Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 28, 2008

Âm mưu lấn đất giành đảo Việt Nam của người Hán (I)

Trương Nhân Tuấn

Thử nhìn lại một số âm mưu của người Hán đã dàn dựng nhằm lấn đất, giành hải đảo của Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến nay

Lời tác giảViết nhân dịp xem bản đồ rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh.

Viết tặng các bạn trẻ trong nước hưởng ứng phong trào đòi lại Hoàng Sa – Trường Sa và tẩy chay Thế Vận Hội Bắc Kinh. Đặc biệt tặng các bạn vừa bị nhà cầm quyền bắt hay làm khó dễ. Lòng yêu nước của các bạn không được trân trọng ở xã hội Việt Nam hôm nay, nhưng các bạn luôn có vị trí đẹp nhất trong trái tim của mọi người.

Đã nhiều lần trong lịch sử người Hán lập mưu để lấn đất của Việt Nam. Trước chiến tranh Pháp Trung 1883 1885 họ dùng tài vật mua chuộc các viên chức ngoại giao Pháp nhiệm sở tại Bắc Kinh để vận động chia chác đất Bắc Kỳ với Pháp. Lúc ký kết công ước phân định biên giới 1887 họ đã trao đổi với Pháp các quyền lợi về kinh tế để lấy đất lấy đất của Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn phân định biên giới 1885 1887, họ đã dàn dựng một âm mưu, mà họ đã từng dùng trong quá khứ, để dời đường biên giới về phía Nam. Điều ngạc nhiên là âm mưu này đã được lập đi lập lại nhiều lần, lần nào cũng thành công. Gần đây nhất là vụ chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Họ đã đổi tên Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bằng những địa danh khác, để tạo dựng bằng chứng biện hộ cho việc xâm lăng của họ.

1. Vụ Lý Hồng Chương mua chuộc ông Bourée, Đặc Sứ Toàn Quyền Pháp tại Bắc Kinh (1880 1883)

Theo một tài liệu (1) do cô Nicole Tixier tìm thấy mới đây tại Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại, Aix En Provence, Pháp quốc (CAOM), được Charles Fourniau dẫn trong cuốn VietNam Domination Coloniale et Résistance Nationale, trang 317, theo đó ông Lý Hồng Chương đã xác nhận với ông Constans năm 1894 rằng ông Bourée là một người đã bị ông mua chuộc. Lý do việc mua chuộc này là vì Lý Hồng Chương muốn giữ ảnh hưởng của Thanh triều tại Việt Nam, vì đây là chỉ thị của Thái Hậu Từ Hi, người nắm thực quyền ở triều đình.

Đây là một chi tiết hoàn toàn mới mẻ và bất ngờ mà các sử gia Việt Nam chưa hề đề cập đến. Hậu quả của nó đã có thể làm cho toàn miền Bắc (cho đến Quảng Bình) thuộc về Tàu.
Trở lại Hiệp ước 15 tháng 3 năm 1874, còn gọi là hiệp ước “Hoà Bình và Liên Minh”, ký kết giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn. Ðiều 2 của hiệp ước như sau: “Quan thống lĩnh nước Pháp công nhận quyền độc lập của vua nước Nam, nước này không phải thần phục nước nào nữa và khi vua An Nam có cần đến nước Pháp giúp đỡ để dẹp giặc thì nước này sẵn lòng giúp mà không yêu cầu điều gì” (2). Việc này cho thấy Pháp đã “dành chỗ” của Trung Quốc. Nhưng đối với triều đình nhà Thanh, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Tàu. Ðây là cái nhìn áp đặt của Từ Hi Thái Hậu, mọi ý kiến khác đều bị rơi đầu. Ðể đạt mục đích dành lại ảnh hưởng của Thanh Triều tại Việt Nam, có hai khuynh hướng chính trị đối với Pháp: hoà hoãn của Lý Hồng Chương và chủ chiến của Tăng Kỷ Trạch. Cách của họ Lý là dùng mưu lược chính trị. Cách của họ Tăng là quân sự. Cả hai đều tìm cách giữ Việt Nam trong ảnh hưởng của Tàu.

Thực ra thái độ của nhà Thanh về hiệp ước 1874 đã được biểu lộ rõ rệt qua lá thư thân vương Cung trả lời cho công tước Rochechouart, đặc sứ Pháp tại Bắc Kinh. Thư này cho biết nhà Thanh đã “ghi nhận” hiệp ước trên, nội dung thư còn ghi rằng triều đình nhà Thanh đã ra lệnh cho quân Trung Hoa đã vào Việt Nam trước đó phải rút về (3). Điều này có nghĩa là Thanh triều đã công nhận một nước An Nam độc lập (chịu ảnh hưởng Pháp). Nhưng thái độ của vua Tự Ðức làm cho ý kiến của Trung Hoa về Việt Nam thay đổi. Năm 1876 vua Tự Ðức sai quí ông Bùi Ân Niên tức Bùi Dỵ, Lâm Hoành và Lê Cát đi sứ sang Trung Hoa. Ðến năm 1880 lại sai quí ông Nguyễn Thuật, Trần Khánh Tiến và Nguyễn Hoan sang Tàu triều cống. Như thế vua Tự Ðức đã tự nguyện lệ thuộc lại vào Trung Hoa như là một chư hầu. Nhân dịp này Tăng Kỷ Trạch (4) lên tiếng trước giới ngoại giao Tây Phương rằng hình thức “thượng quốc – chư hầu” (suzeraineté) giữa Trung Hoa và Việt Nam tương tự như hình thức bảo hộ (protectorat). Nhưng hành động của vua Tự Đức đã vi phạm điều 2 của hiệp ước 1974 đã ghi trên. Ngày 10 tháng 11 năm 1880, Tăng Kỷ Trạch, đặc sứ Trung Hoa tại Châu Âu, lên tiếng răn đe Pháp về những biến cố đã gây ra tại Bắc Kỳ: “Trung Quốc không thể ngồi yên trước những diễn tiến quân sự có thể làm thay đổi tình hình chính trị tại một lân bang như Bắc Kỳ mà nguyên tắc từ xưa đến nay là vua xứ này nhận sắc phong từ hoàng đế Trung Hoa” (5). Phản ứng của Pháp về việc này có tính trung dung, cho thấy họ không quan tâm đến cảnh cáo của Trung Quốc. Vào thời điểm này, không riêng gì Pháp Quốc, các cường quốc Châu Âu thời đó đều không đánh giá cao lực lượng quân sự của Trung Quốc.

Tuy nhiên, từ khi ông Bourée sang làm Đặc Sứ của Pháp tại Bắc Kinh 1880 thì các báo cáo của ông này về lực lượng quân sự của nhà Thanh luôn được thổi phồng. Mục đích của ông Bourée là thuyết phục chính phủ Pháp thuơng lượng với nhà Thanh về vấn đề Việt Nam. Một vài thí dụ cho thấy ông Bourée không hề phục vụ cho quyền lợi của nước Pháp mà thi hành các chỉ thị của Lý Hồng Chương.

Ngày 20 tháng 12 năm 1882, ông Bourée viết thư tường trình rằng Lý Hồng Chương đã đề nghị với ông hãy để nguyên những đạo quân Trung Hoa tại Bắc Việt ở các vị trí mà họ đang chiếm đóng, hay ít nhất cho họ tiến chiếm thêm một số dặm đã định trước, với điều kiện là ông Bourée gởi cho nha Tổng Lý một công văn trong đó tuyên bố rằng nước Pháp không theo đuổi trong vùng này một đường hướng chính trị chinh phục hay một hành vi đi ngược lại sự toàn vẹn lãnh thổ của vua An Nam (6).

Nếu điều này được thực hiện thì các tỉnh trung du và thượng du Bắc Việt thuộc về Tàu. Lúc đó vùng này hoàn toàn do quân Tàu, cướp cũng như chính qui, chiếm đóng.

Ngày 27 tháng 12, một lá thư khác của Bourée nhằm vào việc dành cho Trung Hoa một vùng đất. Lá thư còn tán dương sức mạnh của quân đội Trung Hoa. (7)

Ngày 29 tháng 12, ông Bourée điện tín nói rằng Trung Hoa sẵn sàng công nhận việc bảo hộ của Pháp tại Bắc Việt, ngoại trừ một vùng đất sẽ được xác định dành cho Trung Hoa.
Do sự vận động, tuyên truyền và thổi phồng lực lượng quân Thanh tại Bắc Việt, ngày 30 tháng 12, ông Duclerc, Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trả lời bằng một giác thư rằng ông đồng ý về đề nghị này. (8)

Ngày 23 tháng 2 năm 1883, ông Bourée đánh điện tín từ Thượng Hải để nhắc chính phủ Pháp chấp nhận việc dàn xếp nói trên. (9)

May mắn cho chúng ta là lúc đó chính phủ Pháp thay đổi nhân sự lãnh đạo. Ông Jules Ferry đã lên nắm quyền, thay cho ông Duclerc yếu đuối và bệnh hoạn. Ông này không chấp nhận việc nước Pháp bị chi phối bởi Trung Hoa trong vấn đề Việt Nam. Ngày 5 tháng 3, ông Challemel Lacour, Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trả lời cho Bourée: “Việc dàn xếp này dành cho phía Trung Hoa những nhượng địa mà các vùng đất này thuộc về Việt Nam. Chúng ta không có thẩm quyền để ký nhận việc đó”(10).

Ngày 7 tháng 3, Ông Bourée trả lời: “Tôi e ngại rằng mọi người ở Paris đã không cân nhắc hậu quả về những quyết định mà quí ông vừa thông báo cho tôi” (11). Trong điện tín ngày 5 tháng 5 ông viết rằng 2.000 quân thiện chiến đã rời hải cảng Thiên Tân để đi về một địa điểm không biết. Ðiện tín ngày 8 kể lại việc thảm sát tại Vân Nam linh mục Terrasse và 14 giáo dân. Ðiện tín ngày 13 xác nhận rằng Lý Hồng Chương dẫn đầu 150.000 quân chuẩn bị tiến chiếm Bắc Kỳ. (12)

Ðể kiểm soát các việc răn đe nầy, ông Challemel Lacour điện tín cho ông Tricou là công sứ toàn quyền Pháp tại Nhật, công tác kiểm chứng việc sửa soạn động quân của Trung Hoa. Dựa lên những phân tích của các chuyên gia Hán Học, sau khi quan sát sự việc xãy ra giữa Trung Hoa với các nước Anh, Nga, Nhật: “Trung Hoa sẽ tiếp tục hù dọa đối phương, người ta sẽ nghe nói đến việc tập trung quân, mua vũ khí và chiến hạm của các nước Tây Phương, nhưng khi bị hạm đội của ta đánh chìm vài chiếc ghe chở gạo, Trung Hoa tức thì đi tìm trung gian, hoặc là Anh hoặc là Hoa Kỳ, để thương lượng chấm dứt sự xung đột do chính họ gây ra.” Hay là dựa trên biến cố giữa Nhật và Trung Hoa về vấn đề Ðại Hàn, ông Tricou lạc quan kết luận rằng: “chỉ cần 2000 quân Nhật là có thể đủ để đánh thắng quân Trung Hoa” (13).

Ngày 16 tháng 5, ông Bourée bị bãi chức.

Như thế ông Bourée có chủ trương nhượng vùng trung du và thượng du miền Bắc cho Tàu. Có lúc đòi hỏi của Tàu là Pháp phải nhượng đến Quảng Bình. Nguyên nhân là ông này làm việc dưới sự chỉ đạo của Lý Hồng Chương. May mắn là âm mưu này bất thành.

Những nhận định của Bourée về lực lượng của Tàu đã được Tricou cho là thổi phồng quá đáng. Diễn tiến chiến tranh sau nầy cho thấy Bourée nói đúng phần nào. Việc ông Tricou đánh giá thấp lực lượng Tàu ở Việt Nam chắc chắn do các dữ kiện khách quan, lấy ra từ các sự xung đột giữa Trung Hoa với các cường quốc khác trước đó. Mặt khác, nếu thêm vào đây tình hình chính trị thối nát tại triều đình Mãn Thanh, đường lối chính trị “hối lộ, tham nhũng” là chủ đạo. Ðường lối chính trị này cũng ảnh hưởng đến việc phân định biên giới mà sau nầy ông Chiniac De Labastide có tố cáo trong một bản tường trình năm 1891.

2. Vụ chiếm đất Tụ Long

Đây là một trong nhiều âm mưu mua chuộc, lường gạt các viên chức Pháp trách nhiệm việc phân giới 1885 1897 để chiếm đất của Việt Nam. Vùng đất này người Hoa đã hai lần trong lịch sử tìm cách lừa gạt; lần đầu tiên gạt tổ tiên ta năm 1724 không thành công nhưng lần sau, 1885 1887 thì đã lấy được vùng đất này của Việt Nam.

2.1 Vụ năm 1724 – Theo Kiến Văn Tiểu Lục (14) của Lê Quí Đôn: “Năm Bảo Thái thứ 5 (1724) Tổng đốc Vân Nam tên Cao Kỳ Trác, ra khẩu lệnh cho tổng thôi 摠催 Dương Gia Công 楊加功, qua sông (15) để chiếm mỏ đồng của làng Bán Gia và mỏ kẽm của làng Kha Thôn, cả hai thuộc Tụ Long. Họ cho rằng vùng đất này thuộc về Trung Hoa và đã bị các thổ quan của nước ta chiếm đoạt.”. Quan lại Việt Nam cho rằng Cao Kỳ Trác “lầm lẫn làng Ma Tu 痲須 thuộc Tụ Long với trại Mã Đô 馬都; làng Tà Lộ 斜路 với trại Bố Ðô 布都; làng Phù Không 扶空 với trại A Không 阿空; làng Phù Ni 扶尼 với trại Bạch Nê 白泥; làng Nhĩ Hô 爾呼 với trại Ngưu Hô Hắc 牛呼黑 và cuối cùng là ông ta lẫn lộn suối Tam Khê 三溪 (hay là ba con suối?) với sông Ðỗ Chú”.

Thực ra không có việc lầm lẫn, đây là âm mưu cổ điển của người Hoa, lặp đi lặp lại nhiều lần trong lịch sử, lấy tên một (hay những) địa danh thuộc Trung Quốc, đặt cho các vùng lãnh thổ của Việt Nam, sau đó nói là đất của họ và xua quân sang chiếm. Sau này họ đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa cũng bằng âm mưu này. Nhưng ở thời điểm này (1724) lực lượng quân sự Việt Nam được củng cố mạnh mẽ. Kiến Văn Tiểu Lục ghi: “Chúa Trịnh Cương sai Trấn Thủ Trịnh Kinh ra mật lệnh cho các thổ ti đem quân cản sự tiến quân của Trung Hoa và giữ chân chúng lại. Trịnh Kinh chận đầu, đóng quân tại làng Phù Lung. Thấy bên ta binh mã hùng mạnh (16)và dân chúng theo qui phục, Tổng Trấn phủ Khai Hóa họ Phùng phải lui quân”. Về mặt ngoại giao thì phía Việt Nam liên tục cho sứ giả lên đường sang Bắc Kinh khiếu nại. Cao Kỳ Trác thấy không dễ dàng nên trả đất nhưng tìm cách giữ lại vùng mỏ đồng. Phía bên Việt Nam tiếp tục phản đối. Tháng 4 năm 1725 vua nhà Thanh ra chiếu trả lại toàn vùng đất Tụ Long cho Việt Nam.

Sau khi có quyết định được trả lại đất, Chúa Trịnh ra lệnh cho các quan Hồ Phi Tích và Võ Công Tể đến với tri phủ Khai Hóa là Phiên Doãn Mẫn để thành lập ủy ban. Nhưng Doãn Mẫn vẫn ngoan cố muốn chiếm đoạt mỏ đồng nên thiết lập biên giới dưới chân núi Duyên Xưởng.
Thổ ti Khai Hóa gian dối chỉ định một con sông khác và cho đó là sông Đỗ Chú để nhằm mục đích giữ lại những làng xã thuộc vùng Bảo Sơn. Việc này Võ Công Tể biết được. Ông liền lặn lội đi vào núi rừng, cực kỳ khổ sở, đi thăm tất cả các mỏ bạc và mỏ đồng và cuối cùng tìm được vị trí thực sự của con sông Đỗ Chú. Người ta dựng lên các bia đá ngay tại địa điểm giới hạn biên giới giữa hai nước. Vấn đề tranh chấp biên giới chính thức được kết thúc.

Cụ Lê Quí Ðôn qua quyển Kiến Văn Lục, mô tả vị trí sông Đỗ Chú (17) một cách rất tỉ mỉ. Người Pháp lúc phân định biên giới đã lấy tài liệu của cụ để tranh cãi với phía Tàu.
Cụ cũng phê bình, nhân các vụ mất đất các động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc các châu Vị Xuyên và Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang và châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa, chúng ta mất đất cho Tàu vì ta không nắm rõ tình hình đất đai, lãnh thổ của mình. Lời phê bình này đến nay vẫn đúng, nhưng chưa đủ. Kinh nghiệm dành lại đất Tụ Long trên đây cho ta thấy sức mạnh, tương quan lực lượng mới là điểm quyết định.

2.2 Vụ phân định biên giới 1885 1887 – Việc phân định biên giới vùng Vân Nam không được phân định trên thực địa mà chỉ phân định trên bản đồ.

Người Hoa đã lấy kinh nghiệm phân định trên thực địa tại vùng Quảng Tây và Quảng Đông, cho thấy đã không thể qua mặt người Pháp trong các vụ lấn chiếm, dời đổi đường biên giới lịch sử giữa Việt Nam với Trung Quốc. Vì thế họ tìm mọi cách gây trở ngại cho phía ủy ban biên giới Pháp. Nhiều cạm bẫy đã giăng ra tại vùng biên giới Quảng Đông, Vân Nam. Một số quân nhân hộ tống của Pháp bị thiệt mạng do cuộc phục kích trên sông Hồng, gần làng Tiền Phong, phía bắc Lào Cai. Tại Móng Cái thì một ủy viên thuộc ủy ban phân định cùng một số lính cận vệ bị thảm sát. Rốt cục phía người Hoa đã thành công buộc phía người Pháp phân định biên giới trên bản đồ. Nhưng các tấm bản đồ phân định này do người hoa vẽ ra, hoàn toàn không phù hợp với thực địa. Vùng Vân Nam được phân làm 5 tiểu đoạn, trên 5 tấm bản đồ. Ðoạn thứ 1 bắt đầu từ hợp lưu của sông Lũng Pô với sông Hồng cho đến Mường Khương. Ðoạn thứ 2 từ Mường Khương đến Cao Mã Bạch. Ðoạn thứ 3 từ Cao Mã Bạch cho đến Pou Mei Ho (ltg: tức sông Nho Quế). Ðoạn thứ 4 từ sông Nho Quế đến giao giới tỉnh Quảng Tây. Ðoạn thứ năm từ hợp lưu sông Lũng Pô (Long Bác 龍賻) với sông Hồng cho đến biên giới Lào.

Các đoạn 1, 3 và 4 được phân định không gặp khó khăn nhưng đoạn 2, từ Mường Khương đến Cao Mã Bạch, tức vùng thuộc các tổng Tụ Long và Phương Ðộ, và vùng 5 từ Lũng Pô đến biên giới Lào thì hai ủy ban không giải quyết được.

Biên bản phân định đoạn thứ 2 ký ngày 6 tháng 10 năm 1886 viết như sau:

“Tout ce qui précède a été nettement reconnu. Du point marqué sur le Niou yang ho, près du confluent de cette rivière avec le grande rivière (rivière Claire)(point où s’arrête le ligne frontière venant de l’Ouest) jusqu’à Pei pao et Tchouan kou, les Commissaires Impériaux Chinois trouvent que la ligne médiane de la grande rivière (riv. Claire) forme la frontière. Ils trouvent aussi qu’à l’Est de la petite rivière coulant près de Nan tong ka (Nam dong Kha), les endroits de Liou choui tong et de Lao ai kau forment la frontière (la moitié de chacun d’eux appartenant au Yunnan et la moitié au Tonkin) et, qu’après les avoir coupés, la frontière va dans la direction du Nord jusqu’au près de Cao ma bach (Cao ma pai), au delà de la rive orientale du Lou choui ho.
Les commissaires français trouvent qu’il en est tout autrement et que, sur cette portion, la frontière court au Nord de la rivière Claire.

Tạm dịch: “… Từ điểm được ghi dấu trên Nam Lượng Hà, gần hợp lưu sông này với sông Lô (sông Claire, điểm chấm dứt đường biên giới đến từ phía Tây) cho đến Bắc Bảo và Thuyền Ðầu, ủy ban Trung Hoa cho rằng đường trung tuyến của sông Lô (18) là đường biên giới. Ủy ban này cũng cho rằng phía Ðông của con sông nhỏ gần Nam Ðôn Kha, các địa danh Lưu Thủy Ðộng và Lão Ải Khảm làm thành đường biên giới (phân nửa mỗi địa phương thuộc về mỗi bên) và sau khi cắt hai địa phương này đường biên giới theo hướng Bắc cho đến gần Cao Mã Bạch ở phía bên kia của bờ phía Ðông của sông Lưu Thủy.

Các ủy viên Pháp thì có ý kiến khác, theo họ trong đoạn này đường biên giới ở về phía Bắc của sông Lô.


Bản đồ phía Bắc của sông Lô
Nguồn: TNT

Trên bản đồ (rất sai) của đoạn 2 đính kèm, ta thấy đường biên giới của hai bên biểu hiện bằng hai con sông, gạch mực đỏ. Đường phía bắc, chủ trương của ủy ban Pháp, sông mang tên Tiểu Đỗ Chú Hà. Đường phía nam, chủ trương phía người Hoa, sông mang tên Đổ Chú. Phần đất giữa hai đường đỏ là đất Tụ Long.

Nguyên nhân có sự hiện hữu 2 con sông Đổ Chú là do phía ủy ban người Hoa âm mưu chiếm đất Tụ Long. Họ lấy tên Đổ Chú để đặt tên cho sông Lô (trên bản đồ gọi là Hắc Hà) của Việt Nam, ở rất xa về phía nam so với đường biên giới lịch sử 1725, và nói rằng đường biên giới là ở nơi đó. Nhưng phía người Pháp đã không dễ dàng bị gạt. Họ trưng bày bằng chứng đầy đủ, không thể phản biện, có cả nguyên văn chiếu chỉ năm 1725 của vua Ung Chính, cộng với bản đồ cùng chi tiết của các bia đá đã được dựng lên hai bên bờ sông Đổ Chú đánh đấu biên giới hai bên. Tập hồ sơ này vẫn còn tồn trữ tại trung tâm CAOM. Trước sự việc không thể chối cãi, phía bên người Hoa bèn bịa ra con sông “Tiểu Đổ Chú Hà” để cãi chầy cãi cối. Rốt cục sự việc không thể giải quyết do hai ủy ban và nội vụ gởi về Bắc Kinh để Tổng Lý Nha Môn và Đặc Sứ Pháp tại Bắc Kinh giải quyết.

Đất Tụ Long của Việt Nam được giải quyết qua công ước tháng 6 năm 1887. Nguyên văn công ước (đoạn liên hệ):

“De Kéou téou tchaï (Cao dao traï 拘頭寨 Câu Đầu Trại) sur la rive gauche du Siao tou tchéou hô (Tieu do chu ha 小賭呪河 Tiểu Đổ Chú Hà), point M de la carte de la 2e section, elle se dirige pendant 50 lis (20 km) directement de l’ouest vers l’est, en laissant à la Chine les endroits de Tsiu Kiang cho ou Tsiu y chô (Tu nghia xa 聚義社 Tụ Nghĩa Xã), Tsiu mei chô (Tu mi xa 聚美社 Tụ Mỹ Xã), Kiang feï chô ou y fei chô (nghia phi xa 義肥社 Nghĩa Phì Xã), qui sont au nord de cette ligne, et à l’Annam celui de Yéou p’oug chô (Hu bang xa 有朋社 Hữu Bằng Xã), qui est au sud, jusqu’aux points marqués P et Q sur la carte annexe où elle coupe les deux branches du second affluent de droite du Heï Ho (Hac Ha 黑河 Hắc Hà) ou Tou tchéou ho (Do chu ha 賭呪河 Đỗ Chú Hà).

A partir du point Q, elle s’infléchit vers le sud est d’environ quinze lis (6 kilomètres) jusqu’au point A, laissant à la Chine le territoire de Nan tan (Nam don 南丹 Nam Đơn) au nord de ce point R ; puis, à partir de ce point, remonte vers le nord est jusqu’au point S, en suivant la direction tracée sur la carte par la ligne RS, le cours du Nan teng hô (Nam dang ha 南燈河 Nam Đăng Hà) et les territoires de Mam meï (Man mi 縵美 Mán Mỹ) de Meng toung tchoung ts’oun (Mãnh Cang Trung Thôn 猛 崗 中村) restant à l’Annam.”

Tạm dịch: “Từ Cẩu Ðầu Trại ở phía tả ngạn sông Tiểu Đỗ Chú Hà, đường biên giới đi trực tiếp từ Tây sang Ðông khoảng 50 dặm (20 km) để lại phía Trung Hoa các vùng Tụ Nghĩa Xã, Tụ Mỹ Xã, Nghĩa Phi Xã, các vùng này ở về phía Bắc của đường biên và để cho An Nam, Hữu Bằng Xã, ở về phía Nam của đường biên cho đến các điểm ghi là P và Q trên bản đồ đính kèm, (P và Q) là nơi đường biên cắt hai nhánh của phụ lưu hữu ngạn thứ hai của sông Hắc Hà hay sông Đỗ Chú. Bắt đầu từ điểm Q, đường biên nghiêng về hướng Ðông Nam vào khoảng 15 lý (6 km), cho đến điểm R, để lại phía Trung Hoa vùng đất Nam Ðơn (chú thích tg: là vùng mỏ chì pha bạc) ở về phía Bắc điểm này, sau đó, từ điểm R nói trên, đường biên hướng về phía Ðông Bắc cho đến điểm S theo y như hướng đã vẽ trên địa đồ R S, sông Nam Ðăng Hà và vùng Mạn Mỹ, Mường Tung trung thôn và Mường Tung hạ thôn thì thuộc về An Nam.


Bản đồ phân định đính kèm (section 2)
Nguồn: TNT

Như thế cách giải quyết của những người ngồi tại văn phòng ở Bắc Kinh là chia vùng tranh chấp ra làm hai. Đường biên giới là những đường thẳng. Việc này sau này cho thấy đã gây vô cùng khó khăn cho các ủy ban phân giới và cắm mốc 1888 1897. Vì người ta không thể vạch một đường thẳng bất chấp địa hình, núi non, làng xã, sông suối. Việc phân giới sau này vì vậy chỉ theo “tinh thần” của công ước, đường biên giới đi theo địa hình thực địa, tức theo sống núi, đường phân thủy, đường trung tuyến sông suối và đặc biệt tôn trọng các đơn vị hành chánh, không chia cắt các làng, xã ra làm hai như nội dung công ước.

Kết quả làm cho Việt Nam mất vùng đất trù phú, giàu quặng mỏ (mỏ đồng, mỏ kẽm…) diện tích vào khoảng 700km2 (phần gạch chéo trên bản đồ).


Việt Nam mất vùng đất trù phú, giàu quặng mỏ (mỏ đồng, mỏ kẽm…) diện tích vào khoảng 700km2 (phần gạch chéo trên bản đồ
Nguồn: TNT

Nguyên nhân vì sao Pháp nhượng bộ cho Tàu trong khi họ có đầy đủ bằng chứng?

Nguyên nhân bắt nguồn từ hiệp ước Thiên Tân 1885. Đây là một thất bại lớn cho nước Pháp. Bởi vì tất cả những gì người Pháp mong muốn hay đòi hỏi đều không được, ngoài việc xóa bỏ cái cái bánh vẽ “thượng quốc – chư hầu” giữa Việt Nam và Trung Hoa. Hiệp ước 1885 đánh dấu “chiến thắng” đầu tiên và cũng là duy nhất của Trung Hoa trước một cường quốc Tây Phương. Thật vậy, trong tất cả các hiệp ước mà Trung Hoa đã ký kết với các cường quốc vào khoảng thời gian này, chỉ có hiệp ước 1885 đã ít gây thiệt hại cho Trung Hoa. Ngược lại, công ước thương mãi mà Pháp mong muốn do Cogordan ký kết, là một “sỉ nhục” cho Pháp.

Công Ước về thương mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 do ông Cogordan thương lượng nhưng kết quả không đúng như mong đợi của Pháp. Hiệp ước này bị đánh giá: “Ce traité a été, dit on, très difficile, non pas à négocier, mais à signer. De fait, il n’y a pas eu de négociations… Hiệp ước này, người ta nói rằng nó rất khó khăn, không phải vì thương thuyết, mà khó vì ký tên. Thực tế không hề có việc thương thuyết…” (19) Các đòi hỏi của Lý Hồng Chương, được xem là “táo bạo”, “dối trá”, “hỗn xược”… đối với Pháp quốc đều được Cogordan chấp thuận. “Nous avons le regret de dire que le traité a été mal fait, extraordinairement mal fait; et nous devons ajouter qu’il ne pouvait pas en être autrement, parce que le négociateur connaissait peu les questions qu’il allait traiter (20). Chúng tôi rất tiếc phải nói rằng hiệp ước soạn thảo quá tệ, thậm tệ, và đây là một việc không tránh được vì người thương thuyết hiệp ước chỉ biết rất ít về vấn đề mà ông ta sẽ phải thương lượng”.

Ðể sửa chữa, một công ước bổ túc cho công ước thương mãi “Convention additionnelle de Commerce” được Constans thương lượng cùng lúc với công ước về biên giới và cùng ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.

Bản tường trình của dân biểu Dureau de Vaulcomte, liên quan đến việc nghiên cứu công ước thương mại 25 tháng 4 năm 1886 và phụ ước 26 tháng 6 năm 1887, có đề cập đến: “Et ainsi la question de frontière se trouva liée à la question commerciale. Và vì thế vấn đề biên giới được gắn liền với vần đề thương mại”. “Le gouvernement a pensé que les concessions faites à la Chine, en ce qui concerne les territoires, peuvent être compensées par les avantages qui résultent de la Convention commerciale additionnelle au Traité du 25 Avril 1886 (21). Chính phủ đã nghĩ rằng những nhượng bộ đất đai cho Tàu có thể được đền bồi bằng những ưu đải (về kinh tế) do Công Ước thương mại bổ sung Hiệp Ước 25 tháng 4 năm 1886.”

Như thế, rõ ràng, chính nhà nước Pháp đã chủ trương nhượng đất của Việt Nam để có được những ưu đải về thương mại với Tàu! Nhưng nguyên nhân chính vẫn là phía người Hoa đã âm mưu dựng lên con sông Đỗ Chú giả để lấn đất.

Việc để mất đất này đã bị một số học giả người Pháp lên tiếng phê bình và qui trách nhiệm cho chính quyền Pháp.

(Còn tiếp)


Bài do tác giả gửi. DCVOnline biên tập và đề tựa. Chú thích của tác giả

(1) MAE, dossier Bourée, Personnel, 2e série, N° 60. Bourée là Công Sứ Pháp tại Bắc Kinh 1880 1883.
(2) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, tr 286.
(3) Lieutenant Colonel Bonifacy, “Le Canton de Tu Long et la Frontière Sino Tonkinoise”, La Revue Indochinoise, tr 305: “En 1874, la réponse du prince Kong à la lettre du comte de Rochechouart, lui notifiant la ratification du traité du 15 Mars 1874 entre la France et l’Annam, ne contenait aucune protestation. Il y était même dit que l’Empereur avait prescrit aux troupes chinoises qui étaient entrées au Tonkin pour y poursuivre les rebelles, eux mêmes Chinois, de rentrer en Chine”.
(4) Thành viên Tổng Lý Nha Môn (nha Tổng Lý, thành lập năm 1861), tương đương bộ Ngoại Giao, gồm có Thân Vương Cung (prince King) là chủ tịch và nhiều quan lại khác như Lý Hồng Chương, Tăng Kỷ Trạch v.v…
(5) Charles Fourniau, sđd, tr 299. “Le Gouvernement chinois ne saurait regarder avec indifférence des opérations qui tendraient à changer la situation politique d’un pays limitrophe comme le royaume du Tonkin dont le prince a reçu jusqu’à présent l’investiture de l’empereur de Chine”.
(6)
(7) Bonifacy, tài liệu đã dẫn.
(8) Idem.
(9) Idem.
(10) Idem.
(11) Idem.
(12) Idem.
(13) Quan điểm Tricou, dẫn bởi Charles Fourniau, sđd, tr 331.
(14) Theo bản dịch “Les mines de Tu Long” của ông Raymond Deloustal, NXB Hanoi Haiphong, 1924), tài liệu Văn Khố Ðông Dương CAOM , Aix en Provence, Pháp Quốc. Xem chương 9, trang 693.
(15) Tức là sông Ðỗ Chú, biên giới giữa Tụ Long thuộc Việt Nam và phủ Khai Hóa thuộc Vân Nam, Trung Quốc.
(16) Quân đội nước ta vào thời điểm này được tổ chức kỷ lưỡng. Lê Quí Ðôn ghi lại như sau: Năm Bảo Thái thứ 3 (1722) lúc Nguyễn Thành Lý chỉ huy quân đội vùng Tuyên Quang dưới quyền của Binh Bộ Tả Thị Lang, có 400 quân địa phương được chiêu mộ. Ông làm một bản tường trình nói rằng vùng đất Bình Ri (hay Di) và Tụ Long tiếp giáp với Trung Hoa, tất cả các mỏ vàng, bạc, đồng và kẽm thì ở tại các vùng đất này. Trường hợp có chuyện khẩn cấp xãy ra, thời gian cần thiết để báo cho đồn binh các nơi như Tĩnh Biên, Hà Giang, Linh Tràng 靈塲 và trở lại thì phải mất ít nhất 10 ngày đường. Ông lo ngại các đồn canh không thể kịp thời tiếp ứng hiệu quả. Vì vậy, để việc phòng thủ được hữu hiệu tại Tụ Long và các vùng phụ thuộc, ông xin một đạo quân gồm 2.315 người được chia ra như sau: Trại Tĩnh Biên 靜邊 370 quân và 4 võ quan; trại Trung Mang 中鋩 873 quân và 9 võ quan; trại Hà Giang 300 quân và 5 võ quan; trại Linh Tráng 320 quân và 5 võ quan; trại Ninh Bắc 寧北 321 quân và 6 võ quan; trại Tụ Long 353 quân và 6 võ quan. Lực lượng này được quân của các thổ ti Hoàng Văn Chi và Hoàng Văn Tuy thuộc vùng Tụ Long bổ túc thêm, mỗi người 50 quân, và lực lượng của thổ ti vùng Bình Ri là Hoàng Văn Toàn và Hoàng Văn Thụy mỗi người 27 quân. Thời đó, viên chấn quan có nhiệm vụ kiểm soát các thổ quan trong vùng qua tiêu chuẩn thể chất bề ngoài và cách thức nói chuyện của họ, đồng thời kiểm soát tình trạng phục vụ riêng biệt của những người này cũng như các lợi ích mà con cháu của họ đã cống hiến cho đất nước. Quân binh của họ cũng được kiểm soát, dựa trên căn bản thể lực mà chia ra làm 5 loại: tốt, vừa tốt, bình thường, già cả và yếu đuối. Các việc thăng quan hay giáng chức để khen thưởng hay cảnh cáo, được áp dụng rất kỹ càng.
(17) “Sông Ðổ Chú chảy ở phía Tây của sông Lô 瀘, nó đến từ lý Phùng Xuân 逢春 thuộc phủ Khai Hóa, chảy về hướng Tây, xuyên qua huyện Vĩnh Tuy 永綏 ở làng Tụ Hòa 聚和 và đổ vào (sông?) châu Thủy Vĩ, Hưng Hóa. Trên hai bờ Bắc và Nam của sông, mỗi bên có một bia đá, trú dưới một mái che, để xác định biên giới giữa hai nước.
Sông Lôi hà 雷河, còn gọi là sông Chảy, chảy ở phía trái của Thao hà 洮河 (sông Hồng), bắt nguồn từ phía trong của phủ Khai Hóa (tại đây có tên là Ðổ Chú); khi nó chảy đến, phần hạ lưu, vùng Hưng Hóa, bờ tả ngạn sông này làm thành châu Vị Xuyên và hữu ngạn làm châu Thủy Vĩ. Sông chảy qua làng Na Cang, Tâm Phú 心富, Bắc Hà 北河, Thập Ðô 十都 và đến điếm canh Bảo Nghĩa 保義.”
Vị trí của châu Vị Xuyên được mô tả: “phía Ðông có làng Phấn Võ 奮武 thuộc tổng có cùng tên; phía Tây là đất thuộc phủ Khai Hóa; phía Nam có châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa và phía Bắc có đồng Ngưu Dương của Trung Hoa. Giới hạn ở phía Tây là sông Ðổ Chú.”
Sông Ðổ Chú và Tụ Long được mô tả thêm: “Trên thượng nguồn và ở phía đông ngạn sông Ðổ Chú, từ điểm mà sông này mang tên như vậy cho đến làng Thác Ư 托於 (làng này tiếp giáp châu Thủy Vĩ), thì thuộc về lãnh địa của Tụ Long. Bờ Tây ngạn, bắt đầu từ làng Mã Bạch cho đến làng Ma Cơ Po, tiếp giáp châu Thủy Vĩ, thì thuộc về phủ Khai Hóa. Các trái núi Mã Yên trong làng Mã Yên thuộc Tụ Long, ngăn cách vùng đất này với Trung Hoa.
Sông Ðổ Chú chảy qua trại Mã Bá 馬伯, chảy thẳng cho đến núi Mi Sơn 眉山, tại đây nhận một sông nhỏ bắt nguồn từ Hưng Hóa và chảy vào châu Thủy Vĩ. Có thêm một dòng suối bắt nguồn từ ngọn Mã Gia Sơn 馬茄山 chảy tới thôn Thác Ư rồi nhập vào sông Tạ Mộng 謝夢. Con suối này nhận nước từ hai con suối Hoàng Khê 黄谿 và Thổ Khê 土谿 ở đất Tụ Long. Từ suối này cho đến (cực điểm thượng nguồn của ?) sông Ðổ Chú là 150 dặm.”
(18) Người Hoa “đặt” sông này tên là Ðổ Chú Hà, lập lại âm mưu chiếm đất Tụ Long. Bị bại lộ vì các ủy viên Pháp có đầy đủ sử liệu chứng minh, họ bèn đặt lại là Tiểu Ðổ Chú Hà. Ðộc giả đã có dịp đọc trường hợp tương tự “Tiểu Phân Mao Lĩnh” ở vùng biên giới Quảng Ðông.
(19) Journal Mandarin, sđd, tr 114.
(20) Sđd, tr 115.
(21) Xem nguyên văn bản tường trình ở chương phụ lục.
dcv

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: