Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 2, 2008

Đối thoại nhân quyền với CS ích lợi gì chăng ???

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 52 (01-06-2008 )

            Ngày 29-05-2006 vừa qua là vòng thứ 13 mà con cháu “Bác Hồ” và hậu duệ “Chú Sam” lại gặp nhau -lần này tại Hà Nội- để gọi là “đối thoại nhân quyền”, như thể hai bên chưa hề thống nhất ý kiến với nhau được về khái niệm căn bản và lý tưởng cao cả nhất đó của văn minh nhân loại hiện đại, mặc dầu Cộng sản Việt Nam đã thò tay ký vào hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ngày 24-9-1982. Đoàn Hoa Kỳ do ông David Kramer, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Nhân quyền, Dân chủ và Lao động dẫn đầu. Đoàn Việt Nam do ông Đoàn Xuân Hưng, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao hướng dẫn.

            Với giọng lưỡi gỗ như thường lệ, trưởng đoàn Việt Nam nhấn mạnh: Quan tâm và thúc đẩy các quyền con người cho mọi người dân Việt Nam luôn là ưu tiên, nền tảng và tư tưởng lớn xuyên suốt cho các chính sách luật pháp của Nhà nước Việt Nam… Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách cởi mở, thẳng thắn và xây dựng về các vấn đề hai bên cùng quan tâm, kể cả vấn đề nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và thu hẹp bất đồng, góp phần tạo dựng khuôn khổ hợp tác vì lợi ích của cả hai nước. Với kiểu ngụy biện như xưa rày, Việt Nam lên tiếng khẳng định: Chúng tôi có quan niệm nhân quyền riêng, phù hợp với đặc điểm lịch sử, chính trị, văn hoá của Á châu, của dân Việt”. Cũng với lối lừa gạt cố hữu, đoàn Việt Nam đã thông báo cho phía Hoa Kỳ những thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội, cải cách pháp luật, tự do tôn giáo, đảm bảo và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của người dân”. (Theo http://www.vnanet.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/251735 ).

            Nhiều người đã hy vọng vào cuộc hội ngộ này, “thà có đối thoại, còn hơn là không”. Nhưng những ai từng trải qua kinh nghiệm thấm thía lâu đời với CS, như luật sư Trần Thanh Hiệp, người từng có mặt trong cuộc hội đàm Paris năm 1972, thì cho biết: Tôi không mấy lạc quan để chờ đợi kết quả đáng kể của cuộc đối thoại sắp tới. Vì hai lý do. Một đằng tình trạng xấu về nhân quyền ở VN hiện nay là hậu quả đương nhiên của chính sách đàn áp cố hữu của Hà Nội. Mà về phía Hà Nội thì rõ ràng không có dấu hiệu nào cho thấy muốn chấm dứt chính sách ấy. Đằng khác, tuy trên thực tế Hoa Kỳ có thể đã có ít nhiều ảnh hưởng tới mức độ đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội, nhưng nếu cứ đi tìm thỏa thuận giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn để giải quyết vấn đề nhân quyền cho dân VN thì đã đặt sai vấn đề để gây ra rất nhiều tai hại. Hà Nội sẽ chỉ nhượng bộ Hoa Kỳ trong chừng mực không làm suy yếu thế lực đảng trị của mình… Cuộc đối thoại Mỹ-Việt về nhân quyền không phải bây giờ mới diễn ra mà đã được tiến hành từ lâu. Nhưng không vì vậy mà chính sách nhân quyền của Hà Nội đã thay đổi… Do đó, để cải thiện tình hình nhân quyền ở VN trước hết cần cải thiện phương thức đối thoại về nhân quyền. Cải thiện theo chiều hướng dân chủ hóa chế độ. Vì nhân quyền phải đi đôi với dân chủ. Nếu nhân quyền đi đôi với độc tài thì chỉ có đàn áp”. (RFA phỏng vấn ngày 23-05-2008 ). Quả thế, tự bản chất, độc tài, độc quyền, độc đảng có nghĩa là mọi nhân quyền đều bị chà đạp. Thao túng Quốc hội, làm gì có tự do bầu cử? Nắm lấy báo chí, làm gì có tự do ngôn luận? Khống chế tôn giáo, làm gì có tự do tín ngưỡng? Áp đặt học thuyết Mác, tư tưởng Hồ, làm gì có tự do giáo dục? Công cụ hóa công an quân đội, làm gì có tự do biểu tình? Tay sai hóa công đoàn, làm gì có tự do đình công? Lùa tất cả vào MTTQ, làm gì có tự do lập hội?..

            Ngoài ra, một điểm quan trọng trong đối thoại về nhân quyền, chính là sự có mặt của thành phần đang tạo nên vấn đề nhân quyền khiến Hoa Kỳ và Việt Nam phải ngồi lại. Nói cách khác, bàn thảo và quyết định về nhân quyền, dân quyền ở Việt Nam thì không thể thiếu tiếng nói, thiếu nguyện vọng của những nạn nhân là chính nhân dân Việt Nam, cụ thể là những thành phần đang bị bách hại hay đang lên tiếng chống lại bách hại. Hoa Kỳ -trong các vòng đối thoại- chỉ là người quan tâm, yêu chuộng, bênh vực, hay có thể tạm gọi là người làm ơn, nhưng không phải là người thụ ủy của những nạn nhân bị đàn áp. Vì thế, nếu không có thành phần thứ ba này, Cộng sản Việt Nam sẽ tìm những nhượng bộ làm cho Hoa Kỳ hài lòng (một trong những mánh lới mà họ là bậc thầy) để đổi lấy thế mạnh mà quay lại củng cố thế lực của đảng. Đây là kinh nghiệm xương máu cho dân Việt hồi hòa đàm Paris năm 1972, khi số phận nhân dân miền Nam bị định đoạt bởi cuộc đối thoại mật đàm Kissinger-Lê Đức Thọ, một kẻ thì dửng dưng với số phận đám dân da vàng ngoại tộc, một kẻ thì quyết tâm đưa đồng bào ruột thịt vào tròng Cộng sản quốc tế. Đây là điều mà Khối 8406 quốc nội đã đòi hỏi trong dự thảo Lộ trình Dân chủ do một thành viên ban đại diện của mình, kỹ sư Đỗ Nam Hải, đưa ra ngày 21-05-2008: Trong quý III-2008, chấp thuận một cuộc đối thọai về tự do, dân chủ và nhân quyền được tổ chức tại VN. Thành phần bao gồm 3 bên: quốc tế, nhà cầm quyền CSVN và những người dân chủ VN (trong và ngoài nước). Danh sách do 3 bên liên quan ở trên tự lập ra. Số lượng thành viên của mỗi bên phải bằng nhau. Từ trước đến nay, những cuộc đối thoại về dân chủ và nhân quyền được diễn ra chỉ có 2 bên tham gia là quốc tế và nhà cầm quyền CSVN. Điều này là hòan toàn bất bình đẳng và rất tai hại. Vì phía quốc tế chỉ được nghe, chỉ được thấy cách một chiều, phiến diện, che đậy… từ phía những kẻ đàn áp tự do là CSVN. Trong khi những người bị đàn áp thì không hề được có tiếng nói. Thực tế là họ bị nhà cầm quyền CSVN tước đoạt mọi vũ khí tự vệ, kể cả vũ khí tố cáo”.

            Mỉa mai thay, chính trong lúc chuẩn bị cho ngày đối thoại nhân quyền 29-05, nhà cầm quyền CSVN đã lập rất nhiều thành tích không giống ai, chỉ xin kể ra những thành tích nổi bật:

            - Trên phương diện tôn giáo : Ngoài việc thoán đoạt lấy quyền điều hành một đại lễ tôn giáo linh thiêng là Vesak Liên Hiệp Quốc 2008, biến những lãnh đạo tinh thần thành công cụ, chà đạp lên chính tư cách và bản chất tôn giáo (vốn phải độc lập), lừa gạt thế giới về chính sách tín ngưỡng của mình, nhà cầm quyền CSVN còn đàn áp dữ dội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước và trong những ngày đại lễ ấy. Từ đầu năm, liên tục sách nhiễu các Huynh trưởng Gia đình Phật tử tại 3 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngày 01-04-2008, cướp đất đai tài sản đồng thời hành hung tăng ni chùa Phước Huệ, tỉnh Quảng Trị. Cùng thời gian trên, ép buộc đạo hữu chùa Giác Hải huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng làm đơn tố cáo Thượng tọa Trú trì Thích Trí Khải, để mở chiến dịch đấu tố và cuối cùng trục xuất Thượng tọa. Tại TT- Huế thì trừng trị các Tăng sĩ và triệt hạ Phật học đường của Giáo hội PGTN; phá hủy tượng Quan Âm tại núi Ngự Bình. (Đơn tố cáo của Hòa thượng Thiện Hạnh ngày 24-04-2008). Trong những ngày này, còn cưỡng bức Thượng tọa Như Tấn, Ban Đại diện PGVNTN tỉnh Lâm Đồng đi làm việc liên tục, đến nỗi ngã bệnh; dùng vũ lực buộc Hoà thượng Tâm Mãn, trú trì chùa Sư tử Hống ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, tới đồn hạch hỏi thẩm vấn (Thông cáo báo chí phòng Thông tin PGQT ngày 28-5-2008 ).

            - Trên phương diện dân sinh : Điển hình và bi thảm nhất là việc đàn áp nông dân làng My Điền, xã Hoàng Ninh, Huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang suốt hai tháng nay. Sau khi lấy đất của họ để bán cho một chủ nhân Trung Quốc làm công ty sản xuất bao bì Hoa Hạ, đẩy họ vào thân phận nô lệ thời mới với đồng lương chết đói (khoảng từ 31 đến 44 USD/tháng), các viên chức chính quyền tham lam và gian xảo còn dùng lũ tay sai mù quáng và tàn bạo là công an đánh đập dã man công nhân và nông dân cùng làng đứng lên phản đối chủ nhân bất công. Chưa hết, mới đây, nhà cầm quyền CSVN còn đẩy dân làng My Điền vào chỗ chết bằng cách cướp đất của họ bán cho chủ nhân Đài Loan làm sân gôn. Dân đứng lên phản đối. Đội đặc nhiệm 113 và hàng ngàn công an trang bị vũ khí tận răng liền ập vào làng. Chúng đánh đập dã man những người dân tay không chạy ra giữa đường, nằm xuống mặt lộ, đào hào đào hố để cản xe, khiến nhiều người bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu, trong đó có hai phụ nữ bị đánh đến trụy thai.

            - Trên phương diện luật pháp : Ngày 5-5-2008, CSVN triệu tập tại Sài Gòn Hội nghị Góp ý Sửa đổi Luật Đất đai. Điều 63 khoản 1 Luật Đất đai này (26-11-2003) cho phép việc giao dịch trong thị trường bất động sản VN chỉ diễn ra trên căn bản quyền sử dụng đất chứ không là quyền sở hữu đất. Đến ngày 5-5-2008, điều khoản nói trên được đề nghị sửa đổi như sau : “Chính phủ qui định điều kiện để các đô thị, khu vực qui hoạch phát triển đô thị được phép thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở theo hình thức phân lô bán nền. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định khu vực được thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà để ở, để bán, cho thuê; khu vực được thực hiện dự án xây dựng nhà ở theo hình thức phân lô bán nền”. Nói vắn gọn, điều 63 khoản 1 sửa đổi sẽ cho phép chính phủ đứng ra bán đất (phân lô bán nền) và người mua đất được cấp chứng khoán điền thổ theo đúng luật sở hữu bất động sản của guồng máy kinh tế thị trường. Người mua ở đây hiển nhiên là giới tư bản đỏ và thân bằng quyến thuộc của họ. Đám người này sẽ có quyền sở hữu và cơ hội sở hữu đất đai cách vô giới hạn, trong lúc dân oan vẫn hoàn oan, dân nghèo vẫn hoàn nghèo, dân nông thôn vẫn triền miên đói khổ. Ngày xưa chủ ruộng là phú nông, là đại địa chủ. Ngày nay chủ ruộng hiển nhiên là đảng CS. Nông dân không gì khác hơn là đội ngũ bần cố nông, cày thuê cấy mướn. (Theo luật sư Đỗ Thái Nhiên).

            Thành ra, mọi cuộc đối thoại với CS độc tài sẽ chỉ là vô ích uổng công. CS đã đối thoại bao lần với thế giới, khi ký kết các văn kiện quốc tế về nhân quyền, tham dự các hội nghị quốc tế về nhân quyền. Vì đối với CS, ngôn ngữ không phải là phương tiện để trình bày bản chất sự việc, mà chỉ là công cụ để thu phục và lường gạt, hầu duy trì chế độ độc tài bóc lột lâu chừng nào tốt chừng ấy.

            BAN BIÊN TẬP

——————–
Ý kiến:
Một nhận định rất chính xác và đúng đắn !!
Đại đa số người dân VN (trên 70%) không có người đại diện chân chính trên bàn cờ đối thoại này từ bao nhiêu lần qua, kể cả những lần bàn thảo về HĐ Paris 1973 vì có những cuộc đi đêm song phương như đã nói. Đó là cuộc đối thoại, vỡ kịch không công bằng, bất cân xứng, chỉ có lợi cho đcsvn và những thế lực ngoại bang, có lợi cho dân VN rất ít và rất mất thì giờ !  Đcsvn không là đại diện của nhân dân VN vì có do đại đa số nhân dân VN bầu cử chọn lựa tự do đâu nào và dân VN không có quyền ứng cử, tranh cử, bầu cử tự do dân chủ !! Đây là 1 chế độ bất công, độc tài toàn trị, tướt đoạt quyền con người, dân quyền, phi dân chủ, không tự do, không ưu tiên phục vụ cho dân tộc và đất nước !!! Hiến pháp, luật pháp của cs chỉ là màn ảo thuật rẻ tiền, trân tráo, vô giá trị đ/v dân, chỉ áp dụng cho đảng viên đcs với nhau mà thôi ! Nhân dân VN, thành viên của cộng đồng nhân loại tiến bộ, chỉ áp dụng Hiến chương LHQ, công ước quốc tế mà cả csvn cũng đã tham gia ký kết, tuân hành !
Đcsvn tuyên truyền : ” xây dựng 1 xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” dựa trên 1 nền tảng BẤT CÔNG, ĐỘC TÀI : đó là bằng cớ của sự mâu thuẫn, láo lếu, hoang tưởng, lừa bịp !

May 18, 2008

Thư giản, châm biếm

Ở trong 1 nhà nước độc tài toàn trị : sống và làm việc theo luật rừng, luật bảo vệ guồng máy độc tài toàn trị, bất công, phi lý, cực kỳ lãng phí !  Người dân được “bảo vệ”, quản lý rất chặt chẻ từ : tư tưởng, đi, đứng, tụ tập, ở, ăn, nói, nhìn, nghe, ngủ, ị … 
Rất tự do, dân chủ kiểu xhcn, nghĩa là phi dân chủ, phản tự do. Rất ổn định, sống dưới nòng súng, trong nhà tù, tòa án rừng xanh, như  trên “núi lửa” .
Tuyên truyền, băng rôn, khẩu hiệu, hình ảnh ĐẦY phố phường, đài radio TV, nhưng thực tế là MỘT số KHÔNG TO TƯỚNG !!  Có tật nên giật mình, phải che đâỵ bằng quảng cáo mị dân !!
Trên bưng bít, bịt miệng, lừa bịp gian dối; dưới luồn lách dối gian để tồn tại; cả nước nhà nhà cùng giả dối để ” thuận ý đảng ” phản lòng dân, với chính sách công an trị phản dân chủ, không tự do, phi nhân bản, đầy bất công !

1959:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959

‘Điều 4

Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.” 
 

 

đcs núp bóng “nhân dân” , QH, … khá kỹ !


Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1980

Điều 4

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”

1975-1976-80 : csvn lòi đuôi cs ra, bỏ đảng Lao Động, cho MTGPMN về vườn.
1986 LX trên đà suy sụp, Chủ nghĩa Mac-Le sắp tiêu vong, ngưng viện trợ các nước xhcn “anh em”. Csvn buộc phải mở cửa để  “đổi mới” cứu đảng.
1987 csvn đề nghi Unesco “vinh danh HCM” vào năm 1990. Năm 1990 Unesco đã KHÔNG chấp thuận và không thực thi đề nghị này.  Nghĩa là csvn chuẫn bị “vực cái xác hcm dậy qua cái tư tưởng HCM” thay cho thuyết vô địch Mac-Le để cứu đảng không thành.
(lý do: bác Ho có NHIỀU ngày sinh, ngày chết; vụ thảm sát CCRĐ 1953-56; vụ giết vợ là Nông thi Xuân; vụ Mậu thân Huế 1968; vụ bác đạo văn qua tập thơ ” ngục trung nhật ký”; vụ “bac khiêm nhường” trong tập truyện “vừa đi đường vừa kể chuyện” mà Trần Dân Tiên chính là HCM; vụ  áp dụng tư tưởng của bác, gây cảnh vượt biên tìm tự do của đồng bào miền Nam sau 1975, chết khoảng 500 ngàn người; … vv)

1992:

Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992

“Điều 4

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Điều 4 này cũng là copy điều 6 của HP Liên Xô !
Các nước cs Đông âu, LX đã quăng Mac-Le và lá cờ đỏ búa liềm vào thùng rác từ 1989-1991.

—————-

- HOT: Ghi âm phỏng vấn Bộ GD&ĐT VN về biểu tình HSTS. Các công văn nghiêm cấm biểu tình

- Nóng phỏng tay: Ghi âm các sứ quán VN ở Châu Âu, Mỹ trả lời về biểu tình HSTS, Hiến Pháp…
- http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/12/041208_vietnam_airlines.shtml 
- SoOngVietNamAirline.mp3
- nguoioi PV cong an.mp3      điên đàm với anh công an “nhân dân”  để “giải quyết” chuyện C.A. bắt bớ SV  vì mang “tội yêu nước”.
- Dien_dam_quanChuc_cs  *

May 13, 2008

Tuần làm việc trước ngày 29/4/08 của PV Hải với công an “nhân dân”

Tối hôm Thứ Sáu, tôi nhận một cuộc điện thoại của anh Trường Giang (từ Vương quốc Anh). Anh cho biết có nghe tin một blogger bị đàn áp vì các bài viết trên blog nên đã phone để hỏi thăm.

Tôi cảm ơn anh Trường Giang và tất cả mọi người trong nước cũng như hải ngoại đã quan tâm và chia sẻ cho chủ nhân của trang blog này. Đồng thời, tôi cũng đính chính là không phải bị đàn áp, chỉ được “mời lên làm việc” và bị thu giữ một số thiết bị computer.

Mặc dù rất ngại ngồi viết bài ngay tại dịch vụ NET công cộng, nhưng tôi nghĩ nên có một bài tường thuật về tuần làm việc trước ngày 29/4 với cơ quan an ninh.

Cố gắng này của tôi chỉ để rộng đường dư luận, hy vọng là không vi phạm nghị định nào của Nhà nước!

7:58 sáng 22/4/2008, tôi có mặt tại phòng đợi trước cổng CA Tỉnh Khánh hòa (80, Trần Phú, NT) theo giấy mời trước đó 4 ngày.
Vài phút sau, một anh còn rất trẻ mang quân hàm thiếu úy đến và đưa tôi lên thẳng Phòng Bảo vệ chính trị PA38.
Tôi được gặp người mang quân hàm Thượng tá, tôi nhìn bảng tên và thấy đúng như đã ghi trong giấy mời. Ngày làm việc bắt đầu.

- Anh có biết chúng tôi mời anh lên đây vì chuyện gì không?
- Không. Tôi không biết. Trong giấy mời chỉ ghi là lên làm việc…
- Tôi biết. Nhưng anh có đoán là vì chuyện gì không?
- Đoán thì khó chính xác, nhưng tôi nghĩ là vì các bài viết của tôi trên mạng.

Tôi quan sát kỹ người đối diện, vị Thượng tá này tóc đã hoa râm, chắc khoảng chừng trên dưới 50. Tôi đoán tuổi rất kém nhưng cũng cố đoán vậy.
Ngoài ra, trong phòng còn có một nữ CA còn rất trẻ ghi biên bản và 3 người khác đều mang hàm Trung tá. Về sau có thêm một người khác nữa nhưng tôi không nhớ rõ cấp bậc. Suốt buổi làm việc, họ luân phiên hỏi tôi rất nhiều câu hỏi liên quan đến các bài viết trên blog.

- Anh có thấy các bài viết của mình gây hậu quả như thế nào không? – Vị Thượng tá tiếp tục hỏi.
- Tôi thấy các viết của mình không có gì sai trái cả. Đó chẳng qua là quan điểm cá nhân của tôi và tôi thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Giọng ông ta bắt đầu hơi gắt lại:
- Thế mà anh bảo không có gì sai? Anh có biết nó đã gây xôn xao dư luận như thế nào không?
- Tôi chỉ nêu những sự kiện có thật và viết theo cảm xúc của mình, còn hiểu nó như thế nào, tốt hay xấu là do nhận thức của người đọc. Tôi không biết được.

Đến phiên làm việc của một anh Trung tá khác còn trẻ, dáng người đậm và chắc.
- Đây có phải là các bài viết của anh không?
Tôi nhận một xấp giấy cỡ A4 in một số bài viết từ blog của mình.
- Nếu đúng thì anh hãy ghi rõ vào từng tờ: “Bài này do tôi viết và đưa lên mạng”, rồi ký và ghi đầy đủ họ tên vào đó!

Tôi bắt đầu viết và ký vào từng tờ. Đến bài “Tôi tự hào mình được gọi là ‘phản động’”, tôi nói: – Bài này không đủ, còn mất một đoạn sau!
- Phòng bên có máy vi tính nối mạng, anh sang đó tự mình in lại và ký!

Từ phía đầu bàn bên trái, vị Thượng tá bỗng nhiên hỏi:
- Anh có biết trình độ lập trình như anh ở Nha trang này có khoảng bao nhiêu người không?
- Không có số liệu nào thống kê, nên tôi không thể biết được!
- Thật uổng công nhà nước và bố mẹ cho anh ăn học đến trình độ như thế mà anh lại…
Tôi bắt đầu hơi mất bình tĩnh và ngắt lời:
- Chính vì tôi được ăn học đàng hoàng nên tôi mới chường mặt ra để viết những bài như vậy. Nếu không thì ngư dân bị bắn chết như thế nào, đảo bị chiếm làm sao tôi cũng không thèm quan tâm.

- Theo anh đánh giá thì các bài viết của anh có ảnh hưởng như thế nào?
- Tôi nghĩ sự thật hay mất lòng, tôi viết quá thẳng thắn nên có thể đụng chạm, mất lòng ai đó…
- Cụ thể là ai?
- Trước mắt là anh và anh, tôi chỉ vào hai người ngồi đối diện!
- Không phải là chúng tôi mà là Chính phủ, là Nhà nước này!
- Đành chịu thôi vì đó là cảm xúc thật của mình, tôi không nói khác được!

Đến phiên một vị Trung tá khác hỏi tôi, nhưng chỉ là những câu hỏi xã giao về nhân thân và gia đình. Chỉ có một câu mà sau này ngẫm lại tôi mới biết đó chính là sự chuẩn bị cho việc khám xét nhà tôi vào cuối buổi chiều hôm đó.

Lại đến phiên làm việc của một người khác, bây giờ phòng đã có thêm một người mà tôi không nhớ rõ cấp bậc như đã nói ở trên. Vì họ luân phiên hỏi, nên từ đây về sau trong bài tường thuật, tôi không thể nhớ rõ chính xác ai đã hỏi mình – tạm dùng danh xưng chung là “bên an ninh”.

- Anh tự hào mình là “phản động” lắm hả? Có gì đáng tự hào anh nói xem!
- Chuyện đó tôi đã phân tích rất rõ ràng trong bài viết trên blog!

- Các bài viết của anh dùng toàn là những từ nhạy cảm, “điên đảo” như thế nào mà anh dám gọi cái xã hội này điên đảo?
- Tôi thấy nó điên đảo thì tôi gọi là điên đảo!

Bên an ninh bắt đầu lớn tiếng:
- Anh phải nói rõ! Cụ thể ra!
- Cái này mấy trăm tờ báo trong nước đã nói quá nhiều. Tôi chỉ đơn cử một lĩnh vực là giáo dục: giáo dục tuột dốc như thế thì xã hội không điên đảo là gì?
- Chỉ một mặt cỏn con thế mà anh dám đánh giá cả xã hội này?
- Còn nhiều mặt nữa như tham nhũng, hối lộ… nhưng vì trước đây tôi đã từng là thầy giáo nên tôi chỉ nhấn mạnh vấn đề giáo dục. Theo tôi nghĩ, giáo dục là cái gốc của xã hội…
- Anh đã từng là thầy giáo mặc kệ anh, không thể vì một mặt nhỏ mà đánh giá cả xã hội được!
- Nhưng đó là nhận thức của tôi!

- Đây nữa, ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước mà anh dám gọi là “biến cố” hả?
- Ủa, biến cố là một sự cố gây nên một bước ngoặt, một biến đổi của lịch sử. Đúng quá còn gì, sao không thể dùng từ biến cố? Anh cũng nên biết ô. Võ Văn Kiệt có nói một câu đại ý rằng: Ngày 30/4 có mấy triệu người vui cũng có mấy triệu người buồn!
- Anh có biết ô. Võ Văn Kiệt là ai không?
- Có. Ông là cựu Thủ tướng! Nhưng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng như nhau. Tại sao tôi không được quyền nói?
- Nhưng ông ta được Nhà nước cho phép!
- Trời! Thế trong hiến pháp nói mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận là sao?
- Anh nên biết tự do ở đây phải nằm trong khuôn khổ quy định của luật pháp!
- !!!

- Cái đám ngụy quân mà anh lại dùng từ “binh sĩ Việt nam CH” hả?
- Họ là những người ngã xuống vì đất đai Tổ quốc, bất kể là ai tôi cũng ngưỡng mộ họ. Anh dùng từ “ngụy quân” là đi ngược lại chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, bây giờ phải gọi là “Khúc ruột ngàn dặm” hoặc…
- Khúc ruột gì bọn phản động…

Không khí trở nên căng thẳng do cả hai phía đều muốn ngắt lời nhau. Tôi đã tự nhủ trước buổi làm việc là phải bình tĩnh, không được ngắt lời người đối thoại, nhưng lại không kìm chế được.

Đối thoại tạm dừng, bên an ninh đưa ra một tập giấy in Nghị định của Chính phủ, lật đến một trang và nói:
- Anh đã vi phạm điều 41 khoản 5 điểm h của Nghị định 55/CP

Tôi xem thấy nội dung: “Đưa vào Internet để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Tôi gạch dưới cụm từ nội dung thông tin và nói:
- Có văn bản nào hướng dẫn cho biết nội dung thông tin nào là được phép và nội dung nào vi phạm không? Vì tôi thấy nội dung các bài viết của tôi không có gì sai trái cả.
- Thế mà anh bảo không có gì sai?
- Tôi chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân và cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc!
- Rõ ràng là quan điểm chính trị của anh có vấn đề. Hồi trước ở đại học môn chính trị anh được mấy điểm?
- Tôi tốt nghiệp mười mấy năm rồi, làm sao nhớ được? Không riêng gì môn chính trị mà các môn khác tôi cũng không nhớ. Nếu cần các anh có thể xem bảng điểm ở trường…

Tôi ăn trưa ngay tại bàn làm việc cùng với 4 an ninh PA38. Cơm hộp do phía an ninh cung cấp.
Tôi điện thoại về báo cho mẹ tôi biết mình phải ở lại trưa vì làm việc chưa xong, chiều làm tiếp!
Không khí nghỉ trưa thoải mái, chỉ là những câu chuyện xã giao đời thường giữa tôi và 2 an ninh trẻ, một anh là viên thiếu úy đã ra đón tôi tại cổng trực ban lúc sáng.

Buổi chiều, tiếp tục chất vấn vì tôi nhất định không ký vào biên bản vi phạm Nghị định 55CP ở trên.

- Anh có gửi bài cho báo Đàn Chim Việt ?
- Đúng vậy.
- Anh có biết ĐCV là tờ báo của tổ chức khủng bố Việt Tân không?
- Không, tôi không nghĩ như vậy
- Anh không biết gì về ĐCV mà lại gửi bài cho họ?
- Đơn giản vì tôi thấy đó là tờ báo của Người Việt hải ngoại, nội dung đọc cũng hay và vừa phải (ý tôi muốn nói lời lẽ trang này không nặng nề như một số trang khác), thì tôi gửi vậy thôi.
- Anh có biết Nhà nước đã cấm không được truy cập các trang web đen không?
- Tôi có biết. Nhưng tôi thấy trang DCVOnline không phải là trang web đen. Nếu theo quan điểm của nhà nước đó là trang web đen thì nên đưa ra một danh sách cụ thể gồm những trang nào để chúng tôi được biết!
- Anh vào trang ĐCV có gặp trở ngại gì không?
- Có lúc vào được, có lúc không.

- Anh có biết Đài RFA là đài chuyên nói xấu xuyên tạc chế độ không?
- Tôi không nghĩ vậy. Tôi thấy đài này đưa tin khách quan và đúng sự thật. Một số giáo sư, tiến sỹ trong nước cũng có trả lời phỏng vấn trên đài.
- Quan điểm chính trị của anh quá lệch lạc, tôi khuyên anh nên đi bác sỹ tâm lý!
- ???

- Anh có tham gia các cuộc biểu tình ở LSQ TS cuối năm 2007?
- Đúng vậy. Tôi có tham gia!
- Anh có biết việc biểu tình như vậy là vi phạm pháp luật không?
- Hiến pháp có ghi công dân được tự do hội họp, lập hội, biểu tình…
- Nhưng phải nằm trong quy định của luật pháp. Anh có xin phép không?
- Tôi nghe mọi người nói nước ta chưa có luật biểu tình nên không biết thủ tục tiến hành như thế nào. Với lại tôi không phải là người tổ chức biểu tình, tôi chỉ tham gia trong đoàn biểu tình để bày tỏ thái độ phản đối nhà cầm quyền BK…

Cuộc đối thoại còn khá dài nhưng càng lúc càng bế tắc vì quan điểm chúng tôi bất đồng.
Phía an ninh cũng nhận thấy điều đó nên khoảng hơn 15h cùng ngày, họ thực hiện phương án B. Họ yêu cầu tôi lên xe về nhà làm việc. Tôi từ chối vì lý do cả ngày làm việc mệt bây giờ đau đầu, mà quả thật tôi cũng đã quá mệt mỏi. Họ nói cứ về nhà đã, còn làm việc tiếp hay không là tùy anh!

Chiếc xe 12 chỗ với khoảng một chục an ninh PA38 tỉnh và Phòng ANND thành phố theo đường Trần Phú trực chỉ hướng bắc thành phố. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ tôi khi thấy số lượng lớn CA mặc cảnh phục trước cổng nhà mình, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán: Sóng biển Nha trang chiều nay thật xanh êm nhưng tôi còn tâm trí nào mà ngắm, tôi phải chuẩn bị làm sao cho sóng gió ở nhà mình sắp đến sẽ ở cấp độ nhỏ nhất!

http://pvhai.blogspot.com/2008/05/aweekbefore29042008.html
——
Ý kiến:
Kêu, mời lên “làm việc” :  kiếm cớ, ép buộc làm việc, hạch họe, đe dọa, gài bẩy kết án một cách độc đoán độc tài !   Thói này rất thường xảy ra ở những nước độc tài, vi phạm quyền con người, dân quyền !! Rất ít khi thấy ở những nước tự do dân chủ, tôn trọng pháp quyền hợp lý đúng đắn, thực sự ! 
Thiệt tình cái CA ngụy luận xhcn đỉnh cao trí tuệ, làm việc như cái robot !
Thế này thì dân không điên, không hèn, không nuốt nhục, không ấm ức, xã hội không băng hoại, nước không (sẽ) mất thì xã hội có gì thật không bình thường !  Yêu nước là cái “tội” ! Đúng là một xã hội đảo điên cai trị bởi lũ điên đảo, bán nước buôn dân cầu vinh !!
Mọi giá trị đúng đắn về công bằng, chân lý, lẽ phải, đạo lý, tự do, dân chủ đều bị cơ chế bóp méo, đảo ngược dưới thời xhcn VN !
Cả nước buộc phải luồn lách, nói dối theo để tồn tại vì cơ chế độc đoán độc tài, lừa bịp !!
Phải chăng đó là sự kém trí tuệ, mù quáng, ngông cuồng, tham tàn trí trá, ngoan cố vĩ đại … mãi tự chồng chất nghiệp chướng ?  Nếu không là tội ác là cái gì ??
29/4/2008 tại Saigon, HN cho thấy : VN đã mất chủ quyền, mất độc lập, mất tự do ! VN đã và đang bị ngoại bang xâm thực : giặc nội xâm và ngoại xâm, đúng như nhận định của Hà Si Phu, …vv !

Tài liệu liên quan:
Nghị quyết EU 1481 25/1/2006
Quốc tế nhân quyền, công ước
Hiến pháp   ( và luật rừng vi hiến, làm bởi QH bù nhìn của đảng không tính, không giá trị !)

Trang 257:HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI (chương XIII)

(Tiếp theo các trang 249, 250, 253)

HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG XIII

ĐỊA ĐIỂM MANG TÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ

(tiếp theo)

Trong khi tướng Na-va cố thực hiện giai đoạn đầu chiến lược của mình, các nhà chiến lược Việt Minh cũng vạch ra kế hoạch tác chiến cho chiến dịch năm 1953. Tại một cuộc họp Trung ương đầu năm , các nhà hoạch định chính sách của Đảng đã quyết định tránh đối đầu công khai với lực lượng thù địch trong tương lai gần đồng thời tìm điểm yếu trong lá chắn của địch, đặc biệt là ở Lào, Cam-pu-chi-a và vùng Tây Bắc. Chiến lược này không thay đổi trong cả năm, thậm chí ngay cả khi Na-va đã quyết định một cách rõ ràng là phải tập trung lực lượng ở đồng bằng sông Hồng để ngăn chặn mối đe doạ của Việt Minh đối với vùng phụ cận Hà Nội. Ông Võ Nguyên Giáp đề xuất tiến hành chiến dịch lớn ở đồng bằng với mục tiêu cuối cùng là đánh chiếm Hà Nội và Hải Phòng, những cố vấn Trung Quốc lại muốn có chiến lược thận trọng hơn tập trung vào vùng núi Tây Bắc. Hồ Chí Minh ủng hộ ý kiến của các cố vấn Trung Quốc và Bộ Chính trị đã chấp thuận ý kiến này vào tháng 9. Kế hoạch này dự kiến sẽ được khẳng định tại một cuộc họp của Quận uỷ Trung ương tháng 11.

Tin quân Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ đến tổng hành dinh của Việt Minh trong lúc các nhà chỉ huy quân sự đang chuẩn bị trình Quân uỷ Trung ương kế hoạch tấn công Pháp ở Lai Châu, vị trí quân sự biệt lập cách Điện Biên Phủ 50 cây số về hướng Bắc. Với các nhà lãnh đạo Việt Minh, nếu Việt Minh chiếm lại căn cứ này thì sẽ tác động tới tinh thần quân Pháp và chuẩn bị cho những bước tiếp theo trong những năm tới. Khu vực này cũng có những lợi thế chiến lược. Cách Hà Nội 320 cây số, quân Pháp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp viện cho Điện Biên Phủ.

Mặt khác, đánh Điện Biên Phủ sẽ là lần đầu tiên Việt Minh tấn công trực diện một căn cứ được lực lượng Pháp bảo vệ vững chắc. Tuy vậy, Điện Biên Phủ nằm ở thung lũng, gần biên giới với Trung Quốc và tổng hành dinh Việt Minh ở Việt Bắc cho phép Việt Minh dễ dàng chuyển khối lượng lớn vật dụng từ Trung Quốc. Sau khi tính toán kỹ lưỡng các khả năng và được cố vấn Trung Quốc và cấp trên ở Bắc Kinh khuyến khích, ngày 6 tháng 12, lãnh đạo Đảng quyết định tập trung nỗ lực trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong năm đó , lãnh đạo Đảng bắt dầu bí mật chuyển ba sư đoàn chủ lực mới được thành lập ở vùng núi quanh Điện Biên Phủ trong khi các đơn vị khác tiến vào Bắc Lào để đánh lạc hướng và buộc quân Pháp phải dàn trải lực lượng của mình.

Tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đột nhiên quyết định kêu gọi khẩn thiết đồng minhViệt Minh tham gia vào cuộc đụng đầu lớn với quân Pháp? Nghĩ cho cùng quyết định tấn công Điện Biên Phủ sẽ buộc Trung Quốc phải tăng viện trợ cả về chất và lượng; điểm mấu chốt dẫn đến thành công sẽ là khả năng pháo cao xạ của Việt Minh có thể làm yếu đi hoặc ngăn được quân Pháp tiếp viện và cung ứng cho khu vực này khi chiến sự leo thang. Mặc dù Bắc Kinh đã viện trợ cho Việt Minh trong cuộc chiến suốt ba năm và thấy được điểm lợi là vừa hoàn thành nghĩa vụ quốc tế Trung Quốc và bảo vệ biên giới phía Nam chống lại sự kiểm soát của đế quốc, trong những tháng đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu suy nghĩ. Tháng 7, ngừng bắn đã có hiệu lực ở bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc đã trả giá cao cho hành động can thiệp của Quân Giải phóng Nhân dân và đã có dấu hiệu chứng tỏ các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tìm cách cải thiện quan hệ với phương Tây để giảm bớt nguy cơ xung đột trong tương lai và tạo điều kiện cho chính phủ chuyển những nguồn lực hiếm hoi cho kế hoạch 5 năm tới. Trong môi trường mới, cách nhìn nhận ngày tận thế của Mao Trạch Đông về chiến tranh với đế quốc tất yếu ở châu Á đã mất đi sức mạnh. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 24 tháng 8, Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai tuyên bố rằng “các vấn đề khác” có thể được bàn đến tại Hội nghị hoà bình nhằm chấm dứt cuộc xung đột ở Triều Tiên. Tháng 12, ông thảo luận với các thành viên của một phái đoàn Ấn Độ về ý tưởng có một thoả thuận chung dựa trên những điều mà sau này trở thành “năm nguyên tắc chung sống hoà bình” giữa các quốc gia. Oa-sinh-tơn đã đáp lại một cách tế nhị khi Bộ trưởng Ngoại giao Đa-lét, trong một diễn văn cho đội quân lê dương Mỹ đầu tháng chín, đã gián tiếp nói rằng “Hoà Kỳ sẵn sàng xem xét một thoả thuận đàm phán để chấm dứt xung đột ở Đông Dương”.

Mát-xcơ-va cũng ngày càng quan tâm nhiều tới việc chấm dứt xung đột ở Đông Dương. Thủ tướng Liên Xô mới, ông Gioóc-gi Ma-len-cốp, đã trở thành nhân vật trên chính trường sau khi Giô-dép Xta-lin chết tháng ba. Ông có lý do phải có quan hệ tốt với phương Tây, kể cả việc phải giảm bớt ngân sách quốc phòng đã phình to để tập trung nguồn vốn hiếm hoi vào các dự án kinh tế. Cuối tháng 9, Liên Xô đề nghị họp hội nghị năm nước lớn nhằm giảm bớt tình hình căng thẳng quốc tế. Một vài ngày sau, Trung Quốc cũng làm như vây.

Quân Pháp chiếm Điện Biên Phủ đúng lúc các nhà lãnh đạo Trung Quốc (giống các nhà lãnh đạo Liên Xô) quyết định mở cuộc tấn công hoà bình nhằm đưa lại giải pháp đàm phán ở Đông Dương. Thắng lợi của Việt Minh ở Điện Biên Phủ có thể sẽ làm tình hình trong khu vực căng thẳng thêm khiến Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp. Mặt khác, điều này có thể làm tăng thêm phong trào chống chiến tranh ở Pháp và tạo điều kiện cho một hiệp định hoà bình có lợi cho Việt Minh và Trung Quốc. Với Bắc Kinh, họ sẵn sàng chấp nhận nước cờ rủi ro này.

Trong khi Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông chắc hẳn đã biết ơn Trung Quốc vì đã tăng cường giúp đỡ chiến dịch Tây Bắc, trước một loạt biểu hiện mong muốn có đàm phán hoà bình của các nước trên thế giới, Tổng hành dinh Việt Minh chắc đã có phản ứng thận trọng. Trong những tháng đầu của cuộc chiến khi Việt Minh rõ ràng yếu hơn kẻ thù của mình, ông Hồ đã bằng mọi cách cố gắng đạt được một giải pháp thoả hiệp. Điều kiện trên mặt trận ngày càng được cải thiện và Pháp rõ ràng không còn tìm kiếm một thắng lợi hoàn toàn thì rất có thể các nhà lãnh đạo Việt Minh cũng không mặn mà gì nữa với một thoả hiệp. Trong khi nói chuyện với ông Lê-ô Phi-ghe-rơ của Đảng Cộng sản Pháp tháng 3 năm 1950, ông Hồ nhấn mạnh rằng tuy vẫn muốn có một giải pháp thông qua thương lượng nhưng các nhà lãnh đạo Đảng không muốn có thoả hiệp lớn. Ông Trường Chinh thậm chí còn có thái độ thù địch hơn. Trong diễn văn kỷ niệm sáu năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tháng 9 năm 1951, ông Trường Chinh cảnh báo rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không bị dụ dỗ vào bàn đàm phán và nhất mực cho rằng cần phải “xoá bỏ mọi ảo tưởng của những kẻ cơ hội về đàm phán hoà bình với kẻ thù”. Khi Pa-ri có những bước thăm dò về một giải pháp thoả hiệp cuối năm 1952, Việt Nam Dân chủ Cộng hóa đã không để ý tới. Đến tháng 9 năm 1953, Hãng thông tấn (TASS) của Liên Xô đã đưa tin rằng trong diễn văn kỷ niệm lần thứ 8 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng chỉ có thắng lợi trên chiến trường mới đem lại hoà bình.

Tuy nhiên, vài tuần sau các nhà lãnh đạo Đảng Việt Nam quyết định theo đề nghị của Mát-xcơ-va và Bắc Kinh là tìm một giải pháp chính trị. Trong một bài phỏng vấn ngày 20 tháng 10 với phóng viên tờ Expesse của Thuỵ Điển, ông Hồ tuyên bố rằng chính phủ sẵn sàng tham dự hội nghị quốc tế nhằm tìm giải pháp hoà bình cho Đông Dương. Ông Hồ nói “Nếu chính phủ Pháp mong muốn đình chiến và giải quyết vấn đề Việt Nam thông qua thương lượng, thì nhân dân và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng xem xét đề nghị của Pháp”. Cuộc phỏng vấn này được báo chí thế giới đưa tin nhiều lần. Ít lâu sau, Bắc Kinh công khai bày tỏ sự dồng ý trong một xã luận của báo Nhân dân Nhật báo. Theo một nguồn ngoại giao Mỹ ở Sài Gòn, đề nghị tiến hành đàm phán hoà bình của ông Hồ đã gây ra một sự “khó hiểu, kinh ngạc và sợ hãi” trong những người Việt không cộng sản ở Sài Gòn.

Là người có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết rằng một giải pháp thông qua thương lượng là một khả năng tiến tới chấm rứt chiến tranh. Việc Hoa Kỳ tháng 7 năm 1953 quyết định tìm cách chấm dứt xung đột ở Triều Tiên là dấu hiệu an ủi cho thấy rằng đế quốc sẵn sàng nhượng bộ khi gặp phải khó khăn, tin tức này đã làm Việt Minh hy vong rằng Đông Dương có thể có một kết cục tương tự. Nhưng trong một bài diễn văn đọc trước một nhóm trí thức ở Việt Bắc sau đó vài tuần, ông Hồ lại cảnh báo rằng không nên có ảo tưởng là hoà bình sẽ đến một cách dễ dàng. Cũng như người Mỹ, người Pháp không sẵn sàng có nhượng bộ lớn trên bàn đàm phán trừ khi thua trên chiến trường. Ông cảnh báo rằng quân địch “đang bẫy chúng ta bằng mồi, nếu chúng ta vội vã như đàn cá và quên phải cảnh giác để tự vệ, chúng sẽ đánh bại”. Do vậy, điều quan trọng là phải cảnh giác và tiếp tục đấu tranh, thậm chí ngay cả khi Mỹ quyết định tham gia xung đột.

Trong tình hình như vậy, thậm chí ngay cả khi ông tỏ ý sẵn sàng tham gia hoà đàm, ông Hồ chắc phải có chút nghi ngờ vì điều kiện cho thắng lợi chưa hoàn toàn chín muồi như ông đã nêu với cộng sự của mình trong cuộc gặp tháng 11. Đồng thời, thái độ của Liên Xô và Trung Quốc là đáng lo ngại. Ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là cầm chừng, và do vậy không hy vọng gì nhiều từ Mát-xcơ-va. Nhưng sự ủng hộ vững chắc của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một phần trọng yếu trong chiến lược của Việt Minh, do vậy bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ Bắc Kinh sẵn sàng thoả hiệp vấn đề này vì lợi ích dân tộc của họ chắc sẽ làm ông Hồ và cộng sự của ông ở Việt Bắc càng lo lắng hơn.

Mặt khác, Hồ Chí Minh biết rằng Việt Minh không thể tiếp tục đấu tranh lâu dài nếu không có sự hỗ trợ hoàn toàn của Trung Quốc. Đây không phải là lần đầu ông Hồ chấp nhận phải nhượng bộ để tiếp tục chiến đấu. Về phần mình, Mát-xcơ-va và Bắc Kinh hầu như chẳng cần sự đồng ý của Hà Nội để bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của mình. Tại một Hội nghị tổ chức đầu năm 1954 ở Béc-lin, đại biểu các nước lớn thoả thuận rằng một hội nghị quốc tế khác sẽ được tổ chức tại Giơ-ne-vơ tháng 4 để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoà bình thế giới. Tuy chính quyền Ai-xen-hao khó chịu, Đông Dương và tình hình ở Triều Tiên đều nằm trong đề mục thảo luận. Tháng ba, một phái đoàn Việt Nam đến Bắc Kinh tham khảo ý kiến các quan chức Trung Quốc và xây dựng một chiến lược chung tại Giơ-ne-vơ. Ít lâu sau, một phái đoàn Việt Nam do Hồ Chí Minh dẫn đầu đi Bắc Kinh và Mát-xcơ-va để hoạch định chiến lược đàm phán chung với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô. Dựa trên kinh nghiệm đàm phán với Mỹ nhằm chấm dứt xung đột ở Triều Tiên, Trung Quốc và Liên Xô khuyên Việt Nam phải có mục tiêu “thực tế” tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Hai ngày sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ được công bố triệu tập, nguồn tin tình báo Pháp cho hay đơn vị Việt Minh ở thượng Lào đã chuyển quân theo hướng đông về Điện Biên Phủ. Mặc dù hoạt động của Việt Minh còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như Bắc Bộ, Tây Nguyên, Lào và hành lang Hà Nội-Hải Phòng-vào đầu tháng 3, tài liệu do Pháp bắt được cho thấy rằng Việt Minh đang chuẩn bị tấn công lớn ở vùng Tây Bắc và cuộc tấn công này sẽ phối hợp với cuộc đàm phán sắp tới tại Giơ-ne-vơ. Có thêm những dấu hiệu chứng tỏ viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Minh đã tăng nhiều, tăng khả năng Việt Minh thắng trận.

Lần nay, nguồn tin tình báo của Pháp đã đúng. Bắt đầu từ tháng 12, các đơn vị Việt Minh đã dần tập trung ở vùng núi bao quanh căn cứ của Pháp tại Điện Biên Phủ, trong khi hàng ngàn dân công được huy động để chuyển đạn dược và pháo cao xạ từ biên giới Trung Quốc đến khu vực này. Một người tham gia đã kể lại cho một nhà báo Mỹ:

“Chúng tôi phải vượt núi, băng rừng, ban đêm thì hành quân còn ban ngày thì ngủ để tránh bom của kẻ thù. Có lúc chung tôi ngủ hầm, có lúc chúng tôi ngủ ngay cạnh đường. Mỗi chúng tôi đeo súng, đạn và ba-lô. Chúng tôi có chăn, màn và một bộ quần áo. Mỗi người đều có đủ gạo ăn một tuần và được nhận thêm tại các trạm dọc đường. Chúng tôi ăn rau và măng lấy trong rừng và thỉnh thoảng dân làng lại cho chúng tôi thịt. Tôi đã tham gia Việt Minh chín năm rồi nên quen như vậy”.

Để mang lại điều thuận lợi cần thiết trên chiến trường nhằm đạt được một giải pháp hoà bình tại bàn hội nghị, trong vài tháng liền Trung Quốc tăng viện trợ quân sự. Theo một nguồn tin của Trung Quốc, hơn 2.00 xe tải, 10.000 thùng dầu, hơn 100 súng ca-nông, 60.000 đạn cao xạ, 3.000 súng và khoảng 1.700 tấn ngũ cốc đã được chuyển cho quân đội Việt Nam cố thủ quanh Điện Biên Phủ. Để khuyến khích cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam cố đạt được thắng lợi quân sự, Chu Ân Lai Gửi thông điệp sau: “ Nhằm giành thắng lợi trong lĩnh vực ngoại giao, chúng ta có thể cần phải tính đến việc giành thắng lợi mạnh ở Việt Nam trước đình chiến ở Triều Tiên”. Hồ Chí Minh hiểu rõ điều này. Trong một bức thư gửi ông Giáp tháng 12, ông viết: “Chiến dịch này rất quan trọng, không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt chính trị, không chỉ vì lý do trong nước mà còn vì lý do quốc tế nữa. Do vậy, toàn thể nhân dân ta, toàn thể lực lượng vũ trang ta và toàn thể Đảng ta phải đoàn kết để thực hiện việc này.”

Với ông Hồ và các cộng sự của ông, vấn đề không còn là liệu có tấn công cứ điểm quân Pháp hay không mà làm thế nào mà tấn công được. Ông Võ Nguyên Giáp vốn thận trọng ủng hộ kế hoạch làm suy yếu quân địch, sử dụng pháo binh bắn phá sân bay nhỏ ở thung lũng Điện Biên Phủ và cắt đường tiếp tế của quân Pháp. Quân Việt Minh sau đó có thể dần vô hiệu hoá hỏa lực của quân Pháp và chiếm từng cứ điểm bên ngoài căn cứ. Theo các nguồn tin Việt Nam, tướng Hoa Quốc Thanh, cố vấn cao cấp của trung Quốc, đã ủng hộ cách giải quyết khác, tiến hành cuộc tấn công thần tốc dựa trên chiến thuật “biển người” đã được các đơn vị giải phóng sử dụng rất có hiệu quả chống lại quân của Liên hợp quốc tại Triều Tiên.

Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Minh vào Điện Biên Phủ bắt đầu vào giữa tháng một. Việt Minh đã tập trung 23 tiểu đoàn chính quy bao gồm 50.000 quân ở vùng núi quanh cứ điểm. Số quân này đối chọi với kẻ địch gồm 16.000 quân. Ngoài lực lượng chính quy, Việt Minh có hơn 55.000 quân hỗ trợ và khoảng 100.000 dân công. Nhiều dân công là phụ nữ ở các tỉnh miền trung đã phải đi qua khu vực địch chiếm ở đồng bằng sông Hồng để đến được khu tập kết dọc biên giới Trung Quốc. “Đội quân tóc dài” này mang vác pháo và phương tiện chiến tranh khác hàng trăm dặm đường địa hình khó khăn đến khu vực căn cứ. Mỗi dân công chuyển trung bình 15 cân hàng qua 16 cây số đường rừng mỗi đêm. Tuy hầu hết hàng cung cấp là xăng dầu và đạn dược, nhưng cũng còn có những khẩu pháo lớn của Liên Xô được chuyển từng bộ phận từ biên giới Trung Quốc ở Lạng Sơn, cách hơn 300 cây số.

Trong giai đoạn đầu, những người tấn công đã theo lời khuyên của Trung Quốc sử dụng chiến thuật “biển người”, nhưng tổn nặng nề đến mức cuối tháng một, Bộ Tư lệnh Việt Nam (theo kêu gọi khẩn thiết của Bắc Kinh) đã đánh giá lại tình hình và quyết định chuyển sang cách đánh thận trọng hơn. Trong vài tuần sau đó, quân Việt Minh đào mấy trăm cây số giao thông hào để tiến vào hệ thống phòng thủ bên ngoài của Pháp mà không bị hoả lực của Pháp khống chế. Đồng thời quân Việt Minh cũng đào một loạt đường hầm quanh cứ điểm đã bị bao vây. Pháo được dân công chuyển từ biên giới Trung Quốc từng phần đến đã được lắp ráp lại tại chỗ và đặt bên trong đường hầm; pháo có thể di động nhanh giữa các địa điểm khác nhau, ngăn không cho quân Pháp dưới cứ điểm phát hiện chính xác điểm bắn.

Lúc đầu, hàng tiếp tế và quân tiếp cận đến bằng đường không, nhưng rồi sân bay bên ngoài căn cứ không thể sử dụng được nữa vì bị bắn phá rất ác liệt. Máy bay hạ cánh để dỡ đồ tiếp tế hầu như bị pháo của Việt Minh từ núi bao quanh cứ điểm bắn phá. Ít lâu sau, phi công Pháp buộc phải bay vội qua thung lũng và thả dù tiếp tế và tiếp viện. Cuối cùng hoả lực của Việt Minh mạnh đến mức quân tiếp viện nhảy dù xuống thường chết trước khi xuống được đến đất.

Tình hình càng nguy hiểm, quân Pháp càng khẩn thiết cầu cứu viện trợ của Mỹ. Vào giữa tháng 3, Pa-ri cử tướng Pôn Ê-ly đến Oa-sinh-tơn yêu cầu Mỹ tiến hành không kích để giảm căng thẳng cho cứ điểm của Pháp và bảo vệ cho cứ điểm này khỏi nguy cơ sụp đổ. Đề nghị này được đô đốc A-thơ-Rét-pho, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân và Phó Tổng thống Nich-xơn ủng hộ. Trong một cuộc nói chuyện với Đại sứ Pháp Hăng-ri Bô-nê ngày 28 tháng 4, Ních-xơn tuyên bố “ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Đô đốc Rét-pho và ủng hộ máy bay Mỹ can thiệp ồ ạt để cứu Điện Biên Phủ”. Nhưng Tổng thống Ai-xen-hao, do ý nguyện tham gia cuộc chiến trên bộ ở châu Á của ông đã giảm vì kết cục không dứt khoát của hành động can thiệp tại bán đảo Triều Tiên, lại chần chừ không muốn đưa quân vào Đông Dương nếu không bảo đảm rằng cuộc chiến đấu sẽ được thực hiện trên cơ sở đa phương và với điều kiện là Pháp phải hứa sẽ trao quyền độc lập hoàn toàn cho ba nước Đông Dương. Trong chuyến đi Luân Đôn, Pa-ri, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét phát hiện ra rằng cả Anh lẫn Pháp đều không đồng ý với điều kiện của Mỹ; Ai-xen-hao sau đó đã không chấp nhận yêu cầu của Pháp cung cấp yểm trợ bằng máy bay tuy vẫn thăm dò khả năng Mỹ can thiệp. Ai-xem-hao cũng chần chừ không muốn có một giải pháp thoả đáng trên bàn hội nghị.

Đầu tháng 5, Việt Minh thâm nhập vào tuyến phòng thủ bên ngoài của cứ điểm Điện Biên Phủ và bắt đầu bắn pháo vào các điểm bên trong. Theo nguồn tin của Trung Quốc, cuối cùng lòng tin của các nhà hoạch định kế hoạch chiến tranh của Việt Minh bị nao núng vì tổn thất lớn và mối đe doạ can thiệp của Mỹ. Với sự cổ vũ mạnh mẽ của Bắc Kinh, Việt Minh cuối cùng quyết định tấn công toàn bộ cứ điểm giành thắng lợi. Cuộc tấn công diễn ra ngày 6 tháng 5. Ông Võ Nguyên Giáp đã miêu tả một cách ngắn gọn là “bộ đội tấn công từ mọi phía, chiếm tổng hành dinh của địch và bắt sống toàn Bộ tham mưu” Quân Pháp thất bại hoàn toàn. Hơn 1.500 quân lính Pháp bị chết, 4.000 bị thương và số còn lại bị bắt làm tù binh hay mất tích. Khoảng 70 quân Pháp thoát trở về phòng tuyến của mình. Tổn thất của Việt Minh lớn hơn nhiều, 25.000 bị chết và bị thương, trong đó có 10.000 bị chết.

Ngày 7 tháng 5, một ngày sau khi quân Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ, đàm phán hoà bình để giải quyết cuộc xung đột Đông Dương bắt đầu như đã định tại Giơ-ne-vơ. Tham dự hội nghị có đoàn đại biểu của Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng như đại diện chính phủ Bảo Đại, đại diện của chính phủ hoàng gia Cam-pu-chi-a và Lào, bấy giờ gọi là nước liên hiệp. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thể hiện cảnh báo trước đây của Hồ Chí Minh cho rằng thắng lợi sẽ không dễ dàng, đến Hội nghị với thái độ thận trọng tuy nhiên họ cảm thấy rằng đó là cơ hội có những bước tiến quan trọng trong cuộc đấu tranh để hoàn toàn thống nhất đất nước.

Tại phiên khai mạc Hội nghị, phái đoàn Pháp đã nêu điều kiện cho một giải pháp, kêu gọi cả hai bên tập kết quân dưới sự giám sát của Uỷ ban Kiểm soát quốc tế. Ông Phạm Văn Đồng, đứng đầu đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (cũng như tại Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô năm 1946) chấp nhận đề nghị của Pháp cần có ngừng bắn trước khi có giải pháp về các vấn đề chính trị, nhưng trong tất cả các lĩnh vực khác, điều kiện (do Bộ Chính trị soạn thảo) của ông khác hẳn với đề nghị của Pháp. Ông đòi quốc tế công nhận chủ quyền và độc lập hoàn toàn của ba nước Đông Dương, rút hết quân đội nước ngoài và tổ chức tuyển cử tự do dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Ngoài ra, ông còn yêu cầu đại diện của phong trào cách mạng Lào và Cam-pu-chi-a (mọi người vẫn gọi là Pa-thet Lào và Khơ-me đỏ) được dự Hội nghị với tư cách là đại diện của nhân dân hai nước này. Ông Đồng đã đồng ý xem xét khả năng gia nhập Liên hiệp Pháp dựa trên cơ sở tự nguyện và công nhận quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp tại ba nước Đông Dương.

Pa-ri không còn khả năng mặc cả được gì. Các nguồn tin tình báo Pháp công khai dự đoán rằng Hà Nội có thể thất thủ nếu Việt Minh tấn công mạnh. Oa-sinh-tơn cũng có quan điểm bi quan như vậy. Tại một buổi thông báo tình hình của Hội nghị an ninh quốc gia ngày 8 tháng 5, giám đốc CIA A-len Đun dự rằng với 5.000 chiếc xe tải, quân Việt Minh có thể di chuyển dễ dàng từ Điện Biên Phủ đến đồng bằng Bắc Bộ trong vòng từ hai đến ba tuần. Mặc dù lực lượng vũ trang của Pháp ở đồng bằng là 200.000 quân so với 76.000 quân chủ lực của Việt Minh, hầu hết quân Pháp có tinh thần suy sụp và nằm bẹp trong đồn xung quanh toàn là dân cư thù địch hoặc không quan tâm gì. Còn quân đội quốc gia Việt Nam do chính phủ Bảo Đại thành lập sau khi ký Hiệp ước Ê-li-dê, như tướng Na-va gọi họlà “lũ ô hợp”.

Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp khó khăn nghiêm trọng tại Hội nghị. Mặc dù đại diện Việt Minh đã gặp đại diện của Trung Quốc và Liên Xô trước Hội nghị để soạn thảo chiến lược đàm phán chung, điều rõ ràng là cả Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đều không muốn ủng hộ Việt Minh tiếp tục cuộc chiến, và họ cũng chẳng sẵn sàng đáp ứng hoàn toàn mọi yêu cầu của Việt Minh. Cả hai đều chú ý đến lợi ích an ninh của chính mình tại Giơ-ne-vơ và đều mong tránh phải đụng đầu với Hoa Kỳ. Sau khi các cuộc tranh cãi ban đầu lắng đi, rõ ràng cả Ngoại trưởng Liên Xô, ông Vi-a-chê-láp Mô-lô-tốp và trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Hội nghị, ông Chu Ân Lai đều mong có thoả hiệp dựa trên việc chia cắt Việt Nam thanh hai khu vực tập kết, một do Việt Minh chiếm giữ và một do chính phủ Bảo Đại và những người ủng hộ chính phủ này chiếm giữ. Hơn nữa, sau thời gian đầu ủng hộ quan điểm của Việt Minh về Cam-pu-chi-a và Lào, Ngoại trưởng Chu Ân Lai nói rõ với ông Phạm Văn Đồng là Trung Quốc không ủng hộ yêu cầu của Việt Nam dân chủ Cộng hoà đòi Pa-thét Lào và Khơ-me đỏ tham gia Hội nghị như là đại diện chân chính của nhân dân Lào và Căm pu chia. Ông Chu Ân Lai còn cảnh báo vấn đề này sẽ gây nguy cơ đối với quá trình đạt đến giải pháp và dẫn đến can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Ông tin rằng tốt hơn là chấp nhận trung lập hóa hai quốc gia này với chính phủ hoàng gia hiện hành. Để khuyến khích Việt Nam Dân chủ cộng hòa chấp nhận, ông Chu Ân Lai đồng ý kiên quyết lập trường phải cho lực lượng Pa – thét Lào có một khu vực tập kết sau khi xung đột kết thúc. Ông Phạm Văn Đồng rõ ràng là đã lưỡng lự do [?] đồng ý.

Nhiều năm sau các nguồn chính thức của Việt Nam lại cho rằng cách Chu Ân Lai cư xử tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là do Trung Quốc muốn kéo Lào và Cam-pu-chi-a vào khu vực ảnh hưởng của mình. Mặc dù hầu như không có bằng chứng gì chứng tỏ điều này là đúng, rất có thể Bắc Kinh đã coi hai nước này có tầm quan trọng thiết yếu đối với an ninh của mình ở khu vực và do vậy không muốn có một Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, lý do chính là ngăn không cho đàm phán hoà bình sụp đổ loại bỏ khả năng Mỹ thiết lập căn cứ ở hai nước. Chắc chắn vì những lý do này mà ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Đồng chấp nhận thoả hiệp, một quan điểm mà phái đoàn Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ.

Giải quyết xong vấn đề Lào và Cam-pu-chi-a, Hội nghị tạm nghỉ. Trong khi đó đoàn đại biểu Pháp và Việt Nam Dân chủ cộng hoà bắt đầu chú ý đến chi tiết của giải pháp ở Việt Nam. Trong hội đàm riêng về quân sự với Pháp, đại biểu Việt Minh nói rõ ràng họ muốn có một khu vực lãnh thổ liền kề nhau làm khu vực tập kết quân và những người theo họ bao gồm đồng bằng sông Hồng, kể cả Hà Nội và Hải Phòng. (Một nhà đàm phán cao cấp của Việt Minh nói: “ Chúng tôi phải được Hà Nội, chúng tôi phải có đường thoát”). Quân Pháp không muốn mất Hà Nội, nhưng lại nói một cách dán tiếp rằng họ muốn được rảnh tay ở phía Nam và ít nhất là một khu vực riêng ở phía Bắc để chuyển quân và dân ra khỏi vùng đồng bằng.

Do vậy, cuộc tranh luận tập trung vào đường phân chia hai khu vực tập kết và việc thực hiện những thảo thuận chung. Lúc đầu, ông Phạm Văn Đồng đòi đường phân chia phải ở vĩ tuyến 13 trong khi Pháp muốn đường này ở ngay phía Nam đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Để giám sát Hiệp định, đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn trong nước giám sát nhưng Pháp (với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ) yêu cầu phải thành lập Uỷ ban Giám sát quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc.

Trong khi hai phái đoàn Pháp và Việt Nam tranh cãi về chi tiết, Chu Ân Lai về Bắc Kinh tham khảo ý kiến của Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo chính phủ khác. Trên đường về, ông dừng chân tại Ấn Độ, ông yêu cầu Thủ tướng Gia-oa-hắc-la Nê-ru ủng hộ lập trường của Trung Quốc tại bàn Hội nghị. Để giảm bớt lo lắng của Nê-ru về khả năng toàn bộ Đông Dương sẽ sớm rơi vào tay Cộng Sản (và do vậy rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc), Chu Ân Lai hứa rằng toàn bộ quân Việt Minh sẽ rút khỏi Lào và Cam-pu-chi-a, và hai nước này sẽ có chính phủ độc lập do họ tự chọn. Về tình hình Việt Nam, ông bảo đảm với các nhà lãnh đạo Ấn Độ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng bất kỳ thoả thuận nào chia cắt Việt Nam thành hai miền, ông tuyên bố thêm rằng chủ nghĩa xã hội không phải để “xuất khẩu”. Trong một thông báo đưa ra sau một loạt các cuộc gặp gỡ, hai nhà lãnh đạo đã khẳng định ủng hộ khái niệm năm nguyên tắc chung sống hoà bình và coi năm nguyên tắc này là cơ sở thích hợp cho quan hệ quốc tế ở châu Á và thế giới.

Dừng chân ngắn ở Răng-gun, ông đã thảo luận với Thủ tướng Miến Điện, ông U Nu. Sau đó ông Chu Ân Lai về Bắc Kinh và đi thẳng đến Lôi Châu, nơi đã từng là đại bản doanh của Trương Phát Khuê ở Nam Trung Quốc. Ở Lôi Châu, ông gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Cuộc gặp này không được mấy ai chú ý. Một tuyên bố báo chí sauđó của Tân Hoa Xã chỉ nói rằng “Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tich Hồ Chí Minh đã trao đổi toàn bộ ý kiến về Hội nghị Giơ-ne-vơ, vấn đề khôi phục hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan”. Tuy nhiên, một nguồn tin Trung Quốc gần đây cho biết ông Chu đã thuyết phục được ông Hồ thấy sự cần thiết phải có một giải pháp thoả hiệp ở Giơ-ne-vơ để tránh can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Hai vị lãnh tụ đã thoả thuận chấp nhận vĩ tuyến 16 làm đường phân giới giữa hai khu tập kết. Hai vị lãnh tụ cũng thoả thuận chấp nhận việc thành lập chính phủ không cộng sản ở Lào và Cam-pu-chi-a, với điều kiện Pa-thét Lào cũng có một khu vực tập kết nhỏ. Ông Hồ cũng đồng ý đưa ra tuyên bố chung nói rằng ba nước Đông Dương sẽ tuân thủ năm nguyên tắc cùng chung sống hoà bình. Để đổi lại, Chu Ân Lai hứa Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong những hiệp định viện trợ ký tại Bắc Kinh ngày 7 tháng 7, Trung Quốc cam kết tăng thêm viện trợ thương mại và kinh tế. Những nguồn tin chính thức ở Việt Nam chỉ đưa tin cụt lủn về kết quả cuộc gặp. Báo Nhân dân của Đảng ghi nhận một cách không rõ ràng rằng “việc khôi phục hoà bình ở Đông Dương không thể chỉ do một bên quyết định”

Sau những cuộc tham khảo ý kiến ngắn ở Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ trong khi các đại biểu đang giải quyết nốt những vẫn đề tồn đọng, hiệp định đã được ký kết ngày 21 tháng 07 năm 1954. Một Uỷ ban Quốc tế sẽ giám sát Hiệp định. Uỷ ban này bao gồm Ấn Độ, Ca-na-da và Ba Lan. Một tuyên bố chính trị không mang tính ràng buộc kêu gọi chính quyền ở hai khu vực tập kết tiến hành hiệp thương và tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước hai năm sau. Điểm khó khăn cuối cùng là thảo thuận thiết lập đường phân giới giữa hai khu vực tập kết tại vĩ tuyến 17. Khi Phạm Văn Đồng có vẻ chần chừ không chấp nhận nhượng bộ, ông Chu lập luận rằng cho phép Thủ tướng Pháp, ông Pi-e Men-đéc-xơ Phơ-ran-xơ, giữ thể diện của mình là giá nhỏ phải trả cho việc quân Pháp rút. Ông Chu còn nói “Khi quân Pháp rút hoàn toàn, toàn bộ Việt Nam là của các bạn”.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông thì có những tiến triển bất lợi ngay sau khi Hội nghị kết thúc. Chính quyền Ai-xen-hao đã lo ngại theo dõi đàm phán tại Giơ-ne-vơ và quyết định không chấp nhận các điều kiện của Hiệp định trừ khi ít nhất một phần của Việt Nam vẫn an toàn. Vì điều khoản về thống nhất hoàn toàn đất nước thông qua tuyển cử tổ chức năm 1956 mở ra khả năng cộng sản thắng lợi hoàn toàn, Oa-sinh-tơn cho thấy là sẽ không đồng tình với tuyên bố chính trị và sẽ không cam kết ủng hộ Hiệp định Giơ-ne-vơ. Phái đoàn của Bảo Đại cũng làm như vậy và không chịu chấp thuận tuyên bố chính trị, lập luận rằng quyết định chia cắt đất nước là của một nước lớn thuộc địa chứ không phải là nguyện vọng của nhân dân. Một vài ngày sau khi hội nghị kết thúc, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét thông báo tại một cuộc họp báo rằng Mỹ sẽ gây dựng sự phát triển của một nhà nước không cộng sản ở Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chi-a. Tuyên bố này tuyệt nhiên không hề là dấu hiệu tốt lành cho cuộc tổng tuyển cử trong tương lai.

Nhiều nhà quan sát tại hội nghị đã nhận thấy thái độ cay cú của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước việc Trung Quốc và Liên Xô phản bội lợi ích của mình. Nhớ lại điều này, Vương Bình Nam, một nhà ngoại giao Trung Quốc sau này nói rằng một số đại biểu “hy vọng sẽ thống nhất Việt Nam được ngay”.

Thái độ cay cú này rõ ràng không chỉ là thái độ của đoàn đại biểu Việt Nam mà còn thể hiện ở trong nước Việt Nam. Tình hình này rõ ràng nghiêm trọng đến mức Hồ Chí Minh cũng bắt đầu chú ý. Trong báo cáo chính trị cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vài ngày trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ông Hồ viết:

“Mốt số người say sưa với thắng lợi liên tục của chúng ta, muốn tiếp tục chiến đấu đến cùng với bất kỳ giá nào; họ chỉ thấy cây mà không thấy rừng; tập trung vào việc quân Pháp rút, họ không thấy âm mưu của chúng; họ thấy Pháp nhưng không thấy Mỹ; họ thiên về hành động quân sự và coi nhẹ ngoại giao. Họ không biết rằng chúng ta đang đấu tranh tại các hội nghị quốc tế cũng như tại chiến trường để đạt được mục tiêu”.

Hồ Chí Minh tranh luận với những người “muốn có kết quả nhanh, không biết rằng cuộc đấu tranh giành hoà bình là khó khăn và phức tạp.” Điều họ không thấy là ba nước đã có những bước tiến lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho các nước Đông Dương. Tuy nhiên, bây giờ cần có một chiến lược, vì quân Mỹ đã kiên quyết phá hoại khả năng hoà bình can thiệp và biện hộ cho xung đột ở Đông Dương. Do hoàn cảnh mới, khẩu hiệu hiệu cũ “Kháng chiến đến cùng” phải được thay thế bằng khẩu hiệu “Hoà bình, đoàn kết, độc lập, dân chủ”. Một chính sách như vậy góp phần cô lập Hoa Kỳ (nay trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương) trên trường quốc tế và đánh bại âm mưu thâm độc của chúng.

Hồ Chí Minh công nhận rằng giá phải trả cho hoà bình là sự chia cắt đất nước, Ông nhất mực cho rằng việc thiết lập khu vực tập kết không có nghĩa là đất nước bị chia cắt vĩnh viễn mà chỉ là tạm thời.

Do việc hoạch định và trao đổi vùng, một số vùng tự do trước đây sẽ bị địch tạm chiếm; nhân dân sẽ không bằng lòng; một số người sẽ chán nản và bị địch lừa bịp. Chúng ta phải làm cho đồng bào rõ là thử thách họ sẽ trải qua là vì lợi ích toàn đất nước, vì lợi ích lâu dài của chúng ta và sẽ là một sự nghiệp vinh quang mà cả nước đều biết ơn.

Hồ Chí Minh hứa rằng, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự ủng hộ của các dân tộc trên thế giới , độc lập hoàn toàn và đoàn kết dân tộc chắc chắn sẽ đạt được.

Kêu gọi cộng sự của mình trong Đảng chấp nhận một giải pháp thông qua đàm phán về thực chất không phải là chiến thắng hoàn toàn, Hồ Chí Minh chắc chắn đã nghe theo lời khuyên của Chu Ân Lai. Ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Hồ chấp nhận một giải pháp như vậy trong cuộc gặp gỡ ở Lôi Châu trước đó vài ngày. Tuy vậy, thái độ sẵn sàng chấp nhận hoà bình trong nhân nhượng trên đường đến thắng lợi cuối cùng làm chúng ta nhớ lại cách giải quyết vấn đề của ông trong những dịp trước đó, đặc biệt là vào cuối chiến tranh Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh nhận thấy rằng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước không thể đạt được một cách riêng rẽ, nhưng phải đạt được trong bối cảnh những thay đổi phức tạp diễn ra trên trường quốc tế.

(hết chương XIII)

Tags: 257:hồchíminh-mộtcuộcđời(chươngxiii)

Monday May 12, 2008 – 11:27pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
- Trang 253:HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI (chương XIII)
- Tags: 253:hồchíminh-mộtcuộcđời(chươngxiii)


“Con đường bác đi là bi đát” !! Chỉ có lợi cho nhóm nhỏ của tập đoàn thống trị cs, cs quốc tế LX, TQ và ngoại bang.
Các cường quốc LX, TC, Mỹ … cũng phải bảo vệ quyền lợi của nước họ trước tiên ! Trong đó có TC, LX muốn bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ qua cái gọi là cncs với đảng thừa sai là đcs từng nước, dùng người cs bản xứ cai trị người bản xứ , che mắt người dân và quốc tế.
Toàn dân VN đã thua nặng nề !
Công bằng, độc lập tự do, … dân chủ, văn minh, hạnh phúc, là những chiếc bánh vẽ lừa bịp, chỉ có cho 1 nhóm nhỏ quyền lực ! Tuy nhiên, nhóm nhỏ này lại dựa vào/nô lệ ngoại bang để được bảo vệ quyền lực, đặc quyền đặc lợi !
Viễn kiến ? lúc nào cũng phải dựa vào nội lực toàn dân làm căn bản  ?  biết sức và khả năng để giảm lệ thuộc vào ngoại bang ?  thấy rõ hướng đi của thế giới, văn minh nhân loại ??
“Đuổi hổ cửa trước, rước voi cửa sau về giày mả tổ !!”
Đcsvn và nhân dân VN là 2 thực thể khác biệt ! Đcsvn không là đại diện truyền kiếp của nhân dân VN !

March 11, 2008

Thư ngỏ gửi: ông Nguyễn Ngọc Cảnh đại tá phó giám đốc sở công an Tỉnh Thái Bình

Thái Bình ngày 10 tháng 3 năm 2008

Thư ngỏ gửi: ông Nguyễn Ngọc Cảnh

đại tá phó  giám đốc sở công an Tỉ nh Thái Bình.

      Cùng các quý vị  bạn đọc đang quan tâm tới tự do dân chủ hoá Việt Nam

Nguyễn Văn Túc

      Thưa : ông Nguyễn Ngọc Cảnh cùng các quý vị đang quan tâm đến vấn đề tự do ,dân chủ,dân oan,nhân quyền  cho Việt Nam . Lẽ ra tôi cũng chẳng muốm mang chuỵện gia đình,họ mạc ra để bàn luận,  đàm tếu hay giãy bầy cùng toàn dân thiên hạ để làm gì : (bởi các cụ ta có câu việc làng dữ lấy họ ,việc họ dữ lấy anh em,hay môi hở răng lạnh) những việc tôi nói dưới đây tôi đã phải trằn trọc nhiều đêm suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng ,nhưng cái gì đến cũng đều phải đến ,tôi có phép tiên cũng chẳng cưỡng lại được mệnh của trời .Tôi mong ông Nguyễn Ngọc Cảnh phó giám đốc sở công an tỉnh Thái Bình cùng các quý vị thông cảm đừng vội cho tôi là người  ( vạch áo cho người xem lưng )Bởi tôi không còn sự lựa chọn nào khác .Vì những việc làm vi hiến vi pháp của ông  đã gây cho tôi không ít khốn khổ , tôi coi đây là một nỗi  nhục nhã khi bản thân tôi đường hoàng là mội công dân bình thường chưa hề bị pháp luật tước quyền đó mà nay bị ông Nguyễn Ngọc Cảnh một  kẻ cơ hội ôm chân tập đoàn tham nhũng, lũ giặc nội tỉnh Thái Bình đã ngang nhiên cướp đi , ông ta chỉ đạo cho lũ tiểu yêu dưới quyền mình canh chừng tôi từng bước ,biến gia cư  của tôi thành trại tạm giam hàng ngày có công an canh giác Đặc biệt dã man tàn bạo hơn là từ khi ông ta mua hay trao đổi ngoi lên được cái chức phó giám đốc sở phụ trách an ninh đến nay ông đã tổ chức rồi trực tiếp chỉ đạo bọn tiểu yêu dưới quyền dở trò mua chuộng dụ dỗ cụ thể ngày 10/9/2006 ông đã sai 2viên an ninh (1)là Vũ Văn Thanh CA huyện Đông Hưng (2) là tên Trường chức vụ phó phòng AN nông thôn tỉnh Thái Bình cầm một phong bì tiền về nhà tôi  muốn thông qua mẹ tôi để mua chuộc tôi nhưng mẹ tôi khinh tiền của chúng quá bẩn không thèm nhận và cũng rất nhiều lần  người của ông Cảnh ngỏ ý mua chuộng dụ dỗ ,lần gần đây nhất là ngày 3tết cho một công an viên tên là Nguyễn Văn Duẩn lợi dụng lúc tôi vắng nhà nhân danh tình  cảm họ mạc để vào chúc tết hắn còn dở trò lì sì cho tôi một ít tiền,tôi cảm thấy ngạc nhiên hoài nghi  lòng tốt quá bất ngờ của hắn ,vì vợ con tôi không hiểu đã trót nhận tôi lập tức cầm tiền ấy ra công sở nơi hắn đang làm việc trả lại và xỉ nhổ vào mặt.Thưa ông Cảnh có lần ông nhờ viên AN huyện Đông Hưng  tên là Mai Văn Vinh người xã Đông La  nối điện thoại để ông nói chuyện với tôi nhưng bị tôi từ chối ,rồi ông lại còn nhờ cả em rể mang xe vào chở tôi lên nhà ông chơi nói chuyện,tôi sét thấy chẳng có chuyện để nói với ông vậy tôi không thèm lên.Vì nhiệm vụ được những kẻ cầm đầu tập đoàn tham nhũng giao nên mặt ông ngày càng lì lợm bỉ ổi hơn  ,chắc ông còn nhớ vào ngày 8/3 âm lịch năm 2006 nhân ngày tết thanh minh ông về quê tạ mộ ông đã nhờ Nguyễn Thanh Sơn hiện đang giữ chức bí thư chi bộ thôn cổ dũng 1vào nói trước dàn xếp để ông trực tiếp được gặp tôi ,bởi tôi đã biết được ý đồ đen tối của ông gặp tôi để dàn xếp thương thuyết ,giúp những kẻ cầm đầu tập đoàn tham nhũng trút bỏ những sai phạm chúng đã gây ra ,nhưng ông đã thất bại thật cay đắng lần gặp ấy bị tôi từ chối không thèm tiếp . Từ những lần gặp gỡ ,dụ dỗ mua chuộng không thành ấy ông trở mặt chỉ đạo cho lũ tiểu yêu dưới quyền tung tin nói xấu tôi đủ điều có thể gọi là (chó cắn sau lưng) như viên AN tên Nhâm Sỹ Hiền nói với ông Nguyễn Gia Tỵ công dân xã Liêng Giang  vào thăm tôi  khi ra bị chặn giữ trái phép (từ ngữ nguyên văn  ông vừa vào nhà ông Túc là đối tượng chống đảng,chống nhà nước (tôi có sẵn  bản tường trình sự việc của ông Nguyễn Gia Tỵ là bằng chứng ) Không phải chỉ một viên an ninh Nhâm Sỹ Hiền là chó cắn sau lưng mà còn hàng trăm cái mồm khác trong nghành AN rồi lũ ôm chân tập đoàn tham nhũng dưới sự đồng loã,tiếp tay,bảo kê che chắn của ông lũ chúng cũng dở trò tung tin bịa đặt nói sấu sau lưng tôi ở mọi lúc mọi nơi ,tại các trường 2 con tôi đang theo học lũ chúng cũng tung tin toàn trường là tôi chống Đảng chống Nhà  Nước ,cố ý sỉ nhục các con tôi làm ảnh hưởng rất nhiều đến viêc học tập của các con tôi .  Những trò hề bỉ ổi hèn hạ nhất ông và lũ tiểu yêu đã làm nhằm mua chuộc dụ dỗ tôi đi theo kiểu của ông ( ngậm miệng ăn tiền) tất cả đều thất bại tôi không hề khuất phục.Bất chấp hiến pháp, pháp luật  ông đã tiếp tục mưu đồ thâm độc ,nham hiểm hơn ,ông đã tổ chức cho nhiều người vào đàn áp gia đình tôi rất nhiều lần, như ngày 15/8 âm lịch 2006 do viên AN tên Trường chỉ huy khoảng gần 20 tên thất phu đê tiện khiến tôi ốm nằm nhà cũng không đuợc yên ,vụ các viên AN tên Vụ, Thanh, Luânvà 2 công an viên  xã xâm  phạm gia cư của tôi bất hợp pháp ngày 1/9/2006 .Vụ áp đảo vợ con tôi, ngày 17/11/2006 nhịp đang diễn hội nghị A PEC Bùi Bá Hạnh một tên chí phèo ,thất phu có tiếng mà làm công an xã cùng một số tên cũng là công an xã ,huyện ,xông vào áp  đảo đe đập phá ,đòi giết tôi nhục mạ vợ con tôi lúc tôi vắng nhà,có hàng xóm đông đảo chứng kiến . Vụ việc sảy ra gần đây nhất là ngày 16/1/2008 khi tại Hà Nội có sự kiện đám tang cụ Hoàng Minh Chính một lão thành cách mạng,một người luôn quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền,dân oan ,cụ mất đi khiến nhiều người tiếc thương muốn về viếng dự lễ tang với đạo lý của người Việt Nam (nghĩa tử là nghĩa tận ) cụ đã về nơi cõi phật, với 3tấc đất chẳng nguy hiểm gì cho những kẻ cơ hội cầm quyền cái chế độ này nữa ,vậy mà các ông cũng sợ cái thây ma của cụ đến nỗi phải chỉ đạo nhau làm những việc vi hiến vi pháp ,vi phạm trắng trợn, xâm phạm quyền tự do đi lại của công dân ,riêng tôi  ông cũng dành cho sự quan tâm đặc biệt có tới 21 viên AN do ông trực tiếp chỉ huy chăm sóc tôi nhiều ngày đêm nhưng tôi vẫy đi Hà Nội được ,bởi vậy lũ tiểu yêu dưới quyền ông mới nhảy lên lồng lộn xông vào áp đảo nhà tôi , theo lời con tôi tường trình lại lũ tiểu yêu đã mạo ra gấy triệu tập để kiếm cớ vào áp đảo ,đập phá nhà tôi ,bắt con tôi mở cửa ,vì sợ chúng dở trò vu oan giáo hoạ dựng án bắt  người nên con tôi không mở cửa ,cháu nói bố mẹ cháu không có nhà,cháu không biết giấy gì mà nhận khi nào bố cháu có nhà các chú đến, mời các chú ra khỏi nhà cháu để cháu còn đi làm ,lũ tiểu yêu không nghe mà cố tình ra tay đàn áp  đập phám cửa để xông vào nhà ,do hiểu biết một chút ít pháp luật về quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân,nên cháu biết mình phải làm gì, cháu  thực hiện đúng khẩu hiệu của Hồ Chủ Tịch (giặc đến nhà đàn bà phải đánh ,với khẩu hiệu: có súng dùng súng không có súng thì dùng cuốc suổng gậy gộc) ,cháu liền lấy cuốc bổ vào đầu lũ tiểu yêu ,chúng cướp được cái cuốc cháu vội lấy dao ra chém ,cháu kể lại cuộc ẩu đả dằng co diễn ra  rất lâu nhiều lúc khá quyết liệt ,khi thấy nhiều người dân bất bình kéo đến lên tiếng chúng đành thất bại nhục nhã rút lui khỏi địa phận nhà tôi .nhưng chúng lập chốt canh gác rất nhiều vị trí cả nơi cầu tiêu ,rãnh nước miễn là thuận tiện việc tiếp cận nhà tôi.

         Thưa ông Cảnh :không dừng lại bởi những trò hề vi hiến vi pháp ,ông còn làm cả những việc vi phạm đạo đức con người ,ông đã  chỉ đạo ,đồng loã  ,tiếp tay,   

bao che, bật đèn xanh cho nhiều kẻ đê tiện, bất chấp pháp luật, chăng bẫy hãm hại tôi điển hình như vụ bố ráp tại gia cư ông Vũ Văn Tài ngày 23/8/2006 và đã bắt giữ trái phép tôi cùng một số người đưa về công an huyện Đông Hưng tra khảo như một tội phạm trong nhiều giờ bỏ đói không cho ăn ,lũ tiểu yêu dưới quyền ông do tên Truờng phó phòng AN tỉnh trực tiếp chỉ huy xúm vào lôi kéo dằng xé thể xác khiến tôi dãn dây chằng tổn thương toàn thân, sau lần ấy tôi bị ốm phải điều trị trong nhiều ngày ,đến nay vẫn còn thương tích trên người tôi là bằng chứng.Ông còn nhớ vụ chăng bẫy nhằm hãm hại những người đứng đầu đơn tố cáo những tên cầm đầu tập đoàn tham nhũng ,tại nhà ông Vũ Đức Nôm ngày 7 tháng giêng 2007 nhân ngày dỗ bố ông ấy ,ông đã thừa nhận với bố anh Dương Đại Dương một nạn nhân bị đánh vỡ đầu là do ông trực tiếp chỉ đạo, còn đến nay vụ việc ông giải quyết với anh Dương Đại Dương theo hướng công minh quảng đại đúng pháp luật hay lấp liếm bôi ma thì ông rõ hơn ai hết .Hôm đó  tôi đã hiểu rõ ý đồ đen tối bỉ ổi,hèn hạ  của ông và ông Nôm  nên tôi không thèm đến .Bao kẻ thất  phu hèn hạ do ông chỉ đạo  đe doạ giết tôi ,cụ thể như tên Bùi Bá Hạnh công an viên xã đông La rất nhiều lần đe doạ giết tôi ,gần đây nhất ngày 15/2/2008 khi tôi từ nhà đi phố huyện mua ni lông để che rét cho mạ,viên AN thuộc huyện Đông Hưng tên Hoà hắn tuởng tôi đi Hà Nội ,hắn liền vượt lên trước mặt tôi nói : mày chán sống rồi thì cứ đi nếu mày lên xe tao đánh chết ,thưa ông: đã là con người sinh ra trên thế gian này ai cũng có quyền được sống,con chó còn khát vọng  muốn sống ví chi con người ,nhưng sống thế nào, cách sống ra sao, đây mới cần quan tâm .

Còn ngược lại :người đời có câu(( có cái chết sinh ra đề chết ,chết vì dân vì nước khiến thiên hạ phải nghiên mình )) thưa ông: tôi một lần nữa  khảng định với ông rằng :tôi coi cái mạng sống của  tôi cũng không giá trị bằng mớ dẻ rách đâu nhưng dù ngu đần dốt nát tôi cũng biết mình cần phải ném cái mạng dẻ rách này vào chỗ nào xét thấy cần thiết và vì ai ,dù tôi có bị các ông cay cú khi đọc được thư này lại nghĩ kế hại tôi dựng án bắt bỏ tù, hay nỗi cay cú lên đến tột đỉnh mà các ông kép án dù cái mạng dẻ rách này có  phải theo băng đen đứng dựa cột ,vì tự do, dân chủ,vì dân vì nước tôi cũng chẳng có gì phải ân hận,hối tiếc điều chi ,chắc chắn lúc đó cũng không nhờ ông  kẻ có chức có quyền trong xã hội , tôi cũng chẳng thèm  thấy người sang bắt quàng làm họ xin giảm án đâu .Thưa ông còn dù tôi chỉ được sống một ngày nữa tôi cũng phải sống cho ra sống. Tôi không thể sống theo cách ông : một kẻ cơ hội, thất đức , nịn bợ luồn cúi ,đồng loã tiếp tay bám gót  nói leo, ăn theo tập đoàn lũ giặc nội xâm ,chúng mới là kẻ bám nước hại dân, nói một đằng làm một  nẻo, để có quyền cao chức trọng, giầu sang địa vị  như ông đã và đang có ,những thứ ông có rất đầy đủ với tôi ngược lại không cần Thưa quý vị :Cái tôi cần là :tự do,dân chủ,xã hội công bằng văn minh như lời của đảng rêu rao trên toàn cầu . Cái tôi cần là có một hiến pháp, pháp luật hợp lòng dân và tất cả mọi người trong toàn xã hội ai ai cũng phải tuân thủ và bình đẳng  trước hiến pháp ,pháp luật ,cái tôi cần cũng như triệu triệu người Việt Nam sống trên khắp hành tinh này cũng đang khát vọng từ lâu, có nhiều tiền cũng không để mua được tự do dân chủ , chỉ có được bằng cách (1)Đảng này xoá bỏ tư tưởng  bảo thủ tự nhận ra những sai lầm ,tỉnh ngộ  cái đầu ,tiếp thu những tiến bộ,văn minh nhân loại, phải dục bỏ những thứ cũ kỹ lạc hậu, thối nát, phải dám đặt lợi ích của dân tộc, dân nhân lên trên lợi ích quyền lực của Đảng, phải tự đem quyền tự do, dân chủ, nhân quyền hàng chục năm nay đã xâm phạm trả lại cho dân tộc, dân nhân, dám  ra sân chơi chính trị cạnh tranh lành mạnh ,cùng nhân dân xây dựng một nước Việt Nam  dân giầu nước mạnh xã hội bằng ,dân chủ văn minh thật sự .Cách (2) chỉ có được tự do, dân chủ,nhân quyền  bằng con đường đấu tranh ,đòi hỏi Đảng này phải trả lại những quyền cơ bản đó cho dân tộc, nhân dân Việt Nam (bởi) mọi hoạt động của toàn xã hội này độc quyền lãnh đạo của Đảng , chúng tôi không đấu tranh đòi Đảng thì đòi ai (bởi) chỗ nào Đảng cũng long trọng hoành tráng công khai rằng: Đảng CS VN là lực lượng ,tổ chức lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam  cơ mà (sao) Đảng lại không dám long trọng, hoành tráng công khai thừa nhận những tội lỗi sai lầm trong quá trình lãnh đạo đã gây ra bao đau thương, mất mát cho dân tộc ,nhân dân (Vậy) dân ta có câu “ Mất mùa Đảng đổ thiên tai . Được mùa lãnh đạo Đảng ta tài tình ”Đảng có dám tổ chức công khai trưng cầu dân ý có sự quan sát, chứng kiến của các tổ chức chính trị xã hội  quốc tế theo kiểu  phổ thông đầu phiếu tự do, xem 85 triệu dân được bao nhiêu phần trăm dân chúng đồng tình ,ủng hộ với việc Đảng đã và đang làm (nếu) không đủ quá bám có nghĩa là uy tín của Đảng không còn ,đồng nghĩa dân cũng chẳng cần Đảng lãnh đạo điều hành đất nước,liệu Đảng có dám mạnh dạn từ bỏ độc quyền lãnh đạo không ?  hay vẫn ôm khư khư độc quyền lãnh đạo thể thao túng nhà nước ,xã hội ngồi không ăn bắm hưởng lạc bổng lộc triều đình mãi thì chắc đến ngày dân chúng tôi chỉ còn bộ xương khô. Thưa ông Cảnh cái tôi cần là các ông hãy chấm dứt những trò hề lừa đảo,bịp bợm,vi hiến,vi pháp,áp đảo tại gia,lập kế dựng án bắt người vô tội  ,ăn cướp rồi  công an các ông ngăn cản trái phép quyền tự do đi lại, tự do ngôn luận,tự do báo chí, bịt miệng không cho kêu vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn .  thưa ông Cảnh: gia đình tôi có phải là gia đình có truyền thống,bản lĩnh đấu tranh cách mạng hay không chắc cùng quê ông tìm hiểu sẽ rõ ,chắc cũng không phải dạng mèo mả gà đồng phản dân hại nước như  Nguyễn Văn Thêm  một tên lý trưởng cường hào gian ác hay Nguyễn Văn Tiêu tên lính bảo  an thời thực dân đế quốc là bố và bác ruột của  Nguyễn Văn Tiễn một kẻ cơ hội ngu dốt ăn theo nói leo,nịn bợ để ngoi lên chức trưởng công an xã thời nay ,Ông Cảnh ạ ông phải nên biết rằng là những kẻ đã từng ôn chân thực dân đế quốc ,đàn áp  đốt phám nhà ,lột từng viên ghạch sân bà quan tình ( tức bà nội tôi) chở xuống bốt cầu nguyễn bắt 2bác tôi đi tù 1bác phải bỏ mạng trong tù chỉ vì 2 bác tôi theo cách mạng đuổi nhật, đánh pháp khiến gia đình tan nát ,  chính là Nguyễn Văn Thêm,Nguyễn Văn Tiêu .Thời  nay anh  tôi là Nguyễn Văn Chung con bác Đễ một thương binh nặng cũng lâm cảnh bị cướp đât đai thường xuyên có mặt 110 cầu giấy để khiếu kiện như  vậy sao gia đình tôi còn có thể tin vào Đảng này được  nữa .Tôi đi đấu tranh đòi công bằng,lẽ phải,đòi tự do,dân chủ,nhân quyền và quyền lợi hợp pháp cho mọi người  đang bị những kẻ có chức có quyền lãnh đạo trong Đảng này cố ý làm sai ăn cướp ,thì những kẻ cơ hội ôm chân, đồng loã tiếp tay cho chúng nghĩ kế hãm hại, đến nhà đàn áp, đập phá đe doạ giết tôi , gây bao khổ đau bất hạnh cho gia đình tôi từ thời trước đến thời nay sự thật quá phũ phàng, quá trớ trêu với gia đình tôi, toàn người cùng dòng họ nguyễn văn  (tôi điểm mặt một số tên thời nay để ông rõ) như  Nguyễn Văn Tiễn,Nguễn Văn Đảm, Nguyễn Văn  Tình, Nguyễn Văn Duẩn, trong đó có cả ông chính là Nguyễn Văn Cảnh cũng góp  phần trí tuệ công sức chủ mưu, chỉ đạo chính để hãm hại tôi 

           Thưa ông : Nguyễn Ngọc Cảnh nếu ông hỏi tôi ai chống lại ai ,hay ai là kẻ chống lại Đảng nhà nuớc này, hay  chống lại cái gì của cái Đảng nhà nước này ,thì tôi xin hùng hồn trả lời và khảng định rằng :Trong điều 4 hiến pháp năm1992 có nói : mọi tổ chức của  Đảng hoại động trong khôn khổ hiến pháp và pháp luật,thực tế chứng minh  hiến pháp ,pháp luật Việt Nam điều do đảng thao túng,chi phối tổ chức ,chỉ đạo, lãnh đạo, từ khâu soạn thảo đến ban hành văn bản luật ,miễn sao có lợi cho quyền lực lãnh đạo của đảng . Hiến pháp, pháp luật phần đã có lợi cho sự độc quyền lãnh đạo của Đảng rồi,vậy mà những kẻ được Đảng giao quyền trong các cơ quan duy trì bảo vệ pháp luật ,cố ý làm sai vì động cơ vụ lợi ,gây bao khổ đau oan ức cho dân .Tôi khảng định những kẻ có chức có quyền lãnh đạo trong Đảng như các ông ,cố ý làm sai là  chống lại hiến pháp,pháp luật chống lại hiến pháp, pháp luật có nghĩa là chống lại nhà nước mà chống lại nhà nước chính là chống lại Đảng của các ông .Chứ còn dân chúng tôi có chống cũng chỉ chống lại cái kiểu nói một đằng làm một nẻo chống lại những việc làm vi hiến vi pháp , mà hiến pháp,pháp luật lại do chính những kẻ có chức có quyền lãnh đạo trong Đảng mọc ra .Chứ dân tôi cũng chẳng ngu gì mà đi chống lại cái tốt đẹp dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh .Chỉ các ông đang muốn duy trì quyền lực muốn độc quyền lãnh đạo ,các ông đang đi ngược lại lợi ích của dân tộc ,quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân ,cố ý ngăn cản,kiểm soát các mạng thông tin ,các ông đang bưng muồm bịt miệng bóp ngẹt những tiếng nói đòi quyền tự do dân chủ, có nghĩa là các ông đang chống lại những văn minh tiến bộ của loài người đồng nghĩa là chống lại dân tộc, nhân dân  Việt Nam .

            Thưa các quý vị  thưa ông: Nguyễn Ngọc Cảnh

Thư ngỏ này tôi nhờ mạng thông tin toàn cầu gửi tới ông , lần đầu tiên  cũng là lần cuối cùng  trước toàn dân thiên hạ tôi công khai và tuyên bố rằng : tôi với ông theo tôn thống dòng họ ông phải gọi tôi là bác, tính theo phả đồ của dòng họ nguyễn tôi với ông họ đã xa 7 đời rồi .Và cũng từ nay ông cũng đừng coi tôi là bề trên và cũng khỏi phải gọi tôi là bác ,tôi cũng chẳng có một thằng cháu mấy hết tình người như ông .từ nay ông muốn đối thoại với tôi về vấn đề gì xin mời ông vào mạng thông tin toàn cầu ông sẽ rõ ,ông khỏi phải mất thời gian hoặc cầu cậy người nọ người kia để xin gặp tôi thưa chưyện giúp việc những kẻ cầm đầu tập đoàn giặc nội xâm vì mục đích  thương thuyết, lấp liếm ,dàn xếp để tôi khỏi tố cáo những việc làm sai trái mà chúng gây nên. Để rồi nếu thành công ,được việc cho chúng ông xẽ được vô vàn bổng lộc do chúng ăn cướp được nhiều của dân mang về ban phát, hoặc chúng xẽ trả công ban cho ông quyền cao chức trọng hơn ,nếu không một con người như ông xuất thân từ một gia đình cách mạng lại mau chóng xa hoá về bản lĩnh tuyền thống gia đình đến như vậy, phải chăng tiền và quyền chức đã làm ông mờ mắt phải  ôm chân lũ mặt người mà lòng dạ thì dã thú ,phi nghĩa , bất lương, đổi lại ông được những xuất đất đẹp,bổng lộc tràn trề. phải chăng ông đã quên mất câu các cụ ta đã dạy (đói cho sạch,nách cho thơm,hay câu một miếng giữa làng bằng một sàng góc bếp) trở mặt với nhân dân .Bị cướp mà nếu ai dám nói ra sự thật thì tức khắc bị những kẻ đầu sai trong nghành an ninh dở trò chó cắn sau lưng,bịa đặt vu khống,gắp lửa bỏ tay người,tung tin nói sấu,dùng đủ phương tiện, tiểu nhân hèn hạ bỉ ổi nhất để hãm hại người vô tội với mục đích duy nhất là bảo ke,chạy tội miễn sao bảo vệ an toàn cho những kẻ có chức có quyền cố ý làm sai ăn cướp của dân bởi vậy phương ngôn có câu ( thầy nào tớ ấy , chủ nào thì chó ấy,ăn cây nào thì phải rào cây ấy ) quả không sai

        Thưa ông Nguyễn Ngọc Cảnh cùng các quý vị : trong thư ngỏ này tôi chỉ muốn nói  với ông một số văn từ trong cuộc điện thoại bất đắc dĩ ngày 16/2/2008 khôn khổ thời gian hạn hẹp mà tôi và ông không thể nói được . Lẽ ra tôi cũng chẳng nói với ông làm gì nhưng tôi xét thấy những việc ông ôm chân ,bảo kê cho những kẻ cầm đầu tập đoàn giặc nội xâm tỉnh Thái Bình và ông chỉ đạo cho bọn tiểu yêu  dưới quyền đã gây cho tôi không ít khốn khổ  bất hạnh, thiệt hại về công sức thời gian tiền của, gía ông có tấm lòng vì nhân dân thì đâu đến nỗi hàng trăn công dân tỉnh Thái Bình đã phải vất vửng đầu đường xó chợ kiếm ăn  kéo dài  mạng sống để khiếu kiện triền miêm mong có một ngày cánh cửa công lý hé mở ,mà  tôi cùng chung số phận với muôn người một nạn nhân không hơn không kém. Còn thực sự nếu họ khiếu kiện sai sao không sử lý họ nghiêm minh theo hiến pháp,pháp luật,mà lại cứ để tình trạng như vậy ,phải chăng những kẻ có chức có quyền kia đã làm quá sai nên không dám sử lý họ. Trong cuộc nói chuyện trên điện thoại ngày 16/2/2008 ông có nói dân xã  đông la họ không theo tôi đi đấu tranh nữa ,tiện đây tôi xin thưa rằng : ông quá quan liêu không thực tế  chút nào ,chỉ chuyên nghe bọn tiểu yêu nịn bợ về báo cáo láo ,nếu cứ tình trạng này có ngày ông phải trả giá cho kiểu làm việc  quan liêu của mình , tôi nói để ông rõ với trình độ, đẳng cấp đấu tranh đòi quyền lợi như hiện nay tôi cũng không muốn dân theo tôi đi để khỏi mất thời gian của họ uổng phí, còn lòng dân còn căm thù những kẻ bất lương ăn cướp của họ không ? hay họ còn ủng hộ tôi đi đòi công bằng lẽ phải quyền lợi của họ hay không thì làm sao ông có thể biết được .Ông thử dở trò vi hiến vi pháp,vô đạo đức ra với tôi xem họ có để ông yên không?. Ông có nói là tôi nhận tiền nước ngoài ,thì nay tôi nói  : vụ việc khiếu kiện của tôi đúng sai thế nào thì ông quá  rõ  , ông làm việc trong cơ quan bảo vệ pháp luật trách nhiệm trước dân ông để đâu ?,  tôi chỉ cho kẻ ăn cướp hại dân sao ông không bắt mà lại ôm chân lũ nó trở mặt với những người bị hại chúng tôi .Còn tại sao tôi phải nhận tiền để làm gì thì tôi tuyên bố để ông rõ ,tôi bị lũ giặc nội xâm cướp hết đất ,vất vưởng đầu đường só chợi, vườn hoa vỉa hè ,vợ con thì siêu bạt khắp nơi để kiếm sống cho qua ngày giúp tôi  khiếu kiện 6,7năm nay đòi công lý cho mình cùng hơn 200 hộ dân xã Đông La đến nay kẻ ăn cướp làm chúng tôi trắng tay lũ nó lì lợm ,lươn lẹo cố tình không trả lại những gì chúng đã cướp ,chúng tôi đã biết cuộc đấu tranh một mất một còn này với lũ nội xâm này chắc còn lâu còn dài vậy chúng tôi đã làm đơn xin Đảng và nhà nước này ,đại diện cho nhân dân là T Ư mặt trận tổ quốc Việt Nam cơ quan đại đoàn kết toàn dân ,để lấy kinh phí đi diệt giặc nội xâm theo ý nguyện của Đảng ,nhà nước đề ra .Từ khi chúng tôi đã nhận công văn trả lời đảng nhà nước này quá nghèo nên không có khoảng kinh phí nào để từ thiện hay hảo tâm giúp đỡ chúng tôi . Vậy chúng tôi tuyên bố tôi xẽ nhận bất cứ tấm lòng hảo tâm từ thiện nào dù bất kỳ trong hay ngoài nước,dù người ấy là ai ,và nhận đến khi nào đất đai tài sản,tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân dân chúng tôi được những kẻ cầm đầu tập đoàn giặc nội xâm này trả lại .Với điều kiện giúp đỡ chúng tôi  để đấu tranh đòi lại những quyền bị cướp mất nêu trên .Thưa ông Cảnh dù tôi có nhận tiền nước trong hay nước ngoài thì đây cũng là đồng tiền mồ hôi và nước mắt với tấm lòng hảo tâm giúp đỡ những người bị lũ giặc nội xâm ăn cướp đến nỗi trắng tay ,còn sạch sẽ hơn những đồng tiền tham nhũng ăn cướp hoặc những kẻ đồng loã tiếp tay nuôi dưỡng cái ác để dây máu được chúng chia phần cho. Tôi hỏi ông những lô đất đẹp trị giá hàng tỷ đồng để xây dựng những căn hộ sang trọng hiện đại ở Hà Nội ,khu đô thị mới Trần Hưng đạo ,chỗ ở cũ  bán cho em gái vvv ở T P Thái Bình rồi đất Đông La bán cho con trai bác Tập toàn bộ đấy chỉ là của nổi còn của chìm nhiều vô kể có phải do ông lợi dụng chức quyền tham nhũng mà có ? hay do ôm chân, tiếp tay,bảo kê, giúp các tên Dũng, Tiếu, Việt, Thạch, những kẻ cầm đầu tập đoàn giặc nội xâm tỉnh Thái Bình rồi lũ chúng chia cho hay chúng trả công ông mà có ?hay do 2đứa con ông đang du học tại mỹ nhận đô la của mỹ gửi về mà ông giầu sang đến thế .Ông thử hỏi 4 ông đứng đầu lãnh đạo Đảng nhà nước này  các ông ấy nhận của Nguyễn Cao Kỳ hàng tỷ đô la để đầu tư vào Tuần Châu Hạ Long   đấy có phải là tiền của tên phản dân hại nước hay không?chứ chúng tôi những người dân nghèo đất đai tài sản đã bị các ông lợi dụng chức quyền cướp mất .Dù tôi có nhận tiền nước trong hay nước ngoài đi chăng nữa thì đây cũng là những  đồng tiền mồi hôi và nước mắt, công sức của những tấm lòng hảo tâm từ thiện đáng được trân trọng,còn sạch sẽ hơn những đồng tiền do các ông lợi dụng chức quyền tham nhũng mà có.Tôi biết làm sao mà các ông lại sợ đến như vậy bởi nếu có tiền thì  chúng tôi lại đi vạch mặt các ông những kẻ tham nhũng giặc nội xâm ăn cướp của  chúng tôi  mới đến nông nỗi này.

         Thưa ông Cảnh : trong thư này tôi chỉ muốn nói rằng ông mới mất hết tình người ông đã có đủ thứ giầu có sang trọng ,khi về với , cõi phật như cụ Hoàng Minh Chính  liệu có  mang đi được không ,nhưng lẽ sống tốt suốt đời đấu tranh để dành lấy độc lập tự do ,dânchủ,nhân quyền cho nhân dân như cụ Hoàng Minh Chính cũng để tiếng thơm cho đời , còn ông ôm chân lũ nội xâm ngăn cản trái phép chúng tôi không cho đi dự lễ tang của cụ thì ông sẽ để lại tiếng xấu cho muôn đời sau :( Trăm năm bia đá thì mòn ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ ) tôi thiết nghĩ ông có như vậy đã quá đủ rồi cũng đừng để mất tính người để có nhiều nữa để làm gì (bởi) trời cho ta nhưng trời lại cướp của ta ,ông vi phạm hiến pháp, pháp luật , ông có nhiều tiền ,có quyền, có chức ông chạy tội dễ như trở bàn tay , nhưng ông cố nữa  để mất tính người phạm phải luật trời, luật nhân quả thì e khó tránh ! chào ông chúc ông khẻo, sáng suốt để khỏi phạm luật trời

Nguyễn Văn Túc

thôn cổ dũng 1 

Đông La Đông Hưng

Thái Bình 0904580719

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.