Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

March 17, 2008

Ý thức hệ của chánh sách đổi mới

Cơ sở ý thức hệ của chính sách “đổi mới” (ĐCS còn gọi là “tư duy chính trị” của “đổi mới”), là một sự chuyển hóa từ CNXH cổ điễn (còn được gọi là “CNXH hiện thực” theo kiểu Mác-Lê-Mao) sang cái gọi là CNXH đổi mới (nói tắt là “đổi mới”) theo kiểu Mác-Lê-Ðặng (Ðặng Tiểu Bình) và “tư tưởng Hồ Chí Minh”.
(Xin chú ý: Trong quyển sách này khi nói về “CNXH” thì phải hiểu là “CNXH Mác-Lê”, và nó khác hẳn với “CNXH dân chủ” ở các nước phương Tây.)

A. Thế nào là CNXH theo kiểu Mác-Lê-Ðặng?
Theo Yang Chungi, một nhà chính trị học Trung Quốc thì học thuyết này có bảy đặc điểm chính như sau 1.
1. Mục tiêu của CNXH là phát triển lực lượng sản xuất;
2. Một mục tiêu khác nữa là làm cho dân giàu, nhưng phải lần lượt người trước người sau, vùng này trước vùng kia sau.
3. Kinh tế thị trường không phải chỉ là một phạm trù thuộc về chủ nghĩa tư bản mà thôi; nó còn là một phương tiện để xây dựng CNXH, và trong hoàn cảnh này, người ta gọi nó là “kinh tế thị trường XHCN”.
Sự phối hợp 3 đặc điểm nói trên là bản chất của CNXH theo kiểu Trung Quốc hiện nay.
4. Ngoài ra, cần phát triển “dân chủ XHCN” và “pháp luật XHCN”.
5. Cần nâng cao “ý thức hệ và văn hóa XHCN”.
6. Cần mở cửa ra thế giới bên ngoài, nhất là thế giới tư bản chủ nghĩa nhằm học tập và lợi dụng vốn liếng, kỹ thuật công nghệ của nó để xây dựng CNXH và hiện đại hóa nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn đầu của CNXH (và giai đoạn này có thể kéo dài đến 100 năm 2)
7. Cần đề cao vai trò lãnh đạo ÐCS để xây dựng CNXH.

Ðảng cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) bắt chước 100% mô hình CNXH theo kiểu Trung Quốc này trong suốt quá trình “đổi mới” của họ từ Ðại hội 6 (tháng 12.1986) đến Ðại hội 9 (tháng 04.2001), dù rằng, trong báo cáo chính trị tại Ðại hội 9, ÐCSVN huyênh hoang tuyên bố là họ “không sao chép bất cứ mô hình có sẵn nào cả”! 3.

Lời tuyên bố này mâu thuẫn hoàn toàn với lời thú nhận của Thủ tướng Phan Văn Khải trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 11.03.1998 rằng Việt Nam đi theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN giống như Trung Quốc 4.

Cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng nói đại ý như vậy, và còn nhấn mạnh thêm: “Nếu Trung Quốc thành công trong chính sách cải cách của họ thì Việt Nam cũng sẽ thành công (…); nếu Trung Quốc thất bại thì Việt Nam cũng sẽ thất bại” 5. (Xin chú ý: Ông Lê Khả Phiêu đã dự liệu là chính sách cải cách ở Trung Quốc có thể sẽ thất bại; tuy vậy ông vẫn muốn Việt Nam đi theo mô hình của Trung Quốc một cách mù quáng!). Gần đây, Chủ tịch Trần Ðức Lương cũng giải thích rằng sở dĩ Việt Nam bắt chước mô hình Trung Quốc là “vì có sự tương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế – xã hội giữa hai nước” 6.

Ðiều đáng chú ý thứ nhất là trong báo cáo chính trị tại Ðại hội 9, ÐCSVN nhấn mạnh “con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (…) nhưng tiếp thu những thành tựu đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại (…) Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (…) tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường (…) [chứ không nhanh chóng như ÐCSVN đã nói trước đây – VNT]” 7. Nói một cách khác, ÐCSVN, theo gương ÐCS Trung Quốc, chủ trương chỉ lợi dụng những khía cạnh tích cực của chủ nghĩa tư bản để phát triển “lực lượng sản xuất của CNXH mà thôi – nhất là trong giai đoạn đầu khá dài của nó – nhưng vẫn bác bỏ con đường tư bản chủ nghĩa về mặt “quan hệ sản xuất” (bao gồm sở hữu tư nhân, quản lý kinh tế và phân phối thu nhập) và về mặt “thượng tầng kiến trúc” (chính trị, luật học, văn hóa, nghệ thuật, triết học, tôn giáo v.v..).
Chúng ta cần hiểu rõ vấn đề này để đừng hấp tấp kết luận, như một số nhà quan sát nước ngoài và Việt kiều đã làm, là ÐCSVN đã “từ bỏ CNXH” và đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Ðiều đáng chú ý thứ hai là, cũng như ÐCS Trung Quốc, ÐCSVN cho rằng việc áp dụng phạm trù “kinh tế thị trường” không có nghĩa là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (bởi vì như Ðặng Tiểu Bình đã nói CNXH cũng có thể sử dụng phạm trù này) và để làm rõ thêm, họ đặt tên nó là “kinh tế thị trường định hướng XHCN”; và mục đích chính của nó là “phát triển sản xuất… để xây dựng cơ sỡ vật chất – kỹ thuật của CNXH” (ibid). Cần nói thêm là, theo quan niệm của ÐCSVN, phạm trù “kinh tế thị trường định hướng XHCN” này được sử dụng song song (chứ không phải thay thế như một số người đã ngộ nhận) với việc kế hoạch hóa có định hướng nền kinh tế quốc dân (nó uyển chuyển hơn kế hoạch hóa tập trung, độc đoán… trước đây).

Ðiều đáng chú ý thứ ba là, nếu nhìn một cách tổng quát, thì ta thấy chính sách “đổi mới” ở Việt Nam về cơ bản giống chính sách cải cách của Trung Quốc ở chỗ là có sự phân đôi (dichotomy) giữa “đổi mới” kinh tế và “đổi mới” chính trị, tức là cởi trói phần nào về mặt kinh tế nhưng vẫn đông lạnh về mặt chính trị; lẽ dĩ nhiên có một sự chênh lệch trong thời gian bởi vì cải cách ở Trung Quốc đã bắt đầu sớm hơn “đổi mới” ở Việt Nam 8 năm.

Qua ba điều chú thích vừa nêu trên, ai cũng có thể thấy rằng cái gọi là CNXH theo kiểu Trung Quốc mà ÐCSVN bắt chước một cách mù quáng chứa đựng đầy mâu thuẫn khó dung hòa, nhất là trong dài hạn.
Trong nền tảng của ý thức hệ của ÐCSVN, ngoài khái niệm CNXH theo kiểu Ðặng Tiểu Bình, người ta còn ghép thêm cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” nữa.

B. Bàn về “tư tưởng Hồ Chí Minh” 8 (TTHCM)

Theo gương ÐCS Trung Quốc đề cao “tư tưởng Mao Trạch Ðông”, ÐCSVN cũng, bắt đầu từ năm 1991 trở đi, đề cao một cách giả tạo cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” (TTHCM) tại Ðại hội 7 của họ (tháng 06.1991), để có chút ít bản sắc dân tộc sau khi chủ nghĩa Mác-Lê đã thất bại, với sự sụp đổ của khối Liên Xô – Ðông Âu. Giả tạo là vì chính Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê cả” 9. Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt phân tích khía cạnh chính trị và kinh tế của “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

1. Khía cạnh chính trị của “tư tưởng Hồ Chí Minh”:


Về vấn đề này thì có lẽ cần nhắc lại trước tiên là trong báo cáo chính trị đọc tại Ðại hội 2 của đảng Lao Ðộng Việt Nam (tiền bối của ÐCSVN) hồi tháng 02.1951 trong Kháng chiến, Hồ Chí Minh đã hết sức ca ngợi và đề cao Stalin lẫn Mao.
Quan điểm của Stalin mà Hồ Chí Minh rất tâm đắc là: “ÐCS là công cụ của chuyên chính vô sản”“chuyên chính vô sản về thực chất được thay thế bởi chuyên chính của ÐCS”; hơn nữa, trong thực tế, chuyên chính của ÐCS có nghĩa là chuyên chính của một người: Stalin 10. Boris Souvarine đã từng cho rằng Hồ Chí Minh là “một đồ đệ tuyệt trần của Stalin” 11.
Về ảnh hưởng của Mao đối với Hồ Chí Minh thì chúng tôi chỉ muốn trích dẫn ở đây câu nói điển hình trong báo cáo chính trị mà Hồ Chí Minh đã đọc tại Ðại hội 2 (tháng 02.1951) vừa nhắc lại ở trên: “Cách mạng Việt Nam phải học nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc. Kinh nghiệm và tư tưởng Mao Trạch Ðông đã giúp chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết của Mác-Ănghen-Lênin-Stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Ðông về sự cống hiến to lớn đó” 12. Và cũng tại Ðại hội 2 này, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được”! 13. Một sự sùng bái đến độ mù quáng.

Theo cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, “tư tưởng Hồ Chí Minh” bao gồm 5 yếu tố chủ yếu sau đây: chủ nghĩa Mác-Lê; sự lãnh đạo tuyệt đối của ÐCS; chuyên chính vô sản; con đường đi lên CNXH; và tinh thần quốc tế vô sản 14. Các yếu tố này đã được nhiều người – cả trong lẫn ngoài nước – phân tích rồi. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nêu lên một vài khía cạnh mà thôi.

Có một số Việt kiều cho rằng ÐCSVN hiện nay cố ý nêu bật “tư tưởng Hồ Chí Minh” là vì họ muốn thay thế chủ nghĩa Mác-Lê đã lỗi thời bằng “tư tưởng Hồ Chí Minh” nhằm lừa phỉnh nhân dân đễ dàng hơn bởi vì nó còn có ít nhiều bản sắc dân tộc. Ðiều này không hoàn toàn đúng bởi vì chính cơ sở ý thức hệ của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lê, và Hồ Chí Minh vẫn coi nó là “học thuyết đúng đắn nhất, cách mạng nhất”, là “kim chỉ nam cho hành động” kia mà! [Có lẽ cũng cần nhắc lại ở đây: cụm từ “chủ nghĩa Mác-Lê” là do chính Stalin sáng tạo ra hồi năm 1938]. ÐCSVN thường hay khẳng định rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh” là “một sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lê vào điều kiện cụ thể của nước ta”, nhưng trong thực tế thì họ chỉ có rập khuôn một cách máy móc kinh nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc mà không tính đến hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, do đó đã gây ra nhiều hậu quả vô cùng tai hại cho nhân dân (như cải cách ruộng đất, cải tạo XHCN đối với công, thương nghiệp tư doanh v.v.. theo kiểu Mao chẳng hạn).

Về sự lãnh đạo tuyệt đối của ÐCS trong cách mạng Việt Nam thì chủ trương của Hồ Chí Minh, từ lúc đầu, là thủ tiêu bất cứ ai muốn cạnh tranh để giành sự lãnh đạo đó. Ông Hồ đã từng tuyên bố: “Ðảng ta không những giành được quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước, mà còn… đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản hòng tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng với Ðảng ta” 15. Do đó, sau khi nắm chính quyền, Việt Minh (tức là ÐCS) đã tiêu diệt không những các đảng quốc gia 16 mà còn thủ tiêu các lãnh tụ trostkít Việt Nam (như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh v.v..) mà Hồ Chí Minh gọi là “đàn chó Troskít” và đã từng buộc cho họ tội “phản bội, gián điệp, tay sai đế quốc”, “những kẻ đầu trâu mặt ngựa”, “kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ”, “bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất” 17. Có lẽ cần nhắc lại đây câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh trong một cuộc đàm thoại với Daniel Guérin, một nhà báo Pháp: khi bình luận về cái chết của Tạ Thu Thâu, cựu cố vấn Troskít của Hội đồng thành phố Sài Gòn, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Ông ấy là một người yêu nước vĩ đại, và tôi thương xót [?] ông ấy”; nhưng liền sau đó, với một giọng rất cứng rắn, Hồ Chí Minh nói tiếp: “tất cả những ai không theo đường lối của tôi đều sẽ bị bẻ gãy [tức là bị thủ tiêu – VNT]” 18.

Dưới thời đại Hồ Chí Minh, ÐCS thường nêu lên khẩu hiệu “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Dân làm chủ “. Ai cũng thấy khẩu hiệu này là vừa mâu thuẫn vừa khôi hài, nhưng chẳng ai dám nói ra. Mâu thuẫn là vì tại sao nhân dân làm chủ mà lại phải chịu sự lãnh đạo của đảng, thông qua sự quản lý (thực tế là cai trị) của Nhà nước (do đảng dựng lên); như vậy là người dân ở trong tình cảnh một cổ hai tròng! Còn khôi hài là vì, về lý thuyết, thì ÐCS nói một cách hoa mỹ và mỵ dân là dân làm chủ nhưng trong thực tế thì, ai cũng thấy rõ, là đảng làm chủ dân!
Nhà sử học và đảng viên Nguyễn Kiến Giang đã nhận xét như sau: ” (…) Sự độc quyền lãnh đạo của đảng được thực hiện thành sự thống trị tuyệt đối của đảng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, thậm chí cả đời sống cá nhân (…); đảng có quyền quyết định tất cả (…), và mọi người dân chỉ còn được phép nghĩ theo, nói theo và làm theo những quyết định của đảng, có khi chỉ là của một cấp lãnh đạo, thậm chí của một cá nhân lãnh đạo nào đó” 19.

Ông Hồ còn nhấn mạnh là trong lối sinh hoạt của đảng (và Nhà nước) thì nhất thiết phải dựa trên nguyên tắc tổ chức cơ bản là “tập trung dân chủ” (democratic centralism) 20. Ðấy là về lý thuyết, chứ trên thực tế thì ai cũng biết chỉ có tập trung chứ không có dân chủ! Cũng có người nói: “tập trung là căn bản, còn dân chủ chỉ là hình thức; nguyên tắc này bảo đảm sự tồn tại mãi mãi của một kẻ độc tài hay một nhóm độc tài toàn quyền thao túng công việc của đảng và nhà nước, độc tôn thống trị xã hội” 21. Theo thiển ý của chúng tôi thì phải gọi nguyên tắc tổ chức này là “tập trung chuyên chính” (dictatorial centralism) mới phải!

Về vấn đề “chuyên chính vô sản” thì Hồ Chí Minh đã áp dụng triệt để khái niệm này của C. Mác, Lênin, và Stalin.

Ông Hồ đã từng nói rằng: “dân chủ cần phải có chuyên chính” 22 đúng theo định nghĩa của “chuyên chính vô sản” mà ÐCS nào cũng dạy cho đảng viên trong các lớp vỡ lòng. Dân chủ nói ở đây là phải hiểu theo định nghĩa của Lênin: “Chế độ dân chủ là một hình thức của nhà nước mà bản chất của nó là sự sử dụng một cách có tổ chức và có hệ thống sự cưỡng bức [đối với người dân]”. Cũng theo Lênin, nhân dân [phải hiểu ngầm là chỉ nói đến nhân dân lao động mà thôi] được quyền bày tỏ ý kiến của mình, miễn là trong khuôn khổ của đường lối, chính sách mà đảng đã vạch ra, chứ không thể đặt lại vấn đề về đường lối đó; nếu nhân dân ngoan ngoãn như vậy thì không có lý do gì mà sợ bị đàn áp [đó là dân chủ], còn nếu chống lại đường lối của đảng thì sẽ bị đàn áp ngay [đó là chuyên chính].

Về lý thuyết thì đảng nói chỉ có chuyên chính với kẻ thù giai cấp nhưng trên thực tế thì, theo nhận xét của Lữ Phương (cựu thứ trưởng văn hóa của chính phủ cách mạng lâm thời của miền Nam trước đây), một thiểu số cầm quyền (tập đoàn lãnh đạo ÐCS) đã thực hiện một sự chuyên chính nhằm “thống trị đại đa số dân cư: không phải chỉ đối với đế quốc, tư sản phản động mà còn đối với cả nhân dân lao động, trong đó có cả giai cấp vô sản và những đảng viên bình thường nữa” 24. Như vậy là trên thực tế cái gọi là “chuyên chính vô sản” đã trở thành chuyên chính với giai cấp vô sản, chuyên chính với nhân dân. Một ví dụ: dưới thời đại Hồ Chí Minh có một quyết định của Bộ chính trị đã được “chính quyền hóa” bằng một nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 49/NQ/TVQH do Trường Chinh, lúc đó là Chủ tịch Quốc hội, ký ngày 20.06.1961. Nó cho phép chính phủ bắt giam công dân vào trại tập trung (được gọi là “trại cải tạo”) mà không cần có tòa án xét xử ở khắp miền Bắc trong thời hạn 3 năm; và khi hết hạn đó thì chính quyền có thể gia hạn và cứ thế kéo dài vô thời hạn. Trong số nạn nhân đó không những có các người thuộc đảng phái chống đối, sĩ quan và công chức làm việc với Pháp trước đây đã chịu quy phục chính quyền mới mà còn có những trí thức, nhà văn, nhà báo, giáo sư đã từng tham gia Kháng chiến chống Pháp, cán bộ, đảng viên, quân nhân bất đồng ý kiến với chính sách của đảng. Hàng chục vạn người bị tù đày hầu như vô thời hạn; vợ con bị phân biệt đối xử tàn tệ; tình cảnh họ thật là bi đát. Bao nhiêu người khốn khổ đã phải bỏ mình ở các “trại cải tạo” này 25. Than ôi, nghị quyết 49 này lại được lập lại một lần nữa, 36 năm sau, với một quy mô rộng lớn hơn, dưới tên gọi là Nghị định 31/CP do ông Võ văn Kiệt ký ngày 14.04.1997 (xem phần sau).
Cái “chuyên chính vô sản” mà Hồ Chí Minh và ÐCS chủ trương đã gây ra nhiều tội ác, và như nhà lão thành cách mạng quá cố Nguyễn Văn Trấn đã nhận xét: “Tội ác chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết” [tác giả nhấn mạnh – VNT] 26.
Ðể hình dung phần nào sự chuyên chính của ÐCSVN ở miền Bắc, thông qua bộ máy đàn áp khốc liệt của Nhà nước, dưới thời đại Hồ Chí Minh và sau đó nữa, chúng tôi xin trích dẫn nhận xét sau đây của Thành Tín (bút danh của nhà ly khai Bùi Tín, cựu phó Tổng biên tập báo Nhân Dân): “Ðó là một bộ máy đàn áp rộng lớn và tinh vi theo kiểu KGB lộng hành, bất chấp luật pháp và dư luận, chà đạp quyền tự do của công dân, khống chế con người và xã hội, tạo nên nỗi sợ thường trực và dai dẳng [cho nhân dân]… “ 27.
Theo nhà văn nổi tiếng và rất dũng cãm Dương Thu Hương thì chế độ cộng sản ở miền Bắc là một chế độ “phong kiến và công an trị” 28. Nhà văn này còn cho rằng “chuyên chính vô sản” và nguyên tắc “tập trung dân chủ” đã biến chế độ Hà Nội thành “một chế độ lạc hậu và man rợ” 29.
Còn Nguyễn Chí Thiện, một nhà thơ và nhà văn đã từng bị cầm tù trong 27 năm trời, thì nhận xét chế độ Hà Nội như sau: “Ðảng là một tổ chức siêu phát-xít, cực kỳ hung hiểm”; “(…) họ đương xây con đường lên các chân trời cộng sản mù mịt đó bằng thây người, bằng nước mắt, mồ hôi, rớt dãi, cơ hàn, chiến tranh, lao tù, gian dối, thủ đoạn tàn bạo, bằng ngu tối, vô luân, vô sỉ, bằng nô lệ, kềm kẹp, bằng hủy diệt tất cả những gì mang tính người (…)” 30.
Jean Lacouture, một ký giả Pháp, thì cho rằng chế độ miền Bắc dưới sự thống trị của Hồ Chí Minh là “tàn nhẫn”, “hung tợn”, “có nhiều khía cạnh toàn trị” 31. Còn Olivier Todd, một nhà văn và nhà báo Pháp khác đã từng ủng hộ chế độ Hà Nội trước 1975 thì cho rằng Hồ Chí Minh “đã thiết lập một trong những quốc gia Stalinít nhất thế giới” 32.

Yếu tố thứ tư mà hiện nay ÐCSVN coi là “cốt lõi” của “tư tưởng Hồ Chí Minh” là “con đường tiến lên CNXH” ở Việt Nam. Sao chép lại một cách máy móc học thuyết “cách mạng không ngừng” của Lênin và Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh cho rằng, sau cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” – tức là sau cuộc đấu tranh giành độc lập chống thực dân Pháp và cải cách ruộng đất – thì đến ngay cuộc “cách mạng XHCN”, và cả hai giai đoạn này gắn bó chặt chẽ với nhau, và đều do ÐCS lãnh đạo 33.
Ngày 07.09.1957, trong diễn văn khai mạc ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội), Hồ Chí Minh đề cập lần đầu tiên vấn đề “miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên CNXH” 34. Nhưng vào đầu năm 1960, dưới ảnh hưởng của phong trào “đại nhảy vọt” của Trung Quốc (1958-1962), Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng lên CNXH” [chúng tôi nhấn mạnh – VNT] 35. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh, trong một bài báo viết hồi năm 1960, đã đưa ra chỉ thị là miền Bắc “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH (mà) không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [tác giả nhấn mạnh – VNT] 36. Lúc đó, Hồ Chí Minh tin tưởng một cách tuyệt đối rằng cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi triệt để thì không có con đường nào khác hơn con đường Cách mạng tháng 10 ở Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công (…) nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc [?] tự do [?] bình đẳng thật [?] (…)” 37.
Có lẽ cũng cần nhắc lại ở đây là, cũng trong năm 1960, tại Ðại hội lần thứ 3 của ÐCSVN, Hồ Chí Minh đã tiên đoán là “CNXH cuối cùng nhất định toàn thắng khắp thế giới” 38, và “chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ XHCN” 39. Sự sụp đỗ bức tường Bá-Linh vào cuối những năm 80 đã phủ định hoàn toàn lời tiên đoán nói trên của Hồ Chí Minh!

Liên quan đến CNXH mà Hồ Chí Minh coi như là ngọn đuốc soi đường cho cả nước, ông còn nhấn mạnh là “yêu tổ quốc… phải gắn liền với yêu CNXH, vì tiến lên CNXH thì (…) Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm” 40. Trong thực tế thì tình hình lại khác hẳn, như mọi người đã thấy trong mấy chục năm qua! (xem phần sau).

Về việc “tiến thẳng lên CNXH”, chúng tôi muốn nhắc lại đây nhận xét của nhà sử học Nguyễn Kiến Giang: Ông Hồ và ÐCSVN “đã phạm sai lầm… khi đặt ra nhiệm vụ trực tiếp xây dựng CNXH ở miền Bắc sau 1954 khi vừa mới giải phóng; (…); khi đặt ra nhiệm vụ này, (Hồ Chí Minh và ÐCSVN) đã xuất phát từ một sơ đồ lý luận trừu tượng (lý thuyết “cách mạng không ngừng” – VNT) mà không phát xuất từ hoàn cảnh cụ thể lịch sử của nước ta lúc đó (tác giả nhấn mạnh – VNT) 41. Chính chủ trương “tiến thẳng lên CNXH” là “nguyên nhân” của cuộc “khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng tổng thể của xã hội, khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực… : kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị” 42.

Về yếu tố cuối cùng của “tư tưởng Hồ Chí Minh”, “tinh thần quốc tế vô sản”, thì chúng tôi xin miễn bàn đến ở đây vì nó không còn có tính cách thời sự nữa.
&
& &

Khách quan mà nói thì không phải cái gì Hồ Chí Minh chủ trương về mặt chính trị đều là tai hại cho dân tộc hoặc sai lầm cả. Ví dụ như khi Hồ Chí Minh tuyên bố: “Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác” 43. Có lẽ những người bất đồng chính kiến ở trong cũng như ở ngoài nước khó có thể không đồng ý với nhận xét thật chí lý này.
Một ví dụ khác là, khi rút ra từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên (ở Trung Quốc, trong những năm 20), Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu đấu tranh cho độc lập (cho đất nước) – tự do – hạnh phúc (cho nhân dân) thì chúng ta chỉ có thể hoan nghênh mà thôi. Trong bức thư gửi cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng hồi tháng 10.1945 (tức là sau “cách mạng tháng 8”) Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” 44. Ai mà có thể chống lại quan điểm chí lý này?
Nhưng rất tiếc là trong thực tế, trong suốt cả thời gian nắm chính quyền, Hồ Chí Minh chưa bao giờ thực hiện lời nói trên đây cả! Về tự do chẳng hạn thì những sự việc kể trên liên quan tới “chuyên chính vô sản”, dưới thời thống trị của Hồ Chí Minh cũng như sau đó, chứng tỏ là nhân dân ở miền Bắc chưa bao giờ biết tự do là gì trên thực tế, dù rằng trong các Hiến pháp 1946 và 1959 các quyền tự do dân chủ được ghi rõ ràng, nhưng đó chỉ là “bánh vẽ” (theo nhà thơ Chế Lan Viên) mà thôi. Còn về hạnh phúc thì người ta tự hỏi: làm sao nhân dân có được hạnh phúc khi, một mặt thì đời sống vật chất của nhân dân quá khó khăn trong những năm Hồ Chí Minh nắm chính quyền, mặt khác nhân dân chưa bao giờ hưởng được các quyền tự do dân chủ cơ bản như đã ghi trong các Hiến pháp lúc đó? Ðúng như anh Lữ Phương đã nhận xét: “mô hình XHCN (do Hồ Chí Minh) mang đến cho dân tộc Việt Nam suốt bao nhiêu năm qua là điều quá rõ ràng: độc lập đã có, nhưng tự do, hạnh phúc thì không (tác giả nhấn mạnh – VNT) 45. Ông Trần Ðộ cũng đã nhận xét như thế 46 và còn nói thêm: “Muốn có tự do, hạnh phúc, phải có dân chủ [thật sự]” 47. Ông Nguyễn Hộ cũng nói như ông Trần Ðộ: “rõ ràng ở Việt Nam (…) chỉ có độc lập, chứ không hề có dân chủ, tự do, đặc biệt về chính trị, tư tưởng (…)” 48.

Gần đây có người ở Việt Nam cho rằng để thực hiện lời tuyên bố chí lý của Hồ Chí Minh như đã nêu bên trên thì phải “tiến lên CNXH [vì đó] là con đường đem lại tự do hạnh phúc cho mọi người” 49.

Ðó là ngụy biện hoàn toàn vì kinh nghiệm trong bao nhiêu năm qua cho thấy là trên thực tế – ở Việt Nam cũng như ở các nước đã từng đi theo con đường “XHCN hiện thực” – nhân dân chưa bao giờ được hưởng tự do và hạnh phúc cả!
Hiện nay, nếu ÐCSVN thật tình muốn “thực hành công cuộc đổi mới theo tư tưởng của Người (Hồ Chí Minh)” như họ từng nói thì họ hãy thực hiện đúng lời nói hồi tháng 10.1945 trên đây của Hồ Chí Minh!

2. Khía cạnh kinh tế của “tư tưởng Hồ Chí Minh”


Về vấn đề này thì chúng ta cần trở lại chủ trương “tiến thẳng lên CNXH” của Hồ Chí Minh để có thể hiểu rõ hơn. Ðiều đáng chú ý là ý đồ “tiến thẳng lên CNXH” từ một nước nông nghiệp lạc hậu, vừa ra khỏi chiến tranh chống thực dân Pháp, là vừa không phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước, vừa đi ngược lại quan điểm của Mác. Bởi vì, như một đảng viên cao cấp đã nhận xét “theo Mác và Ănghen, CNXH chỉ có thể thành công ở những nước có nền công nghiệp phát triển, nghĩa là đã qua giai đoạn cao của chủ nghĩa tư bản” 50. Quan điểm này của Mác cũng là lý thuyết suông thôi vì cho đến nay dự đoán này chưa bao giờ được cụ thể hóa cả!.
Thẳng thắn mà nói thì chủ trương “tiến thẳng lên CNXH” nói trên là sai lầm to lớn nhất và tai hại nhất của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tế. Chính xuất phát từ đó mà, trong “Báo cáo về dự thảo hiến pháp sửa đổi năm 1959”, Hồ Chí Minh khẳng định “chế độ ta [phải] xóa bỏ các hình thức sở hữu không XHCN [tức là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của người lao động riêng lẻ và của nhà tư sản – VNT. ] làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất dựa trên chế độ sở hữu toàn dân [tức là sở hữu quốc doanh, của nhà nước -VNT. ] và sở hữu tập thể [tức là của các hợp tác xã]” [chúng tôi nhấn mạnh – VNT]. Và Hồ Chí Minh còn nói thêm: “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, và Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên; chúng ta phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vững chắc cho CNXH và thúc đảy việc cải tạo XHCN” 51.

Hồi tưởng lại quá khứ, một đảng viên cao cấp đã thừa nhận là “vào giai đoạn trước đổi mới, chúng ta [ÐCSVN] đã phạm sai lầm là rập khuôn mô hình cứng nhắc [của Stalin và Mao – VNT] về CNXH, thuần nhất thành phần kinh tế XHCN dưới hai hình thức: quốc doanh và tập thể, (…), thủ tiêu các thành phần khác. Những sai lầm này đã diễn ra ở nước ta trong một thời gian dài, và chúng ta phải trả giá quá đắt” 52.

Trong những năm 80, ông Trường Chinh 53 và ông Nguyễn Văn Linh 54 đều thừa nhận là việc xóa bỏ các khu vực kinh tế tư nhân theo chủ trương của ÐCS [và Hồ Chí Minh] lúc đó là một trong những sai lầm “ấu trĩ tả khuynh”, “duy ý chí”, bởi vì các thành phần kinh tế đó còn rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc dân.
Chính xuất phát từ chủ trương xóa bỏ các thành phần kinh tế tư nhân cho nên Hồ Chí Minh thúc giục thực hiện khẩn trương kế hoạch 3 năm (1958-1960) ở miền Bắc nhằm “thực hiện cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh [mà] khâu chính là cải tạo… nông nghiệp” [chúng tôi nhấn mạnh -VNT] 55. Không những tán thành chung chung thôi mà Hồ Chí Minh, theo một tài liệu của Ủy ban nghiên cứu lịch sử ÐCS, còn “theo dõi và chỉ đạo sát sao công cuộc cải tạo XHCN” đó nữa 56.
&
& &

Về vấn đề cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, tức là hợp tác hóa nông nghiệp, Hồ Chí Minh đã chỉ thị như sau: “Ðường lối cải tạo XHCN (…) đối với nông nghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần [nhưng trong thực tế thì thúc ép họ – VNT] từ tổ đổi công… tiến lên hợp tác xã cấp thấp… rồi tiến lên hợp tác xã cấp cao”; “các hợp tác xã, dưới sự lãnh đạo của đảng phải trở thành những đội quân vững mạnh của (…) nông dân lao động, trong cuộc phát triển sản xuất”; “yêu hợp tác xã như nhà, chống tư tưởng làm ăn riêng lẻ và những tư tưởng… có ảnh hưởng xấu cho việc củng cố phát triển hợp tác xã” 57. Ông Hồ còn theo dõi và chỉ đạo cụ thể việc biên soạn điều lệ hợp tác xã nông nghiệp, và tự tay viết lời giới thiệu bản điều lệ đó 58. Ðiều này nói lên tầm quan trọng của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đối với Hồ Chí Minh.
Trong bài diễn văn đọc tại hội nghị trung ương ÐCS lần thứ 5 bàn về nông nghiệp (tháng 07.1961) Hồ Chí Minh đánh giá phong trào hợp tác hóa nông nghiệp như sau: “Chúng ta nhất trí nhận định rằng phong trào hợp tác hóa nói chung là tốt (tác giả nhấn mạnh – VNT) 59, chính trong lúc đang xảy ra “những biểu hiện (…) nóng vội, gò ép [tức là thúc ép một cách thô bạo nông dân chuyển từ tổ đổi công lên hợp tác xã trong một thời gian rất ngắn – VNT], và các lệch lạc khác” như một đảng viên đã thú nhận 60.
Năm 1965, trong một bài báo tổng kết 20 năm cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “với các hợp tác xã, nông nghiệp đã phát triển vững chắc” 61 trong lúc mà các số liệu chính thức cho thấy là sản lượng lương thực trong suốt thời kỳ 1960-1964 chưa vượt qua nổi mức đạt được hồi năm 1959, năm mà ông Trường Chinh chỉ thị phải thúc đẩy phong trào hợp tác hóa nông nghiệp 62.
Một điều quan trọng cần nhắc lại ở đây là, trong một thông điệp đề ngày 01.05.1969, Hồ Chí Minh đã đứng hẳn về phía Trường Chinh chống lại kinh nghiệm khoán hộ “chui” do Kim Ngọc, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú đề xướng hồi năm 1968 63 nhằm kích thích lợi ích của xã viên để họ hăng hái tham gia sản xuất. [Lúc đó ÐCSVN cũng bắt chước ÐCS Trung Quốc phê phán việc khoán hộ “chui” trước đó vài năm]. Phải đợi tới 13 năm sau thì kinh nghiệm khoán hộ đối với hợp tác xã nông nghiệp mới được ÐCSVN chấp nhận chính thức, và được áp dụng trên toàn quốc với chỉ thị 100 CT/TU nổi tiếng của Ban bí thư trung ương Ðảng (tháng 01-1981).

Nhìn lại quá khứ, một số nhà kinh tế học Việt Nam, trong một tài liệu nội bộ, thừa nhận: “Phân tích diễn biến tình hình và hệ quả của 30 năm [từ năm 1958 trở đi – VNT] đối với tình hình kinh tế – xã hội nông thôn nước ta [ta thấy] (…) khuyết điểm và sai lầm trong nhận thức, trong chủ trương, trong chỉ đạo thực hiện, nhất là bước đi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, là thực tế, rõ ràng. Những sai lầm, khuyết điểm đó đã và đang gây hậu quả nặng nề đối với thực trạng kinh tế – xã hội của đất nước… Trong 30 năm hợp tác hóa nông nghiệp, bằng những cuộc cải tạo vội vàng và bất chấp quy luật, dẫn đến tập thể hóa mà thực chất là tước đoạt một cách rộng khắp và mau lẹ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, chính sách đó đã biến (…) nông dân từ những người sản xuất tự do thành những người làm thuê ăn điểm cho những ông chủ tập thể vô hình [tức là chủ nhiệm hợp tác xã – VNT]. Ðó là sai lầm lớn nhất của 30 năm hợp tác hóa nông nghiệp mà đến nay hậu quả còn nặng nề… “ (tác giả nhấn mạnh -VNT) 65. Một nhà kinh tế học khác ở Hà Nội cũng nhận xét: “Người nông dân… thực chất biến thành người lao động… [cho] hợp tác xã. Kiểu kinh tế này (…) đối lập với hoạt động sản xuất nông nghiệp, vì thế [cho nên] nông nghiệp và kinh tế nông thôn đi tới chỗ đình đốn, suy thoái và khủng hoảng” 66.
&
& &

Song song với chủ trương cưỡng bách nông dân cá thể đi vào con đường hợp tác hóa nông nghiệp, Hồ Chí Minh và ÐCSVN còn chủ trương “cải tạo XHCN” đối với giai cấp tư sản trong công, thương nghiệp [một uyển ngữ để nói việc đánh giai cấp tư sản tơi bời – VNT] theo mô hình của Lênin và nhất là của Mao.
Trong bản “Báo cáo về dự thảo hiến pháp sửa đổi” hồi năm 1959, Hồ Chí Minh đã viết: “Hiện nay chúng ta có điều kiện để cải tạo họ [giai cấp tư sản – VNT] theo con đường XHCN… Nhà nước khuyến khích họ [trong thực tế là ép buộc họ – VNT] cải tạo theo XHCN bằng hình thức công-tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác” 67. Năm 1960, Hồ Chí Minh nhấn mạnh một lần nữa: “Một việc cần kíp là cải tạo (…) giai cấp tư sản dân tộc. Do bản chất của họ, họ vẫn luyến tiếc cách bóc lột và muốn phát triển theo chủ nghĩa tư bản. Nhưng trong điều kiện miền Bắc tiến lên CNXH, ý nguyện của họ không thể nào thực hiện được”68.
Ðể hồi tưởng lại cuộc phát động quần chúng cải tạo công, thương nghiệp, tư bản, tư doanh, chúng tôi xin trích sau đây một đoạn trong quyển sách của Thành Tín: “Cuộc cải tạo công thương nghiệp, loại bỏ giai cấp tư sản dân tộc [trong thời kỳ 1958-1960 ở miền Bắc – VNT] – vẫn là theo kinh nghiệm của Trung Quốc (…), vẫn là theo sự “giúp đỡ” của các… phái viên đặc biệt của Mao… về cải tạo công thương nghiệp (…) về tận diệt nền sản xuất tư doanh (…). Các cuộc tố khổ, tính sổ bóc lột của tư sản, kể lể những thủ đoạn bóc lột, hà hiếp lao động, buôn gian bán lận, cân đo gian dối, buôn lậu,. tham tiền bất nhân (…) được phơi bày (…) Những hóa đơn, giấy tờ kinh doanh quan hệ với các hãng, công ty ở Pháp, Hồng kông (…) bị coi là tài liệu liên hệ với giai cấp tư sản đế quốc, cấu kết với bọn phản động quốc tế”! 69 Trong đợt “cải tạo” này có trường hợp một cơ sở sản xuất trình độ thủ công với 10 người thợ, phần đông là con cháu họ hàng, cũng bị quy thành tư sản và cứ thế là bị kiểm thảo, truy bức, truy thu. Ðáng thương hại là con cháu của các gia đình bị xếp vào loại tư sản thì không bao giờ có thể vào đại học, dù là khi thi vào được điểm rất cao; và khi đã tốt nghiệp rồi mà xin đi làm cho cơ quan Nhà nước thì cũng bị khước từ. Thành phần lý lịch tư sản trở thành một cái bướu dính vào suốt đời họ.
Một nhân vật xuất hiện trong chiến dịch đánh tư sản từ cuối năm 1956 là ông Ðổ Mười. Ông này đã lập công lớn ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Ðịnh. Trong một hội nghị cán bộ toàn thành phố Hà Nội, ông Ðổ Mười đã dặn dò cán bộ như sau: “bọn tư sản” giống như lũ chuột cống; khi thấy nó lú đầu ở đâu thì phải đập cho nó chết ngay! [Chúng tôi không nhớ rõ nguyên văn, nhưng đại ý là như vậy – VNT]. Nhờ “thành tích” đánh tư sản ở miền Bắc mà ÐCS liền xuất tướng ông này vào miền Nam sau 1975 để chỉ huy công cuộc “cải tạo XHCN” đối với công thương nghiệp tư doanh ở Sài Gòn.
Hậu quả của công cuộc “cải tạo XHCN” ở miền Bắc là, như nhà lão thành cách mạng Nguyễn Văn Trấn đã nhận xét: “cải tạo tư sản… làm cho nền kinh tế miền Bắc cứ nghèo, nghèo, nghèo!”70.
Nhìn lại quá khứ, các nhà sử học Việt Nam cho rằng việc “cải tạo XHCN” ở miền Bắc đã phạm phải sai lầm “chủ quan, nóng vội”   71. Và cựu ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Ðức Bình, một người bảo thủ, giáo điều khét tiếng, cũng thừa nhận là: “Chúng ta [ÐCSVN] đã phạm sai lầm (…), nóng vội trong cải tạo XHCN, muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần (…)” 72.

&
& &

Ngoài chủ trương “cải tạo XHCN” nói trên, Hồ Chí Minh còn “luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiệm vụ công nghiệp hóa XHCN nước nhà” [lẽ dĩ nhiên là theo mô hình công nghiệp hóa của Stalin – VNT] 73. Tại hội nghị trung ương lần thứ 7 (tháng 04.1962) bàn về công nghiệp hóa miền Bắc, Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Ðể đạt mục đích công nghiệp hóa XHCN, toàn Ðảng, toàn dân ta phải ra sức thực hiện đầy đủ nghị quyết của hội nghị thứ 7 của trung ương” 74, tức là thực hiện chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng – dù ở miền Bắc không có đủ điều kiện để làm việc đó – nhằm biến nền kinh tế miền Bắc thành một nền kinh tế hiện đại trong vòng 10 năm! 75. Sau đó, năm 1964, trong một bài nói chuyện tại Bộ công nghiệp nặng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh một lần nữa: “để xây dựng thắng lợi CNXH, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng” 76.

Phải chờ tới tháng 10.1986, ông Trường Chinh mới thừa nhận rằng việc ÐCSVN thiên về phát triển công nghiệp nặng ở miền Bắc từ năm 1962 trở đi vượt quá khả năng thực tế của đất nước là một trong những “sai lầm ấu trĩ tả khuynh” 77 của ÐCSVN; và ý kiến này được nhấn mạnh một lần nữa trong báo cáo chính trị của ông Trường Chinh tại Ðại hội 6 của ÐCSVN hồi tháng 12.1986 78.
Tiếp theo đó, ông Nguyễn Văn Linh, lúc đó là Tổng bí thư đảng, cũng thừa nhận, trong một bài diễn văn đọc tại hội nghị trung ương lần thứ 5 (tháng 06.1988) rằng một trong những sai lầm có tính cách chiến lược của ÐCSVN trước đó là quá chú ý đến phát triển công nghiệp nặng trên quy mô rộng lớn, đồng thời coi nhẹ phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ 79.

Nhìn chung, chúng ta thấy nội dung kinh tế trong “tư tưởng Hồ Chí Minh” như đã nói bên trên không khác gì lắm so với khía cạnh kinh tế trong tư tưởng của Mao Trạch Ðông80. Ðiều này không có gì là lạ vì chính Hồ Chí Minh [dưới bút danh Trần Lực] đã từng hô hào: “Việt Nam nên áp dụng hoàn toàn kinh nghiệm xây dựng kinh tế XHCN của Trung Quốc” 81.

Sở dĩ chúng tôi phân tích khá chi tiết các khía cạnh kinh tế của “tư tưởng Hồ Chí Minh” liên quan tới CNXH là để bù lại phần nào sự thiếu sót về phương diện này trong các quyển sách xuất bản ở trong nước. Trong những sách đó người ta thường chỉ nêu lên mục tiêu chung chung mà Hồ Chí Minh đã vạch ra cho CNXH ở Việt Nam như là “mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” 82 mà cố ý không nhắc lại các chủ trương và chính sách cụ thể mà Hồ Chí Minh đã đề ra nhằm thực hiện mục tiêu đó. Hơn nữa, trong các quyển sách xuất bản ở trong nước, người ta tránh đối chiếu các chính sách của Hồ Chí Minh với hậu quả tai hại của nó cho đất nước, cho dân tộc. Và hậu quả tổng quát về mặt kinh tế là, như ông Võ Nguyên Giáp đã thừa nhận trong một hội nghị quốc tế về “tư tưởng Hồ Chí Minh” tại Hà Nội năm 1990 là “nền kinh tế – xã hội [của Việt Nam] đang ở trong tình trạng trì trệ, nghèo khổ. Ðời sống của nhân dân cũng như năng suất lao động đang ở trong tình trạng thấp kém và lạc hậu hàng mấy thế kỷ, không những so với các nước phát triển mà so cả với những nước trong khu vực (Ðông Nam Á – VNT)” 83.
Tình hình thực tế này hoàn toàn bác bỏ luận điệu lừa bịp của bộ máy tuyên truyền của ÐCSVN khi họ khẳng định rằng Hồ Chí Minh “là một vĩ nhân…, là người mở đường cho nước ta xây dựng phồn vinh (?) của đất nước” 84.

Nhận xét một cách tổng quát về “tư tưởng Hồ Chí Minh” – cả về mặt chính trị lẫn về mặt kinh tế – anh Lữ Phương cho rằng “sự lựa chọn đường đi [tức là mô hình Stalinít – Maoít – VNT] của Hồ Chí Minh cho Việt Nam là chọn lựa bất toàn; nó có thể giành được độc lập cho dân tộc qua các hình thức đấu tranh bạo lực, nhất là chiến tranh, nhưng đã thất bại toàn diện trong xây dựng hòa bình. Ðiều này đã được chứng thực rất hiển nhiên qua hơn nửa thế kỷ thực hành (…). [Một mặt] khoác lác về cái gọi là “dân chủ gấp triệu lần” [ám chỉ cái gọi là “dân chủ XHCN” -VNT] nhưng lại đè đầu cưỡi cổ nhân dân một cách tự nhiên như những cường hào. [Mặt khác] làm mất hoàn toàn động lực về phát triển kinh tế qua chủ trương nhà nước hóa toàn bộ hoạt động sản xuất. Nói chung: giam hãm dân tộc trong cái ao tù chuyên quyền độc đoán [về mặt chính trị – VNT] và lạc hậu nghèo nàn [về mặt kinh tế -VNT]…” 85.
Bàn về trách nhiệm của Hồ Chí Minh trước lịch sử dân tộc, anh Lữ Phương nêu lên câu hỏi sau đây: “… [Hồ Chí Minh] đem ra thực hiện một cách toàn diện cái mô hình XHCN phi thị trường và chuyên chính vô sản trong suốt một thời gian đằng đẵng làm cho dân tộc cất đầu dậy không nổi (…) Chẳng lẽ cụ là người sinh ra đảng, người lập ra nước… mà không [có] trách nhiệm gì trước những chuyện tày đình đó hay sao?” 86.

Trong nhiều năm qua, ÐCSVN thường xuyên hô hào là phải dựa vào “tư tưởng Hồ Chí Minh” để đẩy mạnh công cuộc “đổi mới”. Nhưng làm sao có thể dựa vào chủ trương, chính sách kinh tế của Hồ Chí Minh chẳng hạn (như đã phân tích bên trên) để “đổi mới” kinh tế khi nó trái ngược hẳn với chính sách đổi mới hiện nay? Vả lại chính sách kinh tế của Hồ Chí Minh trong những năm 50 và 60 đã bị Ðại hội lần thứ 6 của ÐCS (tháng 12.1986) gián tiếp phê phán là “sai lầm ấu trĩ tả khuynh” vì nó ” kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu động lực phát triển” 87. Khẳng định rằng “ngày nay những luận điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH ở nước ta vẫn giữ nguyên ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới” 88, hoặc nói rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh” vẫn là “đúng đắn, sáng tạo” 89 trong sự nghiệp “đổi mới” kinh tế hiện nay như ÐCS đang làm là ngược đời hoàn toàn! Viện lý “tư tưởng Hồ Chí Minh” để hỗ trợ cho chính sách “đổi mới” kinh tế hiện nay là một nghịch lý!
Còn về mặt chính trị, việc ÐCSVN tiếp tục áp đặt chủ nghĩa Mác-Lê, độc quyền cai trị 80 triệu dân thông qua “chuyên chính vô sản”, dưới hình thức của cái gọi là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, hoặc “nhà nước XHCN”, và vẫn “tiến lên CNXH” như Hồ Chí Minh đã từng chủ trương thì, ai cũng nhận ra là, dưới lá cờ “đổi mới” chính trị, chỉ có đổi chút ít về hình thức thôi, nhưng về nội dung cơ bản thì không có gì là mới cả. Tóm lại, nếu dựa vào “tư tưởng Hồ Chí Minh” để hỗ trợ cho chính sách “đổi mới” chính trị thì phải nói thẳng ra là có đổi nhưng không có gì mới!
Bây giờ chúng tôi sẽ lần lượt bàn về “đổi mới” kinh tế lẫn “đổi mới” chính trị !
&
& &

Chú Thích (Chương I)

1. Yang Chungui, “Deng Xiaoping, Theory & The Historical destiny of Socialism”, Social Sciences in China, Spring 1, 2001, Beijing (China), tr. 30-47.- Lý Thiết Anh (Viện trưởng Viện khoa học xã hội Trung Quốc), Báo cáo ở Trung Tâm khoa học xã hội, Hà Nội (11.02.2000), trong tạp chí Nghiên cứu kinh tế (sẽ gọi tắt NCKT), Hà Nội, tháng 03.2000, tr. 58-69.- Marie-Claire Bergère, “La Chine de 1949 à nos jours”, 3è éd. , Paris, Colin, 2000, tr. 3; 167; 172; 175.- J. L. Domenach, “La Chine post-totalitaire”, tạp chí Commentaire, Plon, (Pháp) No 93, Printemps 2001, tr. 35-46. Cùng một tác giả, xem “L’Asie en Danger”, Ed. Fayard, Paris, 1998, chương 4 .
2. Về khái niệm giai đoạn đầu của CNXH, do Giang Trạch Dân đưa ra tại Ðại hội 13 của ÐCS Trung Quốc (1987), xem MARIE – Claire Bergère, “La Chine… “, sđd, tr. 208; và Quang Huy, Tạp Chí Cộng Sản (sẽ gọi tắt TCCS), Hà Nội, số 23, tháng 12.1999, tr. 56.
3. Nhân Dân (sẽ gọi tắt ND), Hà Nội, 24.04.2001; và TCCS, số 9, tháng 05.2001.
4. Far Eastern Economic Review (sẽ gọi tắt FEER) trích dẫn, Hongkong, April 09.1998.
5. N. Chanda trích dẫn Lê Khả Phiêu, FEER, June 06.2000
6. Trần Ðức Lương, TCCS số đặc biệt 4 & 5, tháng 02.2002, tr. 5.
7. ND, 24.04.2001.
8. Thư mục chọn lọc về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”:- Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, NXBCTQG, Hà Nội, 2000. – Phạm Văn Ðồng, “Ho Chi Minh, un homme, une nation… “, ELE, Hanoi, 1990. – “Ho Chi Minh”, Ed. Thế Giới, Hanoi, 1997 (ouvrage collectif rédigé par la Commission de l’histoire du Parti Communiste Vietnamien, traduit en fran硩s)- Nguyễn Khánh Bật, “Những bài giảng về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh”, NXBCTQG, Hà Nội, 1999. – Pierre Brocheux, “Ho Chi Minh”, Presses de Sciences PO, Paris, 2000.- William Duiker, “Ho Chi Minh”, New York, Hyperion Press, 2000. – Jean Lacouture, “Ho Chi Minh”, Ed. Seuil, Paris, 1967. Cùng một tác giả, xem “Mes héros et nos monstres ou Le temps des démiurges”, Ed. Seuil, Paris, 1997 (xem chương nói về Hồ Chí Minh, tr. 102-110)- Lữ Phương, “Huyền thoại về Hồ Chí Minh”, tạp chí Thế Kỷ 21 (sẽ gọi tắt TK 21), (Mỹ), tháng 12.2001, tr. 63-71.- Thanh Phong, “Phê phán tư tưởng Hồ Chí Minh”, TK21, tháng 02.2001, tr. 12-15.- Tôn Thất Thiện, “Luận bàn về Tư tưởng Hồ Chí Minh”,Tin Nhà, Paris, số 27, Avril 1997.- Võ Nhân Trí, “Tư tưởng Hồ Chí Minh có mâu thuẫn gì với chính sách “đổi mới” không? “, trong quyển sách tập thể: “Ðảng Cộng Sản trước thực trạng Việt Nam”, NXB Ðường Mới, Paris, 1994, tr. 63-94.
9. Trích theo Nguyễn Văn Trấn, “Viết cho Mẹ và Quốc hội”, NXB Văn Nghệ, California (Mỹ), 1995, tr. 151.
10. Trích theo Nguyễn Minh Cần, “Ðảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế”, NXB Tuổi Xanh (Mỹ), 2001, tr. 36. Về Stalin nói chung, xem Dimitri Volkogonov, “Staline, triomphe et tragédie”, Flammarion, Paris, 1991.
11. Trích theo P. Brocheux, “Ho Chi Minh”, sđd, tr. 93.
12. Ho Chi Minh, “Oeuvres Choisies”, t.2, ELE, Hanoi, 1962, tr. 221-222. Chúng tôi dịch lại từ bản tiếng Pháp bởi vì đoạn quan trọng này đã bị cắt xén trong “Hồ Chí Minh, Toàn Tập” (bản tiếng Việt), NXBS.T, t.6, Hanoi, 1986, tr. 12.Xem thêm về Tư tưởng Mao Trạch Ðông:- Stuart R. Schram, “The thought of Mao tse Toung”, New York, Cambridge University Press, 1989. – Marie-Claire Bergère, “La Chine de 1949… “, sđd, tr. 172 và tiếp theo.- Dr. Li zhi Sui, “La vie privée du président Mao”, Plon, Paris, 1994.- Encyclopaedia Universalis, “Mao et Maoisme”, t.14; tr. 476-480.
13. Trích theo Nguyễn Minh Cần, “Ðảng Cộng Sản Việt Nam… “, sđd, tr. 63. Cùng xem phỏng vấn của Bùi Tín, tạp chí Thông Luận (sẽ gọi tắt TL), Paris, tháng 10.2001, tr. 9.
14. Phạm Văn Ðồng, “Ho Chi Minh, un homme. … “, sđd, tr. 84.
15. Hồ Chí Minh, “Toàn Tập”, NXBCTQG, Hà Nội, 1995; t.10; tr. 17.
16. Xem Trần Gia Phụng, “Án tích Cộng Sản Việt Nam”, NXB Non Nước, Toronto (Canada), 2001, chương 3; và Bs. Trần ngươn Phiêu, TK 21, tháng 05.1999, tr. 21 và tiếp theo.
17. Hồ Chí Minh, “Toàn Tập… “, trích theo Nguyễn Minh Cần, “Ðảng Cộng Sản Việt Nam… “, sđd, tr. 97.
18. Daniel Guérin, “Au service des colonies” do Jean Lacouture trích dẫn trong “Hồ Chí Minh”, sđd, tr. 123.
19. “Tuyển tập Nguyễn Kiến Giang”, NXB Trăm Hoa (Mỹ), 1993, tr. 72, và 129-130.
20. Ho Chi Minh, “Écrits 1920-1969”, ELE, Hanoi, 1971, tr. 230.
21. Nguyễn Minh Cần, “Ðảng Cộng Sản Việt Nam… “, sđd, tr. 82.
22. Hồ Chí Minh, “Toàn Tập”, NXBS.T, Hà Nội, 1989, t.7, tr. 548.
23. Trích theo Dimitri Volkogonov, “Le vrai Lénine”, Laffont, Paris, 1995, tr. 314. Ở một chỗ khác, Hồ Chí Minh còn nói: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ”, Hồ Chí Minh, “Toàn Tập”, NXBCTQG, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 505.
24. Lữ Phương, tạp chí Diễn Ðàn (sẽ gọi tắt là DÐ), Paris, tháng 11.1993, tr.19 và 22.
25. Nguyễn Minh Cần, “Ðảng Cộng Sản Việt Nam… “, sđd, tr. 125-126.
26. Nguyễn Văn Trấn, “Viết cho Mẹ… “, sđd, tr. 345.
27. Thành Tín, (bút danh Bùi Tín), “Mặt Thật”, Saigon Press (Mỹ), 1993, tr. 3.
28. Dương Thu Hương, trong Reader’s Digest, trích theo tạp chí “Việt Nam Dân Chủ” (sẽ gọi tắt VNDC). Paris, tháng 01.1999, tr. 20.
29. Dương Thu Hương, trích theo tạp chí “Quê Mẹ”, Paris, tháng 04 & 05, 1990, tr. 38 và theo TK21, tháng 06.2000, tr. 53.
30. Nguyễn Chí Thiện, “Hỏa Lò”, NXB Tổ Hợp xuất bản miền Ðông Hoa Kỳ, 2001, tr. 153 và 169.
31. J. Lacouture, “Ho Chi Minh”, sđd, tr. 178-179; 181.
32. Oliver Todd, “Ho Chi Minh, l’homme et son héritage” (sách tập thể), NXB Ðường Mới, Paris, 1990, tr. 182.
33. Ho Chi Minh, “Écrits 1920-1969”, ELE, Hanoi, 1971, tr. 215-219; và tr. 239-242.
34. Hồ Chí Minh, Toàn Tập, NXBS.T, Hà Nội, 1984, t.7, tr. 783.
35. Song Thành, TCCS số 5, 1991, tr. 4.
36. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, NXBS.T, Hà Nội, 1980; t.2; tr. 159.
37. Hồ Chí Minh, Toàn Tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1995; t.2; tr. 280.
38. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, sđd, tr. 186-187.
39. Hồ Chí Minh, Toàn Tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1995; t.9; tr. 156-157.
40. Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường…, sđd, tr. 138.
41. Tuyển Tập Nguyễn Kiến Giang, sđd, tr. 131.
42. ibid, tr. 125; 131; 133.
43. Hồ Chí Minh, Toàn Tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1995; t.2; tr. 270.
44. Hồ Chí Minh, Toàn Tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1995; t.4; tr. 56-57.
45. Lữ Phương, DÐ, tháng 11.1993.
46. Trần Ðộ, TL, tháng 02.1999, tr. 15.
47. Trần Ðộ, TL, tháng 03.1998, tr. 34.
48. Nguyễn Hộ, Quan điểm và cuộc sống, Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, ronéo, tr. 29.
49. Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường…, sđd, tr. 371.
50. Thành Duy, TCCS số 03.1990, tr. 44.
51. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, NXBS.T, Hà Nội, 1980; t.2; tr. 130-131.
52. Vũ Xuân Kiều, TCCS số 03.1993, tr. 49.
53. Trường Chinh, ND, 20.10.1986.
54. Nguyễn Văn Linh, ND, 25.10.1986 và ND 31.03.1989 (diễn văn tại hội nghị Trung ương lần 6; tháng 03.1999).
55. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, sđd, tr. 161.
56. Ho Chi Minh, Ed. Thế Giới, Hanoi, 1997, tr. 188 (bản dịch tiếng Pháp).
57. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, sđd, tr. 131; 162; 170; 173.
58. Song Thành, TCCS số 05.1991, tr. 4.
59. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, sđd, tr. 227.
60. Song Thành, TCCS số 05.1991, tr. 4; và Võ Nhân Trí, “Vietnam’s Economic Policy since 1975″, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1990, tr. 14-15.
61. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, sđd, tr. 386.
62. Trường Chinh, Resolutely taking the North Vietnam countryside to socialism through agricultural cooperatives”, FLPH, Hanoi, 1959, tr. 21; và Võ Nhân Trí, Vietnam’s Economic Policy since 1975, sđd, tr. 11 và 19.
63. ND, 09.08.1969.
64. Võ Nhân Trí, Vietnam’s Economic Policy since 1975, sđd, tr. 132.
65. Thực trạng kinh tế – xã hội Việt Nam – Giai đoạn 1986-1990, Tạp chí “Thống Kê” xuất bản, Hà Nội, 1990, tr. 55-56 (Tài liệu tham khảo nội bộ).
66. Lê Cao Ðoàn, NCKT, tháng 02.1999, tr. 39.
67. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, sđd; tr. 128; 131-132.
68. Hồ Chí Minh, ibid, tr. 162-163. Về vấn đề “cải tạo XHCN” ở miền Bắc, xem chi tiết: Võ Nhân Trí, Vietnam’s Economic…, sđd, tr. 26-28.
69. Thành Tín, Mặt Thật, sđd, tr. 75-78.
70. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ…, sđd, tr. 211.
71. Viện Sử Học, Lịch sử Việt Nam, 1954-1965, NXBKHXH, Hà Nội, 1995, tr. 90.
72. Nguyễn Ðức Bình, TCCS số 4, tháng 02.2000, tr. 17.
73. Xem bài của Lê Thi trong quyển sách tập thể, Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh”, NXBS.T, Hà Nội, 1982, tr. 77.
74. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2; sđd, tr. 267. Về nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thứ 7, xem Le chemin du bonheur et de la prospérité, ELE, Hà Nội, 1963.
75. Võ Nhân Trí, Vietnam’s Economic…, sđd, tr. 30.
76. Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, t.2, tr. 347.
77. ND, 02.10.1986 và ND, 5 & 6 tháng 11.1986.
78.6th National Congress of the Communist Party of Vietnam, Documents, FLPH, Hanoi, 1987, tr. 18-19.
79. ND, 23.06.1988.
80. Về khía cạnh tiêu cực của chủ nghĩa Mao, xem Marie-Claire Bergière, La Chine 1949…, sđd, tr. 172 và tiếp theo.
81. Trần Lực (bút danh của Hồ Chí Minh), Mấy kinh nghiệm của Trung Quốc mà chúng ta nên học, NXBS.T, Hà Nội (không ghi rõ năm).
82. Hồ Chí Minh, Toàn Tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1996; t.8; tr. 396.
83. Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta, NXBS.T, Hà Nội, 1990, tr. 34-35.
84. TCCS số 3, tháng 02.1999, tr. 3.
85. Lữ Phương, TK21, 2001, tr. 67 và 68.
86. Lữ Phương, DÐ, tháng 11.1993.
87. ÐCSVN, Chiến lược ổn định phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000, NXBS.T, Hà Nội, 1991, tr. 9. Cùng một quan điểm, xem Trần bá Ðệ, tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, Hà Nội, số tháng 06.1991, tr. 67-68.
88. Tạp chí Khoa Học Xã Hội, Thành phố Hồ Chí Minh, số 25, III.1995, tr. 6.
89. Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường…, sđd, tr. 147.

(Vo Nhan Tri, cuu dang vien cs, tien si Kinh te)

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: