Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 12, 2008

Công trạng và tội ác

Filed under: Tài liệu, Việt Nam — tudo @ 1:49 pm

Minh Võ

Bốn thập niên sau thảm sát Mậu Thân. Để “tưởng niệm” trên bảy vạn vong linh nạn nhân và “chia buồn” với khoảng ba chục vạn thân nhân đội khăn tang vào những ngày thiêng liêng nhất trong cái năm Mậu Thân ấy, đầu tháng 2 năm 2008 vừa qua nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đã tổ chức “ăn mừng chiến thắng Mậu Thân”.

Đáp lại, chỉ sau đó một thời gian, nhiều nhà văn, nhà thơ, ký gỉa, sử gia ở hải ngoại tung ra hàng chục bài ai oán khóc than những nạn nhân của Cộng Sản. Hàng chục bài khác thuật lại những hành động dã man của cộng quân. Hàng chục thiên ký sự lên án tội ác tầy trời của những tên giết người không gớm tay tại cố đô Huế. Những tài liệu của bác sĩ Alje Vennema, người Hoà Lan và của nguyên tỉnh trưởng Định Tường thời đệ nhất Cộng Hoà Nguyễn Trân luôn được nhắc lại.

Và vừa mới đây, đúng một chục giáo sư, tiến sĩ, học giả, chính khách Việt Nam, thuộc cộng đồng người Việt hải ngoại đã tụ họp ở Trung Tâm Việt Nam tại Đại Học Texas Tech ở Lubbock, Texas, lần lượt thuật lại những sự kiện lịch sử kinh hoàng nhất của cái gọi là “cuộc tổng công kích tổng nổi dậy”, với những cuộc tàn sát rùng rợn ngoài sức tưởng tượng của con người. (1).

Xin hãy kìm hãm nỗi uất hận. Hãy nhìn vào trong nước để thấy những kẻ sát nhân ăn mừng. Lễ hội, tiệc tùng, triển lãm, ca hát, nhảy múa, diễn văn. Biết bao tiền tung ra. Biết bao công sức góp vào. Chỉ để làm cho một số kẻ cười trong nước mắt của hàng triệu người khác.

Xin đừng lạc quan khi đọc những trang báo đầy nước mắt của những nạn nhân, hay chứng nhân, kể tội Việt Cộng. Vì sao thấy nó tủi nhục và cô đơn đến thế. Xem ra thế giới thích hùa theo kẻ chiến thắng để “ăn mừng” hơn là muốn cùng với những nạn nhân chia sẻ đau thương! (2)

Cũng chính vào dịp kỷ niệm vết thương còn mâng mủ sau 40 năm này, đài BBC trang trọng loan tin phóng viên nhiếp ảnh Philip Jones Griffiths người Anh qua đời ở tuổi 72. Bản tin còn nhấn mạnh, “ông này đã nổi tiếng vì những tấm ảnh tố cáo ‘tội ác của Mỹ’ tại chiến trường Việt Nam.” Chính ông ta bảo những nạn nhân của vụ Mậu Thân ở Huế là do bom Mỹ đấy.

Thói đời phù thịnh chứ mấy ai phù suy. Dầu sao chúng ta vẫn là kẻ chiến bại.

Được làm vua, thua làm giặc. Việt Cộng đã thắng. Họ nói gì nghe cũng bùi tai.

Lý của kẻ mạnh mà. (La raison du plus fort est toujours la meilleure). Và lịch sử do kẻ thắng viết.

Ngày nay khối người, không phải chỉ có Việt Cộng, tin rằng Việt Cộng đã thắng vì có chính nghĩa. Chính nghĩa đó là kháng chiến chống Pháp thực dân để giành độc lập cho tổ quốc. Là đánh cho “Mỹ cút ngụy nhào”, để thống nhất Giang Sơn.

Trong thế chiến II, các cường quốc Tây Phương đã thắng vì có chính nghĩa. Và vì thắng, và có chính nghĩa nên phi công Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử xưống Hiroshima và Nagasaki đã không bị bỏ tù hay đưa ra toà như viên trung úy chỉ huy toán giết hại khoảng từ 3 đến 5 trăm dân vô tội ở mấy làng mang tên Mỹ (Lai)… Mặc dù số nạn nhân của hai quả bom nguyên tử gấp ngàn lần nhiều hơn. Trong số ấy biết bao người vô tội.

Cũng tương tự như vậy, Việt Cộng, tự coi như mình có chính nghĩa, và là kẻ chiến thắng, không coi việc giết hại hay chôn sống hàng ngàn người ở Huế là một tội ác. Họ coi đó là thành tích chiến thắng.

Vì khi Hồ Chí Minh đã được khẳng định là “cha già dân tộc”, là “anh hùng dân tộc”, đã có “công vô cùng lớn lao” là “giải phóng” quê hương khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, và sau đó “tống cổ” Mỹ xâm lược ra khỏi bờ cõi để đem lại thống nhất cho tổ quốc, thì như một hệ luận tất yếu, những kẻ đứng về phía thực dân Pháp hay quân xâm lược Mỹ phải bị trừng trị. 3.000 hay 4.000 hay 5.000 người bị giết ở Huế hồi Tết Mậu Thân, 1968 làm sao so sánh được với 3, 4 trăm ngàn thường dân Nhật chết vì bom đạn, trong đầu tháng 8, 1945?

Việt Cộng chứng minh có công giành độc lập, thống nhất bằng cách nào?

Sau đây là những sự kiện lịch sử (nếu chỉ nhìn với con mắt một nhà sử học thuần túy):

Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh làm chủ tịch đã lãnh đạo toàn dân làm cuộc cách mạng tháng tám (1945) thành công. Sau đó là Tuyên Ngôn Độc Lập. Sự ra đời của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Rồi chính phủ Liên Hiệp trong đó có đại diện các đảng yêu nước, các nhà ái quốc không đảng phái. Một Quốc Hội do dân bầu trong đó có 70 ghế giành cho (chứ không được bầu!) các đảng không Cộng Sản.

Điều đó chứng tỏ toàn dân đã sắp hàng đứng sau lưng Hồ Chí Minh và đảng CS để làm cuộc cách mạng tháng tám. Công đầu ấy phải là của Hồ Chí Minh, người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy.

Với hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm 1946 (mang chữ ký không những của Hồ Chí Minh và Jean Sainteny, mà còn có cả chữ ký của Vũ Hồng Khanh, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng), Hồ Chí Minh đã khôn khéo giành được sự gián tiếp công nhận của chính phủ Pháp. Chính phủ Hồ Chí Minh đã có địa vị trên trường quốc tế.

Sau đó là chiến tranh chống Pháp đi đến chiến hắng Điện Biên lẫy lừng khắp thế giới.

Ai đã đánh Pháp? Bảo Đại ư? Không. Hồ Chí Minh. Không nghi ngờ.
Bảo Đại có tranh đấu cam go (không phải bằng quân sự như HCM) để ký được với tổng Thống Pháp Vincent Auriol hiệp ước Élysée ngày 08/03/1949. Nhưng mãi gần 10 tháng sau Quốc Hội Pháp mới phê chuẩn. Nghĩa là chỉ sau khi Trung Cộng đã thôn tính toàn bộ Hoa Lục (01/10/1949) và công nhận chính phủ Hồ Chí Minh, và Liên Xô cũng đã công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vào đầu năm 1950 rồi.

Trên pháp lý Việt Nam của Bảo Đại đã độc lập. Nhưng trên thực tế, lúc ấy người dân Việt và cả dư luận quốc tế đều thấy một số lớn dân Việt đứng sau lưng Hồ Chí Minh để chống Pháp. Tại miền “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại hàng trăm ngàn quân Pháp nã súng vào nhân dân Việt Nam, binh sĩ Việt Nam, mặc dầu những binh sĩ này do Việt Minh Cộng Sản cầm đầu.

Có người sẽ bảo, từ khi có hiệp ước Élysée trên thực tế đã có 2 nước Việt Nam. Như vậy cuộc chiến, ít nhất từ đó, là cuộc chiến quốc cộng. Cũng có thể gọi là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt.

Lê Xuân Khoa
Nguồn: jhu.edu
——————————————————————————–

Nhưng cứ nhìn vào thực tế hàng trăm ngàn lính Lê Dương của Pháp, mà số lượng gấp chục lần số lính Việt Nam chiến đấu bên cạnh lính Pháp, người ta khó tin đây không phải là cuộc chiến tranh Việt Pháp. Nghĩa là cuộc chiến giữa một bên là dân Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo và một bên là quân đội viễn chính của thực dân Pháp. Ngay một nhà viết sử từng là người trong vùng quốc gia do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu là tác giả Lê Xuân Khoa cũng đã gọi như vậy kia mà. (3)

Hơn nữa, một sự kiện sờ sờ trước mắt mọi người dân Việt ở cả hai bên, trong suốt thời gian đó, là trên nóc toà nhà lớn nhất Việt Nam được mệnh danh là dinh Norodom vẫn phấp phới lá cờ tam tài, tượng trưng cho quyền thống trị của nước Pháp.

Thống lãnh hàng chục vạn quân Lê Dương đánh Việt Minh không phải các tướng Việt Nam của Bảo Đại, mà là những Carpentier, những Salan, những Navare, De Castries… và cả đại anh hùng thế chiến II, De Lattre De Tassigny…

Chỉ cho đến giữa tháng 9 năm 1955, sau khi người lính cuối cùng của Pháp rút khỏi Việt Nam, do những nỗ lực phi thường của Ngô Đình Diệm về ngoại giao, chính trị, và cả máu đổ của hàng trăm chiến sĩ hy sinh trong các cuộc dẹp loạn Bình Xuyên và loại trừ loạn tướng Nguyễn Văn Hinh tay sai của Pháp, một tướng lãnh có quốc tịch Pháp thì lúc ấy lá cờ tam tài mới bị hạ xuống. Và lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà mới được kéo lên đỉnh dinh Norodom, trước sự hiện diện của một Paul Ély đăm chiêu, nhăn nhó, đại diện nước Pháp, và một Ngô Đình Diệm rạng rỡ, hiên ngang, đại diện nước Việt Nam.

Từ đó cái dinh Norodom từng là phủ toàn quyền Pháp, tượng trưng cho sự bị trị cũng mới được đổi tên là Dinh Độc Lập, tượng trưng cho chủ quyền toàn vẹn của nước việt Nam. Và một loạt tên người Pháp đặt cho những đường phố Saigon mới được cải danh để mang tên những anh hùng dân tộc Việt.

Suốt trong 9 năm cầm quyền của Tổng Thống tiên khởi một nửa nước hoàn toàn độc lập, không còn quân Pháp. Có quốc hiệu mới, có hiến pháp có quốc hội. Tóm lại mọi cơ sở pháp lý hoàn toàn đầy đủ để đương đầu và thách thức miền Bắc của Hồ Chí Minh.

Mặc dầu bị Việt Cộng gọi là chế độ Mỹ-Diệm, theo kỹ thuật tuyên truyền riêng, nhưng ai cũng thấy sự hiện diện của một số tối thiểu cố vấn Mỹ không giống như sự hiện diện của đoàn quân viễn chính hàng chục vạn quân Pháp trước đây. Vả lại, miền Bắc cũng không thiếu cố vấn, chuyên viên Nga và Trung Quốc.

Nhưng ông Diệm đã có một “cái tội lớn” là không sống thêm được một thời gian nữa để chiến thắng hay duy trì hoà bình.

Sau ông Diệm, những kẻ phê bình, chỉ trích, đả phá, hãm hại ông thay nhau lên cầm quyền, mỗi người chỉ được mấy tháng. Mọi cơ sở pháp lý đã tan tành. Chính tình rối ren khôn tả, kéo dài gần 4 năm trường.

Hoa Kỳ phải đem quân tác chiến ồ ạt vào.


Thủ tướng Phan Huy Quát (1964)
Nguồn: content.answers.com
——————————————————————————–

Người đắc tội trong giai đoạn này là bác sĩ Phan Huy Quát nổi tiếng chống cộng số một của miền Nam. Ông cũng là lãnh tụ uy tín nhất của Đại Việt Quốc Dân Đảng. (4)

Mặc dầu kính nể nhân cách và đức thanh liêm của ông, chúng tôi không thể không nói lên một sự thật đáng buồn: Chính ông là người đã làm ngơ cho Mỹ xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Ông cũng không có được một phần cái tài và sự cương quyết của Ngô Đình Diệm để giải quyết các vấn đề tranh chấp nội bộ, giữa các đảng phái với nhau, giữa các nhóm địa phương kình chống nhau, và giữa chính quyền với các tôn giáo, nhất là nhóm Phật Giáo Thích Trí Quang.

(Sau 1975, bác sĩ Quát đã ở lại, bị Cộng Sản bắt đi tù và mất ở trong tù. Ông đã chuộc lỗi lầm quá khứ và đáng được chúng ta tưởng niệm như một lãnh tụ quốc gia khả kính.)

Xin nhắc, trong những năm 54-55, Bác Sĩ Quát từng là con bài sáng giá nhất của một số chính khách Mỹ như tướng Collins, vị đại diện toàn quyền và bạn thân của Tổng Thống Dwight Eisenhower. Ông từng được đề cử trên chục lần để thay thế Thủ Tướng Diệm trong hai năm đầu ông này mới về nước. Mặc dù được Mỹ triệt để ủng hộ, ông vẫn không sao đứng vững được tới 4 tháng trong chức vụ thủ tướng lúc ấy.

Khi đã để cho Mỹ đem vào hai triệu quân, trong số đó thường trực có nửa triệu, thì miền Nam chắc chắn bị Việt Cộng đả kích là tay sai của Mỹ. Cũng như trước 1955 là tay sai của Pháp.

Trong khi đó Mỹ bị dư luận thế giới tố cáo là quân xâm lược. Người dân dễ tin luận điệu tuyên truyền và lời tố cáo đó. Báo chí Mỹ do một số người phe tả hay thiên tả, thiên Cộng chi phối đã làm cho nhân dân Mỹ và cả quốc hội Mỹ cũng tự cho mình không có chính nghĩa khi đánh “việt Nam” do Việt Minh Cộng Sản lãnh đạo.

Chính nghĩa của chiến tranh chống cộng đã mất.

Nếu chỉ nhìn lịch sử chiến tranh Việt Nam theo cách chúng tôi vừa trình bày trên, thì những người bảo ông Hồ có công giành độc lập và thống nhất tổ quốc rất có lý.

Cho nên không lấy làm lạ rằng nhìều người quốc gia như Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Khắc Huyên… những trí thức phi Cộng Sản, cũng bảo ông Hồ có công đánh thắng thực dân Pháp. Điều này càng làm cho một số nhà đấu tranh cho dân chủ hiện nay ở trong nước, nhất là thuộc thành phần cựu cán bộ Cộng Sản cũng hãy còn nghĩ thế. Thật tai hại!

Đó là không kể đa số ký giả Mỹ, Pháp cũng ca tụng Hồ Chí Minh. Đặc biệt đáng chú ý là những nhà báo hăng say chống ông Diệm nhất, lại cũng là những kẻ ca tụng ông Hồ yêu nước hơn cả.

Những nhà báo này và đàn em của họ, đại diện cho cái gọi là phe chính thống, dĩ nhiên không hào hứng gì khi nghe hay đọc những bài báo hay diễn văn kể tội ác của Việt Cộng. Hoặc họ bảo những người phe bại trận bịa đặt, phóng đại, không đáng tin.

Ngay như số nạn nhân của Cải Cách Ruộng Đất được ông Hoàng Văn Chí ước lượng là nửa triệu, và Tổng Thống Nixon cũng đưa ra con số tương đương. Vậy mà vẫn có nhiều nhà báo Mỹ quả quyết đó là bịa đặt hay cường điệu. Họ bảo chỉ có mấy ngàn mà thôi! Còn con số khoảng 5 ngàn nạn nhân Huế bị thảm sát trong lúc cộng quân chiếm Huế trong gần một tháng, thì nhiều nhà báo nước ngoài, trong đó có tay Philip Jones Griffiths nêu trên đã khẳng định đó là do bom của Mỹ giết!

Cứ nhìn vào cử toạ nhỏ bé (dăm chục người Mỹ) tới tham dự “hội luận” về tội ác của CS trong Tết Mậu Thân ở Lubbock để nghe một chục học giả, giáo sư, tiến sĩ Việt chúng ta đọc những bài thuyết trình, tham luận công phu, thì quả tình chẳng lạc quan tý nào. Đó là không kể nhìều nhà báo có mặt vẫn khẳng định họ thông tin trung thực về cuộc chiến, và hãnh diện rằng chưa bao giờ truyền thông Mỹ lại thực hiện tự do báo chí bằng trong chiến tranh Việt Nam (!!!)

Ở trên chúng tôi đã nói, chúng ta cô đơn là vì vậy.

Cho nên trong mười năm qua, đã nhiều lần chúng tôi hô hào phải quay hướng tấn công vào thần tượng, huyền thoại “cha già dân tộc Hồ Chí Minh”, thay vì chỉ cố gắng kể tội ác của Việt Cộng và vấn đề trai gái của Hồ Chí Minh. Chí khi nào người dân Việt và dư luận thế giới nhìn nhận rằng ông Hồ không hề có công giành độc lập, thống nhất, thì lúc đó người ta mới chú ý tới những tội ác và thói hư tật xấu của ông ta và đồng đảng.
© DCVOnline
——————————————————————————–

(1) Được biết trong 10 bài thuyết trình tại Trung Tâm Việt Nam, có hai bài được chú ý đặc biệt là bài của tác giả Nguyễn Ngọc Bích và bài của cựu dân biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng. Ông Tưởng phát biểu với tư cách một nhân chứng lịch sử quan trọng. Bài của ông lại được dịch giả Nguyễn Ngọc Bích chuyển ngữ nên đã thu hút cử toạ một cách đặc biệt. Được biết tác giả Nguyễn Ngọc Bích từng tốt nghiệp trường ngữ học Đông Phương ở Tokyo, là người đã sống tại Mỹ trên nửa thế kỷ, nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ.
(2) Tại hội trường đại học Texas Tech dăm chục người Mỹ ngồi nghe vài chục người Việt một cách bàng quan. Không có phút mặc niệm. Không có cờ vàng… để có thể có một dấu chỉ tưởng nhớ một cách thân thương đến những nạn nhân Việt Nam Cộng Hoà!
(3) Chỉ nguyên cái tên “chiến tranh Việt-Pháp” đủ cho thấy nhà viết sử Lê Xuân Khoa đã coi cụộc chiến lúc ấy là cuộc chiến giữa một bên là quân Pháp cùng một số “tay sai” và một bên là quân Việt Minh của Cộng Sản được nhân dân Việt Nam ủng hộ. Đáng tiếc là chẳng những không thấy ai lên tiếng cải chính, mà còn có nhiều người vô ý viết theo, và một vài người đã khen là cuốn sử của ông Khoa viết hay (!) Đúng ra thì trong đó cũng có nhiều cái hay, nhưng không bù được cái sai to tướng và vô cùng quan trọng kia.
(4) Cựu đại sứ Bùi Diễm, tân lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng hiện thời, lúc ấy là bộ trưởng phủ thủ tướng, ở bên cạnh thủ tướng, lãnh tụ Đại việt Phan Huy Quát, đã thành thật thú nhận Mỹ đã tự ý đem quân tác chiến ồ ạt vào Việt Nam mà không hỏi ý chính phủ Việt Nam. Nghĩa là chẳng coi chủ quyền VN ra gì? (Xin xem In The Jaws of History, by Bui Diem, with David Chanoff, Houghton Mifflin, Boston, 1987, trang 338.)

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4895


Minh Võ

Tôi dám khẳng định như vậy, vì cái công đánh đuổi thực dân giành độc lập là công lớn lắm. Nước đã mất vào tay thực dân gần một thế kỷ. Nay Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản có công giải phóng đất nước khỏi tay thực dân, tức là làm cho đất nước phục sinh. Cả một giang sang đã mất. Nay lấy lại được, thì dù có tội gì cũng đáng được xí xoá hay thông cảm. Ngay chuyện nhượng đất, nhượng biển cho Trung Quốc cũng không phải là tội lớn, thậm chí chẳng đáng gọi là tội. Vì khi nhờ Trung Cộng giúp để đánh thắng thực dân thì chuyện đền ơn chút đỉnh đâu có đáng gì. Ngay khi có phong trào biểu tình phản đối Trung Cộng và Việt Cộng về chuyện Hoàng Sa và Trường Sa, chúng tôi đã tiên đoán chẳng đi đến kết qua nào. Cứ nhìn vào mấy trăm sinh viên vì lòng ái quốc xuống đường phản đối, liền bị bạo lực răn đe và lời lẽ ngọt bùi dỗ dành, họ liền giải tán.

Nếu họ biết ông Hồ và đảng CS Việt Nam không hề có công giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, thì sẽ không phải chỉ có mấy trăm sinh viên, mà sẽ có cả triệu sinh viên và công nhân, nông dân, tuốn ra khắp các nẻo đường. Công an chỉ có thể chặn được mươi mười lăm nhóm là cùng. Làm sao ngăn chặn được làn sóng người người lớp lớp tiến lên như vũ bão ở khắp mọi nơi?


Toàn thể đại diện Quốc hội khóa I chụp ảnh với Hồ Chí Minh (1946)
Nguồn: nguoihoa.hochiminhcity.gov.vn

Là kẻ hậu sinh, lật lại những trang sử vào những năm 1945-1946, chúng tôi không khỏi buồn và ngạc nhiên, khi thấy phe quốc gia chúng ta lúc ấy lại có thể cả tin và mắc bẫy của Hồ Chí Minh một cách dễ dàng đến như vậy.

Những Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần… đã nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của họ Hồ ngửa tay ra nhận 70 ghế trong “quốc hội” của Việt Minh mà không được bầu. Và còn nhận tham gia cái chính phủ liên hiệp giả hiệu của ông Hồ.

Điều đó làm cho ông ta được thế nói với thế giới và nhân dân rằng, chính quyền của ông ta là chính quyền đoàn kết quốc gia, được toàn dân ủng hộ.

Thực tình mà nói, nhận 70 ghế không bầu và một số bộ trong chính phủ là nhận của bố thí, của đút lót của phường lưu manh, để nó bảo gì cũng phải nghe. Và nó có cớ sau này, mạt sát, sỉ nhục, kể cả việc hàng loạt đồng chí chiến sĩ Việt Cách, Việt Quốc bị thủ tiêu, tàn sát dã man, mà không ăn làm sao, nói làm sao được.

Nói về sỉ nhục, chỉ xin nêu trường hợp của ông Nguyễn Tường Tam, một nhà văn đa tài, nhưng là một chính khách không lấy gì làm sáng giá.

Trong lúc giữ bộ ngoại giao trong chính phủ Hồ Chí Minh, ông là trưởng đoàn Việt Nam dự hội nghị Đà Lạt để thương thuyết với Pháp. Nhưng ông đã bị một tay “tà-lọt” của Hồ Chí Minh là Phùng Thế Tài qua mặt. Tất cả diễn tiến hội nghị đều được tay này báo cáo thẳng cho Hồ Chí Minh và nhận chỉ thị của Hồ Chí Minh trao lại trực tiếp cho Võ Nguyên Giáp mà không qua Nguyễn Tường Tam. (5)

Phải chăng vì vậy mà sau này có lúc họ Nguyễn đã tâm sự, cuộc đời ông buồn nhất là lúc làm ngoại trưởng?


Hồ Chí Minh
Nguồn: nvhtn.org.vn

Một năm sau, ông Hồ còn viết sách dưới bút hiệu Trần Dận Tiên để sỉ nhục nhóm các ông Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, gián tiếp bảo họ chẳng khác gì phân bón. Riêng ông Nguyễn Tường Tam còn bị tố cáo là lấy công qũy bỏ trốn. (6)

Rồi, sau khi cả họ Hồ lẫn họ Nguyễn đã không còn, Võ Nguyên Giáp cũng lại nhắc lại chuyện ông Hồ ví “bọn đó” với phân bón. (7)

Ông Diệm sở dĩ về sau đã làm được chuyện lớn, như cụ Phan Sào Nam đã nói trước 21 năm, là vì đã khôn ngoan và vô cùng can đảm thẳng thừng từ chối cái chức bộ trưởng nội vụ mà Hồ Chí Minh đề nghị. Nói vô cùng can đảm vì lúc ấy ông đang nằm trong tay sinh sát của họ Hồ, như cá trên thớt. (8 )

Chúng tôi nêu trường hợp ông Diệm ở đây vì ông có liên hệ đến cái chết của nhà văn Nhất Linh mà ông rất mến tài. Khi được tin ông Nhất Linh tự tử, ông Diệm đã phải lên Đà Lạt mấy ngày mới khuây khoả.

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi biết mình bị chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra toà xét xử (về tội có dính líu đến cuộc đảo chính bất thành 1960) đã tự tử, để lại câu: Đời tôi, để cho lịch sử xử.


Những câu Trần Dân Tiên và Võ Nguyên Giáp ví Nguyễn Tường Tam và các đồng chí của ông như “phân bón” còn đó trên giấy trắng mực đen.
Nguồn: http://www.vietnamlit.org

Một năm sau, ông Hồ còn viết sách dưới bút hiệu Trần Dận Tiên để sỉ nhục nhóm các ông Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, gián tiếp bảo họ chẳng khác gì phân bón. Riêng ông Nguyễn Tường Tam còn bị tố cáo là lấy công qũy bỏ trốn. (6)

Rồi, sau khi cả họ Hồ lẫn họ Nguyễn đã không còn, Võ Nguyên Giáp cũng lại nhắc lại chuyện ông Hồ ví “bọn đó” với phân bón. (7)

Ông Diệm sở dĩ về sau đã làm được chuyện lớn, như cụ Phan Sào Nam đã nói trước 21 năm, là vì đã khôn ngoan và vô cùng can đảm thẳng thừng từ chối cái chức bộ trưởng nội vụ mà Hồ Chí Minh đề nghị. Nói vô cùng can đảm vì lúc ấy ông đang nằm trong tay sinh sát của họ Hồ, như cá trên thớt. (8 )

Chúng tôi nêu trường hợp ông Diệm ở đây vì ông có liên hệ đến cái chết của nhà văn Nhất Linh mà ông rất mến tài. Khi được tin ông Nhất Linh tự tử, ông Diệm đã phải lên Đà Lạt mấy ngày mới khuây khoả.

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi biết mình bị chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra toà xét xử (về tội có dính líu đến cuộc đảo chính bất thành 1960) đã tự tử, để lại câu: Đời tôi, để cho lịch sử xử.

——————————————————————————–

Hiện nay lịch sử đang do kẻ chiến thắng (là VC) viết. Những câu Trần Dân Tiên và Võ Nguyên Giáp ví Nguyễn Tường Tam và các đồng chí của ông như “phân bón” còn đó trên giấy trắng mực đen.

Các đồng chí của ông ngày nay và sau này, có đánh đổ được thần tượng Cha Già Dân Tộc của Hồ Chí Minh, thì mới có hy vọng viết lại lịch sử. Và lúc đó cũng mong rằng nỗi oan của ông Ngô Đình Diệm cũng sẽ được giải toả.

Theo tôi đoán, nếu không lầm, thì cái tâm trạng muốn tự tử có lẽ đã nhem nhúm ngay từ khi ông Nguyễn bị sa vào bẫy của ông Hồ, để khiến hàng trăm đồng chí bị Việt Cộng tàn sát. Nhất là khi ông đọc được những lời Trần Dân Tiên phỉ báng, lăng nhục các ông.

So với những gì họ Hồ làm cho ông và đảng của ông, thì thái độ của Ngô Đình Diệm đối với ông và đảng của ông có đáng cho ông tự hủy chăng?

Vả lại, tội âm mưu lật đổ một chính quyền hợp hiến hợp pháp lúc ấy, cũng như những vụ nổi loạn ở Ba Lòng hay ném bom dinh Độc Lập trước kia không thể bào chữa được trước luật pháp của nước, và cả trước lịch sử. Ông Diệm dù có tốt đến mấy, cũng chỉ có thể ân xá theo quyền hạn của Tổng Thống.

Nên nhớ ông Diệm lúc ấy là người duy nhất có đủ dũng lực, quyền uy khiến ông Hồ nể sợ. Chính nhà cách mạng lừng danh Phan Bội Châu còn tiên đoán chỉ những người như Ngô Đình Diệm mới làm nổi đại sự. (9)

Chúng tôi mạo muội đề nghị các đồng chí của lãnh tụ Nguyễn Tường Tam trong các đảng Đại Việt hay Việt Nam Quốc Dân Đảng hiện nay, muốn báo thù cho vị lãnh tụ khả kính, và các đồng chí lão thành của mình, hãy dồn tâm trí vào việc đánh đổ thần tượng “cha già dân tộc” của Hồ Chí Minh, thay vì dựa vào những thông tin sai lệch hay thiếu sót nói xấu một lãnh tụ quốc gia khác có tầm vóc hơn như ông Diệm.

Điểm thứ hai, cũng đề nghị qúy vị hãy rút kinh nghiệm bài học đắng cay chua chát của đường lối liên hiệp, đừng lại tự để mình sa vào bẫy đàn em của Hồ Chí Minh, như các bậc tiền bối của chúng ta. Nếu Việt Cộng – có thể qua trung gian môi giới của một đại cường nào đó – hứa biếu không 100 ghế trong cái gọi là quốc hội, hay vài bộ trong cái chính phủ do đảng CS lãnh đạo, thì cũng phải dứt khoát từ chối và lột mặt nạ của chúng.

Thời 1945, 1946 các vị tiền bối của chúng ta cỡ Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần trúng mưu của họ Hồ mà nhận lãnh 70 ghế trong quốc hội Cộng Sản, còn có thể châm chước được. Vì lúc ấy CS còn quá mới, nhân dân chưa biết nó là tai hoạ. Ông Hồ cũng chưa được nhiều người biết tính xảo quyệt. Nhưng ngày nay nếu chúng ta còn mắc lừa thì là điều không thể tha thứ được.

Trước khi kết thúc, xin được trở lại với cách thức làm thế nào chứng minh Hồ Chí Minh và đảng CS Việt Nam không có công giành độc lập và thống nhất.

Như trên đã trình bày thì nếu chỉ nhìn vào những sự kiện diễn ra thì thật là khó. Nhưng nếu đặt cuộc chiến Việt Nam vào trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ toàn cầu của CS, thì sẽ thành công. Điều này đã được chúng tôi nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong hàng loạt bài viết gần đây. Đến nỗi có người la toáng lên rằng “Biết rồi khổ lắm nói mãi”.

Nhưng biết rồi mà vẫn còn phải nói, vì phần đông người ta vẫn cứ chỉ tiếp tục kể tội ác của Cộng Sản mà quên rằng, CS luôn lấy công trạng và chính nghĩa giải phóng dân tộc để tự bào chữa cho tội ác. Thậm chí cả những dư luận thế giới cũng vào hùa với chúng để đổ cho phe quốc gia, và đồng minh đã gây ra những thảm trạng ấy mà họ bảo là “tội ác chiến tranh” phần lớn do kẻ “xâm lăng” (Mỹ, Pháp) gây ra.

Có điều đặt cuộc chiến Việt Nam vào trong bối cảnh cuộc chiến ý thức hệ toàn cầu của Cộng Sản là điều rất phức tạp.

Thứ nhất phải hiểu lý thuyết Mác Xít về đấu tranh giai cấp. Có hiểu điều này thì mới hiểu thế nào là chiến tranh ý thức hệ CS. Điều này ngày nay ít người muốn nghe nhắc lại. Cứ bảo nó đã lỗi thời rồi, nhắc lại làm gì.

Thứ hai cần nêu rõ mục tiêu cuối cùng của đấu tranh giai cấp là đưa giai cấp vô sản (sic), mà thực ra là các người lãnh đạo khối Cộng toàn thế giới, trong đó chủ yếu là người Nga, người Tầu. lên nắm quyền chuyên chính tuyệt đối. Cái tên hấp dẫn là chuyên chính vô sản. Đến khi đó thì thế giới sẽ trở thành thế giới đại đồng. Không còn giai cấp, không còn cần chính phủ. Xã hội loài người sẽ là xã hội thần tiên. Thiên đàng dưới thế.

Cuộc chiến mà Khối Cộng toàn thế giới chủ trương nhắm đưa loài người đến cái ảo tưởng ấy.

Vậy mà họ đã giết hại trên một trăm triệu con người để cố đi tới đó.
Tiếp đến phải chứng minh, bằng chính tư liệu của phe Cộng, của đảng CSVN, bằng hành động, tiểu sử của chính Hồ Chí Minh, rằng ông ta là kẻ làm việc có ăn lương của Quốc Tế Cộng Sản, để điều khiển mọi hoạt động của đảng nhắm mục tiêu phục vụ cho cuộc chiến toàn cầu của khối Cộng.

Ngoài ra còn cần nêu rõ mục tiêu sách lược của cuộc chiến toàn cầu là tiêu diệt chủ nghĩa thực dân, đế quốc, không phải vì lợi ích của các dân tộc bị trị, mà là cho mục tiêu tối hậu của sự chiến thắng cuối cùng của chủ nghĩa Cộng Sản. Vậy Việt Cộng, với sự tiếp viện dồi dào của cả khối Cộng thế giới, nhất là về mặt tuyên truyền, tình báo, đã đánh Pháp không phải vì chủ nghĩa dân tộc, mà vì chủ nghĩa quốc tế của khối Cộng.

Điểm này là điểm khó khăn hơn cả. Muốn chứng minh một cách rõ rằng, không thể nào không am hiểu về chiến lược, sách lược đấu tranh của Cộng Sản. Tiếc rằng ngày nay người ta thường vin cớ nó đã lỗi thời, để chê cười những người còn phân tích, nghiên cứu những thứ đó.

Cuối cùng, sau khi đã nói về chủ thuyết và chiến lược, sách lược, là phần chứng minh những chính sách lớn thực hiện trong chế độ là rập khuôn theo đúng các chính sách xã hội của các nước CS khác như Trung Quốc và Liên Xô, ví dụ chính sách Cải Cách Ruộng Đất, chính sách hợp tác hoá, chính sách cải tạo tư sản v.v…và nhất là chính sách bưng bít thông tin, tiêu diệt tự do ngôn luận.

Mấy điểm đại cương nêu một cách vắn tắt như trên, thực ra là nội dung của nhiiều chương sách mà chúng tôi đã trình bày, mổ xẻ, phân tích để tổng hợp thành những kết luận có tính thuyết phục. Chúng tôi cũng đã đọc kỹ và phân tích những tác phẩm lớn gần ngàn trang của những tác giả ngoại quốc thường ca tụng ông Hồ là anh hùng dân tộc, để vạch ra những mâu thuẫn và sai sót hay thiên vi của họ.

Xin bạn đọc miễn cho chúng tôi khỏi nhắc lại ở đây. Vì khuôn khổ một bài báo không cho phép. (10)

Dầu sao thì vẫn phải nhận rằng thay đổi một nhận định của một số đông về công tội của một người như Hồ Chí Minh là công việc khó khăn, phức tạp.

Chính vì những khó khăn phức tạp trên mà một số người đấu tranh hiện nay cố tránh né, không dám trực diện với huyền thoại, thần tượng Hồ Chí Minh. Họ chủ trương: “Đánh sập ngôi đền, thì tượng tức khắc sập theo”. Nhưng tiếc rằng thần tượng HCM lại là cái cột trụ chống đỡ ngôi đền chế độ. Có thể phá bỏ chế độ mà không đốn ngã cột trụ chống đỡ nó trước không?

Tắt một lời, bao lâu chưa chứng minh được Hồ Chí Minh không có công đánh đuổi thực dân Phàp giành độc lập, thì việc kể tội ác của CS sẽ chẳng ích lợi bao nhiêu. Vì khi đó đối phương vẫn còn ở thế mạnh để có thể cang cổ nói ngược lại rằng những tội ác đó là do Pháp và tay sai thực dân Pháp gây ra, trực tiếp hay gián tiếp.

Mà muốn chứng minh Hồ không có công đó, thì chỉ có cách đặt cuộc chiến Việt Nam vào trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ CS, trong đó VC cùng với CS Quốc Tế là kẻ tội đồ của nhân loại. (11)

Đầu tháng Tư Đen, 2008
© DCVOnline
——————————————————————————–

(5) Chúng tôi đã thuật rõ việc này trong Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp, Tủ Sách Tiếng Quê Hương tái bản năm 2006, Virginia, chương 11, từ trang 193- 200.
(6) Về chi tiết xin xem HCM, nhận định tổng hợp của Minh Võ, chương 9 từ trang 163- 180.
(7) Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp của Minh Võ chương 30, từ trang 363..
Thiết tưởng nỗi sỉ nhục này, không chỉ dành cho các nhà lãnh đạo hai đảng Việt Quốc và Việt Cách. Mà tất cả những ai chống Cộng đều nên coi là nỗi nhục của mình để cùng nhau chung sức rửa nhục.
(8 ) Xin xem The Two Vietnams của Bernard Fall, Frederich A. Praeger, USA, 1967, trang 240. Cũng như phần lớn các sử gia ngoại quốc, Bernard Fall chê ông Diệm độc tài. Nhưng nhiều chỗ không giấu được sự thán phục về sự cương quyết và tài tiên đoán thời cuộc như nhà tiên tri.
(9) Xin xem Chương 2 cuốn Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê và bài Tản Mạn Về Tiếng Việt của Minh Võ đăng trên DCVOnline 6-7 tháng 2, 2008. Phần chú thích của DCVOnline: bài thơ Vô Đề cụ Phan làm về ông Diệm. Trong các tài liệu này nhà cách mạng lừng danh họ Phan đã gọi ông Diệm là chí sĩ, vĩ nhân, và còn ngụ ý nói mình muốn được đánh xe cho ông Diệm. Những ai sau này đọc được những lới ca tụng, của 3 vị tổng thống Mỹ và Thống Tướng Maxwell Taylor gọi ông Diệm là con người của phép lạ, là Churchill của Á Châu, là tảng đá đỉnh vòm, là nắp hộp Pandora… thì sẽ không lấy làm lạ. Điều khiến lấy làm lạ, là có vài nhà khoa bảng người Việt Nam ngày nay, lại dám chê ông Diệm bất tài, ngu dốt! Trong khi đó những sử gia và nhà báo nổi tiếng Pháp, Mỹ như Bernard Fall, Stanley Karnow, vốn phê bình ông Diệm thua kém ông Hồ, nhưng vẫn phải phục viễn kiến chính trị của ông như một nhà tiên tri. (Xem Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê.)
(10) Nếu quý bạn đọc muốn kiểm chứng lại xem những lập luận của chúng tôi có đủ để phản bác hoàn toàn luận điểm của những kẻ tôn ông Hồ là Cha Già Dân Tộc, hay anh hùng cứu quốc không, thì xin tìm đọc hai cuốn Ai Giết Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp xuất bản đã năm sáu năm nay.
(11) Cách nay đúng nửa thế kỷ, 4 tác giả cuốn “Protracted Conflict” do Giáo Sư Robert Strausz-Hupé chủ biên đã cảnh báo các nhà lãnh đạo thế giới tự do: “Chúng ta đang ở trong thế chiến 3 (tức chiến tranh ý thức hệ của CS, MV). Phe Cộng đang thắng vì họ biết họ ở trong đó. Còn chúng ta đang thua, vì chúng ta không chắc mình đang lâm chiến hay đang hưởng hoà bình.”
Từ thời gian đó cho đến 1975, các chiến lược gia Mỹ, nhất là hàng ký giả, đã không biết chiến tranh ý thức hệ CS là gì, cho nên mới thua ở Việt Nam. Cho đến khi Richard M. Nixon và Henry Kissinger (12) là những người am tường về chiến tranh ý thức hệ cố rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Rồi sau đó áp dụng đúng những chiến lược, sách lược của loại chiến tranh này, thì mới có thể biến thất bại chua cay ở Việt Nam thành khởi đầu của những chiến thắng ngoạn mục liên tiếp trên các mặt trận khác để đi đến sự sụp đổ hoàn toàn của khối cộng Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô.
Ngày nay muốn chiến thắng Việt Cộng, để bắt chúng phải xin lỗi và đền tội về những tội ác tầy trời trong chiến tranh, trong đo có những vụ thảm sát kinh hoàng ở Huế (những mồ chôn tập thể ở Gia Hội, Khe Đá Mài….), ở Quảng Trị (đại lộ kinh hoàng…), các nhà đấu tranh cho dân chủ tự do cũng cần đặt cuộc chiến Việt Nam trong dĩ vãng trở lại vào trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ CS toàn cầu, để thấy rõ những tội tầy trời của Hồ Chí Minh.
(12) Khi cuốn Protracted Conflict xuất bản, năm 1959, Henry Kissinger đang dậy ở đại học Havard. Ông đã đọc kỹ cuốn sách này và khuyên những ai muốn làm chính trị phải đọc để hiểu rõ về Cộng Sản. Thời gian đó cũng là lúc, ở Saigon, chính quyền Ngô Đình Diệm cho dịch hàng loạt những sách về Cộng Sản như của George Orwell, Kravchenko, Arthur Koestler… và mời những chuyên viên về CS ở Nga, Đức, Anh, Đài Bắc, Phi Luật Tân v.v… sang làm cố vấn về CS cho chính phủ, và các công chức cao cấp.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4898

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: