấy, bây giờ luân lý, đạo đức của con người dưới chế độ
này như thế đấy. Rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi!
Làm sao tránh được?”
.. Đất nước kiểu này thì đéo khá …
http://www.take2tango.com/?display=196
( trích nguồn Take2tango )
_______________________________________________
Nguyễn Ðạt Thịnh
Việc 3 đô vật Việt Nam bỏ đội vật đi tìm tự do được báo Công An Nhân Dân (CAND) Việt Cộng loan tin như sau, “ngày thứ Hai 24 tháng Ba, ngay trước giờ lên máy bay về nước sau khi kết thúc Giải Vô địch châu á tại Hàn Quốc, đoàn VĐV (vận động viên) vật Việt Nam phát hiện 3 VĐV “biến mất” không rõ nguyên nhân. Đó là Nguyễn Bá Phong, Nguyễn Đình Nam và Nguyễn Doãn Dũng.
“Theo Trưởng đoàn Lê Ngọc Minh kể lại, các VĐV này đã xin phép ban huấn luyện đi vệ sinh ở sân bay và “mất tích” luôn, không mang theo hộ chiếu hay vé máy bay. Vụ việc sau đó đã được báo cáo lên lãnh đạo Vụ thể thao thành tích cao (TTTTC) I. Và hôm qua, Vụ này đã có buổi làm việc với đội vật.”
Toàn bộ 2 câu văn trong ngoặc kép, trừ 3 chữ “vận động viên” đều là văn chương Công An Nhân Dân Việt Cộng; tôi chỉ thêm 3 chữ đó vào để tránh cho bạn đọc khỏi cực lòng ước đoán, hầu để ý đến 3 chi tiết ngộ nghĩnh đầu tiên của “vụ việc” mất tích được công an tường thuật.

Ðô vật Việt Nam
Chi tiết thứ nhất là để có thể mất tích, 3 VÐV này phải xin phép đi vệ sinh, điều chưa ai phải xin phép, trừ những trẻ nhỏ trong lớp học và những tù nhân được cai tù dắt đi làm “cỏ vê” ngoài khuôn viên nhà lao. Chi tiết này cho thấy các lực sĩ Việt Nam bị kềm kẹp chặt chẽ để ngăn ngừa “mất tích”.
Chi tiết thứ nhì là tờ CAND viết “3 VÐV ‘biến mất’ không rõ nguyên nhân.” Trưởng đoàn Lê Ngọc Minh, hay biên tập viên tờ CAND “không rõ nguyên nhân” của việc “biến mất”?
Nhưng độc giả CAND lại rõ; họ biết là 3 VÐV không biến mất, họ chỉ chọn tự do, không muốn trở về sống dưới chế độ hà khắc của Việt Cộng.
Chi tiết thứ ba là 3 VÐV “mất tích luôn, không mang theo hộ chiếu hay vé máy bay”. Tờ CAND có tự hỏi họ đem theo 2 thứ đó để đi đâu không? Việt Nam ư? Họ đã phải đi vệ sinh để không trở về Việt Nam cơ mà.
Xin đọc tiếp chuyện vui của CAND; bài báo viết tiếp, “Người phụ trách đội vật trong chuyến du đấu tại Hàn Quốc thì nói, do 3 VĐV này có trình độ văn hóa thấp nên không ý thức được việc mình làm. Nhưng nhiều người lại cho rằng, nguyên nhân thực sự khiến họ “mất tích” ở xứ người chỉ là hai chữ: Mưu sinh!
“Vụ TTTTC I đã đề xuất hình thức kỉ luật rất nặng đối với 3 VĐV này, đó là: khai trừ khỏi đội, cấm thi đấu vĩnh viễn. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng liệu đây có phải là biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng này tái diễn ?”
