Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

March 21, 2008

Cách mạng Dân tộc

Filed under: Chính trị, xã hội, Quan điểm — tudo @ 5:34 pm

Minh Võ

MV: Mới đây một người quen lái xe đưa giới thiệu với tôi một vị tư xưng là đại diện nhóm Thiện Chí ở trong nước vừa tới Mỹ để thăm thân nhân. Vị này trao cho tôi một bản viết tay dài 14 trang, nhan đề “Giông Bão Cách Mạng đến không?” Ông muốn nhờ tôi phổ biến tài liệu này. Và ông xin được ẩn danh. Trong câu chuyện kéo dài nửa tiếng đồng hồ ông cho biết nhóm các ông chủ trương cách mạng dân tộc. Vì, theo ông, đấu tranh vũ trang bất khả thi. Cái gọi là diễn tiến hoà bình cũng không thể có kết quả. Hơn nữa, vẫn theo ông, ngày nay chính quyền các nước dân chủ trên thế giới đều tin và muốn làm ăn với Cộng Sản Việt Nam. Chẳng có chính quyền nào, kể cả Hoa Kỳ, triệt để ủng hộ cuộc tranh đấu ôn hoà đòi tự do dân chủ của người Việt Quốc Gia phi cộng sản. Ít nhất họ không muốn gây áp lực mạnh với Việt Cộng. Cùng lắm họ chỉ làm áp lực lấy lệ, nửa vời để mặc cả cho những toan tính vụ lợi.

Dưới đây tôi xin phổ biến nguyên văn tài liệu này với một vài lời góp ý ở cuối.

Giông Bão Cách Mạng đến không?

I. Luận về Cách Mạng (Cách Mạng)

1.1 Định Nghĩa

Đây là định nghĩa thông thường khác với định nghĩa của người Mác-Xít.

Cách Mạng là một sự thay đổi mạnh bạo có khi bằng bạo lực một trật tự chánh trị hay xã hội của một quốc gia.

Ảnh hưởng của sự thay đổi lan ra khắp nước. Sự thay đổi này là hậu quả của sự bất mãn bởi đa số dân mặc dầu chỉ có thiểu số người tham gia Cách Mạng sau khi những cải cách của chánh quyền không làm dịu đi sự bất mãn và không có cách nào thay đổi hệ thống quyền lực trong vòng luật pháp.

1.2 Cách mạng thông thường

Cấu trúc của Cách Mạng gồm có những hợp phần sau đây.

a. Một nhà nước thi hành chánh sách áp bức, bóc lột, bất công

b. Một xã hội có đa số dân bất mãn nhà nước

c. Một xã hội có hoàn cảnh Cách Mạng

Xã hội có hoàn cảnh Cách Mạng hay là xã hội loạn. Trong xã hội loạn, nhà cầm quyền chỉ đại diện cho một thiểu số được hưởng đặc quyền đặc lợi. Thiểu số này đưa ra một khung pháp luật để bảo vệ sự bất công. Hậu quả xã hội mất đi sự hoà hợp các giai tầng và hài hoà hoạt động. Sự phát triển nếu có chỉ có lợi cho thiểu số được hưởng đặc quyền đặc lợi. Đa số bị thiệt thòi sanh ra bất mãn.

Pháp luật không được tôn trọng dẫn đến tình trạng vô pháp luật trong thực tế đời sống hay là cảnh loạn trong xã hội.

Từ xưa, sách vở đã chỉ ra một dấu hiệu loạn trong xã hội như câu “Thói thường ở một nước loạn, í nghĩa câu nói thường hay trái nhau” câu này trích trong bài 202 tựa là “Ngụy Biện” trong sách Cổ học tinh hoa.

d. Một Đảng Cách Mạng hay là không có Đảng Cách Mạng. Yếu tố này không phải không có không được. Có những người quyết tâm làm Cách Mạng.

e. Sự dấn thân của giới trí thức. Đây là dấu hiệu Cách Mạng sắp bùng nổ.

f. Sự loan truyền trong xã hội tư tưởng Cách Mạng
g. Thời cơ

Khi 7 yếu tố trên (từ a đến g) hội tụ, Cách Mạng thế nào cũng bùng nổ.

1.3 Cách mạng dân tộc
Cách Mạng dân tộc khi thành công vẫn có bảy yếu tố trong cấu trúc Cách Mạng thông thường. Tuy nhiên, Cách Mạng dân tộc, luôn luôn có những đặc tính sau đây. Khi người quan sát cuộc chiến đấu giữa nhà nước cai trị và dân bị trị thấy những đặc tánh đó thì biết đây là Cách Mạng dân tộc chứ không phải Cách Mạng thông thường.

Sau đây những đặc tính của Cách Mạng dân tộc.

a. Chế độ cai trị
Đây là chế độ thuộc địa và người cầm quyền là quan lại của một đế quốc thực dân.

b. Cách Mạng dân tộc là một cuộc chiến đấu trải giài trong thời gian, không có tính chất như một quả bom nổ như trong Cách Mạng thông thường.

c. Người Việt làm Cách Mạng dân tộc không bao giờ bỏ cuộc. Khi bị nhà nước thực dân đàn áp mãnh liệt, lực lượng Cách Mạng bị tan rã, cuộc chiến giữa người Việt và nhà nước thực dân tạm ngưng lại. Khi lực lượng Cách Mạng được gầy dựng lại thì cuộc chiến giữa dân Việt và nhà nước thực dân bùng nổ trở lại.
d. Cách Mạng dân tộc là hối thúc tự nhiên tâm tư người Việt do truyền thống dân tộc gọi là Hồn Nước. Người Việt lao vào cuộc chiến Cách Mạng do Hồn Nước thúc đẩy.

II. Chữ “Thời” trong Cách Mạng tại Việt Nam

2.1 Chữ Thời đối với chế độ Cộng Sản Quy luật vạn vật biến chuyển trong Kinh Dịch đã được xác nhận khi ta nhìn chế độ cộng sản. Chế độ này biến chuyển theo 2 hướng thăng và trầm hay là thịnh và suy trong chiều dài thời gian.

Cách mạng
Nguồn: chickspirit.com


Khởi đầu ngày 2/9/1945 Đảng Cộng Sản chỉ có độ 5.000 đảng viên. Đảng đã chiếm được quyền bính trên đất nước Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước không có chính quyền với sự bại trận của quân Nhật. Thế của Đảng Cộng Sản rất yếu nhưng đang trên đà đi lên.

Sau 9 năm kháng chiến, với hiệp định Genève 1954, cộng sản làm chủ được nửa nước Việt Nam, trong tư thế độc tôn không có lực lượng nào chia sẻ quyền lực nào với Đảng Cộng Sản.

cộng sản tiếp tục thế đi lên đến ngày 30/4/1975 cộng sản làm chủ toàn nước Việt Nam. Đảng viên cộng sản lên đến 2 triệu. Quyền lực của cộng sản đến đây là đến tột đỉnh. Khi đến đây, điểm tột đỉnh quyền lực là cực dương, chạm phải quy luật “cực dương bắt buộc phải biến chuyển qua âm”, tức là thế đi lên đến đỉnh cực dương sẽ đi xuống theo hướng âm.

Đến đầu năm thế kỉ 21, thế lực Đảng Cộng Sản đi xuống gần đến điểm cực âm.

2.2 Chữ “Thời” đối với lực lượng Dân Tộc
Khi quốc gia Việt Nam độc lập ra đời với hiệp ước Elysée 1949, lực lượng dân tộc ở cái thế đi xuống trứoc sự tấn công của cộng sản. Quốc gia Việt Nam độc lập ra đời, không bao giờ tự lực tự cường phải nhờ vào thế lực của Pháp lúc khởi đầu cho đến 1955. Kể từ đó phải nhờ vào Mỹ, về kinh tế và quân sự. Quốc gia Việt Nam, hình thức pháp lí của dân tộc bị cộng sản tấn công bằng đòn chiến tranh Cách Mạng, lúc nào cũng ờ trong thế thủ. Sự bất tài của những người lãnh đạo Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hoà không giúp cho đất nước ra khỏi thế đi xuống. Cao điểm của thế đi xuống là cái mốc 30/04/1975.

Một nghịch lí, một tập thể người bị mất tất cả, đất nước, chính quyền, dân chúng, lại vươn lên kể từ 30/04/1975. Sự vươn lên được đánh dấu bằng sự thành tựu về mặt học hành, sự thành tựu để tạo nên sự sống ổn định, sự thành công về kinh tế, vị trí chánh trị của cộng đồng người Việt trên đất Mỹ càng ngày càng lên cao.

Sự đi lên của người Việt không Cộng Sản trên đất Mỹ được đánh dấu bằng sự xuất hiện hợp pháp của lá cờ vàng ba sọc đỏ nói lên cho mọi người không Cộng Sản chính nghĩa đã trở về tay chúng ta và cuộc chiến thắng cuối cùng cũng sẽ về tay chúng ta.

Người Việt lánh nạn Cộng Sản trên đất Mỹ đã tạo thành một nước Việt Nam thứ hai. Tuy không có lãnh thổ, không có nhà nước nhưng nước Việt này có một sức mạnh đáng kể với số vốn liếng về chất xám của gần 300.000 người, lợi tức đầu người nằm trong hàng ngũ các nước giàu, sức mạnh kinh tế của người Việt tuy không bằng người Hoa, người Nhật, người Đại Hàn vì chúng ta đi sau quá lâu nhưng sức mạnh kinh tế của cộng đồng Việt làm cho người công dân Huê Kỳ có gốc nào cũng phải nể, sức mạnh chánh trị của người Việt càng ngày càng có trọng lượng với các chánh trị gia Mỹ.

Nếu chúng ta tận dụng được sức mạnh của nước Việt thứ hai để giải phóng đất nước Việt Nam thoát khỏi ách Cộng Sản thì có thể tìm ra giải đáp cho bài toán Việt Nam cực kỳ khó khăn gần như nan giải.

III. Các quy luật thiên nhiên trong Cách Mạng

Cách Mạng là một biến cố chánh trị bị chi phối bởi một số quy luật thiên nhiên. Người ở hai bên mặt trận chiến đấu, chánh quyền độc tài áp bức, dân bị cai trị có muốn né tránh các quy luật cũng vẫn bị quy luật chi phối.
Các quy luật đó là:

3.1 Vạn vật biến chuyển
Chế độ độc tài áp bức dân nhờ nắm các phương tiện đàn áp mạnh mẽ, mới nhìn tưởng là chế độ cực mạnh nhưng cái mạnh đó không có tánh chất vĩnh viễn. Sau một thời gian các yếu tố bất lợi làm cho chế độ biến chuyển từ mạnh sang yếu.

3.2 Vật cùng tắc biến
Một chế độ độc tài toàn trị áp bức dân đến mức như sau:
• Dân bị tước đoạt nhơn quyền và tự do căn bản của con người.
• Để cho dân đói khi xuất cảng gạo hàng tỉ đô la.
• Để cho cán bộ hạ tầng cướp một cách trắng trợn nhà ở và đất đai canh tác của hàng triệu nông dân trên toàn quốc, rồi đàn áp thẳng tay dân oan khiếu kiện, thay vì giải quyết cho dân oan.
• Để cho toàn dân khốn đốn vì bệnh dịch tham nhũng từ cực cao đến cực thấp.
• Để cho dân nghèo khi đau không có tiền chạy thuốc.
• Để cho bé con nhà nghèo không có tiền đi học, phải đi bươi rác.
• Để cho xã hội đen hiếp đáp dân lành.
Khi sự áp bức dân đến mức cùng thì sự biến sẽ diễn ra dưới hình thức tổng nổi dậy.

3.3 Sự kết tinh của các lực lượng Cách Mạng

a. Dân bị đối xử bất công ví dụ như nhà đất bị bộ mượn có quy hoạch chiếm đoạt. Dân bất mãn phản kháng một cách vô thức, hồn nhiên nhưng sự phản kháng thưa kiện quá lâu không kết quả trở thành phản kháng có ý thức, có bài bản. Đó là nguyên nhân sâu xa của trên 2000 dân khiếu kiện, kêu oan, biểu tình ở Saigon từ 22/06/2007 đến 18/07/2007, một chuyện hi hữu ở Saigon sau 30/04/1975.

b. Từ những phản kháng lỏng lẻo sẽ chuyển dần thành các tập hợp chặt chẽ, thống nhứt.
c. Từ thái độ băn khoăn, e ngại chuyển thành thái độ cả quyết, dấn thân.

d. Từ phản kháng có tánh cục bộ chuyển thành cao trào của toàn xã hội.

e. Trước 30/04/1975, cuộc đối đầu giữa Cộng Sản và lực lượng dân tộc diễn ra dưới hình thức Quốc Gia chống Cộng Sản, dân Nam Kỳ chống Bắc Kỳ. 30 năm sau ngày 30-4-75 lực lượng chống chế độ Cộng Sản kết tinh thành một khối chống đối trong đó có dân Bắc và Nam, người trong chế độ Cộng Sản, người ngoài chế độ, con ông cháu cha và con nhà bình dân.

IV. Tại sao Cách Mạng?

Cách Mạng không phải là sự cụ thể hoá ý muốn chủ quan của người bất mãn chế độ. Cách Mạng chỉ bùng nổ khi một số điều kiện khách quan hội tụ.

Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa một vài điểm dẫn đến Cách Mạng.

4.1. Trong mục 3.2 Vật Cùng Tắc Biến chúng ta đã thấy sự áp bức, bóc lột, đối xử bất công của Cộng Sản đối với đa số dân Việt không được hưởng sự chiếu cố, ưu ái của chính quyền đã đến gần mức cùng cực. Đó là thực tế trước mắt mà mục 32 kể ra chứ không phải sự tưởng tượng của người chống cộng cuồng tín.

4.2 Lực lượng vô địch. Từ ngày lập quốc, trên chính trường có một lực lượng vô địch. Phe nào vận dụng được lực lượng này đều thắng trận. Lực lượng vô địch này là cái khối nhân dân bị chính quyền áp bức. Hồ Chí Minh với thủ đoạn thiên phú đã chiếm được chánh nghĩa với hệ quả là chiếm lực lượng vô địch của khối nhân dân bất mãn chế độ thuộc địa. Khi vận dụng được sức mạnh vô địch của khối nhân dân Việt Nam với tinh thần bất khuất trong chiến đấu, Hồ đã đưa Cộng Sản chiến thắng Pháp và Mỹ.

Sau ngày 30/04/1975, bọn lãnh đạo Cộng Sản vì quá ngu và quá tự cao đã trở mặt bóc lột bạc đãi khối người đã đưa chúng lên tột đỉnh vinh quang.

Cộng Sản đã mất chánh nghĩa và chánh nghĩa đã sang qua tay lực lượng Cách Mạng dân tộc. Chánh nghĩa được tượng trưng bởi lá cờ vàng đã làm rung động con tim của hàng triệu người Việt hải ngoại.

4.3 Từ kỷ luật sắt đến chia rẽ nội bộ. Ngày thành lập, đảng Cộng Sản nhờ vào kỷ luật sắt nội bộ đã làm cho đảng trở thành một khối độc thể (monolithique) có một sức mạnh khủng khiếp trong tranh đấu.

Nhưng thời hiện đại, chưa bao giờ trong Đảng có đông đảo đảng viên chống lại chánh sách, chủ trương, đường lối của ban chấp hành trung ương bằng lúc này. Sự chia rẽ, được Đảng dùng đủ cách để che dấu, đã làm cho đảng Cộng Sản bất lực khi phải giải quyết những vấn đề trọng đại như thân Mỹ, thân Trung Cộng, sự sống còn của đảng Cộng Sản.

Ba vấn đề nêu trên, hội tụ với tâm lý xã hội trình bày sau đây đã làm cho người chống Cộng Sản cũng như Cộng Sản cảm thấy trận bão cách mạng sắp thổi tới khó mà tránh.

V. Những chỉ dấu của giông tố Cách Mạng

Khi nhìn 2 yếu tố sau đây trong tình hình Việt Nam, người quan sát khách quan biết rõ đó là chỉ dấu sắp đến của giông tố Cách Mạng.

• Một là tâm lý xã hội bất lợi cho Cộng Sản.
• Hai là sự dấn thân của giới trí thức.

5.1 Tâm lý xã hội

5.1.1. Tâm lý của giới cầm quyền Cộng Sản.

Cộng Sản đã cai trị Việt Nam từ 1945 đến nay được 62 năm. Suốt thời gian dài đó, để cho chiếc ghế cầm quyền được vững vàng Cộng Sản đã áp dụng bí quyết trị dân của Staline được cộng sảnViệt Nam thi hành tại Việt Nam không sai một nét. Đó là cái Sợ làm cho mọi người ngoan ngoãn tuân lệnh, thi hành đúng theo ý muốn Cộng Sản.

Sau khi đổi mới năm 1986 đến ngày nay, sự chuyển biến tâm lý của đám lãnh đạo diễn ra, trong nhiều trường hợp thấy rõ ràng.

Một chuyện nghịch lý mà Hà Sỹ Phu đã chỉ rõ đầy dẫy trong trật tự chính trị của Cộng Sản. Đám lãnh đạo Cộng Sản hiện nay lại bị cái Sợ hành hạ tâm thức mặc dầu lúc nào chúng cũng ăn nói mạnh bạo, tỏ ra tự tin về sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ.

Tại sao Cộng Sản sợ khi còn nắm 2 công cụ đàn áp là công an và quân đội? Yếu tố làm cho Cộng Sản sợ là chúng dòm đâu cũng thấy kẻ thù. Sau nữa Cộng Sản sợ vì sau 62 năm cầm quyền, chúng đã vơ vét phần lớn tài sản của đất nước Việt Nam. Cán bộ cao cấp đã trở thành triệu phú đô la thực sự. Tâm trạng của nhà triệu phú trong một xã hội không ổn định là sợ mất của. Khi bọn nhà giàu Cộng Sản tạo nên tài sản khổng lồ do chí thú làm ăn thì chúng đời nào sợ. Khi tài sản hiện tại là kết quả của sự cướp giựt, đẩy hàng triệu người bị cướp vào cảnh bần cùng, Cộng Sản sợ là sợ trước cái biển lửa hận thù của dân Việt bị áp bức. Cộng Sản tuy dốt nhưng chúng cũng hiểu được ý nghĩa của những biến cố sau đây:

• Gần hết dân tỉnh Thái Bình nổi dậy năm 1997.
• Sự kiên trì của dân oan đòi Công Lý khi sống vất vưởng năm này qua năm khác trong vườn hoa Mai Xuân Thưởng. Có khi, có những đàn bà kéo nhau đến trước nhà tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước chửi mắng.
• Sự kiên trì, khí thế đấu tranh của dân oan 19 tỉnh miền Nam và 4 quận đô thành khi dựng lều sống tạm kêu oan trước toà nhà Quốc Hội 2 ở Saigon. Sau khi bị giải tán thô bạo đêm 18/8/07, dân oan không sợ lại tiếp tục tập họp đòi công lý ở Saigon rồi đi biểu tình. Sự kiện này nói lên sự kiên trì trong tranh đấu của người Việt, đồng thời nói lên lòng hận thù chất ngất của nông dân bị cướp đất.
• Dân từ sợ đến bớt sợ và ở nhiều nơi hết sợ. Sự chuyển biến tâm lý này được cụ thể hoá bằng nhiều lần dân dám đánh nhau với công an ở nhiều nơi. Đài SBTN trong buổi phát hình lúc 6 giờ chiều ngày 25/10/06 loan báo tin 2000 dân 3 xã trong tỉnh Phú Yên nổi loạn vì công an đánh chết một người dân. Cộng Sản phải huy động mấy ngàn bộ đội để trấn áp. Kết quả nhiều xe công an bị đốt, trụ sở xã bị đập bể kiếng, 500 dân bị bắt.

5.1.2. Tâm lý của dân không được chế độ ưu đãi.
Muốn biết được phần nào tâm lý của dân, chúng ta nên đọc bài của những người Việt hải ngoại về Việt Nam thăm thân nhân và sống một thời gian khá dài (trên 1 tháng).
Sau đây xin lược thuật vài đoạn trong bài dài của giáo sư Phan T. (?) Bình đăng trên báo Người Việt 2 ngày 26 và 27/04/1999. Giáo sư Bình là giáo sư toán ở Việt Nam trước 1975. Ông đã vượt biên năm 1986 và qua Mỹ định cư. Năm 1999 ông trở lại thăm quê hương và đi khắp nước từ Nam ra Bắc. Đến ngày 30/03/1999 ông trở về Mỹ.

Vì bài viết quá dài, chúng tôi chỉ trích vài đoạn về những gì ông đã nghe và thấy tận mắt.

a. Nghe đài phát thanh ngoại quốc:
Dân chúng Saigon cũng như các tỉnh khác rất siêng năng theo dõi các đài ngoại quốc như BBC, VOA, RFA… Trước đây công an theo dõi bắt bớ những ai nghe đài ngoại quốc nhưng bây giờ cả cán bộ cũng thích nghe các đài ngoại quốc để theo dõi tình hình nên công an cũng phải làm ngơ.

b. Sự lo sợ cho tương lai của cán bộ:
Một số cai tù, quản giáo các trại cải tạo trước đây cũng tỏ ra lo lắng cho tương lai của họ đã chuyển đổi nơi cư trú. Những chi tiết này do dân chúng kể lại. Riêng những cán bộ có máu mặt thì cũng lo bán bớt nhà cửa, chuyển đi nơi khác để tránh người dân nhận diện khi có biến cố không hay xảy ra.

c. Vụ Trần Trường
Các báo như báo Nhân Dân của chế độ Hà Nội lớn lối đòi nước Mỹ phải bảo vệ quyền tự do của Trần Trường. Thời gian ngắn sau đó đài VOA lại đưa tin Trần Trường bị bắt làm cho dân chúng vui mừng. Những bản tin của các đài ngoại quốc mô tả cuộc biểu tình vĩ đại của đồng bào ở Nam Cali đến mấy chục nghìn người làm đồng bào miền Nam lên tinh thần vô cùng. Nhiều người ở Huế đã ăn mừng tưởng như cộng sản sụp đổ tới nơi.
Họ luôn luôn kỳ vọng vào đồng bào hải ngoại và có lúc đau khổ khi trông hoài mà chẳng thấy đồng bào hải ngoại đấu tranh giải phóng quê hương đâu cả. Như vậy rõ ràng là cuộc đấu tranh của đồng bào hải ngoại vô cùng quan trọng, những cuộc biểu tình diễn ra khắp nơi không phải là vô bổ mà rất hữu ích vì giúp nung nấu nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào trong nước chống bọn cộng sản dã man, tàn ác, bóc lột đầy đọa và hà hiếp nhân dân Việt Nam.

d. Dân Nam và Bắc đều chống chế độ.
Sau một thời gian sống ở Việt Nam qua nhiều tỉnh từ Nam ra Bắc, đâu đâu cũng nghe thấy đồng bào oán trách, nguyền rủa chống chế độ Cộng Sản.
Hiện nay sự chống đối không chỉ giới hạn ở đồng bào miền Nam nữa mà lan tràn cả nước. Chính một số cán bộ cao cấp Cộng Sản cũng chống đối mạnh mẽ tập đoàn Cộng Sản Hà Nội

e. Tình trạng hiện nay của Đảng Cộng SảnViệt Nam.
Bộ máy cai trị của đảng Cộng Sản đang có vấn đề khẩn cấp khắp nơi, không khí ngột ngạt vô cùng.

Tập đoàn Cộng Sản đang run sợ trước nhiều thế lực. Trước đây chỉ có “Mỹ Ngụy” nhưng nay thì cả tay chân của đảng cũng chống lại thì rõ ràng mối hiểm họa thật khó lường.

Đối với một số lớn cán bộ cao cấp hay tép riu đều đã phần nào dao động ngả nghiêng. Những người tham nhũng đầy tiền của thì lo sợ không yên vì nhiều vấn đề và luôn luôn sợ các thế lực thù địch cả trong lẫn ngoài nước. Còn các cán bộ không có được lợi lộc, bị thất sủng, mất đặc quyền đặc lợi thì lại bi quan yếm thế và càng ngày càng cay cú và chống lại đảng.

5.2 Sự dấn thân của trí thức
Dưới chế độ Cộng Sản, ngoại trừ phong trào Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956, giới trí thức cất tiếng nói bất mãn rồi bị đàn áp mạnh mẽ. Sau đó giới trí thức im hơi lặng tiếng suốt một thời gian dài.

Sau 30/04/1975, ở miền Nam chỉ có tiếng phản kháng của giáo sư Đoàn Viết Hoạt và bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Hai vị này lãnh án tù nặng sau đó giới trí thức miền Nam cũng im lặng như miền Bắc.

Qua năm 2006, có lẽ vì Cộng Sản chuẩn bị đại hội X, tiếp theo hoạt động vào WTO và tổ chức APEC, Cộng Sản không dám mạnh tay với những nhà trí thức đòi hỏi tự do dân chủ

Sự dấn thân của giới trí thức từ Nam chí Bắc bước vào một giai đoạn mới với sự ra đời của khối 8406, những đảng Dân Chủ Nhân Dân, Thăng Tiến, Vì Dân, Phục Quốc, Công Đoàn Độc Lập và nhiều tổ chức đòi hỏi nhân quyền. Trong tất cả những tổ chức đòi hỏi dân chủ, nhân quyền đều có người trí thức đa số là trẻ: Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Bùi Kim Thành, Nguyễn Bắc Truyền, Lê Quốc Quân, Trần Quốc Hiển, Phạm Hồng Sơn, Lê Nguyên Sang, Đỗ Nam Hải, Bạch Ngọc Dương, giới viết văn: Trần Khải Thanh Thủy, Hoàng Tiến, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Lê Nhân, Phan Mỹ Linh, Trần Khuê, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Thanh Giang, các nhà tu hành như bên Công Giáo: linh mục Nguyễn Văn Lý, Chân Tín, Phan Văn Lễ, Phan Hữu Giải, bên Phật Giáo Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Thiện Minh, Thích Không Tánh, bên Tin Lành mục sư Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Công Chánh.
Trong lịch sử loài người sự dấn thân của trí thức chống lại sự áp bức của bạo quyền báo hiệu giông bão cách mạng sắp đến như Cách Mạng Pháp năm 1789, Cách Mạng Nga năm 1917, Cách Mạng Tiệp Khắc năm 1989.

VI. Kết luận
Đám lãnh đạo Cộng Sản tuy dốt nhưng cũng biết nguy cơ cách mạng sắp đến hăm dọa sự tồn tại của chính thể quái đản của chúng.

Cộng Sản tìm đủ cách để hoá giải nguy cơ. Tuy nhiên đám lãnh đạo hiện nay toàn là quan cách mạng với cung cách hành xử chánh quyền một cách quan liêu. Chúng chỉ giỏi trong việc đấu đá để giành chiếc ghế nhiều bổng lộc. Trong đám lãnh đạo không có tay nào có tài kinh bang tế thế.

Khi thấy dân chống đối, Cộng Sản chỉ có một giải pháp duy nhất là thẳng tay đàn áp như chuyện đang xảy ra trước mắt mọi người tại Việt Nam. Đám lãnh đạo Cộng Sản không biết một chuyện có tính chất quy luật. Trong một chế độ độc tài sắt máu, dân không dám chống chánh quyền vì SỢ. Khi dân bắt đầu chống là vì dân đã bớt sợ hay hết sợ. Thực tế này sẽ dẫn tới với những hệ quả tai hại cho một chế độ độc tài. Nếu chánh quyền đàn áp mạnh thêm thì sự bất mãn cũng tăng thêm. Sự chống đối càng tăng thêm nữa.

Trong hoàn cảnh hiện nay, người duy nhất có thể cứu vãn cho chế độ Cộng Sản được tồn tại là Hồ Chí Minh với thủ đoạn thiên phú của ông ta. Nhưng Hồ Chí Minh đã chết. Đám đàn em chỉ còn cách dùng những huyền thọai về ông ta để tạo nên một thần tượng bắt đảng viên, viên chức nhà nước và toàn dân phải noi gương, học tập cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhưng chính điều đó lại là một trong những dấu hiệu giông tố cách mạng đang đến gần.

Thành Hồ, ngày 1 tháng 8 năm 2007

Góp ý của Minh Võ: Nói chung, chúng tôi đồng ý với tác giả ẩn danh về một cuộc cách mạng dân tộc. Chúng tôi cũng đồng ý là cách mạng có quy luật của cách mạng.Tuy nhiên quy luật là một chuyện, còn việc làm sao áp dụng quy luật đó để thúc đẩy cho cách mạng sớm xảy ra lại là một chuyện khác. Và chuyện này tùy thuộc vào cả hai phía, người Quốc Gia và người Cộng Sản. Nếu chúng ta biết áp dụng quy luật để thúc đẩy cách mạng, thì đối phương cũng biết áp dụng quy luật để tránh hay trì hõan cách mạng. Cho nên để làm cách mạng cần phải có một tổ chức am hiểu về cách mạng, về các phương pháp vận động quần chúng. Cũng cần có một đường lối đấu tranh thích hợp dựa trên những thông tin chính xác và hữu ích về chính sách, đường lối của chính quyền Cộng Sản, cũng như những khó khăn của nó.

Về cách mạng dân tộc, chúng tôi xin có ý kiến như sau. Trên thực tế Việt Cộng đã chủ trương và thực hiện cách mạng vô sản, cách mạng giai cấp, theo gíao điều Mác-Lê. Vì vậy mọi giá trị truyền thống của dân tộc đã bị phá hủy. Nay ta làm cách mạng dân tộc là hợp lý.

Nhưng khi tiến hành cách mạng giai cấp, Hồ Chí Minh và đồng đảng đã tuyên bố đó là cách mạng dân tộc. Ông ta kêu gọi toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp. Mặt trận Việt Minh do ông ta làm chủ tịch đã làm cuộc cách mạng tháng 8 đưa đến việc ông ta đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Sau đó ông ta đã cho nổ phát súng lệnh toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946. Điều này đã đánh lừa được toàn dân, kể cả nhiều trí thức và ngay cả nhiều đảng phái quốc gia ban đầu cũng bị lầm. Đó là vì những lý do sau đây:

Ban đầu Hồ chối mình không phải Cộng Sản. Nhiều người Mỹ lúc ấy từng gặp Hồ như Achimedes Patti hay Charles Fenn đã tin một cách thơ ngây. Về sau không giấu được nữa, các người Cộng Sản Việt chống chế rằng mình đi theo Quốc Tế Cộng Sản để học cách đánh Pháp giành độc lập, theo chủ trương và sách lược chống thực dân của Lênin. Ta đã biết Lênin có luận cương nổi tiếng về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thực dân. Ông Hồ say mê đọc tài liệu chính trị vô tiền khoáng hậu này, coi đó như kim chỉ nam, như sách ước.

Đáng tiếc là lúc ấy ít người hiểu rằng sách lược này của Lênin chỉ nhắm mục đích làm suy yếu những nước đế quốc, hầu cuối cùng tiêu diệt chế độ tư bản, để đưa giai cấp vô sản (mà Liên Xô đại diện (!)) lên nắm quyền bá chủ thế giới. Chứ Lênin không hề chống đế quốc chỉ vì mục đích giải phóng thực sự các dân tộc thuộc địa.

Cho đến ngày nay vẫn còn rất nhiều ngừoi nghĩ Hồ Chí Minh thực sự yêu nước. Ông ta đã chễm chệ ngồi trên bệ thờ như một đấng thánh, một Bồ Tát. Ít nhất nhiều người trên thế giới vẫn còn coi ông ta là anh hùng dân tộc, anh hùng cứu quốc.

Vì vậy muốn chủ trương cách mạng dân tộc, không thể nào không phá vỡ huyền thọai “cha già danh tộc”, “anh hùng dân tộc” của Hồ Chí Minh và công giành độc lập của Đảng Cộng Sản.

Vấn đề này rất phức tạp, dài dòng, chúng tôi đã viết nhiều kể từ đầu thiên niên kỷ này.

Bao lâu giới trẻ, bao lâu những nhà đấu tranh cho dân chủ tự do còn chưa dứt khoát về những điều trên, thì không thể nào tạo được bầu không khí thuận lợi cho một cuộc cách mạng dân tộc. Vì nhiều người còn lầm tưởng rằng cuộc cách mạng dân tộc đã do ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt làm thành công rồi. Nay không có lý do gì để làm cách mạng dân tộc nữa. Vì thế mà ngay cả một số chiến sĩ tự do dân chủ ngày nay cũng chỉ dám đòi cộng sản ban cho, một cách nhỏ giọt, một số tự do nào đó. Chứ không dám nghĩ đến đánh đổ thần tượng Hồ Chí Minh, để thay thế cái chế độ này.

Lê Mạnh Thát thông báo về lễ Vesak 2008 (28/11/2007, Trung tâm hội nghị Quốc tế)
Nguồn: buddhismtoday.com


Môt sự kiện tôi muốn nêu lên ở đây để chứng tỏ Việt Cộng luôn cố bằng mọi cách làm giảm áp lực chính trị từ mọi phía, khiến cho “giông bão cách mạng” mà tác giả nói khó có thể xảy ra. Chúng tôi muốn nói đến “đại hội Phật Giáo thế giới” sắp được tổ chức vào tháng 5 tới đây. Lễ này có tên là Đại Lễ Vesak được tổ chức nhân dịp Phật Đản, lại nhằm vào dịp Việt Cộng mừng Sinh Nhật ông Hồ. Trớ trêu mà cũng lý thú ở chỗ người được giao trách nhiệm đứng đầu ban tổ chức lại là một kẻ tử tội của Cộng Sản cách nay hai thập niên. Đó là nguyên hoà thượng Thích Trí Siêu, tiến sĩ Lê Mạnh Thát.

Nguyên sự kiện này đủ cho thấy biệt tài ứng phó của Việt Cộng. Một mũi tên có thể trúng nhiều con chim. Vừa chứng tỏ cho thế giới thấy, tại Việt Nam có tự do tôn giáo; chính quyền còn khuyến khích mở mang Phật giáo. Vừa dùng Phật Giáo (Việt Nam) để đánh phá Phật giáo (thống Nhất). Vừa dùng tôn giáo này chống phá tôn giáo khác. Vừa dùng Phật giáo để củng cố địa vị của chính quyền Cộng Sản trong nước và trên thế giới…

Ai cũng biết hiện nay nhiều chính phủ và tổ chức phi chính phủ tố cáo Việt Cộng vi phạm nhân quyền, không có tự do, đặc biệt là không có tự do tôn giáo. Vậy thì khi giáo hội Phật Giáo Việt Nam cùng với chính quyền cộng sản đứng ra tổ chức đại hội thế giới sẽ chứng tỏ với thế giới rằng ở Việt Nam hiện nay không có đàn áp tôn giáo. Hơn nữa tên tuổi tiếng tăm của tiến sĩ Lê Mạnh Thát, từng bị kết án tử hình (xuống tù chung thân 02/1984 – DCV), đứng đầu ban tổ chức, còn làm cho giới quan sát quốc tế thấy rằng chuyện đàn áp tôn giáo nếu có đã đi vào dĩ vãng. Ngày nay đã có sự hoà hợp, thông cảm giữa chính quyền và giáo quyền.

Đàng khác cùng với Lê Mạnh Thát còn có nhiều hoà thượng, thượng tọa, cư sĩ, Phật Tử trước kia từng chống Cộng trong Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất nay cũng công nhiên rời bỏ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để cùng với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (quốc doanh) tham gia tổ chức đại hội Phật Giáo Thế Giới do Liên Hiệp Quốc chủ xướng. Trong số những vị này đáng nói nhất là nhóm thân hữu Già Lam của thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, một tử tội (xuống tù chung thân 02/1984 – DCV) khác của VC.

Vì thế uy tín của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất (vốn đựơc tiếng là anh dũng chống Cộng kiên trì), trong đó có Hoà Thượng Thích Quảng Độ, viện trưởng Viện Hoá Đạo đã từng nhiều lần được chọn là ứng viên giải hoà bình Nobel, sẽ bị sứt mẻ phần nào. Chưa kể rằng rồi đây, sau “đại hội thành công”, VC sẽ chĩa mũi nhọn vào tấn công hoà thượng Thích Quảng Độ, cũng giống như họ đã áp đảo linh mục Nguyễn Văn Lý năm ngoái.

Như vậy có phải là Việt Cộng đã xảo quyệt dùng chính Phật Giáo đánh Phật Giáo không? Đó là chưa muốn nói đến những đòn độc địa khác VC dùng tôn giáo này chống phá tôn giáo khác, từng là môn sở trường của họ.
Chúng tôi nhắc lại việc này để lưu ý tác giả rằng làm cách mạng dân tộc chống cộng sản rất khó khăn và đòi nhiều tâm huyết, sự kiên trì và óc sáng tạo mới mong thành công. Dĩ nhiên khỏi phải nhắc lại những vụ vùng dậy của đồng bào Thái Bình cách nay 10 năm đã bị VC đàn áp tàn bạo dã man, nhưng thành công ra sao.

Trong mục 2.2 (chữ thời đối với lực lượng dân tộc), đọan cuối, tác giả có nêu nhiều ưu điểm của cộng đồng Việt Nam hải ngọai, mà ông gọi là “sức mạnh của nước Việt Nam thứ 2”. Ông ước mong có thể dùng sức mạnh đó để làm cách mạng giải phóng nước nhà khỏi ách cộng sản.

Theo tôi, sức mạnh chính tiềm tàng trong nước. Chí có nhân dân trong nước làm được việc khó khăn đó. Nhưng người Việt hải ngọai, nếu đoàn kết được với nhau, sẽ là lực lượng hỗ trợ đắc lực. Mà việc đầu tiên và thiết thực nhất mà người Việt hải ngọai chúng ta có thể làm ngay bây giờ, là truyền vào trong nước những thông tin xác thực về tình hình thế giới, về những sự thực lịch sử trong thế kỷ qua, mà cộng sản luôn bưng bít, xuyên tạc. Phương tiện lợi hại có một không hai ngày nay là điện toán. Cần triệt để lợi dụng và phát huy nó, nhân lên thành vũ khí chủ soái. Hãy kết hợp nhiều toán chuyên viên lại thành một tổ chức, dùng ưu thế kỹ thuật vượt trội để phá bức tường lửa của cộng sản, và hướng dẫn yểm trợ trí thức trong nước lập các blogs, các Web sites để tiếp thu, phát tán tin tức và liên lạc với nhau một cách an toàn (về kỹ thuật cũng như về chính trị). Việc nghe dễ dàng, đơn sơ, nhưng thực là phức tạp khó khăn, nếu chúng ta không đoàn kết để có một tổ chức thống nhất. Khó khăn này có vượt qua được thì triển vọng một cuộc cách mạng thực sự dân tộc mới có hy vọng thành đạt trong một tương tương lai gần.

Tóm lại chúng tôi tán thành chủ trương cách mạng dân tộc của tác giả ẩn danh. Với sự dè dặt là trước tiên phải chứng minh cho nhân dân và cả cán bộ cộng sản trong nước rằng, cái gọi là công làm cách mạng dân tộc, tức đánh đuổi thực dân Pháp của ông Hồ và Cộng đảng chỉ là công hão. Chỉ khi nào làm xong việc đó mới hòng tạo nên bầu khí quyển chính trị với áp xuất đủ cho một cơn “giông bão cách mạng” hình thành.

15/03/2008

© DCVOnline

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: