Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 26, 2008

Môi Hở, Răng Lạnh” TK 21 – Phần 1: Hoàng Sa, Trường Sa – Việt Nam

Hùng Nguyễn

Có lẽ câu “Môi hở răng lạnh” bắt nguồn từ bên … Tầu, thời Xuân Thu, và nay trở thành như một … thành ngữ. Khi ấy vùng đất gọi là “Trung Hoa lục địa” ngày nay chia làm nhiều nước nhỏ tranh nhau mượn cớ “phò Thiên tử nhà Châu” để tiếm chính danh và chính nghĩa cho mình. Trong số đó có hai nước nhỏ hơn là Ngu và Quắc (còn gọi là nước Liêu và Hạo), nằm kẹp giữa hai nước lớn hơn là Tấn phía đông và Tần do Tần Mộ Công (639 B.C. – ông tổ của tên bạo chúa Tần Thủy Hoàng) thống lãnh đang nổi dậy ở phương tây. Vua Tấn là Tấn Hiến Công từ lâu năm đã có ý đồ muốn chiếm Ngu và Quắc, nhưng ngặt một nỗi nếu đánh Ngu thì lại sợ Quắc viện cớ Ngu-Quắc liên minh mà đánh “ké”; Nếu đánh Quắc thì lại sợ Ngu sang cứu; mà nếu đánh cả hai nước cùng lúc thì Tấn không đủ sức chiến thắng.

Biết được vua Quắc là kẻ đam mê tửu sắc, vua Tấn bèn dùng mưu, trước hết đem tặng vua Quắc một bộ nữ nhạc (một đoàn vũ nữ cung đình) làm lễ vật giảng hòa. Sau lại sai một đám lâu la cướp bóc ở biên giới Quắc-Tấn để gây căng thẳng biên giới. Biết vua nước Ngu ham mê của cải, vua Tấn sau đó đem hai bảo vật “trấn quốc” là ngọc Thùy cúc (còn gọi là Thủy bích) và ngựa Khuất sản sang hiến vua Ngu để làm lễ vật mượn đường Ngu sang đánh Quắc, hứa sẽ chia đôi chiến lợi phẩm với Ngu.

Lúc đó bên Ngu có hai nhà chiến lược là Cung Chi Kỳ và Bách Lý Hề. Cung chi Kỳ can gián mãi không được nên sau cùng chán nản đem toàn gia quyến bỏ trốn. Trước đó Kỳ có bàn vụ can gián vua Ngu với Bách Lý Hề, thì Hề nói (trích “Đông Châu Liệt Quốc,” Chương 25):

– Tôi thiết tưởng đem lời nói phải mà nói với người ngu chẳng khác nào đem ngọc vãi ra đường cái. … Thà kẻ ngu chịu mất nước đã đành , còn người hiền không thể để cho kẻ ngu hại mạng.

Sau khi đánh xong Quắc, quân Tấn đóng, và rồi chiếm luôn kinh thành của Ngu. Sau cùng vua Tấn chẳng những đã thu hồi cả ngọc quý lẫn ngựa quý, mà còn bắt vua Ngu sang đày bên kinh thành Tấn. Cả hai nước Ngu và Quắc từ đó bị biến mất trên bản đồ Xuân Thu, chẳng còn gì ngoại trừ câu “Môi hở, răng lạnh”, ý chỉ một liên minh “cốt nhục” về cả địa dư lẫn quân sự / chính trị Ngu-Quắc.

Trên đây là cái thế “môi-răng” của trên 26 thế kỷ trước, vậy còn cái thế “môi-răng” của thế kỷ 21 này như thế nào? Vì hầu hết các tác giả chú trọng nhiều hơn đến mặt kinh tế và chính trị, người viết xin mời quý bạn tìm về Biển Đông, Việt Nam và Tầu Cộng về một khía cạnh khác, đó là cái thế “môi-răng” thế kỷ 21.

Vài Điểm Trong Bối Cảnh Biển Đông.

Như hầu hết chúng ta đã biết, Hoàng Sa là một quần đảo khoảng 130 “đảo” san hô/cát/đá nhỏ và thấp – với đảo thấp nhất nằm dưới mặt biển và cao nhất nằm trên mặt nước biển khoảng 14m, chia làm 2 phần là Tuyên Đức phía đông-bắc và Nguyệt Thiềm phía tây nam. Tầu Cộng nhân cơ hội tranh tối tranh sáng đã chiếm khu Tuyên Đức vào năm 1956, và đến ngày 19-01-1974 chúng chiếm luôn khu Nguyệt Thiềm từ tay VN Cộng Hòa. Chỗ gần nhất của HS cách đất liền Quảng Ngãi khoảng 135 hải lý (250km) và cách cực nam của đảo Hải Nam khoảng 150 hải lý (280 km). Theo tài liệu của CIA cập nhật năm 2007, Tầu Cộng đã xây trên vùng chiếm đóng một phi trường quân sự với phi đạo dài từ 1,524 – 2,437 m và nhiều cảng khác trên hai đảo lớn nhất là Quang Hòa (Duncan Island) và Phú Lâm (Woody Island).

Trường Sa cũng là một quần đảo gồm trên một trăm đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm dưới mặt nước tản mác trên vùng biển rộng khoảng 180,000 km vuông, với diện tích nổi trên mặt biển chỉ khoảng 10 km vuông, tức là chỉ trên 5% diện tích. Đảo Trường Sa được dùng làm tên gọi cho cả vùng quần đảo, cách Vũng Tầu 305 hải lý (565 km) và cách Cam Ranh 250 hải lý (463 km). Theo cuốn Địa Lý Biển Đông của ông Vũ Hữu San, thì “Căn cứ vào địa hình, địa chất và khoảng cách giữa các đảo, người ta chia quần đảo Trường-Sa thành 8 cụm đảo là: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường-Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên, trong đó cụm Bình Nguyên có nhiều đảo và bãi đá ngầm nhất (42 đảo và bãi đá ngầm).”

Cả hai quần đảo này đều không có nước ngọt. Trung tâm của hai vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách nhau cỡ 500 hải lý (926 km).

Vị Trí Chiến Lược Quốc Tế của Hoàng Sa và Trường Sa.

1. Về Kinh Tế:

Như chúng ta đã biết, từ khi động cơ nổ được phát minh và sau đó được hãng Mercedes Benz áp dụng vào kỹ nghệ từ năm 1902, thì thế giới ngày càng lệ thuộc vào dầu hỏa hơn, nhất là kể từ Thế Chiến I, và cho đến nay thì nền kinh tế thế giới hầu như trở thành kinh tế dầu hỏa.

Theo tờ “Washington Post”, số ra ngày 23-01-2005, thì có đến hơn nửa tổng số khối lượng hàng hóa thế giới chuyển qua các eo Malacca, Sunda, và Lombok, mà hầu hết đều tiến xa hơn lên vùng đông-bắc. Số lượng này tính ra lớn gấp 3 lần số lượng đi qua kinh đào Suez và 5 lần cao hơn số đi qua kinh đào Panama!

Theo tờ “Power and Intestest News Report”, số ra ngày 28-11-2006, thì lượng dầu thô chở qua eo biển Malacca và tiến vào biển Đông lên đến con số trên 10 triệu thùng mỗi ngày, trong đó, có đến 80% năng lượng của Tầu Cộng và 70% năng lượng Nhật, và tổng số có đến 90% năng lượng của các đồng minh Bắc Á (Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, v.v..) đi qua biển Đông. Như vậy, bất kỳ một nước nào có khả năng làm cản trở giao thông trên biển Đông đều là một mối đe dọa cho an ninh năng lượng của các nước khác trong vùng (Xin lưu y rằng từ đe dọa năng lượng thành ra đe dọa kinh tế, và từ kinh tế thành chính trị, quân sự, và … sau cùng thành ra đe dọa an ninh toàn phần). Đó là chưa kể các loại hàng hóa kinh tế khác như quặng kim loại, thành phẩm, v.v….

Về trữ lượng dầu hỏa và khí đốt, Tầu Cộng và các nước Tây Phương đưa ra những con số hoàn toàn khác nhau. Năm 2003, Bộ Năng Lượng Mỹ đưa ra con số khả năng cung cấp dầu thô của Trường Sa lên đến 183,000 thùng mỗi ngày, trong khi Tầu Cộng cho rằng có đến 1.9 triệu thùng mỗi ngày. Tầu Cộng còn đưa ra con số trữ lượng năng lượng tại Trường Sa lên đến 225 tỉ thùng, trong đó có đến 70% là gas.

Tuy nhiên, vì Mỹ, Nhật cũng cần dầu, nhưng chưa thấy họ đưa ra con số nào tương tự, ta có thể coi rằng năng lượng tại biển Đông tuy có, nhưng rất có thể là không quá nhiều và nằm rải rác khó khai thác (Xin thông qua các loại tài nguyên khác như tôm cá, ….). Ngoài ra, theo tin hành lang từ trong nước đưa ra, thì sau gần hai thập niên khai thác, trữ lượng dầu thô tại các mỏ hiện đang khai thác rất có thể sẽ mau chóng cạn kiệt, vì hiện nay lương dầu thô khai thác được đang ngày càng giảm. Điều này chứng tỏ trữ lượng dầu Biển Đông là vấn đề nên xét lại!

Con số Tầu Cộng đưa ra như vậy có thể chỉ để tạo “chính danh” cho hành vi xâm lược của chúng và kích động đám dân Tầu đông như giòi và đang đói dầu “hồ hởi” tham gia âm mưu xâm lược, bành trướng, gây chiến tranh của Tầu mà thôi – tức là vấn đề này liên quan đến … chính trị và quân sự nhiều hơn năng lượng.

2. Về Quân Sự.
Qua tấm bản đồ trên, quý bạn có thể thấy rằng trung tâm điểm của Hoàng Sa cách trung tâm điểm của đảo Nam Hải của Tầu và quần đảo Trường Sa một khoảng cách gần như nhau, là cỡ 500 hải lý (khoảng 900 km). Cả ba vùng này tạo thành một cái “trục” kéo dài từ bắc xuống đông-nam biển Đông, bao vòng Việt Nam. Chiến lược quân sự ở đây nằm tiềm tàng ở chỗ này: từ đảo Hải Nam, bạn chỉ cần bước hai bước là đã hoàn toàn kiểm soát được biển Đông rồi. Tức là, từ lục địa Tầu, cụ thể là từ lục địa vào đảo Hải Nam, đồ tiếp vận sẽ được vận chuyển ngầm và nổi (trường kỳ và ngắn hạn), dọc theo trục. Trục này do đó về mặt chiến lược có hai yếu tố: làm viên gạch lót đường cho hải, không quân Tầu đông nam tiến, và lập một vòng đai xuyên biển Đông bao vây toàn bộ bờ biển Việt Nam. Đảo Hải Nam như vậy có thể dùng làm hậu cứ cho một cuộc đông-nam tiến bằng quân sự.

Sau đây là một vài bằng chứng của vụ việc này, là tại Hoàng Sa, sau khi chiếm được của Việt Nam Cộng Hòa, giặc Tầu đã cho xây ít nhất là một phi trường và nhiều cảng bán quân sự. Phi đạo dài trên dưới 2 km là đủ để các phi cơ phản lực quân sự cất cánh. Và tại Trường Sa, ngay trên đảo Thị Tứ chúng cũng mới cho xây một phi cảng.

Đó là riêng đối với Việt Nam. Còn trên đường đông-nam tiến, trục Nam Hải-Hoàng Sa-Trường Sa có thể trở thành một trục tiến công, giống như đồ hình chiến thuật “mũi tên xung kích” quân Đức Quốc Xã trước kia đã áp dụng, là tập trung thiết giáp thành một mũi tên chọc thủng phòng tuyến địch, nhưng điểm khác biệt là ở chỗ ngày nay, Tầu Cộng có khả năng tập trung “mũi tên xung kích” trên ba cao độ khác nhau: Cao độ thấp nhất là tầu ngầm ở dưới mặt nước hỗ trợ cho cao độ trung, là các chiến hạm trên mặt biển; và phi cơ từ trên không khống chế không trung và hỗ trợ trên mặt biển (đó là người viết chưa có đủ yếu tố để bàn đến cao độ thứ tư là hỏa tiễn và vệ tinh, tức là không gian).

3. Về Địa Dư.

Chiến lược địa dư khác với chiến lược thông thường là nó có tính “vùng” nhiều hơn là tính “quốc gia” hay “toàn cầu”, và nó phụ thuộc vào vị trí địa dư của một nước liên đới với các nước hoặc vùng xung quanh. Chiến lược địa dư chẳng những gắn bó với chiến lược quân sự mà nó còn liên hệ mật thiết với chính trị địa dự (geopolitics), tức là ảnh hưởng chính trị trong quy mô vùng.

Trên bản đồ, người viết đã hình dung trục Nam Hải-Hoàng Sa-Trường Sa bằng một đường rộng và đậm mầu tím nhạt. Hai vòng tròn khác tâm mầu xanh là tầm hoạt động an toàn (dư sưc vừa đi, vừa về) của loại Sukhoi SU-27 do Nga ký hợp đồng nhượng quyền sản xuất cho Tầu Cộng. Về mặt địa dư, trục này vừa là một đường bao vây sát bờ biển Việt Nam, vừa là một chướng ngại vật chắn ngang đường thủy vận sinh tử đến đông-bắc Á, cụ thể là Đài Loan, Nhật, Nam Hàn, v.v…. Còn các tam giác cân mầu đỏ là các đảo, bãi đá do Tầu Cộng chiếm đóng, xin lưu ý đến 10 địa điểm Tầu Cộng đã chiếm trên thuộc Trường Sa.

Theo đó, ta thấy một trục chiến lược của Tầu đã hình thành. Từ các “mấu” trên trục này, chúng có thể âm thầm chuyển vận bom đạn, nhiên liệu làm trạm tiếp tế, phóng hỏa lực trên không trong tầm xa của loại SU-27 Sukhoi. Từ trên các loại Su này, chúng có thể dùng hỏa tiễn trực xạ đe dọa một vùng rộng lớn hơn nhiều. Qua đó, ta thấy nếu đảo Hải Nam đe dọa trực tiếp miền Bắc thì Hoàng Sa đe dọa toàn bộ miền Trung và Trường Sa đe dọa toàn bộ cả không phận lẫn hải phận Việt Nam. Trên mặt biển, chúng có thể khống chế toàn bộ bờ biển Việt Nam, và từ dưới nước, chúng có thể tạo ra sự đe dọa thường xuyên cho toàn bộ hải phận Việt Nam.

Như trên đã trình bày, ta thấy với trục chiến lược vừa hình thành, toàn bộ không phận và hải phận của Việt Nam sẽ bị hoàn toàn tê liệt. Khi có chiến tranh xảy ra, với tốc độ siêu thanh của phản lực và hỏa tiễn hiện nay, toàn bộ các thành phố Việt Nam có thể lãnh đạn mà không biết từ đâu bắn tới, chỉ trong vòng một giờ. Và với tốc độ cao của các loại tầu ngầm (có thể lên đến 25 knot, tức là 1.15 mile/g = 46 km/g cho tầm ngầm và 35 knots cho tầu thủy = 65 km/g), chúng có thể tấn công bằng tầu ngầm bất kỳ giờ phút nào tại bất kỳ nơi nào trên cả lãnh thổ lẫn lãnh hải Việt Nam; và quân của chúng có thể đổ bộ từ tầu thủy lên bờ trong vòng 9 tiếng hoặc nhanh hơn!

Ngay trong vùng Hoàng Sa, chúng có thể thành lập một vài cơ sở nghiên cứu về võ khí nguyên tử, sinh học, khí tượng, v.v… từ đó phóng các đám mây siêu vi trùng gây các loại bệnh tật cho gia súc, hải sản, và người vào Việt Nam, hay chúng có thể thiết lập các trạm phát luồng laser đe dọa toàn bộ không phận trong vùng. Hoặc giả chúng cũng có thể tạo ra các trận mưa giả, phóng ra hình thái chiến tranh khí tượng (mưa bão, lụt lội, hạn hán…) làm tê liệt nền kinh tế nông nghiệp của nhân dân Việt Nam, v.v….

Nhưng đây chưa phải là tận cùng. Từ cái trục quái ác này chúng có thể phóng hỏa lực khống chế toàn bộ vùng biển Đông và các nước lân cận như Philippines, Indonesia, Mã Lai, v.v… Có nghĩa là làm tê liệt toàn bộ đường thủy vận và đe dọa đường không vận đông-bắc/nam Á. Từ hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, chúng có thể đặt các trạm hải đăng soi đường tầu bè, nhưng chúng cũng có thể đặt các trạm radar kiểm soát toàn bộ lượng tầu thuyền qua lại trên toàn bộ biển Đông.

Nói tóm lại, về mặt chiến lược địa dư, thì trục Nam hải – Hoàng Sa – Trường Sa là một trục chặn ngang và kiểm soát toàn bộ khu vực yết hầu từ Ấn Độ Dương thông lên đông-bắc Á, và từ cái “đầu” Trường Sa, việc kiểm soát được phóng sang toàn bộ vùng chu vi đầu trục này, gần là Singapore, mà xa là đến tận Úc và một loạt đảo nằm trong vùng đông nam Thái Bình Dương.

Về mặt chính trị địa dư, chúng có thể thổi phồng số lượng dự trữ dầu, để kích thích lòng tham của mấy chục triệu tên đảng viên Tầu Cộng con cũng như 1.3 tỉ dân Tầu đang đói … dầu, tạo một thứ “chính nghĩa không tưởng” trong nước cho việc phóng sức mạnh quân sự và kinh tế xuống Đông-Nam Á. Với bên ngoài, chúng có thể gây ra phản ứng e dè, sợ hãi đối với sức mạnh Tầu, và nhờ đó mà “Bất chiến tự nhiên thành”. Mà cụ thể nhất là tại Việt Nam, chúng chẳng cần tốn phát đạn nào mà đã lập được một tập đoàn thái thú Việt gian, để rồi từ đó, biến Việt Nam thành Việt Gian, tức là một tỉnh lẻ của chúng, làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Đông Nam Á và xa hơn là Úc.

Tầu Cộng Đang Ở Đâu?

Câu hỏi được đặt ra ở đây là bọn Tầu Cộng đã tiến đến mức nào trong việc hình thành “trục”? Hiển nhiên khi công bố quyết định thành lập Tam Sa, thì trên căn bản chúng đã hoàn tất xong cái trục này rồi! Tuy nhiên, “độ bền” của trục này đến mức nào thì lại là điều cần … xét đến.

Tuy Hoàng Sa và Trường Sa có lợi điểm là nằm ngay giữa đường giao thông hàng hải quốc tế, nhưng cả hai vùng quần đảo này vẫn có một số điểm thất lợi về mặt chiến lược địa dư. Hai điểm đáng để ý là:

– Cả hai vùng đảo đều là những đảo thấp hoặc bãi đá ngầm, thiếu hoặc thậm chí không có nước ngọt, và do đó hầu như hoàn toàn không có khả năng tự duy trì sinh hoạt bình nhật của con người.

Cả hai vùng đảo đều bị bao quanh bởi những vùng san hô thấp, khiến cho tầu bè lớn và tiềm thủy đĩnh khó cập đảo.

– Tất cả các đảo nằm trong Hoàng Sa và Trường Sa đều là những đảo nhỏ, do đó khó có thể làm hậu cứ cho một cuộc chiến trường kỳ.

Vì hai yếu tố trên, việc dùng Hoàng Sa và Trường Sa làm bàn đạp tuy là một điều khả thi, nhưng đòi hỏi nhiều công sức cũng như thời gian để xây dựng hạ tầng cơ sở. Do vậy, Tầu cần phải câu giờ trước khi xây dựng cho hai bàn đạp này đủ mạnh để có thể “đạp chân” lên được, và vì thế chúng đã tiến hành một chiến lược song song với chiến lược địa dư “trục” là “chiến lược câu giờ”. Điều này đã được tiến sĩ Michael A. Weinstein phân tích khá tỉ mỉ về các khía cạnh chính trị, kinh tế, quân sự trong bài “Chiến Lược Địa Dư Tầu: Chơi Trò Câu Giờ – China’s Geostrategy: Playing A Waiting Game” trên trang http://www.pinr.com/report.php?ac=view_report&report_id=253 , và ông đi đến kết luận Tầu đang dùng chiến lược “phòng vệ chủ động – active defense” cho hai thập niên tới, mà theo ông, thì:

“Phòng vệ chủ động có nghĩa là Bắc Kinh sẽ chơi trò câu giờ tung ra những cú nhứ cho đến khi chế độ cảm thấy nó đã sẵn sàng hành động chắc ăn hơn. Khi có được sức mạnh, Bắc Kinh sẽ bành trướng thế lực, như họ đã dự tính các cuộc tập trận chung với Nga. Ngăn chặn những khủng hoảng khó đoán trước có thể cản trở bước tiến của họ trong việc trở thành một thế lực tập trung trong vùng Đông và Đông Nam Á, vấn đề chính của Bắc Kinh đến từ Washington và Tokyo, và từ cái khái niệm về nhu cầu thu thập Đài Loan để biến tham vọng về Đông Á của họ thành ra khái niệm có thể tin được.

Hiện vẫn còn xa để thấy Bắc Kinh có thể đối phó với Washington và Tokyo hay không, và trong đoản kỳ, là sát nhập Đài Loan, nhưng thời gian dường như đứng về phía họ.”

Phân tích của tiến sĩ Michael A. Weinstein khá chính xác, là Bắc Kinh đã dụ dỗ các nước Đông Nam Á qua các chiêu bài “hợp tác khai thác Biển Đông”. Nhưng để làm được điều này, Bắc Kinh buộc phải có ít nhất một tên tay sai, đó chính là Đảng Việt gian hiện nay, từ đó Bắc Kinh mới có thể áp dụng chiến thuật “bẻ đũa từng chiếc một”, tức là dùng quyền lợi và chiêu bài “hợp tác song phương” để thu thập “từng chiếc đũa một”, thay vì “bẻ cả bó đũa” !

Sự Mong Manh của Trục Nam Hải-Hoàng Sa-Trường Sa.

Cho mãi đến hôm nay (26-04-2008), nếu quý bạn có dịp vào các trang mạng quốc tế như www.cia.gov, www.globalsecurity.org, v.v…, thì vẫn thấy Hoàng Sa không được coi là đảo của Hán tặc mà là “Tầu Cộng chiếm từ tay Việt Nam Cộng Hòa” và Trường Sa thì được coi là “Trong vòng tranh chấp”. Điều này nói lên cái tính phi chính nghĩa của hành vi xâm lược của tập đoàn lãnh đạo Hán tặc tại Bắc Kinh: chủ quyền của chúng chưa được thế giới chính thức công nhận.

Như vậy, cái “trục ma quỷ Hán tặc” này vẫn còn rất mong manh. Tuy nhiên, việc cho phép ngọn đuốc thế vận 2008 vào Sàigòn và dù có qua Hoàng Sa hay Trường Sa hay không, thì đều có tác dụng “hợp thức hóa” chủ quyền của bọn Tầu Cộng trên hai vùng này. Bất kỳ tập đoàn hay cá nhân nào, cụ thể là tập đoàn Việt gian Hà Nội do tên thái thú Hồ đẻ ra, lại hỗ trợ cho ngọn đuốc thế vận được vào lãnh thổ Việt Nam là một bằng chứng hùng hồn cho thấy đây là một âm mưu thông đồng giữa tên chủ Hán tặc và tập đoàn Việt gian Hà Nội, nhằm mưu đồ chính thức hóa chủ quyền của bọn thực dân Đỏ Tầu Cộng trên hai quần đảo này.

Nếu đã xác định rõ tập đoàn Việt gian hiện nay chỉ là bọn “Cù Thị và Ai Vương” thời đại, thiết tưởng đồng bào trong nước, vì độc lập dân tộc và vì sự vẹn toàn lãnh thổ không thể coi chúng là “chính quyền” được nữa, mà phải thẳng tay đối phó với bọn chúng. Thí dụ, những dân oan có ý định tự thiêu thì người viết đề nghị hãy dùng xăng đó để đốt chết bất kỳ tên nào, từ tên chó săn tép riu cho đến tên cao hơn, chứ đừng chết oan uổng một mình cách vô ích. Vì bản án dành cho bọn Việt gian là tử hình, là treo cổ, v.v… Các blogger cần phải vạch trần âm mưu làm thái thú cho giặc này đến từng người dân trong từng góc ruộng. Có thế, quý bạn mới có thể hội tụ được sức mạnh toàn dân để lật đổ và lôi cổ bọn bọn Việt gian này ra xử.

Vậy Mỹ Đang Chỗ Nào?

Trong cuốn “Chiến Tranh Mỹ-Nhật trong Tương Lai – The Coming War with Japan”, xuất bản năm 1991, hai tác giả Goerge Friedman và Meredith Lebard đã tóm gọn lộ trình của điều mà họ gọi là “Đại chiến lược Mỹ – American grand strategies”, là tập trung vào sức mạnh trên biển để bảo vệ 4 quyền lợi sinh tử của Mỹ, như sau:

1. Mỹ phải làm chủ tại Bắc Mỹ.

2. Không một sức mạnh nào hay một nhóm sức mạnh nào có thể tồn tại ở tây bán cầu có thể được tồn tại mà có khả năng đe dọa sức mạnh Mỹ. (Tây bán cầu ở đây là Âu châu.)

3. Hải quân Mỹ phải có khả năng ngăn chặn sự thâm nhập của các thế lực ở đông bán cầu vào tây bán cầu bằng cách kiểm soát vùng Bắc Đại Tây Dương và vùng Đông Thái Bình Dương.

4. Không một thế lực nào tại đông bán cầu có thể thách đố sự thống trị của Mỹ trên đại dương, bằng cách đe dọa tấn công trên bộ. (Đông bán cầu ở đây là Nhật, xa hơn là Tầu và Nga.)

Từ trước Thế Chiến I, Mỹ chủ trương theo học thuyết Monroe, tức là “Không một thế lực ngoại nhập nào có thể dùng Châu Mỹ La Tinh làm bàn đạp tấn công Bắc Mỹ”. Nhưng từ năm 1918, TT Woodrow Wilson qua bài Diễn Văn 14 Điểm đã đặt nền tảng cho việc Mỹ phóng sức mạnh ra ngoài. Mà một trong những nền tảng của Woodrow Wilson là “Mỹ sẽ không can thiệp nếu một nước thứ ba không can thiệp.”

Chính nền tảng này đã khiến cho Mỹ có thái độ mà ta thấy từ Thế Chiến I đến nay, Mỹ chỉ can thiệp khi một nước, một vùng bị “lâm nguy”. Điểm then chốt mà ta có thể hình dung trong “đại chiến lược Mỹ” là quyền lợi sinh tử của Mỹ tập trung vào phía đông Thái Bình Dương, tức là từ Nhật đến miền Tây Hoa Kỳ! Chính cái căn bản này khiến có một số người đã cho rằng trong quá khứ “Mỹ đã nuôi dưỡng những đế quốc giả tạo” (như Đưc Quốc Xã và Liên Xô chẳng hạn).

Ta cũng thấy với sức mạnh của hải và không quân Mỹ hiện nay, việc trong vòng vài ngày, thậm chí là vài giờ, việc làm tê liệt hay thậm chí phá tan tành hai bàn đạp Trường Sa và Hoàng Sa trong trục Nam Hải-Hoàng Sa-Trường Sa chẳng phải là chuyện không làm nổi! Do vậy, quyền lợi sinh tử của Mỹ không nằm trực tiếp trong vùng Biển Đông! (Dĩ nhiên nếu Mỹ hay thế giới có thể chọn lựa, thì họ vẫn chọn một nước nhỏ làm chủ TS, HS mà không có khả năng hay tham vọng khống chế Biển Đông, hơn là một tên thực dân Đỏ chỉ chuyên đe dọa khống chế cái khu vực yết hầu này!)

Và, lý thuyết thì là như vậy, nhưng trên thực tế, quyền lợi sinh tử của Mỹ – tức là sự ổn định về kinh tế và chính trị của các đồng minh đông-bắc Á – sẽ trở thành trực tiếp bị đe dọa nếu Tầu khống chế được toàn bộ vùng biển Đông, dẫn đến sự gián đoạn kinh tế của các đồng minh này và gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Mỹ. Do vậy, Mỹ có thể vĩnh viễn đứng ngoài vòng tranh chấp, nhưng cũng có thể nhảy vào vòng tranh chấp bất kỳ lúc nào. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào cách ứng xử của Tầu Cộng, và do đó, người Việt Nam không nên trông chờ Mỹ vào “cứu nguy”.

Vậy Thì: Hoàng Sa, Trường Sa – Việt Nam Có Phải Là Thế “Môi -Răng” Thế Kỷ 21?

Tóm lại, khi nói đến “Môi hở, răng lạnh”, người ta có ý bàn về một mối tương quan mật thiết về nhiều mặt, đặc biệt là chính trị, quân sự, kinh tế giữa hai nước, mà trong đó nếu một nước bị tấn công (môi hở) thì do tính cách địa dư, nước kia sẽ bị vạ lây (răng lạnh). Nếu theo đúng khái niệm này, thì Hoàng Sa, Trường Sa không phải là các “quốc gia lân bang” của Việt Nam, mà chúng là lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam. Do đó, Hoàng Sa và Trường Sa không thể được coi là ở thế “Môi hở, răng lạnh” với Việt Nam mà chúng chính là da, thịt, xương của Việt Nam.

Cái thế “Môi, răng” nếu có là chỉ có sau khi tên thái thú Hồ sai tên Việt gian Đồng ký công hàm dâng biển mà thôi. Hay nói khác đi, nó chỉ là môi hở răng lạnh từ khi Đảng Việt gian cấu kết với giặc Tầu mong làm thái thú cho chúng, và nguy kíp hơn là sau khi bọn Hán tặc chiếm đóng, hiện diện, và nhất là thành lập … Tam Sa của chúng mà thôi.

Trong mấy năm gần đây, Tầu Cộng từ một nước tự cung và xuất cảng dầu hỏa, nay vì nhu cầu kinh tế mà chúng phải nhập cảng dầu hỏa. Do Trường Sa và Hoàng Sa nắm vai trò yết hầu đối với việc vận chuyển năng lượng và khí đốt từ Trung Đông sang đông Á, thì nói cho rộng hơn, Hoàng Sa, Trường Sa đúng là ở cái thế “Môi hở răng lạnh” đối với các nước đông-bắc Á, trong đó có Tầu, và xa hơn là Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Phillippines, v.v…

HN – 26-04-2008.

Ghi chú:

i. Theo trang http://paracels74.tripod.com/energy.htm , thì 3 luật chính trong vụ tranh cãi Biển Đông, chiếu theo các lộ đồ của quy ước LHQ 1982 liên quan đến tình trạng của các đảo, thềm lục địa, đại dương, và lãnh hải, v.v… gồm ba điểm chính có liên quan đến Biển Đông, là:

1. Điều 3, nói rằng “mỗi nước có quyền thành lập hải phận kéo dài khỏi bờ biển của nước ấy tối đa là 12 hải lý (22.22 km).

2. Điều 55-75 quy định khái niệm về Khu Vực Đặc Quyền Kinh Tế – Exclusive Economic Zone – EEZ, lên đến 200 hải lý (370.4 km) ra ngoài và tiếp cận với thềm lục địa. EEZ cho phép các nước có bờ biển “quyền tối thượng được khai thác và tận dụng, bảo tồn và điều hành các tài nguyên thiên nhiên, cả tài nguyên sống lẫn tài nguyên không sống, trong vùng biển tiếp cận với” (hoặc bên trên) “đáy biển và đáy biển cũng như vùng đất dưới đáy biển…”

3. Điều 121 quy định rằng các bãi đá không có khả năng duy trì sự sống con người hoặc đời sống kinh tế của chính chúng sẽ không được liệt kê vào khu vực đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa.

ii. Đây là danh sách 10 đảo do Tầu Cộng chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa (trích từ bài của tác giả Bách Việt Nhân http://www.vietnamexodus.org/tailieu/khaosu/CacDaoTruongSaDaMat.htm , có sửa tên theo cuốn “Địa Lý Biển Đông” của tác giả Vũ Hữu San):

1. Đá Châu Viên – Cuarteron reef – Huayang Jiao, chiếm từ Việt Nam
2. Đá Chử Thập – Fiery Cross Reef – Yonshu Jiao, chiếm từ Việt Nam.
3. First Thomas Shoal
4. Đá Gaven – Gaven reef – Nanxun Jiao, chiếm từ Việt Nam.
5. Đá Gạc Ma – Johnson Reef (South) – Chigua Jiao, chiếm từ Việt Nam.
6. Đá Ken Nan – Kennant Reef hay Chiqua Reef
7. Đá Lát – Ladd reef – Riji Jiao, chiếm từ Việt Nam.
8. Đảo Len – London Reef- chiếm từ Việt Nam.
9. Mischief reef – Meiji Jiao, chiếm từ Việt Nam và Philipines.
10. Đá Subi – Subi reef – Zhubi Jiao, chiếm từ Việt Nam.

iii. Các trang tham khảo khác:

– Về chiến lược “câu giờ” trên Biển Đông của Tầu Cộng: http://www.pinr.com/report.php?ac=view_report&report_id=253
– Về khả năng dầu khí trên Biển Đông: http://www.globalsecurity.org/military/world/war/spratly-oil.htm
– Về âm mưu quân sự của Tầu Cộng trên Biển Đông: http://www.globalsecurity.org/military/world/war/spratly.htm
– Nhận định của tờ Washington Times: http://www.infowars.com/articles/world/china_builds_strategic_sea_lanes.htm
– Về đường vận tải hàng hải qua Biển Đông: http://www.pacom.mil/publications/apeu02/s04ship7.pdf
(VNE)

Các đảo Trường Sa đã mất cho TQ – png

http://209.85.135.104/search?q=cache:85cBF6dL-f8J:www.apcss.org/Publications/Edited%2520Volumes/RegionalFinal%2520chapters/Chapter5Layne.pdf+American+grand+strategies&hl=fr&ct=clnk&cd=11&gl=fr

www.apcss.org/Publications/Edited%20Volumes/RegionalFinal%20chapters/Chapter5Layne.pdf

http://translate.google.com/translate?u=http%3A%2F%2F209.85.135.104%2Fsearch%3Fq%3Dcache%3A85cBF6dL-f8J%3Awww.apcss.org%2FPublications%2FEdited%252520Volumes%2FRegionalFinal%252520chapters%2FChapter5Layne.pdf%2BAmerican%2Bgrand%2Bstrategies%26hl%3Dfr%26ct%3Dclnk%26cd%3D11%26gl%3Dfr&langpair=en%7Cfr&hl=fr&ie=UTF-8
—————–
ý rút ra:
“Thà kẻ ngu chịu mất nước đã đành , còn người hiền không thể để cho kẻ ngu hại mạng”:
“kẻ ngu” : ngu nhưng rất thủ đoạn, gian tà, tham tàn, ác độc, vô nhân tính, phản bội dân tộc.

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: