Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 3, 2008

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH XÂM PHẠM QUYỀN CON NGƯỜI

bitmat.jpghttp://blog.360.yahoo.com/blog-FuoEs40yd6RRny_PYSPvm1VnOVpUuw–?cq=1&p=1300

Website Chính phủ Việt Nam vừa đăng tải Dự thảo Nghị định “Quy định xử phạt hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” cho nhân dân góp ý (xem toàn văn bản dự thảo tại đây); bên cạnh những điểm tích cực của dự thảo, tôi đề nghị ban soạn thảo nên bỏ, hoặc sửa đổi những điều khoản sau:

(xem toàn văn bản dự thảo tại đây)

1. Căn cứ ban hành Nghị định trái với Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

Mở đầu dự thảo, phần viện dẫn các căn cứ pháp luật để làm cơ sở cho việc ban hành Nghị định “Quy định xử phạt hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” (gọi tắt là Nghị định xử phạt) này làCăn cứ Nghị định số …/2008/NĐ-CP ngày …/…/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” (gọi tắt là Nghị định quản lý), tôi đặc biệt nhấn mạnh vào chổ Nghị định quản lý này không số, không ngày tháng, năm ban hành là 2008, chứng tỏ Nghị định này chưa hề tồn tại trong thực tế.

Có thể hiệu rằng Nghị định quản lý là cái định khung, đề ra một chuẩn mực, một giới hạn để cho công dân theo đó mà tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp quy định pháp luật. Nếu cá nhân nào vượt quá giới hạn chuẩn mực đó sẽ bị các chế tài pháp luật điều chỉnh.

Trong trường hợp này, Nghị định quản lý còn chưa hình thành, chưa ra đời, chưa có hiệu lực… nhưng người ta đã vội vàng muốn xử phạt người dân bằng cách quy cho họ đã vi phạm vào một cái chuẩn… chưa có? Do đó, đã vi phạm vào Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tức vi phạm nguyên tắc văn bản ban hành phải hợp pháp, dùng một văn bản pháp luật chưa ra đời để làm căn cứ ban hành một văn bản pháp luật mới là không hợp pháp..

2. Quy định trái với Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự và Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền:

Khoản 2 Điều 9 dự thảo Nghị định xử phạt quy định:

“Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Khái niệm “thẩm quyền” có nghĩa là quyền xem xét, quyết định một vấn đề nào đó về mặt hành chính (thẩm quyền xét xử của toà án) hoặc tư cách về chuyên môn để xem xét, quyết định (người có thẩm quyền khoa học).

Có nhiều loại thẩm quyền, ví dụ các thẩm quyền chung là: thẩm quyền lập pháp, thẩm quyền tư pháp, thẩm quyền hành pháp; chia nhỏ ra lại có: thẩm quyền điều tra, thẩm quyền xét xử, thẩm quyền truy tố, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính…

Theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, riêng thẩm quyền điều tra đã bao gồm rất nhiều cơ quan là: Bộ Công an, Viện kiểm sát, Bộ Quốc phòng, và các lực lượng được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển;

Dự thảo Nghị định xử phạt này được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị lên Thủ tướng Chính phủ, chắc chắn Bộ Thông tin và Truyền thông cũng liệt mình vào hàng “cơ quan có thẩm quyền” chớ không thể đứng ngoài.

Chỉ riêng việc “cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ” cũng có quá nhiều “cơ quan có thẩm quyền” có quyền yêu cầu theo kiểu “mật ít ruồi nhiều”, ai cũng tự cho mình là “cơ quan có thẩm quyền” cả, gây ra tình trạng lộn xộn, rối ren, dễ dàng dẫn đến việc cán bộ lạm quyền để sách nhiễu, gây khó khăn cho người sử dụng.

Điều 73 Hiến pháp quy định: Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật”.

Điều 8 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định về: Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân như sau:

“Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện tín, khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của Bộ luật này”.

Việc đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ Internet phải cung cấp thông tin cá nhân của người sử dụng không theo trình tự quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự cũng là trái với Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tức vi phạm nguyên tắc văn bản ban hành phải hợp pháp, Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”, xét về thứ tự thì BLTTHS do Quốc Hội ban hành có giá trị pháp lý cao hơn Nghị định nên Nghị định phải phù hợp, thống nhất với Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh.

Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền quy định: Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm như vậy. Như vậy, Khoản 2 Điều 9 dự thảo Nghị định xử phạt cũng vi phạm vào luật pháp quốc tế, đi ngược lại xu hướng hội nhập của Việt Nam.

Tôi đề nghị Ban soạn thảo nên bỏ khoản 2 Điều 9 dự thảo Nghị định xử phạt này.

3. Điều khoản mù mờ, trái Luật, trái Hiến pháp:

Điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định xử phạt quy định:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Truy nhập nhiều lần vào trang thông tin điện tử có một trong những nội dung: gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá Việt Nam;”

Khái niệm “truy nhập” (truy cập) tương đương với từ Access ở tiếng Anh, là một hành động khi người sử dụng cố gắng tiếp cận với dịch vụ cụ thể trên hệ thống internet. Ví dụ khi ta muốn đọc báo, thì ta phải “truy cập” vào trang web của báo, ta muốn vô blog thì phải “truy cập” vô trang blog. Cũng theo cách hiểu thông thường, số lượng từ 2 đơn vị trở lên được gọi là số nhiều. Như vậy, bao nhiêu lần thì được xem là “nhiều lần”? 2 lần có phải là “nhiều lần”?

Như thế nào là một trang thông tin điện tử “gây phương hại đến an ninh quốc gia”? “gây phương hại đến trật tự xã hội”? “Vi phạm thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá Việt Nam”? Những trang báo nhưng có kèm theo hình ảnh các panô quảng cáo, hay giới thiệu chuyên đề “người đẹp thể thao” ăn mặc kiểu “thừa da thiếu vải” khác với truyền thống “ăn chắc mặc dày” của người Việt xưa thì có bị coi là trái với “bản sắc văn hóa Việt Nam”? Như thế nào là kín mà như thế nào là hở, hở bao nhiêu là vừa? Hoặc nam nữ hôn nhau trên phim bao nhiêu phút thì không bị coi là “Vi phạm thuần phong mỹ tục”??? v.v… v.v…

Cơ quan, tổ chức nào có quyền quy định các chuẩn mực này? Cơ quan, tổ chức đó căn cứ vào cơ sở khoa học nào để định ra các quy chuẩn này? Khi mà những chuẩn mực quy phạm đó còn chưa định hình, chưa có thì dự thảo Nghị định này căn cứ vào đâu để cho rằng có hành vi vi phạm xảy ra? Quy định chung chung, mù mờ như thế chẳng khác nào tạo điều kiện nhập nhằng, rối rắm để cán bộ lợi dụng biến pháp luật thành công cụ nhũng nhiễu dân lành.

Ngay cả Bộ Luật Hình Sự cũng không coi hành vi xem đĩa CD, phim video, tranh ảnh, sách báo khiêu dâm, trụy lạc là phạm tội thì chẳng có lý do gì để cho rằng người ta vi phạm khi lướt web. Đọc quy định này của dự thảo, tôi có cảm nghĩ ban dự thảo chắc chẳng khi nào biết cầm con chuột máy vi tính lướt web để tìm kiếm thông tin?

Điều 69 Hiến pháp Việt Nam quy định:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Khoản 2, khoản 7, Điều 5 Luật Công nghệ thông tin quy định:

“Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu”; “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin”;

Việc người dùng truy cập vào bất cứ một trang thông tin điện tử nào đó là người dùng đang thực hiện quyền tìm kiếm thông tin, thực hiện quyền được thông tin do Hiến pháp quy định; không ai có quyền đặt ra những quy định khác trái với Hiến pháp để hạn chế quyền công dân của người khác.

Mặt khác, tại Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền ghi nhận: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bầy tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới”.

Có thể thấy điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định xử phạt trái với Hiến pháp, trái với Luật Công nghệ thông tin, nên cũng trái với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trái với tinh thần chung của luật pháp quốc tế. Do đó, tôi đề nghị Ban soạn thảo nên bỏ điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định xử phạt này.

4. Quy định không khả thi, gây lãng phí, tốn kém, trái với Hiến pháp:

Điểm c khoản 3 Điều 13 dự thảo Nghị định quy định:

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

c) Sử dụng địa chỉ Internet hoặc số hiệu mạng trực tiếp từ các tổ chức quốc tế khi chưa được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép”.

Theo giải thích của một chuyên viên IT đang làm việc cho một Công ty nước ngoài tại Việt Nam thì khái niệm “địa chỉ Internet” thông thường được hiểu theo 2 nghĩa, đó là địa chỉ IP và địa chỉ URL, 2 địa chỉ này về bản chất chỉ:

a. Địa chỉ IP: bao gồm 4 dãy số, ví dụ: 203.162.4.1 là 1 địa chỉ IP, nếu địa chỉ URL của nó sẽ là hcm-server1.vnn.vn

b. Địa chỉ URL: ví dụ: http://360.yahoo.com, địa chỉ IP của nó sẽ là: 216.252.106.238

Nôm na nó giống như tên của người và số giấy chứng minh nhân dân, cả 2 đều chỉ về 1 người, cho dễ nhớ vậy.

Do đó, địa chỉ http://360.yahoo.com/ta.phongtan (tức địa chỉ blog cá nhân của tôi) thì rõ ràng là 1 địa chỉ internet dạng Tên.

Như vậy, theo quy định của dự thảo Nghị định này, nếu tôi muốn sử dụng địa chỉ blog cá nhân của tôi, hoặc ai đó muốn xem blog của tôi… cũng đều phải “được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép”.

Theo trang Điểm tin Thương mại điện tử (tuần từ 16/ đến 21/4/2007) của Bộ Thương mại, ghi nhận: “trong ba tháng đầu năm nay, theo số liệu của Trung tâm Internet VN (VNNIC), số lượng người sử dụng Internet ở VN đã tăng từ khoảng 12,2 triệu người lên hơn 15,1 triệu người (tăng 24%), chiếm khoảng 18% dân số cả nước”.

Con số 15,1 triệu người sử dụng Internet ở Việt Nam nói trên là thống kê chưa đầy đủ của 6 tháng đầu năm 2007, bình quân tăng 3 triệu người dùng Internet/năm. Hiện nay đã hết quý 1 năm 2008, vậy đến khi Nghị định này được thông qua và có hiệu lực thi hành, lượng người dùng Internet chắc chắn không dừng lại ở con số 20 triệu người. Vậy Bộ Thông tin và Truyền thông dự định sẽ duyệt bao nhiêu đơn xin và cấp giấy phép sử dụng địa chỉ Internet cho bao nhiêu triệu người?

Rõ ràng, quy định này của dự thảo Nghị định không những không có tính khả thi, gây lãng phí, tốn kém thời gian, tiền bạc cho nhiều người mà còn vi phạm nghiêm trọng vào Điều 69 Hiến pháp và Điều 5 Luật Công nghệ thông tin; tôi đề nghị ban soạn thảo cũng nên loại bỏ điểm c khoản 3 Điều 13 dự thảo Nghị định này.

* * *

Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết “Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này”.

Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1977, hiện nay còn là tư cách thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Việt Nam càng phải có nghĩa vụ thực thi và luật hóa nghiêm những điều khoản của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền, cũng như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà chính quyền Việt Nam đã ký kết ngày 24/9/1982.

Ngày 13-3, trả lời câu hỏi của phóng viên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng nhấn mạnh:

“Trong những năm qua, VN đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc bảo đảm và phát huy ngày càng tốt hơn các quyền tự do của người dân trong mọi lĩnh vực, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin.

Nhà nước VN luôn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân”.

Vậy thì không có lý do gì, Chính phủ Việt Nam lại ban hành một Nghị định xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của công dân, trái với các quy định của hệ thống luật pháp Việt Nam hiện hành và trái chuẩn mực luật pháp quốc tế.

Tạ Phong Tần

_____________________________________________________________________

 

CHÍNH PHỦ

________

Số :     /2008/NĐ-CP

 Dự thảo:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_______________________________________

Hà Nội, ngày      tháng     năm 2008

NGHỊ ĐỊNH

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

_____

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;

Căn cứ Luật Báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12 tháng 06 năm 1999;

Căn cứ Luật Xuất bản ngày 14 tháng 12 năm 2004;

Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002;

Căn cứ Nghị định số …/2008/NĐ-CP ngày …/…/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

2. Vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet quy định tại Chương II Nghị định này là hành vi của tổ chức, cá nhân cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

3. Các hành vi vi phạm hành chính trong việc cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành khác trên Internet thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet trong phạm vi lãnh thổ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam thì bị xử phạt hành chính như tổ chức, cá nhân Việt Nam. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.

2. Người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì xử lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 và Điều 7 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002.

Điều 3. Nguyên tắc xử phạt    

1. Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet phải do người có thẩm quyền quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định này tiến hành theo đúng quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

2. Mọi hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet khi được phát hiện phải đình chỉ ngay. Việc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

3. Một hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet chỉ bị xử phạt một lần. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.

4. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính để quyết định hình thức, biện pháp, mức xử phạt thích hợp.

5. Không xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Điều 4. Thời hiệu xử phạt

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet là một năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện.

Đối với hành vi vi phạm quy định về giá, phí, lệ phí, xuất nhập khẩu, sở hữu trí tuệ trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện.

2. Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt vi phạm hành chính; trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 03 tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.

3. Quá thời hạn nêu tại các khoản 1 và 2 Điều này thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này.

4. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và 2 Điều này nếu tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

Điều 5. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

c) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam.

3. Ngoài các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung nêu trên, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm có liên quan tới quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

d) Buộc tiêu hủy vật phẩm hoặc xóa bỏ nội dung thông tin điện tử trên Internet gây hại cho tinh thần, sức khỏe con người, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, có nội dung độc hại;

đ) Thu hồi hoặc buộc hoàn trả kinh phí chiếm dụng, thu sai, chi sai;

e) Thu hồi tên miền, địa chỉ Internet, số hiệu mạng.

Chương II

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH, HÌNH THỨC

VÀ MỨC XỬ PHẠT

Điều 6. Vi phạm các qui định về giấy phép

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng quá hạn đến 30 ngày giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử;

b) Không làm thủ tục cấp lại khi giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử bị mất hoặc bị hư hỏng;

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sửa chữa, tẩy xoá làm thay đổi nội dung giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử;

b) Kê khai thông tin không trung thực để được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ Internet hoặc giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn giấy phép trên 30 ngày.

4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối hành vi không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn trên 30 ngày giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thiết lập hệ thống thiết bị để cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn giấy phép cung cấp dịch vụ Internet trên 30 ngày;

b) Xuất bản báo điện tử không có giấy phép hoặc sử dụng quá hạn giấy phép trên 30 ngày.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép không thời hạn đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại khoản 3, 4, và 5 Điều này.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, 4 và 5 Điều này.

Điều 7. Vi phạm các quy định về thiết lập mạng Internet dùng riêng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định trong giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng;

b) Chủ mạng Internet dùng riêng cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của mạng;

c) Chủ mạng Internet dùng riêng không dừng cung cấp dịch vụ truy nhập Internet khi phát hiện thấy thành viên của mạng vi phạm Điều 6 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc theo văn bản yêu cầu  của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi các mạng Internet dùng riêng kết nối trực tiếp với nhau.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép từ 30 ngày đến 90 ngày đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều này;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại điểm khoản 1, 2 Điều này.

Điều 8. Vi phạm các quy định về cung cấp dịch vụ Internet

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến  10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Ngừng hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ Internet mà không thông báo cho người sử dụng dịch vụ Internet biết trước, trừ trường hợp bất khả kháng;

b) Từ chối cung cấp dịch vụ Internet khi không có lý do chính đáng;

c) Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet;

d) Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng không cung cấp đường truyền dẫn viễn thông hoặc không phân tách mạch vòng nội hạt cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khi được yêu cầu mà không có lý do chính đáng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không ban hành hợp đồng mẫu để thực hiện thống nhất trong toàn doanh nghiệp;

b) Không chấm dứt cung cấp dịch vụ Internet đối với người sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không thiết lập đường truyền dẫn kết nối đến trạm trung chuyển Internet quốc gia đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đồng thời là doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng.

4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thông báo hoặc thông báo không đúng quy định thời điểm bắt đầu chính thức cung cấp dịch vụ và kế hoạch triển khai cung cấp dịch vụ cho Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Bộ Công an;

b) Thiết lập hệ thống thiết bị để cung cấp các dịch vụ Internet cho công cộng không đúng theo quy định của giấy phép.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tước quyền sử dụng giấy phép từ 30 ngày đến 90 ngày đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 4 Điều này.

Điều 9. Vi phạm các quy định về cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không xây dựng quy chế cung cấp, sử dụng và trao đổi thông tin theo quy định;

b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy chế cung cấp, sử dụng và trao đổi thông tin do doanh nghiệp tự ban hành.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ  theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến khi chưa có thông báo của Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận về việc đã nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ.

4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện việc ngăn chặn và loại bỏ các nội dung thông tin vi phạm quy định tại Điều 6 của Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 10. Vi phạm các quy định về sử dụng dịch vụ Internet

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng hoặc hướng dẫn người khác sử dụng các dịch vụ Internet bị cấm theo quy định của pháp luật;

b) Truy nhập nhiều lần vào trang thông tin điện tử có một trong những nội dung: gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá Việt Nam;

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng Internet để truyền bá các thông tin, hình ảnh đồi trụy, hoặc những thông tin khác trái với quy định của pháp luật về nội dung thông tin trên Internet, mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1; khoản 2 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xóa bỏ các thông tin đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 11. Vi phạm các quy định về đại lý Internet

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi không niêm yết hoặc niêm yết không đầy đủ nội qui sử dụng dịch vụ Internet tại địa điểm cung cấp dịch vụ được qui định tại khoản 5 Điều 15 của Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

b) Không ký hợp đồng đại lý với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không bảo đảm các quy định, tiêu chuẩn về phòng cháy, chữa cháy; vệ sinh môi trường nhằm bảo vệ an toàn và sức khỏe cho người sử dụng dịch vụ;

b) Hệ thống thiết bị Internet không đáp ứng các yêu cầu về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin theo quy định;

c) Thiết lập hệ thống thiết bị Internet ngoài địa điểm đã đăng ký theo hợp đồng để làm đại lý Internet ;

d) Mở cửa cho khách hàng sử dụng dịch vụ ngoài giờ quy định.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cho phép sử dụng dịch vụ khi người sử dụng vi phạm Điều 6 Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

Điều 12. Vi phạm các quy định về tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp dịch vụ Internet không thuộc danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng nhưng không tự công bố chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng trên trang tin điện tử của doanh nghiệp;

b) Công bố hoặc tự công bố chất lượng dịch vụ không đúng thời hạn theo quy định;

c) Công bố trên trang tin điện tử của doanh nghiệp hoặc niêm yết tại các điểm giao dịch không đúng với Bản công bố chất lượng dịch vụ và Danh mục các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ trong hồ sơ công bố chất lượng dịch vụ đã gửi cơ quan quản lý nhà nước;

d) Chậm ban hành quy chế tự kiểm tra hoặc quy chế tự giám sát chất lượng dịch vụ theo quy định;

đ) Chậm thực hiện việc tự kiểm tra hoặc tự giám sát theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

e) Không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ văn bản kết quả giám sát, các số liệu giám sát trong thời hạn hai (02) năm kể từ ngày lập kết quả giám sát;

f) Không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ văn bản kết quả kiểm tra, đo kiểm, đánh giá, các số liệu xây dựng kết quả kiểm tra, số liệu đo kiểm, đánh giá ít nhất là hai (02) năm kể từ ngày lập kết quả kiểm tra, số liệu đo kiểm, đánh giá.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không công bố trên trang tin điện tử hoặc niêm yết tại các điểm giao dịch của doanh nghiệp Bản công bố chất lượng dịch vụ và danh mục các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ của các dịch vụ Internet thuộc danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng;

b) Không ban hành quy chế tự kiểm tra hoặc quy chế tự giám sát chất lượng dịch vụ theo quy định;

c) Không thực hiện việc tự kiểm tra hoặc tự giám sát chất lượng dịch vụ theo quy định;

d) Không thực hiện giám sát chất lượng dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

e) Thực hiện việc tự kiểm tra hoặc giám sát chất lượng dịch vụ không đúng với quy định hoặc không đúng với yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp dịch vụ Internet thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng nhưng không có Bản công bố chất lượng dịch vụ;

b) Cung cấp dịch vụ Internet có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng dịch vụ đã công bố hoặc tự công bố.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 13. Vi phạm các quy định về tài nguyên Internet

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Sử dụng tên miền cấp cao khác tên miền “.vn” không thông báo hoặc thông báo thông tin không chính xác hoặc thay đổi thông tin mà không thông báo cho cơ quan quản lý tài nguyên Internet Việt Nam;

b) Không ký hợp đồng với Trung tâm Internet Việt Nam khi cung cấp tên miền ”.vn”.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử khi cấp tên miền quốc gia “.vn”.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan Đảng, Nhà nước không sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” hoặc không lưu trữ trong các máy chủ có địa chỉ IP ở Việt Nam;

b) Sử dụng tên miền để truyền bá các thông tin trái với quy định của pháp luật;

c) Sử dụng địa chỉ Internet hoặc số hiệu mạng trực tiếp từ các tổ chức quốc tế khi chưa được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép;

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký hoạt động với Bộ Thông tin và Truyền thông khi làm đại lý cho các tổ chức cung cấp tên miền quốc tế ở nước ngoài.

5. Đối với hành vi vi phạm khác về tài nguyên Internet áp dụng theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Công nghệ thông tin.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Thu hồi tên miền đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

b) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động cung cấp tên miền đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này.

Điều 14. Vi phạm các quy định về giá, cước, phí, lệ phí

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo giá cước theo quy định.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký giá cước theo quy định.

3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet thu cước không đúng với mức giá cước đã công bố.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không ban hành hoặc ban hành quyết định giá cước dịch vụ Internet không đúng thẩm quyền.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet không hạch toán riêng dịch vụ Internet;

b) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet không xác định giá thành dịch vụ Internet theo quy định.

6. Đối với hành vi niêm yết và các hành vi vi phạm khác về giá cước trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet áp dụng theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá.

7. Đối với hành vi vi phạm về phí, lệ phí trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet áp dụng theo quy định tại Nghị định Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí.

8. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Thu hồi số tiền đã thu sai đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 15. Vi phạm các quy định về trang thông tin điện tử tổng hợp, phát hành báo điện tử, xuất bản trên mạng Internet

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đưa sản phẩm quảng cáo lên Internet nhưng không gửi trước sản phẩm quảng cáo đến cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo theo quy định.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đưa lên Internet các xuất bản phẩm chưa được phép lưu hành;

b) Đưa lên Internet các tác phẩm văn học, nghệ thuật mà không được sự đồng ý của tác giả.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo hàng hoá, dịch vụ thuộc loại cấm quảng cáo trên Internet.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định trong giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp hoặc giấy phép xuất bản báo điện tử.

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi đăng nội dung không được phép thông tin nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xóa bỏ nội dung thông tin điện tử trên Internet đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này.

Điều 16. Vi phạm các quy định an toàn, an ninh thông tin

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đánh cắp mật khẩu hoặc khoá mật mã hoặc thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác;

b) Sử dụng trái phép mật khẩu hoặc khoá mật mã hoặc thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác;

c) Phổ biến mật khẩu hoặc khoá mật mã hoặc thông tin riêng của tổ chức, cá nhân bị đánh cắp.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không triển khai hoặc triển khai không đầy đủ các trang thiết bị và phương án kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm an toàn mạng lưới và an ninh thông tin theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Không dừng cung cấp dịch vụ khi thiết bị truy nhập đầu cuối gây mất an toàn cho hệ thống thiết bị Internet;

c) Vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng máy tính gây rối loạn hoạt động, phong toả hoặc làm biến dạng, làm huỷ hoại các dữ liệu trên Internet mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng không phối hợp hoặc phối hợp không đầy đủ với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và điều tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động Internet.

4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện các nhiệm vụ khẩn cấp hoặc các nhiệm vụ công ích do cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a, b khoản 1; điểm c khoản 2 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; điểm c khoản 2 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều này.

Điều 17. Vi phạm các quy định về việc cung cấp, sử dụng thông tin tài liệu mật

Đối với hành vi vi phạm các quy định về việc cung cấp, sử dụng thông tin, tài liệu mật trên môi trường mạng áp dụng theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Công nghệ thông tin.

Điều 18. Vi phạm các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không hướng dẫn hoặc không cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ cho khách hàng; 

b) Không giải quyết khiếu nại của khách hàng về giá cước hoặc chất lượng dịch vụ;

c) Không ban hành quy trình giải quyết khiếu nại liên quan đến dịch vụ Internet;

d)Không niêm yết công khai quy trình giải quyết khiếu nại liên quan đến dịch vụ Internet tại các điểm giao dịch;

đ) Giải quyết  khiếu nại liên quan đến dịch vụ Internet không đảm bảo thời gian theo quy định;

e) Không cung cấp tên, địa chỉ, số máy điện thoại và thời gian truy nhập của thuê bao viễn thông truy nhập Internet để phục vụ việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc sử dụng trái phép dịch vụ Internet.

Điều 19. Vi phạm các quy định về chế độ báo cáo 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi chậm báo cáo theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo không đầy đủ theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo không đúng theo quy định hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 20. Hành vi cản trở, chống đối nhân viên, cơ quan nhà nước thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không xuất trình hoặc xuất trình không đầy đủ các tài liệu, giấy tờ, chứng từ có liên quan theo yêu cầu của người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra;

b) Không khai báo hoặc khai báo không đúng về nội dung liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra của nhân viên, cơ quan nhà nước khi thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Tẩu tán tang vật vi phạm đang bị thanh tra, kiểm tra hoặc tạm giữ;

b) Tự ý tháo gỡ niêm phong tang vật vi phạm đang bị niêm phong hoặc tạm giữ.

4. Phạt tiền từ từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trì hoãn, trốn tránh không thi hành các quyết định hành chính về thanh tra và xử lý vi phạm hành chính của người hoặc cơ quan có thẩm quyền.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Thu hồi tang vật, phương tiện đã bị tẩu tán đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.

Chương III

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XỬ  PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Mục 1

THẨM QUYỀN XỬ PHẠT

Điều 21. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành Thông tin và Truyền thông

1. Thanh tra viên chuyên ngành Thông tin và Truyền thông đang thi hành công vụ có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 200.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

đ) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 2 Điều 46 và khoản 2 Điều 48 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Chánh thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép thuộc thẩm quyền;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

e) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 46 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Chánh thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép thuộc thẩm quyền;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

e) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 46 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 22. Thẩm quyền xử phạt của Thanh tra chuyên ngành khác

Trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước được Chính phủ quy định, Thanh tra viên và Chánh Thanh tra các cơ quan thanh tra chuyên ngành khác có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong việc cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.

Điều 23. Thẩm quyền xử phạt của Ủy ban nhân dân các cấp

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại các Điều 28, 29 và 30 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi địa bàn do mình quản lý đối với các hành vi vi phạm hành chính về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet được quy định tại Nghị định này.

Điều 24. Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, cơ quan Thuế, cơ quan Quản lý thị trường

Cơ quan Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan Thuế, cơ quan Quản lý thị trường có quyền xử phạt theo thẩm quyền quy định tại các Điều 31, 32, 33, 34, 36 và 37 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình quản lý được quy định tại Nghị định này.

Điều 25. Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

1. Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

2. Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

3. Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 42 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Mục 2

THỦ TỤC XỬ PHẠT

Điều 26. Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt chính

1. Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, người có thẩm quyền xử phạt phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính.

2. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ theo thủ tục đơn giản quy định tại Điều 54 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền trên 100.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt phải kịp thời lập biên bản về vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Nếu người lập biên bản vượt quá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì phải gửi kịp thời biên bản và các hồ sơ liên quan đến cấp có đủ thẩm quyền để ra quyết định xử phạt.

4. Quyết định xử phạt, thủ tục phạt tiền thực hiện theo quy định tại Điều 56 và 57 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

5. Tổ chức, cá nhân bị phạt tiền phải nộp tiền phạt theo quy định tại Điều 58 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 27. Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép

Thủ tục tước quyền sử dụng các loại giấy phép về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 28. Thủ tục tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

1. Khi áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản theo quy định tại Điều 60 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Việc xử lý tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 61 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 29. Thủ tục trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính

Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 97/2006/NĐ-CP ngày 15/9/2006 của Chính phủ về Quy định việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo thủ tục hành chính.

Điều 30. Thi hành quyết định xử phạt

1. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính phải thi hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hạn này được ghi rõ trong quyết định xử phạt. Quá thời hạn trên, tổ chức, cá nhân bị xử phạt không tự giác chấp hành thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành.

2. Việc hoãn chấp hành quyết định phạt tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 65 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

4. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được giao cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt hoặc thông báo cho họ đến nhận. Trường hợp đã qua một năm mà quyết định xử phạt không thể giao đến tổ chức, cá nhân bị xử phạt do họ không đến nhận, không xác định được địa chỉ của họ hoặc lý do khách quan khác, thì người đã ra quyết định xử phạt ra quyết định đình chỉ thi hành các hình thức xử phạt nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt.

Điều 31. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

1. Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

2. Thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và tổ chức việc cưỡng chế được thực hiện theo quy định tại Điều 67 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 32. Quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền theo quy định tại Điều 62 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

Chương IV

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, XỬ  LÝ VI PHẠM

Điều 33. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại đối với quyết định xử phạt của người có thẩm quyền. Trong thời gian chờ kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân bị xử phạt vẫn phải thi hành quyết định xử phạt trừ trường hợp buộc tháo dỡ công trình xây dựng.      

2. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

3. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

4. Thẩm quyền, thủ tục, trình tự, thời hạn khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; khởi kiện hành chính thực hiện theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.    

Điều 34. Xử lý vi phạm

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt vượt quá thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Người bị xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet nếu có hành vi cản trở, chống đối người đang thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 36. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Nơi nhận:

– Ban Bí thư Trung ương Đảng;

– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

– Văn phòng Chủ tịch nước;

– Văn phòng Quốc hội;

– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của QH;

– Tòa án nhân dân tối cao;

– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

– VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ, Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

– Lưu: Văn thư

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: