Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 11, 2008

“Môi Hở Răng Lạnh” TK 21 – Phần 2: Việt Gian – Hán Tặc

 Hùng Nguyễn

 

 

Khi bàn đến vị trí của Việt Nam, tác giả Hoàng Văn Chí trong cuốn “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản” đã dựa vào quá trình 100 trăm năm Pháp thuộc để hình dung Việt Nam giống như một cái đáy phễu, mà muốn vào đất Tầu người ta phải tiến từ đáy phễu lên. Bằng chứng là Âu châu, đặc biệt là Pháp,  muốn “xâm nhập” Tầu thì thường vào Việt Nam trước rồi mới dùng lãnh thổ Việt Nam làm bàn đạp tiến vào Tầu.

Trong Phần 1 (1), người viết đã bàn về “sách lược trục” Hải Nam-Hoàng Sa-Trường Sa như một chiến lược chính trị – quân sự địa dư của Tầu Cộng, và đã khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong cái thế “Môi răng” đối với Việt Nam, mà chính là da, là thịt, là xương của Việt Nam. Nhưng Hoàng Sa, Trường Sa trong Biển Đông không phải là toàn bộ máu thịt Việt Nam, mà phần chính là lãnh thổ hình chữ S. Trong bài này, người viết vận dụng tầm nhìn chiến lược về lãnh thổ Việt Nam để thử tìm hiểu xem Việt Nam có phải ở thế “môi, răng” với Tầu hay không, và nếu có, thì nó như thế nào?

 

§ Đại Chiến Lược là Then Chốt của Vấn Đề. (2)

Khi bàn về chiến lược – strategy, người ta thường lưu ý đến hai khía cạnh là đoản kỳ (ngắn hạn) và trường kỳ (dài hạn). Chiến lược đoản kỳ có thể kéo dài một, vài ba năm; còn chiến lược trường kỳ kéo dài hàng chục, có khi hàng trăm năm hay hơn nữa. Khi một chiến lược tạo thành căn bản nhằm bảo vệ các quyền lợi sinh tử của một quốc gia thì đó là một “đại chiến lược – grand strategy”. Thí dụ, đại chiến lược của Mỹ là làm chủ Bắc Mỹ và bá chủ đại dương, đại chiến lược của Tầu là Hán hóa toàn cầu, đại chiến lược của Liên Xô là khoác áo Mác đi thôn tính toàn cầu, v.v… Vậy việc không duy trì được một đại chiến lược đồng nghĩa với sự suy vi hay tệ hơn nữa là sự tan rã của một quốc gia, vì các quyền lợi sinh tử của quốc gia ấy đã không còn được bảo đảm hoặc ngay cả không còn tồn tại nữa. Một thí dụ điển hình cho trường hợp này chính là sự sụp đổ của đế chế Liên Xô!

 

1. Đoản Kỳ vs. Trường Kỳ.

Với các phương tiện giao thông phi mã như ngày nay, cụ thể là phi cơ – bạn có thể nêu ra câu hỏi, là từ khắp nơi trên thế giới, người ta có thể tiếp cận vùng Đông Nam Á bằng máy bay mà không cần thông qua Việt Nam.

Nghi vấn trên rất xác đáng và nếu áp dụng trong đoản kỳ; thí dụ, khi một cuộc chiến bùng nổ, nếu cần người ta có thể đổ quân vào Thái Lan chẳng hạn, bằng một cầu không vận nào đó. Tuy nhiên, trên thực tế chiến tranh chỉ là đoản kỳ; lại nữa, phương tiện hàng không tuy nhanh nhưng lại rất tốn kém và gây ra rất nhiều … ô nhiễm cũng như bất ổn về mặt an toàn; đến cái độ hầu như trên trường kỳ không quốc gia nào có thể hết năm này đến tháng nọ chịu đựng nổi một chiến lược tiếp vận hoàn toàn bằng không vận như thế.

Do đó, một trong những khía cạnh quan trọng của chiến lược trường kỳ phải là xây dựng, củng cố “bàn đạp”, tức là xây dựng hạ tầng cơ sở tại những “tụ điểm chiến lược” rồi từ đó “bước” thêm một hay nhiều bước xa hơn. Có thế, nếu là chiến tranh quân sự thì mới là một chiến lược có hiệu năng, còn nếu là “chiến tranh” phi quân sự thì mới có tính “kinh tế” và “có hiệu năng”.

Như vậy, chiến lược đoản kỳ được đưa ra nhằm giải quyết những đột biến bất ngờ, trong khi đó chiến lược trường kỳ nhằm giải quyết trên một tổng thể lâu dài. Còn đại chiến lược là chiến lược gắn bó với một quốc gia và tạo thành căn bản chiến lược lâu dài của quốc gia đó.

 

2. Đại Chiến Lược Bắc Tiến của Việt Nam?

Hiển nhiên, trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, Việt Nam không hề có một chiến lược Bắc tiến! Dĩ nhiên, bạn có thể phản bác, cho rằng Lý Thường Kiệt đã từng phạt Tống và đưa ra bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành sơn thủ bại hư.”

Nếu vậy, người viết xin mời bạn ôn lại một trang sử cũ, trích từ “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim:

“Nguyên nhà Tống lúc bấy giờ [1068-1078, thời vua Thần-tông nhà Tống] bị nước Bắc Liêu và Tây Hạ ức hiếp, hàng năm phải đem vàng bạc và lụa vải sang cống hai nước ấy. Mà trong nước thì không có đủ tiền để chi dụng. Vua Thần Tông mới dùng ông Vương An Thạch làm Tể tướng để sửa sang mọi việc.

….

Vương an Thạch lại có ý muốn lập công ở ngoài biên, để tỏ cái công hiệu việc cải tổ của mình. Bấy giờ Ung-châu có quan tri-trâu là Tiêu Chú biết được ý Vương an Thạch, mới sai làm sớ tâu về rằng: nếu không đánh lấy Giao Châu thì về sau thành một điều lo cho nước Tầu.

Vua nhà Tống nghe lời tâu ấy, sai Tiêu Chú kinh lý việc đánh Giao Châu. Nhưng Tiêu chú  từ chối, lấy việc ấy làm khó, đang không nổi. …

Bên Lý triều ta thấy sự tình như thế mới viết thư sang hỏi Tống triều, thì Lưu Gi lại giữ lại không đệ về kinh. Lý triều tức giận, bèn sai Lý thường Kiệt và Tôn Đản đem 10 vạn binh chia ra làm 2 đạo thủy bộ cùng tiến sang đánh nhà Tống, lấy cớ rằng nhà Tống đặt ra phép mới làm khổ trăm họ. Vậy quân Đại Việt sang đánh để cứu vớt nhân dân, v.v….

Tống triều được tin quân nhà Lý sang đánh phá ở châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, lấy làm tức giận lắm, bèn sai Quách Quì làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó sứ, đem 9 tướng quan cùng hội với nước Chiêm Thành và Chân Lạp chia đường sang đánh nước Nam ta.

Tháng chạp năm bính thìn (1076) quân nhà Tống vào địa hạt nước ta. Lý triều sai Lý Thường Kiệt đem binh đi cự địch. Thường kiệt đánh chặn quân nhà Tống ở sông Như Nguyệt (Làng Như Nguyệt ở Bắc Ninh, tức là sông Cầu bây giờ)….”

 

Đoạn sử trên cho thấy nhà Lý sang đánh nhà Tống chỉ là để đánh phủ đầu, chặn trước âm mưu xâm lược nước ta, và nhà Tống lúc bấy giờ cũng đang ở trong thời Mạt Tống, do đó không có sức mạnh để sang xâm lăng: “Nhưng Tiêu chú  từ chối, lấy việc ấy làm khó, đang không nổi.” (Tại đây, tưởng ta cũng nên ôn lại, rằng nhà Tống là triều đại chú trọng về “dân sinh” và khoa bảng hơn là bành trướng, nhiều hơn bất kỳ triều đại nào trong lịch sử nước Tầu!)

Trang sử trên cũng mơ hồ không cho thấy Lý Thường Kiệt xuất binh từ đâu, Quảng Đông, Quảng Tây, hay Thăng Long, v.v… vậy có nghĩa là một biên giới rõ rệt đã không hề được vạch ra một cách rõ ràng cho thấy lãnh thổ Đại Việt thời bấy giờ là những đâu!

Tóm lại, như vậy tức là nước ta đã không có một đại chiến lược Bắc tiến nào; hoặc giả nếu có, thì cũng chỉ là thứ “đại chiến lược” phòng vệ chống giặc phương Bắc chứ không phải là Bắc tiến!

 

3. Đại Chiến Lược Xâm Thực, Bành Trướng, và Nam Tiến của Tầu.

Có lẽ đại chiến lược xâm thực, bành trướng, đặc biệt về phương nam của Hán tộc đã có từ nhiều ngàn năm trước. Công trình nghiên cứu khoa học thuyết phục nhất đối với người viết được diễn giải trong bài diễn văn của Giáo sư Trần Đại Sỹ tại Viện Pháp Á (Institut Franco-Asiatique – IFA) đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 (http://www.vietnamsante.com/trandaisy/tds-nguongoctocviet.pdf). Từ sự nghiên cứu này, ông đưa ra kết luận: 

Đến thời điểm khoảng 5000 năm trước, Việt tộc gốc từ phi châu (đã di cư đến đây từ hàng chục ngàn năm trước đó), đi dọc theo các bờ biển Đông-Nam-Á và dừng lại tại phía nam sông Trường Giang. Hán tộc cũng từ Phi Châu, đi bọc theo hai đường: Trung Á vào Bắc Á, và  Âu châu vào Bắc Á, rồi dừng lại ở vùng bắc sông Trường giang. Việt tộc vốn thủy tổ nghề nông, Hán tộc nghề … du mục. Cuộc xâm lăng đầu tiên của Hán tộc qua tay Triệu Đà (179 B.C.).

Cho đến thời Hai Bà Trưng (năm 39 sau Tây lịch), biên giới Lạc Việt vẫn là phía bắc đến sông Trường Giang ngày nay (hàng ngàn dặm phía bắc biên giới hiện tạị), phía đông giáp biển, phía tây đến Tứ Xuyên. Các trận đánh của hai Bà tập trung quanh khu vực Động Đình Hồ bây giờ chứ không phải là miền Bắc Việt Nam như hiện nay chúng ta lầm tưởng. Trong hình đính kèm, người viết đã ghi chú về lãnh địa của Văn Lang, dựa trên sự nghiên cứu của GS Trần Đại Sỹ. Xin quý bạn xem bản đồ đính kèm trên để hình dung ra biên giới Văn Lang qua nghiên cứu này.

Trong bài “Đi Tìm Căn Cước Thật Việt Nam”  (http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4546), tác giả Phan Nam cũng trưng dẫn một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đương đại để đi đến kết luận tương tự. Tác giả còn phân ra: Lạc Việt làm chủ vùng đông nam sông Trường Giang, Âu Việt vùng tây nam.

Qua hai dẫn chứng cụ thể nêu trên, ta thấy việc dòng Bách Việt khởi đi từ phía nam sông Trường Giang quả rất thuyết phục, và như vậy cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng phải là ở quanh khu vực quanh tỉnh lỵ Trường Sa hiện nay (tức là khoảng trên 1000 km phía bắc biên giới hiện tại) chứ không phải ngay trong lãnh thổ Việt Nam mà người ta thường lầm tưởng.

Như vậy, đại chiến lược đông tiến của Hán tộc có thể coi là được khởi sự trước thời Xuân Thu, tức thời nhà Châu (khoảng 700 B.C., ); đại chiến lược tây tiến của Hán tộc bắt nguồn từ tư tưởng của Bách Lý Hề khi ông này làm quân sư cho Tần Mộ Công nước Tần (khoảng 600 BC), chủ trương xâm chiếm và đồng hóa hàng chục tiểu quốc, bộ tộc phía tây nước Tần; và sau đó chuyển thành bành trướng thời nhà Hán, đặc biệt là nam tiến, khởi đi từ thời Hai Bà Trưng qua tay tên tướng Mã Viện nhà Hán! Hơn thế, đại chiến lược này còn được tiến hành một cách vô cùng thâm độc:  Chính nhà Hán là triều đại đã “quốc hữu hóa” Khổng, chính chúng đã kết hợp học thuyết Khổng làm “áo khoác” cho đại chiến lược bành trướng của chúng. Mà người viết có thể cụ thể hóa trong vài bước chính như sau:

– Nuôi dưỡng, kích động lòng tham, tự tôn Hán tộc: Hán tộc với Khổng là “thiên tử”, là Vạn Thế Sư Biểu(vị thầy làm khuôn mẫu cho 10 ngàn thế hệ), các dân tộc khác đều là “man di”, “mọi rợ”, do vậy phải chầu “thiên triều”.

– Xâm lăng quân sư để “hiện thực hóa” lòng tham đó.

– Đồng hóa bằng cách “diệt môn”, diệt tộc. Nếu không diệt môn được thì dùng Khổng để đồng hóa. Mà đây mới là võ khí trường kỳ và lợi hại nhất!

– Bành trướng, đại bành trướng.

Nhưng chúng diệt môn Việt tộc cách nào? Có thể tập trung vào hai cách: tàn sát và “thu thập”. Chúng “thu thập” hay nói khác đi là “đồng hóa” bằng cách dùng học thuyết Khổng và Hán tự làm nền. Chúng “bơm” Khổng lên như một thứ “thần thánh”, chúng bắt người Việt tộc phải học tiếng Hán, sử Việt do chúng viết bằng tiếng Hán, phải sống theo kiểu Khổng. Chúng đổi tên mọi địa danh để con cháu Việt tộc sau này mơ hồ không biết tổ tiên mình ở đâu. Thí dụ, trong sử Việt cứ nói đến Trụ Đồng Mã Viện, mà ngày nay chẳng ai biết trụ đồng nằm ở chỗ nào! Hoặc cuộc đào tẩu của hai Bà dài bao nhiêu cây số, v.v….

… Cho đến khi mà, như vua Trần Nhân Tôn đã nói: “… lãnh thổ từ cái ổ đại bàng biến thành ổ chim chích”, tức là mảnh đất hình chữ S hiện nay!

 

4. Việt Nam ở Vị Trí Chiến Lược Nào?

Như ai trong chúng ta cũng đã biết, Việt Nam là một nước nằm ngay bờ Thái Bình Dương, sát cạnh Biển Đông và do đó, trở thành một hành lang quan trọng trên bờ tây Thái Bình Dương cho con đường tiếp cận Đông Nam Á xuyên qua Thái Bình Dương hoặc thông qua eo bể Malacca từ Ấn Độ Dương và Âu Châu lên vùng Bắc Á.

Khi bàn đến việc “nam tiến”, thiết tưởng ta nên đi lại thời điểm gần đây hơn, thập niên 1945, quân Nhật đã đô hộ Tầu và sau đó lật đổ Pháp tại Việt Nam, rồi dùng cơ sở hạ tầng do Pháp để lại làm bàn đạp tấn công Đông Nam Á, như Mã Lai, Singapore chẳng hạn. Tuy nhiên, đây chỉ là một chiến lược đoản kỳ của Nhật mệnh danh “Đại Đông Á” chứ không phải là một thứ “đại chiến lược Nam tiến” kiểu Tầu như đã bàn trên.

Do vậy, điều dễ hiểu là trên trường kỳ, đặc biệt trên phương diện quân sự địa dư, Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong vùng Đông Nam Á. Quan trọng ở chỗ muốn bắc tiến, nam tiến, đông tiến, hay tây tiến người ta đều phải tìm cách dùng nơi này làm bàn đạp. Muốn kiểm soát Biển Đông người ta cũng phải dùng Việt Nam hoặc Phillipines làm hậu cứ. Từ Mỹ, nếu muốn chinh phục nam Thái Bình Dương người ta phải có căn cứ tại Phillipines hay Việt Nam, vì hai lãnh thổ này “ôm ngang” Biển Đông.

Câu hỏi mà có lẽ quý bạn có thể nêu ra ở đây là tại sao Hán tộc không có ý đồ tây-nam tiến, tức là tiến chiếm Miến Điện, Lào và Thái Lan? Có lẽ lý do chính yếu bao gồm ba mặt: địa dư, kinh tế, và chính trị.

Về mặt địa dư, có thể nói núi đồi vùng Việt Bắc tuy khá hiểm trở nhưng so ra không bằng các dãy núi trùng điệp cũng là biên giới thiên nhiên giữa vùng tây Hoa Nam đến các nước này. Giặc Hán cũng không phải loại giặc rành về đường thủy, cho nên khó tiến bước dọc theo hai bờ sông Mê-Kông, nhất là ở trong vùng Tam Giác Vàng (biên giới Miến-Thái-Lào). Cho đến nay, Hán tộc tuy cũng đã lăm le muốn mở rộng Mekông để “tiến ra biển lớn”, nhưng vùng Mê-Kông trong lãnh thổ Lào có địa thế rất hiểm trở, khó lòng có thể mở rộng theo ý chúng được.

Về kinh tế, đồng bằng sông Cửu Long và phía nam Đông Dương nói chung xem ra phì nhiêu và trù phú hơn nhiều so với khu vực trung lưu sông Mê-Kông, bao gồm Tây Tạng, Vân Nam, Miến, Thái, Lào.

Có lẽ chính nhờ hai mặt địa dư và kinh tế trên, mà về chính trị, mưu đồ tây-nam tiến của giặc Hán xem ra không ở mức độ cao như mưu đồ đông-nam tiến của chúng. Do đó các vương triều Thái Lan đã có nhiều cơ may hơn Việt Nam trong việc “yên ổn mà sống”!

 

5. Vậy Tầu Cộng Ở Vị Trí Chiến Lược Nào? (3)

Từ trên 2000 năm trước, việc trao đổi Đông-Tây, được thông qua trên Con Đường Tơ Lụa – Silks Roads, mà trên thực chất là một thứ “highway chiến lược” của thời đại đó. Con Đường tơ lụa này do nhà tiền Hán, đặt thủ đô là Trường-an (nay là Diên-an — Xin-an) bảo đảm về an ninh cho việc trao đổi không những chỉ là tơ lụa mà còn đủ mọi thứ sản phẩm có thể chất được trên lưng lạc đà, và kể cả … văn hóa. Nhận thức về một đại chiến lược của Hán tộc thiết tưởng đã có từ ít nhất là thời đó. Theo tài liệu hiện nay, con đường này có một đầu là Trường-an, kéo dài khoảng 2000 km tới tụ điểm Anxi thì chẻ làm hai lộ bắc và nam được khoảng vài ngàn km rồi lại gặp nhau tại tụ điểm Kaski rồi phân thành hai ngả, một tiến thẳng về tây-nam đến New Dehli, Ấn và một vào Afghanistan qua Mashhad, Tehran, Baghdad, Dimashq, rồi bọc ngược bằng đường thủy vào Âu châu qua Ankara rồi đến Rome (xin xem bản đồ trên).

Ta thấy do trở ngại địa dư với những vùng sa mạc rộng lớn và những cao nguyên, núi non hiểm trở ở mạn tây và tây-nam đã khiến Hán tộc không nuôi nổi một đại chiến lược bành trướng về phía tây. Như vậy chúng chỉ còn lại phía đông và nam.

Bành trướng về phía bắc đối với chúng hiển nhiên là điều “bất khả thi” vì khí hậu và địa dư. Nếu không chúng cần gì phải xây Vạn Lý Trường Thành để chống các dân tộc phía bắc???!!!

Nếu tiến về phía đông, chúng đụng Nhật, và cũng nên lưu ý rằng trong nhiều ngàn năm người ta vẫn tin rằng trái đất hình vuông, và lọt ra ngoài chân trời là … một vách đứng thăm thẳm. Hơn thế, Hán tộc xuất phát từ trung thổ nên không rành về thủy chiến, cũng không phát triển nổi một đội thương thuyền hùng hậu như châu Âu hay Nhật Bản. Chính nhờ các yếu tố này mà Hán tộc đành phải bỏ đại chiến lược đông tiến của chúng.

Vậy thì chúng chỉ còn một chọn lựa duy nhất, đó là … đại chiến lược nam và đông-nam tiến. Trong thời xa xưa, các vùng núi non hiểm trở tại Việt Bắc cùng với khí hậu khắc nghiệt trong vùng cũng đã là một trở lực lớn có tác dụng làm cản đà xâm lăng của các đạo quân phương Bắc. Có lẽ một phần nhờ đó mà Bách Việt còn lại được một dòng giống chính thống tồn tại là dân Việt Nam.

 

§ Đại Chiến Lược Thế Kỷ 21 của Hán Tặc:  Xâm Thực Toàn Cầu .

Trở lại với thời nay,  theo thống kê của trang mạng CIA.gov, thì cho đến năm 2002, Tầu có:

– Tổng diện tích 9,596,960 km2  trong đó diện tích đất là 9,326, 410 km2, còn lại là núi và sông; so với VN là 329,560 km2 v 325,360 km2 (tức là rộng hơn gấp 28.7 lần VN).

– Diện tích đất canh tác được là 13.31% đất đai, tức là khoảng 1,246,008 km2; so với VN là 20.14% = 65,527.5 km2 (tức là gấp 19 lần).

– Dân số 1,284,303,705 người (tháng 07-2007) , tức là trung bình mỗi người có 970 m2 để canh tác; so với VN là 85,262,356 người (tháng 07-2007) v768 m2/đầu người.


Dân số Tầu như vậy là gấp 15 lần dân số VN. Tuy nhiên, trên phương diện kinh tế và quân sự, ta phải tính đến thành phần còn có sức sản xuất, còn có sức đi lính, tại vùng địa dư nào, v.v… để tính thì mới có được một tỉ số đúng).

Dĩ nhiên, trên đây chỉ là những con số rất khái quát và kém chính xác. Tuy nhiên, nó cho ta thấy một điều:  Nhu cầu về cái gọi là “không gian sinh tồn” do tên Trì Hạo Điền, Quân ủy trung ương Tầu Cộng đưa ra (4), thì dân Việt Nam còn có cái nhu cầu này cao hơn Tầu một bực (768m2 so với 970m2 cho mỗi đầu người).

Các con số trên còn cho thấy nếu phát triển đúng mức, nếu xã hội thật công bình, thì dân của cả hai nước này ít nhất không bị nạn đói đe dọa. Mặt khác, do đã có nhiều người “vô gia cư, vô địa táng”, tại cả hai nước này, thì các con số này cho thấy sự bất ổn về mọi mặt của cả hai đến mức nào!

Vì thế, cái mà Trì Hạo Điền gọi là “mở rộng không gian sinh tồn” trên thực chất chỉ là cách phô trương tham vọng xâm thực đã được nuôi dưỡng từ mấy ngàn năm, tức là đại chiến lược của Hán tộc.

Trong thế kỷ 21  này, âm mưu Hán hóa toàn cầu như vậy có thể coi là khởi động từ Tây Tạng năm 1949 và mở rộng trong toàn vùng Đông Nam Á ở bước thứ hai, dưới dạng “phát triển hòa bình”. Theo bản tin do đài BBC đưa lên mạng ngày 29-01-2008 vừa qua (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/01/080129_chinanewstratergic.shtml), thì nhóm cố vấn thuộc Học Viện Khoa Học Tầu Cộng đã đưa ra một bản báo cáo chiến lược dùng “khái niệm ‘chim bồ câu’ nhằm vẽ ra một trật tự thế giới mới.”:

“Bản báo cáo mới nhất về Hiện đại hóa tập trung vào chuyện hiện đại hóa các thể chế quốc tế và chỉ ra Trung Quốc đứng đâu trong trật tự thế giới này.

Bản phúc trình công bố kế hoạch mà Trung Quốc mong ước là sẽ cải tổ và phát triển một số tổ chức chủ chốt.

Trung Quốc giờ muốn dẫn đầu chứ không muốn đi theo các nguyên tắc về chính trị của thế giới.

Các tác giả đưa ra chiến lược của họ theo sơ đồ hình chim bồ câu, ý ám chỉ rằng mục đích của Trung Quốc là phải phát triển một cách hòa bình.

Trung Quốc muốn Liên Hiệp Quốc giữ vai trò cái đầu của chim bồ câu.

Đầu này sẽ nối với thân là một Liên hiệp châu Á trong tương lai, là tổ chức hình thành từ các đơn vị hiện nay gồm tổ chức hợp tác Thượng Hải, cơ chế Asean cộng ba và Diễn đàn châu Á có trụ sở tại đảo Hải Nam.

Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương, Apec, sẽ được giữ nguyên, và là một cánh của chim bồ câu.

Cánh kia sẽ bao gồm cơ chế hội nghị thượng đỉnh Á Âu hiện nay nhưng nâng lên thành tổ chức hợp tác kinh tế Âu Á.

Đuôi chim bồ câu sẽ là Nam Mỹ, châu Đại dương và châu Phi.

Để thực hiện chiến lược này trong 20 đến 50 năm tới, Trung Quốc sẽ điều chỉnh một số ưu tiên địa chính trị chiến lược và sẽ gia tăng sức mạnh của nước này.

Trung Quốc cũng hy vọng sẽ thành lập trụ sở của một Liên hiêp châu Á mới trên đảo Hải Nam, biến hòn đảo này thành khu vực mậu dịch tự do cho toàn bộ các nước châu Á tới thăm viếng và đầu tư.

Giới quan sát giờ đây sẽ theo dõi xem các láng giềng hùng mạnh của Trung Quốc, như Nhật Bản và Ấn Độ, sẽ có phản ứng ra sao trước tham vọng chính trị mới được tiết lộ của Trung Quốc.”

 

Bản tin trên cho thấy Hán tặc đang tìm kiếm một một chiến lược mới cho đại chiến lược của chúng:  Hán hóa toàn vùng Đông Nam Á để từ đó xâm lược toàn cầu. Mà ta có thể nhìn thấy khái quát như sau:

 

* Về đối ngoại:

– Đầu con chim, tức Liên Hiệp Quốc là nơi Hán tặc sẽ tận dụng, dùng cái chân trong Hội Đồng Bảo An để từ ngấm ngầm đến công khai khuynh đảo, tận dụng tổ chức này thành một công cụ cho đại chiến lược xâm thực toàn cầu của chúng.

– Chim bồ câu là “áo khoác”, giống như kiểu áo khoác Mác-Lê vậy, mà trên thực chất, đó là cách di dân “hợp pháp” bằng các chế độ “x-gian” dùng bình phong là “phát triển kinh tế”, và nếu không thành công thì con chim bồ câu này sẽ là SU-xx và tầu ngầm nguyên tử, hỏa tiễn, v.v…

– Thân chim như vậy sẽ tạo thành bởi cái gọi là “Liên Hiệp Châu Á”, một liên minh của “các quốc gia hung đồ”, được che đạy bằng cách tái lập học thuyết Khổng, bơm lên như một “trái bóng văn hóa”, nhưng trên thực chất là để thành lập một màn hỏa mù che dấu tội ác của chúng, cũng như dụ dỗ bọn Hán tộc cực đoan sẵn sàng làm chiến tranh khi cần thiết.

– Không hạ bệ, nhưng cũng không tâng bốc Mao, để tạo ra hình ảnh một “chim bồ câu trắng” nhằm lừa bịp Tây phương vốn không biết nhiều về cái “máu thịt” của con “chim hòa bình này”: đại chiến lược Hán tộc, trong đó không có nhiều phân biệt giữa Tần Thủy Hoàng và Mao.

– Và sau cùng, tức là tận cùng của chiến lược này, biến châu Phi và châu Đại Dương thành sân sau của một “nước Hán toàn cầu”!

 

* Về đối nội:

– Tiếp tục đưa hình ảnh Mao lên như một vị “cha già Hán tộc”, đồng thời đưa Khổng vào làm áo che để dụ dỗ thành phần Hán tộc cực đoan, hầu có nhân lực phục vụ cho đại chiến lược của chúng.

Dĩ nhiên, để tiến hành một đại chiến lược kiểu này, Hán tặc cần có một số “x-gian”, cụ thể là muốn biến Hải Nam thành một “khu vực mậu dịch tự do cho toàn bộ các nước châu Á”, chúng phải có một bọn Việt gian làm bàn đạp cho chúng tiến xuất. Mà đó chính là tập đoàn Việt gian do tên thái thú Hồ đẻ ra. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì với vị trí chiến lược nằm dọc theo Biển Đông, cũng như sát đảo Hải Nam, nếu không có một tập đoàn thái thú tay sai kiểu đó, làm sao chúng có thể khống chế Biển Đông, tạo ra một môi trường an toàn cho cái “an toàn khu” Hải Nam của chúng được!!!

Tới đây, chắc quý bạn cũng có thể hình dung ra cái gọi là “trật tự thế giới mới” của Tầu Cộng: là một thế Xuân Thu, Chiến Quốc rộng lớn ở mức độ toàn cầu, trong đó các đại cường là các “bá” ở thế tranh chấp cho một cứu cánh là cái gọi là “trật tự thế giới mới.”

Với thâm đồ này, tưởng thế kỷ 21 này sẽ là thế kỷ của:

– Hoặc là một nước Tầu bị phân làm nhiều mảnh, mỗi mảnh là một nước kiểu thời Xuân Thu, Chiến Quốc, nếu thế giới biết mà ra tay trước. Mà có vậy thì thế giới mới có thể yên ổn trong trật tự được.

– Hoặc một thế Xuân Thu, Chiến Quốc toàn cầu luôn có tranh chấp về bất kỳ phương diện nào, tức là một “trật tự thế giới mới” mà trong đó cái trật tự này luôn luôn bị đảo điên, bị đặt trong vòng tranh chấp – tức là hoàn toàn vô trật tự! (5)

 

§ Phải Chăng “Con Chim Bồ Câu” Bắt Đầu Cất Cánh???!!!

Luận cứ trên về thế chiến lược đầu thế kỷ 21 của Hán tặc đã được củng cố qua việc Tầu Cộng từ cả thập niên nay đã và đang âm thầm xây dựng một căn cứ tầu ngầm nguyên tử trong khu vực đảo Hải Nam. Theo bài viết trên tờ điện tử atimes.com số ngày 09-05-2008 vừa qua, thì:

“Tờ nhật báo nổi tiếng ‘British Daily’ đã mô tả căn cứ này như một ‘căn cứ khổng lồ kiểu James Bond có khả năng che dấu 20 tiềm thủy đĩnh nguyên tử giúp cho Tầu có thể phóng sức mạnh xuyên vùng.

Tầu ngầm nguyên tử có thể ở dưới mặt nước lâu hơn các loại tầu chạy bằng diesel-điện và do đó khó khám phá hơn. Chúng cũng có thể được dùng để phóng ra các phi đạn nguyên tử.

Khước từ cả việc phủ nhận lẫn xác nhận căn cứ này, một phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Tầu Cộng nói, “Các quốc gia Tây phương chẳng cần phải quan ngại, lo lắng, hay đưa ra bất kỳ lời vu khống vô trách nhiệm nào. Chúng tôi có một hải phận rộng lớn. Đây là nhiệm vụ thiêng liêng của của quân đội Trung Quốc nhằm đảm bảo an ninh trên biển của chúng tôi.”

 

Quốc gia đầu tiên nêu ra quan ngại lại là Ấn. Nhưng tại sao là Ấn mà không phải là Nhật hay Đài Loan, trong khi đảo Hải Nam chẳng ăn nhập gì đến Ấn Độ cũng như ở rất xa Ấn?

Vấn đề ở đây có thể đặt trên hai khía cạnh:  Về an ninh chiến lược biển, nó cho thấy Ấn đã đi sau Tầu Cộng cả thập niên về sức mạnh trên biển. Về khía cạnh thứ hai, nếu Tầu phóng sức mạnh dọc theo trục chiến lược Hải Nam-Hoàng Sa – Trường Sa của chúng, thì chẳng phải chỉ các nước Bắc Á mà ngay cả đường giao thương giữa Ấn Độ đến Bắc Á bị đe dọa và do đó Ấn bị đe dọa.

Nếu là “chim hòa bình” thì cần gì loại căn cứ tầu ngầm nguyên tử “mật” kiểu James Bond như vậy???!!! Hiển nhiên cái “thịt” của thân con chim như vậy phải là sức mạnh quân sự. Đó là chủ tâm chính của Hán tặc, theo đúng đại chiến lược kiểu Hán Khổng của chúng!!!

 

§ Vậy Việt Nam-Tầu: Cái Thế “Môi Răng”???

Như đã trinh bày trên, qua suốt dòng lịch sử 5 ngàn năm. Việt Nam luôn luôn ở thế thụ động chờ giặc Hán xuống thôn tính: Một lãnh thổ Văn Lang rộng lớn như vậy nay đã thu nhỏ đến thế! Một dòng Bách Việt văn minh đã bị bọn Hán tặc thôn tính từ NHIỀU xuống còn MỘT.

Vậy nếu tính đúng theo quan niệm chiến lược, thì Việt Nam và Tầu Cộng là hai “tử đối đầu” chứ không phải “môi răng” nào hết. Tuy nhiên, ta thấy ở cái thế giới đang ngày càng thu hẹp hiện nay, giặc Tầu không thể phát triển xuống Đông Nam Á nếu không có một bọn Việt gian dâng biển, hiến đảo, và ký những “khế ước mật” với chúng. Do đó, Việt gian-Hán tặc mới là ở cái thế “môi, răng”, chứ không phải là Việt Nam-Tầu ở cái thế “môi răng”.

Và cái thế “môi răng” này cũng không phải cái thế môi răng kiểu Ngu-Quắc mà là một thứ  “môi răng” tân thời. Mà ở đây nó nằm ở chỗ ngày nào tập đoàn thái thú Việt gian bị dân ta treo cổ, thì cái họa diệt vong của bọn Hán tộc, tức là đại chiến lược Hán hóa toàn cầu của chúng cũng tiêu ma.  Và mặt khác, nếu vì một lý do nào đó mà bọn Hán tặc bị tiêu diệt, hay không thể theo đuổi cái đại chiến lược của chúng nữa, thì tập đoàn Việt gian sẽ bị quốc dân Việt Nam … treo cổ. Và đó cũng là ngày mà trên mả của tên thái thú Hồ tại Ba Đình, một bản án lịch sử nặng nề nhất phải trấn trên mả của nó để làm bài học cho hậu thế!

Đã biết đây là một bọn Việt gian, thiết tưởng bà con trong nước, là những người ở trận tuyến thật, cần phải có thái độ thích đáng với chúng. Đã đến lúc bà con không nên chờ quốc tế can thiệp, mà phải nuôi dưỡng phát triển nhận thức rằng chúng không phải là một chính quyền, chúng là một bọn thái thú Việt gian. Mà vì sự vẹn toàn lãnh thổ, bảo toàn nòi giống, đã đến lúc bà con nên nghĩ đến tương lai đen tối của đất nước, của con cháu chính quý vị, mà có hành động thích hợp với chúng.

Xin ghi nhớ rằng trong lịch sử Việt Nam, bản án cho bọn Việt gian là Tử Hình!

HN – 05-10-2008.


 

Ghi Chú:

1. Link vào phần 1: http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=3895 .

2. a. Tưởng ta nên phân biệt rõ theo thứ tự từ cục bộ đến toàn phần:

– Chiến thuật – Tactics: là cách thức, kế hoạch dụng binh, phối trí binh mã trong một trận chiến nào đó. Thí dụ: chiến thuật biển người, chiến thuật tiền pháo hậu xung của bọn Việt gian trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam, v.v…

– Kết hợp chiến thuật – Maneuver: một loạt các chiến thuật điều binh và tấn công trong một trận chiến lớn.

– Sách Lược – Tạm gọi là “Policy”: Là kết hợp của hai chữ “chính sách” và “mưu lược” hay “kế hoạch + chính sách” và “mưu lược”. Vậy sách lược có thể coi là các chính sách (chính trị) nhằm đạt được hoặc nhằm tiến hành một loạt các chính sách hầu đạt được một mục tiêu rộng lớn nào đó, thường là trên bình diện quốc gia.

– Chiến lược – Strategy: Là kế hoạch và nghệ thuật của việc lập kế hoạch để phối hợp và điều khiển mọi phương tiện, mọi hoạt động, và mọi chiến dịch hành quân ở bình diện rộng và lâu dài.

Ngày nay, từ “chiến lược” được dùng cho mọi lãnh vực không nhất thiết là về quân sự, với ý chỉ một kế hoạch lớn và lâu dài nhằm đạt được một mục tiêu nào đó, hay một phương thức tổng quát nhằm giải quyết một vấn đề nào đó.

– Đại Chiến Lược – Grand Strategy: Một chiến lược lớn nhằm bảo đảm quyền lợi sinh tử của một quốc gia nào đó. Như vậy đại chiến lược có thể coi là đồng nghĩa với sự tồn vong, tức là bản chất của một quốc gia nào đó.

– Chính Lược:  Từ ngữ Việt Nam — Sách lược / chiến lược chính trị, văn hóa có khả năng thay đổi vận mạng của nhiều thế hệ, một hay nhiều quốc gia, và có tính toàn cầu.

2.b. Đại chiến lược Đại Dương của Mỹ:  Trong cuốn “Cuộc Chiến Mỹ-Nhật trong Tương Lai – The Coming War with Japan”, hai tác giả George Friedman và Meredith Lebard đã trình bày rất rõ về nguồn gốc của đại chiến lược này mà người viết xin dịch lại (tr. 19):

“Thế giới thì tròn, và gồm có hai khối lớn, là đông và tây bán cầu. Đông bán cầu lớn hơn, đông dân hơn, và giầu hơn (mặc dù không giầu hơn tính theo đầu người). Khi đông bán cầu đối đầu tây bán cầu trong suốt giai đoạn 1500-1900, tức là, khi Âu châu đối đầu Mỹ châu, đã có sự toàn thắng của một bên. Điều này xảy ra mặc dù trên thực tế đông bán cầu bị vướng vào các tranh chấp nội bộ liên tục trong suốt giai đoạn này.

Có nhiều lý do khiến châu Âu chiến thắng, đây không phải là kiểu chiến thắng với lý do ít quan trọng nhất là  dùng số đông của người Da Đỏ phía bắc đối với người Da đỏ phía nam. Nhưng quan trọng hơn cả là sự giải thích chiến lược bằng quân sự: người Âu châu kiểm soát đại dương. Kiểm soát đại dương là chìa khóa dẫn đến cả thịnh vượng lẫn an ninh. Vì người châu Âu kiểm soát được đại dương, họ có thể đổ bộ vào chỗ và tại thời điểm họ muốn, với quân lực mạnh tùy ý. Người Da Đỏ đã không thể cắt nguồn tiếp vận đến Âu châu, hoặc tấn công Âu châu. Lực chọn chiến lược duy nhất của họ là liên minh một cách hệ thống mọi thổ dân bản xứ, mà điều này lại bất khả thi vì sự thiếu kết hợp và khả năng của người Âu có thể đổ bộ lên bờ một số vô giới hạn hỏa lực siêu cấp. Vì thiếu sức mạnh trên biển, điều không tránh khỏi cho người Da Đỏ là họ bị tràn ngập. Chiến lược trường kỳ của Mỹ cũng giống như vậy để cản trở một cuộc xâm lăng của đông bán cầu vào tây bán cầu.”

Tuy nhiên, trong thế kỷ 21 này, các công bố của TT Mỹ George W. Bush về một chính sách không gian mới cho Mỹ vào khoảng tháng 5, 2005 dựa trên những nghiên cứu từ cả thập niên trước cho thấy Mỹ đã mở ra một lãnh vực mới trong “đại chiến lược” Mỹ: chiến lược không gian do Bộ Quốc Phòng Mỹ – U.S. Department of Defense – DoD soạn thảo, mà từ đó có khả năng dẫn đến một sự thay đổi toàn diện “đại chiến lược đại dương” của Mỹ. Nhưng đây là vấn đề nằm ngoài chủ đề của bài viết này.

3. Để biết thêm về mưu đồ tây tiến của Hán tặc, xin đọc thêm trong trang: http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=3849 .

4. Bài diễn văn của Trì Hạo Điền: “Chiến Tranh Không Xa Chúng Ta và Là Bà Mụ của Thế Kỷ Người Tàu” – xin vào trang: http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Pages/Article%2076.htm

5. Về cái thế “Xuân Thu, Chiến Quốc” thế kỷ 21, các chiến lược gia Mỹ đã nêu ra một chiến lược phân vùng ảnh hưởng ngay từ đầu thập niên 1900, nhưng chiến lược này chú trọng hầu như thuần túy về kinh tế, theo đó, kinh tế toàn cầu được chia thành nhiều vùng khác nhau. Hiệp ước Mậu Dịch Tự Do Bắc Mỹ là một thành tựu điển hình. Nhưng ở cái giai đoạn hỗn mang toàn cầu này, xem ra chiến lược phân vùng kinh tế của Mỹ không, hoặc ít ra là chưa, giải quyết nổi các khó khăn toàn cầu của thời đại. Một thí dụ điển hình là các khuynh hướng bảo trợ mậu dịch, cũng như việc di dân lậu ào ạt đột nhập Mỹ qua ngả Mễ-tây-cơ.
(VNE)

Advertisements

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: