Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 18, 2008

Trung Quốc đã thức dậy rồi …

Trung Quốc đã thức dậy rồi …thế giới có run sợ chưa ?

B.S.Nguyễn Lưu Viên.

———————————

Sở dĩ tôi đề tựa của bài này như trên là bởi vì hồi năm 1973, chánh-trị-gia và văn-hào Pháp Alain Peyrefitte (de l’Académie Francaise) có viết một quyển sách tựa là : “Quand la Chine s’éveillera… le monde tremblera ” (Khi nào Trung-quốc thức dậy… thì thế giới sẽ run sợ). mà theo tác giả thì câu đó chính là câu của Napoléon Ier nói hồi năm1816, sau khi đọc bài “Voyage en Chine et en Tartarie” của lord Macartney, người đại-sứ đầu tiên của Anh-quốc ở Trung-hoa [thời vua Càn Long]. Sách của Ông Peyrefitte được tái bản và cập-nhựt năm 1980, năm 1989, và năm 1990.

Rồi gần đây, ngày 26 th.10 -2006.Tổng Thống Pháp Jacques Chirac trong chuyến công-du (lần thứ tư) sang Trung-quốc, đã tuyên bố với sinh-viên trong Viện Đại-Học BắcKinh rằng: ” Ngày mai, Trung quốc sẽ là một trong những đại-cường-quốc, nếu không phải là cường quốc mạnh nhứt của thế giới [“Demain la Chine sera une des grandes puissances sinon la plus grande puissance du monde”] Và nguyên Thủ-Tướng Pháp Jean-Pierre Raffarin, trong cùng phái-đòan, thì tuyên bố răng: ” Đối với con cái của chúng tôi, tiêu-chuẩn phải đạt được không còn là Mỹ nữa mà là Trung-quốc” [” Pour nos enfants, la norme ne sera plus Américaine mais Chinoise”.]

Tức là Trung-quốc đã thức dậy rồi

,..

Phần lớn những nhà phân tách chánh trị đều cho rằng đó là công của Ông Đặng Tiểu Bình. Đúng. Nhưng không phải là đầu hôm sớm mai, một sớm một chiều, mà dân Trung Quốc hơn một tỷ ngưồi, chấp nhận những sự thay đổi kể cả về tư tưởng để cùng nhau <<thức dậy>>. Nhà văn Hồ Thích [Hu Shi 1891-1962] hồi năm 1941 đã đặt câu hỏi: “Dân chủ của Trung quốc có một nền tảng lịch sử hay không ?” và đã trả lời là nguồn gốc tư tưởng dân chủ của Tàu đã có từ thời Khổng Tử và Mạnh Tử.

Thì chúng ta dọc trong sách “Khổng Học Đăng” của Cụ Phan Bội Châu ở tr.290 có câu: Thi vấn: lạc chi quân tử,dân chi phụ mẫu;dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi; thử chi vị dân chi phụ mẫu. Nghỉa là : Kinh Thi có nói rằng:Vui vẽ vậy thay người quân tử, làm cha mẹ của dân; cái gì mà dân vui ham thì mình cũng vui ham theo : cái gì mà dân ghét thì mình cũng ghét theo: như vậy mới bảo là cha mẹ của dân. Bốn chữ “dân chi phụ mẫu ” là có ý xem dân như con của mình,thương yêu nó như thương yêu con mình: cái gì nó muốn thì mình cũng muốn cái đó như nó (để sắm cho nó) cái gì nó ghét thì mình cũng ghét cái đó như nó (để tránh cho nó) [ thì có khác gì nói dân biểu với nghị sĩ phải làm cái gì dân muốn và tránh cái gì dân ghét] Có một số chánh khách ViệtNam vì muốn đả kích Nho giáo nên đã cắt đầu xén duôi câu văn của Khổng Tử mà chỉ nhắc đến mấy chữ “Dân chi phụ mẫu (Cha mẹ của dân) rồi giải thích xuyên tạc là: ” cha mẹ bảo làm gì thì con phải nghe theo”.

Còn Mạnh Tử thì dạy: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh; thị cổ đắc hồ kỳ dã nhi vị thiên tử. Nghĩa là: Ở trong một nước quý trọng nhứt là dân, rồi đến đất đai (xã) và lúa gạo (tắc) còn vua thì lại khinh rẽ. bởi vì có dân mới làm được vua, dân đặt ra vua chớ không phải vua đặt ra dân.(ở tr.413 của sách nói trên).

Ông Hồ Thích cũng nhắc đến việc khoa-cử (keju) như là một tổ chức dân chủ .Thì chúng ta thấy rằng khoa-cử là một hình thức dân chủ đặc biệt để cho tất cả mọi công dân không phân biệt giàu nghèo già trẻ đều có cơ hội đồng đều như nhau để tiến thân. Trong lịch sử Tàu cũng như lịch sử Việt Nam chúng ta thấy có biết bao nhiêu là gương người xuất thân trong gia đình nghèo mà nhờ thi đậu các khoa cữ [thi hương, thi hội, thi đinh] nên đã tiến thân làm quan đến tột bực trong xã hội, một xã hội không giai cấp.[ Cụ Phan Thanh Giản (i793-1867) là cái gương sau cùng được lịch sử VN nhắc đến.] Không cần phải có suffrage universel mới là dân chủ, mà donner les mêmes chances à tous les citoyens cũng là dân chủ.

Sau cùng Ông Hồ Thích cũng nhắc đến việc các triều đình vua hồi xưa tự đặt cho mình một cơ quan giám-sát {its own opposition and censorial control). Thì ở Việt Nam hồi xưa trong triều có quan Ngự-Sử chuyên việc can gián vua hoặc hạch hỏi quan lại trong triều.[Cụ Phan Đình Phùng là quan Ngự-sử cuối cung trong lịch sử Việt Nam].

Nhưng con đường canh tân và dân-chủ-hóa không phải là một con đường một chiều thẳng băng láng bóng không có đèn đỏ để phải chờ, không có detour để phải quẹo. Ngay như Pháp quốc, sau cuôc Cách Mạng 1789, đã phải nhiều lần quay lại chế độ quân-chủ độc tài nhiều hay ít (Napoléon Ier, LouisXVIII, Charles X,) rồi một cuộc Cách Mạng Thứ Nhì năm 1830, rồi lại một chế độ quân chủ nữa ( Louis Philippe I) rồi một cuộc Cách Mạng Thứ Ba năm 1848 rồi lại một lần nữa quay lại chế độ quân chủ độc tài với Napoléon III, cho tới sau năm 1870, mới dạt được nền dân chủ của ngày hôm nay.mà còn phải sửa đi sửa lại nhiều lần: [ IIIème République(1870-1940), République de Vichy (1940-1944), IVème République (1948-1958 ) và Vème République (kể từ 1958 cho tới ngày hôm nay].

Thì Trung-quốc cũng phải vậy. con đường canh tân và dân-chủ-hóa sẽ rất là gay go khó khăn cực nhọc, mà còn khó khăn hơn Pháp bội phần, vì dân số gắp bốn lần Hoa-kỳ, bằng dân số của Âu-châu cộng với Phi-châu, và trong số 22 tỉnh của Trung-quốc có 9 tỉnh mỗi tỉnh dân đông hơn dân của cả nước Pháp.

Không đi lùi quá xa trong lịch sử, mà chỉ xem từ thời triều đại cuối cùng của Trung-quốc là triều Nhà Thanh (Qing Dynasty) đã bắt đầu có nhũng sửa đổi. Vua Thanh thứ nhì là Thanh Thánh Tổ [Qing Sheng Zu 1662-1722 (tức là đồng thời với vua Louis XIV và Mazarin bên Pháp)] niên hiệu Khang Hy [Kang Xi], rất thông minh, văn võ song tòan, đã dẹp lọan Ngô Tam Quế Cảnh Tinh Trung, Thượng Khả Hy, đã chiếm ĐàiLoan, đã khuất phục Tây Tạng, và một số khu vực Tây-Á, và đã triệu tập các học giả để soạn bộ Khang Hy Từ Điển (Kang Xi Zi Dian)[gồm có 42 quyển, mỗi chữ được giải thích rất tường tận lại được nhà vua nâng đở nên được lưu hành rộng rãi trong dân gian để nâng cao dân trí.].

Sau đó vua Thanh Cao Tông [Qing Gao Zong] niên hiệu Càn Long [Qian Long 1736-1796] tiếp tục bành trướng Trung-quốc, chiến thắng bộ-lạc Mông-cổ Chuẩn Cát Nhĩ , bình định bộ-lạc Hồi ở Tây Vực [vùng Tân Cương ngày nay] ,dẹp bộ lạc Đại Kim và Tiểu Kim Xuyên [Tứ Xuyên ngày nay] và sai Tôn Sĩ Nghị sang đánh An-nam nhưng bị vua Quang Trung Nguyễn Huệ đánh bại. Cũng giống như Khang Hy,ông rất trọng văn học, mời nhiều nho-gia nổi tiếng sọan sách, rất công phu, như bộ Tứ Khố Tòan Thư (Si Ku Quan Shu), sau 10 năm mới xong, tuyển lựa 79.339 quyển của

4 loại văn: kinh, sử, tử và tập. rồi chia ra làm 3 bộ được cất trữ ở ba nơi : Văn Hối Các ở Dương Châu, Văn Nguyên Các ở Viên Minh Viện, và Văn Tôn Các ở Nhiệt-hà, và cho phép các sĩ phu tới những nơi đó để chép lại.để phổ biến cho dân chúng đọc hầu làm tăng sự hiểu biết của dân. Nhưng đến năm 1851 với lọan Thái Bình Thiên Quốc [Tai Ping Tian Guo] của Hồng Tứ Tòan [Hong Xiu Quan] thì VănTôn Các và Văn Hối Các lần lượt bị đốt, và đến năm 1860 liên quân Anh-Pháp tiến vào Bắc-kinh thiêu hủy luôn Văn Nguyên Các.

Đến thời Từ Hi Thái Hậu [Empress Dowager Cixi 1834-1908] thì Trung-quốc lại thoái hóa. Bà là mẹ của vua Thanh Mục Tông [Qing Mu Zong] niên hiệu Đồng Trị [Tong Zhi]. Sau khi Muc Tông lên ngôi, Ông tôn vinh mẹ là Thánh Mẩu Hoàng Thái Hậu, hiệuTừ Hi. Bà là một người thông minh, nhiều mưu mẹo, ham quyền, và tàn bạo. Vua Mục Tông có vợ là Bà Từ An nhưng không có con. Khi vua Muc Tông chết thì Từ Hi Thái Hậu lựa trong hoàng tộc một đứa cháu mới có 4 tuổi lên nối ngôi là Thanh Đức Tông [Qing De Zong] niên hiệu là Quang Tự [Guang Xu]. Trong cả hai triều Mục Tông và Đức Tông, Bà Từ Hi đều buông mành ngồi sau vua tham dự việc triều chính.[Sử gọi là “Thùy Liêm Thính Chính”].Khi lớn lên, vua Đức Tông thân chính muốn cùng nhóm Khang Hữu Vi [Kang You Wei] canh tân xứ sở, nhưng Bà Từ Hi và các đại thần thủ cựu chống lại cuộc cải cách. Bà Từ Hi lại lâm triều , giam vua Quang Tự trong Doanh Đài ở Hồ Tây Uyển. Còn Khang Hữu Vi thì phải bỏ chạy sang NhựtBổn. Trong suốt 47 năm Bà quyết định mọi việc quan trơng. Bà tin tưởng vào nhóm Nghĩa Hòa Đoàn [Yi He Tuan, Tây Phương gọi là ” Boxers”] đưa đất nước đến chổ bại vong như thua Giặc Nha-Phiến (Opium War 1839-1842), nhượng HongKong cho Anh (1842) nhượng nhiều tô-giới cho ngoại bang, thua giặc với NhựtBổn (1894-1895), bị Bát Quốc Liên Quân [Anh, Pháp, Đức Ý, Áo, Mỹ, Nga, Nhật.] chiếm Bắc Kinh (1901). Cuối đời Bà sống buông thả,dâm lọan, sủng nhiệm bọn họan quan. Bà mất lúc 74 tuổi.

Ba năm sau khi bà Từ Hi Thái Hậu qua đời, thì năm 1911, với cuộc Cách Mạng Tân Hợi, Tôn Trung Sơn [Sun Yat Sen hay là Sun Zhong Shan 1866-1925] lập lên Trung Hoa Dân Quốc, và áp dụng học thuyết “Tam Dân Chủ Nghỉa với đảng Quốc Dân Đảng của Ông.

Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời [th.3-1925] và sau khi loại được Uông Tinh Vệ [Wang Jing Wei] thì Tưởng Giới Thạch [Jiang Jie Shi, hay là Chiang Kai-shek 1887-1975] thành lãnh tụ tối cao của Quốc Dân Đảng và Tổng Thống Trung-Hoa Dân Quốc.Ông tham gia Đệ Nhị Thế Chiến về phía Đồng Minh (1939-1945), đánh Cộng Sản trong cuộc Nội Chiến Quốc- Cộng (1946-1949) rồi phải bỏ lục-địa chạy ra Đài-Loan trứõc khi Cộng Sản tòan thắng vào tháng 10-1949, và vẫn còn làm Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc hơn 20 năm nữa . Ông mất ngày 5-th.5-1975.

Trong lúc đó thì ở lục địa ngày 1-th.10-1949, Mao Trạch Đông [Mao Ze Dong hay là Mao Tse Tung 1893- 1976] thành lập chánh phủ Cộng Hòa Nhơn Dân Trung Hoa. và nhờ có Chu Ân Lai [Zhou En Lai 1898-1976] làm Thủ Tướng, dã đem lại một số cải cách, lấy lại tòan vẹn chủ quyền quốc gia không còn tô-giới của ngoại quốc, và bắt đầu có tiếng nói trên trường quốc tế, tham gia Chiến Tranh Triều-tiên [the Korean War 1950-1953] và đóng vai quan trọng trong Hội Nghị Geneva về Đông-Dương (1954).

Nhưng rồi Trung-quốc lại đi lên đường thoái hóa khi đến tháng 8-1966, Mao Trạch Đông phát động cuộc Văn-Hóa Đại Cách-Mạng [Wen Hua Da Ge Ming] với thâm ý là để khai trừ các đối thủ, loại bỏ những thành phần chống đối đường lối của ông trong dảng Cộng sản như Chủ-tịch Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao Qi] bị tống ra khỏi đảng, bị hành hạ và chết trong ngục tối (1969), hay là Phó Thủ Tướng Dặng Tiẻu Bình [Deng Xiao Ping] bị tước hết quyền và khai trừ (1966); còn trên thực tế thì các thành phố, các cơ-xưởng, các trường đại-học, là những nơi mà bọn “vệ binh đỏ” đập phá, lôi cổ những nhà cách mạng lão thành ra đấu tố và làm nhục công khai ngoài đường phố, làm cho cả nước rối loạn có nguy cơ rơi vào thảm họa nội chiến và làm chết cả triệu dân. Chủ Tịch Mao Trạch Dông qua đời th.9-1976.Tháng 10-1976 thì dẹp xong bọn Tứ Nhân Bang [Si Ren Bang,] gôm có Giang Thanh [Jiang Qing] vợ của Chủ tịch Mao Trạch Đông , Trương Xuân Kiều [Zhang Chun Qiao] Diệu Văn Nguyên [Yao Wen Yuan] và Vương Hồng Văn [Wang Hong Wen] bị kết án về tội phản cách mạng và gây ra cái chết của hàng triệu người vì vai trò của họ trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa .

Đặng Tiểu

Bình [ Deng Xiao Ping 1904- 1997] kể từ năm 1978 dược coi như là một nhà lãnh tụ xuất sắc nhứt của Trung-quốc với chánh sách khai phóng (Kai Fang Zheng Ce) trong mọi lãnh vực nhứt là lãnh vực kinh-tế [“Mèo trắng mèo đen, mèo nào cũng được miễn là bắt được chuột”] đưa Trung-quốc lên hàng đại cường quốc như Tổng Thống Jacques Chirac đã công nhận, và làm cho cả thế giới phải kính nể.

Còn thế giới có run sợ hay không thì không biết. Chớ Việt Nam ở sát bên nách thì phải sợ run. Mỹ thì không run sợ nhưng cũng lo sợ, vì Ngũ Giác Đài đã liệt kê Trung-quốc như là một địch-thủ trong tương lai. Lo sợ, mà có làm gì để phòng không? Chắc là có, nhưng việc đó thuộc phạm-vi “bí-mật quốc-gia” [secrets d’État] nên không ai biết được.

Nhưng có thể dưới mắt của Pentagon, lo sợ là lo sợ về mặt quân sự, chớ không để ý tới những yếu điểm của Mỹ về mặt dân sự để đề phòng. Những yếu-điểm đó phải được coi như là những << huyệt >> trong cơ thể, mà theo vũ-thuật của Tàu, thì chỉ cần << điểm >> nhẹ vào một cái, cũng đủ làm tê liệt cả người, hơăc làm cho chết luôn. Những <<huyệt>> đó là gì, và ở đâu ?

1- Cái << huyệt>> thứ nhứt là đồng dollar

 

Yếu tố quan trọng nhứt làm cho Hoa-kỳ dẫn đầu thế giới trong lãnh vực kinh-tế là việc Tổng Thống Nixon năm 1971 rút dollar ra khỏi bản vị vàng [gold standard] thì đồng dollar được chấp nhận như là đồng tiền dự-trử [reserve currency] quý nhứt mà các ngân-hàng trung ương [central banks] của mọi quốc gia đều phải tích-trữ để mua mọi vật phải trả tiền bằng dollar. Nhưng khi Hoa-kỳ sau này càng ngày càng nhập cảng quá nhiều hơn là xuất cảng, nhứt là nhập cảng dầu hỏa [thì làm giàu cho các quốc gia Trung Đông và Nga] và nhập cảng các vật thường dùng [thì làm giàu cho Trung-cộng.] Cho nên hiện nay TrungCộng có số tiền dự trữ bằng dollar nhiều nhứt trên thế giới [cho tới ngày 30-th.6-2006, là $941 tỹ (billion) dollar, và có thể hơn một ngàn tỷ (one trillion) vào cuối năm 2006].

Mặt khác sự sai biệt giữa nhập cảng quá nhiều và xuất cảng quá ít, cộng với việc tiêu xài quá lớn cho quân sự và chiến tranh làm cho sự thiếu hụt [deficit] của Mỹ tăng lên bội phần [$900 tỷ dollar mỗi năm] nghĩa là 7% Tổng Sãn Lượng Quốc Gia [GDP]. Mà công dân Mỹ lại tiết kiệm [save] rất ít, không có nhiều tiền gởi vào nhà bank cho nên chánh phủ Hoa-kỳ phải vay bằng cách bán công-khố phiếu quốc gia [bonds] một số ít cho tư-nhân, phần lớn cho các ngân-hàng trung ương ngoại quốc,để có tiền mặt mà tiêu. Nhưng bonds bán ra thì hằng năm phải trả tiền lời, hết hạn phải trả tiền vốn , nếu làm không được thì phải nợ. Cho nên Mỹ mắc nợ [nhứt là với Tàu và Nhựt] một số tiền khổng lồ [hằng năm $900 tỹ dollar, và đến ngày 24-th.8-2006 tiền nợ của quốc gia (national debt) là $8.5 ngàn tỷ (trillion) dollar.

Sự tăng gia nợ của quốc gia là dấu hiệu của một nền kinh tế suy kém, đang lôi đồng dollar đến gần vực thẳm, chỉ cần <<điểm>> một cái là có thể sụp. Nhưng nếu <<điểm>> quá mạnh làm cho dồng dollar sụp quá lẹ [như tung ra thị trường một lần cả tỷ dollar làm cho đồng dollar mất giá và ảnh hưởng lớn vào nền kinh tế của Mỹ] thì các quốc gia có dự trữ nhiều dollar cũng bị thiệt thòi vì nắm trong tay một số quá lớn giấy xanh [dollar] không còn giá trị, và sự suy sụp kinh tế Mỹ có ảnh hưởng trên tòan cầu, kể cả trên quốc gia đã tung ra cái <<chưởng>>ấy. Cho nên các ngân hàng trung ương ngoại quốc phải nghĩ ra cách làm sao cho quốc gia mình sẽ bị ảnh hưởng ít tai hại khi đồng dollar bị sưp. Thì họ nghĩ rằng phải bớt dự trữ dollar mà dự trữ thêm tiền euro, hay là vàng, để cho nếu (if), hay khi nào (when), dồng dollar sụp thì mình sẽ bị ảnh hưởng tai hại ít hơn. Mục tiêu thường được đặt ra là 50% dollar và 50% euro với vàng. Khi muc tiêu đó dạt được thì bớt hoăc không mua bonds của Mỹ nữa. Chánh phủ Mỹ in công khố phiếu quốc gia ra, chỉ còn bán được một số ít, thì không có đủ tiền mặt để tiêu xài nên sẽ phải in thêm giấy bạc, tức là đi lên con đường lạm phát, càng ngày càng sâu, thì đồng dollar sẽ càng ngày càng mất giá, có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng kinh tế. Đó là thuật <điểm huyệt>>thật nhẹ nhưng vẫn giữ tay ghì lên huyệt cho tới khi nào địch ngã gục.

Nga đã đạt được muc-tiêu 50%-50% nói trên hồi mùa hè năm 2006, Trung Cộng thì còn 60% dollar , và các ngân hàng trung ương của các quốc gia khác ở Á-Đông cũng đang trên con đường đó..

2- Cái <<huyệt>> thứ nhì là dầu hỏa.

 

Cho đến nay Mỹ lệ thuộc rất nhiều vào dầu hỏa được nhập cảng nhứt là từ TrungĐông. Mà cho đến nay Mỹ không gặp trở ngại khó khăn là vì cho đến nay thị-trường dầu hỏa dựa trên hai nền tảng chính là :1- mua dầu hỏa phải trả tiền bằng dollar (petro-dollar) và 2- khối dầu thô (crude oil) được sản xuất ai mua cũng được, theo mguyên tắc “the liberal oil market order” dưới sự kiểm-soát của IEA [International Energy Agency] và của OECD [Organization for Economic Cooperation and Development]. Mà Mỹ dẩn đầu hai cơ quan ấy, nên các hãng dầu Mỹ (Mobil, Exon, Chevron,Texaco, Shell v.v) làm chủ thị trường và cung cấp nhiên liệu đầy đủ cho Mỹ.

Nhưng sau này, ngày hôm nay Nga trở thành quốc gia cung cấp nhiên-liệu lớn nhứt trên thế giới [ the world’s biggest energy supplier], xuất cảng còn nhiều hơn Saudi Arabia [ Nga:13,3 triệu barrel mổi ngày, Saudi Arabia 10 triệu barrel]. Nga có số dự trữ gas lớn nhứt thế giới. Còn Iran thì dứng thứ nhì về số dự trữ gas, và dứng trong nhóm hàng đầu của thế giới trong việc sản xuất dầu hỏa. Mà Nga và Iran cũng như TrungCộng và các quốc gia khác ở Dông-Á không có tiếng nói trong hai cơ quan kể trên. Cho nên mới đây Nga, Iran, Trung-quốc và một số quốc gia khác ở Á-Đông và Tây-Á, đã thỏa thuận trên nguyên tắc là chỉ bán dầu cho những quốc gia nào có ký “hợp-đồng song-phương cung-cấp dài hạn” [bilateral long-term supply contract]. Thì các hãng dầu Mỹ bị ra rìa và Mỹ có thể bị cho ra ngoài vòng an-toàn về nhiên-liệu [the circle of international energy security]. Đó là một cách <<điểm huyệt>> dầu hỏa. Nga và Iran còn đang nghiên cứu việc chuyển từ petro-dollar qua petro-euro nghĩa là mua dầu phải trả bằng tiền euro. Nếu hai quốc gia ấy quyết định như vậy thì chắc là các quốc gia sản xuất dầu khác trên thế giới [như Venezuela, Indonesia, Norway. Sudan, Nigeria, và các nước ở Trung-Á], cũng sẽ làm theo, thì là <<điểm>> một đòn chí tử nữa cho đồng dollar.

3-Cái <huyệt> thứ ba là máy tính điện-tử hay máy vi-tính (computer).

 

Mỹ đứng đầu trên thế giới trong Kỷ-thuật Truyền-thông (Information Technology IT) nên triệt để áp dụng IT trong mọi lãnh vực sinh hoạt dân sự cũng như quân-sự. Theo kế hoạch <<Chiến Tranh Nhơn Dân>> của Trung quốc, thì những “tay cuốc” (the hackers) [trong 2 triệu người của quân-đội, và hơn 1 tỷ người trong dân chúng] có thể tấn công ồ ạt trong một cuộc chiến “cyber attack” thì tất cả các hệ thống sinh-hoạt dân sự như hệ thống nhà bank (banking system),hệ thống dẫn điện (power grids), hệ thống dẩn nước (water system),hệ thống dẫn dầu và gas(oil and gas pipeline) hệ thống kiểm soát vận chuyển phi-cơ và xe lửa (air traffic and train traffic control systems) đều bị tê liệt. Đời sống của toàn dân Mỹ được coi như là phải ngưng.

Đến nước này thì Mỹ phải dùng quân sự để trả đũa. Đó là công việc của Pentagon.Và đây là lúc mà tòan thế giới phải run sợ. Sợ có chiến tranh nguyên tử. Trung-quốc đã tuyên bố nhiều lần là sẽ không dùng nguyên-tử trước (will not be the first to use nuclear weapon) nhưng làm sao tin được khi mà ông sư-tổ về chiến lược của Trung-quốc từ nhiều thế kỷ nay là Tôn-Tử Võ, đã viết ngay ở chương đầu của sách Binh Pháp của ông: “Binh giả, quỷ đạo dả” (nghĩa là:Thuật dùng binh là thuật lừa dối) “Cố: Năng nhi thị chi bất năng; dụng nhi thị chi bất dụng” (nghĩa là: Cho nên: Có khả năng thì giả vờ là thiếu khả năng, muốn dùng binh thì giả vờ là không muốn dùng binh).

[Tôi xin nhắc lại là Tổng Thống Hồ Cẩm Đào [Hu Jintao] của Trung Quốc, hồi giữa năm 2006, trong chuyến công-du qua Mỹ, đã tặng cho Tổng Thống Bush tận tay một bản dịch ra Anh-ngữ của sách Binh-Pháp của Tôn -Tử. Thì chắc là Mỹ, sau khi đọc, không còn ngây thơ để tin vào lời tuyên bố nhiều lần, như nói ở trên, của Trung Cộng nữa đâu.].

N.L.Viên. 22-th.12-2006

(doi-thoai )

 

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: