Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

March 20, 2008

Việt Nam trong bối cảnh kết thúc chiến tranh lạnh (Lê Quế Lâm)

Đăng ngày 01/02/2008
Đề tài: Chính Trị Thế Giới
Việt Nam trong bối cảnh kết thúc chiến tranh lạnh
Lê Quế Lâm

“… Độc lập, tự do, hạnh phúc đề ra từ 1945 đến nay cũng chưa thực hiện được, chỉ có một điều rõ ràng là ông và những người thừa kế cuồng tín bảo thủ đã dẫn dắt dân tộc trở lại thời Bắc thuộc…”
Cuối năm 1991, Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa tức Liên Xô (LX) cùng các nước Xã hội chủ nghĩa nằm trong quỹ đạo của nó, tức khối Cộng sản Đông Âu sụp đổ. Biến cố này đã kết thúc chiến tranh lạnh -cuộc đối đầu giữa Thế giới Tự do (TGTD) và Quốc tế Cộng sản (QTCS) kéo dài gần nửa thế kỷ (1947-1991). Hai năm sau, Quốc hội Hoa Kỳ với đa số tuyệt đối đã thông qua dự luật HR 3000: thiết lập Quỹ Tài trợ Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản (Victims of Communism Memorial Foundation – VOCMF).

Đây sẽ là chứng tích lịch sử giúp các thế hệ mai sau thấy được sự tàn bạo, sát hại nhân loại của chủ nghĩa Cộng sản với trên 100 triệu nạn nhân. Dự luật trên được TT Bill Clinton cùng Chủ tịch Hạ viện Foley và Chủ tịch Thượng viện Robert Bird ký ban hành vào năm 1994, trở thành Chương 905 trong Bộ Luật công của Hoa Kỳ 103 199 (Section 905 of Public Law 103-199). Đạo luật của Quốc hội Mỹ còn cho phép VOCMF được trao tặng Huy chương Tự do Truman-Reagan (the Truman-Reagan Medal of Freedom) cho những ai đã kiên cường chống lại bạo quyền cộng sản (CS) và tri ân những ai đã tiếp tay đưa đến sự sụp đổ của Đế quốc cộng sản, chấm dứt chiến tranh lạnh.

Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản tọa lạc trong một khuôn viên, ở phía tây Điện Capitol đã được TT George W. Bush, đồng thời cũng là Chủ tịch danh dự VOCMF, long trọng khánh thành ngày 12-6-2007.
Và giữa tháng 11/2007, một trong ba nhân vật được VOCMF trao tặng Huy chương Tự do Truman-Reagan có Trần Văn Bá. Ông đã tham gia Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam, sau đó trở về quê hương lập chiến khu chống lại nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN. Ông bị bắt và bị cộng sản hành quyết ở Sàigòn ngày 8 tháng Giêng năm 1985.

Chủ tịch Hội đồng Quản trị VOCMF, Tiến sĩ Lee Edwards đã tuyên dương Trần Văn Bá là “chiến sĩ cho Tự do, chiến sĩ chống Cộng sản” khi trao tặng Huy chương Tự do mang tên hai tổng thống nổi tiếng của Hoa Kỳ (HK). Một thuộc đảng Dân chủ khởi đầu và một thuộc đảng Cộng hoà kết thúc chiến tranh lạnh. Trần Văn Bá không những là anh hùng của dân tộc mà còn anh hùng chống CS của nhân loại, tên tuổi ông sẽ được khắc ghi vào tượng đài thiêng liêng tại thủ đô HK, bên cạnh những danh nhân thế giới. (1)

TT Harry Truman (1945-1953): Sau Thế chiến II, kinh tế các nước Âu châu lâm vào tình trạng kiệt quệ gần như sụp đổ, thậm chí lương thực không đủ phân phối cho người dân. Đây là cơ hội giúp các đảng CS thao túng. QTCS công khai kêu gọi các phần tử bất mãn, các phần tử đối lập và các đảng CS khắp nơi trên thế giới phát động chiến tranh du kích và đình công phá hoại. Đối với nơi thuận lợi như Hy Lạp, QTCS tích cực ủng hộ và yểm trợ các cuộc nổi loạn của du kích CS chống lại chánh quyền trung ương ở Athène. Hy Lạp đang bị uy hiếp nặng nề bởi các lực lượng du kích địa phương được Albania, Bulgaria và Yougoslavia (Nam Tư) cung cấp vũ khí. Chánh phủ Anh không đủ khả năng bảo vệ phần đất ảnh hưởng của mình tại vùng Balkan tiếp giáp các nước CS Đông Âu, nên báo cho HK biết họ sẽ chấm dứt mọi sự giúp đỡ cho Hy Lạp từ cuối tháng 3/1947. Hoa Thạnh Đốn phản ứng một cách quyết liệt, ngày 12//3/1947, Tổng thống Truman ra trước Lưỡng viện Quốc hội trình bày tình trạng khẩn trương tại Hy Lạp và Thổ nhĩ Kỳ.

Theo Truman, “những hành động xâm lược nhằm áp đặt chế độ độc tài lên các dân tộc tự do là một sự thách đố, bắt buộc Hoa Kỳ phải trả lời”.
Ông nói: “Hoa Kỳ đã đóng góp 341 tỷ đô la để chiến thắng trong Thế chiến II, đó là sự đầu tư cho thế giới tự do và hoà bình”. Nay ông “chỉ xin Quốc hội một phần mười của một phần trăm số tiền đầu tư đó để tài trợ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bảo vệ tự do, duy trì an ninh ở Trung Cận Đông”. Ông đoan quyết trước Quốc Hội: “Tôi tin rằng chánh sách của Hoa Kỳ phải là nâng đỡ các dân tộc tự do chống lại những mưu toan thống trị do các phần tử thiểu số có vũ trang hoặc các áp lực từ bên ngoài gây ra…Các dân tộc tự do trên thế giới nhìn về chúng ta để tìm một chỗ dựa để giữ gìn tự do của họ, nếu chúng ta do dự trong vai trò lãnh đạo của chúng ta, chúng ta sẽ làm cho nền hoà bình thế giới bị lâm nguy và chắc chắn cuộc sống êm ả của chúng ta bị lâm nguy”.(2)

Đây là lời cam kết đầu tiên của HK trong tư thế lãnh đạo TGTD, mở màn trận chiến mới chống chế độ độc tài vô sản khuynh đảo. Dự luật viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ được Thượng Viện Mỹ thông qua với 67 phiếu thuận trên 23 phiếu chống, với sự có mặt của ba Thưuợng nghị sĩ (TNS) sau này là tổng thống: John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson và Richard M. Nixon. Quyết nghị can thiệp của TT Truman theo TNS Arthur Vanderberg, chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại của Thượng viện, có nghĩa là Mỹ “sẽ ủng hộ tất cả các dân tộc tự do chống lại các ý đồ xâm lược của các nước khác”. Hoặc như lời nhận xét của TNS Edwin Johnson: “đó là sự tuyên chiến với Liên Xô”. (3)

Gọi là tuyên chiến, nhưng Quân đội HK chưa bao giờ đối đầu với Hồng quân LX tại mặt trận, họ chỉ chiến đấu với những đội quân được Liên Xô yểm trợ như Trung Cộng (TC) tại chiến trường Triều Tiên (1950-1953) hoặc Cộng sản Bắc Việt tại miền Nam Việt Nam (1965-1973). Và sự can dự của HK chỉ nhằm ngăn chận (containment) sự bành trướng của CS mà thôi.

Tại Triều Tiên, khi phe CS chấp nhận đưa đất nước này trở lại nguyên trạng chia cắt ở vĩ tuyến 38 mà các nước Đồng Minh đã thỏa thuận hồi năm 1945. Hoa Kỳ ký hiệp ước đình chiến tại Bàn Môn Điếm năm 1953, sau đó hiệp ước đưọc hợp thức hóa tại Hội nghị Genève 1954 có sự tham dự của Liên Xô, Trung Cộng. Hai nước Triều Tiên cùng tồn tại đến ngày hôm nay.

Tại VN, Hoa Kỳ dàn xếp với LX và TC để kết thúc chiến tranh bằng Hiệp định Paris 1973 dựa trên cơ sở tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Hiệp định được một hội nghị quốc tế về VN có sự tham dự của 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An, tuyên bố tán thành và ủng hộ trước sự chứng kiến của ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) ngày 28/2/1973. Nhờ đó, HK tạo ra giai đoạn hoà hoãn (détente) với LX và tiến hành việc bình thường hóa bang giao với TC.

Biến cố 30/4/1975 đã đưa thế giới trở lại tình trạng căng thẳng cũ. CS cho rằng đế quốc Mỹ đã suy yếu nên phải hoà hoãn với khối Cộng và rút lui khỏi VN. Từ đó họ vùng lên, sau Đông Dương, gần 10 nước nữa lọt vào tay CS. Sự lấn chiếm của CS lên đến cao điểm khi Hànội xâm lăng Cam bốt, sau đó LX tràn vào Afghanistan lật đổ chính quyền hợp pháp xứ này. LX còn bố trí hỏa tiễn ở Oural để uy hiếp các đồng minh của Mỹ ở Tây Âu. Không những hoà bình thế giới bị đe doạ mà uy tín HK cũng bị coi thường. Chính quyền mới ở Iran sau khi lật đổ quốc vương Palhevi, đã bất chấp qui luật ngoại giao bắt giữ toàn bộ nhân viên sứ quán Mỹ ở Terhan để làm con tin trong gần 15 tháng.

TT Ronald Reagan (1981-1989): Ông đảm nhận trọng trách lãnh đạo HK trong thời điểm này. Trong hồi ký TT Ronald Reagan cho rằng giới lãnh đạo LX đã lợi dụng giai đoạn hoà hoãn để tự do thực hiện các chánh sách lật đổ, xâm lược và bành trướng mọi nơi trên thế giới mà họ muốn.

Các lãnh tụ Xô Viết từ Lenin đến Leonid Brezhnev đều nói mục tiêu của Xô Viết là “cộng sản hóa toàn thế giới”. Với học thuyết Brezhnev, Liên Xô cho rằng có quyền yểm trợ các cuộc chiến tranh giải phóng và có quyền can thiệp vũ trang để ngăn chận bất cứ sự thách thức nào đối với các chánh quyền CS. Trong khi Hoa Kỳ từ giữa thập niên 1970 đã từ bỏ vai trò lịch sử như là lãnh tụ tinh thần Thế giới Tự do và người quán quân bảo vệ dân chủ. Reagan cho biết HK không thể đứng yên được nữa trong khi LX trang bị và tài trợ các cuộc khủng bố và lật đổ các chánh quyền dân chủ. Theo ông, chánh sách của HK phải dựa trên sức mạnh và tình hình thực tế. Ông muốn hoà bình dựa trên sức mạnh chớ không phải hoà bình trên giấy tờ. (4)

Tuy nhiên, ông vẫn tỏ ra mềm mỏng trong lá thư đầu tiên gởi lãnh tụ LX Leonid Brezhnev hồi cuối tháng 4/1988:

“Thưa Ngài Chủ tịch, Khi viết lá thư này, tôi hồi tưởng cuộc gặp gở của chúng ta tại San Clement, California hồi thập niên trước. Lúc đó tôi là thống đốc bang California còn Ngài đang hoàn tất các cuộc thảo luận với tổng thống Nixon. Những cuộc găp gở đó đã thu hút sự quan tâm của toàn thế giới.
Chưa bao giờ hoà bình và thiện chí giữa con người với con người lại gần kề đến thế. Khi chúng ta gặp nhau, tôi đã hỏi là Ngài có biết rằng hy vọng và khát vọng của hàng triệu người trên khắp thế giới đang phụ thuộc vào những quyết định đạt được tại các cuộc họp của các Ngài hay không.

Ngài nắm tay tôi bằng cả hai tay và đoan quyết rằng Ngài biết điều đó và Ngài sẽ gắng sức bằng cả trái tim và khối óc để thực hiện những hy vọng và ước mơ đó. Nhân nhân trên thế giới vẫn còn hy vọng. Quả thật, các dân tộc trên thế giới, bất chấp những dị biệt về chủng tộc và nguồn gốc sắc tộc, song họ có nhiều điểm tương đồng. Họ muốn có quyền kiểm soát đối với số phận riêng của mình. Họ muốn theo đuổi nghề nghiệp mà họ chọn và được trả thù lao một cách công bằng. Họ muốn nâng cao đời sống gia đình trong hoà bình, không làm hại ai và cũng không bị ai làm tổn hại. Các chánh phủ tồn tại là nhằm phục vụ lợi ích của họ chớ không phải ngược lại.

Phải chăng chúng ta đã để cho những lý tưởng, quan điểm chính trị, kinh tế và các chánh sách của chánh phủ ngăn cản mình xem xét những vấn đề hàng ngày rất thiết thực của người dân mà chúng ta đại diện?
Liệu một gia đình trung bình người Nga có sống sung sướng hơn hay chậm chí họ có biết được rằng chánh phủ của họ đã áp đăt ý mình lên nhân dân Afghnistan?

Ngài luôn ám chỉ rằng những việc này là cần thiết vì những tham vọng mở rộng lãnh thổ của Mỹ, rằng chúng tôi có những mưu đồ đế quốc và vì vậy là mối đe dọa đối với an ninh của nước Ngài và các quốc gia mới vươn lên. Không những không có bằng chứng nào cho lời cáo buộc đó, mà còn có bằng chứng rõ ràng rằng nước Mỹ, trong khi đã có thể làm bá chủ thế giới mà không gặp nguy hại nào cả, nhưng họ đã không theo đuổi nỗ lực nào tương tự như thế.

Khi Thế chiến II chấm dứt, HK là nước duy nhất trên thế giới có nền công nghiệp không bị tổn hại vì chiến tranh. Sức mạnh quân sự đạt tới đỉnh cao và riêng mình chúng tôi có thứ vũ khí mạnh nhất, bom nguyên tử, cùng khả năng không cần phải bàn cãi là có thể đưa nó tới bất kỳ nước nào trên thế giới. Nếu chúng tôi muốn làm bá chủ thế giới, ai có thể chống nổi chúng tôi? Nhưng nước Mỹ đã đi theo một con đường khác – con đường có một không hai trong lịch sử nhân loại. Chúng tôi sử dụng sức mạnh và sự phồn vinh của mình để xây dựng lại những nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, bao gồm cả những nước đã từng là kẻ thù của chúng tôi.

Thưa Ngài Chủ tịch, có lẽ nào chúng ta lại không quan tâm đến việc phá bỏ những vật cản đã ngăn cản người dân của chúng ta đạt những mục tiêu đơn giản này? Và có lẽ nào một số vật cản này không phải sinh ra từ những mục tiêu của chánh phủ vốn không liên quan đến những nhu cầu và mong muốn đích thực của người dân?

Trong tinh thần giúp đõ nhân dân hai nước chúng ta, tôi đã bải bỏ việc cấm vận lúa mì. Kỳ vọng quyết định này sẽ góp phần tạo ra một hoàn cảnh có khả năng dẫn đến những cuộc đối thoại xây dựng đầy ý nghĩa, nó sẽ giúp chúng ta hoàn thành nghĩa vụ chung để tìm ra hoà bình lâu dài. (5)


TT Reagan đã tự tay viết lá thư trên chỉ một tuần sau khi rời bịnh viện. Viên đạn của kẻ sát thủ chỉ nhít thêm vài ly, đã kết liễu đời ông. Ta có thể tin ở lòng chân thành của Reagan -một người ở tuổi “cổ lai hi” (70) lại vừa đứng bên thềm sanh tử của một kiếp người. Rất
tiếc, Brezhnev đáp ứng thiện chí đó một cách lạnh nhạt. Ông chống đối mọi kế hoạch cho một cuộc họp đỉnh, khước từ mọi đề nghị, cho rằng HK không có quyền đề cập đến những việc mà LX làm hay không làm trên thế giới. Thất bại trong việc thuyết phục LX, Reagan xin Quốc Hội gia tăng ngân sách Quốc phòng, đồng thời vận động các đồng minh trong khối NATO bố trí hỏa tiễn Cruise và Pershing 2 ở Tây Âu để cân bằng với số hoả tiễn SS20 của Liên Xô đặt ở Đông Âu. Đó là phương cách có thể giúp Brezhnev chấp nhận“phương án số không” của ông (Zero-zero Option) cùng tháo gở những hỏa tiễn nguyên tử ra khỏi Âu Châu, biến nơi đây thành khu “phi nguyên tử”. LX bác bỏ đề nghị của Mỹ, lại viện cớ HK và khối NATO tiến hành việc bố trí tên lữa ở Anh và Tây Đức là nhằm giành ưu thế quân sự ở Âu Châu nên đơn phưong chấm dứt đàm phán về việc tài giảm binh bị và vũ khí nguyên tử. Đồng thời đặt thêm các hoả tiễn tối tân loại SS25 ở Đông Đức và Tiệp Khắc.

Ngày 8/3/1983, trong diễn văn tại Florida, TT Reagan gọi LX là “Đế quốc ma quỹ” (Evil Empire). Ông cho rằng chủ trương giành sức mạnh tột đỉnh cho nhà nước với những quyền hạn tuyệt đối áp đặt lên cá nhân con người và mục tiêu cuối cùng là thống trị nhân dân toàn thế giới, rõ ràng họ là nơi tập trung mọi điều độc ác trong thế giới hiện đại.
Reagan đoan quyết với quốc dân: “Chúng ta phải tỏ ra có khả năng đối phó với sự thách thức đó. Tôi tin rằng chủ nghĩa cộng sản là một chương sử khác nữa đau buồn, kỳ quặc mà những trang cuối nay đang được viết. (6) Hai tuần ông quyết định thực hiện hoài bảo của mình, yêu cầu các khoa học gia nghiên cứu một loại vũ khí mới, không phải để tấn công LX mà chỉ để bảo vệ HK. Đó là vũ khí “phòng thủ chiến lược” (Strategic Defensive Initiative – SDI). Đây là phương cách “loại trừ chiến tranh nguyên tử mà không dùng vũ khí nguyên tử” nhằm cung cấp cho HK một “chiếc dù nguyên tử thời đại không gian” để bảo vệ dân chúng khỏi bị tấn công bằng vũ khí nguyên tử. Reagan chủ trương: “Cần phải thay thế chiến lược cân bằng vũ khí chiến lược -thứ vũ khí đầu mối kinh hoàng thường xuyên cho đôi bên- bằng chiến lược đối đầu an toàn như nhau”.

Chánh sách ưu tiên phòng thủ chiến lược của HK bắt buộc LX phải chấp nhận chạy đua theo vì những thành quả vũ trang của LX sẽ trở thành vô dụng vì kế hoạch SDI của HK. Đây là một thử thách nặng nề cho LX khi tân lãnh tụ Mikhail Gorbachev đang phát họa chương trình phát triển kinh tế. Do đó ông tìm cách nối lại các cuộc thương thuyết với HK.

Gorbachev bày tỏ với Mỹ “Về phần mình, Liên Xô không hề tuyên bố nước Mỹ là một đế quốc độc ác. Chúng tôi biết thế nào là nước Mỹ, thế nào là nhân dân Mỹ và vai trò của họ trên thế giới như thế nào. Chúng tôi chủ trương phải có một giai đoạn mới tốt hơn trong quan hệ của chúng ta (7)

Tại hội nghị thượng đỉnh Reykjavitk (thủ đô Băng Đảo) tháng 10/1986, Reagan đặt vấn đề tài giảm binh bị phải được gắn liền với việc giảm thiểu mối đe doạ của chủ nghĩa bá quyền và tôn trọng quyền con người được Định ước cuối cùng của Hội nghị Helsinski thừa nhận năm 1975. HK cho rằng tình hình hoà dịu thế giới trong thập niên qua là do hành động tự chế của Mỹ, nhưng vì LX và các nước CS không đáp ứng đã tạo ra tình thế căng thẳng từ đầu thập niên 1980 đến nay. HK tỏ thiện chí bằng cách chấp nhận đề nghị của Gorbachev cắt giảm 50% kho vũ khí của hai bên dù HK chỉ có 1054 hỏa tiễn liên lục địa so với 1380 của LX, nhưng cương quyết bác bỏ đề nghị đình chỉ nghiên cứu và thí nghiệm vũ khí phòng thủ chiến lược trong vòng 10 năm. Reagan cho rằng “sáng kiến phòng thủ chiến lược chỉ có tính cách phòng thủ để bảo vệ Hoa Kỳ chống lại các cuộc tấn công nguyên tử, nên không thể đem ra mặc cả và cũng không thể hủy bỏ được” (8 ). Tại Đại hội đồng LHQ năm 1985, HK đặt vấn đề hạn chế vũ khí chiến lược phải đi đôi với việc LX phải giải quyết các cuộc chiến tranh địa phương mà họ trực tiếp hay gián tiếp can dự ở Afghanistan, Angola, Nicaragua và Cam-puchia. Những cuộc xung đột này, theo Reagan có thể leo thang để trở thành cuộc xung đột toàn cầu.

Thất bại ở hội nghị Băng Đảo, buộc Gorbachev -hoặc tạm ngưng kế hoạch phát triển kinh tế, để dồn lực vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ, buộc các đồng minh Đông Âu đóng góp thêm nghĩa vụ quốc tế, đồng thời hạn hế chi viện cho các nước đàn em- hoặc đáp ứng đòi hỏi của HK để trở lại thời kỳ hoà dịu. Trong tình thế tấn thối lưỡng nan đó, Reagan hiến kế cho Gorbachev.

Ngày 12/6/1997, khi viếng thăm Đức, Reagan đưọc mời nói chuyện với hàng vạn người tại cổng Brandenburg, cạnh bức tường Bá Linh. Reagan kêu gọi Gorbachev đên đây, không phải để khiêu khích mà chỉ vì thiện ý: “Ngài Tổng Bí thư Gorbachev, nếu Ngài mưu tìm hoà bình, mưu tìm sự phồn vinh cho Liên bang Xô Viết và Đông Âu, nếu Ngài tìm kiếm sự giải phóng, thì xin hãy đến đây, dưới cổng này. Mở cửa nó. Giật sập bức tường này đi! Ngài Gorbachev”. (9) Hai năm sau vào cuối tháng 10/1989 Egon Kronz Tổng bí thư Đảng CS Đông Đức ra lịnh mở cửa bức tường Bá Linh để dân chúng hai khu vực đông tây Bá linh được tự do qua lại.

Ai đã đánh bại Chủ nghỉa Cộng Sản ?

Sau khi Ronald Reagan qua đời (05/6/2004 ) tờ The Economist đưa ảnh của ông lên trang bìa với dòng chữ: “Người chiến thắng chủ nghĩa cộng sản”. Những người khác cũng nói hệt như thế. Các đài phát thanh, nhà chính trị học, bình luận viên tiếp tục tung ra những lời ca ngợi Reagan: “người chiến thắng chiến tranh lạnh và tiêu diệt Liên Xô”, người chiến thắng “đế chế của cái ác”…Nhưng sau đó trên báo Washington Post ngày 28/6/2004, có bài viết của James G. Hersberg, phó giáo sư lịch sử về các vấn đề quốc tế tại George Washinhton University cho rằng “Chắc chắn là chính sách của Reagan đã góp phần vào việc phá hủy đế chế của điện Kremlin mà đỉnh điểm của nó là các cuộc cách mạng ở Đông Âu hồi năm 1989 và sự sụp đổ Liên Sô hai năm sau đó”. Theo ông “LX sụp đổ không phải vì có một anh hùng cụ thể nào, nhưng nếu tôi phải chọn một người có vai trò to lớn nhất thì đấy không phải là Reagan”. GS Hersberg cho rằng “Mikhail Gorbachev, một người đã trải qua tất cả các thang thăng tiến của đảng CSLX rồi bổng nhiên quay hẳn sang hướng khác để trở thành nhà cải cách cấp tiến, rõ ràng là người có vai trò quan trọng hơn”. Hersberg còn cho rằng cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 không làm cho LX sụp đổ. Theo ông “việc chú mục vào quân sự còn làm cho người ta đánh giá sai vai trò của quyền lực “mềm” trong việc lật nhào nhà nước Xô Viết. Hàng ngàn tỷ đôla mà phương Tây chi cho vũ khí và chiến lược ngăn chận cuối cùng hóa ra không quan trọng bằng lối sống phương Tây, tức là lãnh vực chẳng có liên quan gì đến chính sách quốc gia -nhạc, phim ảnh, thời trang (quần bò xanh), hàng tiêu dùng,, “coca-cola hóa- và một tương lai tự do hơn, giàu có hơn, no đủ hơn. Lối sống phương Tây, nhờ đài phát thanh, TV, Hollywood, văn học samizdat, máy fax v.v…bắt đầu thâm nhập vào thế giới cộng sản, tạo ra một môi trường hấp dẫn mới”. (10)

Trong hồi ký, cựu TT Reagan viết rằng: Chế độ dân chủ đã thắng chiến tranh lạnh, vì đó là cuộc chiến đấu giữa hai nguyên lý -một bên chủ trương dành tất cả quyền lực tuyệt đối cho nhà nước còn bên kia giao quyền tối thượng đó cho cá nhân và tự do (Democracy triumphed in the cold war because it was a battle of values – between one system that gave pre-eminence to the state and another that gave pre-eminence to the individual and freedom). Ông còn tiết lộ, Gorbachev đã dành cho ông một cơ hội hãn hữu, mà ông không bao giờ mơ sẽ có được: nói chuyện trước giới trẻ ưu tú Nga tại Đại học Quốc gia Moscow –nơi đào tạo các thế hệ lãnh đạo Liên Xô trong tương lai. Nhờ đó ông có dịp xiễn dương nước Mỹ về dân chủ, tự do cá nhân và tự do kinh doanh. Ông nói: nhiều nước trên thế giới có hiến pháp, trong đó thường đề cập những gì mà chánh quyền bảo cho ngươì dân biết, được phép làm; trái lại hiến pháp Mỹ lại có điểm khác biệt, trong đó người dân bảo chánh quyền biết những gì mà họ được phép làm.(11)

Nhìn lại lịch sử, ta có thể thấy ngay, vì tham vọng điên rồ, những người lãnh đạo cuồng tín bảo thủ đã làm sụp đổ LX. Năm 1922, Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết được thành lập. Từ bốn nước tự trị ban đầu, lãnh thổ Nga-Xô Viết ngày càng mở rộng về hướng đông, bao gồm một dãy lục địa nối liền hai châu Âu Á chiếm 25% đất đai thế giới.
Stalin dùng những quyền lực tuyệt đối do Lenin vạch ra để bành trướng thế lực nước Nga bằng tất cả mọi phương tiện cứng rắn. Từ 1928, sau hai kế hoạch ngũ niên với gần 50 triệu người chết và sự hy sinh của hàng chục vạn thanh niên xung phong, cùng sự thắt lưng buộc bụng ra sức sản xuất và tiết kiệm của nhân dân, Liên Xô đã trở thành cường quốc kỹ nghệ, chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Đức, song Stalin dồn tất cả nổ lực vào việc xây dựng nền kỹ nghệ quân sự có thể cung cấp đầy đủ cho một bộ máy chiến tranh lớn nhất hoàn cầu trước Thế chiến II.

Đến tháng 9/1949 Liên Xô đã có bom nguyên tử, chấm dứt sự độc quyền của Mỹ về vũ khí hạt nhân. Hoa Kỳ quyết định chế tạo bom khinh khí, 6 tháng sau họ đã thử nghiệm thành công loại vũ khí mới này. Tháng 8/1953, Liên Xô đã có bom khinh khí. Đến tháng 8/1957, Liên Xô đã phóng thành công hoả tiễn liên lục địa Spoutnik. Hai tháng sau, chiếc Lunik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới được Liên Xô đưa lên quĩ đạo trái đất nhờ sức đẩy cực mạnh của một hỏa tiễn. Với thắng lợi này lãnh tụ Xô viết Khrushchev lớn tiếng cho rằng; “chủ nghĩa cộng sản đã thắng trong cuộc tranh đua giữa những cường quốc cộng sản và tư bản”.
Trong hơn một thập niên, Liên Xô đã chấp nhận những hy sinh lớn lao để dồn nổ lực chạy đua vũ trang và họ đã chấm dứt ưu thế của Hoa Kỳ về vũ khí chiến lược. Nhưng sau khi tạo được uy tín đối với thế giới, Khrushchev chủ trương xích lại gần Tây phương, chấm dứt thái độ thù địch, tranh thủ thời gian xây dựng và củng cố xã hội chủ nghĩa. Sau này trong báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho ngũ niên 1986-1990 ngày 16/6/1986, Gorbachev tiết lộ trong những năm 1950, sản lượng của Liên Xô chỉ đạt 30% so với Mỹ. Có lẽ vì lý do này và nhất là sau trận đọ sức với Hoa Kỳ tại chiến trường Cao ly, Hồng quân Trung Cộng -dù hy sinh một triệu quân song không dành được một tất đất nào ở đây, bắt buộc Khrushchev phải xét lại, chung sống hoà bình với Mỹ. Nhờ đó, đến năm 1970, sản lượng của Liên Xô đã đạt 75% so với Hoa Kỳ. “Thế nhưng –Gorbachev thú nhận trong báo cáo kể trên, trong những năm 1970 và 1980 chúng ta đã mất tính năng động trước đây”. Kinh tế suy sụp và “việc chạy đua vũ trang do chủ chủ nghĩa đế quốc áp đặt là cả gánh nặng đối với chúng ta”. Tổng bí thư Brezhnev đã than vãn như vậy trước Đại hội XXVI Đảng Cộng sản Lìên Xô năm 1981. Song ông và các người kế nhiệm cuồng tín bảo thủ đành chịu thúc thủ, chờ ngày chết. Chỉ trong hơn 2 năm, từ 10/11/1982 đến 10/3/1985, ba lãnh tụ tối cao Liên Xô là Brezhnev, Andropov và Chernenko lần lượt qua đời. Gorbachev lên nắm quyền lãnh đạo, chủ trương đổi mới với glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Tái cấu trúc) để củng cố lại ngôi nhà Liên Xô sắp sụp đổ:

chế độ tổng thống được thành lập, vai trò lãnh đạo của đảng CS bị hủy bỏ, hệ thống đa đảng được chấp nhận. Kế hoạch cải cách của Gorbachev gặp sự chống đối của những thành viên cực đoan bảo thủ trong Bộ Chính trị. Ngày 19/8/1991, họ quản thúc Gorbachev và ra lịnh lực lượng KGB bao vây toà nhà Quốc hội Nga, đàn áp các lực lượng dân chủ, nhưng KGB  không thi hành chỉ thị. Đảo chánh thất bại, Gorbachev trở lại chánh quyền. Quyết định đầu tiên của ông là đặt Đảng Cộng sản Liên Xô ra ngoài vòng pháp luật, giải tán Ban Chấp hành Trung ương và từ chức Tổng bí thư. Để biện minh cho hành động “khó khăn nhưng trung thực này”, Gorbachev nêu lý do là “Ban bí thư, Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương đảng hèn nhát không lên tiếng chống cuộc đảo chánh, cũng không bày tỏ lập trường cứng rắn chống lại tập đoàn chủ mưu cũng không huy động đảng viên tham gia phản kháng hành động vi phạm hiến pháp. Còn các ủy ban và cơ quan truyền thông của đảng lại ủng hộ các hành động phản quốc”.

Việt Nam góp phần gì để chấm dứt chiến tranh lạnh?

Như trình bày trên, Tổng Bí thư Đảng CSLX Gorbachev đã bức tử Liên Xô, kết thúc chiến tranh lạnh. Những việc làm của TT Reagan chỉ tạo ra tình thế thuận lợi giúp người trong cuộc hành động. Gorbachev từng tuyên bố “hiểu được thế nào là nước Mỹ, nhân dân Mỹ và vai trò của Mỹ”, có lẽ vì thế ông nhận thức được rằng Mỹ không phải là mối đe dọa mà chính những lãnh tụ cực đoan bảo thủ trong đảng mới gây tác hại cho sự tồn vong của đất nước và phúc lợi nhân dân, nên phải đập đổ nó để tái cấu trúc ngôi nhà mới. Nếu Reagan phụ trợ giúp Gorbachev, thì Việt Nam lại tạo điều kiện giúp Reagan hoàn thành sứ mạng lịch sử đối với đất nước của ông trong giai đoạn được gọi là “Sau của sau Việt Nam” (After of Post-Vietnam). Trước đó, những vị tiền nhiệm của ông cũng đã làm tròn trách nhiệm của mình như Johnson và Nixon trong giai đoạn “trước Việt Nam” (Pre-Vietnam), Ford và Carter trong giai đoạn “Sau Việt Nam” (Post-Vietnam). Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ trong chiến tranh lạnh. Nơi đây đã xảy ra cuộc “chiến tranh nóng” giữa Quân đội Mỹ và Quân đội Nhân dân Việt Nam tức Cộng sản Bắc Việt được Trung Cộng, Liên Xô và toàn khối Xã hội chủ nghĩa yểm trợ.

Giới truyền thông Tây phương không muốn biết hoặc muốn lờ đi sự góp phần quan trọng của Việt Nam, có lẽ vì “hội chứng Việt Nam” đã khắc sâu trong tâm trí họ. Chiến tranh lạnh đã khởi đầu ở VN từ nhiều tháng trước khi Quốc tế Cộng sản công khai kêu gọi các đảng CS khắp nơi trên thế giới phát động chiến tranh du kích hồi đầu năm 1947. Ở Việt Nam đã có sẳn một ủy viên Quốc tế Cộng sản, đó là Hồ Chí Minh (HCM) Ông đã nắm được chánh quyền ngay sau khi Thế chiến II kết thúc. Ông không muốn VN thương thuyết với Pháp để giành độc lập cho đất nước theo như pháp lý do Đồng minh qui định, mà chỉ muốn VN trở thành tên lính xung kích đầu tiên của phong trào giải phóng thuộc địa, chiến đấu chống thực dân đế quốc, theo chủ trương của Stalin. Do đó, ông chỉ thương thuyết với Pháp trong thời gian ngắn 6 tháng rồi phát động toàn quốc kháng chiến. Để thực hiện con đường do Stalin vạch ra, chỉ trong hai năm 1945-46, HCM và những người CS cuồng tín đã sát hại cả vạn trí thức, nhân sĩ, tu sĩ, đảng phái đối lập và các tầng lớp nhân dân…đó là những ngưòi mà CS tin chắc là sẽ không ủng hộ họ. Trong cuộc tiếp tân ngày 25/6/1946 nhân dịp HCM cùng phái đoàn VN sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Daniel Guérin, đảng viên Đảng Xã hội Pháp, đã hỏi HCM về cái chết của Tạ Thu Thâu. Với giọng buồn rầu, họ Hồ trả lời: Ông Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc; chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất…”  Guérin hỏi tiếp ai là thủ phạm, HCM đã trả lời: “Tất cả những ai không theo đường lối của tôi đều sẽ bị bẻ gãy…” (12)

Thất bại trong việc thương thuyết với ông HCM, Pháp liền nói chuyện với những người quốc gia. Năm 1949, Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập thống nhất. Lúc bấy giờ Trung Cộng vừa chiến thắng ở Hoa Lục, liền ủng hộ HCM kháng chiến chống Pháp. Việt Nam đã trở thành đấu trường trong cuộc tranh chấp giữa TGTD và QTCS. Cuộc chiến ngày càng bùng nổ lớn, nhưng do tổn thất nặng nề ở Triều Tiên nên Trung Cộng thỏa hiệp với Pháp vận động Anh và Nga triệu tập hội nghị Genève 1954 để kết thúc chiến tranh Pháp và Việt Minh, VN bị tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17. Trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử, dự trù vào năm 1956 để thống nhất đất nước, CS ở miền Bắc lại tiến hành tiếp cải cách ruộng đất (CCRĐ) đợt 5. Tổng số người bị giết trong đợt CCRĐ lần nầy từ 120 ngàn đến 200 ngàn. Dựa vào sự khủng bố của cộng sản, Thủ tướng Ngô Đình Diệm khước từ hiệp thương với Hànội để tiến hành tổng tuyển cử.

Chánh phủ Hoa Kỳ ra tuyên cáo ủng hộ lập trường của miền Nam là: “Cuộc tổng tuyển cử chỉ có thể tiến hành sau khi chánh phủ hài lòng là các cuộc tuyển cử thực sự tự do có thể tổ chức khắp cả hai miền nam bắc”.
Hai đồng chủ tịch hội nghị Genève 1954 đều nhìn nhận rằng “tổng tuyển cử thực ra không quan trọng bằng việc duy trì hoà bình”. Lúc bấy giờ lãnh tụ Liên Xô Khrushchev vì quyền lợi quốc gia, chủ trương hoà hoãn với Mỹ qua chiêu bài “chung sống hoà bình”. Còn Mao trạch Đông thì không muốn gây sự với Mỹ nữa, tự tách dần khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới do Liên Xô lãnh đạo và tập họp một lực lượng mới dưới lá cờ dân tộc chủ nghĩa. Trung Cộng chống cả Liên Xô lẫn Mỹ với mưu đồ “tam phân thiên hạ” để cùng hai siêu cường Nga Mỹ giải quyết những vấn đề lớn của thế giới. Dù không phải là thành viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ, song Trung Cộng được mời tham dự hội nghị Genève 1954 cùng bốn thành viên khác của Hội đồng Bảo an LHQ là Nga, Mỹ, Anh, Pháp giải  quyết êm đẹp chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Do đó, Trung Cộng nhiều lần nhấn mạnh với các lãnh tụ CSVN: “Tình trạng Việt Nam bị chia cắt, không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn, mà cần phải trường kỳ…Nếu 10 năm chưa đưọc thì phải 100 năm. Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến…Thời gian có lẽ dài đấy” (13)

Không còn sự lựa chọn nào khác, ông Hồ Chí Minh lại dựa vào chiêu bài yêu nước, thực hiện nghĩa vụ dân tộc, phát động chiến tranh giải phóng miền Nam thoát khỏi ách thực dân mới của HK. Cương lĩnh của Mặt trận Giải phóng Miền Nam do CS soạn thảo không hề tuyên truyền cho chủ nghĩa CS, chỉ hô hào đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ tay sai của Mỹ, thành lập chánh quyền dân chủ độc lập và trung lập ở miền Nam Việt Nam. Những điều trên phù hợp với chủ trương của Trung Cộng.

Để tranh thủ Bắc Kinh, ngày 14/9/1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Cộng về lãnh hãi là 12 hải lý thay vì 3 như trước. Do đó lãnh hải của Trung Quốc bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa. Đây là hai đảo lớn thuộc VN từ lâu đời, do chánh quyền VN quản lý từ thời nhà Nguyễn, đến thời Pháp thuộc và Việt Nam Cộng Hoà sau này. Hànội còn ve vãn Liên Xô, nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng CSVN đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: ‘Một là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hai là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của Mỹ và bọn tay sai, thực hiện việc thống nhất nước nhà..”. Đó là con đường “thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới”. (14)

Đầu năm 1965, miền Nam tự do sắp sụp đổ, Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp yểm trợ quân dân Việt Nam Cộng Hoà bảo vệ tự do. Ngay sau đó, tại Đại học John Hopkins, TT Johnson kêu gọi Cộng sản Bắc Việt ngồi vào đàm phán để giải quyết chiến tranh bằng con đường hoà bình. Hànội luôn khước từ, Hoa Kỳ từng bước thực hiện hai gọng kềm: tăng quân vào miền Nam và mở rộng diện oanh tạc miền Bắc để gây áp lực. Ba năm sau (tháng 3/1968 ) chánh quyền miền Bắc chấp nhận đàm phán, TT Johnson tuyên bố không tái ứng cử. Từ 1969 TT Nixon bắt đầu rút quân Mỹ về nước, tiếp tục thương lượng với Hànội chấm dứt chiến tranh dựa trên cơ sở: công việc miền Nam do người dân ở đây tự quyết định, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Đề nghị trên được sự tán đồng của Trần Bửu Kiếm, trưởng đoàn Mặt trận Giải phóng Miền Nam tại hội đàm Paris. Dựa vào thiện chí rút quân Mỹ ở miền Nam VN và khắp nơi trên thế giới, đồng thời giải quyết cuộc chiến VN bằng quyền tự quyết của người dân.

Hoa Kỳ coi đây là mẫu mực để giải quyết những căng thẳng tương tợ ở các nơi khác trên thế giới. Từ 1971, Hoa Kỳ không còn phủ quyết, chấp nhận cho Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tức Trung Cộng gia nhập Liên Hiệp Quốc và là thành viên thường trực Hội đồng Bảo An (thay thế Đài Loan).
Từ nay Trung Cộng đứng ngang hàng hàng với Liên Xô và Hoa Kỳ, lại tự nhận là người đứng đầu Thế giới thứ ba, sẽ góp phần mang lại hoà bình cho thế giới.

Từ đầu năm 1972, Nixon làm sứ giả đến Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa cổ vũ cho hoà bình. Theo Nixon, chính sự can dự của các cường quốc đã tạo ra tình trạng căng thẳng nhiều nơi trên thế giới. Do đó, nguyên tắc bất can thiệp của các cường quốc và lực lượng bên ngoài, để các dân tộc được tự quyết định vận mạng của mình sẽ mang lại hoà bình cho thế giới. Hoa Kỳ dành nhiều ưu đãi cho Liên Xô như bán lúa mì với giá rẻ.

Nixon đã bình thường hóa mối quan hệ Đông Tây, mở ra thời kỳ hoà hoãn với Liên Xô và chuẩn bị bình thường hóa bang giao với Trung Cộng. Tám tháng sau, Hoa Kỳ kết thúc chiến tranh Việt Nam bằng Hiệp định Paris 1973. Đó là tóm lược “giai đoạn trước VN” trong chiến lược toàn cầu chống Cộng của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ đã thành công trong kế sách chiến lược của mình, nhưng thất bại ở Việt Nam vì thái độ “thiễn cận và vị kỷ” của giới lãnh đạo nước này.
Kissinger, cố vấn An ninh Quốc gia của TT Nixon, sau này là Ngoại trưởng Mỹ đã tâm sự với nhóm chủ bút tạp chí Time và Fortune trong buổi tiệc ngày 29/9/1972: “Trong thực chất chiến tranh Việt Nam đã tàn rồi, chẳng một ai thắng cả, nhưng người Việt Nam, bên nào cũng cho là mình đang thắng và khoan hồng chẳng hề là đặc tính của họ”. Kissinger cho rằng Lê Đức Thọ cũng như Nguyễn Văn Thiệu, cả hai “đều gớm ghiếc như nhau”. Ông nhận xét Thọ “là một tên cuồng tín, không biết được đâu là con đường quốc nội bình thường mà đi theo”, còn Thiệu thì có thái độ bất chấp, không khoan nhượng để chứng tỏ Hoa Thạnh Đốn và Hànội không thể quyết định số mệnh của mình được”. (15) Thảm trạng của miền Nam tự do năm 1975 cùng thảm trạng của cả nước sau này xuất phát từ hai nhân vật này. Biến cố 30/4, thảm trạng thuyền nhân sau đó và chiến tranh Kampuchia đã làm thê thảm thêm “giai đoạn thoái nhượng đau thương” của Hoa Kỳ trong giai đoạn “sau Việt Nam”.

Sau khi Mỹ rút khỏi VN đưa đến sự toàn thắng của Cộng sản trên ba nước Đông Dương, Hànội đổi nước từ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, theo đúng khuôn mẫu Liên Xô, lãnh tụ Trung Cộng Đặng Tiểu Bình đã báo động một nguy cơ mới đe dọa nền hoà bình ở Đông Nam Á xuất phát từ mưu đồ bành trướng của Liên Xô. Do đó từ sau Đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XI (8/1972) mục tiêu chống bá quyền của Trung Cộng tập trung vào Liên Xô. Họ chủ trương thành lập một mặt trận thống nhất chống bá quyền mà mục tiêu là Liên Xô. Trong mặt trận này, Thế giới Thứ ba (ám chỉ các nước dân tộc chủ nghĩa) là thành phần chủ lực, Thế giới Thứ hai (ám chỉ các nước thế giới tự do) là đồng minh. Do đó từ 1977, gíới lãnh đạo Bắc Kinh muốn thấy mối quan hệ Mỹ Trung phát triển hơn nữa. Tháng 3/2006 trong cuộc hội thảo “Việt Nam và các đời tổng thống” ở Boston, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã nói với phóng viên Brian Williams của Đài truyền hình NBC: từ 1977 Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện với đại diện CSVN tại LHQ và tại Washington về việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Hànội đòi Mỹ phải bồi thường chiến tranh mà không đề cập gì việc thi hành hiệp định Paris là cơ sở cho việc thiết lập bang giao Việt Mỹ. Carter cho biết “Điều phức tạp là năm đó tôi phải dồn tâm trí và đích thân đàm phán bình thường hóa với Trung quốc. Tôi phải nói rằng năm 1978, vấn đề Việt Nam không còn là ưu tiên hàng đầu của tôi nữa”.

Cuối năm 1978, sau khi Lê Duẩn ký hiệp ước hữu nghị Xô Việt với Brezhnev và đưa quân sang Kampuchia lật đổ chánh quyền Pol Pot, Trung Cộng thiết lập bang giao với Hoa Kỳ ngày 1/1/1979. Sau đó, Đặng Tiểu Bình đi thăm Hoa Kỳ và kêu gọi thành lập thế liên minh Mỹ, Trung Cộng, Nhật bản, Tây Âu và các nước thế giới thứ ba để chống Liên Xô. Trên đường về nước, khi ghé Nhật Bản, Đặng tuyên bố “Sẽ dạy cho Việt Nam bài học”. Tình hình căng thẳng thêm, cuối năm 1979 Liên Xô đưa quân xâm lược Afghanistan, báo chí Bắc Kinh hô hào “cần phải có có ngay hành động chống lại LX…Nhưng “không nên hành động đơn độc” và “bắt Liên Xô phải trả cái giá đắt cho hành động của họ”. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Cộng Cảnh Tiêu cho rằng “Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Kampuchia và Liên Xô đối với Afghnistan là thách thức chiến lược và đòi hỏi phải có một sự trả lời chiến lược”. Ông khẳng định đối tượng chiến tranh của Bắc kinh là “đại bá’ Liên Xô và tiểu bá Việt Nam.

Trung Cộng còn hô hào loại trừ chủ nghĩa bá quyền ra khỏi lãnh thổ Đông Âu, ủng hộ kế hoạch vũ trang hỏa tiễn nguyên tử của Tây Âu và tự nhận là thành viên thứ 16 –thành viên không chánh thức của NATO ở phương Đông. Trên đây là tóm lược “giai đoạn sau N” (1975-1980) tạo cơ sở giúp TT Reagan thực hiện giai đoạn chiến lược kế tiếp -giai đoạn “sau của sau VN”, đưa chủ nghĩa cộng sản đến chỗ cáo chung. Reagan đã chiến thắng chiến lạnh mà không đổ một giọt máu, không cần đến chiến tranh như Trung Cộng mong muốn.

Reagan đã chiến thắng Liên Xô bằng phương cách mà TT Nixon đã từng phác họa cho Việt Nam: quyền tự quyết dân tộc. Từ khi cuộc chiến tranh lạnh xảy ra, hai địa bàn chủ yếu trong cuộc xung đột là Châu Âu và Việt Nam: cả hai nơi đều bị chia cắt và đều có sự can thiệp của Hoa Kỳ. Tại Châu Âu nhờ kế hoạch Marshall, các nước Tây Âu trở thành những thế lực hùng mạnh, trong đó Cộng hoà Liên Bang Đức là mối đe dọa lớn đối với quyền lợi chiến lược của Liên Xô ở Đông Âu khi chánh quyền Tây Đức đặt vấn đề thống nhất hai miền nước Đức. Do đó trong cuộc đối thoại để bình thường hóa mối quan hệ Đông Tây, Liên Xô luôn đòi hỏi Hoa Kỳ phải thừa nhận hai nước Đức cùng tồn tại hoà bình. Họ cho rằng một nước Đức thống nhất dưới chủ nghĩa phục thù là mối đe dọa đối với hoà bình và nền an ninh Châu Âu. Trái lại đối với vấn đề Việt Nam, họ đòi Hoa Kỳ phải rút khỏi miền Nam để Việt Nam tống nhất trong hoà bình.

Để mưu tìm một nền hoà bình bền vững cho thế giới vừa để thực hiện chiến lược chống Cộng, Hoa Kỳ đáp ứng cả hai đòi hỏi của Liên Xô. Tháng 5/1972, hai bên đã ký Hiệp ước bình thường hóa mối quan hệ Đông Tây. Tám tháng sau HĐ Paris 1973 ra đời chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Ngày 1/8/1975, đúng ba tháng sau khi chấm dứt sự can thiệp ở Việt Nam để miền Nam lọt vào tay cộng sản, Hoa Kỳ cùng với Liên Xô, Gia nã đại à các nước Âu Châu họp hội nghị An ninh toàn Âu, cùng ký bản Định ước cuối cùng ở Helsinski. Định ước ghi rõ những điểm chính mà các nước ký kết đồng chấp nhận là: tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không vi phạm đường biên gìới của nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tự chế việc đe dọa hoặc xử dụng vũ lực; tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản của người dân; tôn trọng quyền tự quyết và bình đẳng giữa các dân tộc, từ nay nhân dân các nước có toàn quyền lựa chọn và phát triển đất nước theo những định chế chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa theo ý riêng của họ. (16)

Quả thực, Định ước Helsinski giúp Liên Xô an tâm không còn sợ Tây Đức hợp tác với Hoa Kỳ thực hiện mưu đồ thống nhất nước Đức…Nhưng họ không tiên liệu sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết (CĐĐK) ở Ba Lan. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh do CĐĐK lãnh đạo đã làm rung động tận gốc rễ khối Cộng sản và Nhà nước Ba Lan, chánh phủ cải tổ liên tục, Edward Gierek và Stanislaw Bí thư thứ nhất đảng Cộng sản cầm quyền lần lượt từ chức, tướng W.Jaruzelski lên thay thế, ra lịnh thiết quân luật. Trong tình thế đó, Liên Xô điều động lực lượng chiến xa dọc biên giới để sẳn sàng can thiệp như họ đã từng làm ở Hung năm 1956 và Tiệp năm 1968. Hội nghị thượng đỉnh các Quốc gia Cộng đồng Âu Châu (EC) họp ở Luxembourg tháng 12/1981 ra bản Tuyên cáo chung, kêu gọi các thành viên ký kết Định ước cuối cùng ở Helsinski năm 1975 về an ninh và hợp tác toàn Âu phải tôn trọng nguyên tắc bất can thiệp đối với vấn đề Ba Lan. Ngoại trưởng HK Edmund Muskie cho biết, Hoa Kỳ tôn trọng nguyên tắc bất can thiệp nhưng nếu Liên Xô can dự vào Ba Lan bắt buộc Mỹ phải hành động. Không hiểu Mỹ sẽ hành động như thế nào, Liên Xô thách thức HK có dám cam kết như Liên Xô là “sẽ không phải là nước đầu tiên cho nổ bom nguyên tử”. Hoa Thạnh Đốn trả lời: “Hoa Kỳ là nước đầu tiên sẳn sàng cho nổ bom nguyên tử để bảo vệ hoà bình” khiến Liên Xô phải khựng lại, không dám mạo hiểm can thiệp vào Ba Lan. Từ đó, lợi dụng sự suy yếu của Liên Xô và dựa vào nguyên tắc bất can thiệp và quyền tự quyết của các dân tộc được thừa nhận trong Định ước cuối cùng ở Helsinski, các nước Đông Âu lần lượt tìm cách thoát khỏi sự kềm chế của Liên Xô.

Họ tuyên bố hủy bỏ quyền độc tôn lãnh đạo của đảng Cộng sản để nhân dân quyết định vận mạng đất nước bằng các cuộc bầu cử tự do có sự tham dự của các đảng phái chính trị. Sự vùng dậy đòi thực hiện các quyền dân chủ tự do của nhân dân Đông Âu đã làm sụp đổ hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới mà Stalin đã dùng bạo lực để dựng lên sau khi Thế chiến  II chấm dứt.

Kết luận:

Tại Đại hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang (tháng 2/1951) HCM tuyên bố “Đảng Lao động VN theo chủ nghĩa Mác-Lênin…lấy tư tưỏng Mao Trạch Đông làm kim chỉ Nam”. Ông nhiều lần khẳng định tại hội nghị này là “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được”. (17) Thử hỏi trên đời, có ai tránh khỏi sai lầm, chỉ khác nhau ở chỗ ít nhiều và có biết sai để sửa hay không mà thôi.

Nếu Stalin và Mao Trạch Đông là trường họp ngoại lệ không bao giờ sai, thì họ là những con người không có nhân tính, cực kỳ độc ác. Hàng chục triệu người dân Nga và Trung Quốc đã chết vì tay hai ông. Họ bị sát hại chỉ vì không đi theo hoặc chống lại con đường (độc ác) do hai ông vạch ra. Stalin đã bị người kế nhiệm vạch trần tội ác, trục xuất thi hài ra khỏi Công trường Đỏ. Nhưng Breznhev vẫn còn tin tưởng Stalin nên thực hiện trở lại những toan tính điên rồ nhằm thống trị nhân dân và toàn thế giới, hậu quả là Liên Xô sụp đổ. Tại Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình khôn khéo hơn, nhận thức được những kế hoạch của Mao Trạch Đông như: bước tiến đại nhảy vọt, Đại công xã nhân dân, cách mạng văn hóa… đã hủy hoại những công sức lớn lao của người dân Trung Quốc, khiến hàng chục triệu người chết đói và bị thảm sát oan uổng. Cuối cùng Đặng Tiểu Bình phải “Phi Mao để thực hiện lý tưởng Mao”. Đặng cho rằng lý tưởng của Mao vĩ đại, muốn Trung Quốc trở thành một đại cường quốc lớn nhất thế giới, nhưng con đường cộng sản do Mao vạch ra sai, không thể thực hiện được ước mơ đó. Cho nên phải từ bỏ Mao, chọn con đường khác đối nghịch là kinh tế thị trường -một hình thức của tư bản chủ nghĩa.
Tóm lại, cả Stalin và Mao Trạch Đông đều sai lầm.

Qua câu nói “Đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được”, cho thấy ông Hồ Chí Minh đã sai rồi. Ước mơ hợp tác cùng Stalin và Mao dẫn “dắt năm châu đến đại đồng” (18 ) là một điều không tưởng, điên rồ. Độc lập, tự do, hạnh phúc đề ra từ 1945 đến nay cũng chưa thực hiện được, chỉ có một điều rõ ràng là ông và những người thừa kế cuồng tín bảo thủ đã dẫn dắt dân tộc trở lại thời Bắc thuộc.
Đây là mối ưu tư lớn của giới trẻ trong nước và hải ngoại hiện nay. Họ luôn trăn trở, không biết làm cách nào vượt thoát khỏi hiểm họa đó.
Mong rằng những người đang lãnh đạo đất nước, xuất thân từ Mặt trận Giải phóng Miền Nam, tham gia kháng chiến chỉ vì mục tiêu thống nhất đất nước, dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, chớ không có ước mơ viễn vong nào khác. Trách nhiệm lãnh đạo của quý vị, không phải vì người đã chết mà vì đồng bào và các thế hệ mai sau!

Lê Quế Lâm
Chú thích:

(1) Nhà văn Đinh Lâm Thanh ở Paris đã nhận xét Anh Hùng Trần Văn Bá (14-5-1945 – 08-01.1985): “Phải là thanh niên phi thường với một tấm lòng yêu nước nhiệt tình, Trần Văn Bá đã từ bỏ sự nghiệp và tương lai tươi sáng của mình để dấn thân trở về quê hương, hoạt động chống kẻ thù ngay giữa lòng địch trong lúc cả triệu người Việt đang tìm đường vượt biên trốn chạy Cộng sản. Phải là một thanh niên can đảm, không hèn nhát sợ sệt trước bạo quyền Cộng sản. Khi bị bắt tại Việt Nam, Trần Văn Bá không bào chữa chạy tội, không van xin, không cam kết hứa hẹn, không phản bội lý tưởng, phản bội đồng đội và tổ quốc và chấp nhận ra toà lãnh án tử hình. Phải là một thanh niên khí khái, bất khuất và liêm sĩ, Trần Văn Bá đã từ chối việc chống án và chấp nhận chết cho lý tưởng, cho tổ quốc. Thật là hành động phi thường của một người đấu tranh vì tự do dân chủ, một gương sáng cho những người đang nối nghiệp hôm nay cũng như đối với thế hệ trẻ sau này”. (TinhThan TRANVANBA)
(2) Harry Truman, Memoirs. Doubleday & Co, Garden City, 1955, Vol II, P.106.
(3) André Fontaine, History The Cold War: From The October Revolution To the Korean War 1917-1950. Pantheon Books, 1968, P.293.
(4) Ronald Reagan, An American Life. Arrows Books, London, 1991, P. 265-66.
(5) Như trên, trang 272-73
(6) Như trên trang 569-70
(7) Mi-khai-in Xé-gây-ê-vích Goóc-ba-chốp, Những bài nói và viết chọn lọc. Bản dịch tiếng Việt của NXB Tiến bộ/Mát-xcơ-va + NXB Sự thật/
Hànội, 1986, Tr.179-80 (trả lời phỏng vấn Tạp chí Time của Mỹ ngày 28/8/1985)
(8 ) Nguyễn Quốc Hưng, “Hai vấn đề quan trọng của Liên Xô và Hoa Kỳ trong hội nghị thượng đỉnh Geneva”, báo Chuông Sàigòn, Úc châu, 29/11/1985.
(9) Ronald Reagan, Sđd, Tr. 683.
(10) James G.Hersberg, “Ai đã hạ gục Chủ nghĩa Cộng sản”, (Phạm Minh Ngọc dịch), báo Dân Việt, Úc châu, 16-11-2007.
(11) Ronald Reagan, Sđd, P.713.
(12) Trần Gia Phụng, Án tích Cộng sản Việt Nam (in lần thứ hai), Nxb Non nước, Toronto – Canada,2001, Tr.70-71 (Dẫn chứng từ quyển Ho Chi Minh của Jean Lacouture, Peter Wiles dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, NXB Penguin Books, Harmonsworth, 1969, P.130. Nguyên văn: “All those who do not follow the line which I have laid down will be
broken”)
(13) Sự thật quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, Hànội, 1979, Tr. 37.

(14) Văn kiện Đại hội, Ban Chấp hành/Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, NXB Sự Thật, Hànội, 1960, Tr 34/35.
(15) Nguyễn Tiến Hưng và J.L.Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc lập, C & K Promtion, Los Angeles, 1987, Tr. 158-59
(16) Declaration on Principles Guiding Relations between Participating States (Extracts relating to “Human Right and Self-determination” from Helsinski Conference: Final Act)
(17) Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế. Nxb Tuổi Xanh, (không đề nơi xuất bản), 2001, Tr.63.
(18 ) Tạm mượn hai câu trong bài “Ngẫu hứng” của HCM vào dịp ông viếng đền thờ Trần Hưng Đạo: “Bác đưa một nước qua nô lệ. Tôi dắt năm châu đến đại đồng”.

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: