Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 3, 2008

Khó khăn và xung đột trên biển Ðông: Việt Nam và Trung cộng

Ian Storey. Japan Focus. Khánh Ðăng lược dịch
http://japanfocus.org/products/details/2734


Một nguồn gốc của những căng thẳng nghiêm trọng giữa vài thành viên của Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) và Trung cộng trong suốt thập niên 1990s, là những vụ tranh chấp lãnh thổ trên biển Ðông đã trở nên ít lôi thôi hơn ở đầu thập niên 2000s: Một thái độ bớt lấn áp hơn của Trung cộng ở một bộ phận trong chính sách “ngoại giao vui vẻ” tại Ðông Nam Á của Bắc Kinh, là một thế tấn công ngoại giao được đề ra để làm dịu bớt những mối lo ngại về an ninh của các nước ASEAN đối với một Trung cộng đang trỗi dậy. Nhưng những vụ tranh cãi mới đây đã nhấn mạnh đến bản chất có vẻ khó uốn nắn của cuộc tranh chấp và sự nhạy cảm vẫn tiếp diễn về vấn đề chủ quyền quốc gia, đặc biệt là giữa những đối thủ chính: Việt Nam, Trung cộng và Phi Luật Tân. Trong phần đầu tiên của loạt bài gồm hai phần, bài này sẽ xem xét đến tác động của cuộc tranh chấp đối với quan hệ của Việt Nam đối với Trung cộng.

Trong 10 thành viên của ASEAN, thì quan hệ của Việt Nam đối với Trung cộng – không có gì phải nghi ngờ – là một quan hệ phức tạp, nhiều khía cạnh, căng thẳng, và đầy rẫy nhiều đụng chạm nhất. Nhìn từ phía Việt Nam, quan hệ đó cũng chất chứa nhiều nhất trong hành trang lịch sử. Hai ngàn năm bị đô hộ bởi người Trung Hoa – lần đầu là một phần chính thức của đế chế Trung Hoa từ thế kỷ thứ nhất trước Thiên Chuá giáng sinh (BC) đến năm 938, rồi sau đó là một chư hầu cho đến năm 1885 – phối hợp với một quan hệ căng thẳng trong 60 năm qua, điển hình từ những thái cực giữa hoà bình và thù địch, đã cấu tạo nên một tâm lý Việt Nam hầu như bị tâm thần phân liệt về Trung cộng.

 

Một mặt, Việt Nam có sự tôn trọng, thậm chí ngưỡng mộ, đối với văn hóa Trung Hoa, hệ thống cai quản và cải cách kinh tế, song song với sự oán giận sâu xa đối với Trung cộng, được bao quanh bởi lòng thù hận về thái độ kẻ cả, hiếp đáp, và bị coi là có âm mưu muốn kiểm soát vận mệnh chính trị Việt Nam.  Cái nhìn của Trung cộng đối với người láng giềng phía Nam cũng mâu thuẫn không kém: Một kẻ tranh đấu kiên cường chống lại chủ nghĩa thực dân đáng được Trung cộng yểm trợ từ năm 1949 đến đầu thập niên 1970s, nhưng lại đểu cáng, đi làm một con rối ghẻ của Liên Sô trong suốt thập niên 1980s.

Vào năm 1991, sau hơn một thập niên kình chống lẫn nhau — với thời điểm thấp nhất là một cuộc chạm trán ngắn nhưng căng thẳng ở biên giới vào năm 1979, theo sau việc Hà Nội xâm chiếm nước đồng minh của Trung cộng là Cam Bốt – thì Việt Nam và Trung cộng lại bắt đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao.


Bộ đội Việt Nam trong chiến tranh biên giới Việt -Trung 1979

Từ đó, quan hệ song phương được mở rộng, đậm đà hơn và tiến bộ hơn đến một mức mà ít người ngờ tới. Hôm nay, quan hệ song phương được định hướng bởi câu thần chú chính thức “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” trong tinh thần  “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt và đối tác tốt”.

Quan hệ chính trị được bồi đắp cho vững chắc thêm bằng các cuộc trao đổi thăm viếng thường xuyên giữa các phái đoàn cao cấp trong khi quan hệ kinh tế gia tăng nhanh chóng. Gía trị của thương mãi song phương được gia tăng từ hầu như con số không đến 15 tỷ Mỹ kim vào năm 2007, biến Trung cộng là đối tác thương mãi toàn diện lớn nhất của Việt Nam (theo Tân hoa xã ngày 23/1/08).  Nhưng đối với Việt Nam thì đây là một sự may rủi lẫn lộn: Hàng hóa rẻ tiền của Trung cộng tràn ngập thị trường Việt Nam, mức thâm thủng mậu dịch đối với Trung cộng đã phình ra, tiến đến mức 2,87 tỷ Mỹ kim vào năm 2005; vấn đề trao đổi buôn bán qua biên giới cũng dẫn đến tình trạng hàng hóa giả mạo, buôn lậu, và nạn buôn người cũng như ma tuý càng ngày càng gia tăng; và Việt Nam tiếp tục thất vọng ở mức đầu tư rất thấp từ phía Trung cộng.     

Từ năm 1991, quan hệ song phương bị chi phối bởi 3 điều trong vấn đề lãnh thổ: Vẽ lại đường biên giới trên đất liền dài 850 dặm (1368 km), vạch lại lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ, và các tuyên bố chồng chéo lẫn nhau về chủ quyền trên biển Ðông, đặc biệt là trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dù sao, một điều quan trọng cần nhấn mạnh là lúc mới đầu trong bước quan hệ bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, cả hai chính phủ Viêt Nam lẫn Trung cộng đều quyết tâm không để những khó khăn này làm trở ngại sự phát triển của quan hệ song phương,  và vì thế cùng đồng ý về các chuẩn mực để xử lý, và đặt ra một khuôn khổ thương lượng nhằm quản lý và cuối cùng giải quyết các bất đồng. Mặc dù có các sự xung đột, nghi ngờ và không tin tưởng lẫn nhau hay xảy ra; và sự tranh giành ảnh hưởng chính trị, nhưng họ đã đạt được nhiều tiến bộ khả quan, và quan trọng nhất, tránh được việc chạm trán giữa quân đội hai bên.

 

Vào đầu thập niên 1990s, các nhóm phối hợp công tác đã được thiết lập để bàn thảo về 3 điểm bất đồng trên, với ưu tiên được đề ra cho vấn đề biên giới trên đất liền và Vịnh Bắc Bộ. Vào năm 1997, cả hai phía đã đồng ý cùng nhau giải quyết cho xong vấn đề đất đai biên giới vào năm 2000. Vào ngày 30/12/1999, cuối cùng thì Hiệp ước Biên giới Việt-Trung đã được ký kết; và có hiệu quả vào tháng 7/2000 sau khi được phê chuẩn bởi quốc hội hai nước.

Nhưng những chi tiết của các điều khoản trong hiệp ước này vẫn còn nằm trong vòng bí mật,  và việc này đã gây ra nhiều lời đồn đãi ở bên trong Việt Nam, cho rằng vì dưới áp lực của thời hạn chót là năm 2000 lẫn sự lấn áp của Trung cộng, nên Hà Nội đã phải nhường cho Bắc Kinh quá nhiều đất đai. Những lời đồn đãi này một phần được loan truyền bởi những người được gọi là “các nhà bất đồng chính kiến xử dụng internet”, và nhiều người trong họ đã bị bỏ tù vào năm 2002 vì đăng tải các tài liệu “chống chính quyền” trên mạng Internet.

Vào cuối năm 2002, nhà nước Việt Nam đã có thể dập tắt những lời đồn đãi này bằng cách cho phổ biến trên mạng các chi tiết của bản hiệp ước; bản hiệp ước cũng tiết lộ rằng quyền sở hữu của 87,6 dặm vuông (226.88 km2) đất đai bị tranh chấp, và hiệp ước này đã cho Việt Nam được hưởng 43,6 dặm vuông  (112.92 km2), và Trung cộng được 44 dặm vuông (113.95 km2) (theo Associated Press ngày 16/9/02). Cho đến khi những chi tiết của bản hiệp ước được công bố, thì công tác cắm 1533 cột mốc biên giới đã được bắt đầu. Việc cắm mốc biên giới là một tiến trình rất chậm chạp, phần lớn vì địa thế hiểm trở và sự cần thiết phải di chuyển dân chúng vì việc chuyển đổi đất đai. Vào năm 2005, hai bên đã đồng ý sẽ tiến hành nhanh hơn việc cắm mốc và hoàn tất công tác vào cuối năm 2008.  Hiện thời thì 85% số cột mốc đã được cắm, và toàn bộ công tác được tiên đoán là sẽ hoàn thành vào giữa năm. Một hiệp định về nguyên tắc quản lý biên giới sẽ được ký kết vào trước cuối năm nay.

 

Nhiều tiến bộ khả quan về Vịnh Bắc Bộ cũng đã đạt được. Sau 17 vòng đàm phán, vào ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung cộng đã ký kết một Hiệp ước Phân định Lãnh hải, Khu vực Kinh tế Ðặc quyền và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ, dọc theo một đường chia đều cho hai bên. Cùng lúc đó, họ đã thu xếp xong một Hiệp định Hợp tác Nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ, với các khu vực đặc quyền và vùng đánh cá chung được vẽ lại. Nhưng những hiệp định này đã không được phê chuẩn cho đến tháng 7/2004 vì những thương lượng kéo dài về quyền lợi đánh cá béo bở trong khu vực, và chỉ khi một điều khoản bổ sung vào hiệp định đánh cá được ký kết thì vấn đề phê chuẩn mới thực hiện.  

Tuyên bố chủ quyền chồng chéo nhau trên biển Ðông

 
Dù sao, thậm chí ngay sau cả việc phê chuẩn đã được thực hiện, thì nhiều chạm trán nhỏ giữa các tàu đánh cá trong Vịnh Bắc Bộ vẫn liên tục xảy ra, đưa đến việc từng bên cáo buộc lẫn nhau là vi phạm hiệp định. Sự kiện nghiêm trọng nhất đã xảy ra vào tháng 1/2005 khi các tàu tuần tiễu của Trung cộng nổ súng bắn vào các tàu đánh cá Việt Nam, làm thiệt mạng 9 ngư dân. Sau sự kiện đó, hai bên đã đồng ý đề ra  một loạt các biện pháp để ngăn ngừa không cho các sự việc đáng tiếc xảy ra thêm, và nâng cao sự hợp tác trong khu vực. Những biện pháp này bao gồm việc phối hợp tuần tiễu thường xuyên của hải quân hai bên, bắt đầu vào năm 2006, đây là lần đầu tiên giữa Trung cộng và một nước ngoài; sự phối hợp thăm dò về tài nguyên hải sản, phối hợp khảo sát về khí đốt và dầu lửa (vào tháng 11/2005, công ty quốc doanh PetroVietnam và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Hoa đã đặt bút ký một hiệp định liên quan về vấn đề này); và một quyết tâm bắt đầu cho việc thương lượng vấn đề phân chia ranh giới ở các khu vực bên ngoài Vịnh Bắc Bộ.

Những xúc tiến để đi đến việc giải quyết các tuyên bố chồng chéo về chủ quyền trên biển Ðông thì ít khả quan hơn. Trong suốt thập niên 1990s, cả hai phía trên cơ bản thì vẫn bất hoà về vấn đề này: Việt Nam muốn thảo luận về vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng  Sa — bị Trung cộng chiếm đóng từ năm 1974— trong khi Trung cộng coi như vấn đề đã kết thúc; Việt Nam muốn thảo luận về vấn đề quần đảo Trường Sa trong một sự sắp đặt đa phương với ASEAN, trong khi Bắc Kinh ưa thích một cách giải quyết song phương. Không bên nào sẵn lòng muốn nhượng bộ về các tuyên bố chủ quyền của mình, việc này đã đưa đến một số những căng thẳng ở giữa thập niên 1990s.

Bản tuyên bố tháng 11/2002 giữa khối ASEAN và Trung cộng về Tư cách của Các bên trên biển Ðông [DoC: ASEAN-China Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea], là một hiệp định nhắm vào mục đích hạn định lại hiện trạng (của các bên) và khuyến khích các biện pháp hợp tác xây dựng tin tưởng lẫn nhau giữa các phe tranh chấp, hiệp định này tiêu biểu cho cả chiến thắng lẫn thất bại cho Việt Nam. Ðó là một chiến thắng vì Trung cộng phải nhượng bộ để giải quyết vấn đề một cách đa phương, nhưng đó cũng là một thất bại vì Hà Nội muốn vạch ra rõ ràng phạm vi của bản hiệp định có bao gồm quần đảo Hoàng Sa— nhưng Trung cộng bác bỏ và Việt Nam thì gay gắt theo đuổi.

Khi Phi Luật Tân và Trung cộng cùng đồng ý đứng ra hợp tác khảo sát dầu khí trong khu vực lãnh hải đang tranh chấp vào tháng 9/2004, thì Việt Nam lên án hành động này là một vi phạm đến bản tuyên bố Tư cách của Các bên trên biển Ðông, nhưng cuối cùng lại đồng ý tham gia tay ba vào chương trình Phối Hợp Nghiên cứu Ðịa chấn Ðại dương (JMSU: Joint Marine Seismic Undertaking] vào tháng 3/2005. Về mặt chính thức thì Việt Nam tuyên bố tham gia chương trình này vì lợi ích của sự ổn định khu vực; nhưng trong thực tế thì Hà Nội chuẩn bị tham gia vào đề án này vì khu vực thăm dò trong bản hiệp định không nằm trong vùng lãnh hải mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền — và cả Trung cộng cũng thế. Như khi vấn đề này sẽ được xem xét trong Phần II của loạt bài này, thì trong vài tháng vừa qua, chương trình Phối Hợp Nghiên cứu Ðịa chấn Ðại dương đã khuấy động lên một cuộc tranh cãi chính trị đáng kể tại Phi Luật Tân, và một dấu hỏi đang đặt ra về tương lai của hiệp định trên.

Thêm nữa, chương trình JMSU nói chung chỉ làm được rất ít để giảm bớt mối căng thẳng Việt –Trung trên biển Ðông. Thật vậy, vào năm 2007 thì quan hệ giữa hai nước đã đi xuống rất trầm trọng qua vụ tranh chấp này. Có 3 dòng sự kiện phối hợp lại với nhau làm Viêt Nam tức giận. Ðầu tiên là vào tháng 4/07 lúc Trung cộng cáo buộc Việt Nam xâm phạm chủ quyền của họ khi cho phép một tập đoàn năng lượng do công ty British Petroleum (BP) dẫn đầu để phát triển hai vùng mỏ khí đốt tại khu vực lòng chảo đảo Côn Sơn, 230 dặm (370.14 km) ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Việt Nam đã bác bỏ sự phản đối của Trung cộng khi nêu ra rằng đề án này nằm lọt vào ngay giữa khu vực đặc quyền kinh tế của họ. Nhưng vào tháng 6/07, công ty BP thông báo rằng họ đã tạm ngưng công tác tại hai vùng mỏ khí đốt trên cho đến khi có thông báo mới, gây ra nhiều suy đoán rằng Bắc Kinh đã đặt nhiều áp lực lên công ty BP bằng cách đe dọa sẽ loại bỏ họ ra khỏi các giao ước làm ăn về năng lượng trong tương lai tại lục địa Trung Hoa. Một Việt Nam thiếu hụt về năng lượng đã giận dữ sự bắt chẹt lấn át bị coi là từ phía Trung cộng.

Dòng sự kiện thứ hai có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa. Vào tháng 7/2007, tàu của hải quân Trung cộng bắn vào một tàu đánh cá Việt Nam, làm thiệt mạng một ngư dân; vào tháng 8/2007, Trung cộng dự định bắt đầu tổ chức các chuyến tàu du lịch ra Hoàng Sa, khiến Việt Nam phải xác định lại chủ quyền của họ trên quần đảo này; và vào tháng 11/2007 Việt Nam phản đối Trung cộng thao diễn quân sự trên quần đảo Hoàng Sa.  

Sự kiện thứ ba thì có dính dáng đến sự cáo buộc –chưa được xác nhận bởi nhà cầm quyền Trung cộng –rằng Quốc vụ viện Trung Hoa đã thông qua một đạo luật vào đầu tháng 12/2007 nhằm thiết lập ra một thành phố cấp huyện ở tỉnh Hải Nam, được gọi là Tam Sa để quản lý hành chánh về chủ quyền của Trung cộng trên biển Ðông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ðối với nhà nước Việt Nam thì cái dự kiến Tam Sa là giọt cuối cùng làm tràn đầy ly nước. Trong hai ngày cuối tuần của hai tuần lễ liên tiếp trong tháng 12, Việt Nam đã để yên cho hàng trăm sinh viên học sinh đứng ra tổ chức các cuộc biểu tình phản đối gần sứ quán Trung cộng tại Hà Nội và lãnh sự quán tại TPHCM. Những người biểu tình đã bày tỏ sự phẫn nộ của họ đối với việc tuyên bố chủ quyền của Trung cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cáo buộc Bắc Kinh đang theo đuổi một tham vọng bành trướng. (theo Straits Times, ngày 17/12/07).

 

Biểu tình trước sứ quán Trung cộng tại Hà Nội.

Nhà nước Việt Nam cho rằng các cuộc biểu tình phối hợp  là do tự phát, mặc dù điều này khó có thể xảy ra tại một nước có kiểm soát chặt chẽ như Việt Nam; đúng ra, Hà Nội đã  học lóm ngón nghề của Trung cộng và xử dụng các cuộc biểu dương này để lột tả lòng căm phẫn đối với Bắc Kinh. Nhà cầm quyền Trung cộng tuyên bố rằng họ “quan tâm sâu xa” về các vụ xuống đường và khiển trách nhà nước Việt Nam là nên có một “thái độ có trách nhiệm” và “ngăn ngừa không làm thiệt hại đến quan hệ song phương” (theo Tân hoa xã ngày 11/12/07).  Quan hệ giữa hai nước lại đụng phải một cú nữa vào tháng Giêng khi Trung cộng cáo buộc ngư dân Việt Nam tấn công tàu đánh cá của họ trong Vịnh Bắc Bộ. Việt Nam đáp lại rằng các tàu của Việt Nam lẫn Trung cộng chỉ đơn thuần là chạm nhẹ vào nhau sau khi các lưới đánh cá của họ bị vướng víu lẫn nhau.

Ðể cho phù hợp với những cam kết lâu đời của họ nhằm giải quyết các bất đồng còn sót lại bằng các biện pháp ôn hoà không dùng đến quân sự, và không để các vấn đề lãnh thổ làm trở ngại tiến trình đi tới của tình hữu nghị, cả Việt Nam lẫn Trung cộng đã nhanh chóng ra tay để ổn định quan hệ này.  Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc đã họp tại Bắc Kinh ngày 23/01/08 để dập tắt ngọn lửa bất hoà:  Ðồng chủ tịch có Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đường Gia Triền và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm đã đồng ý “giải quyết đúng đắn các vấn đề trong quan hệ song phương” qua “sự đối thoại và hội ý”, và đẩy mạnh  việc thương lượng để vẽ lại đường biên giới lãnh hải trong các khu vực còn sót lại trong Vịnh Bắc Bộ (theo Tân hoa xã ngày 23/01/08). Trước khi Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương gặp gỡ thì các giới chức hai bên đã gặp nhau hơn 4 lần riêng biệt trong tháng 01/08 để thảo luận các vấn đề đất đai biên giới, Vịnh Bắc Bộ, và biển Ðông, cùng đồng ý về sự cần thiết phải duy trì hoà bình và ổn định trong khu vực, tự chế không làm cho tình hình rắc rối thêm, và đề xướng ra các hoạt động phối hợp. (theo BBC ngày 30/01/08).

Kể từ khi quan hệ ngoại giao được bình thường hóa, Việt Nam đã phải vật vã với các khó khăn vì là phe yếu thế hơn trong một quan hệ càng ngày càng bất cân xứng: Làm thế nào để phù hợp với một Trung cộng đang trỗi dậy, điều khiển hướng đi theo con đường chính giữa, giữa sự thù địch và lệ thuộc, và bảo tồn được tư thế tự trị chính trị của mình. Tranh chấp biển Ðông là một biểu tượng đặc trưng của những khó khăn của Việt Nam, và mặc dù quan hệ đã được cải thiện với Trung cộng, vấn đề chủ quyền vẫn còn xa vời trong việc phân giải và tiếp tục làm lu mờ đi mối quan hệ này.  Trong khi cả hai bên đã bỏ ra nhiều nỗ lực để ngăn chặn việc đụng độ quân sự, hầu tập trung vào việc phát triển kinh tế, nhưng trong một bối cảnh của giá cả dầu thô đang đi lên, và nhu cầu đang gia tăng cho nguồn tài nguyên năng lượng ở ngoài khơi, thì những tranh giành đụng chạm giữa Việt Nam và Trung cộng sẽ không tránh khỏi.

http://japanfocus.org/products/details/2734

—————
ý kiến bạn đọc:
– Làm gì thì làm, đại đa số nhân dân VN KHÔNG công nhận bất kỳ hiệp ước lén lút giữa 2 đảng độc tài toàn trị, không đại diện cho họ vì không qua cuộc bầu cử tự do, trực tiếp và kín !!

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: