Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

March 27, 2008

Khối 8406 : Kháng thư số 19, thành tích phản nhân quyền của nhà cầm quyền CS

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006

Bloc 8406-Supporters of Manifesto on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006

vanphong8406@gmail.com

 

Kháng thư số 19

Tố cáo những thành tích phản nhân quyền của nhà cầm quyền CS Việt Nam 3 tháng đầu năm 2008

Việt Nam, ngày 12 tháng 03 năm 2008

            Kính thưa toàn thể Đồng bào VN trong và ngoài nước cùng các Thân hữu quốc tế,

            Trong chuyến công du đầu tháng 3 tại các nước Anh, Ai-len và Đức, ông Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh miệng tuyên bố với chính giới và báo giới Âu châu rằng tại Việt Nam, nhân quyền ngày càng được cải thiện, không có tù nhân chính trị mà chỉ chỉ có tù nhân hình sự, và nhà nước đang xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh… Thế nhưng, nhiều sự kiện trong quý I năm 2008 đã cho thấy đó là những lời lường gạt, dối trá. Nhà cầm quyền CSVN tiếp tục đàn áp toàn xã hội, không ngừng lập những “thành tích phản nhân quyền”. Sau đây là những vụ việc tiêu biểu:

            1- Đối với dân tộc.

            – Dịp kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát Mậu Thân (1968-2008 ) lẽ ra là cơ hội cho đảng CSVN sám hối trước nhân dân, đặc biệt nhân dân miền Nam, vì đã tàn sát dã man cả vạn thường dân vô tội trong những ngày tết thiêng liêng của dân tộc. Thế nhưng, CSVN vẫn cứ lòng chai dạ đá, xuyên tạc lịch sử, đầu độc dư luận, ngang nhiên trình bày biến cố Tết Mậu Thân như “cuộc tổng tấn công và nổi dậy của nhân dân miền Nam”, như một “chiến thắng lẫy lừng và đầy sáng tạo của Cách mạng” qua những chương trình phát thanh truyền hình, những cuộc “hội thảo khoa học”, những buổi gặp mặt ăn mừng, và nhất là qua cuộc diễu hành tại Dinh Thống Nhất sáng ngày 1-2-2008.

            – Dịp Trung Cộng hợp thức hóa việc xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 2-12-2007 lẽ ra là cơ hội cho đảng CSVN tạ tội với dân tộc (vì đã bán đất dâng biển cho ngoại bang kể từ năm 1958 ) bằng cách vận động đoàn kết đồng bào mọi nơi và mọi giới giành lại gia sản của tiên tổ. Thế nhưng, với tâm hồn nô lệ Bắc triều, CSVN lại đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của học sinh, sinh viên, nhà báo, dân oan, chiến sĩ dân chủ… vốn đã liên tục xảy ra cho đến hôm 19-1 (kỷ niệm 34 năm hải chiến Hoàng Sa). Mới đây, bất chấp niềm đau mất đảo vào tay Trung Cộng, CSVN lại điềm nhiên tham gia vào thế vận hội Bắc Kinh bằng cách tổ chức cuộc rước đuốc ô nhục qua Sài Gòn ngày 29/30-4 trước khi ngọn đuốc này rước qua Hoàng Sa. Đây là hành vi mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên 2 quần đảo của đất nước.

            – Với đường lối quản lý xã hội, điều hành kinh tế ngu dốt, đầy cưỡng bức, kiểu bóc lột, CSVN đang đẩy toàn bộ đất nước vào cơn khủng hoảng lạm phát trầm trọng (tháng 1 tăng 14% và tháng 2 tăng 16%), khiến điện, nước, xăng dầu tăng 17 % và giá thực phẩm nhảy vọt tới 24 % (theo Roger Mitton). Ngoài ra, việc đề ra những chính sách thất nhân tâm như cấm bán hàng rong, dẹp xe ba gác, gia tăng học phí đã đẩy hàng chục triệu người nghèo vào bước đường cùng, khiến cho hơn 114.000 học sinh bỏ học tính đến tháng 12-2007 (theo số liệu của Bộ GD-ĐT, Tuoitre online ngày 10-03) và nay đã lên tới 150.000. Việc ấy còn khiến cho nông dân và sinh viên trở thành những con nợ của nhà nước, từ đó bị khống chế về mặt tư tưởng và quan điểm chính trị.

            – Việc khống chế tư tưởng và quan điểm này còn được CS áp đặt lên toàn xã hội qua cái gọi là “cuộc vận động học tập tư tưởng và đạo đức của Hồ chủ tịch” vốn phổ biến sâu rộng từ 3-2-2007, sơ kết mỗi 19-5 hàng năm, tổng kết ngày 3-2-2011, trên các phương tiện truyền thông, trong các học đường từ nhỏ tới lớn, trong các cơ quan nhà nước từ địa phương tới trung ương, trong các đoàn thể nhân dân thuộc Mặt trận Tổ quốc VN, trong công an, quân đội, báo giới và tôn giáo quốc doanh… Đây là một sự đầu độc tinh thần đối với nhân dân, vì Hồ Chí Minh chẳng có tư tưởng nào ngoài việc mù quáng chạy theo học thuyết sai lầm tai hại và áp dụng chế độ gian dối bạo tàn của Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông, chẳng hề có đạo đức trong cuộc sống riêng tư (giết vợ, bỏ con, phản bội bạn bè) lẫn trong cuộc sống xã hội (gây ra bao lụn bại suy tàn, oan khiên khốn khổ, thảm sát tru diệt cho dân tộc kể từ Cải cách ruộng đất đến hôm nay).

            2- Đối với dân oan.

            – Sau cuộc đàn áp tàn khốc đêm 18-07-2007 đối với dân oan 19 tỉnh thành miền Nam vốn đã biểu tình khiếu kiện kể từ ngày 22-06-2007 trước Văn phòng 2 Quốc hội tại Sài Gòn, CSVN đã tuyên bố sẽ giải quyết rốt ráo mọi oan khuất tại địa phương. Thế nhưng, đó vẫn chỉ là hứa hẹn hão, lường gạt thật. Dân oan, đặc biệt tại Tiền Giang, vẫn tiếp tục cơm đùm gạo bới lên Sài Gòn, ra Hà Nội để rồi trở về tay không sau khi đã chịu cảnh màn trời chiếu đất, dầm mưa dãi nắng, cửa quan im lìm và bị công an đầu gấu hành hạ. Riêng cụ Ngô Lướt, 72t, dân oan Bình Thuận, bị kết án 9 tháng tù giam vào ngày 27-12-2007.

            – Gần đây, nhà cầm quyền CSVN tiếp tục đàn áp người dân để cướp đất của họ hòng xây dựng các khu công nghiệp hay bán cho các công ty ngoại quốc. Trường hợp cụ thể xảy ra tại Khu Công nghệ cao quận 9, thành phố Sài Gòn. Vào khuya ngày 02-03-2008, hàng trăm công an đã đột nhập gia cư, bắt giam mười người dân đã dám lên tiếng phản đối chính quyền địa phương tham nhũng hôm 22-11-2007. Đó là các dân oan Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Nam Điền, Kiều Văn Hòa, Lưu Minh Luân, Đỗ Thị Mai, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Thị Thơ, Dương Thị Trúc Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Mỹ Vân. Họ đã bị vây bắt như những tội phạm nguy hiểm và đang bị giam giữ, chờ ngày ra tòa vì tội “gây rối trật tự”. (Theo Blog Tiếng Dân Rên).

            3- Đối với công nhân.

            – Để đương đầu với những cuộc đình công ngày càng sâu rộng và đông đảo của công nhân nhằm phản đối chủ nhân bóc lột, công đoàn cấu kết và nhà cầm quyền đồng lõa, ngày 30-1-08, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký hai Nghị định số 11 và 12/2008 bắt công nhân phải “bồi thường thiệt hại” cho chủ nhân trong các cuộc đình công mà NTD gọi là “bất hợp pháp” và phải bị đem ra tòa án xét xử như những tội phạm. Với hai nghị định bất công và vô luật này, mặt nạ “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân” của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản lại rơi xuống và nhóm cầm đầu chế độ toàn trị một lần nữa tỏ ra là những kẻ đang ra sức bảo vệ chủ nhân, đặc biệt các chủ nhân tư bản ngước ngoài, tiếp tay cho họ bóc lột và đày ải hàng triệu công nhân đồng bào ruột thịt.

            – Đang khi đó, theo báo chí trong nước (tờ Pháp Luật ngày 27-2), từ năm 2002 đến nay, có tất cả 315 lao động Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia bị chết, riêng năm qua có 107 người đột tử. Bản tin ngày 18-02 của Ủy ban Cứu người Vượt biển lại cho biết: “Năm 2007, công ty Esquel đã tuyển 1.300 người Việt đưa sang Malaysia làm việc với lời hứa mỗi tháng sẽ nhận được khoảng 245 Mỹ kim. Tuy nhiên, sau đó họ chỉ nhận được khoảng 60 Mỹ kim một tháng, do đấy không thể nào sống nổi”. UBCNVB cũng cho biết: cách đây nửa năm, trên 200 công nhân đã được đưa qua Jordan để làm việc cho công ty may mặc W&D Apparel Jordan Corp. Chủ nhân cam kết trả 220 Mỹ kim một tháng, nhưng trên thực tế họ chỉ nhận được từ 80 đến 120 Mỹ kim. Hôm 20-02-08, vì đồng loạt đình công, họ đã bị nhân viên và cảnh sát đánh đập, khiến 5 công nhân phải nhập viện. Tất cả các thảm trạng trên xảy ra là do thái độ vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN và đại diện sở tại, vốn quen thói đem con bỏ chợ, sống chết mặc bây, phủi tay sau khi thu tiền!

            4- Đối với các nhà dân chủ.

            – CSVN tiếp tục giam cầm không xét xử nhiều nhà dân chủ quốc nội lẫn hải ngoại, chẳng hạn 4 thành viên của đảng Việt Tân là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, ông Somsak Khunmi, các anh Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Viết Trung (bị bắt ngày 17-11-2007, thậm chí không cho gia đình thăm gặp), 3 thành viên Khối 8406 là chị Hồ Thị Bích Khương (bị bắt ngày 25-4-2007), Ký giả Trương Minh Đức (cũng là thành viên Đảng Vì Dân, bị bắt ngày 05-05-2007), anh Lương Văn Sinh (bị bắt ngày 10-01-2008 ) và nhiều người khác nữa. Tất cả họ chỉ có mỗi tội là tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi nhân quyền cho đồng bào hay đòi lại tài sản cho dân oan. Riêng anh Lê Trí Tuệ, một thành viên Khối 8406 khác, đã trốn sang lánh nạn tại Cambodia giữa tháng 4-2007, nhưng đến tháng 5 thì bị mất tích cách bí hiểm, có thể do công an CSVN bắt cóc.

            – Nhiều nhà dân chủ khác tiếp tục bị đem ra xét xử trong những phiên tòa vô luật để lãnh những bản án bất công, như hai thành viên Khối 8406 là anh Trương Quốc Huy và anh Hàng Tấn Phát bị tuyên án mỗi người 6 năm tù giam về tội “chống phá nhà nước” ngày 29-1-2008; như 5 thành viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam cũng là đảng viên Đảng Dân chủ Nhân dân đã bị xử y án trong phiên tòa phúc thẩm ngày 25-02-2008: ông Đoàn Văn Diên (4 năm 6 tháng), chị Trần Thị Lệ Hồng (3 năm), anh Đoàn Huy Chương (1 năm 6 tháng), chị Nguyễn Thị Tuyết (1 năm 6 tháng), ông Phùng Quang Quyền (1 năm 6 tháng). Phiên tòa này đã diễn ra một cách lén lút, chẳng thông báo cho thân nhân. Ký giả Trương Minh Đức cũng sẽ  bị đưa ra toà án tỉnh Kiên Giang ngày 18-3-2008 sắp tới với cáo buộc vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự.

            – Dịp nhà dân chủ lão thành, sáng lập viên Khối 8406, cựu đảng viên CS Hoàng Minh Chính ra đi, CSVN đã tìm mọi cách để phá đám tang lễ của nhà đấu tranh chân chính và đáng ngưỡng mộ này, với những hành động lỗ mãng và tàn bạo. Trước hết họ tìm cách thao túng lèo lái việc tổ chức tang lễ nhưng không thành, sau đó ngăn cản những ai có tinh thần dân chủ đến phúng điếu, kể từ Hòa thượng Thích Không Tánh là chủ lễ cầu siêu (song thất bại), đến các nhà đối kháng khác như kỹ sư Đỗ Nam Hải, ông Nguyễn Bá Đăng, cựu đảng viên Vi Đức Hối, giáo viên Vũ Hùng, giáo sư Nguyễn Thượng Long, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ký giả Nguyễn Khắc Toàn, kỹ sư Phạm Văn Trội… Tất cả đều bị phong tỏa tại gia. Công an còn ngang nhiên giật các vòng hoa phúng điếu của các tập thể hay cá nhân dân chủ từ trong lẫn ngoài nước.

            – Nhiều nhà dân chủ khác tiếp tục bị sách nhiễu quản chế như Thượng tọa Thích Thiện Minh, Kỹ sư Đỗ Nam Hải (3 lần bị cấm ra Hà Nội), cựu chiến binh Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa (bị hăm dọa giết chết), nhà văn Hoàng Tiến, ký giả Nguyễn Khắc Toàn, các nữ chiến sĩ dân chủ như Dương Thị Xuân, Vũ Thanh Phương, Lê Thị Kim Thu, Lư Thị Thu Duyên, Phạm Thanh Nghiên… Thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do như anh Hoàng Hải (Điếu Cày) và Luật gia Phan Thanh Hải thì bị gây rối đủ cách trong công ăn việc làm. Đặc biệt có Luật sư Bùi Kim Thành, nhà tranh đấu nhiệt tình cho dân oan, đã bị công an dùng vũ lực đưa vào bệnh viện tâm thần Biên Hòa sáng ngày 6-3-2008 vừa qua, dù bà chẳng hề điên loạn. Sau đó bà bị tiêm thuốc cho mê man và bị phong tỏa không cho gặp thân nhân bằng hữu. Đây là lần thứ hai vị luật sư riêng của Tập thể dân oan này bị CSVN đối xử một cách man rợ như thời bạo chúa Staline bên Liên xô. Lần thứ nhất là từ ngày 2-11-2006 đến ngày 16-7-2007, cũng tại nhà thương điên Biên Hòa.

            5- Đối với các tôn giáo.

            – Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp tục là nạn nhân của nhà cầm quyền CS. Hàng lãnh đạo của Giáo hội như các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh, Không Tánh… vẫn mãi bị quản chế hay sách nhiễu. Nhiều tịnh thất bị phân biệt đối xử như tịnh thất Hồng Liên ở An Giang. Nhưng nổi bật nhất là sự kiện nhà cầm quyền Cộng sản vừa trao khu đất Việt Nam Quốc tự của Viện Hoá Đạo ở quận 10 Sài Gòn cho Công ty Berjaya Land Bhd (B-Land) thuộc Tập đoàn Berjaya (Malaysia) hôm 23-2-2008, để công ty này xây dựng Trung tâm Tài chính Việt Nam, từ đó kéo theo việc phá sập ngọn tháp Việt Nam Quốc tự cao bảy tầng tại đó (Phòng Thông tin PGQT, Thông cáo báo chí ngày 5-3-2008 ). Sự kiện thứ hai là nhà cầm quyền CS, qua tay chân của mình là Giáo Hội Phật giáo VN, sẽ tổ chức Đại lễ Phật Đản Tam hợp quốc tế (hay Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2008) vào trung tuần tháng 5 năm tới tại Hà Nội, với âm mưu biến Đại lễ này thành một màn kịch nhằm đạt tới những mục tiêu chính trị của họ, những mục tiêu hoàn toàn xa lạ với ý nghĩa văn hoá và tôn giáo của Đại lễ. Nhưng làm sao tôn vinh Đức Phật và Phật giáo khi Nhà nước Cộng sản không ngừng đàn áp Giáo hội lịch sử và dân lập là GHPGVNTN và tiếp tục quản chế khắt khe hàng lãnh đạo cao cấp của GH này?

            – Giáo hội Công giáo cũng tiếp tục được nhà cầm quyền “chiếu cố” qua việc cướp thêm hay không hoàn trả đất đai của Giáo hội, như tại Sài gòn (đại chủng viện thánh Giuse, giáo xứ Thánh Cẩm), tại Huế (đan viện Thiên An, trung tâm Thánh mẫu La Vang Quảng Trị), tại Hà Nội (các giáo xứ Thái Hà, Hà Đông). Nhưng nổi bật nhất là vụ Tòa Khâm Sứ vốn đã nổi lên từ cuối năm rồi qua việc giáo dân Hà Nội tụ tập cầu nguyện tại nơi tranh chấp và suýt bị đàn áp. Sau khi Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra văn thư ngày 01-02-2008, kêu gọi giáo dân ngưng cầu nguyện tại nơi này để tỏ thiện chí, người ta tưởng sau tết Nguyên đán nhà cầm quyền sẽ đáp lễ mà giải quyết vụ việc đúng luật. Thế nhưng, CSVN vẫn ngoan cố bày mưu chước khác để đối phó. Đó là nhờ tay chân trong Giáo hội Phật giáo VN và trong nhóm Giao điểm ở hải ngoại ra văn thư, viết bài vở tuyên bố khu đất Tòa Khâm sứ nguyên là tài sản của Phật giáo vì trên đó từng có một ngôi chùa và một bảo tháp mang tên Báo Thiên nhưng rồi đã bị Công giáo, được chính quyền Thực dân Pháp hỗ trợ, đã cướp lấy, đập phá để xây cơ sở của mình. Dẫu lập trường này sai lầm về lịch sử lẫn pháp lý, CS vẫn dùng nó để mong chia rẽ các tôn giáo, xúi đôi bên đánh nhau để mình ở giữa trục lợi, trước mắt là khỏi trả Tòa Khâm sứ rồi hàng ngàn cơ sở đất đai tôn giáo khác nữa.

            – Giáo hội Tin Lành tiếp tục chịu nhiều thống khổ. Như Hội thánh Tin Lành Việt Nam, chi hội Trà Vinh, ở xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, vừa bị hành hung vừa bị cấm nhóm họp thờ phượng (đài RFA, ngày 07-03-2008). Như một tín đồ người Thượng ở Tây Nguyên tên Kpa Kloh, 41 tuổi, đã qua đời trong một trại tù ở Phú Yên ngày 20-02 vì bị công an CSVN tra tấn đến chết (Hãng thông tấn Tin Lành Bos News Life). Như một tín đồ người Thượng khác cũng ở Tây Nguyên, buôn De Ar là bà Haner đã bị bắt và bị thẩm vấn trong nhiều giờ. Sau đó, ngôi nhà của bà đã bị công an đốt cháy trụi, khiến bà và 3 con nhỏ không còn chỗ nương náu (Tổ chức Montagnard Foundation tại Hoa Kỳ). Mới đây, chuyến viếng thăm các tù nhân lương tâm tại Hà Nam và Thanh Hóa của đoàn mục sư và tu sĩ Tin lành Mennonite gồm 23 người từ ngày 26-01 đến ngày 04-02 đã gặp không ít trở ngại từ phía nhà cầm quyền CSVN (xem Bản tường trình ngày 25-02-2008 của mục sư Nguyễn Hồng Quang).

            Từ những vụ việc đàn áp kể trên, vốn là phản chứng của bao lời tuyên bố láo lường của nhà cầm quyền CSVN, toàn thể Khối 8406 chúng tôi, gồm hàng chục ngàn thành viên trong lẫn ngoài nước, nay đồng thanh lên tiếng:

            1- Đòi hỏi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải biết sám hối lỗi lầm, thành tâm phục thiện, công nhận sự thật về tội giết người đã gây ra cho nhân dân, đặc biệt trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, về tội bán nước đã gây ra cho dân tộc, đặc biệt trong vụ dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc kể từ năm 1958. Đòi hỏi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải từ bỏ chế độ độc tài độc đảng, thần tượng giả trá Hồ Chí Minh, trả lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân, quyền làm người cho mỗi cá thể, quyền sinh hoạt độc lập cho mỗi tôn giáo, quyền tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm và các nhà dân chủ đối lập (trong đó có linh mục Nguyễn Văn Lý cùng các thành viên lãnh đạo đảng Thăng Tiến VN), để cùng tất cả đồng bào trong lẫn ngoài nước giải quyết những cơn khủng hoảng đủ loại của quốc gia, đương đầu với hiểm họa Bắc phương xâm lược.

            2- Kêu gọi sự đoàn kết giữa các tôn giáo, giữa mọi thành phần xã hội tại VN để đối phó với âm mưu chia rẽ của CS, để gỡ bỏ ách thống trị lâu dài của thiểu số cầm quyền hung hiểm và tàn bạo, để áp lực lên tập đoàn lãnh đạo CS hầu buộc họ trả lại mọi tài sản vật chất (đất đai, cơ sở) và mọi tài sản tinh thần (các nhân quyền và dân quyền), để thúc đẩy nhà cầm quyền CS phải cấp tốc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ quốc gia đang tranh chấp với Trung Cộng theo Công pháp quốc tế. Trước mắt, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào quốc nội liên tục biểu tình chống Trung Cộng cướp nước và Việt Cộng bán nước, tẩy chay cuộc rước đuốc thế vận hội qua Sài Gòn ngày 29/30-4 sắp tới, kêu gọi các lực sĩ và các du khách Việt Nam không tham dự thế vận hội Bắc Kinh là một thế vận hội ô nhục vì được tổ chức bởi một nhà cầm quyền đàn áp mà nay vừa bị tái bêu danh trong  Báo cáo thường niên về Nhân quyền của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

            3- Kêu gọi đồng bào hải ngoại và thân hữu quốc tế tiếp tục ủng hộ phong trào dân chủ tại quốc nội, bằng cách thông báo đầy đủ tin tức về nhân quyền tại VN ra khắp năm châu, bằng cách thực hiện liên tục những hoạt động đấu tranh dưới mọi hình thái để nhắc nhở ý thức của đồng hương và đánh động lương tâm của thế giới về bao thảm trạng tại quốc nội, bằng cách vận động các chính phủ, các tổ chức, các cơ quan quốc tế ủng hộ đại cuộc đòi tự do cho dân tộc, bằng cách chuẩn bị nhân lực, tài lực và vật lực cho ngày trở về xây dựng lại quê hương một khi chế độ độc tài CS bị xóa sổ.

            4- Ủng hộ Lời Kêu gọi 8 điểm cho dân chủ Việt Nam của Hòa thượng Thích Quảng Độ, Lộ trình 9 điểm dân chủ hóa Việt Nam của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, vì hai sáng kiến này phù hợp với Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam và Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam gồm 4 giai đoạn 8 bước của Khối chúng tôi (xin xem phụ lục đính kèm). Chúng tôi cũng ủng hộ những Dự tính đưa ra ngày 15-03-2008 của Ủy ban Vận động Liên kết Đấu tranh Tự do cho Việt Nam, ủng hộ chiến dịch “Hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp” và “Khiếu kiện điều 4 Hiến pháp trước LHQ” do Phong trào Hiến chương 2000 (tiến sĩ Nguyễn Bá Long điều hợp) và Đảng Thăng Tiến Việt Nam (tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng làm văn phòng trưởng) phát động. Chúng tôi chào mừng sự trở về giữa phong trào dân chủ của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một thành viên nổi bật của Khối 8406.

            Cuối cùng, Khối 8406 tại quốc nội lẫn hải ngoại chân thành cảm ơn mọi hỗ trợ của Đồng bào khắp nơi và của Thân hữu quốc tế, đồng thời tha thiết và long trọng kính mời toàn thể Quý vị hướng về kỷ niệm 2 năm ngày thành lập Khối chúng tôi (08-04-2006) bằng những hoạt động tùy sáng kiến với áo trắng tự do dân chủ.

            Chúng tôi chân thành cảm ơn toàn thể Quý vị.

            Làm tại Việt Nam ngày 12-03-2008

            Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 :

1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn

2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang vận động tại hải ngoại)

3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình

4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế

5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng.

            (*) Hôm nay cũng là ngày bộ Ngoại giao Hoa kỳ công bố Phúc trình thường niên về Nhân quyền trên thế giới năm 2008

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam

           

            Việt Nam, 8-4-2006

            Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,

            Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :

            I. Thực trạng của Việt Nam

            1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộcKhoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945 và quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945).

            Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !

            2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập  nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945).

            Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.

            3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Ǎngghen – Lênin – Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”.

            Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.

            II. Qui luật phổ biến toàn cầu

            1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam… theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !

            2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.

            3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.

            Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :

            III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh

            1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.

            Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây :

            – Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.

            – Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn“; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.

            Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lậpQuyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.

            – Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.

            2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức  đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.

            3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.

            Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.

Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006

1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế                                      2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế

3. Gv Đặng Văn Anh, Huế                                         4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang

5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế                                     6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng

7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu                                      8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế

9. Gv Lê Cẩn, Huế                                                    10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế

11. Gv Trần Thị  Minh Cầm, Huế                               12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế

13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ                        14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội

15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi                         16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế

17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết                     18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng

19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi                                 20. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn

21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế                                        22. Gs Trương Quang Dũng, Huế

23. Bs Hà Xuân Dương, Huế                                     24. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội

25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội                                26. Ktv Trần Văn Đón, Phan Thiết

27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long                                      28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế

29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng                                  30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ

31. Bs Lê Thị  Ngân Hà, Huế                                    32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế

33. Vũ Thuý Hà, Hà Nội                                           34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn

35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng                            36. Ktv Trần Việt Hải, Vũng Tàu

37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu                      38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng

39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế                              40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế

41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu                                      42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn

43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế                                           44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh         

45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang                          46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế

47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn                           48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế

49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế                           50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế

51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế                               52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế

53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng                           54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng

55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế                                 56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn

57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế                            58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế

59. Gs Trần Khuê, Sài Gòn                                       60. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội

61. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết                                      62. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn

63. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, S.Gòn      64. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn

65. Lm  G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế                         66. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế

67. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng                                68. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng

69. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế                          70. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng

71. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế                                 72. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn

73. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ                                  74. Gv Phan Văn Mậu, Huế

75. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ                             76. Gv Ma Văn Minh, Huế

77. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn                            78. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng

79. Bùi Kim Ngân, Hà Nội                                        80. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế

81. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế                             82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng           

83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế                            84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn

85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế                        86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn

87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ                                88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế

89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế                              90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long

91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang                               92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long

93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng                                   94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế

95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng                             96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng           

97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ                                 98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế

99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn                           100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế

101. Gv Văn Bá Thành, Huế                                      102. Cư sĩ PGHH Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp

103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng                         104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn

105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội                             106. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội

107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn                         108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội

109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết                   110. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế

111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng                            112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn

113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng                                  114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang

115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi                   116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ

117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng                             118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn

TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM

GỒM 4 GIAI ĐOẠN, 8 BƯỚC

CỦA KHỐI 8406

Việt Nam, ngày 22 tháng 8 năm 2006

GIAI ĐOẠN  I

THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ.

            1- Bước 1 : Vài chục năm nay, từ nội bộ đảng Cộng sản đến những nhà hoạt động dân chủ, nhiều Công dân Việt Nam đã lên tiếng – bằng nhiều cách – mạnh mẽ đòi nhân quyền, dân chủ, tự do, tự do thông tin ngôn luận, tự do thành lập công đoàn, tự do thành lập đảng phái, tự do tôn giáo,…cho Đất nước. Ngày 20-2-2006, 4 Linh mục công bố Lời Kêu Gọi Cho Quyền Tự Do Thông Tin Ngôn Luận “Chúng  Ta  Không  Sợ  Hãi  Nữa. Chúng  Tôi  Phải  Biết  Sự  Thật”, thì đến ngày 23-2-2006 lần đầu tiên hàng trăm Công dân quốc nội Việt Nam đã đồng loạt ký tên vào bản Tuyên Bố về Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam.

            2- Bước 2 : Ngày 8-4-2006, Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 được long trọng công bố trước Quốc dân Việt Nam và Cộng đồng Quốc tế. Trên cơ sở Tuyên ngôn ấy, Khối 8406 được hình thành, ngày càng phát triển nhanh chóng và được Đồng bào quốc nội, hải ngoại cũng như Cộng đồng Quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Ngày 15-4-2006, Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận ra số đầu tiên đồng loạt tại nhiều thành phố ở Việt Nam.

Ngày 15-8-2006, Đặc san Tự Do Dân Chủ quyết tâm ra số đầu tiên tại Hà Nội.

– Tăng cường đấu tranh để toàn Dân Việt Nam tự giành lại quyền Tự do Thông tin Ngôn luận đã bị mất hẳn dưới chế độ Cộng sản Việt Nam từ hơn 50 năm qua ; khuyến khích các Cá nhân, Tổ chức mạnh dạn công khai sử dụng báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phổ cập khác ; nỗ lực để các tài liệu thông tin được bày bán công khai trong các sạp báo – tiệm sách.

GIAI ĐOẠN  II

PHỤC HOẠT, THÀNH LẬP & PHÁT TRIỂN

CÁC CHÍNH ĐẢNG DÂN CHỦ KHÔNG CỘNG SẢN.

            3- Bước 3 : Không kể các Chính đảng Dân chủ không Cộng sản từ lâu đã âm thầm hoạt động ngay tại Việt Nam, sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh cho nhân quyền, dân quyền, dân chủ trong Nước và sự ra đời của Khối 8406 đã thúc đẩy Đảng Dân chủ Việt Nam XXI công bố phục hoạt ngày 1-6-2006 và các Đảng Dân chủ không Cộng sản khác lần lượt công khai xuất hiện với trụ sở, văn phòng, cơ quan ngôn luận và các phương tiện truyền thông đại chúng bình thường khác.

            4- Bước 4 : Các Chính đảng phục hoạt và các Chính đảng mới được thành lập đưa ra cương lĩnh, đường lối, mục tiêu của mình với Quốc dân, thu phục Quần chúng ủng hộ, kết nạp đảng viên, gây dựng cơ sở, phát triển và kiện toàn tổ chức. Khối 8406 sẽ chấm dứt vai trò của mình nhường bước cho các Chính đảng hoạt động.

GIAI ĐOẠN  III

SOẠN THẢO HIẾN PHÁP MỚI  & TRƯNG CẦU Ý DÂN.

            5- Bước 5 : Các Chính Đảng tập hợp thành một hoặc nhiều Liên minh đồng loạt cùng gây sức ép lên Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam để thành lập Hội đồng soạn thảo Hiến pháp Tạm Thời gồm Đại diện của tất cả các Chính đảng, các Tổ chức xã hội và các Tôn giáo nào muốn cử Đại diện tham gia.

            6- Bước 6 :  Đưa Dự thảo Hiến Pháp Mới ra trưng cầu ý Dân và công bố Hiến Pháp Mới Tạm Thời.

GIAI ĐOẠN  IV

HOÀN TẤT TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM.

            7- Bước 7 : Thành lập Hội đồng thi hành Hiến Pháp Mới Tạm Thời đã được toàn Dân đồng thuận. Thành lập Hội đồng Tổ chức Bầu Cử Quốc Hội Dân Chủ Khoá I, gồm các Uỷ ban : Uỷ ban biên soạn Luật Bầu cử, Ủy ban Tổ chức các Chính đảng đăng ký ứng cử viên, Uỷ ban Tổ chức bầu cử, kiểm phiếu, Uỷ ban Quốc tế giám sát,…Tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội công bằng, tự do, văn minh khoá I.

            8- Bước 8 : Quốc Hội đầu tiên họp để thông qua Hiến Pháp Chính Thức, chọn Quốc hiệu, Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca,… ; đưa Hiến Pháp đi vào cuộc sống của toàn Dân.

            Đại diện lâm thời Khối 8406

            gồm 1.872 Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình

            & hàng vạn Công dân quốc nội :

            Đỗ Nam Hải, Kỹ sư, Sài Gòn.

            Trần Anh Kim, Cựu Sĩ quan, Thái Bình.

            Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo, Huế.

******************************************

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: