Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 8, 2008

Cung Vua và Phủ Chúa, BT

Tiếp theo Phần I, Phần II, Phần III,   Phần IV,  Phần V – kết Về Cung đình Cộng sản Hà-nội

 

 từ 1991 đến 2008  

 (nghiên cứu/biên khảo)

 

I-/ Lời mở đầuVì sao lại cần ngiên cứu chuyên đề này ?

 Từ cuối năm 2001, các bạn tôi từ Hà-nội cho biết có một chính phủ MA ở Hà-nội. Tôi tưởng đây là câu nói đùa cho vui. Thế mà là sự thật. Một sự thật thâm thúy, không dễ thấy. MA là gì. Phải chăng đó là viết tắt tên của 2 nhân vật tuy đã về hưu nhưng vẫn còn quyền uy lớn đối với chế độ cộng sản hiện hành?  M là chỉ ông Mưới, Đỗ Mười; A là chỉ ông Anh, Lê Đức Anh. MA là M+A một cặp nhân vật gắn bó với nhau Mười + Anh.

MA còn có nghĩa là ma quỷ, là có những mưu đồ thâm hiểm xảo quyệt, có hại cho dân cho nước. MA còn có nghĩa nữa là không có thật, nhưng do lòng tin mù quáng của một số người đời mà thành ra có uy quyền, gây nể sợ cho xã hội. Như con ma ở gốc cây đa, không có thật, nhưng do mê tín của người yếu bóng vía nên được kinh sợ, được cúng bái, dâng lễ, cầu xin sự che chở và ban ơn, ban bổng lộc, hạnh phúc.

Cũng từ Hà-nội các bạn tôi nói đến Cung VuaPhủ Chúa. Ý nói Cung đình Hànội có thể ví như một triều đình phong kiến, Tổng bí thư có uy quyền tối cao, như một Hoàng đế, là kẻ có quyền quyết định tối cao và cuối cùng. Thời xưa, có Vua tốt, tài giỏi, đức độ, là ”Minh Quân”,  có Vua xấu, dốt, ăn chơi trác táng, như vua ”Ngọa Triều ”.

Quanh Vua là Tứ trụ triều đình; nay trong Cung đình cộng sản là Ủy viên Thường trực Bộ chính trị, Chủ tịch Nước, Thủ tướng và Chủ tich Quốc hội.

Còn Phủ Chúa là ai ?  là cái thế lực không có tên gọi, danh xưng chính thức, không có trụ sở chính thức, không có bộ máy chính thức, chỉ có M+A, chỉ có 2 nhân vật đã nghỉ hưu, nhưng vẫn có thế lực và quyền uy, có công cụ không thể coi thường. Xưa kia, có những thời kỳ có 2 quyền lực song song tồn tại, phối hợp rồi lại cạnh tranh với nhau, vua Lê – chúa Trịnh trong thế kỷ thứ 16.

Tình trạng Cung Vua và Phủ Chúa trong chế độ độc đảng ở Việt nam gần đây là thật. Không những thế, nó còn là chìa khóa để có thể hiểu rõ được mọi diễn biến chính của thời cuộc Việt nam, của diễn biến thời sự ở Việt nam, những thành đạt và nhất là những trở ngại, mâu thuẫn và nghịch lý ở Việt nam trên con đường ” đổi mới ” và ” hòa nhập ”, từ khoảng năm 1991, nghĩa là từ đại hội VII Đảng CS Việt nam đến nay.

Nó xứng đáng được đặt thành một chủ đề để khảo cứu một cách nghiêm chỉnh và khoa học, nhất là đối với các nhà hoạt động chính trị, những tổ chức và cá nhân đối lập với chính quyền độc đảng toàn trị, những trí thức yêu nước, nhà văn hóa, hoạt động văn học nghệ thuật chuộng tự do sáng tạo, các bạn trẻ khao khát cống hiến cho tổ quốc.

 

II-/ Hoàn cảnh dẫn đến tình trạng ”cung Vua và phủ Chúa”.

 

        1-  Sự sụp đổ của phe Xã hội chủ nghĩa (XHCN) và khủng hoảng chế độ chính trị ở Việt nam.

Các nước XHCN ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng chính trị vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến các nước Balan, Tiệp khắc, Bungari, Hungari, Nam tư… chuyển từ chế độ độc đảng lên đa đảng, rồi sự kiện bức tường Berlin đột nhiên sụp đổ tháng 11-1989 dẫn đến hòa bình thống nhất nước Đức trong chế độ dân chủ đa đảng đã là những sự kiện chính trị cực kỳ chấn động vào cơ quan lãnh đạo Đảng CS Việt nam. Niệm tin vững chãi do mù quáng giáo điều vào sự bất khả xâm phạm và thế tất thắng của phe CNXH bị tiêu tan trong thực tế; lý luận cơ bản về ” bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội (mác-xít) trên phạm vi toàn thế giới ” bị thực tế bác bỏ. Một không khí ảm đạm, giao động, cho đến hoang mang và bi quan bao trùm đảng. Bộ chính trị đảng CS Việt nam cố trấn tĩnh khi nhận những tin dữ, như vợ chồng ”đồng chí tổng bí thư Xéuxescu” ở Rumani bị xử bắn và ”đồng chí tổng bí thư Honecker” ở Berlin bị quản chế, chờ ngày ra tòa. .

Niềm an ủi duy nhất đối với nhóm lãnh đạo ở Hànội lúc ấy là dù sao Liên Xô thành trì của phong trào cộng sản quốc tế còn tồn tại, và vẫn còn tồn tại vài nước cộng sản khác: Trung quốc, Bắc Triều tiên, Cuba; có thể kể thêm Lào nữa.

Một thời gian sau đó, vào tháng 8-1991, tình hình Liên Xô đột biến, cuộc đảo chính nhằm lật đổ tổng thống Gorbachev thất bại, Đảng CS Liên xô bị giải thể, Liên bang Xô Viết tan vỡ, tổng thống Yeltsin lên cầm quyền với một nước Nga đa nguyên đa đảng. Trên thế giới, chiến tranh lạnh giữa 2 phe chấm dứt. Phong trào cộng sản quốc tế tan vỡ. Đây là một cơn động đất chính trị kinh hoàng đối với nhóm lãnh đạo CS cầm quyền ở Hànội. Vì suốt nửa thế kỷ, đảng CS Liên xô và Liên bang Xô viết là chỗ dựa vững chắc về tư tưởng, lý luận, chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, là Người Thày, là Ngôi sao, là Khuôn mẫu, nguồn cung cấp vũ khí – tên lửa, máy bay, rada, tàu chiến -, trang bị kỹ thuật công nghiệp, lương thực, ngoại tệ…

       2- Trước một sự lựa chọn có ý nghĩa quyết định : Nhóm lãnh đạo CS ở Hànội đứng trước một sự lựa chọn có ý nghĩa quyết định cả về đường lối đối nội và về đường lối đối ngoại.

Về đối nội, có nên tiếp tục con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (mác-xít) và chủ nghĩa  cộng sản như đã thực hiện lâu nay hay không ? Hay nên theo con đường chuyển biến từ chuyên chế sang dân chủ, từ độc dảng sang đa nguyên đa đảng như một số nước ở Đông Âu cùng nước Nga và một số nước thuộc Liên Xô cũ vừa trải qua, theo con đường Perestroika (cải tổ) và Glasnost (minh bạch) do Gorbachev đề xướng?

Về đối ngoại, có nên rời bỏ phong trào cộng sản quốc tế đã tan rã và phe xã hội chủ nghĩa đã tan vỡ, để hòa nhập dứt khoát vào thế giới dân chủ gồm tuyệt đại đa số nước đã thực hiện chế độ chính trị đa nguyên đa đảng, lấy xã hội công dân, với tự do ngôn luận, báo chí, bầu cử làm nền tảng?

Thật ra đã không có một cuộc thảo luận nghiêm chỉnh trong đảng CS, trong quốc hội, trong bộ máy chính quyền, trong giới trí thức-học thuật cũng như trong giới truyền thông báo chí ở nước ta. Sự thật đáng sợ quá!

Qua nửa thế kỷ cầm quyền của đảng CS trên miền Bắc và hơn 16 năm trên cả nước, quyền tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận của người dân đã bị thủ tiêu, người dân ít có ai giữ được khả năng tư duy độc lập, hầu như toàn dân đã quen với nếp sống đã có đảng lo nghĩ thay cho mình mọi sự. Cả một lớp trí thức đã bị đảng làm cho mê muội, cắt đứt với thế giới tiến bộ, gần như vô cảm đối với vận mệnh dân tộc và cuộc sống mất tự do của nhân dân.

Hệ thống truyền thông như truyền thanh, truyền hình, báo chí đều nằm trọn trong tay đảng, nếu như đảng sáng suốt, minh mẫn, sáng tạo thì dân được nhờ, đảng sai lầm, giáo điều, hủ lậu thì dân đành chịu, chỉ còn biết lắc đầu, thở dài và cam chịu, nếu không muốn chuốc vạ vào mình và gia đình.

Do đó, vào năm 1991, khi đảng CS Liên Xô tắt thở và phe XHCN cáo chung, lẽ ra đảng CS Việt nam cần có một cuộc nhìn lại mình thật sâu sắc, triệt để, thực hiện một cuộc tự phê bình chân thực đầy trách nhiệm trước dân tộc và nhân dân, bày ra mọi khả năng lựa chọn về con đường sắp tới, lấy ý kiến của toàn đảng và toàn dân, cân nhắc phải trái, hơn thiệt cho thật kỹ càng chu đáo, thế nhưng nhóm lãnh đạo đảng CS đã không làm như thế.

 

Tệ sùng bái đảng CS, sùng bái lãnh tụ Hồ Chí Minh, đinh ninh rằng đảng và lãnh tụ không bao giờ lầm lẫn, làm cho mỗi con người mất sáng suốt, mù quáng, dù thấy sai cũng không dám nói, biết đường đì sai mà không dám quay lại, đây là bi kịch kinh khủng nhất của đảng CS, của nước ta, trong hơn nửa thế kỷ qua.

  (*1) – Hồ Chí Minh : sự tước đoạt của lòng yêu nước, luận văn của nhà triết học Pháp Jean-François Rével (xem Phụ lục ở dưới cùng)

Một cơ hội lịch sử đã bị bỏ qua, do bản chất tự mãn, cao ngạo của nhóm lãnh đạo cộng sản, luôn bị tự mình mê hoặc mình về cái gọi là ” chiến công lịch sử  đánh thắng liền 3 đế quốc hàng đầu của châu Á (Nhật bản), châu Âu (Pháp) và châu Mỹ (Hoa kỳ) ”. Những cơn say chiến thắng với căn bệnh kiêu ngạo chủ quan của nhóm lãnh đạo dẫn đến thảm họa sâu thẳm và kéo dài như vô tận của nhân dân bất hạnh không lối thoát.

Trách nhiệm này đè nặng trên vai Bộ chính trị của khóa Đai hội VII ĐCS Việt nam. Mặt khác, cả một tầng lớp trí thức vốn thông minh hiếu học bị chăn dắt theo kiểu nhồi sọ, giáo điều lâu năm đã trở nên thụ động và vô cảm, để mặc cho tình hình đất nước nổi trôi, tự cảm thấy vô can và bất lực. Với tình trạng ấy, trong đảng và ngoài đảng, khó có thể xuất hiện một nhân vật mà lịch sử cần đến, như một Lech Walesa hay một Vaclav Havel, một Gorbachev hay một Yelsin.

Công bằng mà nói, hồi 1988 có xuất hiện một Trần Xuân Bách trong bộ chính trị, rồi đến 1995 một Trần Độ với quân hàm trung tướng, nguyên uỷ viên trung ương đảng, phó chủ tịch Quốc hội, rồi một Phan đình Diệu tiến sỹ toán học ủy viên Đoàn chủ tịch Mẵt trận Tổ quốc … lên tiếng đòi chấm dứt nền chuyên chính một đảng, chuyển hướng sang nền chính trị đa nguyên, tiến theo những giá trị dân chủ của thới đại. Những nhân vật này, tuy thất bại tạm thời, đã vớt vát danh dự của cả lớp trí thức còn mê muội và mê ngủ, tự chuốc lấy sự trừng phạt, trả thù và vu cáo của nhóm lãnh đạo, nhưng đã nêu gương sáng quý hiếm về trí tuệ và tâm huyết cho thế hệ tiếp theo.

 

     3 – Chọn phương hướng của Đại hội VII ĐCS Việt nam:         

Năm 1986, Đại hội VI họp từ ngày 15 đến 18 tháng 12 quyết định thực hiện đường lối ”Đổi mới”. Một không khí phấn chấn và hy vọng nảy sinh sau hơn 10 năm khủng hoảng triền miên, do bị cô lập và phong tỏa sau khi quân đội ”nhân dân” Việt nam vào Cambốt và ở lại, sa lầy trong gần 10 năm. Việt nam  vào Liên Hợp Quốc từ cuối năm 1977, nhưng chỉ để bị lên án tại đó về hành động ” chiếm đóng lâu dài đất nước Chùa Tháp ”. Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 và cuộc chiến tranh Việt nam – Khơme Đỏ ở phía Nam (từ 1977 đến 1988 ) là 2 cuộc chiến do bành trướng Bắc kinh thực hiện nhằm làm suy yếu Việt nam toàn diện, Lạm phát lên đến 300, rồi 500% / năm. Tài nguyên kiệt quệ. Chỗ dựa duy nhất ở bên ngoài là Liên Xô cũng đầy khó khăn và khủng hoảng. Nhóm lãnh đạo do Tổng bí thư Trường Chinh, rồi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (được bầu trong Đại hội VI) cầm đầu buộc phải thực hiện cuộc ” đổi mới” theo hướng perestroika (cải tổ) và glasnost (minh bạch, công khai) của đảng CS Liên xô. ”Quân tình nguyện” Việt nam rút hết khỏi Cambốt năm 1988. Khoán sản phẩm được thực hiện rộng khắp trong nông nghiệp; tự do buôn bán, lưu thông, kinh doanh được áp dụng; tự do sáng tạo trong văn học nghệ thuật được khuyến khích. Một không khí thoải mái, dễ thở, hy vọng được nhen nhóm. Trong giới trí thức, có một luồng không khí lạc quan tuy còn dè dặt đặt ở các nhân vật Nguyễn Văn Linh, Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt…Trong những năm 1987 và 1988, bên cạnh tự do kinh tế, một số tự do chính trị đã thành hiện thực, như bước đầu tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tranh luận và tự do sáng tác trong không khí khá là cởi mở, thoáng đãng và hứng thú.

Lẽ ra Đại hội VII được chuẩn bị từ đầu năm 1990, họp từ 24 đến 27 rháng 6 năm 1991 phải mang những nội dung tiến bộ hơn Đại hội VI như cả xã hội mong chờ, thì  ngược lại, nó lại là một bước lùi, và oái oăm hơn, còn là bước lùi ngoạn mục !

Trước những diễn biến thời cuộc ở Đông Âu năm 1990, thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết ở Balan, bước tiến của Hiến chương 77 ở Tiệp khắc, dân Hungari hàng vạn người di cư sang Áo, rồi bức tường Berlin bị thủng rồi vỡ tan trong niềm hân hoan phẩn khởi vô tận của quần chúng tại đó, bộ chính trị ở Hànội lại hoảng sợ đến kinh hoàng. Họ hoảng sợ bị mất quyền, quyền lợi cũng sẽ mất.

Nghị quyết Đại hội VII ghi rõ nguy cơ số một của đảng và đất nước là ” trệch hướng Xã hội chủ nghĩa”, nói rõ đây là CNXH mác-xít, với nền chuyên chính vô sản, độc quyền của đảng cộng sản, và nguy cơ đi cùng nguy cơ nói trên là nguy cơ ”diễn biến hòa bình” nghĩa là thay đổi chế độ từ độc đảng sang đa nguyên đa đảng bằng phương pháp không bạo lực. Hai nguy cơ khác nữa được Đại hội VII chỉ ra là nguy cơ tham nhũng tràn lan và nguy cơ tụt hậu, thua kém các nước láng giềng ngày càng xa.

 

      4- Từ phân tích nguyên nhân tan rã của phe XHCN .

Về nguyên nhân đột biến chính trị ở Đông Âu và nguy cơ tan rã của phe XHCN, có 2 cách phân tích trái ngược nhau.

                a)- một cách phân tích phổ biến rộng rãi trên thế giới cho rằng sự thất bại của mô hình XHCN mác-xít, sự tan rã của phe XHCN do Liên Xô cầm đầu là hợp quy luật phát triển xã hội, là nằm trong cái bản chất độc đoán phi dân chủ của cái mô hình và cái phe ấy, nằm trong bản chất hung bạo của nền chuyên chính vô sản và của học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác, ở tính chất tàn bạo phi nhân trong vận dụng lý luận Mác-xít vào thực tế bởi Lénin, Stalin, Mao và các đảng cộng sản khi nắm được chính quyền. ”Hồ sơ đen của chủ nghĩa cộng sản” (Le livre noir du communisme) là cuốn sách kinh điển do các nhà lý luận chính trị, triết học có uy tín nhất ở phương Tây chung sức tổng kết đã chứng minh chủ nghĩa xã hội thực tiễn đã tàn sát đến hơn 100 triệu nhân dân các nước nó thống trị trong ”hòa bình”, phần lớn là thuộc bộ phận tinh hoa của các dân tộc, vượt quá tội ác của bọn phát xít Hitler

Những người có tư duy khách quan khoa học trên đây coi sự xuất hiện của phe XHCN – mà Việt nam từng tự nhận là một tiền đồn – thật ra chỉ là một lầm lẫn của Lịch sử loài người, sự tiêu vong tất yếu của nó nằm ngay trong bản chất Trí tuệ, Thiện, Lành mạnh của con người có khả năng chiến thắng mặt Mù quáng, Ác, Bệnh hoạn cũng của con người trên thế gian này. Họ đánh giá những Walesa, Havel, Gorbachev, Yeltsin … là những nhân vật sáng suốt và dũng cảm, những nhân vật mang chất nhân bản và anh hùng, được cả quần thể loài người quý trọng bền lâu, chẳng cần đến tượng đồng hay bia đá, lăng tẩm đồ sộ nặng nề. Họ đã được các thế lực tiến bộ trên khắp thế giới khuyến khích, ủng hộ và tiếp sức trong sự nghiệp cứu nước của mình.

 

            b)- cách phân tích khác cho rằng các nước XHCN Đông Âu bị giải thể, từơng Berlin bị đổ sập, đảng CS Liên Xô tan vỡ, Liên bang Xô viết cáo chung, phe XHCN rã rời là một sự kiện đau xót cho phong trào cộng sản quốc tế và nhân loại tiến bộ (!), là tội ác phá hoại gây nên bởi bọn cơ hội hữu khuynh trong phong trào cộng sản đã phản bội phong trào, tự nguyện làm tay sai cho chủ nghĩa đế quốc thế giới. Với cách phân tích chủ quan, giáo điều, không dám nhìn thẳng vào sự thật, những người lãnh đạo cộng sản mù quáng, hoang tưởng giải thích rằng thất bại này chỉ là về chiến thuật, tạm thời (!), chỉ là một cơn bão có giới hạn trong không gian và thời gian, rồi sẽ trời quang mây tạnh, phong trào cộng sản và phe XHCN sẽ hồi phục và toàn thắng (!).

Cứu vớt CNXN đang lâm nguy, cứu vớt phe XHCN đang chìm xuồng là 2 lời kêu cứu và khẩu hiệu hành động khẩn cấp của Đại hội VII.

Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lénin – mà bức hình màu to lớn của 2 vị này  nổi bật trước hội trường của Đại hội, ngự trị ngay trên bức tượng Hồ Chí Minh, Đại hội VII chủ trương trụ vững chế độ XHCN mác-xít trước sóng to gió lớn, thắt chặt liên minh với các nước XHCN anh em còn lại bao gồm Trung quốc, Cuba, Lào và Bắc Hàn.

Chủ trương và đường lối này liên quan đến mối quan hệ giữa Việt nam và Trung quốc, giữa đảng CS Việt nam với đảng CS Trung quốc.

Mối quan hệ này đóng vai trò cực kỳ hệ trọng, có thể nói là quyết định trong việc hình thành thế ” Cung vua và Phủ chúa ”, chủ đề nghiên cứu của bài khảo luận này.

 

       5- Mối quan hệ giữa Việt nam và Trung quốc. Đây là mối quan hệ thay đổi, lên xuống, khi là bạn cực thân khi là thù không đội trời chung, khi là đồng chí khi là địch thủ, khi hòa bình khi chiến tranh, khi liên minh đoàn kết khi mâu thuẫn đối kháng  trong mấy chục năm qua.

Từ xa xưa, một nghìn năm Bắc thuộc, rồi các cuộc xâm lược thời Nguyên – Mông để lại những dấu ấn sâu đậm trong quan hệ 2 nước.

Bước vào Đại hội VII, giữa năm 1991, quan hệ Việt-Trung đang ở vào thời điểm tế nhị. Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung đầu năm 1979 vẫn hằn sâu trong trí nhớ của nhân dân 2 nước. Cuộc chiến tranh Việt nam – Khơme Đỏ cũng là một kiểu chiến tranh Việt – Trung, Bắc kinh dùng quân Khơme Đỏ do họ nuôi dưỡng, trang bị, huấn luyện và chỉ huy làm chảy máu Việt nam dòng dã hơn 10 năm (với hơn 50 ngàn sinh mạng thanh niên Việt và 30 vạn bị thương) chỉ mới chấm dứt được hơn 2 năm, khi quân Việt nam rút hết khỏi Cambốt.

Lê Duẩn, tổng bí thư đảng CS Việt nam từ Đại hội III (tháng 9- 1960) trong thời kỳ cuối đời mình đã chuyển sang lập trường chống bá quyền Trung quốc mạnh mẽ nhất, từng nói công khai rằng ” Việt nam còn phải kiên cường và cảnh giác chống bành trướng bá quyền Trung quốc hàng trăm năm nữa ”, đã qua đời vào tháng 7 năm 1987;  bên Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình tổng bí thư đảng CS Trung quốc, người từng chủ trương trừng phạt Việt nam bằng những đòn quân sự mạnh mẽ, vẫn còn ở cương vị đầy quyền uy: Chủ tịch ủy ban Quân sự trung ương đảng. Đặng Tiểu Bình cũng đã đặt vào vị trí tổng bí thư đảng CS Trung quốc nhân vật tin cẩn nhất của ông ta là Giang Trạch Dân từ tháng 6 năm 1989, cùng với Lý Bằng ở cương vị Thủ tướng. Hai nhân vật này theo gương Đặng Tiểu Bình luôn tỏ ra cao ngạo, trịch thượng với Việt nam.

Đặng cũng như Giang và Lý đều rất cay cú về việc tháng 12-1980, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt nam khóa VI, kỳ họp thứ 7, nhất trí thông qua bản Hiến pháp mới năm 1980, thay cho bản hiến pháp cũ năm 1960, trong đó ”Lời nói đầu” đã thêm hẳn một đoạn, toàn văn như sau :

    ” Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta tha    thiết mong muốn có hòa bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung quốc xâm lược, cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây-Nam và chống bọn bá quyền Trung quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình “.

 

       6- Cuộc gặp cấp cao Việt Trung ở Thành Đô (tháng 9-1990)

Từ đầu năm 1990, khi các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội VII đã được thông qua và đưa xuống cho cơ sở các địa phương thảo luận, Bắc kinh qua sứ quán Tàu ở Hànội nắm chắc mọi động tĩnh trong nội bộ đảng CS Việt nam, ngửi thấy xu thế mong muốn hòa giải và liên minh trở lại với Trung quốc, liền đi một nước cờ hiểm hóc.

Ngày 29-8-1990 đại sứ Trương Đức Duy xin gặp tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và thủ tướng Đỗ Mười để chuyển thông điệp của tổng bí thư Giang Trạch Dân và thủ tướng Lý Bằng mời 3 vị: tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, thủ tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên vào ngày 3-9-1990 để ”hội đàm bí mật về vấn đề Cambốt và vấn đề bình thường hóa giữa 2 nước”. Mới trước đây họ tỏ ra lạnh nhạt, chần chừ trong việc gặp cấp cao và bình thường hóa, bỗng tỏ ra thiện chí nhanh nhẩu đến mức khẩn cấp, cuộc gặp sẽ diễn ra chỉ sau lời mời có 5 ngày. Nhóm lãnh đạo Bắc kinh sớm nhận ra rằng trong cơ quan lãnh đạo Hà nội đang hình thành một nhóm nhân vật tỏ rõ nhu cầu sớm hòa giải và liên minh với Trung quốc, cần tranh thủ ngay để tác động đến Đại hội VII cả về đường lối và nhân sự.

Theo nhận xét của thứ trưởng Trần Quang Cơ lúc ấy nắm chắc mọi hồ sơ tuyệt mật, cuộc họp cấp cao Thành đô là một thất bại, phía Việt nam bị mắc bẫy, bị mắc lỡm, bị đánh lừa và chơi xấu bởi Đặng tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thiếu kinh nghiệm quốc tế, nhanh nhẩu ”vâng vâng dạ dạ” mọi ý kiến của phía Trung quốc, lại còn đi xa hơn họ, bảo hoàng hơn vua, đồng tình ngay với công thức 6+2+2+2+1 = 13 về thành viên của Hội đồng Quốc gia tối cao SNC (Suprême National Council) ở Cambốt: 6 người phía Hun Sen+2 Khơme đỏ, 2 của Son San , 2 của Sihanouk + bản thân Sihanouk. Dự kiến trước đó là SNC chỉ có 12 người, mỗi phía 6, không có riêng Sihanouk ở vị trí Chủ tọa như Bác kinh vừa thêm vào. Sự chấp nhận của Hànội ngay sau đó vấp phải sự phản đối của Hun Sen, Hun Sen cho rằng Việt nam đã thỏa hiệp vô nguyên tắc trên lưng chính quyền Pnom Penh.

Bẽ bàng hơn nữa cho phía Việt nam là ” giải pháp đỏ ” đưa ra với nội dung đoàn kết chặt chẽ tất cả các đảng cộng sản lại từ đảng CS Trung quốc, Việt nam, đảng của Hun Sen, CS Khơme đỏ…, cùng nhau trụ lại trước hiểm nguy, tưởng rằng sẽ được Bắc kinh vồ vập, liền bị phía Trung quốc lạnh nhạt bác bỏ. Lý Bằng giải thích rằng đảng của Hun Sen và đảng của Pol Pốt khó đoàn kết với nhau, 2 phái cộng sản này uy tín quốc tế  kém hơn uy tín quốc tế của phái Son San và phái Sihanouk, do đó nếu gắn bó với nhau chỉ cản trở thêm cho công việc của Hội đồng Dân tộc Tối cao trong thực hiện hòa giải ở Cambốt. Giang Trạch Dân còn nói rõ cho phía Việt nam rằng : ” Tình hình quốc tế hiện nay, nếu để 2 đảng CS (Trung quốc và Việt nam) bắt tay nhau là không có lợi; các nước phương Tây rất chú ý đến quan hệ giữa chúng ta ”. Ai cũng biết, từ lâu Đặng Tiểu Bình và nhóm lãnh đạo Bắc kinh không còn nói đến chủ nghĩa quốc tế vô sản, không nói gì đến phe XHCN, họ nhấn mạnh đến kiểu XHCN riêng biệt của Trung quốc, mang màu sắc riêng, đặc biệt của dân tộc Trung quốc, quay về chủ nghĩa dân tộc, trong khi nhóm lãnh đạo Việt nam vẫn cò mơ màng về tình nghĩa quốc tế.

Trước khi khai mạc Đại hội VII, cố vấn Phạm Văn Đồng lúc này đã 85 tuổi, mắt gần như mù, tai ngễnh ngãng, dự cuộc họp của bộ chính trị kiểm điểm về công tác đối ngoại, than thở rằng: ” ở Thành Đô chúng ta đã sai lầm, để lại hậu quả xấu; ta đã hớ, ta đã dại. Tôi rất ân hận; lẽ ra tôi không nên đi; tôi rất đau lòng ”.

Chỉ có thủ tướng Đỗ Mười là hài lòng, thậm chí vui sướng về chuyến đi Thành Đô. Từ giữa năm 1990, khi bàn đến nhân sự cho Đại hội VII, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã hơn 76 tuổi ngỏ ý xin nghỉ, sẽ lên ngôi cố vấn. Cuộc loại bỏ nhân vật cấp tiến Trần Xuân Bách năm 1989 như một vòi nước lạnh dội lên cuộc ”đổi mới” chỉ mới khởi động được hơn 2 năm. Một trào lưu bảo thủ giáo điều cơ hội trỗi dậy với những nhân vật dẫn đầu trong bộ chính trị khóa VI là: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Thế Duyệt, Đoàn khuê, Nông Đức Mạnh. Mọi người đều biết Tổng bí thư mới sẽ là ông Đỗ Mười, tuy đã 73 tuổi, và thủ tướng mới sẽ là ông Võ Văn Kiệt.

Ông Đỗ Mười liền chọn ngay ông Lê Đức Anh, uỷ viên bộ chính trị, đại tướng, bộ trưởng bộ Quốc phòng làm người thân tín nhất. Từ cuối năm 1990, ông Đỗ Mười giao hẳn cho tướng Anh, nguyên tư lệnh ” quân tình nguyện Việt nam ” ở Cambốt, phụ trách theo dõi việc giải quyết vấn đề Cambốt cùng với ban đối ngoại trung ương do Hồng Hà – một người tin cẩn của ông Mười, làm trưởng ban. Trên thực tế ông Mười đặt bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và bộ ngoại giao trong đó có Vụ Trung quốc trong tình trạng ”ngồi chơi xơi nước”. Ông Thạch không được Trung quốc mời sang Thành đô; đi theo 3 cụ lớn đến Thành đô chỉ có Chánh văn phòng trung ương Hồng Hà (lúc này Hồng Hà đã được Đỗ Mười hứa cho chức Trưởng ban đối ngoại trung ương thay Hoàng Bích Sơn sắp về nghỉ). Tướng Anh ngay từ cuối năm 1990 đã cùng Hồng Hà mời cơm riêng Đại sứ Tàu Trương Đức Duy cũng như tiếp trợ lý ngoại trưởng Từ Đôn Tín khi ông này ghé qua Hànội.     

         

       7- Chủ trương” liên minh với Bắc kinh” được thực hiện:    

Nét nổi bật ở Đại hội VII trong đường lối đối ngoại của đảng CS là xích gần lại với Bắc kinh, ngả theo Bắc kinh, sớm bình thường hóa với Bắc kinh, đi đến thắt chặt liên minh với Bắc kinh, trước nguy cơ CNXH bị thủ tiêu và phe XHCN bị tan vỡ.

Khác hẳn với Nghị quyết  của Đại hội VI (tháng 12-1986) chủ trương quan hệ đa phương, bình thừơng hóa với tất cả các nước, hợp tác trao đổi kinh tế, giao hảo với tất cả các nước gần xa trên cơ sở bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, Đại hội VII lái hẳn sang hướng ưu tiên hòa giải và kết liên minh trở lại với Trung quốc XHCN, bởi lẽ Trung quốc có chung một chế độ XHCN mác-xít, đều lãnh đạo bởi một đảng CS theo học thuyết Mác-Lénin, lại ở sát bên nhau, hiện cùng gặp những nguy cơ chung là mất CNXH, mất độc quyền chuyên chính của đảng CS. Chủ trương này được gọi gọn là ”giải pháp đỏ”.

Sau Đại hội VII (tháng 6-1991), nhất là sau khi Liên bang Xô việt tan rã và đảng CS Liên xô bị giải thể (tháng 8 – 1991), hơn 200 báo cáo viên của Ban tư tưởng và văn hóa trung ương được phái đi các địa phương, các ngành để phổ biến nội dung Nghị quyết của Đại hội, đặc biệt chú trọng lời căn dặn mỗi đảng viên phải ghi nhớ rằng trong quan hệ đối ngoại tuy đảng nói công khai là bình thường hóa, quan hệ hữu hảo, làm bạn với ”tất cả các nước”, những vẫn phải phân biệt 5 nấc bạn bè đậm nhạt khác nhau:

                   a)- trước hết là các nước XHCN, cùng chung chế độ chính trị, dù cho có lúc có xung đột tạm thời, nay phải cùng nhau trụ lại trên tinh thần quốc tế vô sản để vượt qua nguy cơ bị lật đổ, gốm có Việt nam, Cuba, Trung quốc, Bắc Hàn, Lào ;

                   b)- các nước độc lập dân tộc tiến bộ từng chung hàng ngũ chống đế quốc, như Ấn độ, Angiêri, Aicập, Vénézuéla…

                   c)- các nước độc lập dân tộc khác từng chống đối Việt nam, sẽ có quan hệ bình thường và hợp tác, như các nước trong tổ chức ASEAN : Thái lan, Philippin, Inđônêxia, Malaisia, Singapour và Nam Hàn, Đài loan…

                   d)- các nước tư bản nói chung: Pháp, Đức, Ý, Tâybannha… ở châu Âu,  Canada, Úc, Tân tây lan, Nhật bản…

                   đ)- cuối cùng là Hoa kỳ, kẻ thù cũ đang còn có âm mưu thực hiện ”diễn biến hòa bình”, cần thận trọng và cảnh giác với nước này còn vì trên đất Mỹ hiện có thế lực chống cộng ”nguy hiểm” nhất trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

 

Tại Đại hội VII họp từ 24 đến 27-6-1991, ông Nguyễn Văn Linh lên hàng cố vấn cùng với chủ tịch nước Võ Chí Công đã 78 tuổi, Đỗ Mười nhận chức tổng bí thư, tướng Lê Đức Anh được phân công chờ cuộc họp Quốc hội giữa năm 1992 để thay ông Công làm chủ tịch nước. Ngay sau Đại hội, Đỗ Mười xếp tướng Anh ở vị trí số 2 trong đảng, phụ trách cả 4 mảng: chính quyền, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhân vật số 3 trong đảng là Đào Duy Tùng, ủy viên thường trực Ban bí thư, một nhân vật rất giáo điều, bảo thủ, từng đòi ” đưa Trần Xuân Bách ra khỏi đảng CS ”. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, từng nhận ông Trần Xuân Bách về làm việc tại bộ ngoại giao ngay sau khi ông bị khai trừ khỏi bộ chính trị và ban chấp hành trung ương, từng cãi lại phái viên ngoại giao của Bắc kinh Từ Đôn Tín chiều 13-6-1990 rằng ” chúng tôi không nói dối, chính các vị đã xuyên tạc ” và 2 người đã từ biệt nhau bằng lời chào nhau chưa từng có ”chào ngài ”, đến Đại hội VII ông Thạch cũng bị đưa ra khỏi bộ chính trị, coi như  ”món quà tặng” cho Thiên triều.

     (*2)  xem tập Hồi ức và Suy nghĩ  của Trần Quang Cơ, công bố ngày 23-1-2001, hoàn chỉnh ngày 22-5-2003 , hơn 60 trang (Phụ lục).

    

        8- Từ đặc phái viên đến Đoàn đại biểu đặc biệt của Ban chấp hành trung ương: Ngay sau khi Đại hội VII kết thúc, Tổng bí thư mới Đỗ Mười gặp đại sứ tàu Trương Đức Duy ngỏ ý cử ngay một Phái viên đặc biệt của đảng CS Việt nam sang Bắc kinh thông báo về kết quả tốt đẹp của Đại hội. Bắc kinh tỏ ý hân hoan và nâng cấp lên thành ” Đoàn đại biểu đặc biệt của Ban chấp hành trung ương ” dù cho Đoàn chỉ gồm có 2 người : nhân vật số 2 Đức Anh, ủy viên thường trực bộ chính trị, phụ trách lãnh đạo cả 4 mảng: chính quyền, quốc phòng, an ninh và đối ngoại và ủy viên ban bí thư trung ương Hồng Hà, mới nhận chức Trưởng ban đối ngoại trung ương đảng, rất gần với ông Mười và ông Anh. Đoàn được cả Giang Trạch Dân, Lý Bằng niềm nở tiếp đón ngày 28-7-1991. Lê Đức Anh và Hồng Hà còn hạ mình xin gặp thứ trưởng ngoại giao Từ Đôn Tín, người từng cãi, to tiếng với ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch hơn một năm trước, để ” tạ lỗi ” (!) rằng: ” Năm ngoái khi đồng chí sang Việt nam đã có những trục trặc không vui, chúng tôi rất đau lòng ”(!)

Chỉ hơn 3 tháng sau, việc bình thường hóa giữa 2 nước được ký kết vào ngày 5-11-1991 tại Bắc kinh, với sự tham gia của tổng bí thư Đỗ Mười và thủ tướng Võ Văn Kiệt. Việc bình thường hóa diễn ra chỉ hơn 2 tháng sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể, Liên bang Xô viết tan rã, phe xã hội chủ nghĩa mất đầu, rã rời. Lãnh đạo Việt nam hý hửng nghĩ rằng may ra có thể trụ lại bằng ”giải pháp đỏ”, tất cả các lực lượng cộng sản còn lại, bất kể màu sắc ra sao, cùng nhau trụ lại quanh đảng CS Trung quốc to lớn, có 40 triệu đảng viên trên một nước rộng lớn có hơn 1 tỷ dân. Việt nam nhỏ bé mất chỗ dựa quý báu, toàn diện, vững chãi là Liên xô, nay tìm ngay ra một chỗ dựa mới khá là bề thế để có thể yên lòng. Họ vẫn còn mơ màng khôi phục lại phe XHCN và phong trào CS quốc tế vang bóng một thời, với người anh Cả mới là đảng CS Trung quốc.

Thế nhưng đảng CS Trung quốc không nghĩ vậy. Họ có cách nhìn tỉnh hơn, thực tế hơn. Sau khi bình thường hóa với Việt nam, hệ thống báo cáo viên của họ tỏa đi khắp nước và giải thích qua báo, phát thanh địa phương rằng Việt nam vẫn không đáng tin, vẫn ôm mộng bá chủ Đông dương, cho nên mối quan hệ Trung-Việt phải theo nội dung : ” thân mà không gần, nhạt mà không xa, chống mà không đánh nhau ” ( thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu ). Họ hiểu rõ tâm lý dân Việt, tinh thần chống bành trướng phương Bắc trong nhân dân, trong quân đội và trí thức, cũng như tinh thần giáo điều ỷ lại mong muốn liên minh với họ của một nhóm lãnh đạo đảng CS Việt nam giao động, nao núng trước thời cuộc. Họ rắp tâm lôi kéo, mua chuộc nhóm này  không phải để khôi phục phe XHCN và phong trào CS quốc tế mà chỉ nhằm phục vụ cho dã tâm bành trướng của họ.

Ông Nguyễn Cơ Thạch từng phân tích sâu sắc 2 mặt của nhóm lãnh đạo Trung quốc: mặt cách mạng, cộng sản, XHCN, tinh thần quốc tế… và mặt bá quyền, bành trướng, xâm lược, dân tộc nước lớn, và cho rằng đối với Việt nam, Đông dương và Đông Nam Á , Trung quốc đang ” biểu diễn mặt thứ hai là mặt chính, mặt thật ”. Trên tinh thần ấy, ông Thạch hạ một nhận định chua cay : ” việc bình thường hóa Việt – Trung tháng 11-1991 như đã diễn ra, sự thật là bắt đầu một thời kỳ phụ thuộc hóa !”. Chúng ta nghĩ đến thời kỳ Bắc thuộc nghìn năm thời xa xưa. Nay nó khởi đầu lại từ Đại hội VII (1991), qua 3 đại hội, đến sau Đại hội X (2006) rồi, gần 20 năm nay vẫn chưa chấm dứt.

 

        9- Cơn thèm bành trướng sau bình thường hóa tháng 11-1991: 

Sang năm 1992, Bắc kinh lại có thêm nhiều tin mừng. Sứ quán Trung quốc trên đường Hoàng Diệu (dinh Hoàng Cao Khải cũ, cực kỳ tráng lệ) đóng cửa từ năm 1978, hé mở từ năm 1990, sau khi bình thường hóa giữa 2 nước từ tháng 11-1991 đước mở rộng cửa, xe cộ ra vào tới tấp, cờ 5 sao lớn được dựng lên, các dãy nhà chính của Sứ quán và cơ quan lãnh sự đều sơn cửa, tường quét vôi mới.

Theo kể lại của nguyên Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ hồi ấy, trong phiên họp Hội đồng chính phủ đầu năm 1992, trưởng ban đối ngoại trung ương Hồng Hà (cũng là ủy viên Ban bí thư trung ương) phổ biến cho các bộ trưởng rằng theo phân công của đảng, từ nay ” 2 đồng chí Lê Đức Anh và Hồng Hà phụ trách việc thương lượng về giải pháp cho vấn đề Cambốt; trong quan hệ với Trung quốc, từ nay các đồng chí có thể quan hệ thẳng với anh Trương Đức Duy, không cần qua sứ quán ta ở Bắc kinh ”. Ý Hồng Hà muốn nói là đại sứ Trung quốc Trương Đức Duy đã trở nên thân thiết như ngưòi anh em của ta (gọi Trương Đức Duy bằng ”anh” lúc này còn thân hơn là ”đồng chi”). Hơn nữa, lúc này chưa có ai thay ông Nguyễn Cơ Thạch làm bộ trưởng ngoại giao; còn đại sứ Việt nam tại Bắc kinh Đặng Nghiêm Hoành đã bị gọi về sau khi thứ trửỏng Từ Đôn Tín mách với Lê Đức Anh hồi tháng 7-1991 rằng ” đại sứ Hoành luôn tránh mặt tỏ ra không muốn gặp chúng tôi ”.

Quốc hội khóa IX họp tháng 6-1992 cử tướng Lê Đức Anh vào chức Chủ tịch nước Cộng hòa XNCN thay ông Võ Chí Công lên hàng Cố vấn Ban chấp hành trung ương. Trên thực tế, chủ tịch Anh có thực quyền rộng lớn hơn cả tổng bí thư Đỗ Mười, vì ôm cả 4 mảng chính quyền, quân đội, an ninh và đối ngoại.

Cặp Mười + Anh gắn bó, ăn ý trong việc kết liên minh với Trung quốc nhằm trụ vững trước nguy cơ lớn ” trệch hướng XHCN” và ”diễn biến hòa bình”. Quanh 2 nhân vật Mười Anh dẫn đầu trong kết thân với Bắc kinh là các vị  sau đây trong bộ chính trị: Đào Duy Tùng, thường trực bộ chính trị; tướng Đoàn Khuê bộ trưởng Quốc phòng; Nguyễn Đức Bình, phụ trách mặt lý luận, tư tưởng ý thức hệ; Phạm Thế Duyệt bí thư thành ủy Hànội. Bộ trưởng ngoại giao mới được cử vào tháng 6-1992 Nguyễn Mạnh Cầm khi ấy mới là uỷ viên trung ương, thứ trưởng bộ ngoại thương, đến Hội nghị trung ương 6 khóa VII tháng 11-1993 được bổ sung vào bộ chính trị, cũng là một nhân vật được đào tạo từ Trung quốc.(ông Trần Quang Cơ nhận xét rằng Nguyễn Mạnh Cầm sở dĩ được tuyển lựa trong danh sách gồm: Vũ Oanh, Vũ Khoan, Hoàng Bích Sơn, Nguyễn Dy Niên, Nguyễn Mạnh Cầm chỉ vì ông Cầm không có một ” tiền sự ” nào làm phật ý Trung quốc.

Tình nghĩa Trung – Việt được khôi phục tuy không còn đậm đà như trước liền kích thích mạnh cơn thèm bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam của thiên triều Bắc kinh. Họ không bỏ qua thời cơ khi nhóm lãnh đạo chóp bu ở Hànội đã tình nguyện chọn họ làm chỗ dựa, làm anh Cả mới, làm ông thày mới. Bắc kinh bày ra ngay một trận ” lấn đất ” quy mô trên đất liền, trên lãnh hải, trên cả vùng quần đảo phương Nam thật nhanh, gọn, êm, bằng ngòi bút ngoại giao. Mao chẳng đã dạy bài học chiến lược: khi nào địch hay đối phương lùi là ta phải tiến ngay.

Lập tức cuộc đàm phán về biên giới, – bị bỏ dở từ những năm 1958, rồi 2 cuộc đàm phán  từ 15-8 đến 22-11-1974 và từ tháng 10-1977 đến tháng 6-1978 đều ở Bắc kinh không đi đến một thỏa thuận nào -, liền được nối lại ngay từ giữa năm 1992, để đi đến ngày 19-10-1993, 2 nước ký ”Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ 2 nước”.

Từ năm 1995, ba diễn đàn đàm phán Việt – Trung cấp chuyên gia và một diễn đàn đàm phán cấp Chính phủ được mở ra nhằm chuẩn bị cho các Hiệp định về biên giới trên bộ, trong Vịnh Bắc bộ và trên Biển Đông.

Hai trưởng ban biên giới cũ là ông Lưu Văn Lợi và ông Lê Minh Nghĩa nhận xét rằng suốt 20 năm trước các cuộc đàm phán về biên giới với Trung quốc gay go, khó khăn, dậm chân tại chỗ, đều bế tắc thì nay mọi sự trở nên trôi chảy, chóng vánh lạ thường!

Sau Đại hội VIII (từ 28-6 đến 1-7-1996), công việc của các đoàn đàm phán còn thuận lợi hơn nữa. Tại Đại hội, nhóm lãnh đạo mặn mà với Bắc kinh chiếm những vị trí quyết định. Chủ tịch Lê Đức Anh đọc diễn văn khai mạc Đại hội. Tổng bí thư Đỗ Mười đọc báo cáo chính trị. Các bộ trưởng then chốt Đoàn Khuê (quốc phòng), Nguyễn Mạnh Cầm (ngoại giao), Lê Minh Hương (an ninh), và các ủy viên bộ chính trị phụ trách tư tưởng Nguyễn Đức Bình…đều lần lượt sang Bắc kinh trình diện và hứa hẹn học kinh nghiệm đàn anh. Mối quan hệ 16 chữ vàng (!) được cam kết : ” Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai ”. Được biết 16 chữ vàng này nguyên thủy là do phía Trung quốc đưa ra, từ chữ Hán, đọc như sau : ” Mục Lân Hữu Hảo, Toàn Diện Hợp Tác, Trường Kỳ Ổn Định, Diện Hướng Vị Lai

Thế là Bản Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa XHCN Việt nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa được long trọng ký ở Hà nội ngày 30 tháng 12 năm 1999, chỉ 1 ngày trước khi kết thúc năm 1999..

Chỉ một năm sau, Bản Hiệp ước phân định trong Vịnh Bắc bộ giữa 2 nước được long trọng ký kết ở Bắc kinh ngày 26-12-2000, chỉ 5 ngày trước khi năm 2000 và thế kỷ 20 kết thúc.  

Về 2 bản Hiệp ước Việt-Trung nói trên, hơn 8 năm nay, đã có rất nhiều bàn tán, bình luận trong và ngoài nước, với những nhận định trái ngược nhau. Giới lãnh đạo ở Hànội, giới truyền thông trước hết là báo Nhân Dân, các ông Lê Công Phụng nguyên trưởng ban biên giới, thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng, người phát ngôn bộ ngoại giao Lê Dũng đều khẳng định rằng nội dung ký kết 2 bản Hiệp ước nói trên là hợp lý, thực tế, công bằng, rằng phía ta không bị lép vế, ăn hiếp, không bị mất đất, thiệt thòi gì cả, ngay ở các điểm Ải Nam quan (còn gọi là Hữu nghị quan), Bản Giốc (Cao Bằng) hay Lão Sơn (Hà Giang) ta cũng không bị lấn ép gì cả. Ngược lại, một số nhà nghiên cứu như ông Trương Nhân Tuấn, ông Trần Đại Sỹ ở Pháp, tiến sỹ ngành sử học Nguyễn Nhã ở trong nước, một số nhà báo, nhà đấu tranh cho dân chủ quan tâm đến thời cuộc và mối quan hệ Việt – Trung cho rằng ở các điểm trên đây phía ta đã bị lấn đất rõ rệt, rằng trên đất liền phía ta đã để Trung quốc xà xẻo tổng cộng từ 200, đến 600, thậm chí đến 850 km vuông, và có thể hơn nữa, từ Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng lên đến Lào Kay, Hà Giang và Hoàng Liên Sơn.

Ở trong Vịnh Bắc Bộ, so với Hiệp ước Pháp – Thanh năm 1887 (qui định ranh giới Việt – Trung theo đường thằng đứng kinh tuyến Bắc Nam đi qua điểm 105°43′ Đông),  bản Hiệp ước năm 2000 chia lại theo một đường cong tạo nên bởi 21 điểm nằm giữa đường cơ sở của 2 bên; theo kiểu chia mới này, phía Việt nam bị mất khoảng 11.930 km vuông vùng biển so với trước. Vậy mà Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên ký bản Hiệp ước này khoe rằng đây là ” thắng lợi lớn ” của ta. Nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn nghiên cứu từng điểm một của 21 điểm khẳng định rằng từ điểm 9 đến điểm 10 và các điểm từ 12 đến 19 thuộc vùng kinh tế độc quyền và thềm lục địa, đều chia không đều và đều thiệt cho phía Việt nam.

Có nhiều nghi ngờ về sự khuất tất, nhẹ dạ, thậm chí về sự nhân nhượng thỏa hiệp từ người lãnh đạo đến người đàm phán trong quá trình thương lượng Trung Việt, dựa vào một loạt câu hỏi như sau:

             a)- vì sao không có thông tin cho nhân dân, công luận, báo chí biết về quá trình thương lượng, để tạo nên sự ủng hộ đối với ta, sức ép với đối phương, như từng có trước kia, khi thương lượng với Pháp, với Mỹ?

             b)- vì sao từ năm 1994 đến năm 2000, qua 14 kỳ họp Quốc hội, chính phủ không hề thông báo cho các đại biểu của nhân dân biết gì về diễn tiến của đàm phán; những vấn đề gặp phải và hướng giải quyết?

             c)- vì sao việc Quốc hội thông qua 2 Hiệp định trên lại không bình thường, không có bản tường trình của Chính phủ, không có bản tường trình của Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, cũng không có một buổi chất vấn nào của Quốc hội và trả lời của Chính phủ về vấn đề rất hệ trọng này?

             d)- vì sao Hiệp ước về phân giới trong Vịnh Bắc bộ được ký từ ngày 26-12-2000 cùng với Nghị định thư về đánh cá chung trong Vịnh Bắc bộ, mà mãi đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XI ngày 15-6-2004, nghĩa là 4 năm rưỡi sau, mới được thông qua? sao lại có sự không bình thường như thế?

             đ)- vì sao nội dung bản Hiệp ước phân định biên giới trên bộ Việt-Trung đã được phổ biến dù rất chậm trên báo và trên báo điện tử Nhân Dân online, nhưng cho đến nay tập bản đồ chi tiết kèm theo, – được coi như bộ phận cấu thành chính thức của bản Hiệp ước – , vẫn còn được giữ kín như bưng ? báo giấy và báo điện tử đều im lặng ?

             e)- theo báo chí Việt nam và Trung quốc kể lại, trong năm 1998 và 1999, khi gặp tổng bí thư Lê Khả Phiêu ở Bắc kinh, tổng bí thư Giang Trạch Dân đều thúc dục rằng : việc đàm phán Việt – Trung không nên để kéo dài, nên sớm kết thúc, việc ký Hiệp ước trên bộ cần thực hiện trong năm 1999, và việc ký kết Hiệp định trong Vịnh Bắc bộ nên thực hiện trong năm 2000, nghĩa là giải quyết xong trong thế kỷ 20 này. Ông Phiêu đã nhanh nhẩu đồng ý, và phía Trung quốc ghi nhận điều ấy như một cam kết ép buộc các đoàn đàm phán phải thực hiện bằng được, trên thực tế là ép đoàn Việt nam phải nhượng bộ những đòi hỏi của Trung quốc. Quả nhiên việc ký 2 Hiệp ước đã diễn ra vào sát những ngày cuối năm 1999 và 2000, Hiệp ước về đất liền vào ngày 30-12 là 1 ngày trước cuối năm và Hiệp ước về Vịnh Bắc bộ được ký chỉ 5 ngày trước khi thế kỷ 20 kết thúc.

Có ai đi đàm phán lại bị đối phương ép về thời gian chặt chẽ và trắng trợn như thế, dù cho có thể còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Chính sự dễ dãi nhẹ dạ này của tổng bí thư Lê khả Phiêu đã bị Đỗ Mười và Lê Đức Anh viện ra để kết án Phiêu rất nặng là ”bán đất, bán biển cho Trung quốc”, ngay trước khi họp Đại hội IX (tháng 4-2001) và để đưa Nông Đức Mạnh lên thay Phiêu làm tổng bí thư trong Đại hội IX.

[ (* 3) đọc hồi ký của Nguyễn Chí Trung, thiếu tướng, thư ký riêng của Lê Khả Phiêu đề ngày 21-7-2002 ].

     

Hiện nay việc cắm mốc biên giới trên bộ đang được khẩn trương tiến hành, theo thỏa thuận của 2 bên, sẽ hoàn thành vào cuối năm 2008. Cùng với việc cắm mốc, tập bản đồ tỷ mỷ đang được vẽ theo đúng thực địa và kèm theo Nghị định thư cuối cùng và sẽ là bộ phận cấu thành của toàn bộ Hiệp ước. Lúc ấy 2 bên sẽ phải in rộng rãi hàng nghìn bản đồ ấy cho các thôn xã ở cơ sở và các ngành hành chính, quân sự, an ninh, hải quan, nông nghiệp, thương mại, giao thông, thuế quan, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch … Lúc ấy so sánh với bản đồ cũ thời thuộc Pháp còn lưu ở kho lưu trữ  Aix-en-Provence (Pháp), với bản đồ mới sẽ được mạng Google Earth vẽ ra với những phương pháp hiện đại chuẩn xác nhất, mọi người có thể so sánh và thấy rõ phía Việt nam có bị mất đất hay không, mất ở những chỗ nào, mất bao nhiêu, không ai có thể cãi liều, cãi xóa được.

 

III-/  Sự hình thành của Phủ Chúa bên cạnh Cung Vua.

 

Có người đặt vấn đề là từ Đại hội VII (năm 1991) đến nay, trong cơ quan lãnh đạo của đảng CS, trong bộ chính trị và trong ban chấp hành trung ương, phải chăng là có 2 phái, được gọi là phái bảo thủ giáo điềuphái đổi mới cấp tiến, còn gọi là phái thân Trung quốc và phái thân phương Tây, 2 phái đấu tranh với nhau khá là quyết liệt ?

Cách nhìn ấy bị ảnh hưởng bởi cách nhìn trong nền dân chủ đa nguyên ở phương Tây, hoàn toàn khác với nền chính trị độc đảng, chế độ độc quyền của đảng CS. Trong đảng CS chỉ cho phép tồn tại một đường lối đối nội gắn với một đường lối đối ngoại. Trong cơ quan lãnh đạo đòi hỏi ấy càng thêm chặt chẽ. Cho nên trong nội bộ đảng không được đặt ra để tranh luận việc giữ hay bỏ Chủ nghĩa Xã hội (mác-xít). Ai chủ trương xóa bỏ CNXH mác-xít như nó đã bị vứt bỏ triệt để ở Liên xô và các nước Đông Âu, thì người ấy khó, nếu không nói là không thể nào vào được cơ quan lãnh đạo, vào trung ương hay bộ chính trị.

Về đường lối đối ngoại cũng vậy, khi Đại hội VII đã xác định rõ trong nội bộ đảng là có 5 nấc thứ hạng ”bạn” khác nhau, khi Trung quốc được xếp ở  hạng nhất, các nước phương Tây và Hoa kỳ ở hạng 4 và hạng 5, thì ai không chấp nhận ngôi thứ ấy cũng khó có thể vào cơ quan lãnh đạo. Thực tế ông Trần Xuân Bách muốn đa nguyên đã bị loại ngay từ cuối năm 1990. Ông Nguyễn Cơ Thạch chỉ mới cãi lại phái viên của Bắc kinh Từ Đôn Tín đã bị mất ghế ủy viên bộ chính trị và ghế bộ trưởng ngoại giao. Cho đến uỷ viên trung ương Trần Quang Cơ muốn vạch rõ tâm địa bành trướng Đại Hán của nhóm lãnh đạo Trung quốc, cũng tự biết rằng cần phải sớm rút khỏi trung ương trước khi là quá muộn; ông đã từ chối ghế ngoại trưởng và rút ra khỏi trung ương.

Cho nên có thể khẳng định tất cả ủy viên bộ chính trị được cử ra sau Đại hội VII và Đại hội VIII đều là thân Trung quốc, đều là bảo thủ giáo điều, đều chủ trương giữ CNXH (mác-xít), chống nguy cơ ”chệch hướng XHCN”, chống  nguy cơ ”diễn biến hòa bình”.  Cái khác nhau có thể có là ở độ đậm nhạt khác nhau trong lập trường chính trị giáo điều bảo thủ, ở độ đậm nhạt khác nhau trong thái độ thân Trung quốc.

 

       1- Nhóm chí cốt với Bắc kinh, từ đỉnh cao đến đà tụt dốc:

từ sau Đại hội VIII (6-1996) nhóm chí cốt với Bắc kinh gồm tổng bí thư Đỗ Mười, chủ tịch nước Lê Đức Anh, bộ trưởng quốc phòng Đoàn Khuê, tổng tham mưu trưởng Phạm Văn Trà, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, bộ trưởng bộ công an Lê Minh Hương, bí thư thành ủy Hànội Phạm Thế Duyệt, phó thủ tướng Trần Đức Lương, ủy viên phụ trách tư tưởng-lý luận Nguyễn Đức Bình…cùng nhau tạo nên thanh thế quyền lực ngày càng cao.

Công cuộc đổi mới kinh tế thu được kết quả khả quan so với thời kỳ trì trệ nặng nề kéo dài trước đó. Nguồn đầu tư từ nước ngoài đưa vào ngày càng tăng, nhất là từ Singapour, Đại Hàn, Đài Loan, Nhật bản và khối EU (châu Âu). Sự trợ giúp của các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có hiệu quả. Sau khi Hoa kỳ bãi bỏ cuộc cấm vận Việt nam từ tháng 3-1994, quan hệ ngoại giao 2 nước được nối lại từ giữa năm 1995, buôn bán giữa 2 nước được mở rộng nhanh chóng đi đến ký Hiệp ước thương mại  giữa 2 nước tháng 7 năm 2000. Từ tháng 7-1995 Việt nam gia nhập Tổ chức các nước Đông Nam Á (ASEAN) cũng tạo nên một thế quốc tế và khu vực mới. Bước vào năm 1997 các nước Đông Nam Á vấp phải khủng hoảng tài chính nặng, lạm phát tăng, xuất khẩu giảm mạnh, riêng Việt nam không bị ảnh hưởng trực tiếp, vẫn giữ được tốc độ phát triển khá. Khối ngoại tệ từ cộng đồng người Việt gửi về tăng lên đến 3 hay 4 tỷ đôla, càng giúp cho cuộc sống trong nước khá lên.

Dựa vào 2 thành tích ”phát triển kinh tế” và ”xã hội ổn định”, mặc dầu tham nhũng trở thành quốc nạn bất trị và tệ nạn xã hội lan tràn, trong bộ chính trị phát sinh những tranh chấp nội bộ ngày càng gay gắt. Tổng bí thư Đỗ Mười vốn có đường quan lộ thuận lợi, – vào Ban chấp hành trung ương đảng từ năm 1960, khi 43 tuổi, nhận chức bộ trưởng nội thương cũng vào năm 1960, tháng 12-1969 lên chức phó thủ tướng, năm 1976 vào bộ chính trị, tháng 3-1988 nhận chức Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (thủ tướng), nay lên ngôi tổng bí thư, là nhân vật số 1 của chế độ, vẫn còn nuôi tham vọng lớn. Học vấn cấp sơ học, xuất thân công – nông do khi trẻ làm nghề thiến heo rồi chữa khóa rong, rồi thợ sơn,  như đã ghi trong lý lịch, thành tích nổi bật nhất của ông Mười là các cuộc cải tạo công thương nghiệp diệt trừ tận gốc giai cấp tư sản ở Hải phòng, Hà nội (1957-1960) rồi toàn miền Nam (1975-1977). Đến Đại hội VIII (tháng 6-1996) ông Mười (sinh ngày 2-2-1917) đã 79 tuổi, vậy mà ông vẫn nghĩ rằng do được Bắc kinh tín nhiệm mạnh mẽ, được nhóm lãnh đạo đảng chí cốt với Trung quốc tin cậy, ông có thể ngự trị ở vị trí số 1 của chế độ lâu thêm nữa, qua cả Đại hội IX vào năm 2001, sang đầu thế kỷ XXI, coi như một trường hợp hết sức đặc biệt trong lịch sử.

     (*4 ) Xem tập hồi ký ” Làm người đã khó, làm người XHCN càng khó hơn ” của ông Đoàn Duy Thành, cùng ở chức phó thủ tướng với ông Đỗ Mười hồi 1981-1987, nói về tham vọng chính trị không giới hạn, mức kém cỏi về tài đức của ông Mười đến mức ông Thành kết luận đó là ”một kẻ vô lại về chính trị”.

 

Nhân vật Lê Đức Anh, cặp bài trùng của Đỗ Mười từ Đại hội VII đến nay cũng có tham vọng không kém. Sinh ngày 1-12-1920 ở tỉnh Thừa thiên, kém ông Mười gần 4 tuổi, ông Lê Đức Anh là thượng tá cục phó cục tác chiến bộ tổng tham mưu Hànội, được phái vào chiến trường miền Nam cuối năm 1963, ở cơ quan tham mưu bộ tư lệnh Miền (Nam), cuối 1968 nhận chức tư lệnh quân khu IX (miền Tây Nam-bộ) với cấp đại tá, tháng 12-1974 được phong vượt cấp lên trung tướng do thành tích mở rộng vùng giải phóng đồng bằng sông Cửu long sau Hiệp định Paris (tháng 1-1973); tướng Anh được vào Ban chấp hành trung ương đảng tại Đại hội IV (năm 1976), là Tư lệnh bộ chỉ huy ”Quân tình nguyện Việt nam ở Cambốt” từ năm 1979, vào Bộ chính trị tại Đại hội V (năm 1982), Thượng tướng tổng tham mưu trưởng từ cuối năm 1986, Đại tướng Bộ trưởng quốc phòng từ tháng 2-1987, Chủ tịch nước từ tháng 6-1992.

      (*5 )  Xem Thư ngày 3-2-2005 của 3 vị lão thành Phạm Văn Xô, Đồng Văn Cống, Nguyễn Văn Thi gửi bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương và ban kiểm tra trung ương, xác định lý lịch của Lê Đức Anh (Phụ lục).

 

Có thể tóm tắt vài nét đặc biệt về nhân vật Lê Đức Anh như sau : lý lịch ông có những nghi vấn là ngày vào đảng Cộng sản không rõ ràng, khi ông khai là từ năm 1936, lúc 16 tuổi, khi khai là từ năm 1944, ở chi bộ cơ sở nào cũng không rõ ràng, lại không nói là do ai giới thiệu ông vào đảng như điều lệ đảng đòi hỏi; ông khai là thuộc thành phần công nhân (làm công nhân đồn điền cao su ) trong khi một số công nhân cao tuổi đồn điền Đất Đỏ biết ông chính là viên ”cai Anh”, còn được gọi là ”cai Huế” (vì nói tiếng Huế) từng có những hành động đàn áp phu đồn điền theo lệnh chủ Pháp; cũng có người tố cáo ông về tư cách đạo đức là sau khi tập kết ra Bắc sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, ông khai man là vợ ông trong Nam đã đi lấy chồng để ông lấy vợ khác ở Hà-nội vào năm 1959. Để hiểu rõ hơn nhân vật này, xin nhắc lại đôi chút về mối hiềm khích không thể che dấu giữa 2 đại tướng Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Anh.

           2-  Cuộc đọ kiếm giữa 2 đại tướng. Đã từ lâu 2 ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không ưa gì tướng Giáp. Sau khi phát hiện sai lầm Cải cách ruộng đất, tổng bí thư Trường Chinh bị kỷ luật, ông Hồ có ý chọn ông Giáp lên thay. Về sau ông Lê Duẩn được chọn do am hiểu miền Nam hơn, thuận lợi cho cuộc chiến tranh giải phóng. Nhưng ông Duẩn và ông Thọ vẫn e ngại uy tín của ông Giáp trong xã hội, thêm nữa ông Hồ có vẻ tin cậy ông Giáp hơn cả. Ông Thọ rắp tâm dựng lên vụ án ”Xét lại chống đảng, làm gián điệp cho Liên xô” do tướng Giáp chủ mưu nhưng không thành, nay ông Thọ lại dùng tướng Anh để hạ bệ tướng Giáp? Với vai trò Trưởng ban tổ chức trung ương, phân phát các chức vụ, tại Đại hội V (tháng 12-1982) ông Thọ đưa tướng Giáp ra khỏi bộ chính trị, đồng thời đưa ông Anh vào bộ chính trị, để rồi đến Đại hội VII (tháng 6-1991) ông Giáp bị đưa ra khỏi Trung ương đảng thì ông Anh được đưa lên Chủ tịch nước, chức vị cao hơn hẳn tướng Giáp trước đó. Ở Hà-nội, các sỹ quan ở Câu lạc bộ Quân nhân gọi đây là ”hành trình ngược chiều” của 2 ông đại tướng.

Trên cương vị Chủ tịch nước, cũng là nhân vật số 2 trong đảng, ông Anh liền ra sức bôi xấu, hạ nhục ông Giáp. Kẻ phục vụ đắc lực mưu đồ này là Đặng Đình Loan, cùng quê Thừa thiên với ông Anh, làm trong ngành thông tin, từng bị khai trừ khỏi đảng CS, tác giả 4 tập tiểu thuyết lịch sử ” Đường Thời Đại ” dày hai nghìn trang, ra mắt năm 1993 do nhà xuất bản Quân đội Nhân dân in và phát hành; nội dung sách đề cao ông Hồ cùng 3 ông họ Lê: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh, đồng thời hạ ông Giáp xuống hàng thứ yếu. Đặng Đình Loan vào năm 1996 được dùng xe ô tô của Bộ Quốc phòng đi từ Bắc vào Nam quảng cáo cho cuốn tiểu thuyết của mình là ngang tầm với tập ” Chiến tranh và Hoà bình ”  của đại văn hào Nga Léon Tolstoi (! ). Đi qua Huế (tháng 11-1996) Loan yêu cầu tỉnh ủy Thừa thiên-Huế triệu tập cán bộ cho y nói chuyện, với tư cách là chuyên viên cao cấp của Tổng cục Chính trị, về những điều cơ mật nhất, sau khi đưa những bức ảnh chụp riêng với tướng Anh. Loan kể lể 7 tội nặng của tướng Giáp theo kiểu bịa đặt, thêu dệt, thầm thì từ lâu, như : con nuôi chánh mật thám Pháp, xin học bổng thực dân, xu nịnh ông Hồ, thậm thụt với đại sứ Nga Serbakov, không chỉ huy ở Điện biên phủ, không vào chiến trường miền Nam, tằng tịu với bà giáo dương cầm…

       (*6)  Xem : Thư của đại tá Nguyễn Trần Thiết ngày 22 tháng 8 năm 1997 gửi thủ trưởng Tổng cục chính trị, có kèm theo Bản tường trình của một đảng viên cao cấp ở Huế (Phụ lục).

 

Con bài Đặng Đình Loan của tướng Anh không có hiệu quả; tập tiểu thuyết ”Đường Thời Đại” chết yểu trên thị trường và công luận, Loan không được kết nạp vào Hội nhà văn. Tướng Giáp và những người ủng hộ ông nghĩ đến thời cơ để phản kích, điều này sẽ nói đến ở phần sau.

          

           3- Tổng cục 2, công cụ lợi hại, phi pháp:

Sau khl nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng giữa năm 1987, tướng Lê Đức Anh bắt tay ngay vào việc tổ chức lại bộ máy quân báo của Quân đội nhân dân. Từ khi thành lập quân đội, trong bộ Tổng tham mưu có Cục 2 là Cục Quân báo (Cục 1 là Cục tác chiến; Cục 2 là Cục Quân báo; Cục 3 là Cục Quân huấn, Cục 4 là Cục Quân lực, Cục 5 là Cục Thông tin, cho đến Cục Động viên, Cục Dân quân…). Các Cục trên đều trực tiếp đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tổng tham mưu trưởng. Ngang hàng với bộ Tổng Tham mưu có Tổng cục Chính trị, Tổng Cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và Tổng cục Kinh tế. Bộ Tổng tham mưu và các Tổng cục đều đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ trưởng Quốc phòng.

Sự thay đổi lớn nhất là Cục Quân báo dưới quyền Bộ Tổng tham mưu được mở rộng, nâng cao lên ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu, đặt trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Bộ trưởng quốc phòng, mang tên mới là Tổng Cục 2, với trách nhiệm và quyền hạn mở ra rất rộng, bao gồm cả ngành tình báo, an ninh, bảo vệ đảng, bảo vệ chính quyền, phản gián.

Để thực hiện tham vọng cực kỳ ngông cuồng này, tướng Anh nhân danh chủ tịch nước, nhân vật số 2 của đảng, tranh thủ sự đồng tình sâu sắc của tổng bí thư Đỗ Mười để rồi cùng nhau ép buộc và thuyết phục Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh hạ bút ký vào Pháp lệnh của Chủ tịch Quốc hội về tổ chức ngành tình báo quốc gia ngày 14-12-1996, không qua thảo luận trong Ban thường vụ Quốc hội, cũng không có ý kiến, thảo luận gì trong Quốc hội.

Sau đó, hai nhân vật trên cũng ép buộc và thuyết phục Thủ tướng Võ  Văn Kiệt hạ bút ký vào Quyết định số 96/QĐ của Chính phủ ngày 19-11-1997 về nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục 2.

Tổng cục 2 nhanh chóng phình to gấp 8 lần Cục quân báo cũ, do tướng Anh trực tiếp điều động cán bộ, chiếm lĩnh các trụ sở, cơ quan, hội trường, nhà khách, cơ sở tuyệt mật, lớp học, công ty kinh doanh, nhà nghỉ, khách sạn ở Hànội, Sàigòn, Đànẵng, Hải phòng, Cần thơ, Đàlạt, Đồ Sơn … bao trùm cả nước, mua nhiều cơ sở mới ở nước ngoài.

         

          4-  Một vương triều Vũ Chính trong nền dân chủ mác-xít:               

Một số cán bộ ở Bộ tổng tham mưu, từ năm 1999 đã mô tả Tổng cục 2 như là một triều đình, có vua quan, có hoàng đế và hoàng hậu, có hoàng tử, công chúa và phò mã, có cung điện lộng lẫy và những yến tiệc sa hoa. Sự mô tả có phần phóng đại theo kiểu ngoa ngôn, nhưng không phải bịa đặt kiểu dựng đứng. Lê Đức Anh chọn thượng tá Đặng Vũ Chính, thân tín từ khi còn ở quân khu IX với ông để đưa về đứng đầu Tổng cục 2 với cấp đại tá từ cuối năm 1994, thay cho tướng Nguyễn Tư Văn nguyên cục trưởng Cục 2 về nghỉ hưu. Được trao quyền rất rộng, Vũ Chính xếp đặt rất nhanh bộ máy, dựa trước hết vào những người thân tin cẩn nhất trong gia đình. Bà Nguyễn Thị Nhẫn, vợ ông Chính, được phong cấp sỹ quan, làm việc tại văn phòng Tổng cục, tay hòm chìa khóa giữ những tài liệu và tài sản tuyệt mật, về sau được giao chỉ đạo các công ty VasucoToseco, hoạt động ngoại thương, kể cả buôn vũ khí, ngoại tệ…Con trai ông Chính là Đặng Vũ Dũng từ cấp thượng úy nhảy lên cấp trung tá trong một năm, làm cục trưởng cục 12; 2 cô con gái Đặng thị Tuyết và Đặng thị Mai đều mang quân hàm đại úy cũng làm việc ở khách sạn Hoàng Gia và công ty xây dựng Hồng Bàng đều thuộc Tổng cục. Đầu năm 2000 ông Đặng Vũ Chính chuẩn bị về hưu, người được chọn thay thế đã được chuẩn bị trước là Tổng cục phó Nguyễn Chí Vịnh, con rể ông Chính và bà Nhẫn; vợ Nguyễn Chí Vịnh là cô Đặng Thị Ngọc, con gái đầu của ông Chính, cũng là một sỹ quan trong Tổng cục.

Nguyễn Chí Vịnh là con trai đại tướng Nguyễn Chí Thanh, từng học trường đại học kỹ thuật quân sự ở Vĩnh yên, chưa tốt nghiệp, được tướng Lê Đức Anh nhận là con nuôi từ năm 1985 khi ông là Tổng tham mưu trưởng và bắt đầu có ý định xây dựng Tổng cục 2 thành một công cụ lợi hại lâu dài. Lúc này Vịnh mới là đại úy, rồi lên cấp trung tá, với chức Cục trưởng trong Tổng cục 2 từ năm 1986. Năm 2000 khi kế nghiệp bố vợ trong chức vụ Tổng cục trưởng, Nguyễn Chí Vịnh là đại tá, lên ngay thiếu tướng vào năm 2003, rồi lên trung tướng vào năm 2006. Chưa có một sỹ quan nào lên cấp nhanh như vậy, ngay cả trong thời chiến tranh.

       (*7 )  xem tài liệu ” Vương triều Vũ Chính – Tổng cục 2 – Bộ Quốc phòng ”, do chính sỹ quan TCII viết, có 5 phần, được đưa lên mạng từ đầu năm 1998. 

 

         5- Sự xuống dốc của cặp Đỗ Mười và Lê Đức Anh:

Trong cuộc đời, không thể cứ may mắn và đi lên mãi; lên cao quá rồi sẽ xuống, bất kể tham vọng ra sao. Sau Đại hội VIII, nạn tham nhũng nặng tràn lan thêm, tổng bí thư Đỗ Mười không hề tỏ ra có một tài năng dù nhỏ bé nào, vẫn tỏ ra là con người ”phá giỏi hơn xây” như chính ông Phạm Văn Đồng nhận xét; ông Lê Đức Anh không có một cuộc nói chuyện hay tiếp xúc với quần chúng nào để lại một ấn tượng dù nhỏ; thủ tướng Võ Văn Kiệt được trí thức và tuổi trẻ đặt ít nhiều hy vọng lúc đầu nhận chức, ông sớm gây thất vọng vì bà Cầm vợ ông được chính giới kinh doanh và đầu tư gọi là bà ” đitx puốc xăng ” (mười phần trăm) 10%. Sau vài năm kinh tế phát triển khá, một không khí trì trệ xuất hiện, bất công xã hội tăng nhanh. Tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 4 khóa VIII họp vào tháng 12 năm 1997, một số đại biểu nêu thành vấn đề thảo luận hạn tuổi khi ứng cử và đề cử vào các cấp ủy nhằm trẻ hóa bộ máy lãnh đạo. Hội nghị đề ra mức 55 tuổi là cao nhất để vào trung ương và 60 tuổi để vào bộ chính trị, không có ngoại lệ cho bất kể ai.

Trong Hội nghị, Lê Đức Anh cố sức vận động nhân khi Đỗ Mười tuổi quá cao phải rời vị trí lãnh đạo, viện cớ giữ cho lãnh đạo được liên tục ổn định, để được kiêm thêm chức tổng bí thư trong vài năm nữa, như ở Trung quốc Hồ Cẩm Đào kiêm luôn 2 chức Tổng bí thư đảng với Chủ tịch nước, nhưng tham vọng ấy không được ai nhắc lại. Lúc này ông Đỗ Mười đã 80, ông Lê Đức Anh cũng đã 76 tuổi, lại vừa bị một cơn nhồi máu cơ tim, thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng 75 tuổi. Thế là cả 3 vị đều bị ”mời” lên ngôi ”cố vấn ban chấp hành trung ương”, thay cho 3 ông cố vấn cũ là Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công về hưu.

Ba nhân vật mới lên thay là tổng bí thư Lê Khả Phiêu, chủ tịch nước Trần Đức Lương, thủ tướng Phan văn Khải.

Hai ông Mười và Anh cay cú gọi cuộc họp Trung ương 4 này là một cuộc ”đảo chính”, vì theo điều lệ đảng chỉ có Đại hội đảng mới có quyền bầu tổng bí thư mới. Tuy nhiên ông Anh cũng tỏ ra yên tâm vì tổng bí thư mới Lê Khả Phiêu  tuy yếu kém, mờ nhạt, từng là cán bộ tin cẩn trực tiếp dưới quyền ông hơn 12 năm ở Quân khu IX cũng như ở Bộ tư lệnh ”Quân tình nguyện” ở Cambốt.

Ông không ngờ rằng môt khi lên chức vị số 1 rồi, ông Phiêu trở nên tự phụ, kiêu ngạo, tự coi là ”Vua Lê mới”, tu bổ lăng Lê Lợi ở Lam sơn – Thanh hóa, đưa các quần thần họ Lê của mình ở Thanh hóa vào các chức vụ cao, bị tố cáo là ”Thanh hóa hóa” chính quyền, tiêu biểu là đưa ông Nguyễn Dy Niên lên thay ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm. Ông Phiêu còn tỏ ý định sẽ theo gót đảng Trung quốc xóa bỏ luôn cái chức ” cố vấn ban chấp hành trung ương”.

 

       6- Những đồng chí thù địch:

Khi thế kỷ XX kết thúc cũng là lúc tình hình Việt nam vừa có những bước phát triển mới, vừa gặp những thử thách lớn. Cuối năm 1999 và cuối năm 2000, hai Hiệp ước Việt-Trung được ký kết, mối quan hệ 2 đảng thắt chặt hơn, thêm vào 16 chữ vàng là mối quan hệ 4 tốt như những sợi dây thắt chặt hơn trước:

”Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt”, từ chữ Hán:” Hảo Lân Cư, Hảo Bằng Hữu, Hảo Đồng Chí, Hảo Đối Tác ”.

Lẽ ra 2 bên còn đàm phán về tranh chấp các hải đảo phía Nam Vịnh Bắc bộ là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như đã dự định từ năm 1993, nhưng phía Trung quốc trở mặt, phớt lờ, coi như mọi việc đã xong, khẳng định tất cả các quần đảo nói trên là thuộc chủ quyền của Trung quốc từ lâu rồi. Ôi thôi! Thế mới là đồng chí tốt!

Với Mỹ, sau Hiệp định thương mại Mỹ – Việt (tháng 6-2000), chuyến thăm chính thức của Tổng thống Bill Clinton  (tháng 11-2000) đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ 2 nước, ghi nhận bước hòa nhập với thế giới bên ngoài.

Đúng vào thời điểm này, quan hệ trong đảng sa sút tệ hại khi cơ quan lãnh đạo chuẩn bị nội dung và nhân sự cho Đại hội IX sẽ họp vào tháng 4-2001. Trong bộ chính trị 19 vị, ai đi ai ở ? ai ra ai vào ? chủ tịch nước sẽ vẫn là Trần Đức Lương, thủ tướng vẫn sẽ là Phan Văn Khải vừa nhận chức được 3 năm, còn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu sẽ còn tại vị không ? Dư luận thủ đô, cán bộ trí thức đều cho rằng ông Phiêu về tài năng lãnh đạo, kiến thức xã hội, về phong cách đức độ đều yếu kém, là một ”người lùn”  so với các tổng bí thư thời trước, càng ”lùn” thêm khi đứng cạnh các nhà lãnh đạo hiện tại của các nước Đông Nam Á. Từ tháng 11-2000, trưởng ban tư tưởng và văn hóa Hữu Thọ khi vào Sài gòn đã loan tin bán chính thức sẽ thay tổng bí thư. Hai nhân vật muốn hạ bệ ông Phiêu nhất lại chính là 2 ông cố vấn Mười và Anh. Ông Mười không dấu niềm hận thù khi nói với bạn thân là:”nó lật tôi, tôi lật nó ”.

Ngay giữa đại hội đảng bộ quân đội (tháng 1-2001) ông Anh kể ra đủ thứ tội của tổng bí thư đương nhiệm, nào là bán đất, bán biển cho Trung quốc, độc đoán, âm mưu lật đổ nội bộ, địa phương chủ nghĩa, đưa vụ Xiêm Riệp(Cambốt) ra công khai, làm cả đại hội sửng sốt vì rất nhiều người biết rõ ông Anh gắn bó với Bắc kinh còn hơn ông Phiêu nhiều.

Hội nghị trung ương lần thứ 11 khóa VIII được dự định là cuộc họp cuối cùng trù bị xong về nội dung và nhân sự cho Đại hội IX, nhưng phải kéo sang Hội nghị trung ương 11 b (1 ngày rưỡi), rồi thêm Hội nghị trung ương lần thứ 12 (2 ngày) mới xong. Cuối cùng mới tìm ra được tổng bí thư mới, như lời nhận xét của nhóm trí thức Đà lạt, theo kiểu ” vơ bèo vạt tép ”, ”thắp đuốc bắt ếch”, ếch tìm không ra, chỉ vớ được con nhái bén.

Giữa lúc hàng vạn ý kiến góp ý với đại hội IX yêu cầu một cuộc cách mạng trong tuyển lựa nhân tài, tuyển chọn trước hết những nhân vật lãnh đạo tiêu biểu cho tinh hoa dân tộc, am hiểu thời đại để đưa vào trung ương và bộ chính trị, trên cơ sở ấy cử ra một tổng bí thư ”xuất chúng”, thì kết quả chỉ là một bộ chính trị xoàng xoàng, và một tổng bí thư còn nhạt nhẽo và xoàng hơn trước. Ông Nông Đức Mạnh được chọn không phải vì tài đức, vì chất lượng nhân lực nào nổi bật, mà chỉ do được sự đồng thuận của những nhóm nhỏ trong bộ chính trị được gắn bó với nhau không phải trên cơ sở một đường lối chính trị nào, mà chỉ thân nhau do tình cảm và sự gắn bó cá nhân; thế là con người đơn độc, người dân tộc Tày, ít hiểu biết về chính trị nhất, không tham vọng vì tự hiểu bản thân mình, xuất thân từ ngành lâm nghiệp ở Thái nguyên, được phần lớn bộ chính trị ép nhận, sau khi chính lúc đầu ông ta cũng thật lòng từ chối.

Cặp bài trùng Mười + Anh tạm chọn Nông Đức Mạnh với chủ đích tận dụng những chỗ yếu kém của nhân vật này nhằm phục vụ cho tham vọng không hạn độ của mình. Hai vị biết rằng từ nay mình không còn một quyền thế nào, cho đến cái tư thế ”cố vấn của ban chấp hành trung ương” cũng chấm dứt, nên 2 vị đã cẩn thận cài vào bộ chính trị và trung ương khóa IX một loạt bộ hạ tin cẩn nhất. Trong bộ chính trị mới gồm 15 vị, bên cạnh tổng bí thư Nông Đức Mạnh là các ông: Trần Đức Lương (chủ tịch nước, nhân vật số 2), Lê Minh Hương (bộ trưởng công an, nhân vật số 6), Phạm văn Trà (bộ trưởng quốc phòng, nhân vật số 11), Trần Đình Hoan (trưởng ban tổ chức trung ương, số 14) và Nguyễn Khoa Điềm (trưởng ban tư tưởng-văn hóa, số 15).

 

Thế là dần dà hình thành một trung tâm quyền lực mới bên cạnh quyền lực hợp pháp, bên cạnh chính phủ và quốc hội của nước Cộng hòa XHCN Việt nam. Nói một cách có hình ảnh, theo mô hình đã từng xuất hiện ở thủ đô Thăng long trong thế kỷ thứ XVI, bên cạnh Cung Vua còn có Phủ Chúa, một kiểu 2 chính quyền song hành, vừa ganh đua, chèn ép nhau, vừa hợp tác với nhau trong những điều kiện nhất định để đi đến cuối cùng loại bỏ nhau.

 

IV-/  Những đặc điểm của Phủ Chúa thời hiện đại:

           1- Có mà không, không mà có.

Phủ  Chúa ở chỗ nào? hình thù ra sao? địa chỉ là gì ? Không ai biết, không thể biết. Thế nhưng nó có thật, nó có quyền uy, nó có phát huy tác dụng. Không ai có thể khẳng định là nó chỉ là chính quyền ảo, hoàn toàn bịa đặt, tưởng tượng, không có thật.

            2- Nó có thật ở chỗ nào.   

Nó  có thật trước hết ở 2 nhân vật đã mô tả ở các phần trên. Ở nguyên ủy viên trung ương đảng (từ năm 1960), nguyên bộ trưởng (từ năm 1961), nguyên thủ tướng, nguyên tổng bí thư, nguyên cố vấn ban chấp hành trung ương đảng Đỗ Mười, sinh năm 1917, năm nay (2008 ) 91 tuổi, về nghỉ hưu từ sau Đại hội IX (tháng 4-2001), nhưng vẫn còn tham chính theo cách riêng của mình.

Nó cũng có thật ở nguyên Tư lệnh Quân khu IX, nguyên Tư lệnh ”Quân tình nguyện Việt nam” ở Cambốt, nguyên Tổng tham mưu trưởng, nguyên Bộ trưởng quốc phòng, nguyên Chủ tịch nước Đại tướng Lê Đức Anh, sinh năm 1920, năm nay (2008 ) 88 tuổi, về nghỉ hưu từ sau Đại hội IX (tháng 4-2001), nhưng vẫn còn tham chính cùng ông Đỗ Mười theo cách riêng của 2 vị.

Nó có thật còn ở chỗ 2 vị tuy đã nghỉ hưu, vẫn còn có văn phòng riêng đặt tại tư dinh của mình (tư dinh ông Mười ở đường Phạm Đình Hổ quận Hai bà Trưng, tư dinh ông Anh ở trên đường Phan Đình Phùng, quận Ba Đình). Mỗi vị có một chánh văn phòng, 2 viên thư ký, 1 bác sỹ, 1 lái xe, 2 bảo vệ, 1 cần vụ, 1 nấu ăn với một số điện thoại theo 3 hệ thống, nội bộ trung ương đảng, trong nước và viễn liên.

            3-  một quan niệm từ xưa: ”tôi tác thành cho anh, anh là người của tôi”.

Theo cách hành xử từ thời phong kiến xa xưa, một viên chức gia nhập ngành hành chính, quan lại sẽ luôn ghi ơn suốt đời mình : ông bà, cha mẹ sinh ra mình, những thày giáo từng dạy mình khôn lớn và những nhân vật cấp trên đã chỉ bảo, nâng đỡ, dìu dắt và trọng dụng mình, chọn lựa và đặt mình vào các chức vụ hệ trọng nhất. Gói gọn trong một danh từ ghép, việc làm như thế gọi là ”tác thành”. Công ơn tác thành là điều mà các hiền sĩ, người quân tử luôn ghi nhớ để khi có dịp thì báo ân, trả ơn theo nếp sống đậm đà tình nghĩa.

Mặt khác, các quan chức cao cấp thường tận dụng nếp nghĩ có nghĩa tình như thế để coi những kẻ hậu sinh mà mình từng có dịp tác thành là những đồ đệ tin cậy của mình, với những niềm vui và hãnh diện đã biết phát hiện, chọn lựa hiền tài (!) cho đất nước. Cũng có người quen thói cá nhân vụ lợi tận dụng những mối quan hệ tình nghĩa ấy để kiếm lợi riêng cho tham vọng cá nhân cá nhân. Họ ép buộc những kẻ từng hàm ơn họ phải trung thành và phục vụ họ cả trong những mưu đồ riêng tư.

Điều này giải thích vì sao các ông Trần Đức Lương, Trần Đình Hoan, Phạm Văn Trà, Nguyễn Khoa Điềm … lại gắn bó với ông Mười đến thế, chỉ vì ông Mười khi là phó thủ tướng, là thủ tướng rồi tổng bí thư đã đưa ông Lương ở tổng cục địa chất, ông Hoan ở bộ lao động, ông Trà ở quân khu VII, ông Điềm ở sở thông tin văn hóa Thừa thiên vào các cương vị cao nhất là ủy viên bộ chính trị. Tại sao ông Anh lại được các ông tướng Lê văn Dũng, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Huy Hiệu… của Quân đội, rồi các ông tướng Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Hưởng, Lê Thế Tiệm… ở ngành công an biết ơn đến vậy? chỉ vì ông Anh đã ký lệnh thăng vượt cấp các vị nói trên cùng 178 viên tướng khác theo tiêu chuẩn trung thành với cá nhân mình, chỉ trong thời gian ông làm Chủ tịch nước từ tháng 6-1992 đến tháng 12-1997, nghĩa là trong 5 năm rưỡi, nhiều hơn cả ông Hồ Chí Minh trong 25 năm làm Chủ tịch nước.

Mối quan hệ cá nhân kiểu thày-trò như trên là hệ quá tai hại của nếp lựa chọn nhân tài không qua thi cử, không qua thăm dò dư luận, không mảy may công khai, minh bạch, không qua ý kiến tập thể cân nhắc cẩn thận, lại theo cách thức hết sức cá nhân, tùy tiện, ngẫu nhiên, vô nguyên tắc. Cho nên mới có người kém cỏi, tài ít, đức mỏng, tham tàn lại cố kết với nhau thành phe nhóm nắm quyền đè nén dân, tàn phá xã hội.

           4- Công cụ chính của Phủ Chúa: bộ máy tình báo và đàn áp:

Công cụ lợi hại nhất của cặp nhân vật ngự trị trong Phủ chúa là bộ máy tình báo Tổng cục 2 đã nói đến ở phần trên. Qua kế hoạch nâng cao Tổng cục 2 ngang với Bộ Tổng tham mưu, phình to để gồm có 12 Cục, với chức năng rộng lớn an ninh nội bộ đảng, nội bộ quân đội, nội bộ cộng đồng người Việt ở nuóc ngoài, an ninh quốc tế, do thám và phản gián, tham vọng của ông Lê Đức Anh là đặt nó ngang với CIA của Mỹ và Gestapo của Đức ngày trước; Tổng cục 2 cài sâu vào mọi tổ chức cảnh sát, an ninh, bảo vệ, còn cài sâu vào mọi tổ chức chính trị, tôn giáo, kinh tế, ngoại thương, văn hóa, du lịch, thể thao… Nó có vô vàn chân rết, tai mắt, nhân viên, cộng tác viên ở mọi cấp, trở thành ”quân đội trong quân đội”, ”nhà nước trong nhà nước”, ”đảng ở trong đảng”.

Ngân sách cho nó thì vô kể, không ai có thể biết cụ thể là bao nhiêu. Kinh doanh của nó cũng không hạn chế. Ngoại tệ mạnh của nó cũng dồi dào. Người tin cẩn về mặt này của ông Mười là ông Nguyễn Sinh Hùng, cùng ở xã Kim liên với ông Hồ Chí Minh, được ông Mười ”tác thành” cho, từ thứ trưởng tài chính sau Đại hội VII, lên bộ trưởng tài chính sau VIII, rồi lên phó thủ tướng sau Đại hội IX, nay là Phó thủ tướng thường trực sau Đại hội X, nghĩa là phó thủ tướng thứ nhất, đặc trách về tài chính tiền tệ. Cắt xén ngân sách quốc gia cho bộ máy cồng kềnh của đảng, cắt xén hậu hĩ tiền của nhà nước, tức là của dân, cho 2 cơ quan hệ trọng nhất của đảng là Ban tài chính quản trị trung ương đảngTổng cục 2  là ”nghĩa vụ” hàng đầu của ông Nguyễn Sinh Hùng.

             5-  Hai Bố già và công ty bảo kê quốc tế.

Phủ Chúa thời hiện đại hoạt động theo kiểu Mafia quốc tế. Nó đứng ngoài Luật pháp và Hiến pháp; nó dùng uy lực tinh thần và sức đe dọa trừng phạt kiểu Mafia, nghĩa là kiểu lưu manh hung bạo. Khi tổng bí thư Lê Khà Phiêu dẫn đầu đoàn cấp cao thăm Pháp cuối năm 2000, nhân viên Tổng cục 2 đi theo đã theo lệnh Anh chụp trộm một số ảnh Phiêu đang ăn nằm với Thị Hà và Thị Dung đi phục vụ trong đoàn, để sau đó chỉ 3 tháng Lê Đức Anh chìa ra cho đoàn chủ tịch Đại hội đảng toàn quân xem, tô đậm tội ” hủ hóa”, 1 trong 10 tội lớn của Phiêu, khi Phiêu dám đưa ra ý kiến phế bỏ chức ”cố vấn trung ương” của Mười, Anh và Kiệt. Mới đây, tháng 3-2008 một quan chức thuộc tổng cục 2 xuống tận Hải phòng đe dọa nhà văn đối kháng Nguyễn Xuân Nghĩa khi ông này định về Hànội dự lễ tang ông Hoàng Minh Chính là :” có còn nhớ cái chết của vợ chồng Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh trên đừơng số 5 hồi nào không? ”, gián tiếp thừa nhận bàn tay mafia chính trị trong vụ án tai nạn giao thông giết 2 vợ chồng nghệ sỹ cùng đứa con trai, chỉ vì Lưu Quang Vũ lên án quyết liệt những mặt trái của chế độ.

Bố Già trong các nhóm mafia Ý hoặc Nam Mỹ là những tay anh chị lão luyện trong nghề, từng vào tù ra tội, già dặn trong thử thách, tiếng tăm trong công luận. Ông Mười 91 tuổi và ông Anh 88 tuổi có thể coi là Bố Già của mafia chính trị hiện đại Việt nam.

Mỗi nhóm mafia thường được đỡ đầu, che chở kín đáo bởi một công ty, một nhóm cảnh sát, công an, quan chức có quyền lực, thần thế, theo kiểu có đi có lại, qua thương lượng, thông đồng, bằng tiền bạc, hiện vật quý hiếm. Nhóm mafia thượng thặng trong cung đình cộng sản Hànội được chính quyền cộng sản Bắc kinh đỡ đầu, bảo kê, nuôi dưỡng và chỉ đạo. Chỗ mạnh ghê gớm của nó nằm ở đó. Chỗ yếu chí mạng của nó cũng nằm ở đó.

Được Thiên triều bảo kê, Phủ Chúa Hànội có thế rất cao. Hệ thống điện thoại đặc biệt nối thẳng tới sứ quán Trung quốc đường Hoàng Diệu, đến phòng làm việc của đại sứ Hồ Càn Văn. Hồ Càn Văn là ai? Năm 1990 ông ta còn là bí thư thứ nhất của Sứ quán, trực tiếp thu xếp cuộc gặp riêng của đặc phái viên Bắc kinh là Từ Đôn Tín với bộ trưởng quốc phòng Lê Đức Anh. Các cuộc gặp không cần phiên dịch, vì cả đại sứ hồi ấy là Trương Đức Duy cũng như Từ Đôn Tín và Hồ Càn Văn đều nói tiếng Việt cực kỳ thông thạo như người Việt vậy.

Có những lương y giỏi nhất từ Bắc kinh thường xuống khám bệnh, bốc thuốc cho ông Mười và ông Anh. Nhờ đó ông Mười 91 tuổi vốn bị bệnh thần kinh mất ngủ đã khỏi bệnh, lưng còn thẳng; giới trí thức thủ đô kể rằng năm 1997, khi vào tuổi 80, ông có vẻ hồi xuân, tỏ tình, muốn cưới bà tiến sỹ toán H.X.S., đã đưa ”lễ chạm ngõ” nhưng không được đồng ý. Ông Anh yếu hơn vì cơn nhồi máu cơ tim năm 1989, nay nhờ các thày lang Tàu cũng hồi phục tuy nói còn khó khăn, mồm hơi méo.

Bảo kê của Bắc kinh còn được thực hiện qua cơ quan Tình báo Trung Quốc ở Hoa Nam, đóng tại thành phố Quảng Châu (tỉnh Quảng đông), có mối quan hệ cực kỳ chặt chẽ với Tổng cục 2. Các quan chức và cả gia đình của Tổng cục 2 thường được mời sang nghỉ tại những nhà nghỉ đặc biệt của Tình báo Hoa nam trên bờ biển đảo Hải nam.

 

V-/  Những mưu đồ chiến lược của Phủ Chúa:

       1- Kềm giữ Việt nam trong vòng tay của Trung quốc. Đây là mục tiêu chính trị hàng đầu của Bắc kinh. Làm sao Việt nam luôn và mãi mãi là ”bạn tốt”, nghĩa là chư hầu, ”phiên thuộc”, một vệ tinh, một thuộc địa kiểu mới của Bắc kinh. Ngăn ngừa xu thế đảng CS độc lâp tự chủ với đảng CS Trung quốc. Cảnh giác với khả năng Việt nam cân bằng quan hệ với Trung quốc và quan hệ với Hoa kỳ.

Đây là thái độ rất ích kỷ, vì chính Trung quốc tìm mọi cách để ưu tiên cải thiện quan hệ mọi mặt với Hoa kỳ và phương Tây nhằm ưu tiên hiện đại hóa kinh tế và quốc phòng với tốc độ cao, lại ngăn chặn Việt nam thực hiện chính điều ấy.

Chính họ đã dùng Phủ Chúa ở Hànội để thực hiện sự kìm hãm ích kỷ này.

         2- Kềm giữ Việt nam luôn theo gót Trung quốc, đi sau Trung quốc, lẽo đẽo theo sau với một khoảng cách nhất định, không cho phép bứt lên, ngang hoặc vượt lên trước, đặc biệt là trong quan hệ với các nước phương Tây và Hoa kỳ. Đổi mới ở Trung quốc khởi đầu từ năm 1978, ở Việt nam năm 1986, sau Trung quốc đến 8 năm. Bình thường hóa quan hệ với Mỹ, vào Liên Hợp Quốc, vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, Trung quốc luôn dùng Phủ Chúa để trì hoãn Việt nam, không cho qua mặt Trung quốc. Năm 1999, lẽ ra Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã được ký kết tại New Zealand (Tân Tây Lan) nhưng chủ tịch Lê Đức Anh đã lệnh cho thủ tướng Phan Văn Khải hoãn việc ký mà không giải thích lý do, để tháng 7-2000 mới ký được.

Riêng trong quan hệ với Hoa kỳ, Bắc kinh luôn giành thế thượng phong so với Việt nam. Tổng thống Nixon thăm Trung quốc ký Tuyên bố Thượng hải từ tháng 2 năm 1972. Tổng thống Clinton đi thăm chính thức Bắc kinh tháng 6-1998. Tổng thống Bush thăm tháng 2-2002. Trung quốc vào WTO từ tháng 12-2001, trước Việt nam đến 5 năm. Bắc kinh vào Liên Hợp Quốc thay Đài loan từ năm 1971. Việt nam vào lâu sau đó, tháng 9-1977.

Mọi người không thể quên câu nói của Đặng Tiểu Bình ngày 19-5-1978: ”Trung quốc là NATO phương Đông (ngụ ý để cùng NATO bao vây Liên xô), Việt nam là Cuba phương Đông (ngụ ý là chư hầu Liên xô) ”.

         3- Kềm giữ Việt nam trong chế độ XHCN mác-xít mao-ít, với đặc điểm là theo học thuyết đấu tranh giai cấp và thiết lập nên chuyên chính của một đảng duy nhất – đảng cộng sản. Từ Đại hội VII (năm 1991), đến Đai hội VIII (1996), rồi đến Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006), mặc cho có hàng vạn ý kiến của trí thức, tuổi trẻ, văn nghệ sỹ cùng một số nhà kinh doanh, cả nhà cách mạng lão thành bác bỏ nền ” dân chủ một đảng ” giả dối, thực hiện nền dân chủ đa nguyên đa đảng lành mạnh, tiến bộ, nhóm lãnh đạo vẫn một mực duy trì chế độ độc quyền đảng trị cổ lỗ lạc hậu. Từ sau Đại hội VI (1986) trong đảng CS có một số ý kiến đòi đổi tên đảng (trở lại tên đảng Lao động, hay đổi thành đảng Dân chủ xã hội, đảng dân chủ mới) và đòi đổi tên nước (trở lại tên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa), bỏ Điều 4 cuả Hiến pháp (từng bắt chước hiến pháp của đảng CS Liên xô), đến nay theo tác động của Phủ Chúa, những ý kiến theo hướng dân chủ như thế đều bị coi là đồ quốc cấm (tabou), không được đưa trên báo chí và mọi phương tiện truyền thông khác.

         4- Thực hiện đàn áp thẳng tay, tức thời mọi biểu hiện chống đối độc quyền đảng trị, đòi tự do dân chủ: đây là một hướng hành động rõ ràng, dứt khoát không được chập chờn nhân nhượng của chính quyền độc đảng, vì chính nó tự hiểu nó đã gây nên bao bất công, bao nhiêu đau khổ chết chóc, mất mát và tàn phá, và tích lũy biết bao uất hận trong lòng nhân dân qua nhiều thế hệ. Nó càng hiểu rằng nếu nó chịu nhượng bộ lẽ phải và chân lý, lùi một bước thì sẽ phải lùi thêm một bước, rồi một bước nữa, để rồi không tránh khỏi bị ngã ngựa, xuống đài và lăn kềnh.

Trước công luận, trước thế giới hiện đại, có khi nó phải dịu giọng, trưng ra bộ mặt thức thời, phải đạo, lên giọng hứa hẹn giả đạo đức, nhưng ngay trong lúc đó ở trong nước nó vẫn hành động ngang ngược theo bản chất hung hãn chà đạp nhân phẩm và nhân quyền cố hữu. Do đó những người cầm quyền cao nhất từ tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, người phát ngôn của họ vẫn cứ leo lẻo nói không chút ngượng ngịu rằng ở Việt nam không hề có tù nhân chính trị, trong khi có cả một quyết định và thông báo về ” tù chính trị ” của bộ chính trị được tiết lộ công khai. Giữa thời kỳ mà minh bạch công khai trở thành tiêu chuẩn của đổi mới và hội nhập, họ vẫn bám chặt lấy kiểu nói lấy được, nói theo kiểu lưỡi gỗ của thời cường hào cực thịnh xa xưa.

Bắc kinh kiểm soát chặt chẽ internet, thanh tra thường xuyên mọi quán càfê internet, Việt nam cũng làm theo đúng vậy. Bắc kinh cấm báo chí tư nhân, Việt nam làm theo đúng vậy. Bắc kinh lập tường lửa chặn các mạng internet đòi dân chủ, phá sóng Đài Á châu Tự do RFA, Việt nam cũng làm theo.  

        5- Làm tay trong để thỏa mãn tham vọng bành trướng xuống phương Nam của Trung quốc:

Đây là một mưu đồ hệ trọng bậc nhất. Như đã nói ở phần trên, việc đàm phán và ký kết 2 Hiệp ước Việt – Mỹ về phân định biên giới trên bộ và trên biển trong Vịnh Bắc bộ đã được thức hiện chóng vánh, trôi chảy ra sao; phía Việt nam đã nhượng bộ như thế nào qua hàng loạt câu hỏi chưa được giải đáp có sức thuyết phục. Việc ký Nghị định thư về đánh cá chung ký cùng ngày với Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ cũng gây thiệt hại vô hạn, vì rõ ràng Trung quốc có đội đánh cá ở vùng biển phía Nam mạnh gấp 20 lần của Việt nam trong Vịnh Bắc bộ. Giống như việc chia chiếc bánh ” bình đẳng ” giữa một lực sĩ tham ăn với một chú bé lên 10 ốm yếu vậy. Bao nhiêu tài nguyên hải sản trong Vịnh Bắc bộ đã và còn bị ông bạn khổng lồ phía Bắc vơ vét hết. Các nhân vật cao nhất tham dự vào các Hiệp ước và Nghị định thư tệ hại trên là các ông : Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên, Lê Công Phụng…

Cuối năm nay (2008), Nghị định thư ký sau khi hoàn thành việc cắm mốc dọc biên giới Việt – Trung sẽ được công bố công khai cùng toàn bộ bản đồ tỷ mỷ vẽ theo thực địa, lúc ấy mọi người có thể biết là phía Việt nam đã bị mất bao nhiêu đất. Cái tội ấy sẽ được toàn dân biết rõ và quy đúng trách nhiệm.  Vì lúc ấy phía Trung quốc thu lợi lớn sẽ không ngần ngại công bố công khai tập bản đồ có lợi cho họ trên báo chí và mạng thông tin điện tử.

         

V-/  Cuộc đấu tranh vạch mặt hoạt động tệ hại của Phủ Chúa.

Cần nói thật rằng cuộc đấu tranh vạch mặt phản dân hại nước của Phủ Chúa, tay sai bành trướng Bắc kinh chưa được mạnh. Cuộc đấu tranh ấy còn quá yếu.

Trước hết vì chúng hoạt động lén lút, không hợp pháp. Chúng có mà không, không mà có. Nên có khi chúng bị người dân gọi là MA, ghép 2 chữ M (Mười) và A (Anh). Nhân dân lại quen bị bưng bít lâu ngày; nỗi sợ cường quyền tuy có giảm vẫn còn dai dẳng. Thế nhưng sự chống đối vẫn tồn tại. Thà có còn hơn không có.

           1- Bức thư của ông đại tướng bị chơi xấu :

Bức thư dài 7 trang của tướng Võ Nguyên Giáp đầu năm 2004 đã được nhiều người biết. Đây là phản ứng có phần chậm với cú chơi xấu trước đó của tướng Lê Đức Anh. Từ hồi Đại hội VII (1991), tướng Anh đã dùng nhân vật Sáu Sứ cùng nhân vật Năm Châu từ trong Nam ra Hà-nội tiếp xúc với tướng Giáp và một số nhân vật thân cận, mật ghi trong 16 băng ghi âm nhằm kết tội tướng Giáp về hoạt động chia rẽ và lật đổ. Sau đó, như trên đã nói, tướng Anh dùng Đặng Đình Loan đi các địa phương kể lể về 7 tội của tướng Giáp. Tướng Giáp cố nén tức giận, chờ đến ngày 3-1-2004 mới lên tiếng qua bức thư gửi Bộ chính trị, công khai gửi rộng rãi cho báo chí trong nước. Mục đích chính của tướng Giáp chỉ là thanh minh cho cá nhân mình, nhằm bảo vệ danh dự và uy tín cá nhân, nhưng qua đó nhiều vấn đề cực kỳ nghiêm trọng được phơi bày, như việc thành lập sai nguyên tắc và sự lộng hành của Tổng cục 2, vụ án Sáu Sứ và Năm Châu. Tướng Giáp chọn thời điểm này vì hơn 100 ngày nữa sẽ kỷ niệm trọng thể 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 – 2004), tiếng tăm cá nhân tướng Giáp sẽ được đánh bóng và đề cao, trong khi tướng Anh đã mất chức ”cố vấn trung ương” từ tháng 12- 1998, không còn vai vế nào trong cơ chế.

Một loạt tướng tá lên tiếng ủng hộ tướng Giáp, lên án tướng Anh, trước hết là thượng tướng Nam Khánh, từng là phó chủ nhiệm tổng cục chính trị, phụ trách công tác giáo dục chính trị cho Quân đội. Rồi đại tướng Chu Huy Mân, đại tướng Nguyễn Quyết, các thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Lê Ngọc Hiền, Phùng Thế Tài, các trung tướng Lê Tự Đồng, Phạm Hồng Sơn, Đặng Vũ Hiệp, cho đến tướng anh hùng ngành công an Nguyễn Tài đều cất tiếng hòa theo đòi hỏi của tướng Giáp, vạch mặt sự lừa dối phạm pháp của Lê Đức Anh, còn yêu cầu đưa ra xét xử theo pháp luật. Sau Đại hội X, cuộc họp Trung ương ra quyết định lập một Ban kiểm tra liên ngành gồm có đại diện bộ chính trị, ban kiểm tra trung ương, ban bảo vệ đảng trung ương, bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao.

        (*8 )  Xem thư đề ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Ban chấp hành trung ương, Ban kiểm tra trung ương, góp ý kiến về xây dựng đảng. 

 

           2-  Ai cứu nguy cho Phủ Chúa ?

Ban kiểm tra liên ngành do bộ trưởng Công An Lê Hồng Anh cầm đầu trình ra bộ chính trị dự thảo báo cáo điều tra về những tố cáo của tướng Giáp và một số tướng trên đây. Bức thư của cụ Phạm Văn Xô gần trăm tuổi, – sáng lập viên đảng CS Đông dương duy nhất còn sống, am hiểu rõ về Lê Đức Anh, từ Sài gòn gửi ra là thêm một bằng chứng hiển nhiên về tội lỗi của Lê Đức Anh. Nếu bản báo cáo điều tra này được đưa ra trước ban chấp hành trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết thì sẽ cực kỳ tai hại cho đương sự, còn tai hại về nhiều mặt cho đảng. Theo tiết lộ từ Văn phòng trung ương đảng, chính tổng bí thư Nông Đức Mạnh là người đầu tiên có ý kiến đề xuất là ”khoanh vấn đề này trong phạm vi bộ chính trị”, ém nhẹm Bản báo cáo của Ban kiểm tra liên ngành, chỉ báo cáo tóm tắt cho các vị trung ương là :      

                   – đương sự, đồng chí Lê Đức Anh, quả là có một số khuyết điểm khi khai lý lịch của mình, nay đã bổ cứu cho chính xác;

                   – những vấn đề ấy thuộc về lịch sử, từ 1945 đến nay đồng chí Anh đã hoàn thành xuất sắc mọi chức vụ cao trong quân đội và nhà nước và nay đã về hưu;     

                   – việc chấn chỉnh Tổng cục 2 và cả bộ máy tình báo-an ninh-phản gián-bảo vệ nội bộ đang được thực hiện và sẽ báo cáo với trung ương.

Trong đảng CS, nhiều người biết rằng ông Mạnh trở thành nhân vật số 1 không phải do khả năng lãnh đạo, sự hiểu biết, tài nói viết và suy nghĩ. Ông lên cao hoàn toàn dựa vào cái may của hoàn cảnh. Chính ông Mười và ông Anh trong Đại hội IX (2001) đã đưa ông Mạnh lên tổng bí thư sau khi cân nhắc với các ông Trần Đức Lương, Nguyễn Phú Trọng, Phan Diễn, Nguyễn Mạnh Cầm. Lúc ấy nhiều người nghĩ rằng ông Mạnh chỉ là nhân vật đệm, một nửa nhiệm kỳ hay cùng lắm là một nhiệm kỳ. Đến Đại hội X (tháng 4-2006) ông Mạnh đã mê say cái ghế của mình, vừa lúc Phủ Chúa lâm nguy cần một người thân tín bên Cung Vua. Ông Mười và ông Anh qua các nhân vật thân tín trong bộ chính trị và trung ương liền vận động để giữ ông Mạnh thêm một thời gian, mặc dù lúc ấy ông Mạnh đã 64 tuổi, nghĩa là quá mức tuổi qui định là dưới 60 tuổi để vào bộ chính trị. Qua Đại hội X, ông Mạnh không thể quên cái ơn tác thành của Phủ Chúa đối với mình. Thế là ông Mười và ông Anh khỏi lo khi cả 4 nhân vật trong bộ chính trị gần gũi nhất với 2 ông là các ông Trần Đức Lương, Phạm Văn Trà, Trần Đình Lương và Nguyễn Khoa Điềm đều phải về hưu cùng một lúc. Việc tranh thủ được ông Mạnh đứng hẳn về phía mình là rất có lợi cho Phủ Chúa, vì có gì hơn là được nhân vật số 1 thông báo thường xuyên kịp thời mọi tình hình nội bộ cơ mật nhất.

       3- Bão nổi từ Hoàng Sa và Trường Sa :

Từ cuối năm 2007, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa trở thành đề tài nóng trong quan hệ Việt Trung, trong khu vực Đông Nam Á. Theo mưu đồ được chuẩn bị có bài bản, Bắc Kinh muốn khẳng định chủ quyền trên vùng biển và các quần đảo ở phía Nam, nơi có tiềm lực dầu mỏ và khí đốt ngày càng được xác định là dồi dào, nơi có hành lang vận chuyển trên biển nhộn nhịp vào loại nhất thế giới, nơi Trung quốc có thể bành trướng rộng xuống vùng xích đạo nhằm khống chế toàn vùng Đông Nam Á. Từ việc xây dựng sân bay, lô cốt, pháo đài, dàn khoan, doanh trại, trạm đo thời tiết trên các đảo họ cưỡng chiếm từ năm 1974 và 1988 trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tháng 11-2007 hải quân Trung quốc mở cuộc tâp trận khá lớn có bắn đạn thật. Tháng 1-2008, tỉnh Hải nam (Trung quốc) ra quyết định thành lập thị trấn Tam Sa để cai quản vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một kiểu khẳng định ngang ngược rằng toàn bộ vùng ”Nam Hải” là thuộc trọn chủ quyền của họ, mặc dầu Bắc Kinh hứa hẹn giữ nguyên trạng để các nước có tranh chấp sẽ cùng nhau giải quyết bằng con đường thương lượng. Tin rước đuốc 0lympic 2008 sẽ đi qua Trường Sa và Hoàng Sa là thêm một khiêu khích trắng trợn của thế lực bành trướng ngang ngược.

Nhóm lãnh đạo Việt nam chí cốt với Bắc kinh, nhất là 2 nhân vật trong Phủ Chúa và ông tổng bí thư giật mình. Họ hiểu rằng vấn đề chủ quyền quốc gia và danh dự dân tộc là những vấn đề cực kỳ nhậy cảm với nhân dân ta, nhất là quân đội, cựu chiến binh, tuổi trẻ, trí thức, văn nghệ sỹ. Trước đó, những cuộc đụng độ của tàu chiến, tàu đánh cá có vũ trang của Trung quốc bắn vào thuyền đánh cá Việt nam thuộc các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh… đã gây phẫn nộ trong nhân dân ta.

Từ nay, vấn đề chú quyền quốc gia trên lãnh thổ và vùng biển, hải đảo luôn là vấn đề mang tính bùng nổ giữa 2 nước vừa anh em, vừa thù địch trong quá khứ, cũng đồng thời mang tính chất căng thẳng và bùng nổ giữa nhân dân và lãnh đạo, trong khi thái độ kiêu ngạo nước lớn của Bắc Kinh sẽ có thể châm ngòi bất cứ lúc nào. Bắc Kinh luôn chủ quan vì đã tạo nên một nhóm tự nguyện phục vụ đắc lực bản chất bành trướng của chúng, Bắc kinh cũng chủ quan cho rằng chúng đã giúp cho chế độ độc đảng ở Hànội một bộ máy an ninh- gián điệp- cảnh sát – đàn áp rất hung hãn và thâm độc, chúng không tính đến tình trạng tức nước vỡ bờ khi quần chúng đói nghèo bị chà đạp nặng nề.

Bão táp phẫn nộ dân tộc về chủ quyền quốc gia đã có những tín hiệu báo động. Tháng 2 và tháng 3 – 2008 đã có những cuộc biểu tình tự phát của tuổi trẻ, nhà báo, cựu chiến binh, văn nghệ sỹ trước sứ quán và lãnh sự quán Trung quốc. Nhà báo lão thành Tương Lai viết bài trên báo Đại đoàn kết chất vấn nhà nước về hành động ngăn chặn biểu tình ôn hòa của công dân; lần đầu tiên, trong cuộc họp của trung ương Mặt trận Tổ quốc, nhiều tiếng nói cất lên chất vấn về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa một cách khá gay gắt dù cho vấn đề này không có trong chương trình. Rồi nhà báo điện tử Vietnam – NET Nguyễn Anh Tuấn bị mất chức Tổng biên tập chỉ vì dám đưa lên mạng một bài bình luận tâm huyết về chủ quyền quốc gia, có tít: ” Sức mạnh đồng thuận Việt nam, nhìn từ Hoàng Sa và Trường Sa ”.

Một chủ đề gai góc đang hình thành trong nhận thức của xã hội Việt nam trong thời kỳ mở cửa, đổi mới và hội nhập, đó là một chính quyền ngăn cấm việc tự do thông tin về vấn đề hệ trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, một chính quyền coi những hành động yêu nước là phạm pháp và đàn áp người yêu nước là chính quyền gì, thuộc loại gì?

         4- Những kiêu binh hiện đại:

Trong chế độ độc đảng phản dân chủ ngự trị bằng đe dọa và lừa dối, bộ máy cảnh sát là thế lực thống trị. Cảnh sát giao thông, công an phường, xã, công an hộ khẩu thời trước, công an văn hóa ngày nay, tha hồ vùng vẫy o ép, quấy rầy, úc hiếp người dân. Bộ máy đàn áp đặc biệt mẫn cán trong đàn áp các chiến sỹ dân chủ, dùng cả những thủ đoạn bẩn thỉu hèn hạ nhất như vu cáo, bỏ thuốc phiện, ma túy, lựu đạn, súng vào vườn, vào hành lý, còn bắt luật sư tỉnh táo vào bệnh viện tâm thần. Chính chúng chế diễu khẩu hiệu ”công an là bạn dân”, ”yêu dân”,”quý dân”, xử sự như bọn mafia hiện đại, như lũ kiêu binh thời trước, bất chấp luật pháp và đạo đức. Chúng coi dân như cỏ rác, có khi như chó mèo, để cho ăn được ăn, cho uống được uống, lôi quẳng lên xe rồi tống xuống nửa đêm giữa đường vắng.

– (*9) – Tài liệu Về Tổng Cục II , ” những tin tức đáng lưu ý về Tổng cục II- Bộ quố phòng ” (Phụ lục).

 

Bọn kiêu binh hiện đại dựa vào cái uy của Phủ Chúa để lộng hành đến mức họ dám vuốt râu cả những công thần cao nhất đuơng chức của chế độ. Có thể nói trên hành tinh này, không một ai to gan hơn họ. Cuối năm 1994 họ dám cả gan gửi một bản báo cáo tuyệt mật cho Bộ trưởng quốc phòng bịa đặt rằng Tổng cục 2 đã đặt được một ”đặc tình” – nhân viên tình báo đặc biệt – vào một bộ phận đầu não của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA ở Langley, gần thủ đô Washington DC, mang bí danh là ”T4”. T4 đã báo cáo về rằng ”CIA đã tranh thủ, lôi kéo, mua chuộc được các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, cho đến cả thủ tướng Võ văn Kiệt, chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An để lấy được nhiều thông tin quan trọng. Tướng Giáp còn lợi dụng khi gặp một số nhà báo và học giả Mỹ biết tiếng Pháp để thông tin trực tiếp, không qua người phiên dịch chỉ biết tiếng Anh”. Báo cáo còn nói rõ là các ủy viên bộ chính trị Phan Diễn, Trương Tấn Sang và phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm cũng đã có lần cộng tác với CIA (!). T4 báo cáo rằng 2 bộ trưởng nội vụ kế tiếp là Mai Chí Thọ và Bùi Thiện Ngộ cùng tướng Lê Văn Dũng (chủ nhiệm tổng cục chính trị) và bà Võ Thị Thắng (tổng cục trưởng du lịch) cũng đã từng làm việc cho CIA (!).

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh nhận xét rằng cái báo cáo táo tợn này được thảo ra khi 2 nhân vật M + A cảm thấy sắp bị về hưu hoàn toàn nên, – ngay trước thềm Đại hội IX, họ đã âm mưu dựa vào Tổng cục 2 và Quân đội làm một cuộc đảo chính quân sự, bắt giữ và kết tội tất cả các nhân vật trên đây, xây dựng một chính quyền mới được Bắc kinh công khai yểm trợ mạnh mẽ. Cuối cùng mưu đồ này bị từ bỏ vì không ăn chắc, do vấp phải sự lạnh nhạt của phần lớn tư lệnh quân đội đang tại chức.  Sau Đại hội IX, khi 2 ông Phan Diễn và Trần Đình Hoan đến gặp riêng 2 ông cựu cố vấn Mười và Anh thông báo tình hình và nói đến việc tướng Giáp và tướng Nam Khánh vẫn yêu cầu giải quyết công khai vụ Tổng cục 2, ông Anh liền nổi gần như một cơn điên để nói rằng: sao các đồng chí không ra quyết định khai trừ Giáp và Nam Khánh về tội phá hoại sự đoàn kết của đảng ? Phan Diễn lúc ấy là ủy viên thường trực bộ chính trị, đã rất e ngại, can ngăn rằng: khai trừ thì có khó khăn vì phải đưa ra bàn và lấy quyết định ở chi bộ cơ sở, mà chi bộ cơ sở lại ủng hộ họ. Sau đó để trả lời cho sự thách thức của Phủ Chúa, chi bộ đảng CS Cửa Nam đã họp và nhất trí bầu tướng Nam Khánh là ”đảng viên xuất sắc” của năm 2004.

          (*10) – Thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân (Phụ lục)

 

Sau thất bại này, Phủ Chúa không chịu nằm yên. Tổng cục 2 vẫn ngang nhiên mạnh tay đàn áp các chiến sỹ dân chủ, những nông dân oan ức mất đất mất nhà, kéo dài nhùng nhằng các vụ án tham nhũng lớn, đưa một trung tướng của họ vào chức Chánh án tòa án Nhân dân tối cao. Họ cũng vấp phải thất bại nặng; tuy được tổng bí thư Nông Đức Mạnh tiếp sức, cuộc họp trung ương trước Đại hội X đã từ chối không chấp nhận cho Nguyễn Chí Vịnh nhận chức Thứ trưởng quốc phòng, cũng đồng thời bác bỏ việc cho con trai Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn vào ban chấp hành trung ương. Họ không còn muốn gì được nấy.

Hơn một năm nay, để giữ uy thế, vớt vát thể diện, 2 cụ già trên dưới 90 vẫn cố sống dai và tìm cách xuất hiện trong các buổi lễ long trọng để ngồi ở hàng đầu trong hội trường, trong buổi khai mạc Đại hội X cũng như khai mạc Quốc hội khóa XII, kỷ niệm Quốc khánh 2 tháng 9, cũng như kỷ niệm 90 năm cách mạng tháng mười 1917. Xem ra sức sống dai dẳng của Phủ Chúa chỉ còn gửi gắm ở một tâm lý xã hội nước ta được cắm rễ khá sâu là tâm lý nhược tiểu, sùng bái và e sợ nước lớn, mặc dầu ông cha ta đã bao lần quật khởi đánh đuổi quân bành trướng phương Bắc, giữ vững nền độc lập.

 

VI-/ Cuộc đọ sức giữa dân chủ và 2 thế lực đặc quyền đảng trị: 

Trên đây đã trình bày hoàn cảnh lịch sử quốc tế và trong nước, sự hình thành của một thế lực ma quái được nước lớn phương Bắc nuôi dưỡng, công cụ và mưu đồ của thế lực ấy, cũng như những kết quả, trở ngại và thất bại của chúng trong gần 20 năm qua.

Vì cái thế lực ấy hoạt động lén lút, ẩn hiện, như có như không, nên không dễ gì nhận ra cho thật rõ ràng, do đó cần phơi bày nó ra ánh sáng để cả xã hội nhận diện nó cho thật minh bạch, hiểu rõ sự tệ hại nó gây ra cho đất nước để có thái độ cần thiết.

          1-: Phủ Chúa và Cung Vua không đối kháng nhau.

Có một ngộ nhận cần xóa bỏ, là coi Cung Vua đối lập với Phủ Chúa, cho rằng 2 thế lực này đối kháng nhau, loại bỏ nhau, sống mái quyết liệt với nhau.

Hai thế lực này cùng chung một đường lối, một bản chất, một chiến lược, một ý thức hệ. Đó là ý thức hệ mác xít với độc quyền đảng trị, thực hiện XHCN kiểu mác xít lấy chuyên chính chà đạp nhân quyền làm đường lối, đổi mới về kinh tế mà không đổi mới dứt khoát về chính trị và văn hóa, thực hiện chiến lược hòa nhập 2 mặt – vừa là bạn vưà là thù – trong đối ngoại, lấy sự sống sót của chế độ đặc quyền đặc lợi làm mục tiêu.

Cái khác nhau của 2 thế lực là sự khác nhau về chiến thuật, trong đậm nhạt về màu sắc trong thi hành chính sách, trong tốc độ nhanh chậm về tốc độ đổi mới, trong tính toán về bước đi trong cáỉ cách, chống tham nhũng cũng như trong hội nhập quốc tế.

Trong thái dộ gắn bó với bá quyền Bắc kinh, một bên là thái độ gắn bó thày trò, tin cậy, chí cốt, tự nguyện làm tay trong mẫn cán, một bên là ”láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Trong kinh tế, một bên là giữ vững các doanh nghiệp nhà nước, các cơ sở quốc doanh, coi là nòng cốt lâu dài, một bên là từ từ giải thể một bộ phận cơ sở quốc doanh đồng thời phát triển các cơ sở hợp tác xã (mới) và tư nhân. Trong đàn áp các chiến sỹ dân chủ, dân oan, người đòi tự do tôn giáo, một bên chủ trương dùng bạo lực chuyên chính mạnh bất chấp công luận, một bên chủ trương đàn áp mạnh nhưng phải tính đến công luận. Trong quan hệ quốc tế, một bên chủ trương gắn bó chặt chẽ chí cốt với Trung quốc, từ từ chậm chậm trong quan hệ với phương tây, một bên chủ trương mở rộng quan hệ toàn diện với phương Tây với nhịp độ cao hơn đôi chút.

Do cũng chung một bản chất, chỉ có đậm nhạt khác nhau, khó có một ranh giới thật rõ rệt, đồng thời có sự chuyển hóa giữa người của 2 thế lực ấy, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh, và có những người vừa làm việc cho bên này cũng đồng thời là người của phía bên kia, như ở phần trên đã thấy.

         2- Kẻ thù chung của cả Cung Vua và Phủ Chúa.

Kẻ thù chung của cả Cung Vua và Phủ Chúa là những ai chủ trương chuyển từ chế độ độc đoán độc đảng sang chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, sang chế độ mà công dân có những quyền tự do ghi trong hiến pháp, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do lập hội. Họ là những người mong muốn xây dựng một xã hội công dân, trên nền tảng luật pháp bình đằng cho mọi người, không ai có đặc quyền đặc lợi, hội nhập nhanh chóng với thế giới tiến bộ trên cơ sở bình đẳng tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau.

Lực lượng đấu tranh cho độc lập đầy đủ, dân chủ và tự do về mọi mặt cho dân tộc đang ngày càng phát triển từ khi có chính sách đổi mới và mở cửa (từ 1986) đến nay, bao gồm nhiều trí thức, văn nghệ sỹ, tuổi trẻ, giới kinh doanh, trong đó nổi lên nhiều chuyên gia các ngành am hiểu dân tộc và thế giới, các chuyên viên các ngành khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật, các luật gia luật sư am hiểu luật pháp, các nhà giáo dục, sử học, văn hóa tâm huyết với dân tộc.

Họ nằm rải rác ở khắp các địa phương, xuất hiện công khai dần từ các đô thị lớn, 15 năm trước nếu kể tên có thể có danh sách vài trăm, khi thế kỷ 20 kết thúc con số ấy đã lên vài ngàn, và đến nay đã là hàng vạn, hàng chục vạn tấm lòng dấn thân ở những mức độ khác nhau cho quyền sống tự do của nhân dân, cho sự phát triển hài hòa bền vững của đất nước. Rồi đến lúc thuận lợi, gần như toàn dân sẽ ủng hộ họ. Họ là tinh hoa dân tộc, họ chứng minh rằng Tổ quốc ta, hiền tài thuở nào cũng có, khi đất nước cần là luôn có lớp lớp kẻ sỹ vẫy gọi nhau dấn thân cho đất nước, không quản hiểm nguy, không ngại gian khổ khó khăn.

Một bộ phận tiên tiến của các chiến sỹ dân chủ bị truy tố, kết án bởi những phiên tòa ”bịt miệng” kiểu phát xít, đã và đang  nêu gương sáng đẹp cho toàn xã hội, tạo niềm tin ngày càng vững vào tương lai dân chủ tất yếu ở phía trước.

Chỉ hơn một năm sau khi nước ta gia nhập WTO – tổ chức thương mại thế giới, nhân dân ta hiểu ngày càng rõ giá trị của thông tin chuẩn xác, nhanh nhậy, trên tinh thần công khai minh bạch, giới học sinh sinh viên sớm nhận ra sự lợi hại vô cùng của ” thế giới phẳng”, với công cụ tuyệt diệu đến thần kỳ của mạng lưới internet toàn cầu, với vô vàn mạng báo – thông tin  điện tử , vô vàn bloggers đối thoại giao lưu trong không trung để cùng nhau tìm ra sự thật, lẽ sống và đường đi tối ưu cho mình và cho nước mình.

        3- Đối tượng trên thực tế của cả Cung Vua và Phủ Chúa: 

Nhóm lãnh đạo hiện nay không phải chỉ coi những chiến sỹ dân chủ, những người đòi tự do công giáo, đòi nhà nước trả lại các cơ sở tôn giáo bị trưng thu trưng dụng trong thời chiến, bị nhà nước tạm mượn rối ”quên trả”, những người mong muốn xây dựng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng … là những phần tử thù địch, chống đối chế độ nguy hiểm cần theo dõi, cô lập và nghiêm trị.

Tất nhiên cũng như trong mọi chế độ chính trị khác, đối tượng của mọi chế độ cần theo dõi, phát hiện và trừng phạt theo luật còn có những kẻ phạm pháp, vi phạm trật tự an ninh xã hội, những phần tử cướp của giết người, bọn tham nhũng, nhằm bảo vệ cuộc sống yên lành và quyền lợi hợp pháp của xã hội.

Trong một chế độ toàn trị của một đảng, khi nhân dân không được quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do bầu cử, những quyền tự do cơ bản tự nhiên của con người, thì trên thực tế bộ máy thống trị đã đặt toàn dân thành đối tượng kiểm soát, và coi bất kỳ một người dân bình thường nào cũng là một ”kẻ đối lập tiềm năng ”. Chỗ yếu cơ bản của nó là ở đó.

Do đó các chế độ độc đảng chỉ tạo nên tâm lý sợ hãi, chứ không tạo nên niềm tin cậy hay tin yêu, nếu có chăng chỉ là niềm tin hời hợt, cưỡng ép, giả tạo.

Trong thời điểm hiện nay, đang có chuyển biến 2 chiều trong tâm lý xã hội. Nhân dân trong thời đổi mới, trong lúc CNXH mác-xít không còn đất sống, phe XHCN tan vỡ, lý tưởng cộng sản mờ nhạt, đảng viên từng được dạy ”đi trước thiên hạ trong chiến đấu hy sinh, đi sau thiên hạ trong hưởng thụ” thì nay lại bỏ xa nhân dân trong nghèo khổ để lao tới hưởng thụ vật chất còn quá tư sản thời xưa; niềm khinh ghét cường quyền nảy nở, bọn kiêu binh lộng hành bất chấp đạo lý càng làm cho dân phẫn nộ. Một bộ phận tiên tiến trong trí thức và tuổi trẻ thức tỉnh rất nhanh cả về số lượng và chất lượng, họ dám công khai chất vấn nhà cầm quyền về những hiệp ước bất bình đẳng Việt- Trung, về sao lại cấm dân biểu lộ lòng yêu nước khi biểu tình trước các cơ quan của bọn bành trướng, sao lại đàn áp dân oan là những người lẽ ra chế độ phải bênh vực. Nhà cầm quyền không nhận ra sự thức tỉnh cao đẹp ấy của công dân, lại coi sự thức tỉnh ấy là nguy hiểm và đàn áp; chính họ đang đổ dầu vào ngọn lửa uất hận chính đáng của đông đảo quần chúng. Chính họ đang là nguyên nhân tạo nên sự chống đối chế độ toàn trị ngày càng tăng.

           4- Đối sách khác nhau đối với Cung Vua và Phủ Chúa.       

Các chiến sỹ dân chủ tự nguyện dấn thấn giành lại cuộc sống tự do cho nhân dân đã chọn con đường không bạo lực, cho nên vũ khí duy nhất của dân chủ là lý lẽ, là đối thoại, là những bài báo cuốn sách, buổi phát thanh, trang điện tử, là tranh luận làm rõ sự thật, phải trái, đúng sai để công luận xã hội xem xét, đánh giá, tiếp nhận có lựa chọn, làm trọng tài.

Trong khi nêu lên cái sai, sự tệ hại của chế độ độc đảng phản dân chủ, các chiến sỹ dân chủ chúng ta công nhận những điều tiến bộ, đúng đắn có kết quả của chính quyền hiện tại, đồng thời vạch rõ những hạn chế, bất cập, sự trì trệ lạc hâu của đường lối, chính sách đang được thi hành và chỉ ra con đường đúng đắn mà đất nước cần thực hiện để có phát triển bền vững và phồn vinh trong công bằng xã hội, trong hạnh phúc của toàn dân.

Tuy đảng CS vì nhận ra sự đuối lý của họ nên không dám chấp nhận đối thoại bình đẳng công khai với các tổ chức và cá nhân dân chủ, chỉ dùng vu cáo, xuyên tạc và đàn áp, nhưng dần dần những lý lẽ đúng đắn và thái độ vô tư vì nhân dân và đại nghĩa đang chinh phục xã hội, bắt đầu từ những trí thức có tâm và có thiện ý, có trí tuệ và lòng yêu nước thương dân. Xu thế tiến bộ trong tư duy của nhân loại thời đại mới cùng công nghiệp thông tin hiện đại đang đẩy nhanh sự thức tỉnh đẹp đẽ này.

Chúng ta đặc biệt vạch trần những hoạt động phá hoại, phạm pháp của Phủ Chúa, những tội ác chúng gây ra, những ngáng trở nguy hiểm làm chậm đà phát triển, làm chúng ta luôn chậm chân, lẹt đẹt lẽo đẽo phía xa sau lưng nước lớn, bỏ qua nhiều cơ hội quý hiếm, lại còn bị thiệt đơn thiệt kép, bị lấn đất lấn biển, mất đảo và vô vàn tài nguyên quý hiếm của quốc gia. 

Đồng thời, với nước láng giềng lớn, chúng ta chủ trương thực hiện một quan hệ bình đẳng, tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giữ quan hệ láng giềng tốt, được sự đồng thuận của các nước Đông Nam Á và Liên Hợp Quốc.

Chúng ta cần mạnh dạn và khôn khéo đòi hỏi tách dần mối quan hệ khuất tất không minh bạch giữa chính quyền đương nhiệm với Phủ Chúa, khi 2 kẻ cầm đầu M+A của Phủ Chúa không còn có cương vị và quyền hạn nào nữa trong đảng công sản cũng như trong bộ máy nhà nước.

Cần khắc phục một nhận thức không phù hợp với sự thật là 2 ” bố già ” cao tuổi hiện ốm đau sắp đến ngày ”ra đi ” rồi, không cần đếm xỉa đến làm gì, họ đã thuộc về quá khứ rồi, bận tâm làm gì cho phí sức. Thật ra họ vẫn sống, vẫn có mưu đồ cực thâm độc, vẫn có kẻ trong bộ chính trị đến báo cáo và xin chỉ thị, họ vẫn xử dụng công cụ – lại là loại công cụ nhọn sắc kiểu mafia, không thể coi thường. Thông qua họ, nước lớn mới thực hiện được những mưu ma chước quỷ, gây vô vàn mất mát, lại kìm hãm tốc độ phát triển của ta để mãi mãi buộc ta phải phụ thuộc.

Chính vì cái Phủ Chúa tệ hại đang tự phơi bày những tội lỗi cực kỳ nham hiểm  cùng với thế cô đơn, cô lập trước công luận của nó mà tất cả sức đấu tranh lành mạnh của xã hội cần giáng một đòn quyết định để kết thúc nó. Các thế lực lương thiện trong xã hội hãy đòi công khai hóa bản kết luận của Ban kiểm tra liên ngành về Tổng cục 2 và nhân vật Lê Đức Anh (đã bị khoanh lại và ỉm đi), đòi chính quyền cao nhất là chính phủ và quốc hội công khai hủy bỏ các Quyết định về chức năng và quyền hạn của Tổng cục 2, đưa Tổng cục 2 trở về vị trí Cục 2 thuộc bộ Tổng tham mưu như đã được quyết định.

            5-  Phủ Chúa đổ sập thì Cung Vua cũng rung rinh theo:

Cái sai, cái dại dột chết người của chính quyền hiện tại là không tách khỏi nhóm nhân vật tận tụy gắn mình với bành trướng Bắc kinh. Họ nghĩ rằng liên minh với thế lực M+A  là khôn ngoan, là tăng thêm chỗ dựa, nhưng rõ ràng đó là con đường xa rời nhân dân, con đường đi ngược với quyền lợi dân tộc. Đó là điểm yếu, là huyệt yếu – ”tử huyệt”, là ” gót chân Achille ” của chính quyền hiện tại. Nhân dân ta, xã hội ta, một bộ phận trong đảng cộng sản đã nhận ra điều ấy. Tiến công vào thế lực nguy hiểm nhất cho dân tộc, cũng là tiến công vào chỗ sơ hở yếu kém nhất của chính quyền độc đảng, đang là một mục tiêu trước mắt của tất cả các lực lượng dân chủ và tiến bộ của xã hội ta.

          (*11) – Thư lên án việc xuât bản Sách ” Đại tướng Lê Đức Anh ” do Đỗ Mười viết bài giới thiệu (Phụ lục).

    

            6- Những đồng minh tạm thời và những đồng minh lâu bền:

Những bức thư của tướng Giáp, tướng Nam Khánh, tướng Nguyễn Hòa hay thư của cụ Phạm Văn Xô tố cáo sự dối trá của Lê Đức Anh hay thư của nguyên phó thủ tướng Đoàn Duy Thành vạch mặt thâm hiểm của Đỗ Mười, các chiến sỹ dân chủ đưa ra công khai và phổ biến rộng rãi không phải vì các nhân vật ấy là thân thiết chí cốt với chúng ta, là thuộc cùng chung đội ngũ đấu tranh với chúng ta, mà chỉ vì những chính kiến, đòi hỏi hay tố cáo của họ chĩa đúng vào những đối tượng có hại cho nhân dân nhất mà chúng ta cần vạch mặt và loại bỏ. Những nhân vật trên đây chỉ là những đồng minh tạm thời thôi, vì họ vẫn trung thành với nền chuyên chính độc đảng, những điều họ tố cáo cường quyền còn mang nặng động cơ cá nhân, họ còn đối lập với xu thế dân chủ hóa. Không tận dụng thái độ cụ thể ”thức thời ” nào đó của họ là dại, là sai nhưng không thể lầm lẫn. Chúng ta chỉ coi là bạn thân, là ”đồng chí ” chí cốt của các chiến sỹ dân chủ chúng ta những ai chủ trương thay thế chế độ độc quyền đảng trị bằng chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng, với nền luật pháp bình đẳng công bằng cho mọi công dân.

Do đó, cần làm rõ vị trí của ông Võ Nguyên Giáp và ông Võ văn Kiệt trong thời cuộc hiện nay. Theo ý kiến chung của anh chị em dân chủ trong nước, tướng Giáp hiện 97 tuổi qua 3 bức thư năm 2004, 2006 và 2008 vẫn chỉ lo thanh minh cho uy tín cá nhân riêng (rất hão huyền) của mình; chúng tôi nhiều lần kêu gọi ông cuối đời hãy nghĩ kỹ câu ” nhất tướng công thành vạn cốt khô ” để lên tiếng trả lại tự do thật sự cho xã hội mà vì nó hàng triệu chiến sỹ đã bỏ mình, mà đảng của ông và chính ông đã ” qụit” họ. Ông rất đáng trách khi gần đây không gửi một vòng hoa hay một lời viếng đến gia đình ông Hoàng Minh Chính, một người từng có chiến công lớn chống thực dân Pháp và dấn thân cho dân chủ. Nhiều tướng lĩnh và cựu chiến binh chỉ mong, trước khi từ biệt cõi trần, ông có một lời công bằng giải oan cho thượng tướng Chu Văn Tấn, trung tướng Đặng Kim Giang, Lê Liêm, các đại tá Đỗ Đức Kiên, Lê Minh Nghĩa, Phạm Quế Dương.. và ngỏ một lời hối hận chân thành vì đã tham gia chủ trương đày đọa hàng chục vạn sỹ quan và viên chức, nhân sỹ miền Nam, tạo nên bi kịch thuyền nhân…Ông còn chút thời gian để nghĩ lại và hãy tỏ ra là một vị tướng có học thức, có chất nhân dân, có lòng Nhân.

Ông Võ Văn Kiệt vừa có bài đòi quan tâm đến người nghèo, nhưng ai đã nhân danh thủ tướng để ký Nghị định dựng lên cái Tổng cục 2, để cho nó lộng hành, đánh đập dân oan, tra tấn các chiến sỹ dân chủ, còn viện an ninh Trung quốc ra dọa dân Việt nam, và nay ông thản nhiên để nó mặc sức gây tội ác? Lời kêu gọi hòa hợp dân tộc của ông vẫn gượng gạo, trịch thượng khi ông không hề tỏ ra hối hận về chủ trương”trả thù, chiếm đóng và tự thực dân hóa miền Nam” hồi 1975 như nhà báo Pháp Jean Lacouture nhận định rất sâu sắc ( politique de revanche, d ‘occupation et d ‘ auto-colonisation).

 

Có một lực lượng xã hội tuy có vẻ rời rạc, thiếu tổ chức nhưng lại là lực lượng đấu tranh cho dân chủ có tiềm năng cực lớn, đó là lực lượng nông dân bị tước quyền tư hữu ruộng đất đang có ý thức giành lại quyền sở hữu chính đáng ấy. Họ là bạn đồng minh lâu bền của chúng ta. Các Luật đất đai 1987, 1993, 2003 đều quy định ” đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ đều thuộc quyền sở hũu toàn dân ”, một hình thức sở hũu kỳ quặc, không hề có trong pháp luật quốc tế. Cả hơn 80 triệu dân đều sở hưũ chung mỗi một tấc đất của đất nước, do đó trên thực tế không có ai có một tấc đất nào cả. Vì đảng cộng sản ngang nhiên tịch thu quyền sở hũu ruộng đất của nông dân, chỉ cho họ ”quyền xử dụng”, từ đó đẻ ra chuyện ” thu hồi ” tùy tiện, rồi chuyện ” đền bù ” và ”cưỡng chế ”, rồi ” giải toả ” vô cùng phức tạp và rối loạn mà không nước nào có cả.

Nhiều luật gia trẻ và sinh viên ngành luật nghiên cứu những luật đất đai thời phong kiến và thời Pháp thuộc cho rằng nếu so sánh thì luật đất đai thời XHCN là phi lý, không thực tế và không tưởng, đã đến lúc cần có dũng cảm để sửa chữa sai lầm khổng lồ này và trả lại cho nông dân quyền tư hữu ruộng đất, sau khi đã trả lại quyền tư hữu cho giới buôn bán, kinh doanh, thủ công, công nghiệp và dịch vụ.

Những người làm luật cổ Hy lạp đã tả rất đúng rằng thiên nhiên xa xưa chỉ có núi rừng rậm rịt đầy thuồng luồng rắn rết, người nông dân cổ đại dũng cảm bền bỉ khai phá từng tấc đất, tạo nền đồng ruộng phì nhiêu và mùa màng phong phú, xứng đáng là người chủ chân chính của mỗi thửa đất được khai phá, mang biết bao mồ hôi xương máu của họ, của lớp lớp con cháu họ sau này.

Vấn đề nông dân, nông thôn, nông nghiệp đang là vấn đề chiến lược nóng bỏng; tình hình cần đến những trí thức nông dân mới, những luật gia có lòng với nông thôn lâp gấp những tổ chức, những tờ báo, mạng điện tử như ” tiếng nói nông dân ”, ”nông dân đòi lại quyền tư hữu ”, nêu lên cho toàn xã hội  về các vấn đề : ”luật đất đai đúng, sai ở chỗ nào? ”, ” sao nhà buôn, nhà kinh doanh, người làm dịch vụ có quyền sở hữu tư nhân mà người nông dân lại không? ”, và chứng minh rằng từ bỏ khái niệm ” sở hữu toàn dân” kỳ dị quái đản sẽ giải quyết xong xuôi các sự kiện ”thu hồi đất”, sinh ra việc ” cưỡng chế ” và ” đền bù ”, dẫn đến hiện tượng ” dân oan ” đông đảo, phức tạp, nan giải, làm chấn động xã hội.

Mỗi chiến sỹ dân chủ cần quan tâm thật sự đến vấn đề nông dân vẫn còn chiếm gần 70% số dân, vì nông dân bị hy sinh tính mạng nhiều nhất trong chiến tranh, bị bỏ rơi và bạc đãi trong ”xây dựng”và ”đổi mới”, với lớp lớp cường hào cộng sản mới, hiện nay đất bị thu hẹp, nước sạch không có, hứng chịu ô nhiễm tràn về từ thành thị, khu công nghiệp. Hội nông dân trong Mặt trận Tổ quốc chỉ là bù nhìn mờ nhạt, một cái bóng ô nhục của đảng cầm quyền. Lời than từ nông thôn: đảng Cộng sản phản bội nông dân không phải là quá đáng.

 

VII-/ Kết luận:

       1- Một đặc điểm của tình hình gần 20 năm nay.

Suốt gần 22 năm nay kể từ sau Đại hội VII (1991), đảng CS Trung quốc đã rắp tâm cấy vào trong lòng chế độ hiện hành ở Việt nam một nhóm lãnh đạo bản xứ trung thành với họ, nhằm kìm hãm nước ta trong vòng kiềm tỏa của họ nhằm phục vụ cho mục tiêu bành trướng vô hạn.

Nhóm này đã leo lên đến những chức vụ cao nhất của chế độ, đảng CS và Nhà nước, và ban phát nhiều chức vụ hệ trọng nhằm tác động lâu dài trên quan điểm ”tác thành”, nhằm duy trì những tay chân thân tín làm lợi cho Thiên triều.

Nhóm này cũng rèn dũa được một công cụ tình báo sắc bén với phương tiện và quyền năng vô hạn, có cơ sở pháp lý hẳn hoi, nhằm duy trì chế độ độc đảng lạc hậu, kềm hãm tốc độ đổi mới và hội nhập, chĩa mũi nhọn chuyên chính vào các chiến sỹ dân chủ, bất chấp dư luận xã hội và công luận quốc tế.

Thế lực ”ngoại xâm” trong nội bộ chế độ hiện hành đã ngăn chặn mọi cuộc đối thoại ngay thẳng, lành mạnh trong nội bộ dân tộc để tìm ra con đường đúng đắn cho đất nước, thực hiện đoàn kết dân tộc, dân chủ, tự do, phát triển hài hòa và bền vững trong công bằng và bình đẳng xã hội.

Chính thế lực này đã dùng quyền uy để ‘‘khoanh” các vấn đề, định ra các ”giới hạn”, cấm cản trí thức tranh luận vấn đề ”độc đảng hay đa đảng”, ”giữ lại hay từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin”,” chủ nghĩa xã hội kiểu mác-xít hay kiểu xã hội dân chủ”, cũng như đề ra chủ trương cưỡng bách ”không đưa ra Ban chấp hành trung ương Bản báo cáo tuyệt mật của Ban kiểm tra liên ngành về những vấn đề liên quan đến đảng viên Lê Đức Anh”, mặc dầu việc thành lập Ban kiểm tra liên ngành là do Ban chấp hành trung ương quyết định và mặc dầu theo đúng Điều lệ đảng, Ban chấp hành trung ương là cấp cao hơn bộ chính trị !

Chính nhờ nhóm tay trong thúc đẩy mà Bắc kinh đã trôi chảy ngoạm được những mảng đất lớn (có thể là hơn 850 km vuông), những vùng biển lớn (hơn 10 ngàn km vuông) cùng vô vàn tài nguyên hải sản trong hợp tác đánh cá chung (!) và ngang nhiên chiếm đoạt nhiều đảo trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những hành động phục vụ bọn bành trướng phương Bắc đã diễn ra chỉ sau hơn 20 năm quân lính của chúng tràn vào 6 tỉnh phía Bắc nước ta để tàn sát và tàn phá hàng chục vạn thường dân, đồng thời chúng huấn luyện, trang bị và chỉ huy bọn lính Khơme Đỏ chống trả ”quân tình nguyện Việt nam” ở Cambốt, gây nên hơn 50 ngàn lính trẻ chết và 300 ngàn thương binh.

        2- Nhận diện những nhân vật hiến mình cho ngoại bang:.

Như trên đây đã nói, trong bộ chính trị hiện nay, tất cả đều ít nhiều thân Trung quốc hơn là thân với các nước dân chủ phương Tây. Thật ra gốc gác của ”tinh thần Bắc thuộc” ấy bắt nguồn từ ngay khi thành lập đảng CS Đông dương năm 1930 ở Hoa Nam, từ tinh thần sùng bái Mao Trạch Đông của ông Hồ Chí Minh khi khẳng định ” bác Mao không bao giờ phạm sai lầm”(1952), từ khi ông Phạm Văn Đồng (1958 ) nhanh nhẩu công nhận việc mở rộng lãnh hải Trung quốc xuống phía Nam. Hiện nay, những người lãnh đạo còn sống vẫn theo cái đà mù quáng ấy. Tuy nhiên trong tình hình mới, tinh thần Bắc thuộc, thân Trung quốc trong họ cũng có những mức độ, màu sắc đậm nhạt khác nhau.

Trái lại, trong tâm lý xã hội, trong quần chúng nhân dân, trong trí thức ưa phóng khoáng, tự do sáng tạo thì khuynh hướng có cảm tình với phương Tây rõ ràng là đậm đà. Với việc mở rộng thông tin, giao dịch, du học nước ngoài và du lịch, khuynh hướng ưa thích văn hóa học thuật giáo dục phương Tây đang ngéy càng phát triển. Hai luồng tâm lý trái ngược trên đây có thể chuyển hóa và tác động lẫn nhau tùy theo điều kiện, nhưng sự chuyển hóa theo chiều hướng thân phương Tây, thân các nước dân chủ vẫn là hướng áp đảo.

Trên đây đã điểm mặt các nhận vật chính trị hiện tại ở nước ta thân thiết với bành trướng Bắc kinh nhất, từ 2 ông M+A, đến tổng bí thư đương nhiệm Nông Đức Mạnh, phó thủ tướng thường trực đặc trách về tài chính Nguyễn Sinh Hùng, đến những nhân vật đã nhanh nhẩu thúc đẩy việc đàm phán và ký kết 2 Hiệp ước Việt-Trung cùng Nghị định thư về hợp tác đánh cá chung trong Vịnh Bắc bộ. Cũng cần kể đến nhân vật hiện có thế lực nhất ở Bộ công an là thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn thứ trưởng thường trực bộ công an, phó bí thư đảng ủy ngành công an, bị nhiều sỹ quan cấp cao trong ngành tố cáo về tệ tham nhũng, độc đoán, gia đình trị (vợ và 2 con trai đều trong ngành và sống xa hoa, ngạo mạn), tiếp đến là ủy viên bộ chính trị trưởng ban Tổ chức trung ương đảng Hồ Đức Việt và ủy viên trung ương đảng trưởng ban Tuyên giáo trung ương đảng Tô Huy Rứa là những người thường xuyên công khai đi Bắc kinh để chăm chỉ học theo kinh nghiệm của Trung quốc và trao đổi cởi mở với lãnh đạo trung quốc về nội tình Việt nam.

Cũng cần nói đến 2 ông Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng khi mới vào bộ chính trị được một số cán bộ coi là có tư tưởng tương đối cởi mở, có xu hướng đổi mới, nhưng với thời gian 2 ông đều lòi đuôi giáo điều bảo thủ nặng khi ông Triết tuyên bố duy trì đến cùng chế độ độc đảng vì ” nếu đảng CS thực hiện đa đảng thì sẽ là tự sát ” (!), còn ông Dũng thì ngang nhiên khẳng định trong cuộc phỏng vấn trực tuyến rằng ” chính tôi đã ký chỉ thị cấm tư nhân làm báo ”, tự mình thú nhận chống lại điều khoản về tự do báo chí ghi trong Hiến pháp.

       3- Những chủ đề cần khơi dậy để đấu tranh:   

Theo tinh thần tự do dân chủ chống độc đoán, mọi vấn đề của cuộc sống đều có thể là nội dung đấu tranh, không có vấn đề nào là cấm kỵ, là tránh né, là ”khoanh” lại, nhằm nói lên sự thật và chân lý, vì một nền truyền thông phóng khoáng lành mạnh.

Chủ đề lớn nhất là ”đổi mới” và ”hội nhập” thực sự ắt phải đi đến thực hiện dân chủ đa đảng, như hiến pháp hiện hành công nhận các ”quyền tự do lập hội” và ”quyền tự do bầu cử ”; đó là mục tiêu hệ trọng nhất nhằm giải quyết mọi nan đề hiện nay của đất nước.

Chủ đề chống tham nhũng và lãng phí với sức ép mọi cấp chính quyền phải làm đúng lời hứa, chống kiểu khẩu hiệu suông, lời hứa hão, không thể để vụ PMU 18 hơn 2 năm chưa giải quyết xong, chỉ vì vướng con gái và con rể tổng bí thư; không đụng đến lời hứa dỡ bỏ hệ thống tổ chức song trùng đảng và chính quyền, chủ tịch và bí thư, ủy ban và đảng ủy, ban và bộ, dẫm dạp và trùng lắp, ngốn vô vàn ngân sách mà hiệu quả lại thấp, xây ít phá nhiều, không giống một nước nào. Chỉ riêng việc này đã có thể tiết kiệm đến hàng trăm nghìn tỷ đồng.

Hiện nay, khi lạm phát tăng nhanh, khủng hoảng kinh tế cùng với khủng hoảng xã hội xuất hiện, khoảng cách giàu nghèo mở rộng, nông dân, công nhân, lao động, viên chức sống lao đao, cần chỉ rõ nguyên nhân bất công xã hội nằm ở chế độ độc quyền đảng trị nuôi dưỡng tệ tham nhũng và nạn hành chính quan liêu.

Cuộc khủng hoảng kinh tế có nguy cơ kéo dài và trầm trọng vì những người cầm quyền, quan chức cao cấp nhất luôn mắc bệnh thành tích và bệnh chủ quan, chỉ thích thổi phồng thành tích để tuyên truyền huênh hoang, không muốn nói đến yếu kém, khuyết điểm và sai lầm, không muốn nhìn thẳng vào sự thật nên luôn bị bất ngờ, bị động, hốt hoảng.

Gần đây khi cả thế giới lên án sự đàn áp của chính quyền Trung quốc ở Tây Tạng thì cả 600 báo chí và đài phat thanh ở Việt nam đều im lặng một cách trơ trẽn, tự phơi bày sự cô lập và thú nhận tự do báo chí chỉ là lừa dối.

Những gì chính quyền phản dân chủ muốn ”khoanh” lại, muốn ỉm đi, sợ dư luận xã hội biết rõ, tất cả các phương tiện truyền thông dân chủ càng cần đưa ra một cách rõ ràng, bền bỉ, phổ cập rộng rãi trong xã hội, nhằm ”nhân bản”, ”tăng âm” những tài liệu nhạy cảm ấy. Nhiều tài liệu liên quan đến tổng cục 2 và nhân vật T4, đến các Hiệp ước Việt – Trung, đến Hoàng Sa và Trường Sa … được ở ngoài nước in thành tập, gửi về nước, được tìm đọc như những văn kiện quý hiếm.

          4 – Thời cơ đấu tranh ngày càng nhiều và thuận lợi.      

Cuộc đấu tranh cho dân chủ phơi bày bộ mặt thật phục vụ bọn bành trướng nước ngoài và dựa vào chúng, quay lưng lại dân tộc mình, nhân dân mình ngày càng thuận lợi. Nhân dân ta ngày càng bớt sợ hãi chính quyền hung hãn và bộ máy đàn áp. Trong bộ máy đàn áp (cảnh sát, công an) phần lớn chỉ vì miếng cơm manh áo cuộc sống của gia đình mà làm việc được giao, nhiều người có lương tâm, e ngại làm việc thất đức, không ít nhân viên ở cơ sở đồng tình với nạn nhân bị đàn áp. Sự đồng tình và ủng hộ quốc tế đối với các chiến sỹ dân chủ nước ta cũng là một cổ vũ quý báu cho những tấm lòng yêu nước thương dân muốn dấn thân vào cuộc đấu tranh cao đẹp này.

Bất công xã hội mở rộng, hố cách biệt giàu nghèo ngày thêm sâu thẳm, chứng minh bọn gian thần hiện đại làm giàu trên mồ hôi và nước mắt người lao động, mặc sức ” múc ”, ” xúc ”, chia chác tài sản chung trong một chế độ không có công bằng và luật pháp nghiêm, một nền quản trị đất nước hỏng từ gốc vì mang bản chất độc đoán, không thể kén chọn, tuyển lựa nhân tài.

Một Nhà nước thân bành trướng Bắc kinh, dựa theo mô hình độc đảng Bắc kinh đang dẫn dân tộc ta đến thảm họa. Công nhân và lao động làm thuê cho tư bản nước ngoài và cho các cơ sở quốc doanh bị bóc lột tàn nhẫn; công đoàn được đảng cộng sản tổ chức chỉ phục vụ cho bọn chủ xí nghiệp. Lao động xuất khẩu cũng bị các công ty của đảng đem bán cho tư bản nước ngoài theo kiểu đem con bỏ chợ. Ở Malaixia hơn 300 người chết chỉ trong hơn 2 năm. Chính các tổ chức bênh vực người lao động Việt nam trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã dựa vào luật lao động quốc tế để bênh vực có hiệu quả quyền lợi chính đáng của anh chị em; bộ lao động và Tổng công đoàn ở Hànội không cảm thấy hổ thẹn sao? Hội liên hiệp phụ nữ của đảng hoàn toàn dửng dưng và vô cảm trước thảm trạng phụ nữ và trẻ em ta bị đem bán sang Cambốt, Malaixia, Đại Hàn, Đài loan … hàng  ngàn, vạn người, thành nô lệ mới, gái điếm bần cùng.

Gần dây, chính quyền yếu hẳn do khả năng quản trị đất nước kém cỏi, sa sút, thiếu công tâm. Chống tham nhũng bùng nhùng. Đất đai rối loạn. Chỉ tiêu cơ bản về phát triển đã buộc phải lùi. Việc cấm tiểu thương hàng rong, cấm xe ba gác giáng bừa vào dân nghèo. Chứng khoán xì hơi. Việc phá hội trường Ba đình không tránh khỏi làm hư hại nặng Di tích Hoàng thành. Tiến lui đều khó. Nhưng cái thế buộc phải lui, không thì khốn.

Năm 2008 đang mở ra nhiều triển vọng cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta cho dân chủ tự do và nhân quyền.

Bài biên khảo này nghiên cứu sự hình thành của một thế lực tận tụy bán mình cho bành trướng nước ngoài trong những điều kiện nào, trong hoàn cảnh nào; điểm mặt chỉ tên những kẻ cầm đầu cùng với lai lịch, chân dung, trình độ, tư cách và mưu đồ của chúng; chỉ ra công cụ lợi hại chúng đã dựng lên và xử dụng như thế nào; tuy chúng không còn thực quyền hợp pháp nhưng chúng vẫn lũng đoạn và khống chế bộ máy đương quyền ra sao; những kẻ đương quyền nào đang ra tay tiếp sức cho chúng; chúng đã từng bị điều tra và kết luận ra sao, suýt ở vào ghế bị cáo, suýt đứng trước vành móng ngựa nhưng đã tạm thời thoát nạn như thế nào, bằng chủ trương ”khoanh” lại, ỉm đi, bóp chết vụ án như thế nào. Bài biên khảo chỉ ra sự nảy sinh và khuynh loát của thế lực mafia hiện đại này đã kìm hãm tốc độ ”đổi mới” và ”hội nhập quốc tế” của nước ta ra sao, gây nên sự lạc hậu về mọi mặt của nước ta như thế nào, từ chậm ký Hiệp định buôn bán tay đôi với Hoa kỳ (BTA) đến chậm gia nhập Tổ chức buôn bàn quốc tế (WTO). Chính thế lực nguy hiểm này đã kìm hãm chặt chẽ nước ta không cho chuyển sang chế độ dân chủ thật sự là chế độ đa nguyên đa đảng, để có thể hội nhập hoàn toàn vào thế giới dân chủ hiện đại.

Bài biên khảo còn chỉ ra sự liên minh nguy hiểm giữa 2 thế lực Cung Vua với Phủ Chúa, dựa dẫm vào nhau, bắt tay với nhau tuy có những chủ trương và bước đi khác nhau, cũng có khi chống đối nhau, thù hận nhau quyết liệt theo kiểu những ”đồng chí cộng sản thù địch”, để loại bỏ nhau, ”gạt ” nhau không thương tiếc, đến độ vu cáo nhau là cộng tác viên, nhân viên của cơ quan tình báo Hoa kỳ CIA trong một báo cáo chính thức,  nhằm lật đổ và trừng phạt nhau.

Bài biên khảo là lời kêu gọi khẩn thiết, chỉ ra phương hướng đấu tranh của các chiến sỹ dân chủ cùng toàn dân ta, những thời cơ thuận lợi mới trong thời mở cửa, đổi mới và hội nhập, nhằm giành lại mọi quyền tự do chân chính vốn có của nhân dân ta, giành lại nền độc lập thật sự và chủ quyền trên lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc Việt nam ta.

Trong bài nghiên cứu có nói đến nhiều cá nhân, nhân vật nhưng tác giả không có một định kiến hay hiềm khích cá nhân nào với bất cứ ai, chỉ nung nấu một niềm đau chung của dân tộc và nhân dân, trước một vụ án được coi là siêu nghiêm trọng kéo dài mấy chục năm, gây vô vàn thảm họa, hàng triệu người đã biết, vậy mà những kẻ gây ra vẫn không hề hấn gì, còn ngạo nghễ ” khoanh lạĩ ”, ỉm đi, vậy có một thách thức nào láo xược hơn, khủng khiếp hơn, cay đắng làm cho toàn dân Việt nam ta, – với tất cả danh dự dân tộc,  bất bình hơn?

-Đã đến lúc mỗi người Việt nam chất vấn lương tâm mình. Không thể dửng dưng và bỏ qua. Hãy tìm hiểu rõ và có thái độ.

 

Tác giả rất mong bài nghiên cứu này được phổ biến rộng rãi trong, ngoài nước, được các vị thức giả trao đổi bổ sung, các giáo sư sinh viên đặc biệt là ở ngành sử học, luât học, quan hệ quốc tế…cùng các nhà báo bình luận và nhận xét.

          Xin đa ta và biết ơn.

Bùi Tín

Paris  (tháng 2 – tháng 4-2008 )      

 

Phụ lục :   *1 –  Bài luận văn ” Hồ Chí Minh, sự tước đoạt lòng yêu nước ”

                         của nhà triết học Jean-François REVEL.

                *2 –  Hồi ký của cựu thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ

                         ”Hồi ức và Suy nghĩ”.

                *3-   Bài viết của  ông Nguyễn Chí Trung, thiếu tướng, nguyên là trợ

                        lý của tổng bí thư Lê Khả Phiêu từ năm 1998 đến 2001.

                *4-   Hồi ký của nguyên phó thủ tướng Đoàn Duy Thành ”Làm người

                        là khó, làm người xã hội chủ nghĩa khó hơn ”(trích).

                *5-   Thư của các đảng viên lão thành Phạm Văn Xô, Đồng Văn Cống

                        và Nguyễn Văn Thi về lý lịch của Lê Đức Anh..

                *6-   Thư của đại tá Nguyễn Trần Thiết gửi Tổng cục chính trị.

                *7-   Tài liệu ” Vương triều Vũ Chính ” về sự hình thành Tổng Cục II.

                *8-   Thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp.

                *9-   Tài liệu Về Tổng cục II – Bộ Quốc Phòng;

              *10-   Thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Chủ nhiệm

                         Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân.

              *11-  Về cuốn sách ” Đại tướng Lê Đức Anh ” do Đỗ Mười viết lời giới

                         thiệu.

 – Các bài Phụ lục trên đây có thể tìm đọc trong các mạng điện tử: Đối thoại, Ý

                    kiến, Đàn chim Việt, Thông luận, Điện thư Câu lạc bộ Dân chủ,

                    Phát tán (qua www.Saigonbao.com )

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: