Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 13, 2008

Trang 257:HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI (chương XIII)

(Tiếp theo các trang 249, 250, 253)

HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG XIII

ĐỊA ĐIỂM MANG TÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ

(tiếp theo)

Trong khi tướng Na-va cố thực hiện giai đoạn đầu chiến lược của mình, các nhà chiến lược Việt Minh cũng vạch ra kế hoạch tác chiến cho chiến dịch năm 1953. Tại một cuộc họp Trung ương đầu năm , các nhà hoạch định chính sách của Đảng đã quyết định tránh đối đầu công khai với lực lượng thù địch trong tương lai gần đồng thời tìm điểm yếu trong lá chắn của địch, đặc biệt là ở Lào, Cam-pu-chi-a và vùng Tây Bắc. Chiến lược này không thay đổi trong cả năm, thậm chí ngay cả khi Na-va đã quyết định một cách rõ ràng là phải tập trung lực lượng ở đồng bằng sông Hồng để ngăn chặn mối đe doạ của Việt Minh đối với vùng phụ cận Hà Nội. Ông Võ Nguyên Giáp đề xuất tiến hành chiến dịch lớn ở đồng bằng với mục tiêu cuối cùng là đánh chiếm Hà Nội và Hải Phòng, những cố vấn Trung Quốc lại muốn có chiến lược thận trọng hơn tập trung vào vùng núi Tây Bắc. Hồ Chí Minh ủng hộ ý kiến của các cố vấn Trung Quốc và Bộ Chính trị đã chấp thuận ý kiến này vào tháng 9. Kế hoạch này dự kiến sẽ được khẳng định tại một cuộc họp của Quận uỷ Trung ương tháng 11.

Tin quân Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ đến tổng hành dinh của Việt Minh trong lúc các nhà chỉ huy quân sự đang chuẩn bị trình Quân uỷ Trung ương kế hoạch tấn công Pháp ở Lai Châu, vị trí quân sự biệt lập cách Điện Biên Phủ 50 cây số về hướng Bắc. Với các nhà lãnh đạo Việt Minh, nếu Việt Minh chiếm lại căn cứ này thì sẽ tác động tới tinh thần quân Pháp và chuẩn bị cho những bước tiếp theo trong những năm tới. Khu vực này cũng có những lợi thế chiến lược. Cách Hà Nội 320 cây số, quân Pháp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp viện cho Điện Biên Phủ.

Mặt khác, đánh Điện Biên Phủ sẽ là lần đầu tiên Việt Minh tấn công trực diện một căn cứ được lực lượng Pháp bảo vệ vững chắc. Tuy vậy, Điện Biên Phủ nằm ở thung lũng, gần biên giới với Trung Quốc và tổng hành dinh Việt Minh ở Việt Bắc cho phép Việt Minh dễ dàng chuyển khối lượng lớn vật dụng từ Trung Quốc. Sau khi tính toán kỹ lưỡng các khả năng và được cố vấn Trung Quốc và cấp trên ở Bắc Kinh khuyến khích, ngày 6 tháng 12, lãnh đạo Đảng quyết định tập trung nỗ lực trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong năm đó , lãnh đạo Đảng bắt dầu bí mật chuyển ba sư đoàn chủ lực mới được thành lập ở vùng núi quanh Điện Biên Phủ trong khi các đơn vị khác tiến vào Bắc Lào để đánh lạc hướng và buộc quân Pháp phải dàn trải lực lượng của mình.

Tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đột nhiên quyết định kêu gọi khẩn thiết đồng minhViệt Minh tham gia vào cuộc đụng đầu lớn với quân Pháp? Nghĩ cho cùng quyết định tấn công Điện Biên Phủ sẽ buộc Trung Quốc phải tăng viện trợ cả về chất và lượng; điểm mấu chốt dẫn đến thành công sẽ là khả năng pháo cao xạ của Việt Minh có thể làm yếu đi hoặc ngăn được quân Pháp tiếp viện và cung ứng cho khu vực này khi chiến sự leo thang. Mặc dù Bắc Kinh đã viện trợ cho Việt Minh trong cuộc chiến suốt ba năm và thấy được điểm lợi là vừa hoàn thành nghĩa vụ quốc tế Trung Quốc và bảo vệ biên giới phía Nam chống lại sự kiểm soát của đế quốc, trong những tháng đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu suy nghĩ. Tháng 7, ngừng bắn đã có hiệu lực ở bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc đã trả giá cao cho hành động can thiệp của Quân Giải phóng Nhân dân và đã có dấu hiệu chứng tỏ các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tìm cách cải thiện quan hệ với phương Tây để giảm bớt nguy cơ xung đột trong tương lai và tạo điều kiện cho chính phủ chuyển những nguồn lực hiếm hoi cho kế hoạch 5 năm tới. Trong môi trường mới, cách nhìn nhận ngày tận thế của Mao Trạch Đông về chiến tranh với đế quốc tất yếu ở châu Á đã mất đi sức mạnh. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 24 tháng 8, Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai tuyên bố rằng “các vấn đề khác” có thể được bàn đến tại Hội nghị hoà bình nhằm chấm dứt cuộc xung đột ở Triều Tiên. Tháng 12, ông thảo luận với các thành viên của một phái đoàn Ấn Độ về ý tưởng có một thoả thuận chung dựa trên những điều mà sau này trở thành “năm nguyên tắc chung sống hoà bình” giữa các quốc gia. Oa-sinh-tơn đã đáp lại một cách tế nhị khi Bộ trưởng Ngoại giao Đa-lét, trong một diễn văn cho đội quân lê dương Mỹ đầu tháng chín, đã gián tiếp nói rằng “Hoà Kỳ sẵn sàng xem xét một thoả thuận đàm phán để chấm dứt xung đột ở Đông Dương”.

Mát-xcơ-va cũng ngày càng quan tâm nhiều tới việc chấm dứt xung đột ở Đông Dương. Thủ tướng Liên Xô mới, ông Gioóc-gi Ma-len-cốp, đã trở thành nhân vật trên chính trường sau khi Giô-dép Xta-lin chết tháng ba. Ông có lý do phải có quan hệ tốt với phương Tây, kể cả việc phải giảm bớt ngân sách quốc phòng đã phình to để tập trung nguồn vốn hiếm hoi vào các dự án kinh tế. Cuối tháng 9, Liên Xô đề nghị họp hội nghị năm nước lớn nhằm giảm bớt tình hình căng thẳng quốc tế. Một vài ngày sau, Trung Quốc cũng làm như vây.

Quân Pháp chiếm Điện Biên Phủ đúng lúc các nhà lãnh đạo Trung Quốc (giống các nhà lãnh đạo Liên Xô) quyết định mở cuộc tấn công hoà bình nhằm đưa lại giải pháp đàm phán ở Đông Dương. Thắng lợi của Việt Minh ở Điện Biên Phủ có thể sẽ làm tình hình trong khu vực căng thẳng thêm khiến Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp. Mặt khác, điều này có thể làm tăng thêm phong trào chống chiến tranh ở Pháp và tạo điều kiện cho một hiệp định hoà bình có lợi cho Việt Minh và Trung Quốc. Với Bắc Kinh, họ sẵn sàng chấp nhận nước cờ rủi ro này.

Trong khi Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông chắc hẳn đã biết ơn Trung Quốc vì đã tăng cường giúp đỡ chiến dịch Tây Bắc, trước một loạt biểu hiện mong muốn có đàm phán hoà bình của các nước trên thế giới, Tổng hành dinh Việt Minh chắc đã có phản ứng thận trọng. Trong những tháng đầu của cuộc chiến khi Việt Minh rõ ràng yếu hơn kẻ thù của mình, ông Hồ đã bằng mọi cách cố gắng đạt được một giải pháp thoả hiệp. Điều kiện trên mặt trận ngày càng được cải thiện và Pháp rõ ràng không còn tìm kiếm một thắng lợi hoàn toàn thì rất có thể các nhà lãnh đạo Việt Minh cũng không mặn mà gì nữa với một thoả hiệp. Trong khi nói chuyện với ông Lê-ô Phi-ghe-rơ của Đảng Cộng sản Pháp tháng 3 năm 1950, ông Hồ nhấn mạnh rằng tuy vẫn muốn có một giải pháp thông qua thương lượng nhưng các nhà lãnh đạo Đảng không muốn có thoả hiệp lớn. Ông Trường Chinh thậm chí còn có thái độ thù địch hơn. Trong diễn văn kỷ niệm sáu năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tháng 9 năm 1951, ông Trường Chinh cảnh báo rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không bị dụ dỗ vào bàn đàm phán và nhất mực cho rằng cần phải “xoá bỏ mọi ảo tưởng của những kẻ cơ hội về đàm phán hoà bình với kẻ thù”. Khi Pa-ri có những bước thăm dò về một giải pháp thoả hiệp cuối năm 1952, Việt Nam Dân chủ Cộng hóa đã không để ý tới. Đến tháng 9 năm 1953, Hãng thông tấn (TASS) của Liên Xô đã đưa tin rằng trong diễn văn kỷ niệm lần thứ 8 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng chỉ có thắng lợi trên chiến trường mới đem lại hoà bình.

Tuy nhiên, vài tuần sau các nhà lãnh đạo Đảng Việt Nam quyết định theo đề nghị của Mát-xcơ-va và Bắc Kinh là tìm một giải pháp chính trị. Trong một bài phỏng vấn ngày 20 tháng 10 với phóng viên tờ Expesse của Thuỵ Điển, ông Hồ tuyên bố rằng chính phủ sẵn sàng tham dự hội nghị quốc tế nhằm tìm giải pháp hoà bình cho Đông Dương. Ông Hồ nói “Nếu chính phủ Pháp mong muốn đình chiến và giải quyết vấn đề Việt Nam thông qua thương lượng, thì nhân dân và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng xem xét đề nghị của Pháp”. Cuộc phỏng vấn này được báo chí thế giới đưa tin nhiều lần. Ít lâu sau, Bắc Kinh công khai bày tỏ sự dồng ý trong một xã luận của báo Nhân dân Nhật báo. Theo một nguồn ngoại giao Mỹ ở Sài Gòn, đề nghị tiến hành đàm phán hoà bình của ông Hồ đã gây ra một sự “khó hiểu, kinh ngạc và sợ hãi” trong những người Việt không cộng sản ở Sài Gòn.

Là người có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết rằng một giải pháp thông qua thương lượng là một khả năng tiến tới chấm rứt chiến tranh. Việc Hoa Kỳ tháng 7 năm 1953 quyết định tìm cách chấm dứt xung đột ở Triều Tiên là dấu hiệu an ủi cho thấy rằng đế quốc sẵn sàng nhượng bộ khi gặp phải khó khăn, tin tức này đã làm Việt Minh hy vong rằng Đông Dương có thể có một kết cục tương tự. Nhưng trong một bài diễn văn đọc trước một nhóm trí thức ở Việt Bắc sau đó vài tuần, ông Hồ lại cảnh báo rằng không nên có ảo tưởng là hoà bình sẽ đến một cách dễ dàng. Cũng như người Mỹ, người Pháp không sẵn sàng có nhượng bộ lớn trên bàn đàm phán trừ khi thua trên chiến trường. Ông cảnh báo rằng quân địch “đang bẫy chúng ta bằng mồi, nếu chúng ta vội vã như đàn cá và quên phải cảnh giác để tự vệ, chúng sẽ đánh bại”. Do vậy, điều quan trọng là phải cảnh giác và tiếp tục đấu tranh, thậm chí ngay cả khi Mỹ quyết định tham gia xung đột.

Trong tình hình như vậy, thậm chí ngay cả khi ông tỏ ý sẵn sàng tham gia hoà đàm, ông Hồ chắc phải có chút nghi ngờ vì điều kiện cho thắng lợi chưa hoàn toàn chín muồi như ông đã nêu với cộng sự của mình trong cuộc gặp tháng 11. Đồng thời, thái độ của Liên Xô và Trung Quốc là đáng lo ngại. Ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là cầm chừng, và do vậy không hy vọng gì nhiều từ Mát-xcơ-va. Nhưng sự ủng hộ vững chắc của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một phần trọng yếu trong chiến lược của Việt Minh, do vậy bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ Bắc Kinh sẵn sàng thoả hiệp vấn đề này vì lợi ích dân tộc của họ chắc sẽ làm ông Hồ và cộng sự của ông ở Việt Bắc càng lo lắng hơn.

Mặt khác, Hồ Chí Minh biết rằng Việt Minh không thể tiếp tục đấu tranh lâu dài nếu không có sự hỗ trợ hoàn toàn của Trung Quốc. Đây không phải là lần đầu ông Hồ chấp nhận phải nhượng bộ để tiếp tục chiến đấu. Về phần mình, Mát-xcơ-va và Bắc Kinh hầu như chẳng cần sự đồng ý của Hà Nội để bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của mình. Tại một Hội nghị tổ chức đầu năm 1954 ở Béc-lin, đại biểu các nước lớn thoả thuận rằng một hội nghị quốc tế khác sẽ được tổ chức tại Giơ-ne-vơ tháng 4 để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoà bình thế giới. Tuy chính quyền Ai-xen-hao khó chịu, Đông Dương và tình hình ở Triều Tiên đều nằm trong đề mục thảo luận. Tháng ba, một phái đoàn Việt Nam đến Bắc Kinh tham khảo ý kiến các quan chức Trung Quốc và xây dựng một chiến lược chung tại Giơ-ne-vơ. Ít lâu sau, một phái đoàn Việt Nam do Hồ Chí Minh dẫn đầu đi Bắc Kinh và Mát-xcơ-va để hoạch định chiến lược đàm phán chung với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô. Dựa trên kinh nghiệm đàm phán với Mỹ nhằm chấm dứt xung đột ở Triều Tiên, Trung Quốc và Liên Xô khuyên Việt Nam phải có mục tiêu “thực tế” tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Hai ngày sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ được công bố triệu tập, nguồn tin tình báo Pháp cho hay đơn vị Việt Minh ở thượng Lào đã chuyển quân theo hướng đông về Điện Biên Phủ. Mặc dù hoạt động của Việt Minh còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như Bắc Bộ, Tây Nguyên, Lào và hành lang Hà Nội-Hải Phòng-vào đầu tháng 3, tài liệu do Pháp bắt được cho thấy rằng Việt Minh đang chuẩn bị tấn công lớn ở vùng Tây Bắc và cuộc tấn công này sẽ phối hợp với cuộc đàm phán sắp tới tại Giơ-ne-vơ. Có thêm những dấu hiệu chứng tỏ viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Minh đã tăng nhiều, tăng khả năng Việt Minh thắng trận.

Lần nay, nguồn tin tình báo của Pháp đã đúng. Bắt đầu từ tháng 12, các đơn vị Việt Minh đã dần tập trung ở vùng núi bao quanh căn cứ của Pháp tại Điện Biên Phủ, trong khi hàng ngàn dân công được huy động để chuyển đạn dược và pháo cao xạ từ biên giới Trung Quốc đến khu vực này. Một người tham gia đã kể lại cho một nhà báo Mỹ:

“Chúng tôi phải vượt núi, băng rừng, ban đêm thì hành quân còn ban ngày thì ngủ để tránh bom của kẻ thù. Có lúc chung tôi ngủ hầm, có lúc chúng tôi ngủ ngay cạnh đường. Mỗi chúng tôi đeo súng, đạn và ba-lô. Chúng tôi có chăn, màn và một bộ quần áo. Mỗi người đều có đủ gạo ăn một tuần và được nhận thêm tại các trạm dọc đường. Chúng tôi ăn rau và măng lấy trong rừng và thỉnh thoảng dân làng lại cho chúng tôi thịt. Tôi đã tham gia Việt Minh chín năm rồi nên quen như vậy”.

Để mang lại điều thuận lợi cần thiết trên chiến trường nhằm đạt được một giải pháp hoà bình tại bàn hội nghị, trong vài tháng liền Trung Quốc tăng viện trợ quân sự. Theo một nguồn tin của Trung Quốc, hơn 2.00 xe tải, 10.000 thùng dầu, hơn 100 súng ca-nông, 60.000 đạn cao xạ, 3.000 súng và khoảng 1.700 tấn ngũ cốc đã được chuyển cho quân đội Việt Nam cố thủ quanh Điện Biên Phủ. Để khuyến khích cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam cố đạt được thắng lợi quân sự, Chu Ân Lai Gửi thông điệp sau: “ Nhằm giành thắng lợi trong lĩnh vực ngoại giao, chúng ta có thể cần phải tính đến việc giành thắng lợi mạnh ở Việt Nam trước đình chiến ở Triều Tiên”. Hồ Chí Minh hiểu rõ điều này. Trong một bức thư gửi ông Giáp tháng 12, ông viết: “Chiến dịch này rất quan trọng, không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt chính trị, không chỉ vì lý do trong nước mà còn vì lý do quốc tế nữa. Do vậy, toàn thể nhân dân ta, toàn thể lực lượng vũ trang ta và toàn thể Đảng ta phải đoàn kết để thực hiện việc này.”

Với ông Hồ và các cộng sự của ông, vấn đề không còn là liệu có tấn công cứ điểm quân Pháp hay không mà làm thế nào mà tấn công được. Ông Võ Nguyên Giáp vốn thận trọng ủng hộ kế hoạch làm suy yếu quân địch, sử dụng pháo binh bắn phá sân bay nhỏ ở thung lũng Điện Biên Phủ và cắt đường tiếp tế của quân Pháp. Quân Việt Minh sau đó có thể dần vô hiệu hoá hỏa lực của quân Pháp và chiếm từng cứ điểm bên ngoài căn cứ. Theo các nguồn tin Việt Nam, tướng Hoa Quốc Thanh, cố vấn cao cấp của trung Quốc, đã ủng hộ cách giải quyết khác, tiến hành cuộc tấn công thần tốc dựa trên chiến thuật “biển người” đã được các đơn vị giải phóng sử dụng rất có hiệu quả chống lại quân của Liên hợp quốc tại Triều Tiên.

Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Minh vào Điện Biên Phủ bắt đầu vào giữa tháng một. Việt Minh đã tập trung 23 tiểu đoàn chính quy bao gồm 50.000 quân ở vùng núi quanh cứ điểm. Số quân này đối chọi với kẻ địch gồm 16.000 quân. Ngoài lực lượng chính quy, Việt Minh có hơn 55.000 quân hỗ trợ và khoảng 100.000 dân công. Nhiều dân công là phụ nữ ở các tỉnh miền trung đã phải đi qua khu vực địch chiếm ở đồng bằng sông Hồng để đến được khu tập kết dọc biên giới Trung Quốc. “Đội quân tóc dài” này mang vác pháo và phương tiện chiến tranh khác hàng trăm dặm đường địa hình khó khăn đến khu vực căn cứ. Mỗi dân công chuyển trung bình 15 cân hàng qua 16 cây số đường rừng mỗi đêm. Tuy hầu hết hàng cung cấp là xăng dầu và đạn dược, nhưng cũng còn có những khẩu pháo lớn của Liên Xô được chuyển từng bộ phận từ biên giới Trung Quốc ở Lạng Sơn, cách hơn 300 cây số.

Trong giai đoạn đầu, những người tấn công đã theo lời khuyên của Trung Quốc sử dụng chiến thuật “biển người”, nhưng tổn nặng nề đến mức cuối tháng một, Bộ Tư lệnh Việt Nam (theo kêu gọi khẩn thiết của Bắc Kinh) đã đánh giá lại tình hình và quyết định chuyển sang cách đánh thận trọng hơn. Trong vài tuần sau đó, quân Việt Minh đào mấy trăm cây số giao thông hào để tiến vào hệ thống phòng thủ bên ngoài của Pháp mà không bị hoả lực của Pháp khống chế. Đồng thời quân Việt Minh cũng đào một loạt đường hầm quanh cứ điểm đã bị bao vây. Pháo được dân công chuyển từ biên giới Trung Quốc từng phần đến đã được lắp ráp lại tại chỗ và đặt bên trong đường hầm; pháo có thể di động nhanh giữa các địa điểm khác nhau, ngăn không cho quân Pháp dưới cứ điểm phát hiện chính xác điểm bắn.

Lúc đầu, hàng tiếp tế và quân tiếp cận đến bằng đường không, nhưng rồi sân bay bên ngoài căn cứ không thể sử dụng được nữa vì bị bắn phá rất ác liệt. Máy bay hạ cánh để dỡ đồ tiếp tế hầu như bị pháo của Việt Minh từ núi bao quanh cứ điểm bắn phá. Ít lâu sau, phi công Pháp buộc phải bay vội qua thung lũng và thả dù tiếp tế và tiếp viện. Cuối cùng hoả lực của Việt Minh mạnh đến mức quân tiếp viện nhảy dù xuống thường chết trước khi xuống được đến đất.

Tình hình càng nguy hiểm, quân Pháp càng khẩn thiết cầu cứu viện trợ của Mỹ. Vào giữa tháng 3, Pa-ri cử tướng Pôn Ê-ly đến Oa-sinh-tơn yêu cầu Mỹ tiến hành không kích để giảm căng thẳng cho cứ điểm của Pháp và bảo vệ cho cứ điểm này khỏi nguy cơ sụp đổ. Đề nghị này được đô đốc A-thơ-Rét-pho, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân và Phó Tổng thống Nich-xơn ủng hộ. Trong một cuộc nói chuyện với Đại sứ Pháp Hăng-ri Bô-nê ngày 28 tháng 4, Ních-xơn tuyên bố “ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Đô đốc Rét-pho và ủng hộ máy bay Mỹ can thiệp ồ ạt để cứu Điện Biên Phủ”. Nhưng Tổng thống Ai-xen-hao, do ý nguyện tham gia cuộc chiến trên bộ ở châu Á của ông đã giảm vì kết cục không dứt khoát của hành động can thiệp tại bán đảo Triều Tiên, lại chần chừ không muốn đưa quân vào Đông Dương nếu không bảo đảm rằng cuộc chiến đấu sẽ được thực hiện trên cơ sở đa phương và với điều kiện là Pháp phải hứa sẽ trao quyền độc lập hoàn toàn cho ba nước Đông Dương. Trong chuyến đi Luân Đôn, Pa-ri, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét phát hiện ra rằng cả Anh lẫn Pháp đều không đồng ý với điều kiện của Mỹ; Ai-xen-hao sau đó đã không chấp nhận yêu cầu của Pháp cung cấp yểm trợ bằng máy bay tuy vẫn thăm dò khả năng Mỹ can thiệp. Ai-xem-hao cũng chần chừ không muốn có một giải pháp thoả đáng trên bàn hội nghị.

Đầu tháng 5, Việt Minh thâm nhập vào tuyến phòng thủ bên ngoài của cứ điểm Điện Biên Phủ và bắt đầu bắn pháo vào các điểm bên trong. Theo nguồn tin của Trung Quốc, cuối cùng lòng tin của các nhà hoạch định kế hoạch chiến tranh của Việt Minh bị nao núng vì tổn thất lớn và mối đe doạ can thiệp của Mỹ. Với sự cổ vũ mạnh mẽ của Bắc Kinh, Việt Minh cuối cùng quyết định tấn công toàn bộ cứ điểm giành thắng lợi. Cuộc tấn công diễn ra ngày 6 tháng 5. Ông Võ Nguyên Giáp đã miêu tả một cách ngắn gọn là “bộ đội tấn công từ mọi phía, chiếm tổng hành dinh của địch và bắt sống toàn Bộ tham mưu” Quân Pháp thất bại hoàn toàn. Hơn 1.500 quân lính Pháp bị chết, 4.000 bị thương và số còn lại bị bắt làm tù binh hay mất tích. Khoảng 70 quân Pháp thoát trở về phòng tuyến của mình. Tổn thất của Việt Minh lớn hơn nhiều, 25.000 bị chết và bị thương, trong đó có 10.000 bị chết.

Ngày 7 tháng 5, một ngày sau khi quân Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ, đàm phán hoà bình để giải quyết cuộc xung đột Đông Dương bắt đầu như đã định tại Giơ-ne-vơ. Tham dự hội nghị có đoàn đại biểu của Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng như đại diện chính phủ Bảo Đại, đại diện của chính phủ hoàng gia Cam-pu-chi-a và Lào, bấy giờ gọi là nước liên hiệp. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thể hiện cảnh báo trước đây của Hồ Chí Minh cho rằng thắng lợi sẽ không dễ dàng, đến Hội nghị với thái độ thận trọng tuy nhiên họ cảm thấy rằng đó là cơ hội có những bước tiến quan trọng trong cuộc đấu tranh để hoàn toàn thống nhất đất nước.

Tại phiên khai mạc Hội nghị, phái đoàn Pháp đã nêu điều kiện cho một giải pháp, kêu gọi cả hai bên tập kết quân dưới sự giám sát của Uỷ ban Kiểm soát quốc tế. Ông Phạm Văn Đồng, đứng đầu đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (cũng như tại Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô năm 1946) chấp nhận đề nghị của Pháp cần có ngừng bắn trước khi có giải pháp về các vấn đề chính trị, nhưng trong tất cả các lĩnh vực khác, điều kiện (do Bộ Chính trị soạn thảo) của ông khác hẳn với đề nghị của Pháp. Ông đòi quốc tế công nhận chủ quyền và độc lập hoàn toàn của ba nước Đông Dương, rút hết quân đội nước ngoài và tổ chức tuyển cử tự do dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Ngoài ra, ông còn yêu cầu đại diện của phong trào cách mạng Lào và Cam-pu-chi-a (mọi người vẫn gọi là Pa-thet Lào và Khơ-me đỏ) được dự Hội nghị với tư cách là đại diện của nhân dân hai nước này. Ông Đồng đã đồng ý xem xét khả năng gia nhập Liên hiệp Pháp dựa trên cơ sở tự nguyện và công nhận quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp tại ba nước Đông Dương.

Pa-ri không còn khả năng mặc cả được gì. Các nguồn tin tình báo Pháp công khai dự đoán rằng Hà Nội có thể thất thủ nếu Việt Minh tấn công mạnh. Oa-sinh-tơn cũng có quan điểm bi quan như vậy. Tại một buổi thông báo tình hình của Hội nghị an ninh quốc gia ngày 8 tháng 5, giám đốc CIA A-len Đun dự rằng với 5.000 chiếc xe tải, quân Việt Minh có thể di chuyển dễ dàng từ Điện Biên Phủ đến đồng bằng Bắc Bộ trong vòng từ hai đến ba tuần. Mặc dù lực lượng vũ trang của Pháp ở đồng bằng là 200.000 quân so với 76.000 quân chủ lực của Việt Minh, hầu hết quân Pháp có tinh thần suy sụp và nằm bẹp trong đồn xung quanh toàn là dân cư thù địch hoặc không quan tâm gì. Còn quân đội quốc gia Việt Nam do chính phủ Bảo Đại thành lập sau khi ký Hiệp ước Ê-li-dê, như tướng Na-va gọi họlà “lũ ô hợp”.

Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp khó khăn nghiêm trọng tại Hội nghị. Mặc dù đại diện Việt Minh đã gặp đại diện của Trung Quốc và Liên Xô trước Hội nghị để soạn thảo chiến lược đàm phán chung, điều rõ ràng là cả Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đều không muốn ủng hộ Việt Minh tiếp tục cuộc chiến, và họ cũng chẳng sẵn sàng đáp ứng hoàn toàn mọi yêu cầu của Việt Minh. Cả hai đều chú ý đến lợi ích an ninh của chính mình tại Giơ-ne-vơ và đều mong tránh phải đụng đầu với Hoa Kỳ. Sau khi các cuộc tranh cãi ban đầu lắng đi, rõ ràng cả Ngoại trưởng Liên Xô, ông Vi-a-chê-láp Mô-lô-tốp và trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Hội nghị, ông Chu Ân Lai đều mong có thoả hiệp dựa trên việc chia cắt Việt Nam thanh hai khu vực tập kết, một do Việt Minh chiếm giữ và một do chính phủ Bảo Đại và những người ủng hộ chính phủ này chiếm giữ. Hơn nữa, sau thời gian đầu ủng hộ quan điểm của Việt Minh về Cam-pu-chi-a và Lào, Ngoại trưởng Chu Ân Lai nói rõ với ông Phạm Văn Đồng là Trung Quốc không ủng hộ yêu cầu của Việt Nam dân chủ Cộng hoà đòi Pa-thét Lào và Khơ-me đỏ tham gia Hội nghị như là đại diện chân chính của nhân dân Lào và Căm pu chia. Ông Chu Ân Lai còn cảnh báo vấn đề này sẽ gây nguy cơ đối với quá trình đạt đến giải pháp và dẫn đến can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Ông tin rằng tốt hơn là chấp nhận trung lập hóa hai quốc gia này với chính phủ hoàng gia hiện hành. Để khuyến khích Việt Nam Dân chủ cộng hòa chấp nhận, ông Chu Ân Lai đồng ý kiên quyết lập trường phải cho lực lượng Pa – thét Lào có một khu vực tập kết sau khi xung đột kết thúc. Ông Phạm Văn Đồng rõ ràng là đã lưỡng lự do [?] đồng ý.

Nhiều năm sau các nguồn chính thức của Việt Nam lại cho rằng cách Chu Ân Lai cư xử tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là do Trung Quốc muốn kéo Lào và Cam-pu-chi-a vào khu vực ảnh hưởng của mình. Mặc dù hầu như không có bằng chứng gì chứng tỏ điều này là đúng, rất có thể Bắc Kinh đã coi hai nước này có tầm quan trọng thiết yếu đối với an ninh của mình ở khu vực và do vậy không muốn có một Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, lý do chính là ngăn không cho đàm phán hoà bình sụp đổ loại bỏ khả năng Mỹ thiết lập căn cứ ở hai nước. Chắc chắn vì những lý do này mà ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Đồng chấp nhận thoả hiệp, một quan điểm mà phái đoàn Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ.

Giải quyết xong vấn đề Lào và Cam-pu-chi-a, Hội nghị tạm nghỉ. Trong khi đó đoàn đại biểu Pháp và Việt Nam Dân chủ cộng hoà bắt đầu chú ý đến chi tiết của giải pháp ở Việt Nam. Trong hội đàm riêng về quân sự với Pháp, đại biểu Việt Minh nói rõ ràng họ muốn có một khu vực lãnh thổ liền kề nhau làm khu vực tập kết quân và những người theo họ bao gồm đồng bằng sông Hồng, kể cả Hà Nội và Hải Phòng. (Một nhà đàm phán cao cấp của Việt Minh nói: “ Chúng tôi phải được Hà Nội, chúng tôi phải có đường thoát”). Quân Pháp không muốn mất Hà Nội, nhưng lại nói một cách dán tiếp rằng họ muốn được rảnh tay ở phía Nam và ít nhất là một khu vực riêng ở phía Bắc để chuyển quân và dân ra khỏi vùng đồng bằng.

Do vậy, cuộc tranh luận tập trung vào đường phân chia hai khu vực tập kết và việc thực hiện những thảo thuận chung. Lúc đầu, ông Phạm Văn Đồng đòi đường phân chia phải ở vĩ tuyến 13 trong khi Pháp muốn đường này ở ngay phía Nam đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Để giám sát Hiệp định, đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn trong nước giám sát nhưng Pháp (với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ) yêu cầu phải thành lập Uỷ ban Giám sát quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc.

Trong khi hai phái đoàn Pháp và Việt Nam tranh cãi về chi tiết, Chu Ân Lai về Bắc Kinh tham khảo ý kiến của Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo chính phủ khác. Trên đường về, ông dừng chân tại Ấn Độ, ông yêu cầu Thủ tướng Gia-oa-hắc-la Nê-ru ủng hộ lập trường của Trung Quốc tại bàn Hội nghị. Để giảm bớt lo lắng của Nê-ru về khả năng toàn bộ Đông Dương sẽ sớm rơi vào tay Cộng Sản (và do vậy rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc), Chu Ân Lai hứa rằng toàn bộ quân Việt Minh sẽ rút khỏi Lào và Cam-pu-chi-a, và hai nước này sẽ có chính phủ độc lập do họ tự chọn. Về tình hình Việt Nam, ông bảo đảm với các nhà lãnh đạo Ấn Độ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng bất kỳ thoả thuận nào chia cắt Việt Nam thành hai miền, ông tuyên bố thêm rằng chủ nghĩa xã hội không phải để “xuất khẩu”. Trong một thông báo đưa ra sau một loạt các cuộc gặp gỡ, hai nhà lãnh đạo đã khẳng định ủng hộ khái niệm năm nguyên tắc chung sống hoà bình và coi năm nguyên tắc này là cơ sở thích hợp cho quan hệ quốc tế ở châu Á và thế giới.

Dừng chân ngắn ở Răng-gun, ông đã thảo luận với Thủ tướng Miến Điện, ông U Nu. Sau đó ông Chu Ân Lai về Bắc Kinh và đi thẳng đến Lôi Châu, nơi đã từng là đại bản doanh của Trương Phát Khuê ở Nam Trung Quốc. Ở Lôi Châu, ông gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Cuộc gặp này không được mấy ai chú ý. Một tuyên bố báo chí sauđó của Tân Hoa Xã chỉ nói rằng “Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tich Hồ Chí Minh đã trao đổi toàn bộ ý kiến về Hội nghị Giơ-ne-vơ, vấn đề khôi phục hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan”. Tuy nhiên, một nguồn tin Trung Quốc gần đây cho biết ông Chu đã thuyết phục được ông Hồ thấy sự cần thiết phải có một giải pháp thoả hiệp ở Giơ-ne-vơ để tránh can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Hai vị lãnh tụ đã thoả thuận chấp nhận vĩ tuyến 16 làm đường phân giới giữa hai khu tập kết. Hai vị lãnh tụ cũng thoả thuận chấp nhận việc thành lập chính phủ không cộng sản ở Lào và Cam-pu-chi-a, với điều kiện Pa-thét Lào cũng có một khu vực tập kết nhỏ. Ông Hồ cũng đồng ý đưa ra tuyên bố chung nói rằng ba nước Đông Dương sẽ tuân thủ năm nguyên tắc cùng chung sống hoà bình. Để đổi lại, Chu Ân Lai hứa Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong những hiệp định viện trợ ký tại Bắc Kinh ngày 7 tháng 7, Trung Quốc cam kết tăng thêm viện trợ thương mại và kinh tế. Những nguồn tin chính thức ở Việt Nam chỉ đưa tin cụt lủn về kết quả cuộc gặp. Báo Nhân dân của Đảng ghi nhận một cách không rõ ràng rằng “việc khôi phục hoà bình ở Đông Dương không thể chỉ do một bên quyết định”

Sau những cuộc tham khảo ý kiến ngắn ở Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ trong khi các đại biểu đang giải quyết nốt những vẫn đề tồn đọng, hiệp định đã được ký kết ngày 21 tháng 07 năm 1954. Một Uỷ ban Quốc tế sẽ giám sát Hiệp định. Uỷ ban này bao gồm Ấn Độ, Ca-na-da và Ba Lan. Một tuyên bố chính trị không mang tính ràng buộc kêu gọi chính quyền ở hai khu vực tập kết tiến hành hiệp thương và tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước hai năm sau. Điểm khó khăn cuối cùng là thảo thuận thiết lập đường phân giới giữa hai khu vực tập kết tại vĩ tuyến 17. Khi Phạm Văn Đồng có vẻ chần chừ không chấp nhận nhượng bộ, ông Chu lập luận rằng cho phép Thủ tướng Pháp, ông Pi-e Men-đéc-xơ Phơ-ran-xơ, giữ thể diện của mình là giá nhỏ phải trả cho việc quân Pháp rút. Ông Chu còn nói “Khi quân Pháp rút hoàn toàn, toàn bộ Việt Nam là của các bạn”.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông thì có những tiến triển bất lợi ngay sau khi Hội nghị kết thúc. Chính quyền Ai-xen-hao đã lo ngại theo dõi đàm phán tại Giơ-ne-vơ và quyết định không chấp nhận các điều kiện của Hiệp định trừ khi ít nhất một phần của Việt Nam vẫn an toàn. Vì điều khoản về thống nhất hoàn toàn đất nước thông qua tuyển cử tổ chức năm 1956 mở ra khả năng cộng sản thắng lợi hoàn toàn, Oa-sinh-tơn cho thấy là sẽ không đồng tình với tuyên bố chính trị và sẽ không cam kết ủng hộ Hiệp định Giơ-ne-vơ. Phái đoàn của Bảo Đại cũng làm như vậy và không chịu chấp thuận tuyên bố chính trị, lập luận rằng quyết định chia cắt đất nước là của một nước lớn thuộc địa chứ không phải là nguyện vọng của nhân dân. Một vài ngày sau khi hội nghị kết thúc, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét thông báo tại một cuộc họp báo rằng Mỹ sẽ gây dựng sự phát triển của một nhà nước không cộng sản ở Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chi-a. Tuyên bố này tuyệt nhiên không hề là dấu hiệu tốt lành cho cuộc tổng tuyển cử trong tương lai.

Nhiều nhà quan sát tại hội nghị đã nhận thấy thái độ cay cú của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước việc Trung Quốc và Liên Xô phản bội lợi ích của mình. Nhớ lại điều này, Vương Bình Nam, một nhà ngoại giao Trung Quốc sau này nói rằng một số đại biểu “hy vọng sẽ thống nhất Việt Nam được ngay”.

Thái độ cay cú này rõ ràng không chỉ là thái độ của đoàn đại biểu Việt Nam mà còn thể hiện ở trong nước Việt Nam. Tình hình này rõ ràng nghiêm trọng đến mức Hồ Chí Minh cũng bắt đầu chú ý. Trong báo cáo chính trị cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vài ngày trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ông Hồ viết:

“Mốt số người say sưa với thắng lợi liên tục của chúng ta, muốn tiếp tục chiến đấu đến cùng với bất kỳ giá nào; họ chỉ thấy cây mà không thấy rừng; tập trung vào việc quân Pháp rút, họ không thấy âm mưu của chúng; họ thấy Pháp nhưng không thấy Mỹ; họ thiên về hành động quân sự và coi nhẹ ngoại giao. Họ không biết rằng chúng ta đang đấu tranh tại các hội nghị quốc tế cũng như tại chiến trường để đạt được mục tiêu”.

Hồ Chí Minh tranh luận với những người “muốn có kết quả nhanh, không biết rằng cuộc đấu tranh giành hoà bình là khó khăn và phức tạp.” Điều họ không thấy là ba nước đã có những bước tiến lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho các nước Đông Dương. Tuy nhiên, bây giờ cần có một chiến lược, vì quân Mỹ đã kiên quyết phá hoại khả năng hoà bình can thiệp và biện hộ cho xung đột ở Đông Dương. Do hoàn cảnh mới, khẩu hiệu hiệu cũ “Kháng chiến đến cùng” phải được thay thế bằng khẩu hiệu “Hoà bình, đoàn kết, độc lập, dân chủ”. Một chính sách như vậy góp phần cô lập Hoa Kỳ (nay trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương) trên trường quốc tế và đánh bại âm mưu thâm độc của chúng.

Hồ Chí Minh công nhận rằng giá phải trả cho hoà bình là sự chia cắt đất nước, Ông nhất mực cho rằng việc thiết lập khu vực tập kết không có nghĩa là đất nước bị chia cắt vĩnh viễn mà chỉ là tạm thời.

Do việc hoạch định và trao đổi vùng, một số vùng tự do trước đây sẽ bị địch tạm chiếm; nhân dân sẽ không bằng lòng; một số người sẽ chán nản và bị địch lừa bịp. Chúng ta phải làm cho đồng bào rõ là thử thách họ sẽ trải qua là vì lợi ích toàn đất nước, vì lợi ích lâu dài của chúng ta và sẽ là một sự nghiệp vinh quang mà cả nước đều biết ơn.

Hồ Chí Minh hứa rằng, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự ủng hộ của các dân tộc trên thế giới , độc lập hoàn toàn và đoàn kết dân tộc chắc chắn sẽ đạt được.

Kêu gọi cộng sự của mình trong Đảng chấp nhận một giải pháp thông qua đàm phán về thực chất không phải là chiến thắng hoàn toàn, Hồ Chí Minh chắc chắn đã nghe theo lời khuyên của Chu Ân Lai. Ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Hồ chấp nhận một giải pháp như vậy trong cuộc gặp gỡ ở Lôi Châu trước đó vài ngày. Tuy vậy, thái độ sẵn sàng chấp nhận hoà bình trong nhân nhượng trên đường đến thắng lợi cuối cùng làm chúng ta nhớ lại cách giải quyết vấn đề của ông trong những dịp trước đó, đặc biệt là vào cuối chiến tranh Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh nhận thấy rằng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước không thể đạt được một cách riêng rẽ, nhưng phải đạt được trong bối cảnh những thay đổi phức tạp diễn ra trên trường quốc tế.

(hết chương XIII)

Tags: 257:hồchíminh-mộtcuộcđời(chươngxiii)

Monday May 12, 2008 – 11:27pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
– Trang 253:HỒ CHÍ MINH – MỘT CUỘC ĐỜI (chương XIII)
– Tags: 253:hồchíminh-mộtcuộcđời(chươngxiii)


“Con đường bác đi là bi đát” !! Chỉ có lợi cho nhóm nhỏ của tập đoàn thống trị cs, cs quốc tế LX, TQ và ngoại bang.
Các cường quốc LX, TC, Mỹ … cũng phải bảo vệ quyền lợi của nước họ trước tiên ! Trong đó có TC, LX muốn bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ qua cái gọi là cncs với đảng thừa sai là đcs từng nước, dùng người cs bản xứ cai trị người bản xứ , che mắt người dân và quốc tế.
Toàn dân VN đã thua nặng nề !
Công bằng, độc lập tự do, … dân chủ, văn minh, hạnh phúc, là những chiếc bánh vẽ lừa bịp, chỉ có cho 1 nhóm nhỏ quyền lực ! Tuy nhiên, nhóm nhỏ này lại dựa vào/nô lệ ngoại bang để được bảo vệ quyền lực, đặc quyền đặc lợi !
Viễn kiến ? lúc nào cũng phải dựa vào nội lực toàn dân làm căn bản  ?  biết sức và khả năng để giảm lệ thuộc vào ngoại bang ?  thấy rõ hướng đi của thế giới, văn minh nhân loại ??
“Đuổi hổ cửa trước, rước voi cửa sau về giày mả tổ !!”
Đcsvn và nhân dân VN là 2 thực thể khác biệt ! Đcsvn không là đại diện truyền kiếp của nhân dân VN !

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: