Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

April 30, 2008

Âm mưu lấn đất giành đảo Việt Nam của người Hán (Kết)

Trương Nhân Tuấn

Thử nhìn lại một số âm mưu của người Hán đã dàn dựng nhằm lấn đất, giành hải đảo của Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến nay (Phần kết)

5. Vụ Nam Quan

Ðường biên giới hai nước Việt Nam và Trung Hoa đã được xác định qua hai giai đoạn: Giai đoạn phân định từ tháng 08/1885, là thời điểm phái đoàn phân định biên giới Pháp được chính thức thành lập, cho đến tháng 06/1887 là ngày công ước được ký kết. Giai đoạn phân giới và cắm mốc kéo dài từ năm 1888 cho đến năm 1897. Buổi họp đầu tiên nhóm tại Ðồng Ðăng ngày 12 tháng 12 năm 1885 và kết thúc bằng việc cắm mốc cuối cùng tại vùng Vân Nam 23 tháng 9 năm 1897


Ðồng Ðăng 1886, nơi phái đoàn Pháp đặt bản doanh.
Nguồn: “Sur Les Frontières du Tonkin” của Dr Néis.

Theo thỏa ước ký ngày 28 tháng 8, thông qua ngày 29 tháng 10 năm 1886, đường biên giới hai bên công nhận là “biên giới hiện trạng”, “la frontière actuelle”. “Biên giới hiện trạng” được định nghĩa: “Il est parfaitement entendue que ces mots frontière actuelle signifient la frontière telle qu’elle existait lors de la conclusion du Traité du 9 juin 1885”. “Ðiều đương nhiên các chữ biên giới hiện trạng có ý nghĩa là đường biên giới đã hiện hữu khi ký Hiệp Ước ngày 9 tháng 6 năm 1885”.

Ông Bourcier de Saint Chaffray được chính phủ Pháp bổ nhiệm làm chủ tịch Ủy Ban Phân Định Biên Giới, phía nhà Thanh là ông Tseng Tcheng Siéou (Đặng Thừa Tu). Chức vụ hai ông này tương đương nhau; một bên hàng bộ trưởng trong chính phủ Pháp, một bên hàng thuợng thư trong triều đình nhà Thanh. Vì thế hai ông có toàn quyền quyết định và ký nhận mọi biên bản liên quan đến biên giới.

Việc phân định xảy ra trên thực địa, có nghĩa là hai bên cùng cử người đi khảo sát trên thực tế và vẽ bản đồ. Buổi họp đầu tiên xác định biên giới tại vùng Nam Quan.

Cổng Nam Quan theo các tài liệu mô tả thì được dựng lên trong một vực núi không sâu lắm. Hai bên cổng, phía trái là núi đá, phía phải là đồi, có độ dốc thẳng đứng, cao khoảng 60m. Cổng được xây dựng lại bằng đá đẻo sau khi cổng cũ đã bị tướng Négrier đánh sập vào năm 1885. Cổng cũ trước khi bị giật sập chỉ là hai cánh cửa làm bằng gỗ có vẽ rồng, phụng (1). Lối kiến trúc của cổng nầy khá quen thuộc vì có chung lối xây dựng như một lầu canh của Vạn Lý Trường Thành. Cổng gồm có ba phần, phía trên hết lợp ngói, chóp mái cong, phần giữa được bao bọc chung quanh bằng một tường thấp bằng đá đẻo, có chừa cách khoảng những ô vuông trống dùng để quan sát hay để làm công sự chiến đấu, phía dưới cùng là một cổng vòm tròn có hai cánh cửa lớn. Phía trên cổng có chạm 3 chữ 鎭南關, có nghĩa là Trấn Nam Quan. Một cầu thang xây bằng đá, nối từ cổng lên núi, dài 377m (1190 bộ).


Cổng Nam Quan
Nguồn: “Sur Les Frontières du Tonkin” của Dr Néis.

Theo thực tiễn và lịch sử giữa hai nước Việt Trung, đường biên giới luôn được xác định bằng các cửa ải. Tại cửa ải Nam Quan (Trấn Nam Quan Ngoại, tức ải Bắc theo Việt Nam) đường biên giới cũng sẽ không ngoại lệ, tức phải đi ngang qua cửa, đất phía nam thuộc về Việt Nam, đất phía bắc thuộc về Trung Quốc. Nhưng phía người Hoa không muốn như vậy, họ không chấp nhận đường biên giới đi ngang qua cửa ải.

Theo bút ký của Bác Sĩ Néïs “Sur Les Frontières Du Tonkin” (2) việc phân định không dễ dàng vì người Hoa muốn dành toàn vùng chung quanh Nam Quan. Ông kể lại, khi phái đoàn Pháp vừa ra khỏi Ðồng Ðăng để đi lên cửa ải thì đã thấy cờ nheo cắm đầy trên những ngọn đồi chung quanh và lính Tàu phất cờ nheo đứng dọc hai bên đường. Phe Trung Quốc muốn chứng tỏ cho phái đoàn Pháp biết là họ đang ở trên đất của người Hoa. Các ủy viên Pháp đã phản đối mạnh mẽ việc này trong buổi họp. Phe bên Pháp đòi hỏi đường biên giới phải đi qua cổng Nam Quan, tức là đường biên giới là bức tường đá nối cổng Nam Quan lên đỉnh núi. Nhưng phe người Hoa nhất định không đồng ý, họ phản đối việc này và đòi hỏi đường biên giới ở phía Nam cổng Nam Quan, tức đòi một thêm vùng đất trước cổng.

Việc phân định biên giới bị bế tắc ngay từ buổi họp đầu tiên. Công việc đình trệ đến 3 tháng. Sau đó do áp lực của Pháp, phía bên người Hoa ngồi vào bàn họp. Kết quả đầu tiên, 6 tháng sau khi ủy ban Pháp được thành lập và 3 tháng làm việc tại Ðồng Ðăng, đường biên giới tại Nam Quan được xác định.

Cũng theo tài liệu “Sur Les Frontière Du Tonkin” của bác sĩ Néïs, phía bên người Hoa không hài lòng với phương pháp phân định biên giới. Cách làm việc chính xác khoa học và đầu óc thực tiễn của dân Tây Phương làm họ bẽ bàng nhiều lần. Có nơi, như tại cửa ải “Bo Chai”, tức là cửa Bố Sa 布沙, viên quan ở châu Bằng Tường đã lén dời cửa ải này lấn sang Việt Nam, làm cho 4 làng của Việt Nam trở thành của Tàu. Nhưng dân Việt sống tại các làng đã tới khiếu nại, phái đoàn Pháp phản đối, phe người Hoa phải dời cửa Bố Sa trở về vị trí cũ và trả đất lại cho Việt Nam.

Kết quả phân định của ông Bourcier de Saint Chaffray gồm hai đoạn biên giới: từ Nam Quan đến Bình Nhi Quan và từ Nam Quan đến Chí Mã Ải. Chiều dài tổng cộng khoảng 100km. Thời gian trên thực địa không lâu, từ 20 tháng 3 đến 13 tháng 4, sau đó ngưng lại vì thời tiết xấu.

Sau khi công việc phân định tạm ngưng vì thời tiết thì ông St Chaffray cũng từ chức vì lý do sức khoẻ, chính phủ Pháp bổ nhiệm ông Dillon, nguyên tổng Lãnh Sự kiêm chức Thống Sứ tại Huế thay thế. Ông Dillon đã từng đảm nhiệm công tác ở Trung Hoa trên 25 năm với chức vụ lãnh sự vì thế ông thông hiểu tường tận ngôn ngữ và văn minh Trung Hoa. Nhưng việc này không giúp được Pháp chiếm thế thượng phong trong vấn đề biên giới. Hai bên tiếp nối công việc phân định vào ngày 23 tháng 7 năm 1886 tại Lào Cai. Nhưng rất tiếc, việc phân định trên thực địa kéo dài không lâu vì phe Trung Hoa nhận thấy việc này bất lợi cho họ nên lập mưu phá hoại. Rốt cục hai bên phải phân định biên giới trên bản đồ.

Điều đáng ghi nhận là trong 2 năm (8 1885 đến tháng 6 1887) phân định biên giới, công trình hữu ích nhất vì chính xác nhất là công trình của ông Saint Chaffray, vì đã thực hiện trên thực địa. Nhưng nó chỉ có 100km trên một chiều dài là 1.350km. Các công trình khác điều không có giá trị. Sau này, vào giai đoạn phân giới, các ủy viên Pháp đã phải làm việc lại từ đầu.

Kết quả phân định của ông Saint Chaffray là Biên bản số 4 (7 4 1886). Phân định từ Nam Quan đến Bình Nhi. Ðây là biên bản duy nhất của công trình De Saint Chaffray được tìm thấy tại văn khố Bộ Ngoại Giao Pháp. Biên bản này có giá trị thực tiễn, vì nó phản ảnh đúng với đường biên giới trên thực địa, tức đường biên giới trước khi ký hiệp ước Thiên Tân 1885. Trích nguyên văn tiếng Pháp đoạn liên hệ:

Procès verbal N° 4
La Commission de Délimitation Franco Chinoise a reconnu, le sept avril mil huit cent quatre vingt six, qu’à partir du point situé à cent mètres en avant de la Porte de Nam Quan, sur la route de Nam Quan à Ðồng Ðăng, la frontière remonte à l’Ouest jusqu’au sommet de la montagne rocheuse sur lequel est situé le fort marqué A sur le croquis ci joint, suit à partir de ce fort le haut de la muraille rocheuse qui domine la route de Ðồng Ðăng jusqu’au point marqué B sur le croquis. Ce point B se trouve à l’endroit où le sentier qui, se détachant de la route de Ðồng Ðăng à Nam Quan, conduit au village de Lung Ngieu, coupe la muraille rocheuse. Elle suit ensuite ce même chemin jusqu’au la Porte du village de Lung Ngieu. A partir de cette Porte elle reprend le haut des rochers qui contournent le cirque du village de Lung Ngieu pour arriver à un point marqué C. Du point C elle se dirige à l’Ouest jusqu’à la Porte de Kida.

Tạm dịch: “Ủy Ban Pháp Trung Phân Ðịnh Biên Giới nhìn nhận, nhằm ngày bẩy tháng tư năm một ngàn tám trăm tám mươi sáu, từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng, đường biên giới theo hướng Tây đi lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây, sau đó đường biên giới đi từ điểm này, theo đường đỉnh cao của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng Ðăng, cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ. Ðiểm B là điểm mà con đường mòn đường mòn này là một nhánh rẽ của con đường Ðồng Ðăng đi Nam Quan dẫn đi đến làng Lung Ngieu (Lũng Ngọ 隴午, còn viết là Lộng 弄) cắt bức tường núi đá. Ðường biên giới theo con đường mòn cho đến cổng làng Lung Ngieu. Từ cổng, đường biên giới đi lên ngọn rặng núi đá bọc quanh thung lũng làng Lung Ngieu để đi đến điểm C. Từ điểm C đường biên giới đi về hướng Tây cho đến cửa Ki Da (trên bản đồ ghi Khua Da, có lẽ là Cửa Du, tức ải Du).

Việc cắm mốc ở Nam Quan (từ Chí Mã đến Bình Nhi) qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu do ông Đại Tá Frandin, kết quả là biên bản phân giới 21 tháng 4 năm 1891, cột mốc Nam Quan tên là Trấn Nam Quan Ngoại, cắm cách cổng 100m về phía Nam. Biên bản này chưa được Tổng Lý Nha Môn cũng như Công Sứ Pháp tại Bắc Kinh thông qua nhưng nó có hiệu lực nhờ vào biên bản ký ngày 19 tháng 6 năm 1894 giữa Ðại Tá Galliéni và ông Thái Hy Bân, Tri Phủ Long Châu. Thời kỳ đại tá Galliéni phụ trách phân giới thì hai ủy ban Pháp và Trung Hoa có thẩm quyền quyết định và ký kết, không phải đưa về Bắc Kinh như trước. Biên bản này công nhận hiệu lực những công trình phân giới do ông Frandin đảm trách. Cột mốc tại Nam Quan mang số 18 và cách cổng 100m về phía nam.

Nhưng vị trí đường biên giới tại Nam Quan không vĩnh viễn ở đây. Theo tài liệu: “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay” của NXB Sự Thật, năm 1979, Việt Nam tố cáo Trung Quốc đã lấn đất vùng Nam Quan. Nguyên văn như sau:

Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã đề nghị chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300m đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luận rằng “không thể có đường sắt nuớc này đặt trên lãnh thổ nước khác”.

Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100m trên đường Quốc Lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột mốc ki lô mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

Theo tài liệu này thì Trung Quốc cũng lấn nhiều nơi khác trên đường biên giới.

6. Vụ tổng Đèo Lương, thác Bản Giốc và núi Khấu Mai

6.1 Tổng Đèo Lương ở phía đông bắc tỉnh Cao Bằng, phía nam là Thủy Khẩu, phía bắc có sông Qui Xuân chảy vào, diện tích khoảng 300km², mất vào tay Tàu nhân dịp phân giới 1893 1894. Trường hợp mất được ghi vắn tắt qua nhật ký của Ủy Ban Phân Giới vùng Quảng Tây, trong chiến dịch phân giới 1893 1894.

Nguyên văn được dịch ra như sau:

28 tháng 10 năm 1893, Ðại Tá Servière đến Long Châu để bàn công việc với ông Tri phủ Thái Bình, tên 蔡希邠 Thái Hy Bân, Chủ Tich Ủy Ban Phân Giới Trung Hoa [chú thích tác giả: theo quyển Sur la Frontière du Quang Si của Cdt Famin, Ông Thái Hy Bân là quan tri phủ Thái Bình. Ông nầy là Tổng Lý Ðại Thần do Tổng Lý Nha Môn bổ nhiệm để phụ trách việc phân giới. Cơ quan Tổng Lý Nha Môn tương đương bộ Ngoại Giao]. Ðại Tá cho biết rằng ông đến Long Châu, theo lệnh của Tướng Tổng Tư Lệnh, để hoàn tất việc cắm mốc biên giới Quảng Tây. Nhân dịp này ông hỏi Chủ Tịch Ủy Ban Trung Hoa về những tin tức đã nhận được từ Tổng Lý Nha Môn liên quan đến các phần lãnh thổ tranh chấp. Ông Tri phủ đưa cho Ðại Tá một giác thư, dường như của Tổng Lý Nha Môn, và nội dung có thể là kết quả của một sự thỏa thuận giữa Bộ Trưởng Pháp tại Bắc Kinh và Tổng Lý Nha Môn. Nội dung giác thư nhấn mạnh rằng việc phân giới phải kết thúc cho nhanh chóng. Riêng phần đất tiếp cận Ðèo Lương, đường biên giới trong vùng phải đi qua một chuổi các điểm mà danh sách các điểm này đã được ông Thái Hy Bân gởi cho Tổng Lý Nha Môn.

Ngày 6 tháng 11, ông Thái Hy Bân đến hội kiến với Lãnh Sự Pháp tại Long Châu. Ông xác nhận lần nữa rằng vấn đề tổng Ðèo Lương đã được thỏa thuận giữa Bộ Trưởng Pháp tại Bắc Kinh và Tổng Lý Nha Môn. Vùng nầy đã được trả cho Tàu.
Ngày 7 tháng 11, Ðại Tá Servière thông tin cho Lãnh Sự Pháp tại Long Châu biết danh sách các cột mốc của ông Thái. Danh sách này, các điểm mà đường biên giới phải đi qua tại vùng Ðèo Lương, thì phù hợp với đồ tuyến của Ủy Ban Phân Ðịnh (1886 1887, chú thích của tác giả) và theo Ủy Ban thì vùng Ðèo Lương thuộc về Việt Nam. Nhưng vì người Tàu ba tháng trước đã đổi tên những làng mạc hay đồn bót thuộc vùng tiếp cận phía Tây để đặt cho các làng mạc vùng tiếp cận phía Ðông…

Ngày 27 và 28 tháng 12. Ðại Tá Galliéni vừa nhận chức chỉ huy trưởng Vùng II Quân Sự và kiêm nhiệm luôn trọng trách phân giới. Ðại Tá Galliéni tỏ ý muốn nhượng bộ trên vấn đề Ðèo Lương nhưng với điều kiện phải được đền bồi tương xứng để có được một đường biên giới thiên nhiên thật tốt, có khả năng ngăn chặn dễ dàng những băng đảng đột nhập vào lãnh thổ của ta.

Như thế Việt Nam mất đất Đèo Lương vì hai lý do: 1/ âm mưu đổi tên các làng mạc của Thái Hy Bân. 2/ Do sự nhượng bộ của đại tá Galliéni. Ta thấy âm mưu hoán đổi tên các địa danh để chiếm lấy đất được sử dụng ở đây đã được sử dụng trước nhiều lần. Tuy nhiên phía bên người Pháp, mặc dầu không hiểu tình hình biên giới, không biết đất này tên gì, trước đó của ai, nhưng nhờ đầu óc thực tiễn, biết hỏi han người địa phương và tham khảo lịch sử do đó ít khi bị lọt vào bẫy. Nhưng phía bên người Hoa thì cho thấy không những thiếu thiện chí trong công việc mà còn luôn để lộ cái gian xảo, láu cá vặt. Mỗi khi âm mưu bị lật tẩy là họ cãi chầy cãi cối, làm lì, không chịu phân định hay phân giới tiếp. Chỉ khi nào phía bên Pháp nhượng bộ, họ được thắng thế vài trăm thuớc đất thì mới vui vẻ trở lại làm việc. Toàn bộ các cột mốc được cắm đều bị tình trạng này. Không có cột mốc nào cắm đúng vị trí của biên giới lịch sử. Mặt khác, phía người Pháp, trong thời kỳ phân định thì muốn có lợi lộc về kinh tế nên họ đã nhượng đất của Việt Nam vô tội vạ. Sang đến thời phân giới thì họ muốn kết thúc nhanh chóng việc cắm mốc vì chi phí quá lớn, do đó họ lại tiếp tục nhượng bộ. Do đó Việt Nam là nạn nhân của cả hai phía.

6.2 Thác Bản Giốc: Theo các chi tiết đã ghi trong các biên bản, nhật ký phân giới đã dẫn trên thì sông Qui Xuân chảy vào phía bắc của tổng Đèo Lương. Như thế vào lúc phân giới thác Bản Giốc nằm sâu trong lãnh thổ của Việt Nam. Nếu không mất Đèo Lương thì sẽ không bao giờ có tranh chấp chủ quyền tại Bản Giốc.

Ngoài ra, tài liệu “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay” của NXB Sự Thật, năm 1979, Việt Nam tố cáo Trung Quốc chiếm thác Bản Giốc như sau:

Năm 1955 1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỉ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành của Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.
….

Tại khu vực cột mốc 53 (xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Qui Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày dặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.

6.3 Núi Khấu Mai: Núi này hoàn toàn thuộc Việt Nam theo biên giới lịch sử nhưng phía bên Tàu nhứt định dành nó về phía họ trong dịp phân giới 1893 1894. Núi này ở khoảng giữa Bình Nhi và Thủy Khẩu, mang số 15 trên biên bản phân giới ngày 19 tháng 6 năm 1894 ký kết giữa ông Galliéni và ông Thái Hy Bân. Núi này có vị trí chiến lược quan trọng, địa hình thuận tiện cho quân đội đóng quân, có đường mòn từ phía Việt Nam dẫn lên đỉnh. Trên núi có 3 nguồn nước, đất tốt nên dân chúng khai thác trồng trọt, cây cối xinh tươi. Chiếm giữ được nó thì có thể kiểm soát được cả vùng Long Châu cho tới Bằng Tường.

Trong giai đoạn phân giới phía bên Tàu nhứt quyết dành chủ quyền núi này, mặc dầu biên bản phân định và bản đồ đều cho thấy núi này thuộc Việt Nam. Một câu nói của vị quan chủ tịch ủy ban phân giới Thái Hy Bân được ghi lại trong nhật ký phân giới đã dẫn trên, nội dung như sau: Tôi không biết coi bản đồ nhưng núi Khấu Mai phải thuộc về Tàu ! Cho thấy quyết tâm của phía bên Tàu. Rốt cục Đại Tá Galliéni phải nhượng bộ: nhượng tổng Đèo Lương cho Tàu để lấy núi 4/5 Khấu Mai. Mặt khác, ông phải cam kết rằng người Pháp sẽ không xây trên đỉnh Khấu Mai một công sự lớn lao nào, ngoài một lô cốt nhỏ khoảng 30 người. Cột mốc tại Khấu Mai cắm trên sườn núi phía đông, cách đỉnh 200m, chừa một góc nhỏ cho phía Tàu. Ngoài ra, cột mốc 14 cắm dưới chân phía Ðông, cột 16 dưới chân phía Tây Bắc để xác định rõ ràng chủ quyền hai bên về ngọn núi.

Nhưng vì phía người Hoa không tôn trọng, lại xâm chiếm đất vùng này sau khi cắm mốc. Năm 1936, cột mốc số 14 bis được cắm thêm. Theo biên bản vị trí cột 14 bis xác định như sau: 580 mètres Sud ouest de la borne 14; Est, Sud Est de la borne 15. Cột 14 bis cách cột 14 là 580m về phía Tây Nam; cột ở phía Ðông Ðông Nam cột số 15.

Nhưng chủ quyền núi Khấu Mai rất có thể bị phía Trung Quốc đặt vấn đề vào đầu năm 2001. Có tin tức cho biết Giang Trạch Dân, lúc đó là lãnh đạo tối cao Trung Quốc, muốn dành núi này (dành ½) cho Trung Quốc. Lập luận phía người Hoa để đặt lại vấn đề là trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh núi.

Đến lúc viết những dòng chữ này người viết vẫn không biết được núi Khấu Mai được phân chia ra sao theo hiệp ước phân định biên giới ký ngày 25 tháng 12 năm 1999. Điều ghi nhận ở đây là phía người Hoa sẵn sàng bịa chuyện để lấn chiếm, bằng vũ lực nếu cần.

——————————————————————————–
Bài do tác giả gửi. DCVOnline biên tập và đề tựa. Chú thích của tác giả
(1) Theo M. Aumotte trong “De Hanoi à la Frontière du Quangsi”, CAOM, Br 1156 C.
(2) “Le Tour Du Monde” năm 1887. CAOM. BIB, SOM, 20.543.
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4972

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: