Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 2, 2008

Đối thoại nhân quyền với CS ích lợi gì chăng ???

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 52 (01-06-2008 )

            Ngày 29-05-2006 vừa qua là vòng thứ 13 mà con cháu “Bác Hồ” và hậu duệ “Chú Sam” lại gặp nhau -lần này tại Hà Nội- để gọi là “đối thoại nhân quyền”, như thể hai bên chưa hề thống nhất ý kiến với nhau được về khái niệm căn bản và lý tưởng cao cả nhất đó của văn minh nhân loại hiện đại, mặc dầu Cộng sản Việt Nam đã thò tay ký vào hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ngày 24-9-1982. Đoàn Hoa Kỳ do ông David Kramer, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Nhân quyền, Dân chủ và Lao động dẫn đầu. Đoàn Việt Nam do ông Đoàn Xuân Hưng, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao hướng dẫn.

            Với giọng lưỡi gỗ như thường lệ, trưởng đoàn Việt Nam nhấn mạnh: Quan tâm và thúc đẩy các quyền con người cho mọi người dân Việt Nam luôn là ưu tiên, nền tảng và tư tưởng lớn xuyên suốt cho các chính sách luật pháp của Nhà nước Việt Nam… Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách cởi mở, thẳng thắn và xây dựng về các vấn đề hai bên cùng quan tâm, kể cả vấn đề nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và thu hẹp bất đồng, góp phần tạo dựng khuôn khổ hợp tác vì lợi ích của cả hai nước. Với kiểu ngụy biện như xưa rày, Việt Nam lên tiếng khẳng định: Chúng tôi có quan niệm nhân quyền riêng, phù hợp với đặc điểm lịch sử, chính trị, văn hoá của Á châu, của dân Việt”. Cũng với lối lừa gạt cố hữu, đoàn Việt Nam đã thông báo cho phía Hoa Kỳ những thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội, cải cách pháp luật, tự do tôn giáo, đảm bảo và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của người dân”. (Theo http://www.vnanet.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/251735 ).

            Nhiều người đã hy vọng vào cuộc hội ngộ này, “thà có đối thoại, còn hơn là không”. Nhưng những ai từng trải qua kinh nghiệm thấm thía lâu đời với CS, như luật sư Trần Thanh Hiệp, người từng có mặt trong cuộc hội đàm Paris năm 1972, thì cho biết: Tôi không mấy lạc quan để chờ đợi kết quả đáng kể của cuộc đối thoại sắp tới. Vì hai lý do. Một đằng tình trạng xấu về nhân quyền ở VN hiện nay là hậu quả đương nhiên của chính sách đàn áp cố hữu của Hà Nội. Mà về phía Hà Nội thì rõ ràng không có dấu hiệu nào cho thấy muốn chấm dứt chính sách ấy. Đằng khác, tuy trên thực tế Hoa Kỳ có thể đã có ít nhiều ảnh hưởng tới mức độ đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội, nhưng nếu cứ đi tìm thỏa thuận giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn để giải quyết vấn đề nhân quyền cho dân VN thì đã đặt sai vấn đề để gây ra rất nhiều tai hại. Hà Nội sẽ chỉ nhượng bộ Hoa Kỳ trong chừng mực không làm suy yếu thế lực đảng trị của mình… Cuộc đối thoại Mỹ-Việt về nhân quyền không phải bây giờ mới diễn ra mà đã được tiến hành từ lâu. Nhưng không vì vậy mà chính sách nhân quyền của Hà Nội đã thay đổi… Do đó, để cải thiện tình hình nhân quyền ở VN trước hết cần cải thiện phương thức đối thoại về nhân quyền. Cải thiện theo chiều hướng dân chủ hóa chế độ. Vì nhân quyền phải đi đôi với dân chủ. Nếu nhân quyền đi đôi với độc tài thì chỉ có đàn áp”. (RFA phỏng vấn ngày 23-05-2008 ). Quả thế, tự bản chất, độc tài, độc quyền, độc đảng có nghĩa là mọi nhân quyền đều bị chà đạp. Thao túng Quốc hội, làm gì có tự do bầu cử? Nắm lấy báo chí, làm gì có tự do ngôn luận? Khống chế tôn giáo, làm gì có tự do tín ngưỡng? Áp đặt học thuyết Mác, tư tưởng Hồ, làm gì có tự do giáo dục? Công cụ hóa công an quân đội, làm gì có tự do biểu tình? Tay sai hóa công đoàn, làm gì có tự do đình công? Lùa tất cả vào MTTQ, làm gì có tự do lập hội?..

            Ngoài ra, một điểm quan trọng trong đối thoại về nhân quyền, chính là sự có mặt của thành phần đang tạo nên vấn đề nhân quyền khiến Hoa Kỳ và Việt Nam phải ngồi lại. Nói cách khác, bàn thảo và quyết định về nhân quyền, dân quyền ở Việt Nam thì không thể thiếu tiếng nói, thiếu nguyện vọng của những nạn nhân là chính nhân dân Việt Nam, cụ thể là những thành phần đang bị bách hại hay đang lên tiếng chống lại bách hại. Hoa Kỳ -trong các vòng đối thoại- chỉ là người quan tâm, yêu chuộng, bênh vực, hay có thể tạm gọi là người làm ơn, nhưng không phải là người thụ ủy của những nạn nhân bị đàn áp. Vì thế, nếu không có thành phần thứ ba này, Cộng sản Việt Nam sẽ tìm những nhượng bộ làm cho Hoa Kỳ hài lòng (một trong những mánh lới mà họ là bậc thầy) để đổi lấy thế mạnh mà quay lại củng cố thế lực của đảng. Đây là kinh nghiệm xương máu cho dân Việt hồi hòa đàm Paris năm 1972, khi số phận nhân dân miền Nam bị định đoạt bởi cuộc đối thoại mật đàm Kissinger-Lê Đức Thọ, một kẻ thì dửng dưng với số phận đám dân da vàng ngoại tộc, một kẻ thì quyết tâm đưa đồng bào ruột thịt vào tròng Cộng sản quốc tế. Đây là điều mà Khối 8406 quốc nội đã đòi hỏi trong dự thảo Lộ trình Dân chủ do một thành viên ban đại diện của mình, kỹ sư Đỗ Nam Hải, đưa ra ngày 21-05-2008: Trong quý III-2008, chấp thuận một cuộc đối thọai về tự do, dân chủ và nhân quyền được tổ chức tại VN. Thành phần bao gồm 3 bên: quốc tế, nhà cầm quyền CSVN và những người dân chủ VN (trong và ngoài nước). Danh sách do 3 bên liên quan ở trên tự lập ra. Số lượng thành viên của mỗi bên phải bằng nhau. Từ trước đến nay, những cuộc đối thoại về dân chủ và nhân quyền được diễn ra chỉ có 2 bên tham gia là quốc tế và nhà cầm quyền CSVN. Điều này là hòan toàn bất bình đẳng và rất tai hại. Vì phía quốc tế chỉ được nghe, chỉ được thấy cách một chiều, phiến diện, che đậy… từ phía những kẻ đàn áp tự do là CSVN. Trong khi những người bị đàn áp thì không hề được có tiếng nói. Thực tế là họ bị nhà cầm quyền CSVN tước đoạt mọi vũ khí tự vệ, kể cả vũ khí tố cáo”.

            Mỉa mai thay, chính trong lúc chuẩn bị cho ngày đối thoại nhân quyền 29-05, nhà cầm quyền CSVN đã lập rất nhiều thành tích không giống ai, chỉ xin kể ra những thành tích nổi bật:

            - Trên phương diện tôn giáo : Ngoài việc thoán đoạt lấy quyền điều hành một đại lễ tôn giáo linh thiêng là Vesak Liên Hiệp Quốc 2008, biến những lãnh đạo tinh thần thành công cụ, chà đạp lên chính tư cách và bản chất tôn giáo (vốn phải độc lập), lừa gạt thế giới về chính sách tín ngưỡng của mình, nhà cầm quyền CSVN còn đàn áp dữ dội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước và trong những ngày đại lễ ấy. Từ đầu năm, liên tục sách nhiễu các Huynh trưởng Gia đình Phật tử tại 3 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngày 01-04-2008, cướp đất đai tài sản đồng thời hành hung tăng ni chùa Phước Huệ, tỉnh Quảng Trị. Cùng thời gian trên, ép buộc đạo hữu chùa Giác Hải huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng làm đơn tố cáo Thượng tọa Trú trì Thích Trí Khải, để mở chiến dịch đấu tố và cuối cùng trục xuất Thượng tọa. Tại TT- Huế thì trừng trị các Tăng sĩ và triệt hạ Phật học đường của Giáo hội PGTN; phá hủy tượng Quan Âm tại núi Ngự Bình. (Đơn tố cáo của Hòa thượng Thiện Hạnh ngày 24-04-2008). Trong những ngày này, còn cưỡng bức Thượng tọa Như Tấn, Ban Đại diện PGVNTN tỉnh Lâm Đồng đi làm việc liên tục, đến nỗi ngã bệnh; dùng vũ lực buộc Hoà thượng Tâm Mãn, trú trì chùa Sư tử Hống ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, tới đồn hạch hỏi thẩm vấn (Thông cáo báo chí phòng Thông tin PGQT ngày 28-5-2008 ).

            - Trên phương diện dân sinh : Điển hình và bi thảm nhất là việc đàn áp nông dân làng My Điền, xã Hoàng Ninh, Huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang suốt hai tháng nay. Sau khi lấy đất của họ để bán cho một chủ nhân Trung Quốc làm công ty sản xuất bao bì Hoa Hạ, đẩy họ vào thân phận nô lệ thời mới với đồng lương chết đói (khoảng từ 31 đến 44 USD/tháng), các viên chức chính quyền tham lam và gian xảo còn dùng lũ tay sai mù quáng và tàn bạo là công an đánh đập dã man công nhân và nông dân cùng làng đứng lên phản đối chủ nhân bất công. Chưa hết, mới đây, nhà cầm quyền CSVN còn đẩy dân làng My Điền vào chỗ chết bằng cách cướp đất của họ bán cho chủ nhân Đài Loan làm sân gôn. Dân đứng lên phản đối. Đội đặc nhiệm 113 và hàng ngàn công an trang bị vũ khí tận răng liền ập vào làng. Chúng đánh đập dã man những người dân tay không chạy ra giữa đường, nằm xuống mặt lộ, đào hào đào hố để cản xe, khiến nhiều người bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu, trong đó có hai phụ nữ bị đánh đến trụy thai.

            - Trên phương diện luật pháp : Ngày 5-5-2008, CSVN triệu tập tại Sài Gòn Hội nghị Góp ý Sửa đổi Luật Đất đai. Điều 63 khoản 1 Luật Đất đai này (26-11-2003) cho phép việc giao dịch trong thị trường bất động sản VN chỉ diễn ra trên căn bản quyền sử dụng đất chứ không là quyền sở hữu đất. Đến ngày 5-5-2008, điều khoản nói trên được đề nghị sửa đổi như sau : “Chính phủ qui định điều kiện để các đô thị, khu vực qui hoạch phát triển đô thị được phép thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở theo hình thức phân lô bán nền. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định khu vực được thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà để ở, để bán, cho thuê; khu vực được thực hiện dự án xây dựng nhà ở theo hình thức phân lô bán nền”. Nói vắn gọn, điều 63 khoản 1 sửa đổi sẽ cho phép chính phủ đứng ra bán đất (phân lô bán nền) và người mua đất được cấp chứng khoán điền thổ theo đúng luật sở hữu bất động sản của guồng máy kinh tế thị trường. Người mua ở đây hiển nhiên là giới tư bản đỏ và thân bằng quyến thuộc của họ. Đám người này sẽ có quyền sở hữu và cơ hội sở hữu đất đai cách vô giới hạn, trong lúc dân oan vẫn hoàn oan, dân nghèo vẫn hoàn nghèo, dân nông thôn vẫn triền miên đói khổ. Ngày xưa chủ ruộng là phú nông, là đại địa chủ. Ngày nay chủ ruộng hiển nhiên là đảng CS. Nông dân không gì khác hơn là đội ngũ bần cố nông, cày thuê cấy mướn. (Theo luật sư Đỗ Thái Nhiên).

            Thành ra, mọi cuộc đối thoại với CS độc tài sẽ chỉ là vô ích uổng công. CS đã đối thoại bao lần với thế giới, khi ký kết các văn kiện quốc tế về nhân quyền, tham dự các hội nghị quốc tế về nhân quyền. Vì đối với CS, ngôn ngữ không phải là phương tiện để trình bày bản chất sự việc, mà chỉ là công cụ để thu phục và lường gạt, hầu duy trì chế độ độc tài bóc lột lâu chừng nào tốt chừng ấy.

            BAN BIÊN TẬP

——————–
Ý kiến:
Một nhận định rất chính xác và đúng đắn !!
Đại đa số người dân VN (trên 70%) không có người đại diện chân chính trên bàn cờ đối thoại này từ bao nhiêu lần qua, kể cả những lần bàn thảo về HĐ Paris 1973 vì có những cuộc đi đêm song phương như đã nói. Đó là cuộc đối thoại, vỡ kịch không công bằng, bất cân xứng, chỉ có lợi cho đcsvn và những thế lực ngoại bang, có lợi cho dân VN rất ít và rất mất thì giờ !  Đcsvn không là đại diện của nhân dân VN vì có do đại đa số nhân dân VN bầu cử chọn lựa tự do đâu nào và dân VN không có quyền ứng cử, tranh cử, bầu cử tự do dân chủ !! Đây là 1 chế độ bất công, độc tài toàn trị, tướt đoạt quyền con người, dân quyền, phi dân chủ, không tự do, không ưu tiên phục vụ cho dân tộc và đất nước !!! Hiến pháp, luật pháp của cs chỉ là màn ảo thuật rẻ tiền, trân tráo, vô giá trị đ/v dân, chỉ áp dụng cho đảng viên đcs với nhau mà thôi ! Nhân dân VN, thành viên của cộng đồng nhân loại tiến bộ, chỉ áp dụng Hiến chương LHQ, công ước quốc tế mà cả csvn cũng đã tham gia ký kết, tuân hành !
Đcsvn tuyên truyền : ” xây dựng 1 xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” dựa trên 1 nền tảng BẤT CÔNG, ĐỘC TÀI : đó là bằng cớ của sự mâu thuẫn, láo lếu, hoang tưởng, lừa bịp !

May 18, 2008

Thư giản, châm biếm

Ở trong 1 nhà nước độc tài toàn trị : sống và làm việc theo luật rừng, luật bảo vệ guồng máy độc tài toàn trị, bất công, phi lý, cực kỳ lãng phí !  Người dân được “bảo vệ”, quản lý rất chặt chẻ từ : tư tưởng, đi, đứng, tụ tập, ở, ăn, nói, nhìn, nghe, ngủ, ị … 
Rất tự do, dân chủ kiểu xhcn, nghĩa là phi dân chủ, phản tự do. Rất ổn định, sống dưới nòng súng, trong nhà tù, tòa án rừng xanh, như  trên “núi lửa” .
Tuyên truyền, băng rôn, khẩu hiệu, hình ảnh ĐẦY phố phường, đài radio TV, nhưng thực tế là MỘT số KHÔNG TO TƯỚNG !!  Có tật nên giật mình, phải che đâỵ bằng quảng cáo mị dân !!
Trên bưng bít, bịt miệng, lừa bịp gian dối; dưới luồn lách dối gian để tồn tại; cả nước nhà nhà cùng giả dối để ” thuận ý đảng ” phản lòng dân, với chính sách công an trị phản dân chủ, không tự do, phi nhân bản, đầy bất công !

1959:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959

‘Điều 4

Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.” 
 

 

đcs núp bóng “nhân dân” , QH, … khá kỹ !


Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1980

Điều 4

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”

1975-1976-80 : csvn lòi đuôi cs ra, bỏ đảng Lao Động, cho MTGPMN về vườn.
1986 LX trên đà suy sụp, Chủ nghĩa Mac-Le sắp tiêu vong, ngưng viện trợ các nước xhcn “anh em”. Csvn buộc phải mở cửa để  “đổi mới” cứu đảng.
1987 csvn đề nghi Unesco “vinh danh HCM” vào năm 1990. Năm 1990 Unesco đã KHÔNG chấp thuận và không thực thi đề nghị này.  Nghĩa là csvn chuẫn bị “vực cái xác hcm dậy qua cái tư tưởng HCM” thay cho thuyết vô địch Mac-Le để cứu đảng không thành.
(lý do: bác Ho có NHIỀU ngày sinh, ngày chết; vụ thảm sát CCRĐ 1953-56; vụ giết vợ là Nông thi Xuân; vụ Mậu thân Huế 1968; vụ bác đạo văn qua tập thơ ” ngục trung nhật ký”; vụ “bac khiêm nhường” trong tập truyện “vừa đi đường vừa kể chuyện” mà Trần Dân Tiên chính là HCM; vụ  áp dụng tư tưởng của bác, gây cảnh vượt biên tìm tự do của đồng bào miền Nam sau 1975, chết khoảng 500 ngàn người; … vv)

1992:

Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992

“Điều 4

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Điều 4 này cũng là copy điều 6 của HP Liên Xô !
Các nước cs Đông âu, LX đã quăng Mac-Le và lá cờ đỏ búa liềm vào thùng rác từ 1989-1991.

—————-

- HOT: Ghi âm phỏng vấn Bộ GD&ĐT VN về biểu tình HSTS. Các công văn nghiêm cấm biểu tình

- Nóng phỏng tay: Ghi âm các sứ quán VN ở Châu Âu, Mỹ trả lời về biểu tình HSTS, Hiến Pháp…
- http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/12/041208_vietnam_airlines.shtml 
- SoOngVietNamAirline.mp3
- nguoioi PV cong an.mp3      điên đàm với anh công an “nhân dân”  để “giải quyết” chuyện C.A. bắt bớ SV  vì mang “tội yêu nước”.
- Dien_dam_quanChuc_cs  *

May 13, 2008

Tuần làm việc trước ngày 29/4/08 của PV Hải với công an “nhân dân”

Tối hôm Thứ Sáu, tôi nhận một cuộc điện thoại của anh Trường Giang (từ Vương quốc Anh). Anh cho biết có nghe tin một blogger bị đàn áp vì các bài viết trên blog nên đã phone để hỏi thăm.

Tôi cảm ơn anh Trường Giang và tất cả mọi người trong nước cũng như hải ngoại đã quan tâm và chia sẻ cho chủ nhân của trang blog này. Đồng thời, tôi cũng đính chính là không phải bị đàn áp, chỉ được “mời lên làm việc” và bị thu giữ một số thiết bị computer.

Mặc dù rất ngại ngồi viết bài ngay tại dịch vụ NET công cộng, nhưng tôi nghĩ nên có một bài tường thuật về tuần làm việc trước ngày 29/4 với cơ quan an ninh.

Cố gắng này của tôi chỉ để rộng đường dư luận, hy vọng là không vi phạm nghị định nào của Nhà nước!

7:58 sáng 22/4/2008, tôi có mặt tại phòng đợi trước cổng CA Tỉnh Khánh hòa (80, Trần Phú, NT) theo giấy mời trước đó 4 ngày.
Vài phút sau, một anh còn rất trẻ mang quân hàm thiếu úy đến và đưa tôi lên thẳng Phòng Bảo vệ chính trị PA38.
Tôi được gặp người mang quân hàm Thượng tá, tôi nhìn bảng tên và thấy đúng như đã ghi trong giấy mời. Ngày làm việc bắt đầu.

- Anh có biết chúng tôi mời anh lên đây vì chuyện gì không?
- Không. Tôi không biết. Trong giấy mời chỉ ghi là lên làm việc…
- Tôi biết. Nhưng anh có đoán là vì chuyện gì không?
- Đoán thì khó chính xác, nhưng tôi nghĩ là vì các bài viết của tôi trên mạng.

Tôi quan sát kỹ người đối diện, vị Thượng tá này tóc đã hoa râm, chắc khoảng chừng trên dưới 50. Tôi đoán tuổi rất kém nhưng cũng cố đoán vậy.
Ngoài ra, trong phòng còn có một nữ CA còn rất trẻ ghi biên bản và 3 người khác đều mang hàm Trung tá. Về sau có thêm một người khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ cấp bậc. Suốt buổi làm việc, họ luân phiên hỏi tôi rất nhiều câu hỏi liên quan đến các bài viết trên blog.

- Anh có thấy các bài viết của mình gây hậu quả như thế nào không? – Vị Thượng tá tiếp tục hỏi.
- Tôi thấy các viết của mình không có gì sai trái cả. Đó chẳng qua là quan điểm cá nhân của tôi và tôi thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Giọng ông ta bắt đầu hơi gắt lại:
- Thế mà anh bảo không có gì sai? Anh có biết nó đã gây xôn xao dư luận như thế nào không?
- Tôi chỉ nêu những sự kiện có thật và viết theo cảm xúc của mình, còn hiểu nó như thế nào, tốt hay xấu là do nhận thức của người đọc. Tôi không biết được.

Đến phiên làm việc của một anh Trung tá khác còn trẻ, dáng người đậm và chắc.
- Đây có phải là các bài viết của anh không?
Tôi nhận một xấp giấy cỡ A4 in một số bài viết từ blog của mình.
- Nếu đúng thì anh hãy ghi rõ vào từng tờ: “Bài này do tôi viết và đưa lên mạng”, rồi ký và ghi đầy đủ họ tên vào đó!

Tôi bắt đầu viết và ký vào từng tờ. Đến bài “Tôi tự hào mình được gọi là ‘phản động’”, tôi nói: – Bài này không đủ, còn mất một đoạn sau!
- Phòng bên có máy vi tính nối mạng, anh sang đó tự mình in lại và ký!

Từ phía đầu bàn bên trái, vị Thượng tá bỗng nhiên hỏi:
- Anh có biết trình độ lập trình như anh ở Nha trang này có khoảng bao nhiêu người không?
- Không có số liệu nào thống kê, nên tôi không thể biết được!
- Thật uổng công nhà nước và bố mẹ cho anh ăn học đến trình độ như thế mà anh lại…
Tôi bắt đầu hơi mất bình tĩnh và ngắt lời:
- Chính vì tôi được ăn học đàng hoàng nên tôi mới chường mặt ra để viết những bài như vậy. Nếu không thì ngư dân bị bắn chết như thế nào, đảo bị chiếm làm sao tôi cũng không thèm quan tâm.

- Theo anh đánh giá thì các bài viết của anh có ảnh hưởng như thế nào?
- Tôi nghĩ sự thật hay mất lòng, tôi viết quá thẳng thắn nên có thể đụng chạm, mất lòng ai đó…
- Cụ thể là ai?
- Trước mắt là anh và anh, tôi chỉ vào hai người ngồi đối diện!
- Không phải là chúng tôi mà là Chính phủ, là Nhà nước này!
- Đành chịu thôi vì đó là cảm xúc thật của mình, tôi không nói khác được!

Đến phiên một vị Trung tá khác hỏi tôi, nhưng chỉ là những câu hỏi xã giao về nhân thân và gia đình. Chỉ có một câu mà sau này ngẫm lại tôi mới biết đó chính là sự chuẩn bị cho việc khám xét nhà tôi vào cuối buổi chiều hôm đó.

Lại đến phiên làm việc của một người khác, bây giờ phòng đã có thêm một người mà tôi không nhớ rõ cấp bậc như đã nói ở trên. Vì họ luân phiên hỏi, nên từ đây về sau trong bài tường thuật, tôi không thể nhớ rõ chính xác ai đã hỏi mình – tạm dùng danh xưng chung là “bên an ninh”.

- Anh tự hào mình là “phản động” lắm hả? Có gì đáng tự hào anh nói xem!
- Chuyện đó tôi đã phân tích rất rõ ràng trong bài viết trên blog!

- Các bài viết của anh dùng toàn là những từ nhạy cảm, “điên đảo” như thế nào mà anh dám gọi cái xã hội này điên đảo?
- Tôi thấy nó điên đảo thì tôi gọi là điên đảo!

Bên an ninh bắt đầu lớn tiếng:
- Anh phải nói rõ! Cụ thể ra!
- Cái này mấy trăm tờ báo trong nước đã nói quá nhiều. Tôi chỉ đơn cử một lĩnh vực là giáo dục: giáo dục tuột dốc như thế thì xã hội không điên đảo là gì?
- Chỉ một mặt cỏn con thế mà anh dám đánh giá cả xã hội này?
- Còn nhiều mặt nữa như tham nhũng, hối lộ… nhưng vì trước đây tôi đã từng là thầy giáo nên tôi chỉ nhấn mạnh vấn đề giáo dục. Theo tôi nghĩ, giáo dục là cái gốc của xã hội…
- Anh đã từng là thầy giáo mặc kệ anh, không thể vì một mặt nhỏ mà đánh giá cả xã hội được!
- Nhưng đó là nhận thức của tôi!

- Đây nữa, ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước mà anh dám gọi là “biến cố” hả?
- Ủa, biến cố là một sự cố gây nên một bước ngoặt, một biến đổi của lịch sử. Đúng quá còn gì, sao không thể dùng từ biến cố? Anh cũng nên biết ô. Võ Văn Kiệt có nói một câu đại ý rằng: Ngày 30/4 có mấy triệu người vui cũng có mấy triệu người buồn!
- Anh có biết ô. Võ Văn Kiệt là ai không?
- Có. Ông là cựu Thủ tướng! Nhưng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng như nhau. Tại sao tôi không được quyền nói?
- Nhưng ông ta được Nhà nước cho phép!
- Trời! Thế trong hiến pháp nói mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận là sao?
- Anh nên biết tự do ở đây phải nằm trong khuôn khổ quy định của luật pháp!
- !!!

- Cái đám ngụy quân mà anh lại dùng từ “binh sĩ Việt nam CH” hả?
- Họ là những người ngã xuống vì đất đai Tổ quốc, bất kể là ai tôi cũng ngưỡng mộ họ. Anh dùng từ “ngụy quân” là đi ngược lại chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, bây giờ phải gọi là “Khúc ruột ngàn dặm” hoặc…
- Khúc ruột gì bọn phản động…

Không khí trở nên căng thẳng do cả hai phía đều muốn ngắt lời nhau. Tôi đã tự nhủ trước buổi làm việc là phải bình tĩnh, không được ngắt lời người đối thoại, nhưng lại không kìm chế được.

Đối thoại tạm dừng, bên an ninh đưa ra một tập giấy in Nghị định của Chính phủ, lật đến một trang và nói:
- Anh đã vi phạm điều 41 khoản 5 điểm h của Nghị định 55/CP

Tôi xem thấy nội dung: “Đưa vào Internet để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Tôi gạch dưới cụm từ nội dung thông tin và nói:
- Có văn bản nào hướng dẫn cho biết nội dung thông tin nào là được phép và nội dung nào vi phạm không? Vì tôi thấy nội dung các bài viết của tôi không có gì sai trái cả.
- Thế mà anh bảo không có gì sai?
- Tôi chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân và cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc!
- Rõ ràng là quan điểm chính trị của anh có vấn đề. Hồi trước ở đại học môn chính trị anh được mấy điểm?
- Tôi tốt nghiệp mười mấy năm rồi, làm sao nhớ được? Không riêng gì môn chính trị mà các môn khác tôi cũng không nhớ. Nếu cần các anh có thể xem bảng điểm ở trường…

Tôi ăn trưa ngay tại bàn làm việc cùng với 4 an ninh PA38. Cơm hộp do phía an ninh cung cấp.
Tôi điện thoại về báo cho mẹ tôi biết mình phải ở lại trưa vì làm việc chưa xong, chiều làm tiếp!
Không khí nghỉ trưa thoải mái, chỉ là những câu chuyện xã giao đời thường giữa tôi và 2 an ninh trẻ, một anh là viên thiếu úy đã ra đón tôi tại cổng trực ban lúc sáng.

Buổi chiều, tiếp tục chất vấn vì tôi nhất định không ký vào biên bản vi phạm Nghị định 55CP ở trên.

- Anh có gửi bài cho báo Đàn Chim Việt ?
- Đúng vậy.
- Anh có biết ĐCV là tờ báo của tổ chức khủng bố Việt Tân không?
- Không, tôi không nghĩ như vậy
- Anh không biết gì về ĐCV mà lại gửi bài cho họ?
- Đơn giản vì tôi thấy đó là tờ báo của Người Việt hải ngoại, nội dung đọc cũng hay và vừa phải (ý tôi muốn nói lời lẽ trang này không nặng nề như một số trang khác), thì tôi gửi vậy thôi.
- Anh có biết Nhà nước đã cấm không được truy cập các trang web đen không?
- Tôi có biết. Nhưng tôi thấy trang DCVOnline không phải là trang web đen. Nếu theo quan điểm của nhà nước đó là trang web đen thì nên đưa ra một danh sách cụ thể gồm những trang nào để chúng tôi được biết!
- Anh vào trang ĐCV có gặp trở ngại gì không?
- Có lúc vào được, có lúc không.

- Anh có biết Đài RFA là đài chuyên nói xấu xuyên tạc chế độ không?
- Tôi không nghĩ vậy. Tôi thấy đài này đưa tin khách quan và đúng sự thật. Một số giáo sư, tiến sỹ trong nước cũng có trả lời phỏng vấn trên đài.
- Quan điểm chính trị của anh quá lệch lạc, tôi khuyên anh nên đi bác sỹ tâm lý!
- ???

- Anh có tham gia các cuộc biểu tình ở LSQ TS cuối năm 2007?
- Đúng vậy. Tôi có tham gia!
- Anh có biết việc biểu tình như vậy là vi phạm pháp luật không?
- Hiến pháp có ghi công dân được tự do hội họp, lập hội, biểu tình…
- Nhưng phải nằm trong quy định của luật pháp. Anh có xin phép không?
- Tôi nghe mọi người nói nước ta chưa có luật biểu tình nên không biết thủ tục tiến hành như thế nào. Với lại tôi không phải là người tổ chức biểu tình, tôi chỉ tham gia trong đoàn biểu tình để bày tỏ thái độ phản đối nhà cầm quyền BK…

Cuộc đối thoại còn khá dài nhưng càng lúc càng bế tắc vì quan điểm chúng tôi bất đồng.
Phía an ninh cũng nhận thấy điều đó nên khoảng hơn 15h cùng ngày, họ thực hiện phương án B. Họ yêu cầu tôi lên xe về nhà làm việc. Tôi từ chối vì lý do cả ngày làm việc mệt bây giờ đau đầu, mà quả thật tôi cũng đã quá mệt mỏi. Họ nói cứ về nhà đã, còn làm việc tiếp hay không là tùy anh!

Chiếc xe 12 chỗ với khoảng một chục an ninh PA38 tỉnh và Phòng ANND thành phố theo đường Trần Phú trực chỉ hướng bắc thành phố. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ tôi khi thấy số lượng lớn CA mặc cảnh phục trước cổng nhà mình, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán: Sóng biển Nha trang chiều nay thật xanh êm nhưng tôi còn tâm trí nào mà ngắm, tôi phải chuẩn bị làm sao cho sóng gió ở nhà mình sắp đến sẽ ở cấp độ nhỏ nhất!

http://pvhai.blogspot.com/2008/05/aweekbefore29042008.html
——
Ý kiến:
Kêu, mời lên “làm việc” :  kiếm cớ, ép buộc làm việc, hạch họe, đe dọa, gài bẩy kết án một cách độc đoán độc tài !   Thói này rất thường xảy ra ở những nước độc tài, vi phạm quyền con người, dân quyền !! Rất ít khi thấy ở những nước tự do dân chủ, tôn trọng pháp quyền hợp lý đúng đắn, thực sự ! 
Thiệt tình cái CA ngụy luận xhcn đỉnh cao trí tuệ, làm việc như cái robot !
Thế này thì dân không điên, không hèn, không nuốt nhục, không ấm ức, xã hội không băng hoại, nước không (sẽ) mất thì xã hội có gì thật không bình thường !  Yêu nước là cái “tội” ! Đúng là một xã hội đảo điên cai trị bởi lũ điên đảo, bán nước buôn dân cầu vinh !!
Mọi giá trị đúng đắn về công bằng, chân lý, lẽ phải, đạo lý, tự do, dân chủ đều bị cơ chế bóp méo, đảo ngược dưới thời xhcn VN !
Cả nước buộc phải luồn lách, nói dối theo để tồn tại vì cơ chế độc đoán độc tài, lừa bịp !!
Phải chăng đó là sự kém trí tuệ, mù quáng, ngông cuồng, tham tàn trí trá, ngoan cố vĩ đại … mãi tự chồng chất nghiệp chướng ?  Nếu không là tội ác là cái gì ??
29/4/2008 tại Saigon, HN cho thấy : VN đã mất chủ quyền, mất độc lập, mất tự do ! VN đã và đang bị ngoại bang xâm thực : giặc nội xâm và ngoại xâm, đúng như nhận định của Hà Si Phu, …vv !

Tài liệu liên quan:
Nghị quyết EU 1481 25/1/2006
Quốc tế nhân quyền, công ước
Hiến pháp   ( và luật rừng vi hiến, làm bởi QH bù nhìn của đảng không tính, không giá trị !)

Trang 257:HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI (chương XIII)

(Tiếp theo các trang 249, 250, 253)

HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG XIII

ĐỊA ĐIỂM MANG TÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ

(tiếp theo)

Trong khi tướng Na-va cố thực hiện giai đoạn đầu chiến lược của mình, các nhà chiến lược Việt Minh cũng vạch ra kế hoạch tác chiến cho chiến dịch năm 1953. Tại một cuộc họp Trung ương đầu năm , các nhà hoạch định chính sách của Đảng đã quyết định tránh đối đầu công khai với lực lượng thù địch trong tương lai gần đồng thời tìm điểm yếu trong lá chắn của địch, đặc biệt là ở Lào, Cam-pu-chi-a và vùng Tây Bắc. Chiến lược này không thay đổi trong cả năm, thậm chí ngay cả khi Na-va đã quyết định một cách rõ ràng là phải tập trung lực lượng ở đồng bằng sông Hồng để ngăn chặn mối đe doạ của Việt Minh đối với vùng phụ cận Hà Nội. Ông Võ Nguyên Giáp đề xuất tiến hành chiến dịch lớn ở đồng bằng với mục tiêu cuối cùng là đánh chiếm Hà Nội và Hải Phòng, những cố vấn Trung Quốc lại muốn có chiến lược thận trọng hơn tập trung vào vùng núi Tây Bắc. Hồ Chí Minh ủng hộ ý kiến của các cố vấn Trung Quốc và Bộ Chính trị đã chấp thuận ý kiến này vào tháng 9. Kế hoạch này dự kiến sẽ được khẳng định tại một cuộc họp của Quận uỷ Trung ương tháng 11.

Tin quân Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ đến tổng hành dinh của Việt Minh trong lúc các nhà chỉ huy quân sự đang chuẩn bị trình Quân uỷ Trung ương kế hoạch tấn công Pháp ở Lai Châu, vị trí quân sự biệt lập cách Điện Biên Phủ 50 cây số về hướng Bắc. Với các nhà lãnh đạo Việt Minh, nếu Việt Minh chiếm lại căn cứ này thì sẽ tác động tới tinh thần quân Pháp và chuẩn bị cho những bước tiếp theo trong những năm tới. Khu vực này cũng có những lợi thế chiến lược. Cách Hà Nội 320 cây số, quân Pháp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp viện cho Điện Biên Phủ.

Mặt khác, đánh Điện Biên Phủ sẽ là lần đầu tiên Việt Minh tấn công trực diện một căn cứ được lực lượng Pháp bảo vệ vững chắc. Tuy vậy, Điện Biên Phủ nằm ở thung lũng, gần biên giới với Trung Quốc và tổng hành dinh Việt Minh ở Việt Bắc cho phép Việt Minh dễ dàng chuyển khối lượng lớn vật dụng từ Trung Quốc. Sau khi tính toán kỹ lưỡng các khả năng và được cố vấn Trung Quốc và cấp trên ở Bắc Kinh khuyến khích, ngày 6 tháng 12, lãnh đạo Đảng quyết định tập trung nỗ lực trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong năm đó , lãnh đạo Đảng bắt dầu bí mật chuyển ba sư đoàn chủ lực mới được thành lập ở vùng núi quanh Điện Biên Phủ trong khi các đơn vị khác tiến vào Bắc Lào để đánh lạc hướng và buộc quân Pháp phải dàn trải lực lượng của mình.

Tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đột nhiên quyết định kêu gọi khẩn thiết đồng minhViệt Minh tham gia vào cuộc đụng đầu lớn với quân Pháp? Nghĩ cho cùng quyết định tấn công Điện Biên Phủ sẽ buộc Trung Quốc phải tăng viện trợ cả về chất và lượng; điểm mấu chốt dẫn đến thành công sẽ là khả năng pháo cao xạ của Việt Minh có thể làm yếu đi hoặc ngăn được quân Pháp tiếp viện và cung ứng cho khu vực này khi chiến sự leo thang. Mặc dù Bắc Kinh đã viện trợ cho Việt Minh trong cuộc chiến suốt ba năm và thấy được điểm lợi là vừa hoàn thành nghĩa vụ quốc tế Trung Quốc và bảo vệ biên giới phía Nam chống lại sự kiểm soát của đế quốc, trong những tháng đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu suy nghĩ. Tháng 7, ngừng bắn đã có hiệu lực ở bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc đã trả giá cao cho hành động can thiệp của Quân Giải phóng Nhân dân và đã có dấu hiệu chứng tỏ các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tìm cách cải thiện quan hệ với phương Tây để giảm bớt nguy cơ xung đột trong tương lai và tạo điều kiện cho chính phủ chuyển những nguồn lực hiếm hoi cho kế hoạch 5 năm tới. Trong môi trường mới, cách nhìn nhận ngày tận thế của Mao Trạch Đông về chiến tranh với đế quốc tất yếu ở châu Á đã mất đi sức mạnh. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 24 tháng 8, Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai tuyên bố rằng “các vấn đề khác” có thể được bàn đến tại Hội nghị hoà bình nhằm chấm dứt cuộc xung đột ở Triều Tiên. Tháng 12, ông thảo luận với các thành viên của một phái đoàn Ấn Độ về ý tưởng có một thoả thuận chung dựa trên những điều mà sau này trở thành “năm nguyên tắc chung sống hoà bình” giữa các quốc gia. Oa-sinh-tơn đã đáp lại một cách tế nhị khi Bộ trưởng Ngoại giao Đa-lét, trong một diễn văn cho đội quân lê dương Mỹ đầu tháng chín, đã gián tiếp nói rằng “Hoà Kỳ sẵn sàng xem xét một thoả thuận đàm phán để chấm dứt xung đột ở Đông Dương”.

Mát-xcơ-va cũng ngày càng quan tâm nhiều tới việc chấm dứt xung đột ở Đông Dương. Thủ tướng Liên Xô mới, ông Gioóc-gi Ma-len-cốp, đã trở thành nhân vật trên chính trường sau khi Giô-dép Xta-lin chết tháng ba. Ông có lý do phải có quan hệ tốt với phương Tây, kể cả việc phải giảm bớt ngân sách quốc phòng đã phình to để tập trung nguồn vốn hiếm hoi vào các dự án kinh tế. Cuối tháng 9, Liên Xô đề nghị họp hội nghị năm nước lớn nhằm giảm bớt tình hình căng thẳng quốc tế. Một vài ngày sau, Trung Quốc cũng làm như vây.

Quân Pháp chiếm Điện Biên Phủ đúng lúc các nhà lãnh đạo Trung Quốc (giống các nhà lãnh đạo Liên Xô) quyết định mở cuộc tấn công hoà bình nhằm đưa lại giải pháp đàm phán ở Đông Dương. Thắng lợi của Việt Minh ở Điện Biên Phủ có thể sẽ làm tình hình trong khu vực căng thẳng thêm khiến Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp. Mặt khác, điều này có thể làm tăng thêm phong trào chống chiến tranh ở Pháp và tạo điều kiện cho một hiệp định hoà bình có lợi cho Việt Minh và Trung Quốc. Với Bắc Kinh, họ sẵn sàng chấp nhận nước cờ rủi ro này.

Trong khi Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông chắc hẳn đã biết ơn Trung Quốc vì đã tăng cường giúp đỡ chiến dịch Tây Bắc, trước một loạt biểu hiện mong muốn có đàm phán hoà bình của các nước trên thế giới, Tổng hành dinh Việt Minh chắc đã có phản ứng thận trọng. Trong những tháng đầu của cuộc chiến khi Việt Minh rõ ràng yếu hơn kẻ thù của mình, ông Hồ đã bằng mọi cách cố gắng đạt được một giải pháp thoả hiệp. Điều kiện trên mặt trận ngày càng được cải thiện và Pháp rõ ràng không còn tìm kiếm một thắng lợi hoàn toàn thì rất có thể các nhà lãnh đạo Việt Minh cũng không mặn mà gì nữa với một thoả hiệp. Trong khi nói chuyện với ông Lê-ô Phi-ghe-rơ của Đảng Cộng sản Pháp tháng 3 năm 1950, ông Hồ nhấn mạnh rằng tuy vẫn muốn có một giải pháp thông qua thương lượng nhưng các nhà lãnh đạo Đảng không muốn có thoả hiệp lớn. Ông Trường Chinh thậm chí còn có thái độ thù địch hơn. Trong diễn văn kỷ niệm sáu năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tháng 9 năm 1951, ông Trường Chinh cảnh báo rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không bị dụ dỗ vào bàn đàm phán và nhất mực cho rằng cần phải “xoá bỏ mọi ảo tưởng của những kẻ cơ hội về đàm phán hoà bình với kẻ thù”. Khi Pa-ri có những bước thăm dò về một giải pháp thoả hiệp cuối năm 1952, Việt Nam Dân chủ Cộng hóa đã không để ý tới. Đến tháng 9 năm 1953, Hãng thông tấn (TASS) của Liên Xô đã đưa tin rằng trong diễn văn kỷ niệm lần thứ 8 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng chỉ có thắng lợi trên chiến trường mới đem lại hoà bình.

Tuy nhiên, vài tuần sau các nhà lãnh đạo Đảng Việt Nam quyết định theo đề nghị của Mát-xcơ-va và Bắc Kinh là tìm một giải pháp chính trị. Trong một bài phỏng vấn ngày 20 tháng 10 với phóng viên tờ Expesse của Thuỵ Điển, ông Hồ tuyên bố rằng chính phủ sẵn sàng tham dự hội nghị quốc tế nhằm tìm giải pháp hoà bình cho Đông Dương. Ông Hồ nói “Nếu chính phủ Pháp mong muốn đình chiến và giải quyết vấn đề Việt Nam thông qua thương lượng, thì nhân dân và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng xem xét đề nghị của Pháp”. Cuộc phỏng vấn này được báo chí thế giới đưa tin nhiều lần. Ít lâu sau, Bắc Kinh công khai bày tỏ sự dồng ý trong một xã luận của báo Nhân dân Nhật báo. Theo một nguồn ngoại giao Mỹ ở Sài Gòn, đề nghị tiến hành đàm phán hoà bình của ông Hồ đã gây ra một sự “khó hiểu, kinh ngạc và sợ hãi” trong những người Việt không cộng sản ở Sài Gòn.

Là người có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết rằng một giải pháp thông qua thương lượng là một khả năng tiến tới chấm rứt chiến tranh. Việc Hoa Kỳ tháng 7 năm 1953 quyết định tìm cách chấm dứt xung đột ở Triều Tiên là dấu hiệu an ủi cho thấy rằng đế quốc sẵn sàng nhượng bộ khi gặp phải khó khăn, tin tức này đã làm Việt Minh hy vong rằng Đông Dương có thể có một kết cục tương tự. Nhưng trong một bài diễn văn đọc trước một nhóm trí thức ở Việt Bắc sau đó vài tuần, ông Hồ lại cảnh báo rằng không nên có ảo tưởng là hoà bình sẽ đến một cách dễ dàng. Cũng như người Mỹ, người Pháp không sẵn sàng có nhượng bộ lớn trên bàn đàm phán trừ khi thua trên chiến trường. Ông cảnh báo rằng quân địch “đang bẫy chúng ta bằng mồi, nếu chúng ta vội vã như đàn cá và quên phải cảnh giác để tự vệ, chúng sẽ đánh bại”. Do vậy, điều quan trọng là phải cảnh giác và tiếp tục đấu tranh, thậm chí ngay cả khi Mỹ quyết định tham gia xung đột.

Trong tình hình như vậy, thậm chí ngay cả khi ông tỏ ý sẵn sàng tham gia hoà đàm, ông Hồ chắc phải có chút nghi ngờ vì điều kiện cho thắng lợi chưa hoàn toàn chín muồi như ông đã nêu với cộng sự của mình trong cuộc gặp tháng 11. Đồng thời, thái độ của Liên Xô và Trung Quốc là đáng lo ngại. Ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là cầm chừng, và do vậy không hy vọng gì nhiều từ Mát-xcơ-va. Nhưng sự ủng hộ vững chắc của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một phần trọng yếu trong chiến lược của Việt Minh, do vậy bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ Bắc Kinh sẵn sàng thoả hiệp vấn đề này vì lợi ích dân tộc của họ chắc sẽ làm ông Hồ và cộng sự của ông ở Việt Bắc càng lo lắng hơn.

Mặt khác, Hồ Chí Minh biết rằng Việt Minh không thể tiếp tục đấu tranh lâu dài nếu không có sự hỗ trợ hoàn toàn của Trung Quốc. Đây không phải là lần đầu ông Hồ chấp nhận phải nhượng bộ để tiếp tục chiến đấu. Về phần mình, Mát-xcơ-va và Bắc Kinh hầu như chẳng cần sự đồng ý của Hà Nội để bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của mình. Tại một Hội nghị tổ chức đầu năm 1954 ở Béc-lin, đại biểu các nước lớn thoả thuận rằng một hội nghị quốc tế khác sẽ được tổ chức tại Giơ-ne-vơ tháng 4 để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoà bình thế giới. Tuy chính quyền Ai-xen-hao khó chịu, Đông Dương và tình hình ở Triều Tiên đều nằm trong đề mục thảo luận. Tháng ba, một phái đoàn Việt Nam đến Bắc Kinh tham khảo ý kiến các quan chức Trung Quốc và xây dựng một chiến lược chung tại Giơ-ne-vơ. Ít lâu sau, một phái đoàn Việt Nam do Hồ Chí Minh dẫn đầu đi Bắc Kinh và Mát-xcơ-va để hoạch định chiến lược đàm phán chung với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô. Dựa trên kinh nghiệm đàm phán với Mỹ nhằm chấm dứt xung đột ở Triều Tiên, Trung Quốc và Liên Xô khuyên Việt Nam phải có mục tiêu “thực tế” tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Hai ngày sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ được công bố triệu tập, nguồn tin tình báo Pháp cho hay đơn vị Việt Minh ở thượng Lào đã chuyển quân theo hướng đông về Điện Biên Phủ. Mặc dù hoạt động của Việt Minh còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như Bắc Bộ, Tây Nguyên, Lào và hành lang Hà Nội-Hải Phòng-vào đầu tháng 3, tài liệu do Pháp bắt được cho thấy rằng Việt Minh đang chuẩn bị tấn công lớn ở vùng Tây Bắc và cuộc tấn công này sẽ phối hợp với cuộc đàm phán sắp tới tại Giơ-ne-vơ. Có thêm những dấu hiệu chứng tỏ viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Minh đã tăng nhiều, tăng khả năng Việt Minh thắng trận.

Lần nay, nguồn tin tình báo của Pháp đã đúng. Bắt đầu từ tháng 12, các đơn vị Việt Minh đã dần tập trung ở vùng núi bao quanh căn cứ của Pháp tại Điện Biên Phủ, trong khi hàng ngàn dân công được huy động để chuyển đạn dược và pháo cao xạ từ biên giới Trung Quốc đến khu vực này. Một người tham gia đã kể lại cho một nhà báo Mỹ:

“Chúng tôi phải vượt núi, băng rừng, ban đêm thì hành quân còn ban ngày thì ngủ để tránh bom của kẻ thù. Có lúc chung tôi ngủ hầm, có lúc chúng tôi ngủ ngay cạnh đường. Mỗi chúng tôi đeo súng, đạn và ba-lô. Chúng tôi có chăn, màn và một bộ quần áo. Mỗi người đều có đủ gạo ăn một tuần và được nhận thêm tại các trạm dọc đường. Chúng tôi ăn rau và măng lấy trong rừng và thỉnh thoảng dân làng lại cho chúng tôi thịt. Tôi đã tham gia Việt Minh chín năm rồi nên quen như vậy”.

Để mang lại điều thuận lợi cần thiết trên chiến trường nhằm đạt được một giải pháp hoà bình tại bàn hội nghị, trong vài tháng liền Trung Quốc tăng viện trợ quân sự. Theo một nguồn tin của Trung Quốc, hơn 2.00 xe tải, 10.000 thùng dầu, hơn 100 súng ca-nông, 60.000 đạn cao xạ, 3.000 súng và khoảng 1.700 tấn ngũ cốc đã được chuyển cho quân đội Việt Nam cố thủ quanh Điện Biên Phủ. Để khuyến khích cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam cố đạt được thắng lợi quân sự, Chu Ân Lai Gửi thông điệp sau: “ Nhằm giành thắng lợi trong lĩnh vực ngoại giao, chúng ta có thể cần phải tính đến việc giành thắng lợi mạnh ở Việt Nam trước đình chiến ở Triều Tiên”. Hồ Chí Minh hiểu rõ điều này. Trong một bức thư gửi ông Giáp tháng 12, ông viết: “Chiến dịch này rất quan trọng, không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt chính trị, không chỉ vì lý do trong nước mà còn vì lý do quốc tế nữa. Do vậy, toàn thể nhân dân ta, toàn thể lực lượng vũ trang ta và toàn thể Đảng ta phải đoàn kết để thực hiện việc này.”

Với ông Hồ và các cộng sự của ông, vấn đề không còn là liệu có tấn công cứ điểm quân Pháp hay không mà làm thế nào mà tấn công được. Ông Võ Nguyên Giáp vốn thận trọng ủng hộ kế hoạch làm suy yếu quân địch, sử dụng pháo binh bắn phá sân bay nhỏ ở thung lũng Điện Biên Phủ và cắt đường tiếp tế của quân Pháp. Quân Việt Minh sau đó có thể dần vô hiệu hoá hỏa lực của quân Pháp và chiếm từng cứ điểm bên ngoài căn cứ. Theo các nguồn tin Việt Nam, tướng Hoa Quốc Thanh, cố vấn cao cấp của trung Quốc, đã ủng hộ cách giải quyết khác, tiến hành cuộc tấn công thần tốc dựa trên chiến thuật “biển người” đã được các đơn vị giải phóng sử dụng rất có hiệu quả chống lại quân của Liên hợp quốc tại Triều Tiên.

Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Minh vào Điện Biên Phủ bắt đầu vào giữa tháng một. Việt Minh đã tập trung 23 tiểu đoàn chính quy bao gồm 50.000 quân ở vùng núi quanh cứ điểm. Số quân này đối chọi với kẻ địch gồm 16.000 quân. Ngoài lực lượng chính quy, Việt Minh có hơn 55.000 quân hỗ trợ và khoảng 100.000 dân công. Nhiều dân công là phụ nữ ở các tỉnh miền trung đã phải đi qua khu vực địch chiếm ở đồng bằng sông Hồng để đến được khu tập kết dọc biên giới Trung Quốc. “Đội quân tóc dài” này mang vác pháo và phương tiện chiến tranh khác hàng trăm dặm đường địa hình khó khăn đến khu vực căn cứ. Mỗi dân công chuyển trung bình 15 cân hàng qua 16 cây số đường rừng mỗi đêm. Tuy hầu hết hàng cung cấp là xăng dầu và đạn dược, nhưng cũng còn có những khẩu pháo lớn của Liên Xô được chuyển từng bộ phận từ biên giới Trung Quốc ở Lạng Sơn, cách hơn 300 cây số.

Trong giai đoạn đầu, những người tấn công đã theo lời khuyên của Trung Quốc sử dụng chiến thuật “biển người”, nhưng tổn nặng nề đến mức cuối tháng một, Bộ Tư lệnh Việt Nam (theo kêu gọi khẩn thiết của Bắc Kinh) đã đánh giá lại tình hình và quyết định chuyển sang cách đánh thận trọng hơn. Trong vài tuần sau đó, quân Việt Minh đào mấy trăm cây số giao thông hào để tiến vào hệ thống phòng thủ bên ngoài của Pháp mà không bị hoả lực của Pháp khống chế. Đồng thời quân Việt Minh cũng đào một loạt đường hầm quanh cứ điểm đã bị bao vây. Pháo được dân công chuyển từ biên giới Trung Quốc từng phần đến đã được lắp ráp lại tại chỗ và đặt bên trong đường hầm; pháo có thể di động nhanh giữa các địa điểm khác nhau, ngăn không cho quân Pháp dưới cứ điểm phát hiện chính xác điểm bắn.

Lúc đầu, hàng tiếp tế và quân tiếp cận đến bằng đường không, nhưng rồi sân bay bên ngoài căn cứ không thể sử dụng được nữa vì bị bắn phá rất ác liệt. Máy bay hạ cánh để dỡ đồ tiếp tế hầu như bị pháo của Việt Minh từ núi bao quanh cứ điểm bắn phá. Ít lâu sau, phi công Pháp buộc phải bay vội qua thung lũng và thả dù tiếp tế và tiếp viện. Cuối cùng hoả lực của Việt Minh mạnh đến mức quân tiếp viện nhảy dù xuống thường chết trước khi xuống được đến đất.

Tình hình càng nguy hiểm, quân Pháp càng khẩn thiết cầu cứu viện trợ của Mỹ. Vào giữa tháng 3, Pa-ri cử tướng Pôn Ê-ly đến Oa-sinh-tơn yêu cầu Mỹ tiến hành không kích để giảm căng thẳng cho cứ điểm của Pháp và bảo vệ cho cứ điểm này khỏi nguy cơ sụp đổ. Đề nghị này được đô đốc A-thơ-Rét-pho, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân và Phó Tổng thống Nich-xơn ủng hộ. Trong một cuộc nói chuyện với Đại sứ Pháp Hăng-ri Bô-nê ngày 28 tháng 4, Ních-xơn tuyên bố “ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Đô đốc Rét-pho và ủng hộ máy bay Mỹ can thiệp ồ ạt để cứu Điện Biên Phủ”. Nhưng Tổng thống Ai-xen-hao, do ý nguyện tham gia cuộc chiến trên bộ ở châu Á của ông đã giảm vì kết cục không dứt khoát của hành động can thiệp tại bán đảo Triều Tiên, lại chần chừ không muốn đưa quân vào Đông Dương nếu không bảo đảm rằng cuộc chiến đấu sẽ được thực hiện trên cơ sở đa phương và với điều kiện là Pháp phải hứa sẽ trao quyền độc lập hoàn toàn cho ba nước Đông Dương. Trong chuyến đi Luân Đôn, Pa-ri, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét phát hiện ra rằng cả Anh lẫn Pháp đều không đồng ý với điều kiện của Mỹ; Ai-xen-hao sau đó đã không chấp nhận yêu cầu của Pháp cung cấp yểm trợ bằng máy bay tuy vẫn thăm dò khả năng Mỹ can thiệp. Ai-xem-hao cũng chần chừ không muốn có một giải pháp thoả đáng trên bàn hội nghị.

Đầu tháng 5, Việt Minh thâm nhập vào tuyến phòng thủ bên ngoài của cứ điểm Điện Biên Phủ và bắt đầu bắn pháo vào các điểm bên trong. Theo nguồn tin của Trung Quốc, cuối cùng lòng tin của các nhà hoạch định kế hoạch chiến tranh của Việt Minh bị nao núng vì tổn thất lớn và mối đe doạ can thiệp của Mỹ. Với sự cổ vũ mạnh mẽ của Bắc Kinh, Việt Minh cuối cùng quyết định tấn công toàn bộ cứ điểm giành thắng lợi. Cuộc tấn công diễn ra ngày 6 tháng 5. Ông Võ Nguyên Giáp đã miêu tả một cách ngắn gọn là “bộ đội tấn công từ mọi phía, chiếm tổng hành dinh của địch và bắt sống toàn Bộ tham mưu” Quân Pháp thất bại hoàn toàn. Hơn 1.500 quân lính Pháp bị chết, 4.000 bị thương và số còn lại bị bắt làm tù binh hay mất tích. Khoảng 70 quân Pháp thoát trở về phòng tuyến của mình. Tổn thất của Việt Minh lớn hơn nhiều, 25.000 bị chết và bị thương, trong đó có 10.000 bị chết.

Ngày 7 tháng 5, một ngày sau khi quân Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ, đàm phán hoà bình để giải quyết cuộc xung đột Đông Dương bắt đầu như đã định tại Giơ-ne-vơ. Tham dự hội nghị có đoàn đại biểu của Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng như đại diện chính phủ Bảo Đại, đại diện của chính phủ hoàng gia Cam-pu-chi-a và Lào, bấy giờ gọi là nước liên hiệp. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thể hiện cảnh báo trước đây của Hồ Chí Minh cho rằng thắng lợi sẽ không dễ dàng, đến Hội nghị với thái độ thận trọng tuy nhiên họ cảm thấy rằng đó là cơ hội có những bước tiến quan trọng trong cuộc đấu tranh để hoàn toàn thống nhất đất nước.

Tại phiên khai mạc Hội nghị, phái đoàn Pháp đã nêu điều kiện cho một giải pháp, kêu gọi cả hai bên tập kết quân dưới sự giám sát của Uỷ ban Kiểm soát quốc tế. Ông Phạm Văn Đồng, đứng đầu đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (cũng như tại Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô năm 1946) chấp nhận đề nghị của Pháp cần có ngừng bắn trước khi có giải pháp về các vấn đề chính trị, nhưng trong tất cả các lĩnh vực khác, điều kiện (do Bộ Chính trị soạn thảo) của ông khác hẳn với đề nghị của Pháp. Ông đòi quốc tế công nhận chủ quyền và độc lập hoàn toàn của ba nước Đông Dương, rút hết quân đội nước ngoài và tổ chức tuyển cử tự do dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Ngoài ra, ông còn yêu cầu đại diện của phong trào cách mạng Lào và Cam-pu-chi-a (mọi người vẫn gọi là Pa-thet Lào và Khơ-me đỏ) được dự Hội nghị với tư cách là đại diện của nhân dân hai nước này. Ông Đồng đã đồng ý xem xét khả năng gia nhập Liên hiệp Pháp dựa trên cơ sở tự nguyện và công nhận quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp tại ba nước Đông Dương.

Pa-ri không còn khả năng mặc cả được gì. Các nguồn tin tình báo Pháp công khai dự đoán rằng Hà Nội có thể thất thủ nếu Việt Minh tấn công mạnh. Oa-sinh-tơn cũng có quan điểm bi quan như vậy. Tại một buổi thông báo tình hình của Hội nghị an ninh quốc gia ngày 8 tháng 5, giám đốc CIA A-len Đun dự rằng với 5.000 chiếc xe tải, quân Việt Minh có thể di chuyển dễ dàng từ Điện Biên Phủ đến đồng bằng Bắc Bộ trong vòng từ hai đến ba tuần. Mặc dù lực lượng vũ trang của Pháp ở đồng bằng là 200.000 quân so với 76.000 quân chủ lực của Việt Minh, hầu hết quân Pháp có tinh thần suy sụp và nằm bẹp trong đồn xung quanh toàn là dân cư thù địch hoặc không quan tâm gì. Còn quân đội quốc gia Việt Nam do chính phủ Bảo Đại thành lập sau khi ký Hiệp ước Ê-li-dê, như tướng Na-va gọi họlà “lũ ô hợp”.

Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp khó khăn nghiêm trọng tại Hội nghị. Mặc dù đại diện Việt Minh đã gặp đại diện của Trung Quốc và Liên Xô trước Hội nghị để soạn thảo chiến lược đàm phán chung, điều rõ ràng là cả Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đều không muốn ủng hộ Việt Minh tiếp tục cuộc chiến, và họ cũng chẳng sẵn sàng đáp ứng hoàn toàn mọi yêu cầu của Việt Minh. Cả hai đều chú ý đến lợi ích an ninh của chính mình tại Giơ-ne-vơ và đều mong tránh phải đụng đầu với Hoa Kỳ. Sau khi các cuộc tranh cãi ban đầu lắng đi, rõ ràng cả Ngoại trưởng Liên Xô, ông Vi-a-chê-láp Mô-lô-tốp và trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Hội nghị, ông Chu Ân Lai đều mong có thoả hiệp dựa trên việc chia cắt Việt Nam thanh hai khu vực tập kết, một do Việt Minh chiếm giữ và một do chính phủ Bảo Đại và những người ủng hộ chính phủ này chiếm giữ. Hơn nữa, sau thời gian đầu ủng hộ quan điểm của Việt Minh về Cam-pu-chi-a và Lào, Ngoại trưởng Chu Ân Lai nói rõ với ông Phạm Văn Đồng là Trung Quốc không ủng hộ yêu cầu của Việt Nam dân chủ Cộng hoà đòi Pa-thét Lào và Khơ-me đỏ tham gia Hội nghị như là đại diện chân chính của nhân dân Lào và Căm pu chia. Ông Chu Ân Lai còn cảnh báo vấn đề này sẽ gây nguy cơ đối với quá trình đạt đến giải pháp và dẫn đến can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Ông tin rằng tốt hơn là chấp nhận trung lập hóa hai quốc gia này với chính phủ hoàng gia hiện hành. Để khuyến khích Việt Nam Dân chủ cộng hòa chấp nhận, ông Chu Ân Lai đồng ý kiên quyết lập trường phải cho lực lượng Pa – thét Lào có một khu vực tập kết sau khi xung đột kết thúc. Ông Phạm Văn Đồng rõ ràng là đã lưỡng lự do [?] đồng ý.

Nhiều năm sau các nguồn chính thức của Việt Nam lại cho rằng cách Chu Ân Lai cư xử tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là do Trung Quốc muốn kéo Lào và Cam-pu-chi-a vào khu vực ảnh hưởng của mình. Mặc dù hầu như không có bằng chứng gì chứng tỏ điều này là đúng, rất có thể Bắc Kinh đã coi hai nước này có tầm quan trọng thiết yếu đối với an ninh của mình ở khu vực và do vậy không muốn có một Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, lý do chính là ngăn không cho đàm phán hoà bình sụp đổ loại bỏ khả năng Mỹ thiết lập căn cứ ở hai nước. Chắc chắn vì những lý do này mà ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Đồng chấp nhận thoả hiệp, một quan điểm mà phái đoàn Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ.

Giải quyết xong vấn đề Lào và Cam-pu-chi-a, Hội nghị tạm nghỉ. Trong khi đó đoàn đại biểu Pháp và Việt Nam Dân chủ cộng hoà bắt đầu chú ý đến chi tiết của giải pháp ở Việt Nam. Trong hội đàm riêng về quân sự với Pháp, đại biểu Việt Minh nói rõ ràng họ muốn có một khu vực lãnh thổ liền kề nhau làm khu vực tập kết quân và những người theo họ bao gồm đồng bằng sông Hồng, kể cả Hà Nội và Hải Phòng. (Một nhà đàm phán cao cấp của Việt Minh nói: “ Chúng tôi phải được Hà Nội, chúng tôi phải có đường thoát”). Quân Pháp không muốn mất Hà Nội, nhưng lại nói một cách dán tiếp rằng họ muốn được rảnh tay ở phía Nam và ít nhất là một khu vực riêng ở phía Bắc để chuyển quân và dân ra khỏi vùng đồng bằng.

Do vậy, cuộc tranh luận tập trung vào đường phân chia hai khu vực tập kết và việc thực hiện những thảo thuận chung. Lúc đầu, ông Phạm Văn Đồng đòi đường phân chia phải ở vĩ tuyến 13 trong khi Pháp muốn đường này ở ngay phía Nam đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Để giám sát Hiệp định, đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn trong nước giám sát nhưng Pháp (với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ) yêu cầu phải thành lập Uỷ ban Giám sát quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc.

Trong khi hai phái đoàn Pháp và Việt Nam tranh cãi về chi tiết, Chu Ân Lai về Bắc Kinh tham khảo ý kiến của Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo chính phủ khác. Trên đường về, ông dừng chân tại Ấn Độ, ông yêu cầu Thủ tướng Gia-oa-hắc-la Nê-ru ủng hộ lập trường của Trung Quốc tại bàn Hội nghị. Để giảm bớt lo lắng của Nê-ru về khả năng toàn bộ Đông Dương sẽ sớm rơi vào tay Cộng Sản (và do vậy rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc), Chu Ân Lai hứa rằng toàn bộ quân Việt Minh sẽ rút khỏi Lào và Cam-pu-chi-a, và hai nước này sẽ có chính phủ độc lập do họ tự chọn. Về tình hình Việt Nam, ông bảo đảm với các nhà lãnh đạo Ấn Độ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng bất kỳ thoả thuận nào chia cắt Việt Nam thành hai miền, ông tuyên bố thêm rằng chủ nghĩa xã hội không phải để “xuất khẩu”. Trong một thông báo đưa ra sau một loạt các cuộc gặp gỡ, hai nhà lãnh đạo đã khẳng định ủng hộ khái niệm năm nguyên tắc chung sống hoà bình và coi năm nguyên tắc này là cơ sở thích hợp cho quan hệ quốc tế ở châu Á và thế giới.

Dừng chân ngắn ở Răng-gun, ông đã thảo luận với Thủ tướng Miến Điện, ông U Nu. Sau đó ông Chu Ân Lai về Bắc Kinh và đi thẳng đến Lôi Châu, nơi đã từng là đại bản doanh của Trương Phát Khuê ở Nam Trung Quốc. Ở Lôi Châu, ông gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Cuộc gặp này không được mấy ai chú ý. Một tuyên bố báo chí sauđó của Tân Hoa Xã chỉ nói rằng “Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tich Hồ Chí Minh đã trao đổi toàn bộ ý kiến về Hội nghị Giơ-ne-vơ, vấn đề khôi phục hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan”. Tuy nhiên, một nguồn tin Trung Quốc gần đây cho biết ông Chu đã thuyết phục được ông Hồ thấy sự cần thiết phải có một giải pháp thoả hiệp ở Giơ-ne-vơ để tránh can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Hai vị lãnh tụ đã thoả thuận chấp nhận vĩ tuyến 16 làm đường phân giới giữa hai khu tập kết. Hai vị lãnh tụ cũng thoả thuận chấp nhận việc thành lập chính phủ không cộng sản ở Lào và Cam-pu-chi-a, với điều kiện Pa-thét Lào cũng có một khu vực tập kết nhỏ. Ông Hồ cũng đồng ý đưa ra tuyên bố chung nói rằng ba nước Đông Dương sẽ tuân thủ năm nguyên tắc cùng chung sống hoà bình. Để đổi lại, Chu Ân Lai hứa Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong những hiệp định viện trợ ký tại Bắc Kinh ngày 7 tháng 7, Trung Quốc cam kết tăng thêm viện trợ thương mại và kinh tế. Những nguồn tin chính thức ở Việt Nam chỉ đưa tin cụt lủn về kết quả cuộc gặp. Báo Nhân dân của Đảng ghi nhận một cách không rõ ràng rằng “việc khôi phục hoà bình ở Đông Dương không thể chỉ do một bên quyết định”

Sau những cuộc tham khảo ý kiến ngắn ở Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ trong khi các đại biểu đang giải quyết nốt những vẫn đề tồn đọng, hiệp định đã được ký kết ngày 21 tháng 07 năm 1954. Một Uỷ ban Quốc tế sẽ giám sát Hiệp định. Uỷ ban này bao gồm Ấn Độ, Ca-na-da và Ba Lan. Một tuyên bố chính trị không mang tính ràng buộc kêu gọi chính quyền ở hai khu vực tập kết tiến hành hiệp thương và tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước hai năm sau. Điểm khó khăn cuối cùng là thảo thuận thiết lập đường phân giới giữa hai khu vực tập kết tại vĩ tuyến 17. Khi Phạm Văn Đồng có vẻ chần chừ không chấp nhận nhượng bộ, ông Chu lập luận rằng cho phép Thủ tướng Pháp, ông Pi-e Men-đéc-xơ Phơ-ran-xơ, giữ thể diện của mình là giá nhỏ phải trả cho việc quân Pháp rút. Ông Chu còn nói “Khi quân Pháp rút hoàn toàn, toàn bộ Việt Nam là của các bạn”.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông thì có những tiến triển bất lợi ngay sau khi Hội nghị kết thúc. Chính quyền Ai-xen-hao đã lo ngại theo dõi đàm phán tại Giơ-ne-vơ và quyết định không chấp nhận các điều kiện của Hiệp định trừ khi ít nhất một phần của Việt Nam vẫn an toàn. Vì điều khoản về thống nhất hoàn toàn đất nước thông qua tuyển cử tổ chức năm 1956 mở ra khả năng cộng sản thắng lợi hoàn toàn, Oa-sinh-tơn cho thấy là sẽ không đồng tình với tuyên bố chính trị và sẽ không cam kết ủng hộ Hiệp định Giơ-ne-vơ. Phái đoàn của Bảo Đại cũng làm như vậy và không chịu chấp thuận tuyên bố chính trị, lập luận rằng quyết định chia cắt đất nước là của một nước lớn thuộc địa chứ không phải là nguyện vọng của nhân dân. Một vài ngày sau khi hội nghị kết thúc, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét thông báo tại một cuộc họp báo rằng Mỹ sẽ gây dựng sự phát triển của một nhà nước không cộng sản ở Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chi-a. Tuyên bố này tuyệt nhiên không hề là dấu hiệu tốt lành cho cuộc tổng tuyển cử trong tương lai.

Nhiều nhà quan sát tại hội nghị đã nhận thấy thái độ cay cú của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước việc Trung Quốc và Liên Xô phản bội lợi ích của mình. Nhớ lại điều này, Vương Bình Nam, một nhà ngoại giao Trung Quốc sau này nói rằng một số đại biểu “hy vọng sẽ thống nhất Việt Nam được ngay”.

Thái độ cay cú này rõ ràng không chỉ là thái độ của đoàn đại biểu Việt Nam mà còn thể hiện ở trong nước Việt Nam. Tình hình này rõ ràng nghiêm trọng đến mức Hồ Chí Minh cũng bắt đầu chú ý. Trong báo cáo chính trị cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vài ngày trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ông Hồ viết:

“Mốt số người say sưa với thắng lợi liên tục của chúng ta, muốn tiếp tục chiến đấu đến cùng với bất kỳ giá nào; họ chỉ thấy cây mà không thấy rừng; tập trung vào việc quân Pháp rút, họ không thấy âm mưu của chúng; họ thấy Pháp nhưng không thấy Mỹ; họ thiên về hành động quân sự và coi nhẹ ngoại giao. Họ không biết rằng chúng ta đang đấu tranh tại các hội nghị quốc tế cũng như tại chiến trường để đạt được mục tiêu”.

Hồ Chí Minh tranh luận với những người “muốn có kết quả nhanh, không biết rằng cuộc đấu tranh giành hoà bình là khó khăn và phức tạp.” Điều họ không thấy là ba nước đã có những bước tiến lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho các nước Đông Dương. Tuy nhiên, bây giờ cần có một chiến lược, vì quân Mỹ đã kiên quyết phá hoại khả năng hoà bình can thiệp và biện hộ cho xung đột ở Đông Dương. Do hoàn cảnh mới, khẩu hiệu hiệu cũ “Kháng chiến đến cùng” phải được thay thế bằng khẩu hiệu “Hoà bình, đoàn kết, độc lập, dân chủ”. Một chính sách như vậy góp phần cô lập Hoa Kỳ (nay trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương) trên trường quốc tế và đánh bại âm mưu thâm độc của chúng.

Hồ Chí Minh công nhận rằng giá phải trả cho hoà bình là sự chia cắt đất nước, Ông nhất mực cho rằng việc thiết lập khu vực tập kết không có nghĩa là đất nước bị chia cắt vĩnh viễn mà chỉ là tạm thời.

Do việc hoạch định và trao đổi vùng, một số vùng tự do trước đây sẽ bị địch tạm chiếm; nhân dân sẽ không bằng lòng; một số người sẽ chán nản và bị địch lừa bịp. Chúng ta phải làm cho đồng bào rõ là thử thách họ sẽ trải qua là vì lợi ích toàn đất nước, vì lợi ích lâu dài của chúng ta và sẽ là một sự nghiệp vinh quang mà cả nước đều biết ơn.

Hồ Chí Minh hứa rằng, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự ủng hộ của các dân tộc trên thế giới , độc lập hoàn toàn và đoàn kết dân tộc chắc chắn sẽ đạt được.

Kêu gọi cộng sự của mình trong Đảng chấp nhận một giải pháp thông qua đàm phán về thực chất không phải là chiến thắng hoàn toàn, Hồ Chí Minh chắc chắn đã nghe theo lời khuyên của Chu Ân Lai. Ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Hồ chấp nhận một giải pháp như vậy trong cuộc gặp gỡ ở Lôi Châu trước đó vài ngày. Tuy vậy, thái độ sẵn sàng chấp nhận hoà bình trong nhân nhượng trên đường đến thắng lợi cuối cùng làm chúng ta nhớ lại cách giải quyết vấn đề của ông trong những dịp trước đó, đặc biệt là vào cuối chiến tranh Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh nhận thấy rằng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước không thể đạt được một cách riêng rẽ, nhưng phải đạt được trong bối cảnh những thay đổi phức tạp diễn ra trên trường quốc tế.

(hết chương XIII)

Tags: 257:hồchíminh-mộtcuộcđời(chươngxiii)

Monday May 12, 2008 – 11:27pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
- Trang 253:HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI (chương XIII)
- Tags: 253:hồchíminh-mộtcuộcđời(chươngxiii)


“Con đường bác đi là bi đát” !! Chỉ có lợi cho nhóm nhỏ của tập đoàn thống trị cs, cs quốc tế LX, TQ và ngoại bang.
Các cường quốc LX, TC, Mỹ … cũng phải bảo vệ quyền lợi của nước họ trước tiên ! Trong đó có TC, LX muốn bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ qua cái gọi là cncs với đảng thừa sai là đcs từng nước, dùng người cs bản xứ cai trị người bản xứ , che mắt người dân và quốc tế.
Toàn dân VN đã thua nặng nề !
Công bằng, độc lập tự do, … dân chủ, văn minh, hạnh phúc, là những chiếc bánh vẽ lừa bịp, chỉ có cho 1 nhóm nhỏ quyền lực ! Tuy nhiên, nhóm nhỏ này lại dựa vào/nô lệ ngoại bang để được bảo vệ quyền lực, đặc quyền đặc lợi !
Viễn kiến ? lúc nào cũng phải dựa vào nội lực toàn dân làm căn bản  ?  biết sức và khả năng để giảm lệ thuộc vào ngoại bang ?  thấy rõ hướng đi của thế giới, văn minh nhân loại ??
“Đuổi hổ cửa trước, rước voi cửa sau về giày mả tổ !!”
Đcsvn và nhân dân VN là 2 thực thể khác biệt ! Đcsvn không là đại diện truyền kiếp của nhân dân VN !

May 4, 2008

Lm NV Lý : Lời kêu gọi số 8: Để cứu nguy Tổ Quốc, hỡi đảng Cộng Sản, hãy tự giải thể!

From: LM PHAN Van Loi .

Kinh thua Quy Vi,

Theo guong Duc Giao Hoang Pio XI da ket an chu nghia CS trong thong diep Divini Redemptoris va chu nghia Quoc xa trong thong diep Mit Brennender Sorge,

Theo guong cac Duc Hong Y Stepinac, Mindzenty da len tieng to cao chinh quyen va chu nghia CS,

Theo guong cac Duc Giam Muc Oscar Romero, Helder Camara len tieng chong lai cac che do doc tai

Theo guong Duc Hong Y Jaime Sin huy dong toan dan lat do mot tong thong tham nhung,

cha Nguyen Van Ly cung vua ra Loi Keu goi so 8, keu goi dang CS VN giai the.

Chung toi khong lam chinh tri dang phai, chung toi khong dung bao luc lat do ai, chung toi khong muon danh ghe quyen luc cua bat cu nha cam quyen nao. Nhung chung toi phai lam ngon su cho su that, phai len tieng to cao, ket an va ngan chan moi to chuc hay hinh thuc bat cong, dan ap, boc lot nhan dan va cac ton giao cung nhu vi pham nang ne Nhan quyen.

Kinh goi den quy vi LKG nay, do toi (linh muc Phan Van Loi) ghi lai tu bang cassette do cha Ly trao.

Kinh cam on Quy Vi. LKG nay da duoc nhieu dai hai ngoai doc. Nay chi mong pho bien ban van de Quy vi tin la that cua cha Ly, de quyet tam ung ho cong cuoc dau tranh tai que nha.

Hoa Thuong Thich Thien Hanh cung co ra mot loi keu goi tuong tu. Chung toi se xin goi den Quy Vi khi nao co van van trong tay.

Xin cam on Quy Vi.

Linh muc Phan Van Loi, Hue

——————–

LOI KEU GOI SO 8

Kính thưa tất cả đồng bào Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước,

Kính thưa tất cả mọi người thiện chí trên thế giới,

Sau đây là Lời Kêu Gọi số 8 của tôi, tức là linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý. Tôi hiện nay giọng nói không được rõ rệt và sức khỏe cũng không được đầy đủ, cho nên sẽ có người đọc thay Lời Kêu Gọi này của tôi. Và tôi sẽ xác nhận vào cuối Lời Kêu Gọi này. Đó là bằng chứng đây là Lời Kêu Gọi thực sự của tôi chứ không phải giả mạo.

(một giọng đọc trong đài phát thanh)

Lời Kêu Gọi số 8

Để cứu nguy Tổ Quốc, hỡi đảng Cộng Sản, hãy tự giải thể!

· Xét rằng đảng Cộng Sản Việt Nam nhiều tài điều khiển chiến tranh nhưng không có khả năng làm cho Đất nước thoát khỏi nghèo đói.

· Xét rằng tự do và dân chủ là hai yếu tố căn bản và quan trọng bậc nhất trong việc tạo dựng hạnh phúc con người và là yếu tố không thể thiếu để kiến tạo một quốc gia phú cường, một gia đình hạnh phúc và một cá nhân sống xứng đáng phẩm giá của mình.

· Xét rằng, như tôi đã khẳng định nhiều lần, không thể có tự do tôn giáo thật sự ở Việt Nam bao lâu đất nước này còn bị cai trị bởi đảng Cộng Sản.

Nay cương quyết đòi hỏi:

1- Để cứu nguy tổ quốc, hỡi đảng Cộng Sản Việt Nam, hãy tự giải thể.

2- Quốc Hội hãy hủy bỏ ngay điều 4 trong Hiến Pháp của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

3- Quốc Hội, Chính Phủ và các ban ngành hành pháp, Ủy ban Nhân dân các cấp tiếp tục điều hành Quốc Gia, ban hành và thực hiện các quyền tự do thực sự cho dân. Hãy tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử tự do, công bằng và công khai dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc và các quan sát viên cũng như truyền thông quốc tế.

Kêu gọi tại An Truyền ngày 13 tháng 2 năm 2001

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý

Quản xứ An Truyền

Thư ký Ủy ban Liên tôn đòi Tự Do Tôn Giáo

cho tất cả các tôn giáo tại Việt Nam

***

Kính thưa tất cả đồng bào và quý vị,

Vừa rồi là Lời kêu gọi của chính tôi. Vì thời giờ cấp bách, tôi có thể bị bắt sau đây vài phút, cho nên tôi không giải thích thêm một vài điều trong Lời kêu gọi ngắn ngủi và rất quan trọng này của tôi.

Tôi đang đấu tranh đòi tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho toàn dân Việt Nam. Nhưng bao lâu đảng Cộng sản Việt Nam còn lãnh đạo thì không thể nào có quyền Tự do Tôn giáo thật sự được cũng như không thể nào có những quyền tự do dân chủ chân chính được. Bởi lẽ đó, tôi kêu gọi đảng Cộng sản Việt Nam hãy tự giải thể

Điều thứ hai: trong thời gian đảng Cộng Sản Việt Nam không còn lãnh đạo đất nước nữa, thì Quốc hội, các cơ quan hành pháp, các Ủy ban nhân dân các cấp, các ban các ngành, các sở các phòng cũng như các lực lượng vũ trang vẫn tiếp tục điều hành đất nước này trong trật tự và hòa bình ổn định một cách tạm thời, trong khi Quốc hội tiến hành hủy bỏ điều số 4 Hiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, tức là điều quy định đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo trên đất nước Việt Nam. Khi hủy bỏ điều 4 của Hiến pháp ấy rồi, thì Quốc hội sẽ tiến hành tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ như đại đa số các nước trên thế giới đã và đang tổ chức.

Trong khi đảng Cộng sản Việt Nam không còn lãnh đạo đất nước này, thì cuộc sống của nhân dân vẫn được tiếp tục điều hành một cách ổn định và trật tự . Tôi phải nhấn mạnh điều này để Cộng sản Việt Nam khỏi phải lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc rằng tôi là người kêu gọi sự hỗn độn, gây rối trật tự trị an.

Vậy tôi cũng kêu gọi tất cả những người Cộng sản Việt Nam đang tham gia trong các cơ quan chính quyền các cấp, đang tham gia trong Quốc hội, đang tham gia trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hãy vì lương tâm của mình, mà tiếp tục điều hành đất nước này sao cho ổn định trật tự hài hòa.

Tôi xin cám ơn tất cả mọi người thành tâm thiện chí đã thông hiểu, cầu nguyện và lắng nghe Lời kêu gọi khẩn thiết này của tôi. Tôi nghĩ rằng đây là con đường duy nhất để đem lại hạnh phúc, ấm no, giàu mạnh cho đất nước quê hương chúng ta một cách thật sự và bền vững lâu dài. Xin cám ơn tất cả mọi người.

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý

nguon

Lm NV Lý : Lời kêu gọi số 7 : chung sức xây dựng, bảo vệ tổ quốc

Lời kêu gọi số 7

Hỡi những người cộng sản VN, hãy công bằng chia sẻ

trách nhiệm phục vụ tổ quốc cho người khác !

Hỡi đồng bào VN quốc nội & hải ngoại hãy chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc !

- Xét rằng : Người CSVN đã góp công giành độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, nhưng sự nghiệp nầy không phải chỉ một mình người CSVN làm cho thành công, mà có sự đóng góp của rất nhiều người Việt và rất nhiều người thành tâm khác, của nhiều đảng phái khác mà CSVN đã tiêu diệt họ để cướp công như thể chỉ có một mình CSVN làm được điều nầy mà thôi;

- Xét rằng : Người CSVN cho rằng mình đã có công thắng Mỹ cứu nước, nhưng thực ra cuộc chiến chống Mỹ và xâm lược miền Nam ruột thịt lẽ ra không nên có, vì miền Nam có quyền chọn chế độ tự do dân chủ như Nam Triều Tiên, Tây Đức đã và đang làm, cũng như miền Bắc có quyền dựa vào Liên Xô, Trung Cộng để xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản và Chủ Nghĩa Xã Hội theo ý mình. Sự thực khách quan, nếu miền Bắc không tiến hành xâm lược miền Nam, thì miền Nam đã không bất đắc dĩ phải nhờ quân đội Nam Triều Tiên, Úc và Mỹ đến giúp đỡ và ngày nay đã văn minh, phồn vinh nếu không hơn thì cũng bằng Nam Triều Tiên, trong khi miền Bắc cùng lắm thì cũng chỉ tương tự như Bắc Triều Tiên thôị Lý do là vì : Khi đưa ra 3 mục tiêu : độc lập, tự do, hạnh phúc cho Đất Nước Việt Nam vươn tới, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) lại dùng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để thực hiện, thành ra người CSVN tự mâu thuẫn ngay từ đầụ Giải pháp độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam đã và sẽ không bao giờ thành tựu bao lâu người CSVN còn mê muội cố bám vào phương pháp xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, bởi vì tự bản chất, 2 chủ nghĩa nầy bao hàm sự độc đoán toàn trị, nên không thể bao hàm ý niệm tự do chân chính và đầy đủ trong đó được. Ngày nay chính nhiều người cộng sản thành tâm thiện chí cũng đã đủ điều kiện để tự khẳng định được điều nầy;

- Xét rằng : Người CSVN rất giỏi trong chiến tranh, quốc phòng và an ninh (xét về mặt bảo vệ chế độ độc đoán của mình), nhưng không giỏi trong xây dựng Đất Nước văn minh và thịnh vượng, bằng chứng là sau 21 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc, miền Bắc nghèo đói hơn miền Nam rất nhiều và sau 25 năm xây dựng CNXH trong cả Nước, Việt Nam đã tụt hậu, khiến hiện nay Việt Nam là một trong vài nước nghèo đói nhất thế giới, mặc dù người Việt chúng ta thông minh, cần cù thuộc hàng xuất sắc trên thế giớị Đã đến lúc, tất cả chúng ta cần bình tĩnh khách quan thấy được điều nầỵ Không lẽ chúng ta đành để Đất Nước chúng ta lạc hậu thêm nữa sao.

- Xét rằng : Gần 3 triệu người Việt Hải ngoại đã đau lòng bất đắc dĩ liều mất mạng sống để rời bỏ Tổ quốc, tị nạn cộng sản ở đất khách quê người, hiện nay đêm ngày khóc chảy máu mắt, mong sao sớm đến ngày được hạnh phúc về lại để xây dựng Tổ quốc sao cho tiến kịp với nhịp sống an vui, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ của loài người;

- Xét rằng : Việc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của mọi người Việt chúng ta, không ai được tự cho mình là chỉ có mình và tổ chức của mình mới có khả năng làm điều đó, mà cần công bằng khách quan tạo mọi điều kiện để mọi người được hạnh phúc chia sẻ trách nhiệm đó, theo đạo đức và khả năng của mỗi người cách dân chủ và tự do;

- Xét rằng : Sau khi mỗi người đã ý thức đầy đủ về các mặt tích cực và tiêu cực của tổ chức mình, việc phê bình, rách mắng, chửi rũa nhau chỉ tạo nên chia rẽ, suy yếu, không có hiệu quả tích cực gì. Việc lùi lại quá khứ để thanh minh, gánh trách nhiệm hoặc bắt người khác chịu trách nhiệm là điều không thể làm được và không có hiệu quả tích cực nào;

- Xét rằng : Chỉ có tình thương, thông cảm, đoàn kết, và tha thứ là sức mạnh thật sự giúp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hữu hiệu và bền vững.

Vì vậy, tôi thiết tha kêu gọi :

1. Hỡi những người cộng sản Việt Nam ! Hãy công bằng chia sẻ trách nhiệm phục vụ Tổ Quốc cho người khác, bằng cách hủy bỏ điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay ; bằng cách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho mọi người Việt hải ngoại được có các điều kiện thuận lợi trở về xây dựng Đất nước, để mọi người có thể chia sẻ sự nghiệp xây dựng Tổ quốc bằng các cuộc bầu cử công bằng, tự do, dân chủ trong sự giám sát của các Tổ chức Quốc tế.

2- Mọi công dân Việt Nam trong nước có đức có tài, hãy hiến dâng tài đức mình cho Tổ quốc, Dân tộc, bằng cách thành lập các Tổ chức dân chủ công khai.

3- Mọi người Việt hải ngoại hãy đem hết đức hạnh và tài sức của mình trở về xây dựng Đất nước.

4- Mọi thành phần trong đại gia đình Dân tộc không thù hận nhau, trả đũa nhau, lên án nhau về quá khứ. Trái lại mọi người hãy quên đi những dĩ vãng quá đau buồn của Đất Nước, cùng nhau nhìn vào hiện tại và tương lai của Tổ quốc mà hàn gắn, sửa đổi những gì chưa đúng, quyết tâm vượt mọi khó khăn để xây dựng những điều tốt đẹp nhất cho Tổ quốc giống nòi, đi kịp với các nước văn minh tiến bộ khác.

Kêu gọi tại Nhà Thờ Nguyệt Biều – An Truyền – Huế,

ngày mồng 5 Tết Tân Tỵ, 28 tháng 01 năm 2001.

(Ấn Ký)

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý

Quản xứ An Truyền

nguon

April 25, 2008

Olympics + HS TS : BẢN KIẾN NGHỊ NGỎ

Kính gửi:

-         Các đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.

-         Các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

-         Các thành viên Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.

Kính thưa các Cụ và các Quí vị,

Thế là đã hơn ba tháng kể từ ngày 02 tháng 12 năm 2007 khi Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (Chính phủ của Trung Quốc) ký quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam sa, trong đó lại bao gồm cả hai quần đảo máu thịt của Tổ Quốc Việt Nam chúng ta là Hoàng Sa và Trường Sa. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc rõ ràng đã coi khinh tình hữu nghị mà Việt nam chúng ta đã nỗ lực khôi phục và vun đắp trở lại trong suốt hơn một thập kỷ qua. Sự kiện này đã làm cho nhiều người Việt Nam chúng ta khi biết tin hết sức bức xúc, phẫn nộ và đau xót. Không kể gái trai, già trẻ, địa vị, chính kiến đã có nhiều tiếng nói cá nhân, nhiều cuộc biểu tỏ tập thể công khai đã vang lên từ khắp nơi, trên mạng Internet, báo chí, trên đường phố, trong và ngoài nước, cùng tỏ rõ nỗi xót xa, đau thương, phẫn uất khi một phần da thịt của Tổ Quốc bị cướp mất. Các tiếng nói tuy có thâm trầm khác nhau, nhưng tất cả đều đã thể hiện sự phẫn nộ với sự bành trướng của nước láng giềng, sự đồng lòng quyết bảo vệ Non Sông, Tổ Quốc khi bị lâm nguy. Song, tất cả những tiếng nói đó mới chỉ thấy vang lên từ Nhân Dân đại chúng và một số đoàn thể nghề nghiệp, tổ chức có tính chất địa phương. Rất tiếc và rất khó hiểu, cho đến nay tất cả các vị lãnh đạo cao cấp và các cơ quan cao cấp nhất trong hệ thống lãnh đạo, quản lý đất nước từ Quốc hội, Chính phủ,…đều chưa bày tỏ thái độ một cách chính thức và rõ ràng đối với vấn đề Tổ Quốc đã bị Trung Quốc xâm lấn và tuyên bố thôn tính.

Ý đồ của Trung Quốc rắp tâm xâm lấn, thôn tính dần đảo, biển, tài nguyên thềm lục địa của Việt Nam chúng ta là điều đã rõ ràng và có hệ thống.  Năm 1956 Trung Quốc đưa quân đội ra chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Ngày 04/09/1958 Chính phủ Trung Quốc công bố quyết định nới rộng địa phận lãnh hải thêm 12 hải lý trong đó bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Từ ngày 17 đến 19/01/1974 hải quân Trung Quốc đã tấn công chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, giết chết 58 binh sĩ Việt Nam. Tháng 04/1979 tàu hải quân Trung Quốc đánh đuổi tàu hải quân Việt Nam đang ở vùng biển Hoàng Sa. Tháng 10/1987 hải quân Trung Quốc tập trận lớn ở vùng đảo Trường Sa. Tháng 03/1988 quân đội Trung Quốc tấn công chiếm giữ 06 điểm trên quần đảo Trường Sa, giết chết 74 binh sĩ Việt Nam. Năm 1989 hải quân Trung Quốc chiếm thêm một số đảo thuộc Trường Sa. Ngày 25/02/1992 Trung Quốc công bố đạo luật về lãnh hải, xác định chủ quyền đối với toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa. Tháng 05/1992 Trung Quốc cho công ty Crestone thăm dò dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam, cạnh mỏ dầu Đại Hùng. Tháng 07/1992 hải quân Trung Quốc chiếm đóng thêm một số hòn đảo Trường Sa để hỗ trợ công ty Crestone. Năm 1993 một cuốn sách xuất bản tại Trung Quốc đã công bố chiến lược “ nhanh chóng…đánh đuổi quân chiếm đóng nước ngoài ra khỏi Nam Sa ( tức Trường Sa của Việt Nam chúng ta)”. Năm 1994 Trung Quốc giành chủ quyền tại mỏ dầu Thanh Long của Việt nam. Tháng 07/2006 Trung Quốc công bố “ bản đồ chuẩn” trên mạng để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Tháng 04/2007 Trung Quốc cảnh báo Việt Nam hợp tác với hãng BP và Conoco Phillips xây dựng đường ống dẫn khí trên biển Vũng Tàu, sau đó BP tuyên bố ngừng dự án. Ngày 10/08/2007 báo Trung Quốc China Daily đưa tin Trung Quốc tổ chức du lịch tới Hoàng Sa. Từ 16-23/11/2007 hải quân Trung Quốc tập trận lớn tại Hoàng Sa.Và ngày 02/12/2007 Quốc vụ viện Trung Quốc đã công bố quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam sa bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ năm 2000 trở lại đây, hàng trăm ngư dân Việt Nam chúng ta đã bị phía Trung Quốc bắt giữ, cướp bóc và bắn chết trên hải phận xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những nguy hiểm tính mạng vẫn đang rình rập ngư dân các vùng Thanh Hóa, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa do phía Trung Quốc gây ra không thể kể xiết.

Trong khi đó, phía đất nước Việt Nam chúng ta chỉ có Bộ Ngoại giao lên tiếng phản đối khi được báo giới và dư luận hỏi đến. Mọi cơ quan được thiết lập làm đại diện cho quyền lực, ý chí của toàn dân Việt Nam (như Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc ) đến nay vẫn im lặng!

Chúng tôi thấy, những câu phản đối của người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt nam vừa qua về vấn đề Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường sa là hoàn toàn không đủ và đã xúc phạm lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam khi gọi những cuộc biểu tình trong trật tự để phản đối Trung Quốc là “những cuộc tụ tập không được phép”. Đặc biệt cần nhấn mạnh những nhân viên an ninh Bộ Công an đã có những hành xử thô bạo, sách nhiễu cuộc sống của những người biểu tình ôn hòa xiển dương lòng yêu Tổ Quốc Việt nam là những hành vi trái pháp luật, làm tổn thương truyền thống đoàn kết quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

 Những hành động ngày càng ngạo mạn của chính quyền Trung Quốc gần đây đối với Việt nam liệu có phải là hậu quả từ sự phản ứng quá nhún nhường của phía Việt Nam chúng ta? Việc ngăn cản nhân dân phản đối kẻ xâm lược lại càng làm cho dã tâm thôn tính của chính quyền bành trướng ngoại bang thêm táo tợn? Bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều đang đau đớn với những câu hỏi này!

Trong khi đó chỉ bằng hai cuộc biểu tình của giới trẻ Việt nam trước đại sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc vào ngày 09 và 16 tháng 12 năm 2007 đã làm cho giới lãnh đạo Trung Quốc phải xuống thang bằng việc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) ngày 19/12/2007 phải đưa ra việc phủ nhận về ý định thành lập thành phố Tam Sa.

Chúng tôi hiểu rằng, trước ý đồ thôn tính có hệ thống của chính quyền bành trướng ngoại bang to lớn ngay bên cạnh, những người lãnh đạo yêu nước sẽ phải thận trọng trong việc ứng phó và có thể không tránh được những trăn trở, bối rối, lo lắng. Nhưng kinh nghiệm của các bậc lãnh đạo tiền nhân đã cho thấy, dù quân xâm lược có hung bạo đến mấy, sức nước có non yếu đến bao nhiêu, những trăn trở, lo sợ của người lãnh đạo cũng sẽ được nhân dân che chở, giải tỏa nếu người lãnh đạo giãi bày, hòa lòng cùng dân chúng. Cách đây 724 năm, Hội nghị do vua Trần Nhân Tông triệu tập ở điện Diên Hồng để bàn bạc công khai với các bô lão dân gian đã giúp triều đình nhà Trần có được quyết sách cương quyết, khôn khéo để bảo vệ lãnh thổ trước sức mạnh vũ bão của vó ngựa giặc Nguyên-Mông. “ Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa thì cũng đành lòng” ( trích Hịch Tướng sĩ của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn). Chỉ cần thấy lại tâm tư này của giới lãnh đạo nhà Trần với quân dân nước Việt lúc đó, chúng ta có thể hiểu được tại sao đất nước nhỏ bé, cô đơn của Việt Nam chúng ta cách đây hơn 700 năm đã đánh bại ba cuộc xâm lược liên tiếp của một đế quốc to lớn đã từng tung hoành khắp Âu-Á. Lùi xa thêm 200 năm nữa, vào năm 1084 ngay sau cuộc chiến với quân Tống, trong một lá thư gửi cho vua nhà Tống để đòi lại đất, vua Lý Nhân Tông đã viết: “ Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng.” Tấm lòng thương nước của một vị vua đến như thế thì cũng không khó hiểu sau đó nước đại Tống phương Bắc đã phải trả lại đất cho nước Đại Việt vẫn còn vô cùng nhỏ bé của chúng ta khi đó.

Chúng tôi hiểu rằng, là người Việt Nam yêu nước và đặc biệt đang giữ trọng trách lãnh đạo đất nước, sẽ không thể thờ ơ và yên lòng khi ngoại bang có hành vi ngang ngược thôn tính giang sơn gấm vóc do tổ tiên để lại. Nhưng lòng yêu Tổ Quốc và thái độ trước quân xâm lược của những người lãnh đạo một đất nước đã có truyền thống quật cường không nên và không thể biểu tỏ bằng sự im lặng quá lâu. Đây là một sự im lặng vô cùng nguy hiểm. Nó sẽ khích động thêm lòng ham muốn của chính quyền bành trướng ngoại bang và gây bất mãn, phẫn nộ to lớn trong dân chúng.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy sẽ không có một lực lượng đơn lẻ, một chính quyền tách rời dân chúng nào có thể một mình chống trả được ý đồ thôn tính từ phương Bắc.

Lịch sử dân tộc cũng cho thấy không một nhà lãnh đạo đất nước, một chính quyền nào có thể chối bỏ được trách nhiệm to lớn nhưng đầy vinh dự trong việc nâng niu, kêu gọi lòng yêu nước, tập hợp sức mạnh trí tuệ, vật chất từ quần chúng trước hành vi xâm lăng của ngoại bang.

Công cuộc gìn giữ và bảo vệ non sông Tổ Quốc Việt Nam qua mấy ngàn năm luôn là một công việc trường kỳ, gian khó và phức tạp, nhưng để có giang sơn gấm vóc cho chúng ta như ngày hôm nay, các bậc tiền nhân lãnh đạo yêu nước đã luôn có chung một tấm lòng quảng đại gạt mọi sự khác biệt, hiềm khích riêng tư để cùng đồng lòng trên dưới như một, hòa lòng cùng với toàn dân để tạo thành khối sức mạnh to lớn đặng đưa Tổ Quốc vượt qua mọi thời khắc lâm nguy.

Thưa các Cụ, các Quí vị,

Việc nước không của riêng ai, nhưng nếu ai cũng chờ đợi người khác làm trước thì có lẽ đất nước đã không còn đến ngày hôm nay. Vô cùng xúc động và hưởng ứng những cá nhân, đoàn thể khác đã lên tiếng, góp ý về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, chúng tôi, những người ký tên dưới đây xin kêu gọi các Cụ, các Quí vị hãy đồng lòng với chúng tôi để góp thêm tiếng nói cho công cuộc bảo vệ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại, bằng những kiến nghị khẩn thiết sau đây:

1.      Yêu cầu Quốc hội – cơ quan đại diện lớn nhất của dân, Mặt trận Tổ quốc Việt nam – tổ chức chính trị tập hợp ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, Chính phủ – cơ quan điều hành quản lý đất nước, phải có ngay một tuyên bố rõ ràng về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và thái độ kiên quyết phản đối sự xâm phạm lãnh thổ của Trung Quốc. Tuyên bố này cần thiết để minh xác ý chí thống nhất giữa nhân dân và Nhà nước Việt Nam cùng đồng lòng trong việc bảo vệ đất nước, và xóa tan mọi âm mưu chia rẽ có thể của các thế lực bành trướng ngoại bang.

2.      Yêu cầu Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc tập hợp, nghiên cứu các cứ liệu, giải pháp đề xuất của mọi người dân trong và ngoài nước về vấn đề đấu tranh, bảo vệ lãnh thổ trước sự xâm lấn của Trung Quốc, để sớm có sách lược cụ thể công khai cho toàn dân tỏ rõ. ( đề nghị tham khảo tập sách “ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành 02/2008 )

3.      Kêu gọi Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt nam với vai trò nắm quyền lãnh đạo đất nước hiện nay cần phải hết sức lắng nghe, trân trọng, đoàn kết với mọi cá nhân, lực lượng yêu nước của dân tộc trong việc bảo vệ và chấn hưng đất nước.

 

4.      Yêu cầu ông Bộ trưởng bộ Công an chỉ đạo dừng mọi hành vi sách nhiễu, gây khó khăn đối với những người dân muốn thể hiện lòng yêu nước trong trật tự, ôn hòa tại nơi công cộng.

5.      Kêu gọi mọi người dân Việt Nam không kể trai gái, già trẻ, địa vị, chính kiến, cư trú trong hay ngoài nước hãy cùng đoàn kết một lòng để đóng góp trong sự nghiệp giữ gìn, đòi lại lãnh thổ và chấn hưng đất nước.

Xin kính gửi lời chào trân trọng tới các Cụ, các Quí vị và xin chân thành cảm ơn sự hưởng ứng, trợ giúp, đóng góp của các Cụ, các Quí vị trong thời gian tới.

 

                                      Hà nội, ngày 23 tháng 04 năm 2008

                                                Những người viết bản kiến nghị

                            

1. Trần Đức Quế – cựu chuyên viên vận tải. Hiện cư trú tại quận Thanh Xuân – Hà nội.

2. Nguyễn Gia Năng – cựu chuyên viên vận tải. Hiện cư trú tại Giáp bát – Hà nội.

3. Nguyễn Ngọc Nam – cựu giảng viên Đại học nông nghiệpI. Cư trú tại nhà D2 Thanh xuân – Hà nội.

4. Phạm Văn Hiện – đại tá, cựu chánh văn phòng bộ phận B68. Hiện cư trú tại 90 Hoàng Đạo Thành – Hà nội.

5. Vũ Thuần – 83 tuổi đời, 58 tuổi đảng cộng sản, huân chương độc lập.

6. Nguyễn Đức Thiệp – cựu chiến binh, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, Hà nội.

7. Nguyễn Minh Phục – cựu chiến binh, quận Hoàng Mai, Hà nội.

8.  Trần Bá – cựu chiến binh. Cư trú tại 53 Cầu gỗ – Hà nội.

9. Lê Hữu Hà – lão thành cách mạng.

10. Nguyễn Văn Bé – cán bộ tiền khởi nghĩa, cựu ủy viên thường trực ban liên lạc 23-10, huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

11. Nguyễn Văn Tuyến – đại tá quân đội, 60 năm tuổi đảng cộng sản, 83 tuổi đời. Cư trú tại phòng 106 – C19 – Thanh Xuân bắc – Hà nội

http://www.doi-thoai.com/baimoi0408_339.html

Hình Ảnh Quân Đội Trung Cộng Hiện Diện Trên Hoàng Sa

Thư gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Đài Bắc,  24/4/2008

Người gởi : Lê Trung Thành

-Công dân Việt Nam

-Hiện đang là sinh viên ngành kiến trúc tại Đài Bắc , Đài Loan

 

Kính thưa ngài thủ tướng.

 

Ngày 29/4 này, lễ rước đuốc Olmypic 2008 sẽ diễn ra tại TpHCM.

 

Nhân cơ hội này, tôi viết thư cho ngài để mong muốn tổ chức thành công cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa –Trường Sa nhân dịp ngọn lửa thiêng thế vận hội đến Việt Nam.

 

Thiết nghĩ đó cũng là mong muốn của tất cả những người dân Việt Nam còn tha thiết đến lãnh thổ của quốc gia trước mưu đồ xâm lăng của Trung Quốc.

 

Tôi tin tưởng rằng ngài cũng cùng chung quan điểm là nếu chúng ta tổ chức thành công cuộc biểu tình trong không khí ôn hòa, bất bạo động thì cũng đồng nghĩa với việc tổ chức thành công lễ rước đuốc Olympic. Đó là lý do tôi viết lá thư này để đệ trình lên ngài.

Cũng với cùng mục đích đấy, hôm 19/04, khi ngọn đuốc Olympic đến thủ đô Bangkok – Thái Lan, tôi là người đã mang thông điệp “Hoàng Sa- Trường Sa là của Việt Nam” đến với truyền thông quốc tế và tố cáo hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt nam của Trung Quốc.

 

Thông điệp của tôi đã gây nhiều chú ý với các hãng truyền thông và bạn bè quốc tế có mặt tại hiện trường ngày hôm đó với tất cả thiện cảm dành cho đất nước chúng ta.

 Đây là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cũng là một kinh nghiệm tốt cho tôi và tất cả bạn bè của tôi để có cung cách hành xử xứng đáng trong ngày 29/04 này tại TpHCM.

 

Nay tôi xin có đôi lời như sau:

 

1. Chính quyền và cảnh Sát Thái Lan đã để lại một ấn tượng thật tốt đẹp cho tất cả mọi người khi họ đã dành cho đoàn người biểu tình một vị trí rất đặc biệt trước trụ sở liên hợp quốc, và nhẹ nhàng đề nghị đoàn người biểu tình tránh các hành vi quá khích.

Người ủng hộ và người phản đối có những cách biểu lộ cảm xúc riêng của mình trong vòng trật tự và cảnh sát đã hoàn thành nhiệm vụ là giữ gìn an ninh trật tự .

 

 

2. Thiết nghĩ, tôi và ngài, chúng ta đều là công dân Việt Nam nên đều có trách nhiệm bảo vệ và trung thành với Tổ quốc. Điều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 (các điều 8, 9, 31, 69, 76).

Trong vấn đề “Hoàng Sa và Trường Sa” chúng ta đều có nghĩa vụ phải lên tiếng phản đối, vì nếu chúng ta im lặng tức là đồng ý mất Hoàng Sa Trường Sa.

Nhưng nếu vì lý do ngoại giao, Nhà nước Việt Nam nên giúp đỡ các công dân Việt Nam muốn biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc có thể thực hiện quyền và bổn phận của họ đối với Tổ quốc một cách hợp hiến và hợp pháp.

 

3. Vào lúc 11 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 2008 chúng tôi, những người mang trái tim Việt Nam, sẽ tập hợp trước nhà hát thành phố, mang theo băng rôn biểu ngữ để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa trên tinh thần ôn hòa, bất bạo động.

Về phía chính quyền, tôi đề nghị ngài thủ tướng yêu cầu các lực lượng an ninh, cảnh sát có nhiệm vụ phải bảo đảm trật tự và an toàn cho đoàn người biểu tình.

 

4. Tôi cũng đã thông tin cho giới báo chí và truyền thông quốc tế vào ngày hôm ấy sẽ đến quan sát và ghi lại những hình ảnh để cả thế giới sẽ nhìn về chúng ta với tất cả thiện cảm.

Đó là những công dân Việt Nam thực hiện quyền yêu Tổ quốc biểu tình ôn hòa để phản đối âm mưu dùng Thế Vận Hội để thôn tính lãnh thổ Việt Nam

Đó cũng là thái độ của lực lượng cảnh sát, công an Việt Nam nghiêm chỉnh trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự công cộng cho cả ngọn đuốc Olympic 2008 lẫn những người biểu tình phản đối thế lực âm mưu chính trị hóa tinh thần thể thao Thế Vận Hội.

 

Là người Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ khiếp sợ trước quân xâm lược phương Bắc. Tôi xin mời ngài hãy đọc lại những trang sử hào hùng của dân tộc để có thêm dũng khí khi đối mặt với những quyết định khó khăn :

 

Bình Ngô đại cáo

Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.

 
 

 

 

 

Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống

Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Thưa ngài thủ tướng, lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước cha ông ta chưa bao giờ khiếp sợ trước quân xâm lược phương bắc.

 Ngày nay, tôi cũng tin rằng tất cả mọi người Việt Nam, trong đó có ngài và tôi, đều mong muốn quyền và bổn phận công dân của người Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ nằm trong quyền quyết định của Trung Quốc

Do đó, ngày 19/4 vừa qua tại Bangkok, mang trong mình khí thế đấu tranh cho đất nước, nhưng tôi thật sự thấy tủi nhục khi phải quỳ trên Tổ quốc khác để đấu tranh cho Tổ quốc của mình .

Xin lưu ý thêm là khi lá thư này đến tay của ngài thì cũng là lúc nó đã được phổ biến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Chúng tôi, những người Việt Nam quan tâm đến vận nước đang chờ mong phúc đáp của ngài.

Cuối cùng tôi xin gởi đến ngài lời chúc sức khỏe và tinh thần minh mẫn để luôn sáng suốt trên con đường lãnh đạo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc .

 

Trân trọng . 

Ký tên : Lê Trung Thành


http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y

April 9, 2008

TÂY TẠNG HÔM NAY CŨNG CÓ THỂ LÀ VIỆT NAM NGÀY MAI

Lý Đại Nguyên

Cuộc biểu tình khởi sự ôn hòa tại Lhasa ngày 10/03/08, đánh dấu kỷ niệm cuộc khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng chống lại chế độ cai trị của Trung Cộng xâm lược năm 1959, do khoảng 300 tăng sĩ phát xuất từ tu viện Drepung xếp hàng một, trang nghiêm tiến vào thủ phủ Lhasa, rồi bị công an, quân đội Trung Cộng trấn áp. Nhưng chỉ 4 ngày sau, tình trạng bạo động bỗng nổ ra, và các cuộc đàn áp đẫm máu tiếp diễn. Trung Cộng đổ lỗi cho nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dàn dựng ra cuộc bạo động chống lại họ. Phát ngôn viên bộ Công An Trung Cộng, Ngô Hòa Bình nói rằng: “Kế hoạch sắp tới của các lực lượng đấu trang đòi độc lập cho Tây Tạng là tổ chức những đội tự sát để mở các cuộc tấn công bạo động”. Trung Cộng không quên ngụy tạo ra những bằng chứng giả, nhằm làm cho hình ảnh hòa bình, từ tâm, nhân ái. liễu đạo của Đức Đạt Lai Lạt Ma và chủ trương đòi hỏi quyền tự trị rộng rãi cho Tây Tạng đang đuợc toàn thể thế giới kính trọng, khâm phục bị tiêu tan.

Dư luận thế giới khâm phục, không chỉ vì đức độ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, mà còn do tầm nhìn quán suốt của Ngài về thực tại của thế nước Tây Tạng, trước sức bành trướng khủng khiếp của Trung Cộng. Với chủ trương triệt để “Hán Hóa Tây Tạng”. Với 7 triệu người Tầu thực dụng, trùm phủ lên 6 triệu người Tây Tạng bị trị. Với một chế độ độc tài cộng sản, gian trá, khát máu, tàn bạo bậc nhất toàn cầu. Nếu Ngài cứ đòi độc lập, và dùng phương pháp đấu tranh bạo lực, như một số lãnh tụ quốc gia lưu vong bình thường khác, trong lúc các cường quốc đua nhau làm ăn với Trung Hoa thì lập tức Ngài bị bỏ rơi, dân tộc của Ngài lâm vào cảnh đấu tranh vô vọng, đi tới chỗ hoàn toàn bị tiêu diệt.

Chính vì vậy, mà Ngài đề cao tinh thần từ bi bất bạo động, và chỉ đòi hỏi cho Tây Tạng được tự trị rộng rãi, tránh nạn “diệt chủng văn hóa”. Ở điểm này khiến cho thế giới, nhất là các cường quốc dân chủ đều đã mặc nhiên nhìn nhận Ngài là một biểu tượng cho tinh thần hòa bình, tự do, nhân quyền chung của nhân loại. Các lãnh tụ chính trị quốc tế đã tiếp rước Ngài trọng thể, mặc cho Trung Cộng cay cú phản đối. Bởi vậy, Trung Cộng đã tìm mọi cách, mọi cơ hội để chống lại với cuộc vận động quốc tế về nhân quyền và tự trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mà cách hữu hiệu nhất là làm mất chính danh, chính nghĩa của cuộc đấu tranh ôn hòa bất bạo động cho nền tự trị Tây Tạng trước dư luận quốc tế, biến thành cuộc tranh đấu bạo động đòi độc lập cho Tây Tạng, đó là điều Trung Cộng dự mưu từ lâu. Đến đây thì có thể giải thích cho cuộc biểu tình ôn hòa của chư tăng ngày 10/03/08, bỗng thành cuộc bạo động, tàn phá, đẫm máu, để Trung Cộng mau mắn mời báo chí, ngoại giao quốc tế đến Lhasa để đổ tội bạo hành cho các nhà sư ôn hòa và dân chúng Tây Tạng hiền lành xuống đường đòi nhân quyền và tự trị.

Theo nhà báo Gordon Thomas trên tờ Canada Free Press, ngày 21/03/08, đặt câu hỏi, để tự trả lời: “Vì sao cuộc tranh đấu cho nhân quyền và tự trị của các nhà sư Tây Tạng vốn yêu chuộng hòa bình bỗng nhiên có các cảnh bạo lực như đốt nhà, đốt xe, đập phá nhà cửa, hành hung người …? Thực ra đó là công an Trung Quốc mặc áo cà sa giả làm sư, cố ý bạo động để bêu xấu cuộc chiến vì tự do dân chủ của dân tộc Tây Tạng, những người bản tính rất hòa bình”. Trong bản tin đó có ghi lại một xác minh của GCHQ, tức là Sở Truyền Thông Chính Phủ Anh, nói là “mạng theo dõi truyền thông điện tử của sở này từ vệ tinh lấy các sóng tín hiệu từ không gian đã xác nhận lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma rằng, chính nhân viên an ninh Trung Quốc đã giả trang làm sư để kích động bạo loạn và làm hàng trăm người Tây Tạng chết hay bị thương. Đây là quyết định của chính phủ Bắc Kinh muốn lấy cớ để dẹp một lần cho xong những bất mãn âm ỉ ở Tây Tạng, nơi đang thu hút sự chú ý của thế giới, khi sắp tới lễ hội Thế Vận 2008”. Song song với tin này thì một tấm ảnh được Ủy Ban Nhân Quyền Tây Tạng phổ biến cho thấy nhiều binh sĩ Trung Cộng với đầu trọc, tay ôm áo cà sa màu nâu đỏ, có ghi là scan lại từ bìa của bản phúc trình của ủy ban này năm 2003, và viết rằng, vì các nhà sư không chịu tham gia đóng một cuốn phim, nên binh lính Trung Quốc nhận lệnh phải mặc áo sư để giả trang.

Việc giả mạo, gán tội, lừa dối dư luận là nghề của người cộng sản, họ không làm thế mới là lạ. Với người Tu Sỉ Phật Giáo Tây Tạng hiếu hòa thì Trung Cộng biến thành hung ác trước mắt thế giới. Với người Tu Sĩ Hồi Giáo Tân Cương, vì luật Hồi Giáo vốn cấm ăn thịt heo, thì Trung Cộng bắt giam bỏ đói các tu sĩ rồi bắt họ phải ăn cơm với thịt heo để quay thành phim phổ biến, làm cho họ phạm giới, hết được tín hữu nhận là tu sĩ nữa. Đồng thời quy chụp cho cuộc đấu tranh của người Uighur giành độc lập ở Tân Cương thuộc phe Hồi Giáo quá khích khủng bố, khiến thế giới bỏ rơi, để thằng tay tiêu diệt. Cộng Sản vốn thâm độc, mà Cộng Sản Tầu càng thâm độc hơn. Nhưng với biến cố Tây Tạng hiện nay thì Trung Cộng không còn mập mờ đánh lận con đen được nữa. Nên áp lực thế giới mỗi ngày một mạnh lên tổ chức Thế Vận Hội Bắc Kinh, khiến Trung Cộng dù vẫn hung hăng lên án Đức Đại Lai Lạt Ma và đàn áp người Tây Tạng, nhưng Ôn Gia Bảo thủ tướng Trung Cộng hôm 30/03/08, đã phải đánh tiếng: “Bắc Kinh sẽ nối lại cuộc đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nếu Ngài từ bỏ lời kêu gọi độc lập cho Tây Tạng, và thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan và Tây Tạng”. Thực ra thì Đức Đạt Lai Lạt Ma đâu có đòi Tây Tạng Độc Lập, còn tân tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng cũng chẳng chủ trương 2 nước Trung Hoa độc lập. Đúng là giết không nổi tha làm phước.

Nhưng như vậy, không có nghĩa là Trung Cộng đã dứt bỏ tham vọng bành trướng ra các nước chung quanh, hấp dẫn nhất vẫn là những nước còn nằm dưới chế độ độc tài, chống lại dân chúng của chính mình, như Miến Điện, Campuchia, Lào và Việt Nam. Ở Miến Điện thì hầu như cả về tài nguyên, kinh tế, chính tri, quân sự đều đã nằm trong tay Trung Cộng. Campuchia thì Trung Cộng dùng viện trợ để bành trướng thế lực. Riêng Lào thì Trung Cộng vừa viện trợ kiến thiết, vừa tràn người vào xứ cộng sản độc tài nhỏ bé, mà dân chúng hiền hòa theo Đạo Phật này, để biến thành Tây Tạng Thứ Hai, vì dân số Lào cũng chỉ có 6 triệu, mà dân Tầu có mặt ở đây cũng đã gần số triệu. Nếu Lào hoàn toàn lọt vào tay Trung Cộng thì Việt nam lâm nguy. Vì Việt Nam vẫn do cộng đảng lãnh đạo, vẫn nhận chịu số phận làm đàn em của Tầu Cộng, vẫn nhận lệnh quan thầy để tiêu diệt tinh thần Dân Tộc nơi tuổi trẻ Việt Nam, chưa thực sự Dân Chủ Hóa chế độ, thì dù Mỹ và các cường quốc Dân Chủ có đổ vốn đầu tư vào Việt Nam nhiều bao nhiêu, cũng không cứu Việt Nam khỏi số phận của Tây Tạng ngày mai. Đây là một vấn nạn được đặt ra cho Quốc Dân Việt Nam, cho Hoa Kỳ và cả Thế Giới Dân Chủ.

Lý Đại Nguyên
Little Saigon

April 8, 2008

Letter to Mr President of Olympic International Committe, Mr Jacques Rogge : Request to De-politicise the Beijing2008 Olympics

Filed under: english, Hoàng Sa Trường Sa, Kiến nghị, Olympic 2008 — Tags: , — tudo @ 5:40 am

From: Le Minh Phieu
A Beijing 2008 Olympic torch-bearer
Ph.D Candidate at Center for European and International Documentation and Research
Post-graduate School of Law – Bordeaux IV – Montesquieu University
Avenue Léon Duguit, 33600 Pessac, France
 Bordeaux, 7 April 2008
 
To: International Olympic Committee

Château de Vidy
1007 Lausanne
Switzerland


Attn : Count Jacques Rogge

President
 

Subject: Request to De-politicise the Beijing2008 Olympics

Dear Mr. President,

First of all, I am proud and delighted to inform you that I will be one of sixty Vietnamese nationals carrying the 2008 Beijing Olympic torch through Ho Chi Minh City on the coming 29th April 2008.

It is my great honour to have been chosen as a bearer of the Olympic torch – the symbol of olympism, of peace and of solidarity of all people in the world – which will be relayed in Vietnam for the first time. However, after studying closely the Planned Route Map for the Beijing 2008 Olympic and Paralympic Torch Relay published on the official website of the BOCOG, I find that the torch that I will bear is not the torch of pure olympism, but it is a torch of an olympism politicized by the the Beijing Organizing Committee for the Games of the XXIX Olympiad (“BOCOG”).

During the course of its historical developments, Vietnam has established its sovereignty over the Paracel islands. When Vietnam was divided into two parts by the 17th parallel according to the 1954 Geneva Agreements, this group of islands, located in the south of the 17th parallel, belonged to South Vietnam under the sovereignty of the Republic of Vietnam. After the country was united in 1975, according to the principles of succession of states under international law, the State of the Socialist Republic of Vietam obtained full sovereignty over the Paracel islands.

However, in 1974, China with their military forces invaded the Paracel islands. All the military forces of the Republic of Vietnam defending this group of islands were massacred by the Chinese army. Since then, the State of the Republic of Vietnam and subsequently the Socialist Republic of Vietnam have persistently demanded China to return the Paracel islands to Vietnam.

Nevertheless, China not only failed to return the Paracel islands to Vietnam but also demonstrated continual challenges of the Vietnamese sovereignty over these islands. China has constructed an airport on the Paracel islands, opened tourist routes to these islands and recently established the Sansha District to administer these islands. China is taking more and more steps to show their claim of sovereignty over the Paracel islands, the Vietnamese territory which they have invaded since 1974.

Even in hosting the 2008 Olympic and Paralymic games, China has not missed the opportunity to politicize the Olympic and Paralymic Games. Via the official website of the 2008 Beijing Olympics, China deceives the world that they have sovereignty over the Paracel islands, an area which China illegitimately took from Vietnam in 1974. I will prove this to you through the following:

1. The Planned Route Map for the Beijing 2008 Olympic Torch Relay (Appendix 1 to this letter) and the Planned Route Map for the Beijing 2008 Paralympic Torch Relay (Appendix 2 to this letter) intentionally depict the Paracel islands as a part of the Chinese territory. In the maps, all provinces, municipalities and regions of China were shown from the top to bottom by ascending shades from dark to bright. The Paracel islands (intentionally enlarged in an inset) are shown in similar colouring style while other areas not under Chinese sovereignty are not shown in such manner.

The world has thousands of islands and they are normally indicated by dots on maps of this scale. Some islands are not shown even by such dots on these two maps. It is therefore impossible to find a nonpolitical reason to justify why the Paracel islands alone are depicted to a larger scale and enlarged in an inset in such manner.

2. In the Planned Route Map for the Beijing 2008 Olympics – Detailed Itineray on the Chinese territory (Appendix 3 to this letter), the Paracel islands are also the only items which were curiously enlarged. The Paracel islands are therefore always depicted to a larger scale and enlarged in an inset. The inset, if clicked upon, is even further enlarged, showing the map of the Paracel islands with a caption « South China Sea Islands ».

If the BOCOG does not wish to politicise the Olympic Games, does not wish to take advantage of the official website of the BOCOG to tell the world that China has sovereignty over the Paracel islands, why would the map of the Olympic torch relay contain the above mentioned features?

According to Rule 51 entitled «Advertising, Demonstrations, Propaganda » of the Olympic Charter effective from 07 July 2007 (available at http://multimedia.olympic.org/pdf/en_report_122.pdf), ‘no kind of demonstration or political, religious or racial propaganda is permitted in any Olympic sites, venues or other areas”.

During one of your speeches on radio France 24, you referred to the above rule and stated that any athlete using the Beijing Olympics as a political forum would be punished.

In a press conference with the British Foreign Secretary Margaret Beckett on 18 May 2007, the Chinese Minister of Foreign Affairs also criticised the politicisation of the 2008 Beijing Olympics.

Thus, the politicisation of the Olympics was not only recognised in the Olympic Charter but also quoted by you, the head of the International Olympic Committee and the Chinese Foreign Minister.

But, the BOCOG can not be exempted from the duty to de-politicise the Olympics. The use of their website to politicise and disseminate their political agenda as explained above is inconsistent with the atheletic spirit of the Olympics, goes against the statements made by you and the Chinese Foreign Minister on the media and, particularly, a breach of the Olympic Charter.

Pursuant to Rule 2 of the Olympic Charter (Mission and Role of the International Olympic Committee) and Rule 36.3 (the composition of the Executive Body of the Olympic Organising Committee), the International Olympic Committee headed by you must be partly responsible for the above act of politicisation.

Therefore, I am writing to request that you take actions to procure that the above politicisation be ceased, by requesting the 2008 Beijing Olympic Organising Committee to take specific steps including, but not limited to:
- Removing the graphical details showing the Chinese sovereignty over the Paracel islands on all maps posted on the official website of the BOCOG.

In my goodwill, I believe that such action, if carried out, will clearly evidence the real depolitical attitude of the International Olympic Committee, the BOCOG and the Chinese Government. On the other hand, as long as the Plans Routed Map on official website of 2008 Beijing Olympic contain the politicising elements as stated above, the Olympic Charter will remain breached and all appeals for depoliticisation in a political situation challenging the Beijing 2008 Olmpic as currently exists, will lack conviction.

For transparency, I would like to inform you that this letter will be copied and distributed to the media in the world and released to the public. May I draw your attention to the fact that not only me, but also the media and the public will be waiting for your response and action. I also confirm that the content of this letter shows only my personal views and does not represent the views of any other individual, agency, organisation or government of any nation.

While I await your reply and action, may I convey to you my best wishes.

Yours sincerely,
Le Minh Phieu

Appendix 1:
The Planned Route Map for the Beijing 2008 Olympic Torch Relay on the official website of the 2008 Beijing Olympic Organising Committee
(Source: http://torchrelay.beijing2008.cn/en/journey/map/ )
http://i137.photobucket.com/albums/q213/leminhphieu/Phuluc1EN.jpg

Appendix 2
(source : http://torchrelay.beijing2008.cn/en/journey/map2/ )
http://i137.photobucket.com/albums/q213/leminhphieu/Phuluc2EN.jpg

Appendix 3
(source : http://torchrelay.beijing2008.cn/en/journey/map3/ ; http://torchrelay.beijing2008.cn/en/journey/map/)

http://i137.photobucket.com/albums/q213/leminhphieu/Phuluc3EN.jpg (CLICK here !! pls)

http://tiengnoitudo.wordpress.com/2008/04/08/th%c6%b0-g%e1%bb%adi-ch%e1%bb%a7-t%e1%bb%8bch-%e1%bb%a6y-ban-olympic-qu%e1%bb%91c-t%e1%ba%bf-b%e1%ba%a3n-ti%e1%ba%bfng-vi%e1%bb%87t-anh-va-phap/

http://blog.360.yahoo.com/blog-qKfmKgM9fqvmBC219LPdVL0rbx8G6Q–?cq=1
—-

http://torchrelay.beijing2008.cn/


Tin liên quan:
-  Thư gửi Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế  Lê Minh Phiếu
- Báo chí tại VN đăng tải tác giả bài viết được “trúng tuyển nghĩa vụ” rước đước Olympic Bắc Kinh 2008:
(21/3/2008 )
www.samsungruocduoc.com.vn


http://www.thanhnien.com.vn/Thegioitre/2008/3/21/231198.tno
http://vietbao.vn/The-gioi-tre/Samsung-da-tim-duoc-3-nguoi-tham-gia-ruoc-duoc-Olympic-2008/45276876/275/
http://quanphp.net/news/14/211/3112136/
http://www.samsung.com/vn/RuocduocOlympic2008

———
Liên quan:
- Thư gửi Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế (Bản Tiếng Việt, Anh và Pháp)
- Letter to Mr President of Olympic International Committe, Mr Jacques Rogge : Request to De-politicise the Beijing2008 Olympics

- Vài sự kiện và hình ảnh đáng ghi nhớ về Hoàng Sa, Trường sa
- Hải chiến Hoàng Sa
- Hải chiến Hoàng Sa 1974 – HS Trường Sa
- Bí ẩn về việc đảng Cộng-sản lãnh đạo nhà nước Việt-Nam nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc (kết quả hải chiến Hoàng sa 1974)
- Bài điều trần của Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ (IFA): việc đảng Cộng-sản Việt-Nam Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, hải phận cho TQ
- Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa và Trường sa như thế nào?
- Khả Năng Ðòi Lại Hòang Sa và Trường Sa Trên Phương Diện Pháp Lý(*)
- Lãnh thổ vẹn toàn : . . .”các con phải gìn giữ lấy ” . . . NHT
-

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.