Hai câu này có đến 3 ngu xuẩn: ngu xuẩn thứ nhất là ông Minh, người phụ trách đội vật, nói “3 VÐV này có trình độ văn hoá thấp nên không ý thức được việc mình làm”; có thật vì “văn hóa thấp” mà những đô vật này bỏ nước đi tìm tự do không? Ngu xuẩn thứ nhì là cho rằng những người tìm tự do chỉ đi tìm kế mưu sinh. Nói như vậy là xác nhận Việt Cộng chưa xoá được đói chưa giảm được nghèo như chúng vẫn xoen xoét nói từ mấy năm nay.
Ngu xuẩn thứ ba là hai hình thức “kỉ luật rất nặng” là khai trừ 3 VÐV ra khỏi đội vật, và cấm không cho họ thi đấu vĩnh viễn, trong lúc họ đã tự ý ra khỏi đội, ra khỏi kềm kẹp của Việt Cộng rồi.
Ðúng là chuyện ruồi bu.
CAND viết thêm, “Nhìn lại quá khứ thì thấy việc “đào ngũ” khi đi nước ngoài đã trở thành một “hiện tượng” của các VĐV vật. Vụ “đào ngũ” đầu tiên của các VĐV vật xảy ra từ giữa thập kỷ trước, khi hai đô vật trong chuyến tập huấn ở Nga đã ở lại đây làm ăn, định cư. 6 năm sau sự việc “đào ngũ” đau lòng này lại tái diễn khiến nhiều người tự hỏi: “Lý do gì khiến những người khoác trên mình màu cờ sắc áo quốc gia (!) sẵn sàng bán rẻ danh dự và cả tương lai (?) của chính bản thân?”.
“Theo những người quản lý và BHL đội vật thì là do họ “nhẹ dạ, cả tin và bị người xấu rủ rê”. Nhưng nhiều ý kiến cho rằng đó chỉ là phần ngọn của vấn đề. Phần gốc của hiện tượng này là đời sống và tiền lương của các đô vật “quá hẻo”, làm sao có thể đủ sống và đủ nuôi đam mê thể thao ?”
Nguyên nhân khiến CAND đi quanh việc 3 đô vật đi tìm tự do, cũng chỉ vì tờ báo né tránh không dám nói lên mục đích của việc bỏ đội, bỏ nghề, bỏ nước trốn đi của 3 người đô vật.
Né tránh, rồi CAND nêu lên câu hỏi của những “chức năng” Việt Cộng, câu hỏi “Cần làm gì?” để tránh lực sĩ “mất tích” khi đi vệ sinh?”
“Cả BHL (ban huấn luyện?) và Vụ TTTTC đều cho rằng họ bị động trước việc 3 đô vật VN bỏ trốn mới đây, vì các VĐV này đã có “âm mưu” từ trước.
“Tuy nhiên, chính ông Ngô Văn Sức – HLV phó đội vật lại cho rằng: Đa số VĐV vật đều trưởng thành từ phong trào, mỗi khi có giải hoặc có đợt tập huấn thì họ mới được “cấp trên” gọi tập trung. Trong khi đời sống của các VĐV vật đa phần đều rất khó khăn, trong khi chế độ và lương bổng của họ thì chẳng đáng là bao.
“Nhìn nhận sâu xa việc bỏ trốn của hàng loạt VĐV vật từ 12 năm về trước đến nay, chỉ có thể khẳng định một điều rằng đời sống của VĐV đỉnh cao vẫn còn quá khó khăn, mức lương thì “quá hẻo”. Đây là vấn đề cần được những nhà làm công tác thể thao quan tâm, nếu muốn giải quyết tình trạng các VĐV sẵn sàng bán rẻ danh dự và lòng tự trọng quốc gia vì… tiền.”
Xin lược bỏ một đoạn dài để trích đoạn chót của bài báo, “Việc quản lý VĐV lỏng lẻo hoặc thiếu sâu sát chỉ là 1 phần nhỏ. Bởi một khi đã có tính toán và được sự hỗ trợ bên ngoài, thì các HLV hay trưởng đoàn khó có thể “đỡ” nổi.
“Thực ra đây chỉ là một trong những vụ việc bê bối mới nhất trong việc quản lý VĐV mà thôi. Cách đây không lâu, ngày 18/3, tuyển thủ canoeing Chu Đình Xuân đã bị chém trọng thương, dù đã may mắn thoát chết, nhưng Xuân không thể dự vòng loại Olympic vào tháng 4 tới – đảo lộn kế hoạch của ĐT canoeing nam, vì anh nằm trong danh sách VĐV làm nhiệm vụ Olympic của TTVN (được hưởng chế độ Olympic, dự tranh hai nội dung K2 và K4 nam).
Có thể nói, đây là 2 vụ việc liên tiếp diễn ra, đòi hỏi ngành thể thao cần yêu cầu các BHL rút kinh nghiệm, “bịt” ngay những lỗ hổng trong tổ chức, quản lý, chăm sóc các đội tuyển. Nhất là các đoàn VĐV đi thi đấu và tập luyện ở nước ngoài. (CAND).
Xin mách bộ Công An Việt Cộng hai phương pháp “bịt lỗ hổng”: một là xích chung các VÐV dính vào nhau, một đô vật đi vệ sinh là cả đội vật phải vào cầu tiêu, hai là đóng cửa tờ CAND lại để báo chí tư nhân tự do xuất bản, vận động tự do dân chủ cho đất nước.
Hễ có tự do trong nước rồi, còn ai đi tìm tự do làm gì.
Nguyễn Ðạt Thịnh
NamPhan
30/3/08
Dối trá: nguyên nhân của trì trệ và lạc hậu NamPhan Khoa học di truyền ngày nay đã khám phá giữa con người và loài dã nhân có nhiều thành phần cấu tạo DNA giống nhau nhất, loại khỉ “chimpanzee” chỉ kém thua con người chúng ta khoảng 3% mà thôi. Và cũng đã có khá nhiều nhà nhân chủng học tin tưởng: loài người tiến hóa từ loài vượn lên. Điều này đúng hay sai, có lẽ những người thiếu kiến thức chuyên môn như chúng ta còn phân vân. Bỡi lẽ sự tin tưởng này thật sự chỉ là giả thuyết mà thôi. Khoa học DNA cho đến nay vẫn chưa khám phá điều gì có mối liên hệ tiến hóa giữa người với loài vượn. Spencer Wells là một trong những nhà khoa học di truyền học hàng đầu của thế giới; trong tác phẩm “The Journey of Man” xuất bản năm 2002, ông đã đúc kết nhiều công trình nghiên cứu DNA mới nhất của các nhà khoa học hiện đại và đã khẳng định với một đại ý như sau: Chúng ta không thể nói điều gì đã xảy ra trong mối liên hệ huyết tộc giữa người và vượn khỉ tại điểm khởi thủy gia phả của lý lịch nhân loại hiện đại. Bỡi lẽ nghiên cứu DNA, khi đạt đến điểm gốc lý lịch này, đã không còn tìm thấy yếu tố “biến đổi di truyền về người” nữa, để thấy có mối liên hệ huyết tộc đã xảy ra giữa người với vượn khỉ. Ngoài ra, cũng theo Spencer Wells, nghiên cứu DNA còn cho thấy: KHÔNG HỀ có mối liên hệ huyết tộc trực tiếp giữa loài người hiện đại chúng ta với những giống người tiền cổ khác, mà khoa học gọi là Homo erectus. Điều này có nghĩa là: Những giống người tiền cổ Bắc Kinh, hay những giống người tiền cổ Neanderthal ở Châu Âu, đều không thể là tổ tiên trực tiếp của nhân loại hiện đại chúng ta, như đã có một số nhà nhân chủng học tin tưởng vào thuyết tiến hóa tại địa phương của họ. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta biết được một cách chắc chắn: Đó là các loại vượn khỉ KHÔNG có ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng trừu tượng như loài người chúng ta. Chúng chỉ có những tiếng kêu gọi nhất định của bản năng, hay của kinh nghiệm bản năng, để diễn đạt những sự việc cụ thể mang ý nghĩa thiết thực của cuộc sống bảo tồn nòi giống, theo phạm trù dã thú của chúng mà thôi. Thành thử, phải chăng đây chính là nguyên nhân đã khiến cho các loài vượn khỉ không thể thoát ra khỏi tình trạng vượn khỉ của chúng, để có thể tiếp nối tiến hóa thành một thứ loài người nào đó, khác hơn loài người chúng ta? Vì, cũng theo thuyết tiến hóa, chúng cũng là hậu duệ của cùng tổ tiên vượn khỉ mà thủy tổ loài người đã tách ra? Nói khác đi, loài vượn khỉ đã KHÔNG TIẾN BỘ vì ngôn ngữ của chúng bị giới hạn. Chúng đã KHÔNG thể nói được những kinh nghiệm hiểu biết mang ý nghĩa trừu tượng, để có thể truyền đạt, quảng bá và nhân lên những hệ quả của kinh nghiệm hiểu biết ấy cho các thế hệ kế tiếp, đồng thời để thúc đẩy tiến hóa hơn về mặt tư duy trí tuệ và trí thức. Cũng một cách tương tự, nếu con người tuy đã có đầy đủ ngôn ngữ để bày tỏ những suy nghĩ bức xúc của mình, nhưng lại bị cấm đoán hoặc bị hạn chế thì có cũng như không—vì chẳng khác gì loài vượn khỉ. Trong khi đó, những người có quyền nói thì lại nói những điều DỐI TRÁ, những điều KHÔNG THẬT. Và hệ quả là dân chúng sống trong ảo tưởng của những câu chuyện dối trá. Chuyện tốt lại tưởng xấu, chuyện xấu lại tưởng tốt. Và cứ thế đưa đến những sai lầm trong thói quen suy nghĩ, trong thói quen hành động… Lâu dần, những hiểu biết ấy trở thành hoang tưởng trong tâm tư tình cảm của dân chúng. Trước đây, ông Hồ Chí Minh đã từng hô hào đánh đuổi ngoại xâm để giành độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc. Nhưng đến nay, kể cả những người đã hiểu muộn màng, đều có thể nhận ra: tất cả chỉ là ảo tưởng và lừa dối. Bỡi lẽ trong triết lý CNCS không hề có chỗ đứng cho chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Ông Hồ Chí Minh đã là một ủy viên Đệ Tam Quốc Tế Cọng Sản, nên ông KHÔNG thể là người ái quốc được—cho dù trong huyết tộc của ông thật sự có lòng ái quốc. Thành thử, dối trá và mị dân là điều tất yếu khi ông đem cái Chủ Nghĩa Cộng Sản ngoại lai về nước áp dụng. Cụ thể là trong thời kỳ chưa chiếm trọn đất nước, ông đã phải “mai phục” tên Đảng Lao Động thay vì Đảng Cọng Sản, và “mai phục” tên nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa thay vì nước CHXHCNVN. Thậm chí cả cái tên, tuổi, và lý lịch của ông cũng KHÔNG THẬT. Ngày nay, sau những thất bại áp dụng CNCS trên toàn cõi đất nước, các nhà cầm quyền kế thừa đã phải thay đổi sách lược kinh tế và bộ mặt chính trị, để cho phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu của nhân loại. Bỡi vì CNCS đã xuất phát từ những định nghĩa SAI LẦM về bản chất thực sự của con người, cũng như về tiến bộ của xã hội và lịch sử nhân loại, nên nó đã phải cáo chung. Những từ ngữ biến thái như “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”, v.v… chỉ là những từ ngữ quanh co, dối trá mà thôi. Mà đã quanh co, dối trá thì những điều thay đổi mang tính “mai phục” như thế, cũng KHÔNG sao đáp ứng được thực chất của tình trạng đất nước lạc hậu do chính cái bản chất DỐI TRÁ của CNCS tạo ra. Tuy đã có cải thiện trong thời gian gần đây, nhưng những sự cải thiện đó KHÔNG phải từ bản chất “đúng đắn” XHCN hay từ “đỉnh cao trí tuệ” XHCN, mà là từ công sức và sáng tạo riêng tư của dân chúng đã biết trở lại làm ăn dựa trên cơ sở vật chất lẫn tinh thần TƯ HỮU của mình—mặc dù còn bị hạn chế. Proudhon (1809–1865), một nhà xã hội học Pháp, đã từng định nghĩa: “Tư hữu là ăn cắp”, và CNCS cũng đã thoát thai từ những quan niệm tương tự. Tuy nhiên, khi đã đi vào thực tế, chúng ta lại phát hiện: chính CNCS đã tạo ra một cơ cấu độc quyền, khiến những kẻ có quyền hành dễ dàng lợi dụng quyền hành để tham nhũng… Cho nên vấn đề “chính danh” cũng là điều rất thiết yếu trong công cuộc phát triển đất nước và bảo vệ đất nước. Thật vậy, chúng ta không thể bảo vệ đất nước với một tên gọi nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” được. Bỡi lẽ không những bản chất CNXH không thể phù hợp với thực tế xã hội và kinh tế của Việt Nam nữa, mà chính ngay cái tên gọi nước “CHXHCNVN” nghe ra cũng không chính danh chút nào. Nó sai cách diễn đạt tư tưởng của người Việt Nam. Tiếng Việt chúng ta nói con trâu trắng, chứ không nói trắng con trâu. Tức, nói danh từ chủ định VIỆT NAM trước, kế đó mới nói những từ ngữ bổ túc về thể chế chính trị CHXHCN—vì đây chỉ là một thể chế chính trị không hơn không kém. Lãnh đạo một đất nước cũng giống như kẻ làm cha mẹ trong một gia đình. Họ KHÔNG thể dối trá với con cái mãi mãi, đồng thời cũng KHÔNG thể cấm đoán hay hạn chế con cái nói ra những điều chúng khám phá và hiểu từ những ngoại cảnh tiếp xúc bên ngoài, để học hỏi TIÊN BỘ. Vì nếu như thế, gia đình đó sẽ BẤT HẠNH vô cùng! Và cũng theo thiển ý chúng tôi, đó cũng chính là nguyên nhân cội nguồn trì trệ và lạc hậu của đất nước ta hiện nay.
Nam Phan
Kính gửi:
- Hội đồng nhân quyền cuả Liên Hợp Quốc
- Uỷ ban Unesco của Liên Hợp Quốc
- Uỷ ban bảo vệ di tích Lịch sử và Văn hoá Thế giới
- Các cơ quan bảo vệ Nhân quyền của Cộng đồng Âu châu và của các chính phủ, quốc hội Hoa Kỳ, Liên Minh Châu Âu, Úc Châu ….
- Tổ chức theo dõi và bảo vệ nhân quyền Quốc tế (HRW)
- Dư luận đồng bào trong nước, hải ngoại và lương tri tiến bộ trên toàn thế giới
Đồng kính gửi :
- Toàn bộ hệ thống báo chí, truyền hình, đài phát thanh trong nước, hải ngoại và quốc tế
- Ông tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh
- Ông chủ tịch nước CHXHCN VN Nguyễn Minh Triết
- Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN VN Nguyễn Tấn Dũng
- Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN VN Nguyễn Phú Trọng
- Bộ trưởng văn hoá, du lịch và thông tin
- Ban tôn giáo chính phủ nước CHXHCN VN
- Uỷ ban Bảo vệ di tích lịch sử văn hoá Việt Nam
- Cùng toàn thể bạn bè quan tâm

—
Thưa tất cả quý vị cùng tất cả các quý cơ quan và các ban ngành !
Chúng tôi là những công dân trong nước có địa chỉ cụ thể dưới đây của bức thư ngỏ này xin trân trọng gửi đến quý ông, quý bà nội dung bức thư tâm huyết này để đánh động tới toàn thể quý vị và công luận một sự kiện đặc biệt nghiêm trọng mà dư luân khắp nơi đang rất quan tâm theo dõi sát sao đêm ngày. Đó là việc nhà cầm quyền CSVN đã cưỡng chiếm trái phép, chà đạp thô bạo lên đạo lý và bất chấp tất cả để tước đoạt trắng trợn những sở hưũ hợp pháp của các tôn giáo trong nước. Cụ thể là đảng và nhà nước độc tài CSVN đã dùng bạo quyền để cướp 2 cơ sở tôn giáo uy nghiêm vốn có từ trước khi hình thành chế độ CSVN bạo tàn trên cả nước, cụ thể là Việt Nam Quốc Tự của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất ( GHPGVNTN) trong TP- Sài Gòn từ sau ngày kết thúc cuộc chiến ở miền Nam VN và Toà Khâm Sứ cũ của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại thủ đô Hà Nội từ sau ngày hoà bình được tạm thời tái lập ở miền Bắc sau năm 1954.
Như quý vị đã biết người xưa có câu “Xây thì lâu, phá thì mau”
Sự ra đời của nhà nước CSVN trên miền Bắc tức nước Việt nam Dân chủ cộng hoà, đồng thời cũng là sự ra đi của hầu hết những di tích lịch sử văn hoá, những danh lam thắng cảnh của miền Bắc từ nhà thờ đến Đền, Chùa, Miếu mạo cổ kính đều bị điêu tàn, huỷ diệt hay lãng quên đến đau xót do chính sách vô thần và triệt phá của đảng và nhà nước CSVN + chế độ XHCN này gây nên…
Hình chụp kỷ niệm các công dân là những nhà tranh đấu dân chủ, nhân quyền trẻ tuổi Lê Thanh Tùng và Lư Thị Thu Duyên trong dịp giáp Tết Mậu – Tý khi cô Thu Duyên ra thủ đô Hà Nội thăm hỏi sức khoẻ Cụ Hoàng Minh Chính và một số nhà dân chủ đối kháng khác hồi cuối tháng 2 đầu tháng 3/2008.
(Ảnh do nhà báo Nguyễn Khắc Toàn chụp tặng tại địa điểm bí mật bên huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội )
Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, ở miền Bắc XHCN dưới ách cai trị độc đoán của ĐCSVN với khẩu hiệu : ” phá Đền Chùa, đập Nhà Thờ, đào cây cổ thụ, nói xấu tổ tông”…. không biết bao nhiêu mà kể. Đó chính là nguyên nhân sâu xa nhất, cơ bản nhất dẫn đến sự tàn phá thoái hoá, về nền đạo đức của xã hội và con người Việt Nam. Tất cả đời sống tinh thần tín ngưỡng, đức tin vào tôn giáo của người dân trong xã hội bị phá hoại, đàn áp, khủng bố, chà đạp tàn khốc nên xuống cấp đặc biệt nghiêm trọng mà thủ phạm chính là Đảng cộng sản Việt Nam gây ra!
May mà, tại miền Nam Việt Nam nhờ có chính sách theo đuổi thể chế tự do dân chủ, tôn trọng nhân quyền, vì thế xã hội trong đó còn kéo dài trong yên bình, thịnh vượng được thêm được hơn 20 năm dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Bởi vậy còn giữ được khá nhiều di sản văn hoá tâm linh quý giá lâu đời mà cha ông chúng ta đã phải đổ biết bao công sức và xương máu để bảo tồn và phát triển nó.
Thế mà nay Đảng cộng sản và Chính phủ Việt Nam độc tài, chuyên chế muốn ép Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không những phải ra nhập giáo hội phật giáo quốc doanh do đảng cộng sản Việt Nam dựng nên và nuôi dưỡng ! Họ còn thẳng tay cướp đoạt cơ sở tôn giáo trang nghiêm của Giáo Hội này để lấy đất, lấy chùa là Việt Nam Quốc Tự để liên doanh, liên kết làm ăn với tư bản ngoại quốc. Họ rắp tâm và quyết tâm rất cao bất chấp sự phản đối của dư luận trong và ngoài nước. Họ cúi đầu lén lút bán đất cho tư bản Mã Lai để xây dựng trung tâm thương mại và tài chính trên mảnh đất hợp pháp của Giáo Hội này với mục đích kinh doanh kiếm lãi, kiếm ngoại tệ hòng kéo dài sự thống trị mãi mãi trên đất nước này theo xu hướng độc tài quân phiệt, đảng trị CS vô thần thánh Mác Lê Nin !
Đối với khoảng đất và Toà Khâm Sứ cũ tại Hà Nội, thì đảng và chính phủ cộng sản Việt Nam đã dùng bạo quyền để cưỡng chiếm trái pháp luật và trái cả đạo lý từ sau khi họ thôn tính được miền Bắc và áp đặt toàn dân theo con đường công sản trại lính trá hình được gọi là chế độ XHCN. Từ đó đến nay họ đã biến cơ sở tôn giáo thờ phụng uy nghiêm này thành chốn tuyên truyền văn hoá cộng sản toàn trị nhằm nhồi nhét thế hệ trẻ thủ đô Hà Nội để dễ bề thực hiện chính sách ngu dân một cách cuồng tín hơn nửa thế kỷ nay….
Mới đây họ còn chủ trương xây trên đó một ngân hàng và biến thành địa điểm kinh doanh thương mại, Chính vì thế hàng ngàn giáo dân Hà Nội và các tỉnh đã bất bình phản đối bằng cầu nguyện tập thể ròng rã đêm ngày để tranh đấu đòi lại tài sản cho Giáo hội Thiên Chúa. Trước khí thế phản kháng kiên quyết này của cộng đồng giáo dân, nhà nước CSVN đã cử thứ trưởng bộ công an Nguyễn Văn Hưởng và nhiều quan chức Cộng sản gộc khác của chính quyền TP – Hà Nội dùng thủ đoạn lừa gạt cộng đồng giáo dân cũng như các chức sắc và hàng ngàn bà con tín hữu để thủ tiêu cuộc tranh đấu của họ hòng vĩnh viễn cướp trắng mảnh đất và toà nhà trên mảnh đất lịch sử đó. Việc lần lữa, lẩn tránh không chịu giải quyết đáp ứng theo yêu sách của Giáo Hội Thiên Chúa địa phận Hà Nội đã làm các vị Linh Mục có trách nhiệm cùng toàn thể các giáo hữu, tín đồ rất phẫn nộ cao độ.
Chúng tôi nghĩ năm nay nhà nước CSVN được vinh dự thế giới cho đăng cai tổ chức Lễ Phật đản Quốc Tế 2008 thì chính đó là cơ hội tốt nhất chế độ của họ tỏ ra thiện chí, thiện tâm sửa chữa sai lầm trong quá khứ trước đây bằng hành đông thực tế là hãy trả lại cho GHPGVNTN cơ sở Việt Nam Quốc Tự như chúng tôi đã nêu trên đây.
Về Toà Khâm Sứ cũ ở Hà Nội thì đại diện của chính phủ CSVN đã hứa hẹn ra sao với phái đoàn của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt dẫn đầu cùng các linh mục trong đoàn thì nên tôn trọng cam kết nếu không thì hậu quả khôn lường và vô cùng tai hại. Có như thế thì nhà nước của họ may ra còn vớt vát chút ít uy tín khi đã được bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ tạm thời bỏ tên ra khỏi danh sách các quốc gia có thành tích bất hảo về đàn áp và ngược đãi tự do tôn giáo CPC hồi năm 2006 -2007…
Chúng tôi nghĩ rằng nếu nhà nước và đảng CSVN nắm quyền thống trị đất nước hiện nay hạ quyết tâm không trả lại các sở hữu hợp pháp trên đây của các Giáo Hội thì chúng tôi thiển nghĩ tha thiết đề nghị đồng bào Phật tử trong nước hãy kéo đến Việt Nam Quốc Tự đọc kinh, cầu nguyện thật đông đảo đòi lại bất động sản hợp pháp của mình cho bằng được…
Đối với mảnh đất toà Khâm Sứ cũ tại Thủ đô Hà Nội cũng vậy, chúng tôi cũng thiển nghĩ đề nghị hàng ngàn tín hữu, giáo dân lại kéo đến tổ chức đọc Kinh Thánh, Cầu nguyện đòi Công lý và hoà bình không ngừng ngày đêm cho đến khi buộc nhà nước CSVN phải trả lại sở hữu bất động sản này một cách vô điều kiện và đừng bao giờ tin tưởng sự lừa gạt chuyên nghiệp của họ gì them nữa.
Về phía anh chị em đang tham gia đấu tranh đòi Nhân quyền, Tự do và Dân chủ chúng tôi sẵn sàng đứng bên cạnh đồng bào Phật tử cũng như các giáo dân can trường trong mọi tình huống bất kể bị trả thù đàn áp khốc liệt từ công an do ĐCSVN chỉ đạo.
Đại diện cho một số công dân Việt Nam hiện đang sống trong nước, chúng tôi cực lực lên án và phản đối hành động vô văn hoá, vô nhân tính của nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội. Nhân danh đại diện cho nhân dân Việt Nam chúng tôi kêu gọi Cộng đồng nhân loại trên toàn thế giới, Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, các cơ quan theo dõi và bảo vệ nhân quyền Quốc Tế, Uỷ ban tôn giáo Quốc tế, Uỷ ban Bảo vệ di sản lịch sử văn hoá thế giới, Uỷ ban Unesco của LHQ, cùng toàn thể đồng bào quốc nội và hải ngoại hãy lên tiếng bảo vệ hai di tích lịch sử văn hoá kể trên. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những ai đã và đang quan tâm tới những di sản văn hoá ấy.
Nhân đây chúng tôi cũng chân thành cám ơn Nhà báo tranh đâú dân chủ và đối lập với ĐCSVN – Nguyễn Khắc Toàn đã bổ sung, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng quý giá để anh chị em chúng tôi thảo luận, bàn bạc qua internet và điện thoại di động cũng như đã gặp gỡ trực tiếp trong hoàn cảnh rất khó khăn gian khổ và nguy hiểm mà viết nên bức thư ngỏ này để gửi tới quý vị và công luận rộng rãi trên toàn thế giới.
Cuối cùng xin trân trọng cám ơn tất cả quý vị đã quan tâm nguyện vọng chính đáng tha thiết của nhóm chúng tôi và kính mong quý vị dịch sang các ngoại ngữ cần thiết để quảng bá thật rộng rãi trên các diễn đàn, trên chính trường quốc tế !
Làm tại Việt Nam từ Thủ đô Hà Nội, Thành phố Sài Gòn, Thị xã Yên Bái và tỉnh Đồng Nai
Ngày 25 tháng 3 năm 2008
Thay mặt nhân dân Việt Nam – Các công dân đồng ký tên dưới đây :
Đại diện miền Bắc:
1/ Lê Thanh Tùng
Địa chỉ nhà ở : khối 13, phố chợ Phù Lỗ – Sóc Sơn – Hà Nội
ĐT: 0962 – 247 – 051
Email : aiquocle@gmail.com
2/ Nguyễn Tiến Nam
Địa chỉ nhà ở : Tổ 24, phường Yên Thịnh, thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái
Điện thoại liên lạc : 0944 – 528 – 814
Email : daibangxanhyb@gmail.com
Đại diện miền Nam :
3/ Lư Thị Thu Duyên
Địa chỉ nhà ở : số nhà 77/13B đường Trần Bình Trọng
Phường 1, quận Gò Vấp, TP – Sài Gòn
Điện thoại liênlạc : 0122 – 276 – 4679
Email : khunglong78@yahoo.com
4/ Vũ Thanh Phương
Địa chỉ nhà ở : số nhà 182 ấp Bình Xuân 1, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 0979 – 995 – 880
Email : kimnganvu2002@yahoo.com