Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 20, 2008

Điểm sách “TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT“

Đôi lời: “Lịch sử là lịch sử” – cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng thời cũng từng là một giáo sư sử học đã nói vậy. Có lẽ hiểu câu nói đó ít nhất ở một điểm, là phải tôn trọng giá trị chân xác của lịch sử, trong đó cứ liệu lịch sử là vô cùng quan trọng. Dữ dội hơn, triết gia-nhà toán học Bertrand Russell đã nói:”Sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”.

Từ một cuốn sách mua trong quán sách cũ vỉa hè, không biết tới khi nào mới được phép tái bản, nhưng lại nói lên bao điều, không phải chỉ về nội dung trong đó, mà cả về những lý do cho sự có mặt và rồi không được có mặt của nó trên giá sách “chính thống” nữa …

Trong lúc xã hội lại tiếp tục ồn ã quanh chuyện học sinh không thích môn sử, học kém môn sử cùng bao nhiêu bài báo, hội nghị, hội thảo, …để tìm lời giải, không biết có ai trong những người có trách nhiệm đã thử lần ngược tới những căn nguyên sâu xa hơn là những giáo án, phương pháp dạy của thầy, … ? Và lời giải cho một trong những căn nguyên đó nằm ngay trong những thứ như cuốn sách này.

Tôn trọng cứ liệu lịch sử, xin được giới thiệu cùng bà con hai lời tựa của cuốn sách. Trộm nghĩ, trong cái không may bao giờ cũng có những điều may mắn.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XOÓC – BON

VIỆN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT

CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG

LẦN THỨ NHẤT

(GIƠ – NE – VƠ – 1954)

PHƠ – RĂNG – XOA GIOAY – Ô

Tiến sĩ Văn chương

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN LÝ LUẬN

HÀ – NỘI 1981

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn “Trung – quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương’’ là một công trình soạn thảo rất công phu của Phơ -răng – xoa Gioay – ô (Francois Joyaux) một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung – quốc. Công trình này được hoàn thành vào tháng 3 năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc – kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía bắc nước ta.

Để biên soạn công trình này, tác giả đã được phép khai thác nhiều tài liệu mật của cơ quan lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp như các biên bản các cuộc họp tay đôi giữa phía Pháp với phía Trung – quốc, những điện mật của đoàn Pháp báo cáo về chính phủ Pháp đánh giá diễn biến của hội nghị và thái độ của các nước dự hội nghị, những biên bản các phiên họp hẹp của hội nghị đó, những điện mật của đại diện ngoại giao Pháp ở những nước tham dự hội nghị …Như mọi người đều biết, trong hội nghị Giơ – ne – vơ năm 1954 về Đông – dương, những người lãnh đạo Trung – quốc đã cùng với đế quốc Pháp thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung – quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt – nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam – phu – chia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước Đông – dương để đảm bảo an ninh cho Trung – quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt-nam và Đông dương, đồng thời giữ vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế: Trước hết là ở Châu Á. Cho nên những tài liệu mật được tác giả nêu lên trong cuốn sách này là những tư liệu có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều điều làm sáng thêm một số vấn đề trước đây đã được nghiên cứu về hội nghi Giơ – ne – vơ năm 1954.

Khi biên soạn công trình này, tác giả còn tham khảo hầu hết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về hội nghị này, những cuốn hồi ký của nhiều nhân vật đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị, đồng thời đọc rất nhiều báo chí của những nước tham dự hội nghị hoặc liên quan mật thiết đến hội nghị để dẫn ra những tư liệu cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Có thể nói đây là bản tổng hợp những tài liệu chứng minh chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh đối với nước ta và các nước khác ở Đông – dương.

Giá trị của cuốn sách không chỉ dừng lại ở đó. Là một nhà nghiên cứư lịch sử, tác giả không chỉ hạn chế ở việc dẫn ra những tư liệu phân tích sâu sắc về thái độ của giới cầm quyền phản động Bắc- kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương. Chính từ sự phân tích đó, qua các chính sách của Trung-quốc từ lịch sử xa xưa cho đến hội nghị Giơ-ne–vơ về Đông dương, tác giả đã khách quan làm rõ “sợi chỉ đen” xuyên suốt trong chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung – quốc đối với ba nước Việt – nam – Lào và Cam – pu – chia.

Cuốn sách này gồm 4 phần:

Phần thứ nhất chủ yếu phân tích những nhân tố quyết định thái độ của Bắc-kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông- dương, đó là:

Vào năm 1954. Mao Trạch Đông “hoàn toàn chế ngự” Đảng, quân đội, Nhà nước, song rõ ràng tình hình kinh tế có khó khăn. Hơn nữa đã có những rạn nứt trong quan hệ Trung – Xô mà “sự liên minh bền vững trong chừng mực cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung-quốc”. Trước tình hình đó, lại muốn đạt quy chế cường quốc, Bắc- kinh “có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ bình thường với các nước phương Tây” để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, phá thế cô lập với các nước phương Tây là một yêu cầu chiến lược của Trung-quốc lúc đó. Pháp, Mỹ đã đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế đó “có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Bắc Kinh”. Đó là “đề tài của sự mà cả ngầm” (Pháp), “lợi ích của Trung -quốc là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông – dương” (Mỹ).

Nhưng những nhân tố trên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thái độ của Trung – quốc. “Tính truyền thống lâu đời trong quan hệ Trung -Việt, và ở mức độ thấp hơn đối với Lào và Cam- Pu Chia, cũng sẽ đóng vai trò quyết định”.

Lịch sử mối quan hệ đó từ các triều đại phong kiến Trung-quốc đến Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, đều cho thấy các chế độ chính trị ở Trung – quốc luôn coi Việt – nam có một vị trí đặc biệt đối với họ. “Các đế chế Trung-hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ hoà bình kiểu Trung – quốc đối với các bờ cõi phía nam…ngày nay cũng như trước đây; điều đó đã thực sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng ở Giơ – ne – vơ”.

Trước hội nghị Giơ –ne – vơ năm 1954, trong khi ở phương Tây người ta lo ngại Trung-quốc có thể can thiệp trực tiếp vào Đông Dương thì ngược lại, Bắc kinh lại làm rùm beng, tỏ ra lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông – dương. “ Vào mùa xuân năm 1954, Trung -quốc đã lựa chọn sự cùng tồn tại hoà bình” và đối với Bắc – kinh, “Đông – dương không được trở thành một Triều –tiên mới”. Thái độ đó bắt đầu từ sau khi đình chiến ở Triều – tiên. Trên thực tế, Bắc – kinh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề Đông –dương bằng thương lượng từ mùa thu năm 1953, trước cả Việt – nam, và chỉ viện trợ cho Việt – nam “đủ để tạo thuận lợi cho Việt – Minh giành thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt – Minh có thể làm cho Mỹ và đồng minh của Mỹ can thiệp, dù cho lúc đó đồng minh có thể “viện trợ to lớn hơn viện trợ mà họ đã thực sự dành cho Việt Minh”.

Do đó, việc tiến hành thương lượng về Đông –dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung – quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn –đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế ở Trung – quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông – dương, tạo khả năng cho Trung – quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung – quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung – quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”.

Phần thứ hai và thứ ba của cuốn sách chủ yếu nói về diễn biến của hội nghị Giơ – ne – vơ và thái độ của giới cầm quyền Bắc –kinh đến Giơ – ne –vơ “không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”.

Trong giai đoạn đầu của hội nghị đồng thời là bước đầu của Trung – quốc vào sân khấu quốc tế, thái độ của Bắc – kinh trên công khai là “cứng rắn và lập trường triệt để đứng về phía Liên – Xô”. Nhưng Bắc – Kinh cũng đã để lộ ra là “tránh không tố cáo” tuyên bố giữa Pháp và bù nhìn ngày 28-4-1954 về việc Pháp trao trả độc lập cho Việt –nam. Và từ giữa tháng 5, chỉ ít ngày sau khi khai mạc hội nghị (8 tháng 5), Bắc- kinh “nhanh chóng chứng tỏ rằng lập trường của Trung – quốc không phải chỉ phản ánh một cách đơn giản lập truờng của Liên – Xô”. Trong các phiên họp hẹp và những cuộc tiếp xúc tay đôi với Anh và đặc biệt với Pháp, họ đã nói rõ:

Ngày 18 tháng 5: “Chúng tôi đến đây không phải để ủng hộ quan điểm của Việt- Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”. Trung-quốc không nhất thiết khuyến khích hoạt động quân sự của Việt – Minh tiến về đồng bằng”.

Ngày 27 tháng 5: “Về Lào và Cam – Pu – Chia, quan điểm của Trung – quốc phù hợp với quan điểm của Pháp”; “ các vùng tập kết phải được xác định trên cơ sở hình thái quân sự chứ không phải chính trị”.

Ngày 7 tháng 6: “Chúng tôi không có điều kiện nào cả, chúng tôi chỉ đơn giản muốn hoà bình”.

Vì vậy hội nghị về vấn đề Đông-dương vẫn không tiến triển được. Ngày 15 tháng 6, hội nghị Giơ – ne – vơ về vấn đề Đông-dương chịu chung số phận đó. Trong khi đó ở Pháp, chính phủ Măng – đét Phrăng (Mendes – France) lên cầm quyền, Bắc – kinh đã chọn thời điểm phù hợp này để triển khai trở lại hội nghị về vấn đề Đông – dương “bằng cách đưa ra một đề nghị cốt tử về các vấn đề Lào và Cam – pu – chia”. Đề nghị đó “có tính chất thúc đẩy quyết định” mà Mỹ cũng hoan nghênh đó là:

Ngày 16 tháng 6: Chu Ân Lại gặp ngoại trưởng Anh, đã nói là “có thể thuyết phục Việt – Minh rút quân khỏi Lào và Cam – pu – chia” sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của chính phủ Vương quốc Lào và Cam – pu – chia. Trong phiên họp toàn thể ngay chiều hôm đó, Bắc – kinh đưa ra đề nghị 6 điểm tách riêng biệt việc giải quyết các vấn đề Lào và Cam – Pu – Chia khỏi vấn đề Việt – nam. Còn phía Việt- nam thì vẫn đòi công nhận Pa – thét Lào và Khơ – me It – xa – rắc. Và ngày hôm sau, 17 tháng 6, Chu Ân Lai nói với ngoại trưởng Pháp nội dung cụ thể giải pháp vấn đề Cam –pu – chia, được đánh giá là “chưa có một bản trình bày nào lại rõ ràng và chính xác hơn thế”. Trong bản trình bày đó, Chu Ân Lai còn nói đến một vùng tập kết quân Pa – thét Lào ở biên giới Việt – nam và Trung – quốc, nhưng cùng ngày, phía Việt- nam đòi Pa – thét Lào kiểm soát một nửa nước Lào.

Ngày 23 tháng 6, khi gặp Măng – đét- Phrăng ( Mendes France), Chu Ân Lai nói rằng Trung – quốc “không đòi đền bù gì về những nhượng bộ đối với vấn đề về Lào và Cam – Pu – chia, không lợi dụng khó khăn của Pháp để đòi chính phủ Pháp phải nhân nhượng điều gì”. Về hội nghị thì “cần thảo luận các vấn đề quân sự trước các vấn đề chính trị, và giải pháp chính trị có thể tiến hành theo nhiều bước trong một thời gian khá dài: Cần đẩy nhanh việc thương lượng về việc tập kết quân đội Việt – nam, thời hạn là ba tuần”.

Chu Ân Lai còn khẳng định sẽ “thúc đẩy đoàn đại biểu Việt – nam dân chủ cộng hoà nhích lại gần không những với nước Pháp và còn với Việt – nam của Bảo Đại”.

Tác giả nhận xét là tiếp đó, với nội dung Măng – đét – Phrăng (Mendes France) chỉ thị cho đoàn Pháp thương lượng với Việt – nam dân chủ cộng hoà (tập kết quân, đường danh giới ở vào vĩ tuyến 18…) thì “ kể từ nay việc chia cắt Việt – nam đã trở thành mục tiêu chính của đoàn đại biểu Pháp”.

Giai đoạn chót của hội nghị bắt đầu từ trung tuần tháng 7, sau ba tuần lễ dậm chân tại chỗ trong khi vắng mặt các trưởng đoàn và diễn ra cuộc gặp giữa Chu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh từ 3 đến 5 tháng 7 vì “sự tồn tại mối bất hoà giữa Trung – quốc và Việt – Minh vào cuối tháng 6 năm 1955 là không thể nghi ngờ được”.

Ngày 13 tháng 7 gặp lại Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đề cập đến vấn đề ranh giới tạm thời giữa Nam và Bắc Việt – nam, Chu Ân Lai tin rằng nếu Pháp “tiến lên một buớc thì phía bên kia sẽ đi nhiều bước hơn để đón các ngài” và “theo sự thoả thuận”, ngay chiều hôm đó phía Pháp đưa đến cho Trung – quốc bản dự thảo về tuyên bố chính trị cuối cùng của hội nghị.

Từ đó, phía Trung – quốc “đóng vai trò nổi bật” trong việc giải quyết những vấn đề tồn tại của hội nghị, với những nhượng bộ “có ý nghĩa quyết định” của phía Trung – quốc đối với đòi hỏi của Pháp và việc gây sức ép đối với phía Việt – nam dân chủ cộng hoà, trong những vấn đề then chốt:

Với thời hạn tuyển cử: trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà đòi thời hạn 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị một cách phải chăng rằng “các cuộc tuyển cử nên lùi lại 2 năm cho đến năm 1956, các đại biểu hai miền Nam Bắc sẽ thoả tuận với nhau về thời hạn chính xác”.

Về giới tuyến: Trong khi phía Việt – nam dân chủ cộng hoà vẫn giữ ý kiến vĩ tuyến 16 thì Chu Ân Lai nói “ thực tế là Việt-nam dân chủ cộng hoà tuyệt đối không cần đến con đường số 9” mà phía Pháp coi đó là con đường ra biển của Lào. Sau đó khẳng định với phía Pháp là “đã làm cho Việt Minh chấp nhận” ý kiến của Trung – quốc.

Kết thúc hội nghị Giơ – ne – vơ tối ngày 22 tháng 7, Chu Ân Lai mời cơm các truởng đoàn Việt – nam dân chủ cộng hoà, vương quốc Lào và vương quốc Cam – pu – chia, và cả Ngô Đình Luyện, “tập hợp các đại biểu của bốn nước Đông – dương”. Trong bữa cơm, Chu Ân Lai chúc sức khoẻ Bảo Đại, gợi ý Nam Việt – nam đặt một Công sứ quán tại Bắc – kinh, “một gợi ý mà Việt – Minh tuyệt nhiên không được báo trước”.

Phần thứ tư của cuốn sách chủ yếu nói lên thái độ của giới cầm quyền Bắc – kinh đối với việc thi hành hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông – dương đặc biệt về vấn đề thống nhất Việt – nam và chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương.

Về vấn đề thống nhất Việt – nam, sau hội nghi Giơ – ne – vơ, “trong khi các nhà lãnh đạo và báo chí Việt – nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung- quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan thì việc Trung – quốc bỏ qua một cách có hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Vịêt – nam lại càng trắng trợn”. Điện mừng của Mao Trạch Đông, khi ký Hiệp định Giơ – ne – vơ, phát biểu của thủ tướng Chu Ân Lai khi tiếp thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua Bắc – kinh đầu tháng 8 năm 1954, phát biểu của đại sứ La Quý Ba khi trình quốc thư đều không nói đến vấn đề đó. Ngược lại, phía Việt–nam “ không ngừng khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thồng nhất đất nước”.

Từ thực tế trên tác giả nhắc lại rằng Măng – đét – Phrăng (Mendès France) khi đàm phán với Chu Ân Lai, đã tin tưởng là Trung – quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, Việt – nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung – quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc – kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt – Minh ở hội nghị Giơ – ne – vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt – nam dân chủ cộng hoà phải giảm bớt “ tham vọng” đối với miền nam Việt – nam và đối với các nước khác ở Đông – dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt – nam và cả trên bán đảo Đông – dương. Ý đồ của Bắc – kinh còn ở chỗ là “ bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam – kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung – quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu” ; “ sau khi Việt – nam bị chia cắt, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung – quốc từ nay duy nhất có khả năng cung cấp cho những nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Tình trạng đó từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng với chính sách của Trung – quốc ở Việt – nam”.

Về chính sách của Trung – quốc đối với vấn đề Đông – dương, sự khác nhau cũng thể hiện ngay trên các tuyên bố công khai. Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm của Trung – quốc về một Đông – dương đa dạng có nghĩa là “ Lào và Cam – Pu – Chia phải là đối trọng với Việt – nam”. Và “ lập trường của nhân dân Trung – hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông – dương, muốn Ban-căng hoá Đông – dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông – dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Cam – Pu – Chia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới”. Đó là: “ một chính sách Đông – dương nối tiếp chính sách của các triều đại hoàng đế xưa kia”, mà một trong những nét nổi bật nhất của chính sách đó là ý muốn thường xuyên duy trì hoà bình ở sườn phía nam, dựa trên thế cân bằng lập ra từ những sự cạnh tranh giữa các nước khác nhau ở trong vùng …một chính sách chia để trị cổ xưa”.

Tóm lại, tác giả kết luận, “phải chăng người ta thấy lại cách đối xử “vô tư” xưa kia, dưới cái vỏ trật tự nho giáo, thường chỉ phục vụ lợi ích chính trị của đế chế Trung – hoa”.

“Thái độ của Trung – quốc đối với Việt – Minh là thái độ của một cường quốc ủng hộ kiên quyết đồng minh của mình chừng nào mà mục tiêu của đồng minh có thể khớp với thế cân bằng (Bắc –kinh) đang tìm kiếm, nhưng cũng biết áp đặt một vài điều bó buộc trong trường hợp ngược lại”.Đông – dương thống nhất trong cuộc cách mạng như trước đây ở dưới chế độ thực dân nhường chỗ cho Đông – dương trở nên phức tạp biểu hiện ở bữa cơm cuả Chu Ân Lai ngày 27 tháng 7”.

Chiến lược của Bắc – kinh rõ ràng là muốn Đông – dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ ,”đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung – quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc – kinh. Cho nên Bắc – kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt-nam, duy trì các chính phủ vương quốc ở Lào và Cam – Pu – Chia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung – hoa. Và trong suốt mấy chục năm qua mặc dầu bối cảnh quốc tế và tình hình nội bộTrung – quốc có những đảo lộn lớn, song Bắc – kinh vẫn duy trì một cách liên tục chính sách không thay đổi đó. Sau khi Việt – nam đã thống nhất năm 1976, quan hệ Việt – Lào được tăng cường, bối cảnh căn bản khác với năm 1954 và những năm sau đó, nhưng Bắc – kinh vẫn “tiếp nối thẳng tắp thái độ ở Giơ – ne – vơ” nhằm duy trì cái gì còn có thể giữ đựơc trong chính sách “chia đề trị” ở Đông – dương. Vì vậy nếu ngày hôm qua, vào giữa những năm 1950, họ muốn có một Cam – Pu – Chia theo “chủ nghĩa quốc gia” và là một đối trọng với Việt- nam thì ngày nay, vào giữa những năm 1970, họ tạo nên một Cam – Pu – Chia “cách mạng” để chống lại nước Việt- nam thống nhất. Đó là mục tiêu không thay đổi trong chính sách Đông – dương mà tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc – kinh theo đuổi.

“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương“ là một cuốn sách mà mọi người chúng ta nên đọc để hiểu thêm về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tuy nhiên, do tác giả đứng trên lập trường tư bản để viết nên cuốn sách này cũng có những nhận định sai lầm. Chúng ta đã có cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, một công trình nghiên cứu có hệ thống, một tài liệu đấu tranh sắc bén chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.

Chúng tôi trích dịch cuốn sách này để bạn đọc tham khảo.
(còn tiếp)


Trang 221:Điểm sách “TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT“
Điểm sách “TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT“

(tiếp theo trang 220)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XOÓC – BON

VIỆN NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT

CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG

LẦN THỨ NHẤT

(GIƠ – NE – VƠ – 1954)

PHƠ – RĂNG – XOA GIOAY – Ô

Tiến sĩ Văn chương

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN LÝ LUẬN

HÀ – NỘI 1981

LỜI NÓI ĐẦU

Phải thẳng thắn thừa nhận sự ngu dốt của mình, không đem tưởng tượng và bịa đặt thay thế cho điều mình không biết. Phải kể lại chính xác các sự kiện, và sau đó chỉ đưa ra những điều suy nghĩ ngắn gọn đối với những cái mà những sự suy nghĩ ấy có thể có giá trị.

(Hồi ký của Xanh Xi –mông)

“Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây, có sự tham dự của Trung – hoa, Bắc – kinh, đại sứ Giăng – Sô – ven (Jean Chauvel) trong hồi ký của mình đã nêu lên việc Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham gia hội nghị Giơ – ne – vơ như vậy.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên ư? Chắc chắn là như vậy: Nếu cuộc đàm phán quan trọng giữa Trung – quốc và Liên – xô trong những năm 1949 và 1950 ở nhiều điểm được coi là “một cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây thì ngược lại, sự giống nhau về lý tưởng của hai chế độ hiện diện đã làm cho cuộc gặp gỡ có tính chất một sự bình thường hoá quan hệ trong nội bộ khối hơn là một sự chạm trán giữa hai hệ thống. Còn cuộc thương lượng tại Bàn – môn – điếm, kết thúc chín tháng trước hội nghị Giơ – ne – vơ thì chưa bao giờ vượt qua giai đoạn của một thảo luận hạn chế về quân sự nhằm đi đến ngừng bắn ở một giới tuyến đã được số phận vũ khí định đoạt.

“Cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây” ? Triển vọng là to lớn. Nhưng chúng tôi thấy gọi như thế có vẻ đúng. Ý niệm đó thể hiện rõ ý hơn là dùng thuật ngữ “gặp gỡ Đông – Tây”. Đúng là chúng ta đang ở bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh vào thời kỳ quyết liệt, hai khối đang đối trọi nhau gay gắt. Thái độ cư xử của một Bi – đơn Xmit (Bedell Smith), của một Đa-let (Foaster Dulles), một Bi- đơn (Georges Bidault), một Mô-lô-tốp (Molotov) gần như luôn luôn nhắc tới điều đó.

Tuy vậy chúng tôi thích dùng “giữa phương Đông và phương Tây” hơn. Bởi vì Giơ – ne – vơ cũng là thái độ ôn hoà khôn khéo của một I-đơn (Anthony Eden), hay niềm tin còn nóng vội của một Măng – đét – Phrăng (Mendès France) đứng trước ngoại giao quỷ quyệt khôn lường của Chu Ân Lai hoặc hơn nữa là sự giận giữ lo âu của Phạm Văn Đồng. Tấm thảm kịch của một Đông – dương chia cắt đang thoát khỏi sự ràng buộc của thuộc địa. Sự cố gắng căng thẳng của một Trung – quốc mong muốn thế giới cũ và thế giới mới chấp nhận. Một châu Á đang vươn lên, mong muốn người ta hiểu mình trên diễn đàn quốc tế lâu nay bị châu Âu hay Hoa – kỳ chi phối. Đối với chúng tôi, Giơ – ne – vơ thuộc loại các cuộc thương lượng quan trọng, từng thời kỳ một, chúng ghi lại những sự biến đổi của thế giới.

Nhưng tại sao lại tìm cách tách riêng thái độ đặc biệt của Trung – quốc như vậy?

Ít nhất là vì hai lý do, bổ sung cho nhau là đằng khác.

Trước hết, bởi vì việc nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Trung – quốc hiện đại – chưa được phát triển ở Pháp- đòi hỏi phải xem xét kỹ càng, từng cái một và kiên nhẫn những thời điểm có ý nghĩa nhất trong quá trình tiến triển của nó trước khi có thể nghĩ đến những bức tranh rộng rớn về chính sách đối ngoại của Trung- quốc trong một thời kỳ lịch sử, Giơ – ne – vơ, cuộc đối mặt lớn lao đầu tiên của nước Trung – hoa mới với thế giới Phương Tây, đối với chúng tôi là một trong những thời điểm đó – thời điểm đáng để chúng ta bỏ công nghiên cứu đề tài đó – đáng để chúng ta bỏ công phân tích việc nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa bước vào “hệ thống quan hệ liên quốc” (quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác) như các nhà xã hội học về quan hệ quốc tế đã viết.

Từ nhận xét này chúng tôi đi thẳng đến lý do thứ hai phải ưu tiên nghiên cứu thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông – dương. Đây còn là một lý do về phương pháp nữa. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm phương Tây thì không hợp lý lắm, còn nói gì đến lý thuyết? Làm sao có thể thúc đẩy việc nghiên cứu tiến triển nếu chúng ta xem nhẹ tính đặc thù của các thế giới xa lạ nhất với chúng ta? Trong một tác phẩm của Vôn – te (Voltaire), khi xem xét “Trích Dự án hoà bình vĩnh cửu của ông thày dòng xanh Pi –e (Sanit – Piere)” do Rút – xô (J.J.Rousseau) công bố, Hoàng đế Trung – hoa đã nói : “Nhưng trẫm rất ngạc nhiên khi đã tìm mãi mà không thấy tên Trẫm trong danh sách”. Hai thế kỷ sau, ý nghĩ trào lộng này hình như vẫn không mất đi tính thời sự của nó.

Thật vậy, trong chừng mực nào đó, hệ thống quốc tế có cái lo-gích riêng của nó và nó buộc các nhà dương cục là các quốc gia phải tuân theo. Nhưng sự phản ứng của các quốc gia đó về căn bản cũng còn thể hiện nhân cách của mỗi nước. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng không nên đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung – quốc ít nhất là ở Đông – dương, giống như chính sách của Mỹ hay của Liên – xô mà công trình nghiên cứu này không đả động đến. Phải chăng đây là cuộc tranh luận triền miên giữa những “nhà nghiên cứu cái phổ biến” và những “nhà nghiên cứu cái đặc thù” ? Có thể như vậy.

Có nhiều công trình nói đến một phần đề tài chúng tôi đang quan tâm, đã được xuất bản đặc biệt là ở nước ngoài.

Một nhận xét đầu tiên, về hình thức: Ở nước Trung – hoa nhân dân chưa hề có một công trình nghiên cứu lịch sử có liên quan xa, gần đến thái độ của chính phủ Bắc – kinh đối với vấn đề Đông – dương năm 1954. Điều đó không có nghĩa là không có các nguồn Trung – quốc liên quan đến vấn đề đó, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi nói về báo chí. Giờ đây, chúng tôi chỉ muốn nói rõ rằng một vài cuốn sách tuyên truyền về vấn đề Đông-dương dương xuất bản trong những năm 1950 ở nước Trung – hoa nhân dân có thể đem lại những dữ kiện đáng chú ý. Chẳng hạn như cuốn sách nhỏ của HuCh ‘i-an tên là “Trình bày về vấn đề Đông – dương” xuất bản ở Thượng – hải năm 1954 trong đó có một chương nói về hội nghị Giơ – ne – vơ và một chương khác nói về việc giải quyết cuộc khủng hoảng (chương IX và X). Một vài tạp chí chuyên ngành hiếm hoi xuất bản ở Bắc – kinh như “Nghiên cứu về các vấn đề quốc tế” cũng có thể cung cấp những tư liệu có ích.

Ngoài ra ở Đài – loan và Hồng – công cũng đã xuất bản nhiều công trình, sách nhỏ hay bài báo liên quan đến khía cạnh này, khía cạnh khác của vấn đề, và đó là những nguồn thông tin đáng quan tâm. Ví như cuốn sách nhỏ của Chang Tachiin “Vấn đề cộng sản Lào” nói về quan hệ giữa Việt Minh, Đảng cộng sản Trung – quốc và Pa- Thét Lào. Hoặc nữa, các bài trong các tạp chí của Trung – hoa quốc gia như “Nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản Trung – quốc” (đó là tạp chí nghiên cứu về Bắc –kinh), “Những vấn đề và những đề tài nghiên cứu” xuất bản ở Đài – bắc, hoặc là “Triển vọng”, “Xuân Thu” xuất bản ở Hồng – công, …Đối với những nguồn như vậy, cần phải phê phán nghiêm túc về mặt lịch sử, nhưng sự đóng góp của chúng đôi khi có giá trị.

Ở Pháp – người ta có thể nói cả ở châu Âu – chúng tôi chỉ biết có một cuốn “Sự kết thúc của một cuộc chiến tranh” của Giăng La- cu – tuya (Jaen Lacouture) và Phi –lip Đơ – vi – le (Philippe Devillere) xuất bản ở Pa –ri năm 1960.

Cũng như thường xảy ra, sự đóng góp về nguồn tư liệu chủ yếu là của Mỹ. Sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ vào bán đảo Đông-dương kể từ khoảng năm 1960 đã lôi cuốn các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của Mỹ vào việc phát triển các công trình nghiên cứu về lịch sử Đông – dương, nhất là về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản Việt –nam cũng như về việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân Pháp. Một công trình tiêu biểu của Men –vin Guốc – tốp (Melvin Gurtov) là cuốn Cuộc khủng hoảng Việt – nam đầu tiên có một tiêu đề mục “Chiến lược của cộng sản Trung – quốc và sự dính líu của Mỹ, 1953-1954” do trường đại học Cô – lum – bi – a xuất bản năm 1967. Công trình của Kinh C.Chen, Trung – quốc và Việt – nam, 1938- 1954, do trường Đại học Prin –xơ – tơn xuất bản hai năm sau đó, phản ánh cùng một mối quan tâm của một nước Mỹ phiền muộn, muốn tìm hiểu sự thật. Phải kể đến công trình nghiên cứu quan trọng của Rô- be – Ran – đơn (Robert Randle) Giơ – ne – vơ 1954: việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương cũng do trường đại học Prin – xơ – tơn xuất bản năm 1969, theo chúng tôi biết, đó là công trình duy nhất nghiên cứu một cách tổng thể về hội nghị Giơ – ne – vơ kể từ khi có cuốn sách Giăng – la – cu –tuya và Phi – lip Đơ – vi – le. Hết thảy các công trình nghiên cứu đó dựa một phần vào những nguồn tư liệu gốc. Đặc biệt R.F. Ran- đơn đã cố gắng khai thác những hồ sơ lưu trữ riêng của J.F. Đa – let cũng như “Sưu tập lịch sử về Đa let” của trường đại học Prin – xơ – tơn. Nhưng nếu nguồn này có thể cung cấp những dữ kiện đáng chú ý để tìm hiểu thái độ của Mỹ trong việc giải quyết (cuộc chiến tranh Đông – dương) thì hiển nhiên là nó lại không thể đem lại những tư liệu quyết định về thái độ của Trung – hoa nhân dân, vì các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc như người ta sẽ thấy, là rất sơ sài trong thời gian hội nghị Giơ – ne – vơ. Không kể một vài cuộc nói chuyện với các nhân vật chính trị, những tác giả nói trên chủ yếu đã phải dựa vào các hồi ký của các nhà chính trị và các báo chí Mỹ và Trung – quốc.

Đồng thời chúng tôi cũng phải nói đến các công trình nghiên cứu của Liên – xô đã tăng lên gấp bội trong những năm gần đây, nhất là các công trình của Viện nghiên cứu Viễn đông – Mát – xcơ – va. Rõ ràng sự phát triển mối xung đột Trung – Xô đã đưa các sử gia Nga ngày càng nhấn mạnh đến những sự bất đồng giữa Liên – xô và Trung-quốc về chính trị đối ngoại. Do đó các công trình nghiên cứu của Liên–xô là một kho thông tin tư liệu quý báu có thể khai thác được. Nhưng cũng chắc chắn rằng nếu ở đâu cần phải chú ý đặc biệt đến việc phê phán về mặt lịch sử thì chính là ở các công trình này. Việc so sánh giữa hai công trình nghiên cứu của M.S. Ca-pit-sa (M.S. Kapitsa) (nguyên là thành viên của đoàn đại biểu Liên – Xô tại Giơ – ne – vơ), cuốn “Quan hệ Xô – Trung” xuất bản năm 1958 và cuốn “Nước cộng hoà nhân dân Trung – hoa: hai chục năm – hai chính sách” xuất bản năm 1969, có tác dụng đặc biệt soi sáng về phương diện này. Các công trình mới xuất bản đó cũng thường đưa lại những dữ kiện mới không thể phủ nhận được. Chính vì vậy chúng tôi sẽ coi trọng các công trình đó.

Sự đóng góp của công trình nghiên cứu của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, là ở chỗ công trình đó dựa trên những hồ sơ lưu trữ, trong trường hợp đặc biệt này là những hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp.

Những hồ sơ này là của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị Giơ – ne – vơ, của Vụ chính trị và của Bộ các quốc gia liên kết trước đây. Tức là những biên bản của các cuộc nói chuyện bán chính thức diễn ra tại hội nghị Giơ – ne – vơ giữa hai đoàn đại biểu Trung – quốc và Pháp và đó là những nguồn tư liệu đáng chú ý nhất. Trong số này có cả thư từ trao đổi giữa Pa-ri với Giơ – ne – vơ và Sài Gòn, cũng như Pháp và các đồng minh của mình.

Việc sử dụng những hồ sơ lưu trữ đặt ra một vấn đề phương pháp mà chúng tôi không có ý định lẩn tránh: có thể chấp nhận đến mức nào việc phân tích chính sách đối ngoại của một Nhà nước, trong trường hợp này là Trung – quốc, bằng cách dựa rất nhiều vào hồ sơ của một nước khác, như trong trường hợp này là nước Pháp, như chúng tôi sẽ làm? Cách tiến hành như vậy – có cần phải nhấn mạnh điều này không? Không thể coi là hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng con đường phải đi là như vậy vì ba lý do chính:

Trước hết, vì cho đến lúc kết thúc, Đông – dương chủ yếu vẫn là một vấn đề của nước Pháp. Trong quá trình hội nghị Pháp vẫn là người đối thoại được Trung – quốc ưu đãi. Vậy thì nếu những hồ sơ lưu trữ của Pháp rõ ràng là không thể đem ra thay thế hồ sơ lưu trữ của Trung-quốc thì người ta có thể thừa nhận rằng, ngoài hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc ra, đó là những tài liệu bổ ích nhất để nắm được đâu là những phương hướng chủ yếu của nền ngoại giao Trung – quốc.

Thứ hai, vì các biên bản của các cuộc họp tiếp xúc hẹp và bí mật mà lần đầu tiên chúng tôi có thể khai thác được, cho phép nắm được, nếu không phải là nguyên nhân thì ít nhất cũng là điều kiện, bối cảnh của chính sách Trung Quốc như đã được diễn đạt đúng như thế.

Cuối cùng, vì trong một chế độ xã hội chủ nghĩa như là Trung –quốc, báo chí, đài phát thanh hoàn toàn do Nhà nước kiểm soát, cũng là một ngồn thông tin không thể xem thường được. Báo chí Trung – quốc tự một mình nó – chủ yếu là báo hàng ngày như Nhân dân nhật báo và bản tin Tân Hoa xã – không thể là một cơ sở đủ cho việc nghiên cứu lịch sử. Trái lại, đem đối chiếu với các loại tư liệu gốc thì ngược lại báo chí trở thành một loại tư liệu bổ sung cần thiết. Một thứ bổ sung cứ mỗi bước lại đưa ra những sự so sánh đôi khi khá phong phú. Về phương diện này, chúng tôi coi báo chí Trung – quốc như một nguồn nếu không phải là chủ yếu thì ít nhất cũng là quan trọng hàng đầu.

Như vậy, tính chất của ngay các hồ sơ lưu trữ của chúng tôi chắc chắn sẽ đưa đến chỗ nói quá nhiều về quan hệ Trung – Pháp. Chắc chắn là trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Trung-quốc và phương Tây, nước Anh cũng đóng vai trò quyết định. Vậy mà, để phân tích quan hệ Trung–Anh, chúng tôi chỉ có tập Hồi ký của ngài I-đơn (Sir Anthony Eden) người dẫn đầu đoàn đại biểu Anh đã có nhã ý trao đổi với đoàn đại biểu Pháp. Thật là ít. Chắc chắn rằng đến ngày nào có thể khai thác được hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Anh thì sẽ hài lòng được thấy rõ hơn tầm quan trọng của các cuộc hội đàm giữa người đứng đầu nền ngoại giao Anh và Chu Ân Lai nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng Đông – dương.

Những tập hồi ký của nhiều nhân vật chính giới được xuất bản từ 1954 cũng giúp đỡ chúng tôi ít nhiều. Nhưng ở lĩnh vực này, việc phê phán các nguồn tư liệu cũng phải đặc bịêt ghiêm túc.

Trước hết, bởi vì thể loại văn học này cực kỳ phức tạp. Thế nào gọi là hồi ký? Hiển nhiên là không thể nghi ngờ gì được các tập Hồi ký I-đơn, nhật ký bảy năm của Ô–ri–ôn (Vincent Auriol). Bình luận của So–ven. Hồi ký của tướng Sa–lăng (Raoul Ralan) hoặc của Ê – ly (paul Ely) thuộc thể loại này và được sử dụng như các loại hồi ký. Nhưng những trang (171-176) trong cuốn Đảng cộng sản Trung – quốc cầm chính quyền mà Ghi – éc – ma (Jacques Guilermaz) viết về hội nghị Giơ – ne – vơ phải chăng được coi là “hồi ký” bởi lẽ tác giả là thành viên của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị? Hay là những trang (108-117)- không bổ ích gì lắm-trong cuốn Vấn đề Đông – dương từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai của La-vrit-sép (Alexandr Lavrisev) cũng được coi là “hồi ký” chăng ? Bởi vì tác giả cũng đã tham dự hội nghị với tư cách Tổng thư ký của đoàn đại biểu Liên – xô. Hoặc những trang (401-403) trong cuốn Quan hệ Xô – Trung của M.S. Ca – pít – sa cũng thế, bởi vì cũng như La-vrit – sép, M.S. Ca – pít – sa có mặt ở Giơ – ne – vơ lúc đó? Chắc chắn không phải như vậy. Vì chúng tôi đã cố ý chọn những cuốn sách mà việc biên soạn đã làm cho các công trình mang tính chất nghiên cứu bậc đại học, nghiên cứu chính thức chứ không phải là hồi ký. Nhưng giữa những thái cực đó, chúng ta sẽ xếp vào loại nào cuốn sách nhỏ nhan đề Tiếng vang trung thực của đại tá Ê – vôn (Reyert B. Ek vall) nguyên là phiên dịch tiếng Trung – quốc của đoàn đại biểu Mỹ tại Giơ – ne – vơ? Đó là kỷ niệm của một cuộc hội nghị hay là những điều khó hiểu về chính trị bắt nguồn từ những sự khó khăn trong việc phiên dịch. Hoặc cuốn sách của Hoàng Văn Chi nhan đề Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản. Đó là một công trình nghiên cứu về cải cách ruộng đất của Vịêt-Minh trong những năm 1953 – 1956 hay là chuyện kể của một nhân vật đặc biệt nhạy cảm đối với sự bành trướng về ý thức hệ của Trung – quốc ở Việt-nam?

Nhưng đương nhiên, những lầm lẫn về tài liệu hoặc việc “viết lại” lịch sử là những khó khăn nghiêm trọng nhất. Nhớ nhầm chăng? Đại sứ Sô – ven là ngưòi đã có mặt tại hội nghị từ ngày đầu tiên đến ngày cuối đã nhớ lại rất kỹ “cái động tác rất tiêu cực của Đa-let” lúc 20 giờ 40 ngày 15 tháng 6 khi ông này giơ tay tỏ ý không muốn hội nghị tiếp tục bàn về vấn đề Triều – tiên. Vậy mà Đa-let đã rời Giơ – ne – vơ ngày 3 tháng 5 không bao giờ trở lại đó nữa cho đến khi đạt được thoả thuận ngày 21 tháng 7. Hoặc nữa là cuộc nói chuyện dài với Chu Ân Lai ngày 19 tháng 6 khiến cho phiên họp của hội nghị phải lùi lại bốn tiếng đồng hồ, nhưng cuối cuộc nói chuyện, đại sứ Sô – ven đã dành được điều ông ta muốn. Vậy mà hồ sơ của Bộ Ngoại giao thì lại chứng minh một cách không thể bác bỏ được rằng cuộc nói chuyện đó đã diễn ra ngày 2 tháng 6 và Chu Ân Lai đã hoãn câu trả lời đến ngày hôm sau. Và người ta thường ngờ rằng nhiều tập hồi ký khác cũng có thể đưa ra nhiều ví dụ tương tự.

Tuy nhiên, nhiều công trình về thể loại đó là những nguồn thông tin có giá trị. Đặc biệt là tập hồi ký của I-đơn hay của đại sứ So-ven là những tư liệu, mặc dù có những nhầm lẫn mà chúng tôi nêu lên ở trên, đã phác một bức tranh không phải là không bổ ích về cuộc hội nghị. Chúng tôi cũng nhớ những hồi ký của các vị chỉ huy quân sự (các tướng Sa-lăng, G.Ga-tơ-ru, H.Na-va, P. Ê-li) đã cung cấp những nguồn tin quý giá về sự giúp đỡ của Trung – quốc cho Việt – Minh trong năm 1953 – 1954 hoặc về cách thức các tướng lĩnh đó đánh giá sự “đe doạ” của Trung – quốc. Cuối cùng là các hồi ký của chính khách nhà nước Pháp và nước ngoài (D.Ai-xen – hao, J.La- ni – on, V. ô – ri – ôn) là những người trước và trong cuộc khủng hoảng đã cầm vận mệnh của những nước trực tiếp dính líu đến.

Phần lớn những nhận xét của chúng tôi đối với các tập hồi ký mà chúng tôi đã sử dụng, cũng áp dụng đối với các cuộc hỏi chuyện các nhân vật Pháp và nước ngoài trực tiếp liên quan đến các sự kiện đó. Chắc chắn rằng khả năng có thể hỏi chuyện trực tiếp những người có vai trò chính lúc bấy giờ là một chủ bài đáng kể. Nhưng cũng có mối nguy hiểm hiển nhiên không kém. Một phần bởi vì hai chục năm đã trôi qua kể từ năm 1954, những kỷ niệm và cảm tưởng lúc bấy giờ đã dần dần phai nhạt trong những sự giải thích sau này. Làm sao những nhân chứng của năm 1954 và mà phần lớn tiếp tục theo dõi sát hoặc ít tiến trình chính trị ở Viễn – đông, ngày nay lại có thể dừng lại ở những điều mà họ đã từng biết, từng suy nghĩ năm 1954 mà không xen lẫn những ý nghĩ nảy sinh ra do những sự kiện mới đây hơn? Đó là một nhận xét chung nhưng càng tỏ ra thích hợp khi đối với một vấn đề mà từ hội nghị Giơ – ne – vơ đến nay luôn luôn chiếm vị trí thời sự hàng đầu.

Vả lại, – có cần phải nói rõ ra không – trong các cuộc hỏi chuyện đó, không thể hoàn toàn loại trừ ý muốn dựa vào kinh nghiệm đã qua để bào chữa cho thái độ này hoặc thái độ khác. Những cuộc tranh luận của các vị thủ tướng Bi – đôn và Măng – đét – Phrăng về vấn đề Đông – dương đã được biết đến đủ đến nỗi không cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến những giới hạn vốn có của loại nguồn tư liệu lịch sử nói trên.

Những khó khăn đó, quá hiển nhiên, đã không làm chúng tôi hoàn toàn xa lánh việc nhờ cậy các cuộc nói chuỵện để bổ sung cho thiếu sót này hoặc thiếu sót khác trong hồ sơ lưu trữ hoặc để soi sáng trường hợp này hoặc trường hợp khác. Nhưng nói chung, chúng tôi chỉ sử dụng thông tin lượm được qua các cuộc nói chuyện như những nguồn phụ mà thôi. Không bao giờ chúng tôi dựa trên một kết quả duy nhất của một cuộc nói chuyện để nói một điểm quyết định trong luận văn của chúng tôi. Trong phần lớn trường hợp, những thông tin tập hợp được theo cách đó chỉ sử dụng ở phần chú thích ở cuối trang.

Còn về các hồ sơ lưu trữ thì điều mong muốn là các cuộc hội đàm với các nhân vật Trung – quốc. Chắc chắn là nếu không có thể hỏi chuyện được những người có vai trò hàng đầu, thì tình hình có thể khác khi hỏi đến các nhân vật cấp thấp hơn. Một vài lần tiếp xúc với ông Đào Quý Sinh (Tsao Kuet – Sheng), bí thư (hoặc phó bí thư) ở Bộ Ngoại giao Trung – quốc năm 1954, thành viên của đại biểu Trung – quốc tại Giơ – ne – vơ, mới đây là tham tán Đại sứ Trung – quốc tại Pháp đã mau chóng chỉ cho thấy điều mong muốn của chúng tôi là ảo tưởng. Có nghĩa là những cuộc hỏi chuyện về vấn đề này chỉ có thể thực hiện được với những nhân vật không cộng sản của Pháp hay của nước ngoài.

Còn một điểm cuối cùng về phương pháp mà chúng tôi muốn đề cập đến.

Thái độ của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất là do một loạt nhân tố bên trong – việc phân tích những nhân tố đó là giai đoạn đầu của cuộc điều tra của chúng tôi – và bên ngoài. Về nhân tố bên ngoài không thể đem cô lập một cách độc đoán so sánh lực lượng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa với so sánh lực lượng giữa Đông và Tây. Tất cả những nhân tố đó gắn quá chặt chẽ với nhau mà không thể tách rời nhau. Tuy nhiên chúng tôi sẽ dành phần chủ yếu trong sự trình bày của chúng tôi cho thái độ của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa đứng trước các cường quốc của phương Tây. Nếu chúng tôi cố ý hạn chế phạm vi điều tra của chúng tôi chính là vì những hồ sơ lưu trữ mà chúng tôi dựa vào không cho phép chúng tôi đi xa hơn. Chắc chắn là chúng tôi sẽ phải luôn luôn đề cập đến mối quan hệ giữa Cộng hoà nhân dân Trung – hoa và đồng minh (Liên – xô và Việt- nam dân chủ cộng hoà) hay với các nước bạn bè (Ấn độ, nhất là Miến – điện). Vì một lần nữa, tất cả các mối quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể đề cập đến một cách nào hơn là xem xét tổng thể các mối quan hệ đó. Nhưng cũng phải rõ là mức độ “đúng đắn” của các dữ kiện của chúng tôi cũng không ngang nhau tuỳ theo khi nói về quan hệ giữa Trung – quốc và phương Tây hoặc ngược lại, giữa Trung – quốc và các đồng minh xã hội chủ nghĩa hay các nước bạn bè và châu Á. Có nghĩa là công trình nghiên cứu này có thể đi đến một vài kết luận vững chắc đối với quan niệm của Trung – quốc về cùng tồn tại hoà bình với Phương Tây năm 1954 chẳng hạn, nhưng không nên trông đợi nhiều vào những kết quả dứt khoát khi nghiên cứu về tình hình quan hệ Trung – Xô hoặc Trung -quốc – Việt – Minh trong cùng thời gian đó.

Thiếu nguồn tư liệu gốc, lại phải giới hạn mục tiêu của cuộc điều tra, một vài kết luận có thể đạt được còn mỏng manh, vậy thì làm sao lẩn tránh được câu hỏi cuối cùng nhưng cơ bản này: Ngày nay liệu người ta có thể viết lịch sử về vai trò của Trung – quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất hay không?

Thực ra vấn đề này trùm lên một vấn đề khác, nghiêm trọng hơn: có thể viết lịch sử thời đại hiện nay không? Bởi vì năm 1954 đó chính là thời đại chúng ta. Không thể chối cãi rằng những sự kiện chúng ta muốn phân tích và giải thích hiện vẫn còn tồn tại một cách kỳ lạ. Vào lúc chúng tôi biên soạn công trình này, vấn đề Đông – dương chưa được hoàn toàn giải quyết. Những con người, nhiều khi vẫn là những con người ấy: Phạm Văn Đồng, Xu – pha –nu – vông, và những người khác. 25 năm sau, vẫn còn đứng ở hàng đầu thời cuộc. Có nghĩa là những ham muốn cách đây 20 năm vẫn còn là một phần những ham muốn hiện nay. Vậy thì, phải chăng đó là lịch sử?

Chúng tôi ý thức được những khó khăn do một tình hình như vậy gây ra. Nhưng chúng tôi càng không chịu bỏ cuộc.

Tất nhiên lịch sử cần một bước lùi để hiểu biết nó. Nhưng nó cũng cần nhân chứng, kể cả nhân chứng còn sống. Lịch sử không thể vô tình theo cách cảm thụ cả bản thân những người đương thời đối với những sự kiện nó. Việc khai thác báo chí, hoặc có mặt tại cuộc thương lượng có thể, theo chúng tôi, về phương diện đó, một lịch sử nào đó có thể và phải viết cùng với sự kiện diễn ra.

Vả lại – nhưng phải chăng đó là một lý lẽ? – trông chờ có được hồ sơ lưu trữ của Trung – quốc, tức là chịu bó tay không biết được lịch sử trong một tương lai thấy trước. Vậy mà chính sách của Trung – quốc tiếp diễn, ở Đông – dương cũng như ở nơi khác. Những phương tiện điều tra của chúng tôi dù không hoàn hảo thì ngay từ giờ phải cố tìm hiểu. Chúng tôi cảm thấy những lý lẽ đó làm sôi sục cuộc thảo luận bất tận về chức năng của lịch sử. Bảo tồn quá khứ ư? Hướng dẫn tương lai ư? Chúng tôi không đi vào con đường đó. Nhưng có lẽ chúng tôi nhớ rằng lịch sử bao giờ cũng là con đẻ của thời đại, đã và sẽ không bao giờ có lịch sử chung cục. (?)

Vậy thì tại sao ngay từ hôm nay ít nhất lại không trình bày những nhân tố có sẵn trong tay? Chúng tôi biết rằng có những giới hạn không thể vượt qua. Giá trị duy nhất của công trình nghiên cứu của chúng tôi có lẽ sẽ là bản liệt kê những cái gì chúng tôi còn chưa biết. Nhưng phải chăng đó là cách góp phần vào tìm hiểu lịch sử?

Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát triển thành bốn phần.

Phần thứ nhất muốn giới thiệu tình hình Trung – quốc năm 1954 (chương I). Vấn đề Đông – dương nhìn từ Bắc – kinh (chương II) đồng thời các cuộc thương lượng quốc tế sẽ phải dẫn đến việc mời Cộng hoà nhân dân Trung – hoa tham dự hội nghị Giơ – ne – vơ (chương III).

Quả thực, việc nghiên cứu tình hình chính trị và kinh tế Trung – quốc mũa xuân năm 1954 là cần thiết để phân tích và tìm hiểu những mục tiêu chủ yếu mà Chu Ân Lai theo đuổi khi đến Giơ – ne – vơ. Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, mức độ ưu tiên dành cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, tình hình bên ngoài của quốc gia trẻ tuổi và những tham vọng của nó trong lĩnh vực này sẽ quyết định ở mức độ lớn nền ngoại giao Trung – quốc tại cuộc hội nghị. Thêm vào đó là cách nhìn đặc biệt và truyền thống đối với mối quan hệ Trung-Việt, mà chúng tôi thấy cần nêu lên một số chi tiết, bởi vì cách nhìn đó sẽ đóng vai trò có lẽ là không thể coi thường được, về phía Trung – quốc cũng như về phía Việt – nam trong việc tiến hành cuộc thương lượng.

Nhưng một chính sách đối ngoại không phải chỉ là tổng hợp các lực lượng bên trong: đó còn là sự thích nghi thường xuyên các biện pháp và mục tiêu của dân tộc với các trở ngại và khả năng với các hệ thống quốc tế đem lại. Có nghĩa là cần phải đồng thời chú ý đến viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự của Trung – quốc cho cộng sản Việt – nam và những phản ứng của phía Pháp và cường quốc phương Tây khác đối với sự viện trợ đó.

Cuối cùng, chương III, một loại chuyển tiếp đi đến nghiên cứu chính hội nghị Giơ – ne – vơ, nói về cuộc gặp gỡ ở Béc – lin, có nghĩa là việc bốn “nước lớn” khác mời Cộng hoà nhân dân Trung – quốc đến Giơ – ne – vơ và các phản ứng của chính phủ Bắc – kinh đối với lời mời đó.

Với phần thứ hai, chính là nghiên cứu diễn biến bản thân cuộc thương lượng, đánh dấu bằng sự thất bại của cuộc đàm phán về vấn đề Triều – tiên ngày 15 tháng 6 năm 1954. Giai đoạn Triều – tiên của hội nghị Giơ – ne – vơ không bao giờ được các cường quốc coi như một cuộc gặp gỡ quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu, khi rõ ràng là không một thoả thuận nào có thể đạt được từ hội nghị đó. Tuy nhiên chắc chắn đánh giá rất sai lầm, nhất là đối với Trung – quốc, nếu tách rời hoàn toàn các vấn đề Triều – tiên và Đông – dương. Việc nghiên cứu đơn thuần trình tự thời gian các sự kiện sẽ chỉ ra rằng sự thất bại của cuộc hội nghị về Triều tiên đã thay đổi đến mức nào thái độ của Chu Ân Lai. Vấn đề này, được đề cập ngay từ chương IV nói về việc khai mạc hội nghị, sẽ là kết luận lo-gích của chương IV, đồng thời của cả phần hai. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nói đến các cuộc gặp diễn ra “song song” ngay từ đầu, giữa đoàn đại biểu Trung – quốc với những người phương Tây trong nhiều vấn đề chính trị và kinh tế (chương V). Nếu cuộc hội nghị Giơ – ne – vơ, theo con mắt phương Tây , còn đáp ứng với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông – dương lần thứ nhất, thì đó cũng là cơ hội để Trung – quốc tiến hành nhiều cuộc thương lượng khác nhau, không trực tiếp ảnh hưởng đến Đông – dương nhưng lại có tầm quan trọng chủ yếu đối với việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung – quốc trong thời kỳ này.

Thái độ của Trung – quốc trong giai đoạn hai của hội nghị – giai đoạn bổ ích nhất – sẽ là đề tài chính của phần thứ ba. Đó sẽ là dịp đề cập chi tiết hơn vấn đề Lào và Cam-pu-chia. Trong đó, thủ tướng Trung- quốc đóng vai trò quyết định (chương VII). Cũng là dịp chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu đến toàn bộ chính sách Trung – quốc ở Nam Á và Đông Nam Á bằng cách theo dõi chuyến đi thăm của Chu Ân Lai ở Niu – Đê – li và Răng – gun (chương VIII). Cuối cùng, Chu Ân Lai trở lại Giơ – ne – vơ để tiến hành mười ngày thương lượng cuối cùng (chương IX); mười ngày thiết yếu để hiểu được những mục tiêu của Cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng này.

Đối với ba phần đầu của công trình này, chúng tôi đã đưa ra đề mục chung: “Tự khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế”. “Ngăn cấm Mỹ vào Đông –dương” “áp đặt các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”. Sự lựa chọn của chúng tôi là do các đề tài chủ chốt trong mỗi phần: Vị trí của cộng hoà nhân dân Trung – hoa trong hàng ngũ các “nước lớn” khi nói về hội nghị Béc – lin, vấn đề quốc tế hoá cuộc chiến tranh vào giờ phút khai mạc hội nghị Giơ – ne – vơ và vấn đề năm nguyên tắc, khi nói đến quan hệ giữa Trung – quốc, Lào và Cam –pu – chia, cũng như khi nói đến cuộc đi thăm của Chu Ân Lai ở Ấn Độ và Miến – điện. Như vậy, rất rõ ràng đó là ba tư tưởng chủ đạo của toàn bộ chính sách Trung – quốc năm 1954 vào bất cứ thời kỳ nào, bất cứ vấn đề gì và ở bất cứ vùng nào trên thế giới.

Cuối cùng, phần thứ tư dành cho kết luận và suy nghĩ có thể rút ra từ cuộc gặp gỡ ở Giơ – ne – vơ giữa Trung -quốc và các cường quốc phương Tây. Để làm việc đó, chúng tôi đi theo ba hướng: Nghiên cứu các điều đã thoả thuận cách thức Trung – quốc giải thích và tôn trọng (hiệp định) để đưa chúng ta đến xác định rõ bản chất của chính sách Trung – quốc ở Đông – dương (chương X). Rồi vượt khỏi khuôn khổ địa lý chật hẹp đó, chúng tôi thử lường các hậu quả của việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó đối với “hình ảnh” và vị trí của Trung – quốc mới trên thế giới (chương XI)…Cuối cùng đi từ cái riêng nhất đến cái chung nhất, chúng tôi cố gắng nêu bật điều chủ yếu mà việc nghiên cứu kỹ lưỡng cuộc hội nghị này có thể đem lại là phân tích những phương hướng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung-quốc (chương XII)

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=493

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: