Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

February 7, 2008

Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam… [kì 7] (Nguyễn Nhã)

Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Ts. Nguyễn Nhã
1 2 3 4 5 6 7

“… công trình tổng hợp, có hệ thống, có tính đúc kết một cách mới mẻ những công trình nghiên cứu, những tư liệu đã được phát hiện từ trước đến nay, vừa đầy đủ nhất, với một số tư liệu mới và những luận cứ, luận chứng xác đáng góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa…”
Chương III (tiếp theo và hết)
3.3.2. Phản bác các luận điểm của các nước Philippines, Malaysia, Brunei biện minh cho sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Quá muộn màng, gần một nửa thế kỷ sau khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, các nước ở Đông Nam Á khởi đầu bằng Philippines, tiếp tới Malaysia, Brunei mới bắt đầu đặt vấn đề xâm phạm chủ quyền trên một phần của quần đảo Trường Sa. Philippines bắt đầu xâm phạm chủ quyền Việt Nam đầu tiên từ năm 1956, Malaysia từ năm 1979, Brunei năm 1982.

Nguyên nhân bộc phát sự xâm phạm của các nước ở Đông Nam Á chính là ngoài vấn đề chiến lược còn là vấn đề tài nguyên khi mà tài nguyên ở đất liền cạn kiệt dần trong khi tài nguyên dưới biển chung quanh các hải đảo quần đảo Trường Sa lại có nhiều tiềm năng, nhất là về trữ lượng dầu hoả. Trung Quốc mưu toan xâm phạm ngay cả vùng thuộc thềm lục địa của Việt Nam (Xem các bản đồ về tình hình tranh chấp)

Khu vực tranh chấp tại Biển Đông giữa Việt Nam (lằn vạch vàng), Mã Lai (vạch nâu),
Philippines (vạch tím), Trung Quốc (vạch xanh), Indonesia (vạch xanh nhạt)

[xem hình khổ lớn]

Công Ước Về Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc năm 1982 qui định: Mỗi quốc gia được phép thiết lập lãnh hải không quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở ( Điều 3).

“Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được dùng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” (điều 7).

Quốc gia ven biển không được cản trở việc đi qua không gây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp mà Công ước đã trù định ( điều 24).

Quốc gia ven biển có thể lập một vùng giáp lãnh hải, không rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ( điều 33).

Một quốc gia quần đảo có thể kẻ những đường thẳng để xác định phạm vi lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế ( EEZ ) và thềm lục địa với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất kể cả vành đai san hô, phải “ở” giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Chiều dài của các đường cơ sở này không được vượt quá 100 hải lý, có thể có tối đa là 3% tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng cũng không quá 125 hải lý (điều 47 và 48).

Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước ở phía trong đường cơ sở quần đảo được vạch ra theo đúng điều 47 được gọi là vùng nước quần đảo, bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của vùng nước đó như thế nào (điều 49) . Quốc gia có bờ biển được phép có vùng đặc quyền “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” ( điều 57)

Vấn đề thềm lục địa, theo công ước 1982 đã chấp thuận cách định nghĩa mới và xác định giới hạn 200 hải lý thay cho tiêu chuẩn 200 m độ sâu. Hiện nay , qui mô của thềm lục địa tương đương với qui mô của EEZ. Người ta qui định rằng thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của nước này cho đến mép ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn ( điều 76.1)

Nếu rìa ngoài của thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, công ước qui định rằng có hai cách giới hạn phạm vi của thềm lục địa. Một là mở rộng đến 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng vùng lãnh hải. Hai là mở rộng không quá 100 hải lý tính từ đẳng sâu (150 bath) 2500 mét, là đường nối liền các điểm có chiều sâu 2500 mét (điều 76.5)

Công ước cũng cho phép các đảo có quyền có lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giống như lãnh thổ trên đất liền. Tuy phủ nhận quyền có thềm lục địa và EEZ đối với những đá không thể nuôi sống con người hoặc không có cuộc sống kinh tế riêng, song rõ ràng công ước đã làm cho sự tranh chấp trở nên phức tạp khi xảy ra đầy rẫy những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán quốc gia trong phạm vi cách nhau 400 hải lý.Việt Nam cùng các nước khác trong vùng cũng đã công bố những đường cơ sở của bờ biển cũng như thềm lục địa và EEZ .

Chắc chắn sẽ xảy ra những vùng chồng lấn tranh chấp chỉ với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc ở rất xa không hề có hiện tượng chồng lấn ở Trường Sa, nếu có chỉ có thể ở Hoàng Sa mà thôi. Đối với Philippines, lãnh hải trước đây đã được ghi rõ trong bản hiệp định giữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1895 (điều 3 Hiệp định ký 10/12/1898 giữa Tây Ban Nha và Mỹ) xác định biên giới phía Tây của Philippines đi qua kinh gốc 118 o Đông, như vậy là không bao gồm một đảo nào trong quần đảo Trường Sa) và trong hiệp định giữa Mỹ và Anh hồi năm 1930, đã được tính dọc theo các đường kinh tuyến và vĩ tuyến song song tạo thành vùng hình chữ nhật.

Trong hai năm 1949 và 1950, Tomas Cloma, chủ một đội ngư thuyền và thương thuyền đồng thời là giám đốc một trường hàng hải Philippines đã khám phá thấy một nhóm đảo lớn nhỏ ở cạnh đảo Palawan của Philippines khoảng 400 dặm về phía Tây. Ông hy vọng lập một nhà máy nước đá và một nhà máy đóng đồ hộp ở trên một hòn đảo lớn nhất ở đây cũng như là khai thác phân chim trong những hòn đảo kế cận.

Ngày 17 tháng 5 năm 1951, Tổng Thống Philippines lên tiếng đòi chủ quyền quần đảo Trường Sa lấy cớ là Trường Sa ở sát cạnh quần đảo Philippines.

Ngày 24 tháng 8 năm 1951, Tân Hoa Xã tranh cãi về chủ quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines và kiên quyết khẳng định chủ quyền của Trung Quốc.

Ngày 15 tháng 3 năm 1956, Thomas Cloma cùng một nhóm tìm kiếm Philippines đổ bộ lên vài đảo ở quần đảo Trường Sa, viện cớ đó là những đảo hoang vô chủ và đặt tên cho những vùng đã chiếm là “Freedomland”. Sau đó Thomas Cloma thông báo cho Ngoại trưởng Philippines biết các sự việc, xin chính phủ Philippines cho vùng đất đã chiếm được hưởng qui chế đất bảo hộ.

Ngày 19/5 Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Philippines tuyên bố là ngoài 7 đảo được quốc tế biết cái tên là Spratly, tất cả các đảo nhỏ linh tinh khác trong quần đảo này đều là đất vô chủ (res nullius).

Năm 1971, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Philippines thông báo là để đảm bảo an ninh cho Philippines, Philippines đã chiếm đóng 4 đảo Vĩnh Viễn, SongTử Đông, Loaita, Thị Tứ mà họ gọi là Lawak, Parola, Kota, Pagasa.

Ngày 16 tháng 7 năm 1971, Tân Hoa Xã lên án việc Philippines chiếm đóng một số đảo của quần đảo Trường Sa và khẳng định các yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo này. Năm 1978, Philippines chiếm thêm đảo Panata trong quần đảo Trường Sa, nâng tổng số đảo họ chiếm lên 7 đảo, ngoài 4 đảo đã chiếm 1971, 2 đảo khác họ lấy tên Likas và Pugad.

Ngày 11 tháng 6 năm 1978, tổng thống Philippines ký sắc lệnh coi hầu hết quần đảo Trường Sa trừ đảo Trường Sa (Spratley), là lãnh thổ Philippines gọi là Kalayaan.

Ngày 2 tháng 3 năm 1978, quân đội Philippines chiếm thêm 1 đảo nữa, đảo Lan Kian Kay trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 28 tháng 7 năm 1980, Philippines chiếm đóng đảo Condor trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 11 tháng 8 năm 1980, Việt Nam gửi công hàm phản đối.

Ngày 21 tháng 5 năm 1984, Hiệp Ước Phòng Thủ chung Mỹ Philippines không coi quần đảo Kalayaan (tức Trường Sa ) là bộ phận lãnh thổ Philippines. Cũng vào tháng 5 năm 1984, trước sự phản đối liên tiếp của phía Việt Nam, ông Win Naelson, Tổng Thư Ký OMM đã trả lời phía Việt Nam: “Cái tên gọi được dùng trong công bố này và việc trình bày các số liệu ở trong đó không ràng buộc đối với tổng thư ký OMM về bất cứ việc đưa ra quan điểm nào có liên quan đến quy chế pháp lý của các nước, các lãnh thổ, các thành phố hoặc khu vực hay các hoạt động của họ, cũng không ràng buộc về việc vạch ra các đường biên giới hay giới hạn của các nước”.

Malaysia, ngày 21 tháng 12 năm 1979 đã công bố một bản đồ mới qui định ranh giới thềm lục địa và vùng biển của mình, trong đó, có một vùng rộng lớn phía Nam quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trước đó vào năm 1971, sứ quán của Malaysia gửi công hàm số EJ7-71 ngày 3 tháng 2 năm 1971, hỏi Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà các đảo nằm trong lãnh thổ của nước gọi là Cộng Hoà Morac – Songhrati – Meads, nằm giữa vĩ tuyến 90 Bắc và kinh tuyến 1120 Tây có thuộc hay là đối tượng yêu sách của Việt Nam Cộng Hoà không?

Ngày 20/4 trong công hàm trả lời, Chính quyền Sàigòn đã khẳng định quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngày 15 tháng 5 năm 1980, Malaysia đã tuyên bố nhận chủ quyền khu EEZ rộng 200 hải lý và đề nghị giải quyết các vùng phân định phạm vi quyền tài phán chồng lên bằng các biện pháp hoà bình. Ranh giới ngoài của thềm lục địa của Malaysia bao gồm một phần phía Nam của quần đảo Trường Sa của Việt Nam, trong đó có các đảo An Bang, Thuyền Chài do Việt Nam chiếm giữ và đá Công Đo do Philippines chiếm đóng. Đây là yêu sách chính thức đầu tiên của Malaysia tranh chấp với Việt Nam.

Ngày 23 tháng 2 năm 1983, Malaysia đưa ra vấn đề chủ quyền của họ đối với 3 hòn đảo trong quần đảo Trường Sa. Ngày 25 tháng 3 năm 1983, Bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ mọi đòi hỏi của Malaysia đối với các đảo trên. Và cũng trong tháng 6 năm 1983, Malaysia đưa binh lính chiếm đóng đảo Hoa Lau và bắt đầu những công trình xây dựng, chính phủ Việt Nam phản đối quyết liệt.

Tháng 12 năm 1986, Malaysia chiếm đóng các đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa thuộc quần đảo Trường Sa. Vì bắt đầu tranh chấp quá chậm, từ cuối thập niên 70 nên Malaysia không có những bằng chứng lịch sử. Từ năm 1978, Malaysia đã cố gắng tìm kiếm lập luận để biện minh. Năm 1988, Thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Malaysia, ông Toh Muda đưa ra lập luận : “Các đảo và đá san hô thuộc chủ quyền của Malaysia và Malaysia trong quá khứ đã khẳng định quyền tài phán của chúng… Chúng nằm trong vùng thềm lục địa của Malaysia và chủ quyền của Malaysia trên các đảo đá đó đã được tuyên bố chính thức qua tấm bản đồ mới của Malaysia và công bố ngày 21-12-1979… Yêu sách này là phù hợp với Công Ước Genève năm 1958 và ranh giới lãnh hải và thềm lục địa và Công Ước của Liên Hợp Quốc về luật biển vũng như thực tiễn quốc tế khác”. (New Straits Times, 23-1985).

Năm 1995, Malaysia tuyên bố và tiến hành xây dựng cơ sở du lịch trên các điểm họ chiếm đóng Ngày 27 tháng 6 năm 1996, phát biểu tại buổi khai mạc “Chương trình thị trường du lịch Langkawi”, Thủ Tướng Malaysia Mahathir Mohamad nói rằng các đảo san hô ở Biển Đông mà Malaysia đã xây dựng các kết cấu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và như vậy Malaysia không hề xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào cả. (TTXVN, Tin Nhanh, ngày 28-6-1996)

Tháng 6-1999, Malaysia chiếm đóng và xây dựng công trình nhà hai tầng và các cơ sở Rađa trên bãi cạn Thám Hiểm (Peninjan) và đá Én Ca (Siput), cách bờ biển phía Đông Malaysia 160-170 hải lý. Brunei thì đã ban hành đạo luật đánh cá năm 1982 rộng 200 hải lý, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1983. Vùng này chồng lấn với các vùng đặc quyền về kinh tế mà các nước láng giềng nhận chủ quyền. Còn Indonésia cũng tuyên bố nhận EEZ rộng 200 hải lý tháng 3 năm 1988, song không có sự tranh chấp nào liên quan đến quần đảo Trường Sa.

Ngày 16/12/1994 Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển có hiệu lực sau khi có 60 nước phê chuẩn Công ứơc.

Ngày 23/06/1994, nước Việt Nam là nước thứ 61 phê chuẩn Công Ước.Trong bối cảnh ra đời luật biển 1982, sự tranh chấp chủ quyền về Trường Sa có nguy cơ tăng lên. Trình bày những sự kiện trên đây cốt để chứng tỏ sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của các nước Philippines, Malaysia và Brunei với lý do rất đơn giản và quá muộn màng. Luận điểm của Philippines nói chung dựa vào “thuyết kế cận”, cho rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa gần nước ấy hơn và là những hòn đảo vô chủ. Còn các nước Malaysia, Brunei đặt vấn đề vùng đặc quyền kinh tế dựa vào qui định của Công Ước Về Luật Biển năm 1982. Trong khi trên thực tế Việt Nam đã có chủ quyền trên quần đảo Trường Sa từ rất lâu trước khi có Công Ước về luật biển. Do hầu hết đều là các đảo đá san hô có lúc thủy triều lên bị chìm xuống dưới biển hoặc không có người ở trong số hơn 100 đảo, đá, bãi ngầm nên các nước đó cho rằng các đảo, bãi ấy còn hoang vu nên có nước chiếm được thì nước họ cũng có quyền chiếm hữu, vì vậy khi có thời cơ thuận lợi là các nước ấy hành động.

Từ khi có Luật Biển năm 1982, các nước trên cho rằng mình áp dụng luật này về thềm lục địa, về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Song Luật Biển năm 1982 cũng đã qui định khi có chồng lấn với nước đã có chủ quyền ở các hải đảo thì phải giải quyết bằng con đường thoả thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã được nêu ở điều 38 của quy chế Toà Án Quốc Tế, để đi đến một giải pháp công bằng (điều 74, 83). Khác với Việt Nam và Trung Quốc, các nước Philippines, Malaysia, Brunei đều không chủ trương đòi chủ quyền tất cả quần đảo mà chỉ một phần, Philippines đòi nhiều hơn, trừ đảo Trường Sa (Spratly) của Việt Nam, Malaysia lấy các đảo Loaita làm ranh giới, Brunei cũng thế đòi chủ quyền các đảo kế cận nước họ.

Từ những năm thập niên 80, các nước Philippines, Malaysia đã dùng vũ lực chiếm đóng và có những hành động khiêu khích đối với lực lượng bảo vệ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa, là vi phạm công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 cũng như Hiến Chương Liên Hợp Quốc.

PHẦN KẾT LUẬN

Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu cho đến trước thời Pháp thuộc, được người Việt Nam quan niệm là một, gồm những dãi cát (san hô) dài vạn dặm ở Biển Đông; đến thời Pháp thuộc, mới được tách làm hai quần đảo. Trái ngược lại với Trung Quốc, tên gọi Hoàng Sa của Việt Nam mà chữ Nôm có nghĩa là Cát Vàng hay gọi là Cồn Vàng rất nhất quán từ đầu thế kỷ XVII đến nay và đã được các người phương Tây từ đầu thế kỷ XIX như Taberd, Chaigneau, Gutzlaff xác nhận chính là Parcel hay Paracels!

Đó là chưa kể các tài liệu Việt Nam như Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã xác định rất rõ vị trí Hoàng Sa ở gần Liêm Châu, thuộc Hải Nam Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc chỉ mới đặt tên Tây Sa và Nam Sa từ đầu thế kỷ XX. Tên gọi Tây Sa, lại được Trung Quốc ra sức gán ghép với những địa danh rất mơ hồ như Cửu Nhũ Loa Châu, lại chỉ là những hòn đảo ở gần bờ biển Quảng Đông của Trung Quốc . Còn về Nam Sa, Trung Quốc lại rất bất nhất, khi thì chỉ Macclesfield, khi thì chỉ Spratley.

Việt Nam đã có đầy đủ bằng chứng địa lý, lịch sử và pháp lý cụ thể rõ ràng, chứng minh một thực tế lịch sử không thể tranh cãi về sự chiếm hữu thực sự, hoà bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Lợi dụng địa hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm rải rác, khó phòng thủ trong Biển Đông, bị ảnh hưởng khí hậu gió mùa, lại là vùng có nhiều bão tố, lợi dụng tình trạng người Việt sống và khai thác ở hai quần đảo này theo mùa, ít ra trong 6 tháng hàng năm, cũng như lợi dụng thời kỳ Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị, mất quyền tự chủ về ngoại giao và thời kỳ Việt Nam có chiến tranh giải phóng giành độc lập, Trung Quốc và các nước khác đã dùng vũ lực chiếm đóng bất hợp pháp từng phần rồi trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa, đã và đang tiếp tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Trường Sa.

Gần một thế kỷ, từ đầu thế kỷ XX đến nay, khi bị nước ngoài xâm phạm, các chính quyền ở Việt Nam kể cả thời bị thực dân cai trị đều tiến hành việc quản lý hai quần đảo này, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam, tuy cung cách tiến hành có khác.

Cho đến thời điểm bắt đầu có nước ngoài xâm phạm chủ quyền năm 1909, suốt gần 3 thế kỷ từ thế kỷ XVII, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bìnhï và thựïc thi liên tục, theo đúng nguyên tắc pháp lý quốc tế thời ấy.

Những bằng chứng cụ thể cho sự chiếm hữu thực sư hoà bình và thực thi liên tục ấy là:

Đối với quần đảo Hoàng Sa: Suốt gần ba thế kỷ, khởi đầu từ thế kỷ XVII cho đến khi Trung Quốc xâm phạm (1909), Hoàng Sa đã thuộc quản lý hành chánh của Quảng Ngãi khi là phủ, dinh rồi trấn và tỉnh dưới thời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn (đầu thế kỷ XVII – 1801), và thời nhà Nguyễn (từ 1802) đến thời Pháp thuộc.

Chính các vua Việt Nam trong đó có vua Minh Mạng (1836), Thiệu Trị (1845) và đình thần (Bộ Công), đã khẳng định trong tài liệu biên niên sử (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 104, 154, 165) hay Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu hoặc trong pháp chế (Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, quyển 221) hoặc trong văn khố (các tập châu bản 56, 57) rằng Hoàng Sa nằm trong hải phận Quảng Ngãi, cương giới hiểm yếu của Việt Nam .

Chính nhận thức của vua Minh Mạng và triều đình về Hoàng Sa nằm trong cương vực hiểm yếu đã mang ý nghĩa về tầm nhìn chiến lược của tiền nhân ta về các hải đảo ở Biển Đông. Ngoài Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, Dư Điạ Chí của Phan Huy Chú cũng có sách địa lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn như Hoàng Việt Địa Dư Chí, nhất là Đại Nam Nhất Thống Chí đều ghi rõ quần đảo Hoàng Sa vào mục hình thể hoặc cương vực, vùng biển của tỉnh Quảng Ngãi. Nhà nước ở Việt Nam đã tổ chức đội Hoàng Sa khai thác sản vật ở Hoàng Sa lâu dài hàng năm trong 6 tháng vào mùa có khí hậu thích hợp, liên tục hơn hai thế kỷ từ đầu thế kỷ XVII, dưới thời Chúa Nguyễn sang đến đời Tây Sơn, đến đầu nhà Nguyễn.

Từ năm 1816 thời Gia Long đã bắt đầu, song từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), mới trở thành lệ hàng năm việc triều Nguyễn sai thủy quân cùng với đội Hoàng Sa đi thám sát, đo đạc, vẽ bản đồ, và còn có khi dựng miếu thờ làm bằng đá, dựng bia, cột mốc, trồng cây… Nhiều người phương Tây viết nhật ký, bài viết, vẽ bản đồ khẳng định Paracel là quần đảo thuộc nước “An Nam” hoặc như giám mục Taberd (1838) đã khẳng định Cát (Kát) Vàng (Hoàng Sa) là Paracels, hoặc như Jean Baptist Chaigneau (1820) hay Gutzlaff (1849) đã chép rằng vua Gia Long từ năm 1816 đã cho cắm cờ, dựng bia, đặt trại binh, thu thuế.

Chính người Trung Quốc như Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sự cũng xác nhận các chúa Nguyễn, hàng năm cho thuyền khai thác các sản vật các tàu bị đắm ở vùng Vạn Lý Trường Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam).

Ngay bộ tài liệu sưu tập mới nhất của Trung Quốc là Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên thiên thứ 1, trang 115 do Hàn Chấn Hoa chủ biên cũng ghi lại dấu vết trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu đặt ở mặt Bắc gọi là Hoàng Sa Tự. Hoàng Sa Tự chính là vết tích việc xác lập chủ quyền của Việt Nam, các vua chúa Việt Nam như thời Minh Mạng cho xây dựng miếu Hoàng Sa. Từ khi bị nước ngoài xâm phạm, các nhà nước ở Việt Nam kể cả thời Pháp thuộc không bao giờ từ bỏ chủ quyền Việt Nam, tiếp tục có các hành động củng cố, thực thi chủ quyền.

Đối với quần đảo Trường Sa: Theo quan điểm quản lý các hải đảo ở Biển Đông của các triều đình Việt Nam, trong một thời gian dài, quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là một. Những bằng chứng cụ thể cho sự chiếm hữu thực sự, hoà bình và thực thi liên tục của Việt Nam như sau: Quần đảo Trường Sa nằm chung trong Quần Đảo Hoàng Sa, thuộc cương vực vùng biển của Quảng Ngãi, nên thuộc quyền quản lý hành chánh của Quảng Ngãi. Song phần đảo Phía Nam chỉ thực sự sáp nhập vào quần đảo Hoàng Sa sau khi Bình Thuận sáp nhập vào Đại Việt năm 1697 và Bình Thuận chỉ quản lý hộ khẩu dân binh đội Bắc Hải.

Mãi đến năm 1933 dưới thời Pháp, Trường Sa mới được thuộc vào tỉnh Bà Riạ thuộc Nam Bộ Việt Nam. Sau này thời chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, Trường Sa được đổi thành thuộc tỉnh Phước Tuy. Đến Khi Việt Nam thống nhất, Trường Sa mới thuộc quản lý của tỉnh Khánh Hoà. Nhà nước Việt Nam từ thời chúa Nguyễn, cuối thế kỷ XVII đã tổ chức đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, hoạt động liên tục cũng hàng năm lấy hải vật, vàng bạc ở các đảo ở phía Nam Bắc Hải tức Trường Sa hiện nay và Côn Lôn, Hà Tiên. Sang thời nhà Nguyễn, cũng như tại Hoàng Sa, nói chung, tại Trường Sa ngày nay nói riêng, cũng có những hoạt động khẳng định, thực thi chủ quyền của Việt Nam do thủy quân đảm trách, kể từ năm 1816 trở đi.

Thời Pháp thuộc, Pháp có hành động chiếm hữu quần đảo Trường Sa theo truyền thống Phương Tây và sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa thuộc Nam Kỳ, xứ thuộc địa trực trị của Pháp. Cho đến năm 1956, quân Pháp rút khỏi Đông Dương, bàn giao lại cho chính quyền Sàigòn tiếp tục quản lý Trường Sa. Sau thời gian dài gần ba thế kỷ, Việt Nam xác lập và khẳng định chủ quyền, Trung Quốc là nước đầu tiên xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên đảo Trường Sa, khi Trường Sa được tách khỏi Hoàng Sa, và chậm hơn Hoàng Sa ở phía Bắc.

Đến thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc mới thực sự xâm phạm quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Vì lúc đầu, Trung Quốc chỉ quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa. Nam Sa lúc đầu chỉ Macclesfield mà thôi. Suốt thời gian Trung Quốc và các nước xâm phạm chủ quyền Việt Nam , thời Pháp thuộc đến thời kỳ chiến tranh chống Pháp hay chống Mỹ, các chính quyền ở Việt Nam có nhiệm vụ quản lý quần đảo Trường Sa, đã luôn đóng quân, tổ chức khảo sát khoa học, khai thác tài nguyên ở Trường Sa, tái khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Những bằng chứng về sự chiếm hữu thật sự, hoà bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã rành rành như vậy, không ai có thể chối cãi, vậy tại sao Trung Quốc và các nước khác lại cố tình xâm phạm chủ quyền ấy của Việt Nam. Đó là hành động thôn tính (debellatio) Họ đã đưa ra những luận điểm rất khiên cưỡng, võ đoán. Hoàng Sa cũng như Trường Sa từ trước không là đất vô chủ (res nullius), cũng không phải là đất từ bỏ (derelicto), mà bị xâm phạm bằng vũ lực. Trung Quốc và các nước khác đã và đang xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và sau đó là Trường Sa, lúc đầu đưa ra luận điểm đất Hoàng Sa vốn vô chủ (res nullius) để tranh chiếm.

Khi chính quyền ở Việt Nam thời Pháp thuộc bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử về sự chiếm hữu thực sự của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn và thời nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng) và có hành động thực thi tái khẳng định chiếm hữu quần đảo Trường Sa vào nửa đầu thế kỷ XX thì Trung Quốc bắt đầu cố tìm cách gán ghép, suy diễn rằng Trung Quốc đã xác lập chủ quyền từ lâu đời, khi thì thế kỷ XV, khi thì thời Tống, khi thời Đông Hán ( Tam Quốc)!

Sau khi Trung Quốc chiếm đóng trái phép trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa năm 1974, và năm 1980, Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra văn kiện với những luận điểm như Trung Quốc đã phát hiện sớm nhất, khai thác kinh doanh sớm nhất, quản hạt sớm nhất với những bằng chứng suy diễn, vu vơ, bất nhất., thiếu cơ sở khoa học và thiếu thuyết phục.

Từ khi Luật Biển ban hành 1982 đến nay, nguyên nhân kinh tế cũng quan trọng không kém nguyên nhân chính trị, quân sự. Tài nguyên dưới biển nhất là trữ liệu lớn dầu khí, khí đốt ở khu vực biển Đông đã khiến các nước trong khu vực đặt vấn đề chiếm hữu để khai thác. Ngoài ra Luật Biển năm 1982 cũng nảy sinh vấn đề thềm lục địa mới, lãnh hải đặc khu kinh tế (EEZ) của mỗi nước chồng lấn giữa các nước trong khu vực.

Thực chất Trung Quốc và các nước xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vấn đề tranh giành thế lực kiểm soát biển Đông vào lúc đầu tức chủ yếu là về mặt chính trị quân sự. Sau đó từ vài thập niên gần đây đến hiện nay , thực chất vấn đề xâm phạm chủ yếu là do tham vọng chiếm hữu về tài nguyên dưới biển, nhất là dầu khí.

Riêng đối với Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa còn là nơi hiểm yếu hay yết hầu, về mặt chiến lược phòng thủ phía biển Đông.

Vì thế đối sách tối ưu của Việt Nam là luôn luôn khẳng định chủ quyền từ lâu đời và mãi mãi trong tương lai trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền này là bất khả tranh nghị, không thể chối cãi. Nếu cần chờ thời cơ đến hàng ngàn năm như thiên niên kỷ thứ nhất thì Việt Nam vẫn phải kiên trì chờ đợi thời cơ thuận lợi để lấy lại chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và sức mạnh muôn đời bảo vệ lãnh thổ chống xâm lược của Việt Nam vẫn là sức mạnh của nhân dân trên đất liền cũng như ngoài biển. Còn đối với quần đảo Trường Sa, Việt Nam phải kiên quyết bảo vệ đến cùng những đảo Việt Nam đang trấn giữ.

Mặt khác, Việt Nam cũng phải kiên trì theo đuổi giải pháp hoà bình, thương lượng song phương hay đa phương để giải quyết vấn đề chủ quyền. Trong hoàn cảnh thuận lợi, Việt Nam sẽ tiếp tục đề nghị giải pháp đưa ra toà án quốc tế giải quyết vấn đề chủ quyền bị xâm phạm. Việt Nam luôn `chứng tỏ Việt Nam muốn bàn bạc với tất cả các nước, không là mối nguy cho bất cứ nước nào.

Đề nghị Việt Nam phải có chiến lược lâu dài đấu tranh giành lại chủ quyền và bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Đem “lịch sử xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” vào trong chương trình học ở phổ thông và đại học.

Phong liệt sĩ anh hùng cho những ai hy sinh cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đặt tên đường, trường học Hoàng Sa và Trường Sa và các liệt sĩ anh hùng đã hy sinh cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phổ biến rộng rãi kể cả trên mạng internet về lịch sử xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phân chia vùng biển cho các tỉnh địa phương từ tỉnh Quảng Trị đến Cà Mau, Rạch giá, chính quyền cùng nhân dân quản hạt và khai thác tài nguyên, đầu tư xây dựng và bảo vệ lãnh hải vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU

I – TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1.(1686), Đỗ Bá CÔNG ĐẠO (Bửu Cầm dịch), Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư quyển 1, Hồng Đức Bản Đồ, tủ sách Viện Khảo Cổ, Sàigòn, 1962, tr. 70 – 102.

2.(1696), THÍCH ĐẠI SÁN (Nguyễn Phương, Hải Tiên Nguyễn Duy Bột dịch), Hải Ngoại Kỷ Sự, Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam, Đại Học Huế, 1963.

3.(1776) Lê Quí ĐÔN (Lê Xuân Giáo dịch), Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 (tập I), Tủ sách Cổ Văn Ủy Ban Dịch Thuật, Sàigòn, 1972.

4.(1776) Hà LIỄU (cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh), “đơn xin chính quyền Tây Sơn cho phép đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi tiếp tục hoạt động”, tài liệu lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), nguyên văn chữ Hán, và bản dịch (tài liệu của Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân sưu tầm)

5.(1786) THÁI PHÓ TỔNG LÝ QUÂN BINH DÂN CHƯ VỤ THƯỢNG TƯỚNG CÔNG, chỉ thị của quan Thái Phó Tổng Lý Quân Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công (Tây Sơn), Thái Đức năm thứ 9, ngày 14 tháng 2 (1786), tài liệu lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), nguyên văn chữ Hán và bản dịch (tài liệu của Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân sưu tầm).

6.(1821) Phan Huy CHÚ (Tố nguyên Nguyễn Thọ Dực dịch), Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, quyển 5, Dư Địa Chí, Tủ sách Cổ Văn Ủy Ban Dịch Thuật, Sàigòn, 1972.

7.(1833) Vô Danh (Lê Xuân Giáo trích dịch), Hoàng Việt Địa Dư Chí, quyển 1, Tập san Sử Địa, (29) (tháng 1-3/1975), tr 128-131.

8.(1835) MINH MẠNG, Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tập Châu bản Minh Mạng số 54, trang 92, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), 5-1999, tr 20.

9.(1836) Bộ Công. Phúc tấu ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836),Tập Châu bản Minh Mạng 55, trang 336, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), tháng 5- 1999, tr 21.

10.(1836) Bộ Công, Tấu của bộ Hộ ngày 11 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Tập Châu bản Minh Mạng số 57, trang 211. Xưa và Nay, (số 63B), Hà Nội, tháng 5- 1999, tr 21.

11.(1837) MINH MẠNG, Dụ ngày 13 tháng 7 Minh Mạng 18 (1837), Tập Châu bản Minh Mạng 57, trang 245, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), tháng 5- 1999, tr 21 (Nguyên văn và bản dịch của Nguyễn Chí Viễn ở phần phụ lục).

12.(1838 ) Bộ Công, Tấu của bộ Công ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Tập Châu bản Minh Mạng 68, trang 21, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), tháng 5- 1999, tr 21 (Nguyên văn và bản dịch của Nguyễn Chí Viễn ở phần phụ lục).

13.(1838 ) TỈNH THẦN TỈNH QUẢNG NGÃI, Tấu của tỉnh Quảng Ngãi ngày 19 tháng 7 Minh Mạng 19 (1838 ),Tập Châu bản Minh Mạng số 64. trang 146, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), tháng 5- 1999, tr 21.

14.(1844) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, quyển 8 & 10. Tập I, Nxb Sử Học, Hà Nội, 1962.

15.(1847) Bộ Công, Phúc tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847),Tập Châu bản Thiệu Trị 41, trang 83, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), tháng 5- 1999, tr 21(bản dịch).

16.(1847) Bộ Công, Phúc tấu của Bộ Công ngày 28 tháng 12 năm Thiệu Trị 7 (1847),Tập Châu bản Thiệu Trị 51, trang 235, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 63B), tháng 5- 1999, tr 21 (Nguyên văn và bản dịch của Nguyễn Chí Viễn ở phần phụ lục).

17.(1848 ) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ, quyển 50, 52, Nxb Sử Học, Hà Nội, 1963.

18. (1848 ) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch Viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ, quyển 104. Tập XIII, Nxb Khoa Học, Hà Nội, 1965.

19.(1851) Nội Các Triều Nguyễn (Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân dịch), Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, quyển 207, 221 ,(tập 13), Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993.

20. (1864) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch Viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhị kỷ, quyển 49, Tập XXV, Nxb Khoa Học, Hà Nội, 1971.

21.(1864) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch Viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhị kỷ, quyển 154, Tập XVI, Nxb Khoa Học, Hà Nội, 1966.

22.(1864 ) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch Viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhị kỷ quyển 165, Tập XVI, Nxb Khoa Học, Hà Nội, 1967.

23.(1877) Nguyễn THÔNG (Ca Văn Thỉnh, Bảo Định Giang dịch), Việt Sử Cương Giám Khảo Lược (Vạn Lý Trường Sa), (trích trong Nguyễn Thông: con người và tác phẩm), Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1984.

24.(1879) Quốc Sử Quán (Tổ phiên dịch Viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ tam kỷ, quyển 122, Tập XIV, Nxb Khoa Học, Hà Nội, 1965.

25.(1882) Quốc Sử Quán (Phan Trọng Điềm dịch), Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 : Quảng Ngãi Tỉnh, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1970.

26.(1924) Quốc Sử Quán (Lê Xuân Giáo trích dịch), Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu, quyển 3. Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29) (tháng 1-3/1975), tr 142-144.

27.(1932) Toàn Quyền Đông Dương, “Nghị định số 156 -SC do Toàn Quyền Đông Dương ký ngày 15 tháng 6 năm 1932 thiết lập tổ chức hành chánh tại quần đảo Hoàng Sa” .

28.(1932) Vô Danh, “Nước Pháp muốn đòi đảo Tây Sa cho dân Việt Nam ta. Những chứng cứ và lời biện bạch”, Nam Phong, Hà Nội, (172), tháng 5/ 1932, tr 54 – 457. 2

9.(1932)Vô Danh, “Nhân vấn đề đảo Tây Sa nhớ đến nước cổ của ta. Đính chính lại mấy chỗ sai lầm trong các bộ Sử”, Đông Thanh, Hà Nội, (1), 01/07/1932, tr 4 – 7.

30. (1933)Nguyễn Bá TRÁC chủ biên , “Quảng Ngãi tỉnh chí”, Nam Phong tạp chí,148 tr (bản dịch tàng trữ tại Bảo Tàng Tổng Hợp tỉnh Quảng Ngãi).

31.(1934) Vô Danh, “Việc trong nước, việc giao thiệp thu hồi quần đảo Tây Sa, Đông Thanh, Hà Nội, (1), 01/07/1934, tr 56 – 50.

32.(1938 ) BẢO ĐẠI, Dụ số 10 ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13, 30 Mars 1938, Nam Triều Quốc Ngữ Công Báo, số 8, tr 233.

33.(1938 ) HOÀNG ĐẠO,”Người và Việc: Quần đảo Paracels bỗng nhiên hoá ra quan trọng”, Ngày nay, Hà Nội, 24/07/1938, tr 5.

34.(1951) Thủ Tướng Trần Văn HỮU, “Bản tuyên bố tại Hội Nghị San Francisco, ngày 6 và 7 tháng 9 năm 1951, France – Asie, (no 66-67) (Novembre – décembre, 1951), p512 – 505.

35.(1956)Tổng thống VIỆT NAM CỘNG HOÀ, Sắc lệnh số 143 – NV 22 -10-1956 thay đổi địa giới và tên đô thành Sàigòn – Chợ Lớn, của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Quy Pháp Vựng Tập, tập 7, 1956, tt 465 -466.

36.(1961) Tổng thống VIỆT NAM CỘNG HOÀ, Sắc lệnh số 174 – NV ngày 13 tháng 7 năm 1961 do Ngô Đình Diệm ký, đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã làng danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang. Quy Pháp Vựng Tập,1961, tr 365.

37.(1961) TÂN PHONG, “Vấn đề chủ quyền trên nhóm quần đảo Tây Sa và Trường Sa”, Quê hương, Sàigòn, bộ III, (27), 1961, tr 178 – 190.

38.(1963) THIỆN SINH, “Quần đảo Tây Sa (Paracels) của Việt Nam hay của Trung Hoa”, Phổ thông, Sàigòn, (63), 15/08/1961, tr 109 – 114.

39.(1969) Thủ tướng VIỆT NAM CỘNG HOÀ, Nghị định số 709 – BNV/ HCĐP/26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 do Trần Thiện Khiêm ký sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Ngãi vào xã Hoà Vang cùng quận. Quy Pháp Vựng Tập, 1969, quyển XII, tập 2, tr 1558.

40.(1970) Phạm Quang ĐƯỜNG, “Vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa”, Đặc san Địa Dư, Dalat, (4), tháng 11/1970, tr 37 – 40 và 72 – 76.

41.(1971) Phạm Quang ĐƯỜNG, “Vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa”, Đặc san Địa Dư, Dalat, (6), tháng 11/1970, tr 33 – 38 và 59 – 62.

42.(1972) Đinh Văn CƯ, “Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Luận văn Tốt Nghiệp Ban Đốc Sự, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Sàigòn., 137 tr.

43.(1973 Bộ nội vụ VIỆT NAM CỘNG HOÀ , Nghị định số 420 – BNV/HĐCP/26 do Lê Công Chất ký ngày 6 tháng 9 năm 1973, sáp nhập một số đảo vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy, Công Báo Việt Nam Cộng Hòa, năm thứ 19, (số 51), thứ bảy 29 tháng 9 năm 1973.

44.(1974) Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi V.N.C.H., Hoàng Sa, lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Sàigòn, tháng 03/1974, 96 tr.

45.(1974) Bộ Tư Lệnh Hải Quân ( Sàigòn), “Chiến thắng Hoàng Sa”, Tin Hải Quân, Sàigòn, Năm thứ năm, bộ mới, (2), ngày 01/03/1974.

46.(1974) HUY BÁCH, “Cuộc tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hoà”. Quốc Phòng nguyệt san, Sàigòn, (46), Tháng 4/1974 , tr 3 – 41.

47.(1974) Nguyễn Hữu LÀNH, “Luật quốc tế và vấn đề đảo Hoàng Sa và Trường sa”, Quốc Phòng nguyệt san, Sàigòn, (46), tháng 4/1974, tr 71 – 85.

48.(1974) Nguyễn Thành SONG, “Hoàng và Trường Sa đều là Việt Nam”, Thời nay giai phẩm, Sàigòn, 04/03/1974, tr 13 – 42.

49.(1974) “Tuyên cáo của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà về những hành động gây hấn của Trung Cộng trong khu vực quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974”. Tài liệu của Bộ Ngoại Giao, Sàigòn, (số 015/BNG/TTBC/ TT).

50.(1974) “Tuyên cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng Hoà, ngày 14 tháng 2 năm 1974”, Tài Liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sàigòn.

51.(1974) TỪ MINH, “Cuộc tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa”, Bách Khoa, Sàigòn, tháng 02/1974, tr 9 – 15.

52.(1975) Kỹ sư Trần Hữu CHÂU, “Phúc trình về công tác nghiên cứu phốt phát lần cuối cùng tại quần đảo Hoàng Sa của phái đoàn chuyên viên hỗn hợp Nhật – Việt vào mùa Thu năm 1973”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 19-31.

53.(1975) Trần Đăng ĐẠI, “Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 274 -294.

54.(1975) Sơn Hồng ĐỨC, “Thử khảo sát về quần đảo Hoàng Sa”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 181-202.

55.(1975) Trần Thế ĐỨC, “Hoàng Sa những nhân chứng”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 275-321.

56.(1975) Trần Thế ĐỨC, Nguyễn Văn HƯỜNG, Lâm Vĩnh THẾ, Nguyễn Nhựt TẤN và HOÀNG VIỆT TỬ (Nguyễn NHÃ), “Thư Mục chú giải về Hoàng Sa”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 322-348.

57.(1975) Hoàng Xuân HÃN, “Quần đảo Hoàng Sa”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr7-19.

58.(1975) HÃN NGUYÊN (Nguyễn Nhã), “Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua nhiều thế kỷ”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 115-180.

59.(1975) Nguyễn HUY, “Hoàng Sa dưới mắt nhà địa chất H. Fontaine”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 203 -210.

60.(1975) Thái Văn KIỂM, “Những sử liệu Tây Phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 32-40.

61.(1975) LAM GIANG, “Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giữa Đông Hải”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 44-53.

62.(1975) LÃNG HỒ, “Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 54-114.

63.(1975) Nguyễn NHÃ, “Thử đặt vấn đề Hoàng Sa”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 3-6, tr 351.

64.(1975) Nguyễn NHÃ, “Hoàng Sa qua vài tài liệu văn khố của Hội truyền Giáo Ba Lê”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 258-273.

65.(1975) QUỐC TUẤN, “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (29), 1975, tr 215-257.

66.(1975) Võ Long TÊ, “Phương diện địa danh học của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa, Sàigòn, (số 29), 1975, tr 211-216.

67.(1979) Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, “Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, (ngày 7-8-1979), Hà Nội, Vụ Thông Tin và Báo Chí , 58 trang.

68.(1979) VĂN TRỌNG, Hoàng Sa, quần đảo Việt Nam. Nxb Khoa Học, Hà Nội 1979.

69.(1980) Bộ Ngoại Giao Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, “Chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là không thể tranh cãi được”, ngày 30 tháng 1 năm 1980, 15 trang, tài liệu của Ban Biên Giới Chính Phủ (bản dịch tiếng Việt).

70.(1981) MẪN KHÁNH DƯƠNG KỴ & Trần Xuân CẦU, Từ Bãi Cát Vàng đến Hoàng Sa và Trường Sa – Lãnh thổ Việt Nam. Sử học, Nxb Đại Học và Trung học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, (số 2), 1981, tr 82 – 89.

71.(1981) Vô Danh, Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. Nxb Sự Thật, Hà nội, 1981.

72.(1982) Liên Hiệp Quốc, Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển, (United Nations Convention on the law of the sea). Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1999, 864 tr, (bản dịch)

73.(1984) Bộ Ngoại Giao Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lãnh thổ Việt Nam. Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà nội, 1984, 25 trang và các phụ bản.

74.(1988 ) Vũ Hải ÂU, “Tình hình tranh chấp hiện nay ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6- 30), 1988, tr 23-28.

75.(1988 ) Bộ Ngoại Giao Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế. Hà Nội, tháng 4 năm 1988 , 26 trang và các phụ lục, sơ đồ.

76.(1988 ) ĐỨC LẬP, “Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6 -30), 1988 , tr 29-31.

77.(1988 ) HẢI ĐÔNG, “Địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 64-66.

78. (1988 ) Hàn chấn HOA và Lâm Kim CHI, Ngô Phượng BÂN, ( bản dịch của Ban Biên Giới của Chính Phủ), Trung Quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên. Nxb Phương Đông, Bắc Kinh, 1985.

79.(1988 ) Vũ Phi HOÀNG,”Vài nét về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 4-10.

80.(1988 ) Phan HUỲNH, “Giải phóng quần đảo Trường Sa (4-1975)”, tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 35-37.

81.(1988 ) Đinh Xuân LÂM, “Hoàng Sa – Trường Sa trong tâm thức Việt Nam”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 49-50.

82.(1988 ) LÊ MINH, “Giới thiệu bản phán quyết của Toà Án Trọng Tài Thường Trực La Haye và vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hoa Kỳ và Hà Lan”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 78-80.

83.(1988 ) LÊ MINH, “Giới thiệu bản phán quyết của Toà Án Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc về vụ tranh chấp các nhóm đảo Minquiers và Écrehous giữa Pháp và Anh”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 81-82.

84.(1988 ) MINH NGHĨA, “Pháp luật quốc tế đối với vấn thiết lập chủ quyền lãnh thổ trên các lãnh thổ vô chủ”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 43-48.

85.(1988 ) MINH TRÂN, “Một số tư liệu cổ của Trung Quốc xác nhận quần đảo Hoàng Sa , quần đảo Trường Sa không thuộc lãnh thổ Trung Quốc”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 71-73.

86.(1988 ) NGỌC AN, “Một quyết định lịch sử tháng 4 năm 1975: giải phóng quần đảo chiến lược Trường Sa”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 32-34.

87.(1988 ) QUANG LỢI, “Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và nguyên tắc không sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 19-22.

88.(1988 ) Lê SƠN, ”Ba hội nghị quốc tế xử lý vấn đề các lãnh thổ bị Nhật chiếm đóng trong chiến tranh thế giới thứ hai không công nhận quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa của Trung Quốc”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 75-77.

89.(1988 ) Nguyễn Q. THẮNG, Hoàng Sa Trường Sa. Nxb Trẻ, TP HCM, 1988

90.(1988 ) Trần Công TRỤC, “Quần đảo Trường Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam qua các bằng cứ lịch sử pháp lý”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 6-30), 1988, tr 11-18.

91.(1988 ) Vụ Biển, Ban Biên Giới Của Chính Phủ, Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hồ sơ tên đảo Hoàng Sa – Trường Sa, 14 tr, (in ronéo)

92.(1993) Phạm HÂN, “Một lầm lẫn về văn bản học của Phủ Biên Tạp Lục cần được đính chính”, Tạp chí Hán Nôm, Hà Nội, (số 2 – 15), 1993, tr 28-30.

93.(1993) Phạm HÂN, “Địa danh “Bắc Hải” trong Phủ Biên Tạp Lục”, Tạp chí Hán Nôm, Hà Nội, (số 3 – 16), 1993, tr 27-28.

94.(1994) Phạm HÂN, “Tìm hiểu niên đại của Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Tạp chí Hán Nôm, Hà Nội, (số 1- 18), 1994, tr 26-29.

95.(1994) Phạm HÂN, “Điều kỳ lạ trong thông báo báo chí của công ty Crestones”, Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, (số 11827), chủ nhật 24-4-1994.

96.(1994) Phạm HÂN, “Hoàng Sa và Trường Sa trong lịch sử”, Xưa và Nay, Hà Nội, (số 8 – 09), 11-1994, tr 10-13.

97.(1994) Vũ Hữu SAN, Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa, The Committee for the Protection of Vietnam’s Territorial Integrity, Stanford University, 1995, 201 tr.

98.(1995) Phạm HÂN, “Địa danh “Bãi cát Vàng” trong lịch sử”, Tạp chí Hán Nôm, Hà Nội, (số 1), 1995, tr 44-45.

99.(1995) Phạm Kim HÙNG, Nguyễn Văn HỒNG, Nguyễn Thừa HỶ, “Bước đầu nhận xét cuốn Tổng Hợp Sử Liệu Các Đảo Nam Hải Nước Ta (Hàn Chấn Hoa chủ biên), chương trình Biển Đông, Hải Đảo, đề tài BĐ HĐ 01-02, 1995.

100.(1995) Lưu Văn LỢI, Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội, 1995.

101.(1995) PTS Nguyễn Quang NGỌC, Báo cáo kết quả thực hiện hợp đồng Nghiên Cứu Khoa Học giai đoạn hai đề tài nhánh “Lịch Sử Chủ Quyền Của Việt Nam Ở Hai Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa”, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 1995 (Mã số BĐHĐ 01 – 01).

102.(1995)Thông Tấn Xã Việt Nam, Trung Quốc và an ninh khu vực> (tài liệu tham khảo), Hà Nội, (số 6), 1995.

103.(1995) Thông Tấn Xã Việt Nam, Trường Sa – tranh chấp về quần đảo. (tài liệu tham khảo), Hà Nội, (số 10 +11), 1995.

104.(1996) M. CLAGETT Brice, (bản dịch), “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực Bãi Ngầm Tứ Chính và Thanh Long trong Biển Đông”, Dầu mỏ và khí đốt của Anh. (số 10411), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.

105.(1996) Phạm HÂN, “Tìm hiểu tác giả Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Tạp chí Hán Nôm, Hà Nội, (số 1 – 26),1996, tr 34-36.

106.(1996) Phạm HÂN, “Xuất xứ của Đại Nam Nhất Thống Chí Toàn Đồ, Tạp chí Hán Nôm, Hà Nội, (số 1 – 29), 1996, tr 24-26.

107.(1996) Phan Đình HỘ, “Sơ lược về lễ hội truyền thống Lý Sơn”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, (số 9), tháng 8 -1996, tr 50-52.

108.(1996) Võ Văn HỒNG, “Lý Sơn: Truyền thống và Cách mạng”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, (số 9), tháng 8 -1996, tr 13-16.

109.(1996)Phạm Kim HÙNG (Ban Biên Giới Chính Phủ), “Một vài sự thật về những tài liệu lịch sử trong bộ sưu tập do HÀN CHẤN HOA chủ biên”, Báo cáo Hội Thảo Quốc Gia : Luận cứ Khoa Học Lịch Sử, Địa Lý và Pháp Lý Chủ Quyền Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

110.(1996) Lê Hồng KHÁNH, “Lý Sơn một vùng văn hoá đầy tiềm năng và triển vọng”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, (số 9), tháng 8 -1996, tr 31-33.

111.(1996) Đoàn Ngọc KHÔI, “Nguồn gốc văn minh cổ xưa trên đảo Lý Sơn”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, (số 9), tháng 8 -1996, tr 28-30.

112.(1996) Nguyễn Yên MÔ, “Đồn đột ở Cù Lao Ré”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, (số 9), tháng 8 -1996, tr 678.

113.(1996) PTS Nguyễn Quang NGỌC, “Quá trình mở rộng ranh giới trên biển trong các thế hệ bản đồ của Trung Quốc”, Báo cáo Hội Thảo Quốc Gia: Luận cứ Khoa Học Lịch Sử, Địa Lý và Pháp Lý Chủ Quyền Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 1996.

114.(1996) Nguyễn Quang NGỌC và Vũ Văn QUÂN, “Thêm vài tư liệu về quê hương và hoạt động của đội Hoàng Sa xưa”, Báo cáo Hội Thảo Quốc Gia : Luận cứ Khoa Học Lịch Sử, Địa Lý và Pháp Lý Chủ Quyền Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 1996.

115.(1996) Nguyễn Thanh TÙNG, “Di sản văn hoá Lý Sơn. Sự định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, ( số 9), tháng 8 -1996, tr 21-22.

116.(1996) Đặng VŨ, “Vài nét về văn hoá dân gian Lý Sơn”, Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, (số 9), tháng 8 -1996, tr 38-43.

117.(1998 ) Ban Biên Giới Của Chính Phủ, “Khái quát về luật Biển quốc tế và việc áp dụng luật Biển tại Việt Nam”, Tài Liệu Tập Huấn Về Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Biển, Trung Tâm Thông Tin Tài Liệu, Hà Nội, tháng 6/1998, 41 tr.

118.(1998 ) Ban Biên Giới Của Chính Phủ, “Một số vấn đề về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về biển”, Tài Liệu Tập Huấn Về Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Biển, Trung Tâm Thông Tin Tài Liệu, Hà Nội, tháng 6/1998, 53 tr.

119.(1998 ) Trần Bá CHÍ, “Đỗ Bá Công Đạo với bản đồ Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa)”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội. (Đại Học Quốc Gia Hà Nội), t XIV, (no 3), 1998 , tr 21-29.

120.(1998 ) Phan Ngọc HỒ, Nguyễn Đình HOÈ, “Những nguyên nhân gây biến động lãnh thổ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội. Đại Học Quốc Gia Hà Nội, t XIV, (no 3), 1998, tr 56-62.

121.(1998 ) HỒNG TẬP – Nguyễn Đăng DUNG, “Vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ trong luật pháp quốc tế”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, t XIV, (no 3), 1998, tr 72-88.

122.(1998 ) Phạm Kim HÙNG, “Tài liệu lịch sử chứng minh các quần đảo ở Biển Đông (Nam Trung hoa) chưa bao giờ là lãnh thổ Trung Quốc”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, t XIV, (no 3), 1998, tr 43 -45.

123.(1998 ) Phạm Kim HÙNG, “Nghiên cứu, phản bác cuốn sách Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta do Hàn Chấn Hoa chủ biên”, Công Trình Nghiên Cứu Trong Chương Trình Biển Đông Hải Đảo, đề tài BĐ-HĐ01 – 02B, Đại Học Quốc Gia Hà Nội (bản đánh máy), 367 tr + các phụ bản.

124.(1998 ) Nguyễn Thừa HỶ, “Quần đảo Paracels và các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, tXIV, (no 3), 1998, tr 30-42.

125.(1998 ) Nguyễn Quang NGỌC & Vũ Văn QUÂN, “Tư liệu về nguồn gốc chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội. (Đại Học Quốc Gia Hà Nội), t XIV, (no 3), 1998, tr 10-20.

126.(1998 ) Iain SCOBBIE (bản dịch của Ban Biên Giới của Chính Phủ), Tranh chấp về quần đảo Trường Sa : một quan điểm khác. Trung Tâm Thông Tin Tài Liệu, Hà Nội, tháng 4/1998, 44 tr.

127.(1998 ) Cao Xuân THỰ & Nguyễn HOÀN, “Trung Quốc đã vẽ bản đồ của họ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đặt tên cho chúng như thế nào?”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, t XIV, (no 3), 1998, tr 63-68.

128.(1998 ) Cao Xuân THỰ & Nguyễn HOÀN, “Bản đồ địa lý – một trang sử về chủ quyền”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, t XIV, (no 3), 1998, tr 69-71.

129.(1998 ) Trần Công TRỤC, “Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Khoa Học – Khoa Học Xã Hội (Đại Học Quốc Gia Hà Nội), t XIV, (no 3), 1998, tr 3 -9.

130.(1999) Trần Bá CHÍ, “Một số sách địa lý cổ Trung Quốc đến thế kỷ XX bị ngụy tạo vị trí địa danh nhằm giành chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, (Đề tài BĐ – HĐ -01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường & Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1999, tr 34-41.

131.(1999) CHRISTOPHER C. Joyner (bản dịch của Ban Biên Giới Chính Phủ), Tranh chấp của đảo Trường Sa: suy nghĩ lại về tác động qua lại giữa hoạt động ngoại giao và chính trị trong biển Nam Trung Hoa. Trung Tâm Thông Tin Tư Liệu, Hà Nội, 1999, 86 tr.

132.(1999) Nguyễn Văn DÂN, “Địa danh và chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, (Đề tài BĐ – HĐ -01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường & Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1999, tr 43-56.

133.(1999) Nguyễn Đăng DUNG, “Thủ Đắc lãnh thổ và luật pháp quốc tế”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, (Đề tài BĐ – HĐ -01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường & Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1999, tr 69-75.

134.(1999) Nguyễn HẠP (người dân sinh trưởng trong gia đình có truyền thống lâu đời đi biển ở Cù Lao Ré, nay ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn), Sơ đồ thuyền buồm truyền thống tại Cù Lao Ré được sử dụng đi Biển Đông trong đó có Hoàng Sa, (vẽ theo tư liệu còn lưu giữ trong dân gian tại thôn Đông, xã Lý Hải, quận đảo Lý Sơn (trước đây thuộc Phường hay Hộ An Vĩnh, Cù Lao Ré), 1999.

135.(1999) Phạm HÂN, “Hoàng Sa và Trường Sa trong lịch sử”, Lịch Sử Sự Thật và Sử Học (tuyển tập trong báo Xưa và Nay), Nxb Trẻ và Tạp chí Xưa và Nay, Hà Nội, tháng 12/1999, tr 175 -182.

136.(1999) Phạm Kim HÙNG, “Mưu đồ của Trung Quốc thôn tính các quần đảo ở Biển Đông và luận điệu bịp bợm của học giả Trung Quốc”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, (Đề tài BĐ – HĐ -01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường & Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, 1999, tr 18-33.

137.(1999)Nguyễn Quốc HUYÊN, “Thử bàn về những đặc điểm của cuộc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, (Đề tài BĐ – HĐ -01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường & Đại Học Quốc Gia Hà Nội Hà Nội, 1999, tr 52-63.

138.(1999) Nguyễn Thừa HỶ, “Quần đảo Hoàng Sa trong thế kỷ XVII – XVIII nhìn từ Phương Tây”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, (Đề tài BĐ – HĐ -01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường & Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1999, tr 1-2.

139.(1999) Nguyễn Quang NGỌC, “Bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông : một hoạt động nổi bật của vương triều Tây Sơn”, Tạp chí Lịch Sử Quân Sự, Hà Nội, (số 1), 1999, tr 15 – 18.

140.(1999) Võ Văn QUÂN, “Nhìn lại thành tựu nghiên cứu lịch sử chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa”, Tuyển tập các báo cáo toàn văn hội nghị Khoa Học về Lịch Sử, Địa Lý, Pháp Lý, Chủ Quyền của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa (Đề tài BĐ-HD-01), Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường &Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1999, tr 1-2.

141.(1999) RAMSES, Arner (bản dịch của Ban Biên Giới Chính Phủ), “Các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam và sự ổn định khu vực”, Đông Nam Á Hiện Đại, tập 19 (số 1), tháng 6/ 1997, 47tr.

II – TÀI LIỆU TIẾNG ANH – PHÁP

142.(1837) Jean Louis TABERD, “Note on the Geography of Cochinchina”, Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, Calcutta, bộ VI, 9/1837.

143.(1838) Jean Louis TABERD, “Additional Notice on the Geography of Cochinchina”, Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, Calcutta, bộ VII, 4/1838, pp 317 – 324.

144. (1849) GUTZLAFF, “Geography of the Cochinchinese Empire”, Journal of The Geographical Society of London, vol the 19th, p 93.

145.(1896) M.G DUMOUTIER, Étude sur un portulan Annamite du XVè siècle”, Bulletin de géographie historique et descriptive. Paris, (no 2), 1896, 64p.

146.(1923) A. SALLES, “La mémoire sur la Cochinchine de Jean Baptiste Chaigneau”, Bulletin des Amis du vieux Huế, X, (no 2), April – Juin 1923, pp 253 – 283.

147.(1927) A. KREMPF, “La forme des Récifs Coralliens et le Régime des Vents Alternants, Rapport du Conseil du gouvernement sur le Fonctionnement du Service Océanographique des P(ches de l’Indochine pendant l’année 1926 – 1927”. Mémoire du Service Océanographique de l’Indochine, Saigon,(no 2), 1927, pp 26 – 28.

148.(1929) Henri CUCHEROUSSET, “La question des Iles Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, Hà Nội, (no 606), 27/01/1929, pp 1- 4; (no 622), 19/05/1929, pp 10 – 11; (no 623), 26/05/1929, pp 10 – 11.

149.(1929) Henri CUCHEROUSSET, “Les droits de l’Annam sur les Iles Paracels et les Devoirs du Gouvernement Protecteur”, Éveil Économique de l’Indochine, Hà Nội, (no 627), 23/06/1929, pp 1 – 2.

150.(1929) P.A. LAPICQUE, “A Propos des Iles Paracels, Extrême – Asie”. Revue Indochinoise Illustrée, Saigon, (no 38), 1929, pp 605 – 616.

151.(1930) J. DE LACOUR, et JABOUILLÉ, “Oiseaux des Iles Paracels”, Mémoire du Service Océanographique de l’Indochine, Gouvernement Général de l’Indochine, Saigon, (no 3), 1930, 24 p.

152.(1931) Henri CUCHEROUSSET, “Les Iles Paracels et la sécurité de l’Indochine”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 685), 10/05/1931, pp 1- 2.

153.(1931) Henri CUCHEROUSSET, “L’ Indochine aux Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 688), 31/05/1931, pp 3- 4.

154.(1931) Gustave SALÉ, “Les Iles Paracels / Les Iles Paracels et la Sécurité en Extrême –Orient”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 705), 27/09/1931, pp7.

155.(1931) Gustave SALÉ, “Les Iles Paracels et la Sécurité en Extrême-Orient”, Avenir du Tonkin, (no 10495), 17/04/1931, pp 2.

156.(1932) Henri CUCHEROUSSET, “Histoire Moderne des Iles Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 744), 03/07/1932, pp1-2; (no 746), 17/07/1932, pp 2 -4.

157.(1932) Alexis Elie LACOMBE,” L’histoire Moderne des Iles Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 738), 22/05/1932, pp 5 – 6.

158.(1932) Pierre PASQUIER, “L’histoire Moderne des Iles Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 741), 12/06/1932, pp 4 -5.

159.(1933 ) Olivier A SAIX, “Iles Paracels”, La Géographie, (LX), 11/12/1933, pp 232 – 243.

160.(1933) Paul Maurice CLERGET, “Les phosphates des Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, (no 785), 23/04/1933, pp 7 – 12.

161.(1933) Henri CUCHEROUSSET, “À la conquête des Iles Phosphates à Spratley”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 790), 28/05/1933, pp 1- 3.

162.(1933) Henri CUCHEROUSSET, “La question des Paracels”, Éveil Économique de l’Indochine, Saigon, (no 777), 26/02/1933, pp 1- 3.

163.(1933) Sauvaire – JOURDAN, Commandant. “Les Paracels Infiniment Petits de Notre Domaine Colonial”, La Nature, Paris, 61è année, 2è semestre, (no 2916), 01/11/1933, pp 385 – 387.

164.(1933) Le Gouverneur De La Cochinchine, Officier De La Légion D’honneur, Arrêté le 21 Décembre 1933 de J. Khrautheimer, Kho lưu trữ Trung Ương 2, TP HCM, chưa đề số hiệu.

165.(1933) Ministère des Affaires Étrangères: “Avis relatif à l’occupation de certaines iles par des unités navales pansacrés”, Journal officiel, 25 Juillet 1933, p 7794.

166.(1934) P. CHEVEY, “Iles et Récifs de Coraux de la Mer de Chine”, Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Saigon, IX, (no 4), 10/12/1934, pp 48 – 56.

167.(1939) B.B, “Les Iles Spratley”, L’Asie Française, Paris, XXXIX, (no 369), Avril/ 1939, pp 123 – 124.

168.(1939) Gouverneur Général De L’indochine, “Arrêté no 3282 le 5 Mai 1939 de J Brévié”, Bulletin Administratif de l’honneur, Saigon, 1939, pp 872.

169.(1941) Jean Yves CLAEYS, “Journal de Voyage aux Paracels”, Indochine, Hà nội, (no 44), 30/07/1941, pp 7 – 13; (no 45), 10/07/1941, pp 6 – 8; (no 46), 17/07/1941, pp 4 – 7.

170.(1951) Raoul SERENE, “Petit histoire des Paracels”, Sud – Est Asiatique, Bruxelles, (no 19), Janvier , 1951, pp 37 – 42.

171.(1955) E. SAURIN, “Notes sur les Iles Paracels”, Archives Géologiques du Vietnam, Centre National de Recherches Scientifiques et Techniques, Saigon, (no 3), 1955, pp 3 – 39.

172.(1955) Raoul SERENE, “L’institut Océanographique de Nhatrang et la Zoologie Marine au Vietnam”, Contribution, Saigon, (no 15), 1955.

173.(1957) Henri FONTAINE et Lê Văn HỘI, “Contribution à la Connaissance de la flore des Iles Paracels”, Annales de la Faculté des Sciences, Université de Saigon, 1957, pp 133 – 137.

174.(1957) E. SAURIN, “A propos des Galets Exotiques des Iles Paracels”, Archives Géologiques du Vietnam, I.N.D.E.O, Saigon, (no 4), 1957, pp 9.

175.(1958 ) E. SAURIN, “Faune Malacogique Terrestre des Iles Paracels”, Contribution, l’Institut Océanographique de Nha Trang, (no 39), 1958, pp 69 – 76.

176.(1960) Edmound SAURIN, “Gastéropodes marins des Iles Paracels”, Annales de la Faculté des Sciences, Saigon, 1960, pp 195 – 216; 1961, pp 177 – 198.

177.(1960) Head Quarters, Us Army, Broadcasting a visual activity Pacific, OPO 331. Analysis The Spratley, Paracel Island dispute> 10p. (lưu trữ tại University of California, Los Angeles, Jun 29 1962, library Govt. Publics Room)

178.(1962) E. SAURIN, “Lamellibranches des Iles Paracels”, Annales de la Faculté des Sciences, Université de Saigon, pp 435 – 446.

179.(1971) Lê Thành KHÊ, “L’affaire des Iles Paracels et Spratley devant le droit International”, Thèse 3ème cycle, Institut International d’Études et de Recherches Diplomatiques, Paris, 1971, 298 pages thư viện ASE (2 rue Tournon), (no 3940).

180.(1972) Charles ROUSSEAU, “Chine, France, Japon, Philippines et Vietnam, Différant concernant l’Appartenance des Iles Spratley – Rappel des Controverses Relatives à l’Exercice de la Souveraineté sur cet Archipel Survenues de 1933 à 1939 entre la France et le Japon et depuis 1951 entre la Chine, les Philippines et le Sud Vietnam – Évolution du Différence au cours de l’année 1971 – Difficultés Analogues Survenues de 1931 à 1950 entre la France et la Chine et depuis 1959 entre le Vietnam et la Chine – Relativement à l’Appartenance des Iles Paracels”, Revue Général de Droit International Public, LXXVI, 3, Juillet – Septembre , 1972.

181.(1974)Võ Long TÊ, Les Archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa. Selon les Anciens Ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Géographie. Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên, Sàigòn , 1974, 201p .

182.(1975) Ministry Of Foreign Affairs, Republic Of Vietnam, White paper on the Hoàng Sa (Paracel) and Trường Sa (Spratly) Island. Saigon, 1975, 103p.

183.(1981) Ministry Of Foreign Affairs, Socialist Republic Of Vietnam, The Hoàng Sa (Paracel) and Trường Sa (Spratley) Archipelagoes Vietnamese Territories. 43p.

184.(1989) P.B. LAFONT, “Les Archipels Paracels et Spratley. Un conflit de frontières en Mer de Chine Méridionale”. Les Frontières du Vietnam. Édition l’Harmattan, Paris, 1989, pp 244 – 260 – 261.

185.(1990) R. Haller -TROST, “The Spratley Island – A study on the limitation of International law”, The occasional Paper, Centre of South – East Asian study, university of Kent at Canterburry, (no 14), 95p.

186.(1991) Mark J VALENCIA, “Malaysia and law of the sea”, The foreign policy issues, the options and their implications. Institut of Strategie and International studies, Malaysia, 1991, 155p.

187.(1995) David HANCOX and Victor PRESCOTT, “A geographical discription of the Spratly islands and Account of hydrographic surveys amongst those islands”, Maritime Briefing, University of Dunhan, England, volume 1, (no 6), 1995, 87p.

188.(1996) M.C. GENDREAU. La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratley. Édition l’Harmattan, Paris, 1996, 306p.

189.(1996) Lưu Văn LỢI, Les Différends Vietnamo – Chinois sur les Archipels Hoàng Sa et Trường Sa. Editions Thế Giới, Hà nội, 1996, 140 p.

190.(1996) Nguyễn Hồng THAO, “Le VietNam face aux problèmes de l’Extension maritime dans la mer de Chine Méridionale, T 1&2”, Thèse pour le doctorat Droit, l’université de Paris I, Panthéon – Sorbonne, 1996, 994p.

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: