Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

March 27, 2008

NIỀM ÐAU TÂY TẠNG – Huệ Vũ –

Quốc Kỳ Tây Tạng
Trong thời gian trung tuần tháng 3, Trung Cộng đã đặc biệt được thế giới quan tâm theo dõi. Ðây là thời gian quốc hội bù nhìn Trung Cộng với gần 3 ngàn đại biểu đang hợp để bầu thành phần lãnh đạo nhà nước. Dù biết trước Hồ Cẩm Ðào vẫn sẽ là chủ tịch nước và Ôn Gia Bảo sẽ vẫn tiếp tục làm thủ tướng, giới quan sát muốn qua cuộc bầu bán của quốc hội Trung Cộng để từ đó có thể tiên đoán nhân sự giới lãnh đạo mới của nước này sau khi Hồ và Ôn ra đi. Tuy nhiên sự chú tâm tới Ðại Sảnh Ðường Nhân Dân Trung Cộng ở Thiên An Môn đã gần như biến mất, mọi cặp mắt quan sát đã xoay chiều, đổ dồn tới Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng và các vùng cư dân Tây Tạng ở Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên. Người dân Tây Tạng khắp nơi đang vùng lên chống lại sự chiếm đóng của Trung Cộng đã kéo dài 57 năm.

Dưới sự điều động của Ðặng Tiểu Bình, Chính ủy quân khu Tây Nam, tháng 10 năm 1950, Trung Cộng đã bất chấp pháp luật quốc tế đưa 80 ngàn quân vượt thượng nguồn sông Dương Tử xâm lăng Tây Tạng lúc bấy giờ quân số toàn quốc chỉ có 8000 quân. Với số quân xâm lăng gấp 20 lần, chỉ trong 2 ngày thủ phủ Xương Ðô (Chamdo) của Khương Tạng thất thủ, 4.000 quân, một nửa quân lực toàn quốc bị bắt hay tiêu diệt. Trung Cộng đòi hỏi chính phủ Tây Tạng điều đình. Ngày 27 tháng 5 năm 1951 phái đoàn Tây Tạng đã bị Lý Duy Hán và Trương Kim Vũ ép buộc ký hiệp ước 17 điều chấp nhận sự cai trị của kẻ xâm lược mà không thông báo cho chính phủ Tây Tạng biết, và ngày 9 tháng 9, 5.000 Hồng quân tiến vào Lhasa, tiếp theo 20 ngàn quân từ Khương Tạng (Ðông Tạng) và Tân Cương đổ tới chiếm đóng các thành phố chính Tây Tạng. Trung Cộng gọi hiệp ước cưỡng chiếm là Hiệp ước 17 điều Giải phóng Hoà bình Tây Tạng. Ngày 26 tháng 10 có thể coi là ngày Tây Tạng bị hoàn toàn chiếm đóng. Lúc bấy giờ Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 chỉ mới 15 tuổi.

Vừa muốn áp đặt chủ nghiã Cộng sản vô thần, vừa muốn tiêu diệt sức đối kháng của Khu tự trị Tây Tạng, Trung cộng áp dụng những chính sách nhằm triệt tiêu văn hoá và Phật giáo Tây Tạng, chia cắt, sát nhập nhiều vùng đất vào lãnh thổ tỉnh Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc. Lãnh thổ Tây Tạng trước khi bị chiếm đóng rộng 2.5 triệu cây số vuông. Ngày nay Khu Tự Trị Tây tạng chỉ còn 1.2 triệu cây số vuông. Phẩn nộ trước chính sách Thực dân Cộng sản của Bắc Kinh, phong trào kháng chiến Tây Tạng đã nổi lên. Năm 1956, dân quân Tây Tạng bắt đầu nổi dậy ở các tỉnh Khương và An Ða . Năm 1958, Lực lượng Tình nguyện Bảo vệ Tín Ngưỡng Phật Giáo được thành lập, Hồng quân Trung Cộng thẳng tay đàn áp. Những tu sĩ cao cấp bị mất tích bí ẩn. Tháng 3 năm 1959, bộ tư lệnh của tướng Ðiền Quán Tam mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đi tham dự một buổi văn nghệ của quân đội. Biết đây là âm mưu bắt cóc Ðức Lạt Ma, ngày 10 tháng 3, khoảng 300.000 dân Lhasa đã kéo tới điện mùa hè La Bố Lâm để bảo vệ vị lãnh đạo tinh thần. Quân đội Trung Cộng đã nổ súng, người dân Tây Tạng liều chết để Ðức Lạt Lai Lạt Ma vượt núi chạy qua Ấn Ðộ. Vụ biến động này Trung Cộng đã giết chết hàng trăm ngàn dân Tây Tạng. Một phúc trình của cơ quan tình báo Trung Cộng thú nhận từ tháng 3 đến tháng 10/1959, quân đội và công an cảnh sát Trung Cộng đã giết chết khoảng 87.000 người. Trên 80.000 người khác bỏ nước trốn theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma qua Ấn Ðộ hay các nước khác.

Ngày 10 tháng 3 năm nay, chư tăng Tây Tạng đã nhân ngày tưởng niệm cuộc đứng dậy năm 1959 , quyết định thực hiện một cuộc biểu tình ôn hoà, tuần hành từ thành phố Dharamsala, nơi chính phủ lưu vong đặt bản doanh, đi bộ về Tây Tạng. Tuy nhiên, trước áp lực của Trung Cộng chính phủ Ấn Ðộ ra lệnh không cho ai rời khỏi biên giới quận Kangra. Ðoàn biểu tình rời khỏi Dharamsala khoảng 15 cây số bị chận đứng, cảnh sát Ấn đã bắt hàng trăm người. Sự tức giận của người Tây Tạng đã biến thành những cuộc biểu tình bạo động. Trong ngày Thứ sáu, 14 tháng 3, hàng ngàn người ở Lhasa đã đứng lên, kéo xuống đường đốt xe, đập phá các cửa hàng, cao ốc người Hán, khói bay mù mịt thành phố. Các cuộc biểu tình cũng diễn ra nhiều nơi trên thế giới, từ Tân Ðề Li tới Kathamandu, Luân Ðôn, Sydney, Paris, New Yorkà Người biểu tình ở Úc đã trèo tường hạ lá quốc kỳ ở toà lãnh sự Trung cộng. Ở Tân Ðề Li người biểu tình tấn công, định tràn vào toà đại sứ Trung Cộng. Biểu tình cũng đã lan tới các vùng cư dân Tây Tạng ở tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải. Trong ngày 15 tháng 3, hàng ngàn người tại các thị trấn trong huyện Hạ Hà xuống đường biểu tình bạo động đốt phá văn phòng chính quyền, đánh đập người Hán. Trung Cộng hối hả chở quân và cảnh sát từ Tứ Xuyên, Cam Túc đưa tới Tây Tạng và các vùng cư dân Tây Tạng để sẳn sàng trấn áp. Trong ngày 20, quân đội Trung Cộng đã rào hàng rào kẽm gai chung quanh những khu vực người Tạng trong huyện Hạ Hà. Ở Lhasa , Trung Cộng thiết lập các trạm kiểm soát trên các con đường ra vào thành phố, ra tối hậu thư cho người biểu tình phải ra trình diện. Số người chết ở Lhasa hiện nay chưa rõ. Chính quyền Trung Cộng trong ngày 20 tháng 3 tuyên bố có 13 người chết, 10 người là thường dân và 3 người bạo động chết vì nhảy lầu chạy trốn cảnh sát, 325 người bị thương, thiệt hại vật chất 28 triệu mỹ kim. Chính quyền lưu vong Tây Tạng tuyên bố số người chết được biết đích xác là 99 người, còn hàng trăm người khác chưa biết rõ.

Tưởng cũng nên nhớ cuộc đứng dậy ở Lhasa trong năm 1989, bấy giờ Hồ Cẩm Ðào làm Bí thư khu tự trị Tây Tạng được khen ngợi đã đối phó khéo léo, dập tắt vụ biến động trong hoà bình nhưng họ Hồ đã giết chết khoảng 450 người Tây Tạng và cũng có thể Hồ đã ám sát vị Ban Thiền Lạt Ma lúc bấy giờ. Nhờ dập tắt được cuộc đứng dậy năm 1989, Hồ đã được Ðặng Tiểu Bình, Trần Vân, Lý Tiên Niệm chọn lựa đưa vào Bộ Chính Trị năm 1992 và trở thành người lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Cộng hiện nay. Nếu tình hình biến động ở Lhasa được dẹp yên với số người chết 13 người như chính phủ Trung Cộng vừa tuyên bố, có lẽ Hồ cũng nên đưa Trương Thanh Lê về Bắc Kinh chuẩn bị thay thế cho ông ta thay vì chọn lựa Tập Cận Bình.

Có thể nói cuộc biểu tình diễn ra trong ngày kỷ niệm lần thứ 49 cuộc đứng dậy năm 1959, thay vì 48 hay 50, là một sự chọn lựa thời điểm vô cùng thích hợp, có thể quốc tế hoá sự phản đối đối với Bắc Kinh, làm tiêu tan hy vọng chứng tỏ sự thịnh vượng và xã hội hài hoà của Trung Cộng đối với cộng đồng thế giới qua Thế vận hội Olympics mùa hè 2008.

Ðáng tiếc các cuộc biểu tình đã đi ra ngoài sự kiểm soát biến thành bạo động, điều này cũng đã tạo những phản ứng ngược. Nó đi ngược lại tinh thần Phật Giáo và tinh thần của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14. Tạo cơ hội cho Trung Cộng tránh bớt được sự chỉ trích. Tạo cơ hội cho Chủ tịch khu tự trị Tây Tạng là Hướng Ba Bình Thố lớn tiếng: “..Thật tức giận khi nhóm Ðạt Lai Lạt Ma và một số người Tây Phương đã coi những hành động đánh đập, cướp bóc, đập đổ, đốt phá là biểu tình hoà bình. Trong khi cảnh sát bảo vệ tài sản, sinh mạng, vãn hồi trật tự cho người dân bị gọi là đàn áp và” Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng đã buộc phải lên tiếng đe doạ từ chức lãnh đạo chính phủ lưu vong nếu bạo động không được kiểm soát. Ðáng tiếc! Nếu hàng ngàn dân Lhasa xuống đường biểu tình ngồi, hay tuyệt thực, tuần hành hoà bình cam chịu để cho cảnh sát Trung Cộng ném lựu đạn cay, kéo lên xe, hay nổ súng.. nó đã tạo nên một hình ảnh tâm lý khác thường, một sự phẩn nộ tột bực trên khắp thế giới thay vì đốt xe, đập phá. Nếu các cuộc biểu tình trước các toà lãnh sự Trung Cộng là biểu tình hoà bình thay vì tấn công, hạ cờ, các nước có thể dễ dàng hơn để yểm trợ cho phong trào tranh đấu hay làm lơ trước áp lực Trung Cộng. Sự bạo động chỉ buộc cảnh sát các nước phải phản ứng. Nhận thấy phản ứng ngược, Chủ tịch quốc hội lưu vong Tây Tạng và cũng là Chủ tịch Ủy Ban Ðoàn Kết là ông Karma Choephel ban hành qui luật cho người biểu tình: “Tất cả mọi hoạt động đều hoàn toàn bất bạo động. Người Tây Tạng có thể biểu tình, nhưng các biểu ngữ, khẩu hiệu đều phải do Ủy Ban Ðoàn Kết đưa ra. Người biểu tình có thể tuyệt thực, có thể tuần hành, có thể thắp nến, có thể biểu tình ngồi. Nhưng tuyệt đối không được bạo động.”

Dù đáng tiếc là tinh thần Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã không được nêu cao trong cuộc đứng dậy, nhưng cũng có thể thông cảm được sự phẩn nộ của một dân tộc bị cưỡng chiếm, đang bị Thực Dân Cộng Sản Tàu âm mưu đồng hoá, tiêu diệt chủng tộc và tiêu diệt nền văn hoá ngàn đời. Nếu du khách tới điện Bố Ðạt Lạp, các ngôi thiền viện nổi tiếng Tây Tạng như Tháp Nhĩ Tự, Chùa Ðại Chiêu v.v. sẽ thấy những tên công an ở ngay trong chùa thu tiền du khách, chung quanh là hàng quán người Hán, những tên Lạt Ma người Hán ngồi tụm năm, tụm ba đánh bài, chơi cờ, chốn tôn nghiêm đã bị hoàn toàn phá hoại. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi thế giới điều tra về tội ác tiêu diệt văn hoá Tây Tạng của Trung Cộng. Dân số Tây Tạng trước khi bị xâm lăng ước tính có 6.3 triệu người.

Sau trên nửa thế kỷ, đáng lẽ con số phải tăng lên nhiều lần, gấp 2 hay gấp 3, nhưng theo thống kê của Trung Cộng năm 2000, Tạng dân toàn bộ của vùng tự trị cộng với các vùng ở Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc lại rút xuống còn 5.4 triệu. Theo nhiều tài liệu Tây Phương từ khi chiếm đóng cho tới khi thực hiện Bước Tiến Nhảy Vọt, ở Tây Tạng có khoảng trên 1.2 triệu người chết hay mất tích, nhưng trong số này chỉ 23 ngàn phụ nữ. Dân số Trung Cộng trong năm 1950 khoảng 450 triệu, ngày nay là 1.3 tỷ cho dù đã áp dụng những chính sách hạn chế sinh đẻ khe khắt. Nhiều gia đình đẻ con gái đem giết chết để mong còn có cơ hội sinh con trai theo truyền thống nói dõi tông đường “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” của người Tàu. So sánh sự phát triển dân số dù bị hạn chế ở Trung Cộng với sự sụt giảm dân số Tây Tạng, rõ rệt cho thấy Trung Cộng đã áp dụng chính sách diệt chủng đối với người Tây Tạng.

Chủ trương tranh đấu để được quyền tự trị thực sự của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma và chủ trương tranh đấu ôn hoà của Ngài hiện đang bị thành phần trẻ Tây Tạng ở hải ngoại phản đối. Họ cho rằng chủ trương của Ngài trong mấy chục năm qua đã không đem lại kết quả. Họ có thể có những sự hăng hái, sôi sục, nhưng có thể họ không nghĩ rằng sự tranh đấu bằng hình thức bạo động, hay sẳn sàng đổ máu của họ sẽ đem lại kết quả hay không?

Nhân loại đang sống trong thời đại phát huy dân chủ, nhân quyền, tự do, độc lập dân tộc, hoà bình, thịnh vượng. Tuy nhiên, những sự bất công trên thế giới vẫn còn quá nhiều và công lý chỉ được thi hành với những nước yếu mà không thi hành với nước mạnh hay cứng đầu. Thảm trạng Dafur đang kéo dài, thế giới đã tập trung mọi khả năng để giải quyết vấn đề Dafur, nhưng thế giới không thể nhanh chóng buộc chính phủ Sudan ở Khartoum làm những gì mà thế giới mong muốn. Chiến tranh Trung Ðông kéo dài, nhưng thế giới không thể buộc Do Thái ngưng xây cất các khu định cư trong vùng chiếm đóng Tây Ngạn, hay dỡ bức tường biên giới. Thành phần Hamas cực đoan, khủng bố bắn rocket cả năm mới làm cho một người Do Thái bị thương hay chết, nhưng hàng ngày, người Palestine bị Do Thái giết! Kosovo là đất ngàn đời của Serbia, cái nôi văn hoá của người Serbs, người Albania di cư lâu đời ở trên đất Kosovo, chiếm 90% dân số đi nữa việc, nhưng chiếm vùng đất phát sinh dân tộc và văn hoá của Serb làm quốc gia của mình, hình như có cái gì cũng rất bất công, nhưng đã được Hoa Kỳ và Liên Âu mạnh mẽ ủng hộ, khuyến khích.

Ðau thay! Tây Tạng là một nước có từ ngàn năm, một dân tộc có lãnh thổ bị cưỡng chiếm, thế giới chỉ ủng hộ Tây Tạng Tự Trị mà không dám nói tới chữ “Ðộc Lập”. Lên tiếng kêu gọi Trung Cộng tự chế, Thủ tướng Ðức, Thủ tướng Úc đã phải thưà thải xác định chỉ ủng hộ Tây Tạng tự trị và kêu gọi Bắc Kinh, đối thoại với chính phủ lưu vong Tây Tạng.
Qua lịch sử, Tây Tạng đã từng là một quốc gia hùng mạnh. Ðời nhà Ðường, vua Tây Tạng với quốc hiệu Thổ Phồn là Khí Tông Lộng Tán hay còn gọi là Tùng Tán Can Bố (Songtsần Gampo) đã đem binh tới tận Trường An, buộc Ðường Thái Tông Lý Thế Dân phải gả Văn Thành công chúa cho ông ta. Cuộc hôn nhân giữa ông vua được lịch sử diễn tả rất đẹp trai, tài cán phi thường với cô công chuá Ðường Trào và Công chúa nước Nepal là Ba Lợi Khố Cơ (Bhrikuti) đều là 2 người sùng đạo Phật đã biến ông vua hiếu chiến thành một người sùng đạo, và được coi là vị vua đầu tiên mở mang Phật Giáo ở Tây Tạng. Cuộc hôn nhân giữa vua Khí Tông Lộng Tán và hai công chúa nhà Ðường và Nepal đã để lại những di tích lịch sử nổi tiếng cho tới ngày nay như điện Bố Ðạt Lạp (Potala), Ðại Chiêu Tự (Jokhang)…

Ðến đời Ðường Trung Tông, vua Ðường còn gả công chuá Kim Thành cho vua Khí Lệ Súc Tán. Trong suốt đời Tống, nước Tàu phải đối địch với nước Liêu, Tây Hạ, nước Kim không có liên hệ gì với Tây Tạng. Ðến đời nhà Nguyên, theo nạn chung, Tây Tạng bị Mông Cổ xâm chiếm, nhưng Tây Tạng vẫn là một bộ tự trị, Thành Cát Tư Hãn không đặt quan cai trị, mà còn nhờ những vị cao tăng Tây Tạng giúp Mông Cổ chế ra chữ viết, nhà sư Phát Tư Ba được Hốt Tất Liệt phong làm quốc sư, Ðại Bảo Pháp Sư Mông Cổ kiêm Pháp Vương và Tạng Vương Tây Tạng. Vào thời Minh, Tây Tạng vẫn tiếp tục là nước độc lập. Vào thời nhà Thanh, Tây Tạng gặp loạn Tang Kiết, bị quân Mông Cổ của Cát Nhĩ Ðan xâm chiếm, Khang Hy cử quân can thiệp nhưng vẫn không đặt quan cai trị. Trong thời Khang Hy và Ung Chánh, nhà Thanh đã sáp nhập vùng đất Khương Tạng và An Ða hay Ðường Tạng vào lãnh thổ nhà Thanh, nhưng Tây Tạng vẫn do Ðạt Lai và Ban Thiền Lạt Ma cai quản. Mãi tới đời Càn Long sau khi sai Phúc Khang An và Tôn Sĩ Nghị đưa quân đánh đuổi cuộc xâm lăng của Khuyếch Nhĩ Khách (Gurkha), Càn Long mới đặt vị Trú Tạng Ðại Thần đứng ngang hàng với hai vị Ðạt Lai và Ban Thiền trông coi chính sách Tây Tạng. Nhà Thanh suy vi, ngày 14 tháng 2 năm 1913, Ðạt Lai Lạt Ma thứ 13 tuyên bố Tây Tạng độc lập.

Qua lịch sử cho thấy Tây Tạng chưa bao giờ là một phần lãnh thổ Trung Hoa. Khi bị Trung Cộng đe doạ chính quyền Tây Tạng cầu cứu Liên Hiệp Quốc trong năm 1949, Anh và Ấn Ðộ chủ trương không can thiệp, nhưng đa số các nước trên thế giới đều nói rằng đây cuộc xâm lược trắng trợn. Qua các cuộc tranh luận ở Liên Hiệp Quốc nhiều nước nói rằng qua lịch sử mấy ngàn năm, Tây Tạng là nước độc lập, tự do nhiều hơn đa số các nước trong Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên, công lý không tuyệt đối áp dụng với nước mạnh. Ðó là lý do vì sao các nước Tây Phương tự hào là những nước bảo vệ công lý thì nhiều nước đã ngại ngùng tiếp kiến Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, sợ mích lòng Trung Cộng, và sự ủng hộ của họ cũng chỉ là Tây Tạng được tự trị rộng rãi hơn, thay vì nói đến hai chữ Ðộc Lập.

Trong tình trạng thế giới như vậy, thực tế kẻ thù sẳn sàng áp dụng những biện pháp sắt máu để đàn áp, cuộc tranh đấu của người Tây Tạng cần phải chinh phục nhân tâm thế giới, làm cho tranh đấu có thể đạt từng bước nhỏ, buộc kẻ xâm lược vì dư luận quốc tế phải nhượng bộ phần nào và chờ đợi thời cơ thuận tiện, hơn là muốn bùng lên rồi bị dập tắt như bao lần trước đây.

Tinh thần tranh đấu hoà bình và chỉ khiêm nhường đòi “tự trị” của Ðức Lạt Lai Lạt Ma thứ 14, người viết nghĩ rằng ngoài tinh thần đạo pháp cao siêu, Ngài còn có nhãn quan thực tế của một nhà chính trị lỗi lạc. Hy vọng rằng người Tây Tạng khắp nơi trong nước và hải ngoại sẽ tiếp tục đi theo con đường vị lãnh đạo tinh thần của mình hướng dẫn, hơn là nông nổi như những ngày qua. Nhu thắng cương, nhược thắng cường vẫn là chiến thuật vô cùng hữu hiệu. Hiện nay, nước Tàu là một nước mạnh, nhưng đang trở thành một nước tham nhũng, con người chỉ biết tới tiền, mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn điạ phương gia tăng, một ngày nào đó lá quốc kỳ đỏ có năm ngôi sao đại điện cho: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng cũng sẽ bị xé nát hay tan nát.Huệ Vũ


 Phần Phụ Chú của TinParis trích từ Wikipédia
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%95-%C4%91an_Gia-m%E1%BB%A5c-th%E1%BB%91


Đạt-lại Lạt-ma là phiên âm Hán Việt từ chữ Hán 達賴喇嘛. “Đạt-lại” có gốc từ tiếng Mông Cổ nghĩa là “biển cả” còn “Lạt-ma” là từ tiếng Tây Tạng được dịch từ tiếng Phạn guru  là từ xưng hô dành cho các vị Đạo sư. “Đạt-lại Lạt-ma” có nghĩa là “Đạo sư với trí huệ như biển cả”. Trong lối dùng hàng ngày nhiều người còn dùng Phật sống để chỉ Đạt-lại Lạt-ma.

Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma được vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách-lỗ (hay Hoàng giáo) vào năm 1578. Kể từ 1617, Đạt-lại Lạt-ma thứ 5 trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng. Kể từ đó, người Tây Tạng xem Đạt-lại Lạt-ma là hiện thân của Quán Thế Âm và Ban-thiền Lạt-ma là người phụ chính. Mỗi một Đạt-lại Lạt-ma được xem là tái sinh của vị trước. Vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 6 có trình độ học thuật rất cao thâm và cũng là một nhà thơ.
Trái với quan điểm thông thường, Đạt-lại Lạt-ma không phải là người lãnh đạo tinh thần cao nhất của trường phái Cách-lỗ, địa vị này có tên là Ganden Tripa.

Vị Đạt-lại Lạt-ma hiện nay là vị thứ 14, sống lưu vong tại Ấn Độ từ 1959 đến nay. Sư được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989, đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc hiện nay trên thế giới. Các tác phẩm Sư viết trình bày Phật giáo Tây Tạng và Phật pháp nói chung được rất nhiều người đọc kể cả người trong các nước Tây phương

Thubten Gyatso (sinh 12 tháng 2, 1876; mất 17 tháng 12, 1933) là vị Dalai Lama thứ 13 của Tibet. Ông là một nhà cải cách thông minh người đã chứng tỏ là một chính trị gia khéo léo khi Tây Tạng trở thành một con tốt trong trò chơi lớn giữa Đế quốc Nga, nhà Thanh của Trung Quốc, và đế quốc Anh. Ông là người chịu trách nhiệm chống trả cuộc xâm lược Tây Tạng của Anh, khôi phục kỉ luật trong đời sống các tu viện, và tăng cường số lượng viên chức không phải là tăng lữ để tránh việc tập trung quyền lực vào tay các nhà sư.

Pháp luật được ban hành để chống lại nạn tham nhũng của các quan lại, một hệ thống thuế quốc gia được thiết lập, và một lực lượng cảnh sát được thiết lập. Như là kết quả của việc ông liên lạc với các thế lực nước ngoài và đại diện của họ (ví dụ như Pyotr Kozlov và Gustaf Mannerheim), vị Dalai Lama đã chứng tỏ sự quan tâm đến tình hình thế giới và đã giới thiệu điện năng, điện thoại và xe hơi đầu tiên vào Tibet. Tuy nhiên, vào lúc cuối đời vào năm 1933, ông thấy Tibet đang chuẩn bị bước vào một giai đoạn đen tối.

Hơn nữa, vị Dalai Lama thứ 13 tiếp tục dự đoán Tibet sẽ bị xâm lăng và tuyên bố rằng ông sẽ chết sớm, để người kế vị ông đủ khôn lớn và hành xử như một nhà lãnh đạo khi cuộc xâm lăng xảy ra. Ông qua đời vài tháng sau đó

  • Vị Dalai Lama thứ 13 đã dự đoán trước lúc lâm chung:
“Very soon in this land (with a harmonious blend of religion and politics) deceptive acts may occur from without and within. At that time, if we do not dare to protect our territory, our spiritual personalities including the Victorious Father and Son (Dalai Lama and Panchen Lama) may be exterminated without trace, the property and authority of our Lakangs (residences of reincarnated lamas) and monks may be taken away. Moreover, our political system, developed by the Three Great Dharma Kings (Tri Songtsen Gampo, Tri Songdetsen and Tri Ralpachen) will vanish without anything remaining. The property of all people, high and low, will be seized and the people forced to become slaves. All living beings will have to endure endless days of suffering and will be stricken with fear. Such a time will come.”“Sẽ không lâu sau trên đất nước này (nơi tôn giáo hài hòa với chính trị) các hành động lừa dối sẽ xảy ra từ bên ngoài và bên trong. Vào thời điểm đó, nếu chúng ta không đủ can đảm để bảo vệ lãnh thổ, những lãnh tụ tinh thần của chúng ta bao gồm Dalai Lama và Panchen Lama sẽ bị tiêu diệt không còn lại dấu vết, tài sản và quyền hành của các Lakang (nơi ở của các hóa thân của các Lama) của chúng ta sẽ bị tịch thu. Hơn thế nữa, hệ thống chính trị của chúng ta, phát triển bởi Ba vị Tiên đế vĩ đại ((Tri Songtsen Gampo, Tri Songdetsen và Tri Ralpachen) sẽ biến mất với không một dấu vết để lại. Tài sản của tất cả mọi người, cao cũng như thấp, sẽ bị tịch thu và nhân dân sẽ bị buộc trở thành nô lệ. Tất cả những người và sinh vật sống sẽ trải qua những chuỗi ngày triền miên trong khổ nhọc và run sợ. Sẽ có một thời gian như vậy
 http://www.tinparis.net/vn_index.html
Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: