Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 5, 2008

Cung Vua và Phủ Chúa Hà Nội (Phần III)

Bùi TínTiếp theo Phần IPhần II

 

IV- Những đặc điểm của Phủ Chúa thời hiện đại

1 – Có mà không, không mà có

Phủ Chúa ở chỗ nào? hình thù ra sao? địa chỉ ở đâu? Không ai biết, không thể biết. Thế nhưng nó có thật, nó có quyền uy, nó có phát huy tác dụng. Không ai có thể khẳng định là nó chỉ là chính quyền ảo, hoàn toàn bịa đặt, tưởng tượng, không có thật.

2 – Thật ở chỗ nào?

Phủ Chúa có thật trước hết ở hai nhân vật đã mô tả ở các phần trên. Ở cương vị nguyên Ủy viên Trung ương đảng (từ năm 1960), nguyên Bộ trưởng (từ năm 1961), nguyên Thủ tướng, nguyên Tổng bí thư, nguyên Cố vấn ban chấp hành trung ương đảng, Đỗ Mười – sinh năm 1917 – năm nay (2008 ) 91 tuổi, về nghỉ hưu từ sau Đại hội IX (tháng 4/2001), nhưng vẫn còn tham chính theo cách riêng của mình.

Nó cũng có thật ở chỗ, nguyên Tư lệnh Quân khu IX, nguyên Tư lệnh “Quân tình nguyện Việt Nam” ở Cambốt, nguyên Tổng tham mưu trưởng, nguyên Bộ trưởng quốc phòng, nguyên Chủ tịch nước, đại tướng Lê Đức Anh – sinh năm 1920 – năm nay (2008 ) 88 tuổi, về nghỉ hưu từ sau Đại hội IX (tháng 04/2001), nhưng vẫn còn tham chính cùng ông Đỗ Mười theo cách riêng của hai vị.

Nó có thật còn ở chỗ, hai vị tuy đã nghỉ hưu, vẫn còn có văn phòng riêng đặt tại tư dinh của mình (tư dinh ông Mười ở đường Phạm Đình Hổ quận Hai bà Trưng, tư dinh ông Anh ở trên đường Phan Đình Phùng, quận Ba Đình). Mỗi vị có một chánh văn phòng, hai viên thư ký, một bác sỹ, một lái xe, hai bảo vệ, một cần vụ, một người nấu ăn, cùng với điện thoại liên lạc theo ba hệ thống, với nội bộ trung ương đảng, trong nước và viễn liên.

3 – Một quan niệm từ xưa: “tôi tác thành cho anh, anh là người của tôi”

Theo cách hành xử từ thời phong kiến xa xưa, một viên chức gia nhập ngành hành chính, quan lại sẽ luôn ghi ơn suốt đời mình: ông bà, cha mẹ sinh ra mình, những thầy giáo từng dạy mình khôn lớn và những nhân vật cấp trên đã chỉ bảo, nâng đỡ, dìu dắt và trọng dụng mình, chọn lựa và đặt mình vào các chức vụ hệ trọng nhất. Gói gọn trong một danh từ ghép, việc làm như thế gọi là “tác thành”. Công ơn tác thành là điều mà các hiền sĩ, người quân tử luôn ghi nhớ để khi có dịp thì báo ân, trả ơn theo nếp sống đậm đà tình nghĩa.

Mặt khác, các quan chức cao cấp thường tận dụng nếp nghĩ có nghĩa tình như thế để coi những kẻ hậu sinh mà mình từng có dịp tác thành là những đồ đệ tin cậy của mình, với những niềm vui và hãnh diện đã biết phát hiện, chọn lựa hiền tài (!) cho đất nước. Cũng có người quen thói cá nhân vụ lợi tận dụng những mối quan hệ tình nghĩa ấy để kiếm lợi riêng cho tham vọng cá nhân. Họ ép buộc những kẻ từng hàm ơn họ phải trung thành và phục vụ họ cả trong những mưu đồ riêng tư.

Điều này giải thích vì sao các ông Trần Đức Lương, Trần Đình Hoan, Phạm Văn Trà, Nguyễn Khoa Điềm… lại gắn bó với ông Mười đến thế, chỉ vì ông Mười khi là Phó thủ tướng, Thủ tướng, rồi Tổng bí thư, đã đưa ông Lương ở Tổng cục địa chất, ông Hoan ở Bộ lao động, ông Trà ở Quân khu VII, ông Điềm ở Sở thông tin văn hóa Thừa Thiên vào các cương vị cao nhất là ủy viên Bộ chính trị.

Tại sao ông Anh lại được các ông tướng Lê văn Dũng, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Huy Hiệu… của quân đội, rồi các ông tướng Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Hưởng, Lê Thế Tiệm… ở ngành công an biết ơn đến vậy? Chỉ vì ông Anh đã ký lệnh thăng vượt cấp các vị nói trên cùng 178 viên tướng khác theo tiêu chuẩn trung thành với cá nhân mình, trong thời gian ông làm Chủ tịch nước chỉ từ tháng 6/1992 đến tháng 12/1997, nghĩa là trong 5 năm rưỡi, nhiều hơn cả ông Hồ Chí Minh trong 25 năm làm Chủ tịch nước và Chủ tịch Đảng.

Mối quan hệ cá nhân kiểu thầy-trò như trên là hệ quá tai hại của nếp lựa chọn nhân tài không qua thi cử, không qua thăm dò dư luận, không mảy may công khai, minh bạch, không qua ý kiến tập thể cân nhắc cẩn thận, lại theo cách thức hết sức cá nhân, tùy tiện, ngẫu nhiên, vô nguyên tắc. Cho nên mới có người kém cỏi, tài ít, đức mỏng, tham tàn lại cố kết với nhau thành phe nhóm nắm quyền đè nén dân, tàn phá xã hội.

4 – Công cụ chính của Phủ Chúa: bộ máy tình báo

Công cụ lợi hại nhất của cặp nhân vật ngự trị trong Phủ chúa là bộ máy tình báo Tổng cục 2 đã nói đến ở phần trên.

Qua kế hoạch nâng cao Tổng cục 2 ngang với Bộ Tổng tham mưu, phình to để gồm có 12 Cục, với chức năng rộng lớn bao gồm an ninh nội bộ đảng, nội bộ quân đội, nội bộ cộng đồng người Việt ở nước ngoài, an ninh quốc tế, do thám và phản gián, tham vọng của ông Lê Đức Anh là đặt nó ngang với CIA của Mỹ và Gestapo của Đức ngày trước. Tổng cục 2 ngoài cài sâu vào mọi tổ chức cảnh sát, an ninh, bảo vệ, còn cài sâu vào mọi tổ chức chính trị, tôn giáo, kinh tế, ngoại thương, văn hóa, du lịch, thể thao… Nó có vô vàn chân rết, tai mắt, nhân viên, cộng tác viên ở mọi cấp, trở thành “quân đội trong quân đội”, “nhà nước trong nhà nước”, “đảng ở trong đảng”.

Ngân sách cho nó thì vô kể, không ai có thể biết cụ thể là bao nhiêu. Kinh doanh của nó cũng không hạn chế. Ngoại tệ mạnh của nó cũng dồi dào. Người tin cẩn về mặt này của ông Mười là ông Nguyễn Sinh Hùng, cùng ở xã Kim Liên (Nghệ An) với ông Hồ Chí Minh, được ông Mười “tác thành”, từ Thứ trưởng tài chính sau Đại hội VII, lên Bộ trưởng tài chính sau Đại hội VIII, rồi lên Phó thủ tướng sau Đại hội IX, nay là Phó thủ tướng thường trực sau Đại hội X, nghĩa là Phó thủ tướng thứ nhất, đặc trách về tài chính tiền tệ. Cắt xén ngân sách quốc gia cho bộ máy cồng kềnh của đảng, cắt xén hậu hĩ tiền của nhà nước, tức là của dân, cho hai quan hệ trọng nhất của đảng là Ban tài chính quản trị trung ương đảng và Tổng cục 2 là “nghĩa vụ” hàng đầu của ông Nguyễn Sinh Hùng.

5 – Hai Bố già và công ty bảo kê quốc tế

Phủ Chúa thời hiện đại hoạt động theo kiểu Mafia quốc tế. Nó đứng ngoài Luật pháp và Hiến pháp; nó dùng uy lực tinh thần và sức đe dọa trừng phạt kiểu Mafia, nghĩa là kiểu lưu manh hung bạo.

Khi tổng bí thư Lê Khà Phiêu dẫn đầu đoàn cấp cao thăm Pháp cuối năm 2000, nhân viên Tổng cục 2 đi theo đã theo lệnh tướng Anh chụp trộm một số ảnh Phiêu đang ăn nằm với Thị Hà và Thị Dung đi phục vụ trong đoàn, để sau đó chỉ ba tháng Lê Đức Anh chìa ra cho đoàn chủ tịch Đại hội đảng toàn quân xem, tô đậm tội “hủ hóa”, một trong mười tội lớn của Phiêu, khi Phiêu dám đưa ra ý kiến phế bỏ chức “cố vấn trung ương” của Mười, Anh và Kiệt.

Mới đây, tháng 3/2008 một quan chức thuộc Tổng cục 2 xuống tận Hải Phòng đe dọa nhà văn đối kháng Nguyễn Xuân Nghĩa khi ông này định về Hà Nội dự lễ tang ông Hoàng Minh Chính là: “Có còn nhớ cái chết của vợ chồng Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh trên đừơng số 5 hồi nào không?”, gián tiếp thừa nhận bàn tay mafia chính trị trong vụ án tai nạn giao thông giết hai vợ chồng nghệ sỹ cùng đứa con trai, chỉ vì Lưu Quang Vũ bằng các tác phẩm xuất sắc của mình lên án quyết liệt những mặt trái của chế độ.

Bố Già trong các nhóm mafia Ý hoặc Nam Mỹ là những tay anh chị lão luyện trong nghề, từng vào tù ra tội, già dặn trong thử thách, tiếng tăm trong công luận. Ông Mười 91 tuổi và ông Anh 88 tuổi có thể coi là Bố Già của mafia chính trị hiện đại Việt Nam.

Mỗi nhóm mafia thường được đỡ đầu, che chở kín đáo bởi một công ty, một nhóm cảnh sát, công an, quan chức có quyền lực, thần thế, theo kiểu có đi có lại, qua thương lượng, thông đồng, bằng tiền bạc, hiện vật quý hiếm. Nhóm mafia thượng thặng trong cung đình cộng sản Hà Nội được chính quyền cộng sản Bắc Kinh đỡ đầu, bảo kê, nuôi dưỡng và chỉ đạo. Chỗ mạnh ghê gớm của nó nằm ở đó. Nhưng chỗ yếu chí mạng của nó cũng nằm ở đó.

Được Thiên triều bảo kê, Phủ Chúa Hà Nội có thế rất cao. Hệ thống điện thoại đặc biệt nối thẳng tới sứ quán Trung quốc trên đường Hoàng Diệu, đến phòng làm việc của đại sứ Hồ Càn Văn. Hồ Càn Văn là ai? Năm 1990 ông ta còn là Bí thư thứ nhất của Sứ quán, trực tiếp thu xếp cuộc gặp riêng của đặc phái viên Bắc Kinh là Từ Đôn Tín với Bộ trưởng quốc phòng Lê Đức Anh. Các cuộc gặp không cần phiên dịch, vì cả đại sứ hồi ấy là Trương Đức Duy cũng như Từ Đôn Tín và Hồ Càn Văn đều nói tiếng Việt cực kỳ thông thạo như người Việt vậy.

Có những lương y giỏi nhất từ Bắc Kinh thường xuống khám bệnh, bốc thuốc cho ông Mười và ông Anh. Nhờ đó ông Mười 91 tuổi vốn bị bệnh thần kinh mất ngủ đã khỏi bệnh, lưng vẫn còn thẳng. Giới trí thức thủ đô kể rằng năm 1997, khi vào tuổi 80, ông có vẻ hồi xuân, tỏ tình, muốn cưới bà tiến sỹ toán H.X.S., đã đưa “lễ chạm ngõ” nhưng không được đồng ý. Ông Anh yếu hơn vì cơn nhồi máu cơ tim năm 1989, nay nhờ các thầy lang Tàu cũng hồi phục tuy nói còn khó khăn, mồm hơi méo.

Bảo kê của Bắc Kinh còn được thực hiện qua cơ quan Tình báo Trung Quốc ở Hoa Nam, đóng tại thành phố Quảng Châu (tỉnh Quảng đông), có mối quan hệ cực kỳ chặt chẽ với Tổng cục 2. Các quan chức và cả gia đình của Tổng cục 2 thường được mời sang nghỉ tại những nhà nghỉ đặc biệt của Tình báo Hoa Nam trên bờ biển đảo Hải Nam.

V- Những mưu đồ chiến lược của Phủ Chúa

1- Kềm giữ Việt nam trong vòng tay của Trung Quốc. Đây là mục tiêu chính trị hàng đầu của Bắc Kinh. Làm sao Việt Nam luôn và mãi mãi là “bạn tốt”, nghĩa là chư hầu, “phiên thuộc”, một vệ tinh, một thuộc địa kiểu mới của Bắc Kinh. Ngăn ngừa xu thế đảng CSVN độc lâp tự chủ với đảng CS Trung Quốc. Cảnh giác với khả năng Việt Nam cân bằng quan hệ với Trung Quốc và quan hệ với Hoa Kỳ.

Đây là thái độ rất ích kỷ, vì chính Trung Quốc tìm mọi cách để ưu tiên cải thiện quan hệ mọi mặt với Hoa Kỳ và phương Tây nhằm ưu tiên hiện đại hóa kinh tế và quốc phòng với tốc độ cao, lại ngăn chặn Việt Nam thực hiện chính điều ấy.

Chính họ đã dùng Phủ Chúa ở Hà Nội để thực hiện sự kìm hãm ích kỷ này.

2 – Kềm giữ khiến Việt Nam luôn bám gót Trung Quốc, lẽo đẽo theo sau với một khoảng cách nhất định, không cho phép bứt lên, ngang bằng hoặc vượt lên trước, đặc biệt là trong quan hệ với các nước phương Tây và Hoa Kỳ.

Đổi mới ở Trung Quốc khởi đầu từ năm 1978, ở Việt Nam năm 1986, sau Trung Quốc đến 8 năm. Bình thường hóa quan hệ với Mỹ, vào Liên Hợp Quốc, vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Trung Quốc luôn dùng Phủ Chúa để trì hoãn Việt Nam, không cho qua mặt Trung Quốc. Năm 1999, lẽ ra Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã được ký kết tại New Zealand (Tân Tây Lan) nhưng Chủ tịch Lê Đức Anh đã lệnh cho Thủ tướng Phan Văn Khải hoãn việc ký mà không giải thích lý do, để tháng 7/2000 mới ký được.

Riêng trong quan hệ với Hoa Kỳ, Bắc Kinh luôn giành thế thượng phong so với Việt Nam. Tổng thống Nixon thăm Trung Quốc ký Tuyên bố Thượng Hải từ tháng 2 năm 1972. Tổng thống Clinton đi thăm chính thức Bắc Kinh tháng 6/1998. Tổng thống W. George Bush thăm tháng 2/2002. Trung Quốc vào WTO từ tháng 12/2001, trước Việt Nam đến 5 năm. Bắc Kinh vào Liên Hiệp Quốc thay Đài Loan từ năm 1971. Việt Nam vào sau đó, tháng 9/1977.
Mọi người không thể quên câu nói của Đặng Tiểu Bình ngày 19/051978: “Trung Quốc là NATO phương Đông (ngụ ý để cùng NATO bao vây Liên Xô – BT), Việt Nam là Cuba phương Đông (ngụ ý là chư hầu Liên xô – BT)”.

3 – Kềm giữ Việt Nam trong chế độ XHCN mác-xít mao-ít, với đặc điểm là theo học thuyết đấu tranh giai cấp và thiết lập nên chuyên chính của một đảng duy nhất – đảng cộng sản.

Từ Đại hội VII (năm 1991), đến Đại hội VIII (1996), rồi đến Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006), mặc cho có hàng vạn ý kiến của trí thức, tuổi trẻ, văn nghệ sỹ cùng một số nhà kinh doanh, cả nhà cách mạng lão thành bác bỏ nền “dân chủ một đảng” giả dối, nguỵ biện, để thực hiện nền dân chủ đa nguyên đa đảng lành mạnh, tiến bộ, nhóm lãnh đạo vẫn một mực duy trì chế độ độc quyền đảng trị cổ lỗ, lạc hậu.

Từ sau Đại hội VI (1986) trong đảng CS có một số ý kiến đòi đổi tên đảng (trở lại tên đảng Lao động, hay đổi thành đảng Dân chủ Xã hội, đảng dân chủ mới) và đòi đổi tên nước (trở lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), bỏ Điều 4 cuả Hiến pháp (rập khuôn theo hiến pháp của đảng CS Liên Xô), đến nay theo tác động của Phủ Chúa, những ý kiến theo hướng dân chủ như thế đều bị coi là những đề tài quốc cấm (tabou), không được đưa trên báo chí và mọi phương tiện truyền thông khác.

4 – Thực hiện đàn áp thẳng tay, tức thời mọi biểu hiện chống đối độc quyền đảng trị, đòi tự do dân chủ: đây là một hướng hành động rõ ràng, dứt khoát không được chập chờn nhân nhượng của chính quyền độc đảng, vì nó tự hiểu rằng chính nó đã gây nên bao bất công, bao nhiêu đau khổ chết chóc, mất mát và tàn phá, và tích lũy biết bao uất hận trong lòng nhân dân qua nhiều thế hệ. Nó càng hiểu rằng nếu nó chịu nhượng bộ lẽ phải và chân lý, lùi một bước thì sẽ phải lùi thêm một bước, rồi một bước nữa, để rồi không tránh khỏi bị ngã ngựa, xuống đài và lăn kềnh.

Trước công luận, trước thế giới hiện đại, có khi nó phải dịu giọng, trưng ra bộ mặt ra vẻ thức thời, phải đạo, lên giọng hứa hẹn giả đạo đức, nhưng ngay trong lúc đó ở trong nước nó vẫn hành động ngang ngược theo bản chất hung hãn chà đạp nhân phẩm và nhân quyền cố hữu.

Do đó những người cầm quyền cao nhất từ Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, người phát ngôn của họ vẫn cứ leo lẻo nói không chút ngượng ngịu rằng ở Việt Nam không hề có tù nhân chính trị, trong khi có cả một quyết định và thông báo về chính sach đối phó với “tù chính trị” của Bộ chính trị được tiết lộ công khai. Giữa thời kỳ mà minh bạch công khai trở thành tiêu chuẩn của đổi mới và hội nhập, họ vẫn bám chặt lấy kiểu nói lấy được, nói theo kiểu lưỡi gỗ của thời cường hào cực thịnh xa xưa.

Nếu Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ internet, thanh tra thường xuyên mọi quán càfê internet, thì Việt Nam cũng làm theo đúng vậy. Bắc Kinh cấm báo chí tư nhân, Việt Nam cũng xiết chặt kiểm soát thông tin, cấm báo chí tư nhân hoạt động và gần đây nhất, quyết định mang số 77/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 28/5/2007, có hiệu lực 15 ngày sau đó, quy định rõ chỉ các nhân vật thuộc diện “người phát ngôn” (của đảng) mới được quyền nói. Khi Bắc Kinh lập tường lửa chặn các mạng internet có thông tin về dân chủ, nhân quyền thì Việt Nam cũng tương tự, ngăn chặn mọi trang web “nhạy cảm”, phá sóng Đài Á châu Tự do RFA, v.v…

5 – Làm tay trong để thỏa mãn tham vọng bành trướng xuống phương Nam của Trung Quốc:

Đây là một mưu đồ hệ trọng bậc nhất. Như đã nói ở phần trên, việc đàm phán và ký kết hai Hiệp ước Việt – Trung về phân định biên giới trên bộ và trên biển trong Vịnh Bắc Bộ đã được thức hiện chóng vánh, trôi chảy ra sao. Phía Việt Nam đã nhượng bộ như thế nào qua hàng loạt câu hỏi chưa được giải đáp có sức thuyết phục. Việc ký Nghị định thư về đánh cá chung ký cùng ngày với Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ cũng gây thiệt hại vô hạn, vì rõ ràng Trung Quốc có đội đánh cá ở vùng biển phía Nam mạnh gấp 20 lần của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ. Giống như việc chia chiếc bánh “bình đẳng” giữa một lực sĩ tham ăn với một chú bé lên mười ốm yếu vậy. Bao nhiêu tài nguyên hải sản trong Vịnh Bắc Bộ đã và còn bị ông bạn khổng lồ phương Bắc vơ vét hết. Các nhân vật cao nhất tham dự vào các Hiệp ước và Nghị định thư tệ hại trên là: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên, Lê Công Phụng…

Cuối năm nay (2008 ), Nghị định thư ký sau khi hoàn thành việc cắm mốc dọc biên giới Việt – Trung sẽ được công bố công khai cùng toàn bộ bản đồ tỷ mỷ vẽ theo thực địa, lúc ấy mọi người có thể biết là phía Việt Nam đã bị mất bao nhiêu đất. Cái tội ấy sẽ được toàn dân biết rõ và quy đúng trách nhiệm. Vì lúc ấy phía Trung Quốc thu lợi lớn sẽ không ngần ngại công bố công khai tập bản đồ có lợi cho họ trên báo chí và mạng thông tin điện tử.
(DCV)

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: