Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 12, 2008

CHÍNH THỂ QUỐC GIA, CHẾ ĐỘ CỘNG HÒA, NẠN NHÂN CỦA CHIẾN LƯỢC HOA KỲ

30 tháng 4 / 1975, 30 tháng 4 / 2006, đã 31 năm trời, hơn 1/3 cuộc đời, “Thời gian đã làm nhòa đi bao kỷ niệm” , như một bài hát nọ nói lên; nhưng thời gian cũng giúp chúng ta có đủ bình tâm, sáng suốt để nhận ra thực hư, phải trái, để nhận ra chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa là gì ? Và tại sao lại có ngày 30 tháng tư 1975 ? Tại sao chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa đó lại phải thua trận ? Phải chăng họ là nạn nhân của chiến lược ngoại giao toàn cầu Hoa Kỳ , dân Việt là con chốt của cuộc cờ tranh hùng tư bản – cộng sản ?

Một chế độ xụp đổ tất nhiên không phải chỉ vì một nguyên nhân, ngay dù cho đó là nguyên nhân chính quan trọng, mà do nhiều nguyên nhân : nguyên nhân gần, xa, nguyên nhân nội tại, ngoại tại.Cũng như chính thể quốc gia không phải mới bắt đầu từ năm 1954, mà ít nhất là sau Thế Chiến Thứ Hai.

Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagashaki. Nhật đầu hàng. Quân Nhật chiếm đóng tại Việt Nam như rắn mất đầu. Lợi dụng tình thế đó, nhất là lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, ngày 19 tháng 8, đảng Cộng sản Việt Nam đã nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và một vài nơi. Bảo Đại thoái vị và tuyên bố : “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước bị trị “. Tinh thần yêu nước của dân Việt, từ dân cho tới quân, vào lúc này, không ai có thể chối cãi được. Ai ai cũng thiết tha vì độc lập và sẵn sàng hy sinh cho đất nước. Chính phủ đoàn kết dân tộc quốc cộng ra đời. Bảo Đại, nay là công dân Vĩnh Thụy, làm cố vấn cho chính phủ. Tuy nhiên chính phủ đoàn kết quốc gia không sống được lâu, vì Hồ chí Minh và những người cộng sản, chỉ nghĩ đến quyền lợi của đảng, nghe lời Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, tìm cách giết hại những người quốc gia. Cố vấn Vĩnh Thụy bỏ sang Hồng Kông. Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn tường Tam sang Nam Kinh. Phó Chủ tịch chính phủ Nguyễn hải Thần sang Quảng Tây. Ở điểm này ta thấy rõ không phải vì người quốc gia không muốn đoàn kết, không muốn hòa giải hòa hợp, mà vì người cộng sản tìm cách triệt hạ người quốc gia.

Ở Hồng Kông ít lâu, đầu năm 1949, Bảo Đại qua Pháp thương thuyết với tổng thống Pháp Vincent Auriol, yêu cầu Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 8/3/1949, Thỏa ước Elysée được kí kết giữa Bảo Đại và Vincent Auriol, theo đó Việt Nam độc lập và nằm trong Liên Hiệp Pháp.Ngày 2/7/1949, Bảo Đại về nước thành lập Chính phủ quốc gia. Quốc trưởng kiêm Thủ tướng chính phủ : Bảo Đại. Chính thể quốc gia được thành lập từ đó. Cũng từ đó chiến tranh Quốc-Cộng bắt đầu, đứng sau là cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản. Cuộc chiến kéo dài 5 năm.

Hiệp định Genève 1954 mà đồng chủ tịch là Anh, Liên Sô, với sự tham dự của Mỹ, Trung Cộng, Ấn, được kí kết, chia đôi Việt Nam. Sau đó chế độ Cộng Hòa ra đời ở miền Nam. Năm 1956, chính phủ Cộng Hòa miền Nam từ chối tổ chức tổng tuyển cử như tinh thần hiệp ước Genève, viện lẽ rằng miền Bắc không có dân chủ, bầu cử sẽ không phản ảnh trung thực nguyện vọng của dân, hơn thế nữa Cộng hòa Việt Nam không ký vào Hiệp Định Genève. Cùng năm Khrouschev đề nghị cho 2 nước Việt Nam : Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối . Liền sau đó đảng Cộng sản quyết định mở đường mòn Hồ chí Minh nhằm vận tải người, võ khí, lương thực vào Nam để cưỡng chiếm miền Nam, “thống nhất” bằng võ lực. Năm 1960 Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, đứng sau là đảng Cộng sản. Chiến tranh quốc – cộng lại tái diễn. Quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam càng ngày càng đông. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt mà cao điểm là trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải công nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và mở ra Hội Đàm Ba Lê, với sự tham dự của 4 thành phần: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hiệp Định Ba Lê được kí kết vào năm 1973 với sự tham dự của 3 thành phần Việt Nam, với sự hiện diện của Tổng Thư Kí Liên Hiệp Quốc, của 5 cường quốc Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Trung cộng và một số quốc gia khác.

Tuy nhiên vì chiến lược toàn cầu, vì khó khăn nội bộ, Hoa Kỳ không thể giúp miền Nam như trước đây; trong khi đó cộng sản miền Bắc được sự giúp đỡ càng ngày càng gia tăng của khối cộng sản, đưa đến hiện tượng 30/4/1975 : trước sự tấn công của cộng sản chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã xụp đổ.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa xụp đổ tất nhiên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự lầm lẫn của chính quyền Mỹ, thay vì giúp các lực lượng quốc gia bằng kinh tế và quân sự, lại đổ quân vào miền Nam, làm cho ngọn cờ chính nghĩa quốc gia đã lu mờ, chao đảo trước đây vì sự có mặt của người Pháp, nay lại trở nên lu mờ và chao đảo hơn vì sự có mặt của người Mỹ. Sau này theo sự tiết lộ cuả Hoàng văn Hoan quân số Trung cộng đóng tại miền Bắc có lúc lên tới 300 ngàn , nhưng với bản chất gian manh lừa đảo Cộng sản đã qua mặt được nhân dân miền Nam và cộng đồng quốc tế. Hơn thế nữa, chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, gần như gia đình Việt Nam nào cũng có con em trong quân đội, là nạn nhân xa gần của chiến tranh, dễ bị lay chuyển bởi tuyên truyền cộng sản : ” Chỉ cần Mỹ rút khỏi, Thiệu Kỳ ra đi là hòa bình trở lại “. Tinh thần quân đội miền Nam thì càng ngày càng xút giảm, không phải vì thiếu ý chí chiến đấu, mà vì thiếu phương tiện chiến đấu. Trước đó người Mỹ chi tiêu cho chiến tranh Việt Nam 20 tỷ Mỹ kim mỗi năm (kể cả quân đội Mỹ), nay chỉ còn không đầy 1 tỷ, đúng ra là 700 triệu, mà chỉ tháo khoán 300 triệu. Chuyện thua gần như chắc. Chỉ tiếc rằng chính quyền miền Nam đă không sửa soạn việc thua một cách khéo léo, gây nên quá nhiều mất mát, đau thương.

Nhưng trong những nguyên nhân thua trận, có người nghĩ : “Nguyên nhân chính đó là chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, Việt Nam là con chốt bị thí trong cuộc cờ tranh hùng tư bản – cộng sản .” Có phải thật thế hay không ?

Cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản không phải chỉ mới bắt đầu ở Việt Nam, mà có thể nói từ năm 1919, khi các nước tư bản Anh, Pháp, Nhật gửi quân sang Nga giúp những người Bạch Nga giành lại chính quyền, lật đổ chính quyền cộng sản của Lénine. Cuộc chiến kéo dài 2 năm, phía tư bản và Bạch Nga thua, đưa đến sự kiện tư bản và cộng sản hòa hoãn. Năm 1921, Anh kí hoà ươc thương mại với Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết Nga. Rồi hiện tượng phát xít xuất hiện, ở Ý năm 1921 với Mussolini, ở Đức năm 1933 với Hitler; sau này ở Nhật với nhóm quân phiệt. Trục phát xít Đức – Ý – Nhật ra đời. Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ phần lớn là lỗi ở ba nước Trục. Các nước cộng sản tư bản bắt buộc phải bắt tay nhau để diệt phát xít.

Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản trở lại, bắt đầu Chiến Tranh Lạnh.Chiến Tranh Lạnh bắt đầu từ sau Thế Chiến đến lúc bức tường Bá Linh xụp đổ, gần 50 năm .Trước khi bức tường Bá Linh xụp đổ, Paul Nitzé, cha đẻ của Chính sách Be Bờ (Politique d’Endiguement ) đă tuyên bố : “Chúng ta đã thắng Chiến Tranh Lạnh”. Vậy Paul Nitzé là ai ? Chính sách Be Bờ là gì ? Đâu là những điểm chính của chính sách này đã giúp Hoa Kỳ và thế giới tự do đánh bại cộng sản ? Và tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại là nạn nhân của chính sách này ? Paul Nitzé, cố vấn về vấn đề an ninh, cùng tổng thống Truman, tham dự hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 với Churchill và Staline.

Theo những nhà báo và sử gia thì Paul Nitzé đã mang quyển truyện Trại Súc Vật (Animal Farm ) của nhà văn hào nổi tiếng Anh quốc, George Orwell, là quyển sách gối đầu giường và ông cũng không ngần ngại cho Staline mượn đọc. Chính sách Be Bờ của ông là lấy ý từ quyển sách này. Theo G. Orwell, trong một trại súc vật nọ, một hôm, con heo già mà người đọc liên tưởng ngay đến K. Marx, nằm mơ tới một thế giới khác, quả thực là tốt đẹp, là một thiên đàng; bỗng bừng mắt dậy, thấy thực tế quá đau thương, phũ phàng. Con heo già suy nghĩ, tìm nguyên do và đi đến kết luận là tại con người, ông chủ trại bóc lột xúc vật. Con người, con heo già nghĩ thầm, không có tài cán gì, nó không thể kéo cày như con ngựa, không thể đẻ trứng như con gà, chưa lạnh thì nó đã run, chưa nóng thì nó đã nực; thế mà nó lại ăn sung, mặc sướng, chẳng qua vì nó bóc lột sức lao động cuả các con vật. Thế rồi con heo già tụ tập những con vật khác lại, nào gà, nào vịt, nào ngựa, nào chó v.v.., để tuyên truyền và hô hào làm cách mạng. Cách mạng súc vật thành công, mặc dầu có sự chống trả của ông chủ. Ban đầu thì thóc gạo trong kho còn nhiều, con vật nào cũng hỉ hả, chia chác công bằng. Sau đó, vì súc vật không biết sản xuất, làm kinh tế, thóc gạo trong kho càng ngày càng cạn, sự công bằng càng ngày càng giảm, đưa đến chỗ súc vật cắn quái lẫn nhau.

Trại súc vật tan rã. Theo Paul Nitzé, đương đầu với cộng sản lúc ban đầu, lúc cao điểm, là lao đầu vào chỗ chết. Phải đợi. Chính vì lẽ đó mà Paul Nitzé cùng George Kenan, một chuyên viên về vấn đề cộng sản và Nga sô ở bộ ngoại giao Hoa Kỳ từ năm 1940, soạn ra chính sách Be Bờ.

Chính sách này được gói ghém trong một tài liệu mật từ năm 1950 tới năm 1989. Tài liệu này được chính giới nhất là giới ngoại giao Hoa Kì coi như là Kinh Thánh cho chính sách đối ngoại trong thời Chiến Tranh Lạnh, được viết vào năm 1950 bởi Paul Nitzé, lúc ông làm cố vấn cho Truman, với sự trợ giúp của G. Kenan. Tài liệu này mang tên “Chỉ thị số 68 của Hội Đồng An ninh Quốc gia” định ra những mục tiêu dài hạn và phương thức đối phó với cộng sản trong nền ngoại giao Hoa Kỳ. Những mục tiêu đó là :
1) Ngăn chặn sự bành trướng của Nga Sô ở Á châu ;
2) Tăng cường giúp đỡ các nước Tây Âu và Khối Bắc Đại Tây Dương về vật chất cũng như về tinh thần, để Nga sô không thể làm áp lực, để mặc cả với Thế giới Tự do ;
3) Kiên nhẫn chờ đợi tranh chấp bùng nổ trong lòng chế độ cộng sản; lúc đó mới đổi thế phòng thủ ra thế phản công. Tài liệu này còn nhấn mạnh thêm rằng đừng bao giờ hạ nhục Nga Sô, mà ngược lại tìm cách tạo những phương tiện thuận lợi để Nga Sô biến đổi, đi theo chiều hướng dân chủ Tây phương và tôn trọng chủ quyền của các dân tộc khác.

Trải qua bao nhiệm kỳ và đời tổng thống, ông Paul Nitzé vẫn giữ chức Trưởng phái đoàn về vấn đề tài giảm binh bị Mỹ – Nga tại Genève. Ngày hôm nay người ta mới rõ ra rằng đây là một đài quan sát để biết rõ hiện tình quân sự và võ trang của Nga Sô, ngõ hầu lôi cuốn Nga vào một cuộc chạy đua tiêu tiền giữa kẻ giầu và người nghèo, đến lúc kẻ nghèo kiệt sức rồi ngã quỵ . Đó là lúc mà tổng thống Reagan thách thức Nga Sô chạy đua vào hệ thống phòng thủ không gian. Cũng là lúc đế quốc Nga Sô xụp đổ. Năm 1989, Paul Nitzé 82 tuổi, xin về hưu, không làm Trưởng phái đoàn thương thuyết tài giảm binh bị nữa, mới tiết lộ đứa con tinh thần của mình “Chỉ thị số 68 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia” và tuyên bố : “Chúng ta đă thắng Chiến tranh Lạnh”. Đó cũng là ý kiến của Tướng Brent Crowcroft, Cố vấn an ninh của tổng thống G. Bush cha, khi ông tuyên bố vào ngày 9/4/1989 : “Tây phương đă chiến thắng cộng sản trên phương diện ý thức hệ “.

Một cách tổng quát, người ta có thể nói chiến lược ngoại giao toàn cầu Hoa Kỳ đối với cộng sản có thể chia ra làm 2 giai đoạn : Giai đoạn phòng thủ và giai đoạn tấn công.

1) Giai đoạn phòng thủ chính là giai đoạn của chính sách Be Bờ đi từ cuối Thế Chiến Thứ Hai đến cuối thập niên 60, đầu thập niên 70.

Trong giai đoạn này, phía cộng sản tấn công phía tư bản trên nhiều phương diện: ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội . Phía tư bản chỉ tìm cách be bờ, ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.

Về ý thức hệ, người cộng sản dùng lí thuyết mác lê như một lợi khí tuyên truyền nhằm giải phóng con người, giải phóng các nước bị trị khỏi ách thống trị của đế quốc tư bản, để đi đến một thế giới cộng sản đại đồng.

Về chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội, Nga sô một mặt giúp đỡ các đảng cộng sản tại các nước tư bản, xúi dục thợ thuyền đình công, gây tê liệt kinh tế, xáo trộn xă hội, mặt khác giúp các phong trào, các tổ chức chính trị ở những nước nhược tiểu đòi độc lập. Cộng sản đã tấn công tư bản từ lâu, từ thời Lénine. Lúc đầu với chiến lược tấn công trực tiếp, nhắm ngay đầu não tư bản để tấn công, theo đúng tinh thần của Marx, cách mạng cộng sản chỉ có thể xẩy ra tại các nước tư bản kỹ nghệ tiền tiến, vì chỉ ở những nước này mới có giai cấp vô sản, độiquân tiền phong của cách mạng cộng sản. Nhưng Marx đã hoài công chờ đợi. Lénine cũng vậy. Cách mạng cộng sản không xẩy ra ở Anh. Cuộc nổi dậy vào năm 1921 của cộng sản Đức ở Berlin mà Lénine đặt nhiều kỳ vọng thì bị dẹp trong trứng nước. Năm 1923, tại Đại Hội IV Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, họp từ tháng 11 tới tháng 12 năm này, với đề tài ” Vấn đề thuộc địa và Đông phương ” Lénine đổi chiến lược, nhằm tấn công gián tiếp tư bản. Ông nói : ” Cách mạng cộng sản sẽ đi qua của ngõ New Delhi, Bắc Kinh rồi mới tới Ba lê và Luân Đôn . ” Chính vì lẽ đó mà Hồ chí Minh, tiêu biểu cho các nước bị trị bởi đế quốc Pháp, lúc đó đang sống ở Pháp, có dịp đọc tài liệu về vấn đề thuộc địa của Lénine, và L. Roy, người Ấn Độ cùng học trường Đông Phương của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, rất coi thường họ Hồ trên phương diện lý thuyết và tư tưởng, tiêu biểu cho các nước bị trị trong đế quốc Anh; cả hai đã được Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản giúp đỡ. Vào năm 1923 Phái Đoàn Cộng sản đại diện Lénine đă kí với Tôn dật Tiên một Hiệp ước thân thiện, cử phái đoàn Borodine mà Hồ chí Minh làm thông ngôn và Chu ân Lai làm thư kí giúp đỡ họ Tôn mở trường quân sự Hoàng Phố. Chiến lược tấn công gián tiếp của Lénine lúc đầu đă mang lại nhiều kết quả ngoạn mục, làm cho tư bản thất điên bát đảo: Anh phải trao trả độc lập cho Ấn vào năm 1947. Phải nhớ cuộc giành độc lập của Ấn là do Ghandi lãnh đạo chứ không phải đảng cộng sản của L. Roy. Tuy nhiên đảng này cũng đóng góp phần quan trọng vào cuộc giành độc lập này và đã gây một tiếng vang rất lớn. Mao trạch Đông cướp được chính quyền ở lục địa năm 1949. Hồ chí Minh cướp chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945, nắm quyền ở miền Bắc từ năm 1954. Cùng nhiều cuộc đảo chính có mầu sắc cộng sản theo mô hình kinh tế tập trung ở Phi châu và châu Mỹ La tinh.

Những chiến thắng trên tuy ngoạn mục, nhưng không phải là những đòn chí tử, đánh gục đối phương, mà ngược lại nó chỉ làm cho cộng sản, đứng đầu là Nga Sô, hao tổn quá nhiều về tiền tài. Các đảng cộng sản trên thế giới và ngay cả những quốc gia có khuynh hướng cộng sản mới thành lập không giúp gì được Nga Sô, mà chỉ là những chương mục để Nga sô chuyển tiền giúp đỡ. Những đảng cộng sản ở những nước giầu có như Pháp, Anh, Ý cũng vẫn do Nga Sô giúp đỡ hàng năm. Cộng thêm vào đó là cuộc chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ đã làm Nga kiệt quệ.

2) Giai đoạn phản công. Người ta có thể nói giai đoạn này bắt đầu vào năm 1968 khi Nixon đắc cử tổng thống, khi tranh chấp Nga – Hoa lên đến cao điểm, khi Mỹ chứng tỏ đã vượt Nga về vấn đề chạy đua không gian , khi những phi hành gia của Mỹ đặt chân lên mặt trăng ( 1969 ), khi Nixon viếng thăm Bắc Kinh năm 1972. Để phản công, Hoa Kỳ cũng tấn công cộng sản trên nhiều phương diện : ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội. Có nghĩa là Hoa kỳ chứng minh cho thế giới thấy thực tế cộng sản hoàn toàn trái ngược với lý thuyết và tuyên truyền cộng sản. Cộng sản không mang lại ấm no, hạnh phúc mà là nghèo đói ; không mang lại tự do, giải phóng, mà là độc tài và xiềng xích. Cộng sản không mang lại tình huynh đệ, thế giới đại đồng, mà là tranh chấp biên giới như tranh chấp Nga – Hoa, tranh chấp Việt – Hoa. Đồng thời Hoa Kỳ phải tô điểm hình ảnh của mình bằng cách không giúp đở những chính quyền độc tài, phản nhân quyền và giảm thiểu sự có mặt quân đội trên thế giới. Người ta có thể nói đó là một trong những nguyên do chính khiến Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, không hỗ trợ chính quyền cũa Shad d’Iran.
Tháng 7/ 1976, tổng thống Mỹ Henry Ford kí hiệp ước Helsinki trong đó có điều khoản tôn trọng nhân quyyền. Hoa Kỳ đă đưa vấn đề tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền lên hàng ý thức hệ để tấn công cộng sản .

Về chính trị và quân sự, ngoài việc thách thức Nga Sô chạy đua vũ trang như tổng thống Reagan thách thức về hệ thống phòng thủ không gian, Hoa kỳ còn giúp Kháng chiến A phú Hãn, làm sa lầy Nga Sô ở đây, giúp Liên Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan, đầu cầu đưa đến sự xụp đổ cộng sản ở Đông Âu.Cho đến ngày bức tường Bá Linh xụp đổ 1989, giai đoạn phản công của Hoa Kỳ kéo dài trên dưới 20 năm.

Nhưng tại sao có người lại đưa ra giả thuyết cho rằng chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa Việt Nam lại là nạn nhân của chiến lược ngoại giao tòan cầu Hoa Kỳ ?

Từ khi Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam, năm 1954 tới 1975, giai đoạn này nằm trong giai đoạn của chiến lược phòng thủ với chính sách Be Bờ (1950 – 1970) và giai đoạn sửa soạn bước sang chiến lược tấn công (1970 – 1975). Vì cán cân lực lượng còn ngang ngửa, vì tranh chấp chưa bùng nổ trong lòng chế độ cộng sản, Hoa Kỳ rất thận trọng trong giai đoạn này, chỉ tìm cách be bờ, ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản, cố gắng không gây gổ với họ. Bởi lẽ đó, vào thập niên 60, có nhiều lần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đề nghị gửi quân qua vĩ tuyến 17, đánh thẳng ra ngoài Bắc . Hoa Kỳ đều từ chối. Tác giả bài này, sau 1975, có dịp dự một cuộc hội thảo quốc tế về Chiến tranh Việt Nam : một vị cựu chính khách Việt Nam Cộng Họ̀a có hỏi một vị kí giả, cựu nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ : Trong một trận đá banh giữa 2 đội A và B; đội B chỉ có quyền phòng thủ chứ không có quyền tấn công; đội A thì có cả 2 quyền. Trong trường hợp như vậy, hỏi quí vị, làm sao đội B có thể thắng đội A . Vị cựu ngoại giao Hoa Kỳ đã không trả lời.Là nạn nhân suốt trong thời kỳ chính sách Be Bờ (1950 – 1970), Việt Nam Cộng Hòa còn là nạn nhân của thời kỳ Hoa Kỳ sửa soạn phản công (1970 – 1975).

Trong thời kỳ sửa soạn phản công, Hoa Kỳ phải tô điểm hình ảnh của mình : một mặt trình bày xã hội Hoa Kỳ cởi mở, dân chủ, kinh tế phồn thịnh; mặt khác giảm thiểu sự có mặt quân sự trên thế giới, giúp đỡ những phong trào tranh đấu vì dân chủ nhân quyền. Bởi lẽ đó, năm 1978, Hoa Kỳ không ngần ngại ngừng giúp đỡ chính quyền Shad d’Iran, vô tình tạo dịp thuận lợi để Khomeini về nước cướp chính quyền.

Tất nhiên việc Hoa Kỳ kí Hiệp Định Ba Lê, rút quân khỏi Việt Nam không phải chỉ vì chiến lược toàn cầu, vì chính sách Be Bờ, mà còn vì nhiều nguyên do khác: vào thập niên 60, phong trào phản chiến ngày càng mạnh ở Hoa Kỳ, đồng Dollar mất giá trên thị trường buộc tổng thống Nixon phải lấy quyết định bỏ nguyên tắc đổi ra vàng ( convertible en or ) của Dollar; vào đầu thập niên 70, vụ Waltergate, khủng hoảng chính trị Hoa Kỳ làm Nixon phải từ chức.Chúng ta không thể nhìn một biến cố chính trị, lịch sử từ một góc cạnh, qui về một nguyên nhân, mà phải nhìn nó từ nhiều góc cạnh, tìm ra nhiều nguyên nhân. Như thế mà nhiều khi còn lầm lẫn trong phán xét.
Có người nói chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ nói chung và ở Việt Nam nói riêng rất là mâu thuẫn, tay phải đánh tay trái, chân trái đá chân phải.

Đúng , nếu chúng ta nhìn cục bộ và ngắn hạn như việc rút quân vội vã ở Việt Nam, việc một số nhà ngoại giao Hoa Kỳ bị bịt mắt dẫn đi và làm nhục ở ngoài đường tại Iran năm 1978. Sai , nếu chúng ta nhìn toàn diện và dài hạn. Ngày hôm nay không ai chối cãi là Hoa Kỳ đã lãnh đạo thế giới Tự do chiến thắng Cộng sản trong Chiến Tranh Lạnh. Lãnh đạo một cuộc chiến trong vòng nửa thế kỷ, rồi chiến thắng nó không phải là tầm thường và thiếu kiên nhẫn, cũng như chính sách trong suốt thời gian đó không phải là thiếu khôn ngoan và không hợp lí.

Chỉ tiếc rằng Chiến Tranh Lạnh đã chiến thắng mà Việt Nam vẫn còn là cộng sản, mặc dầu phần đóng góp của dân Việt Nam vào chiến tranh này không phải là nhỏ !

Viết đến đây, tác giả bài này lại nhớ đến những câu chuyện mà Ông thân sinh của tác giả thường kể về những đối thoại của Ông với một Cụ đồ Nho, vừa là Thầy, vừa là người nhà, vào những năm 40, 50. Ông kể vào năm 1945, khi cộng sản nổi lên cướp chính quyền ở trong làng, Cụ đồ Nho có gọi Ông lại và nói : “Cậu ạ ( tiếng gọi thay con và là người thân ở miền Bắc ) ! Chúng nó ( chỉ những người cộng sản cướp chính quyền ) chỉ là phường ăn cướp.” Khi cộng sản tổ chức bầu cử quốc hội, Cụ lại gọi Ba tôi lại và nói : “Hỏng rồi Cậu ạ ! Chúng là phường ăn cướp, nhưng chúng lại có chính nghĩa mất rồi !” Vì gia đình tôi ở vùng miền núi, hoàn toàn bị kiểm soát bởi cộng sản, maĩ tới cuối năm 1952 mới tìm cách trốn ra vùng tề ( tự do), cộng sản bắt đầu đấu tố sớm ngay vào những năm 1951, 1952 ở những vùng này. Trước những cảnh đấu tố, Cụ có nhận xét : “Cậu ạ ! Chúng nó không thể tồn tại lâu được đâu .” Tại sao vậy Thầy ?” Ba tôi hỏi lại. Ông Cụ trả lời : “Tôi lấy thí dụ để Cậu hiểu rõ : như vụ đấu tố địa chủ, phú nông. Chúng ( cộng sản ) mang gia tài, ruộng đất, trâu bò của địa chủ, phú nông ra canh sách, chia nhau. Một con trâu, để đó, dù nó là của địa chủ, phú nông, thì nó còn cày ruộng. Nay vì đấu tố, mang con trâu ra làm thịt, canh sách, chia chác, kẻ cái đầu, người cái đuôi, ăn uống hả hê. Con trâu chết rồi, lấy gì mà cày. Ruộng ở trong tay phú nông, địa chủ, thì họ còn cày còn làm ra thóc gạo. Nay chia ruộng cho bần cố nông, vừa lười biếng, vừa không biết làm ruộng, lấy đâu ra thóc gạo ! Cứ như thế này, sớm muộn, chúng cũng sẽ sụp đổ, đời tôi thì không chắc, nhưng đời Cậu thì chắc; vì chúng là phường chỉ biết cướp ăn chứ không biết làm ăn !”

Việt Nam cũng có những người suy nghĩ như G. Orwell. Như Cụ Đồ Nho nọ !
Chỉ tiếc là Cụ mất sớm, đã không thấy cộng sản xụp đổ ở Nga Sô và Đông Âu. Ba của tác giả thì đã có thể chứng kiến hiện tượng chính trị lịch sử quan trọng này, nhưng không ở Việt Nam. Đó là điều Ông tiếc trước khi mất.

Làm cho Việt Nam không còn là cộng sản, trở nên tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, ấm no và phồn thịnh. Đó là nguyện ước của toàn dân Việt hiện nay và ngay cả những người đă khuầt .

Paris, ngày 27 / 4 / 2006. Viết cho ngày 30 tháng 4
Chu chi Nam

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: