Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 28, 2008

CỘNG SẢN VIỆT NAM (CSVN) VÀ LẠM PHÁT 2008

Filed under: GDP, lạm phát, bội chi, tăng trưởng — tudo @ 9:00 am

Bài viết nầy được cô đọng trong phạm vi tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến lạm phát tại Việt Nam nhất là trong những tháng đầu năm 2008 cùng những dẫn chứng trong quá khứ CSVN đã kết thúc lạm phát như thế nào. Sự liên quan giữa lạm phát và chính sách Tiền Tệ, Tài Chánh, Kinh Tế cũng sẽ được đề cập đến vì các chính sách nầy đóng vai trò quan trọng trong việc kiềm chế và ổn định lạm phát.

 Cơn sốt kinh tế và mức sinh hoạt thấp trong những năm qua Việt Nam đã thu hút một số lớn vốn đầu tư từ ngoại quốc phỏng chừng 14 tỷ USD trong năm 2007. Song song với sự phồn thịnh đó giá cả hàng hóa và các nhu yếu phẩm trong nước cũng tăng theo, cao nhất là gạo với 15.98% vào tháng 10/07. Đây là một vấn nạn cho Việt Nam trong đó giai cấp dân nghèo bị thiệt thòi nhất. Theo Thời Báo Kinh Tế CSVN ngày 3/12/07 sở Thống Kê cho biết  tỷ lệ lạm phát trong năm tính đến tháng 11/07 là 9.45% và giá thực phẩm đã tăng đến 13.94% trong khi mức phát triển kinh tế cùng thời gian là 8.16%. Cho đến cuối tháng 2/08 giá thực phẩm nhảy vọt lên 25.2%, giá nhà và vật liệu xây cất 16.4%. Cùng thời gian nầy tỷ lệ lạm phát đã gia tăng 14.1% trong tháng 1/08 và 15.72% trong tháng 2/08, đạt mức kỷ lục trong gần thập niên trong khi Hà Nội dự đoán mức tăng trưởng kinh tế có thể đạt đến 12.5% trong năm nay.

 Bây giờ là tháng 4/08 tỷ lệ lạm phát lại gia tăng 21.4%, đẩy giá thực phẩm lên 38.2% nhà ở và vật liệu xây cất 22.6% trong khi các quốc gia trong vùng vẫn có thể duy trì lạm phát ở mức lý tưởng. Với tốc độ nhảy vọt nhanh nhất kể từ 1992 một phần cũng do giá cả thực phẩm toàn cầu gia tăng. Riêng Việt Nam từ sau Tết Nguyên Đán nhu yếu phẩm nhất là thực phẩm gia tăng trung bình từ 20% – 30% trong khi số lượng thịt, rau, trái cây dự trữ được ghi nhận ở mức thấp nhất, rất có thể đưa đến nạn thiếu thực phẩm. Đây không hẵn là tình trạng kinh tế suy thoái, mà là lạm phát nhất thời không thể kiềm chế.

Cách tính chỉ số tiêu thụ CPI (Consumer Price Index)

 Hãy tìm hiểu cách thức thống kê của Úc, một quốc gia phát triển với dân số 22 triệu để từ đó có thể so sánh với cách tính lạm phát của Việt Nam, một nền kinh tế “Bán thân bất toại” với dân số 85 triệu chúng ta sẽ tìm thấy sự phức tạp của những con số thống kê. 

 Lạm phát Úc được đo lường bằng phương thức ứng dụng phức tạp của toán kinh tế. Cách đo lường cần phải so sánh giá thị trường và giá trị thực của hàng hóa trong cùng thời điểm một cách khách quan. Chỉ số giá tiêu thụ CPI là một phương thức đo lường lạm phát tổng quát áp dụng cho giới tiêu thụ Úc, xin nêu một vài thí dụ cho dễ hiểu:

 Giả sử năm 2006 mua một số hàng hóa với giá                    $100

Cùng số hàng hóa, năm 2007 tăng 3.5% giá mua sẽ là          $103.5

Sang năm 2008 nếu tăng 4% giá mua sẽ là                              $104

 Những con số trên gọi là chỉ số giá tiêu thụ.

 Năm 2006                 100.00

Năm 2007                 103.50                      

Năm 2008                 104.00                      

 Đối với Úc kể từ tháng 9/2000 về sau số hàng hóa căn bản để tính chỉ số lạm phát được chi ra 11 nhóm chính gồm: thức ăn, rượu và thuốc lá, quần áo và giầy dép, nhà ở, trang bị và các dịch vụ cho gia đình, y tế, phương tiện chuyên chở, viễn thông, giải trí, giáo dục và linh tinh. Các nhóm nầy lại được chia ra 34 nhóm phụ và xếp thành 89 hạng chi tiêu khác nhau. Bản thống kê về lạm phát được tính cho từng hạng chi tiêu trên sáu thành phố chính cộng thêm Canberra và Darwin. Riêng bản thống kê lạm phát quốc gia mà chúng ta thường nghe đến được tính trên mức lạm phát trung bình của 8 thành phố lớn và cứ 3 tháng ấn hành một lần; tháng 3, tháng 6, tháng 9 và tháng 12. Cho đến tháng 4/08 chỉ số lạm phát là 4% trong khi ngân hàng Trung Ương RBA (Reserve Bank of Australia) ấn định mức lạm phát trung bình hàng năm từ 2% đến 3% vì họ cho là thích hợp nhất dựa trên dữ kiện thống kê trong nhiều thập niên.

 Theo sở Thống Kê Việt Nam chỉ số lạm phát được tính cùng công thức áp dụng cho các cường quốc kỹ nghệ trên thế giới. Chỉ số lạm phát CPI Việt Nam được tính bằng phần trăm % căn cứ trên sự thay đổi giá cả một số nhu yếu phẩm tiêu biểu cứ mỗi 3 tháng 1 lần, hiện nay là 21.4%. Khi mức lạm phát tăng lên 50% hay cao hơn trong một tháng, nền kinh tế quốc gia có thể đi đến phá sản. Những con số thống kê do CSVN đưa ra không thể chính xác vì luôn mang màu sắc chính trị. Cho dù vài thập niên nữa Việt Nam cũng sẽ không thể đào tạo đầy đủ chuyên viên để có thể thiết lập và điều hành một trung tâm thống kê độc lập và hữu hiệu.

 Lạm phát và nguyên nhân

 Trong bất kỳ nền kinh tế nào, lạm phát là sự gia tăng vật giá trên thị trường làm giảm sức mạnh mua sắm của đồng tiền. Tùy theo kiến thức và am tường lý thuyết kinh tế nhất là tình hình kinh tế Việt Nam, nguyên nhân gây ra lạm phát có thể giải thích không cùng và ở nhiều trình độ khác nhau. Nhưng câu trả lời hiển nhiên nhất, theo nền kinh tế hiện thời lạm phát là do ảnh hưởng của việc cung cấp quá nhiều tiền tệ vào nền kinh tế, mức sản xuất và lãi suất mà ra. Nhìn chung lạm phát có thể theo hai khuynh hướng; do ảnh hưởng của chính sách tiền tệ (Monetary policy) chế ngự những yếu tố khác, hoặc như đã đề cập ở phần trên là do ảnh hưởng từ việc cung cấp tiền tệ vào nền kinh tế đến tổng sản lượng quốc gia và lãi suất trong thời điểm đó. Dĩ nhiên câu trả lời trên cũng không mang đầy đủ ý nghĩa là vì chúng ta mở ngõ cho câu hỏi kế tiếp: Vì sao ngân hàng Trung Ương CSVN lại chọn in nhiều tiền trong khi nền kinh tế đang bị lạm phát tàn phá? Để câu trả lời mang ý nghĩa trọn vẹn, ta cần phải trở lại nguyên tắc căn bản của nền kinh tế quốc gia (Macroeconomics); từ chính sách tiền tệ (Monetary policy) đến chính sách tài chánh (Fiscal policy) của CSVN.

 Chính sách tiền tệ

 Theo lý thuyết do ngân hàng Trung Ương CSVN điều hành với nhiệm vụ cung cấp và quản trị tiền tệ nhằm ổn định tiền tệ quốc gia, duy trì công ăn việc làm ở mức cao nhất, kiến tạo nền kinh tế thịnh vượng và mang phúc lợi đến cho dân chúng. Để thực hiện những điều trên, Thủ Tướng chính phủ chỉ thị ngân hàng Trung Ương CSVN cần kiềm chế mức lạm phát trong giới hạn cho phép từ 6.5%-8.5% cho năm 2007 và 7%-8% cho năm 2008  với hy vọng luôn dưới mức tăng trưởng kinh tế. Mặt khác cần phải duy trì hối suất ở mức thích hợp nhất, ấn định ngân sách dự trữ và phát triển kinh tế. Khi nói đến chính sách Tiền Tệ CSVN thường đề cập đến chính sách “Mở rộng” và “Thu hẹp” đó là hai phương thức dùng điều chỉnh lãi suất, mức lạm phát và hối suất hữu hiệu nhất. “Mở rộng” là gia tăng số lượng tiền cung cấp vào nền kinh tế và “Thu hẹp” là giảm bớt số lượng tiền cung cấp.

 In tiền (Seigniorage)

 Để bù vào ngân sách chi tiêu thâm hụt CSVN chỉ còn cách duy nhất là in tiền. Tiền in  càng nhiều, lạm phát sẽ gia tăng càng nhanh. Khi mức lạm phát trên đà tăng nhanh chính sách tài chánh sẽ càng phức tạp và ngân sách chi tiêu càng thâm hụt trầm trọng. Bọn nhũng loạn CSVN sẽ gây thêm trì hoãn, thất thu số thuế dự trù trong lúc lạm phát đang gia tăng. Trong tình trạng nầy CSVN sẽ phải tùy thuộc vào lợi tức nhất thời là in tiền. Ngân sách đã thâm hụt ngày càng tồi tệ vì đồng tiền đã mất giá lại càng mất giá thêm, chừng đó CSVN sẽ bị thúc bách in càng nhiều tiền hơn.

 Theo thống kê ABS (Australian Bureau of Statistics) tháng 12/2003 sở in tiền thuộc ngân hàng Trung Ương Úc bắt đầu in tiền cho CSVN loại 50 Đồng bằng giấy nhựa Polymer. Gần đây CSVN thương lượng với chính phủ Úc cung cấp dụng cụ và kỹ thuật để in tại Việt Nam. Hiện giờ không ai có thể biết chính xác CSVN in ra bao nhiêu tiền mỗi năm.

 Kiểm soát và đo lường lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế

 CSVN đi theo chính sách kinh tế như các quốc gia phát triển, nhất là Mỹ, một chính sách kinh tế mở ngõ (Open economy), giao thương tự do trên thị trường quốc tế. Trên hình thức, các cấu trúc kinh tế, tiền tệ, tài chánh CSVN đều có, danh xưng nào cũng dùng, việc gì cũng nói, thống kê nào cũng hoàn hảo đạt chỉ tiêu. Tuy nhiên tất cả chỉ phỏng định hay phóng đại, bắt chước nhưng không hiểu. Theo VNEconomy tháng 3 / 08 CSVN ra lệnh thắt chặt tiền tệ, gồm hạn chế lượng tiền lưu thông M2 (Thay vì lưu hành). Khi nói đến chính sách tài chánh, có đề cập đến “Tỉ trọng tài sản cố định và đầu tư tài chánh” (Thay vì tỷ lệ). Đến đây chúng tôi đành chào thua, chữ nghĩa các nhà kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa như thế nầy có lẽ không khá. Trở lại vấn đề thắt chặt tiền tệ, hạn chế lượng tiền lưu hành trong nước CSVN cần phải hiểu và áp dụng những nguyên tắc kinh tế căn bản sau đây:

 Kiểm soát số lượng tiền

 Kiểm soát số lượng tiền lưu hành trong nước bằng 2 cách: bán và mua công khố phiếu. Khi ngân hàng trung ương muốn giảm lượng tiền, bán công khố phiếu cho dân chúng để thu tiền vào. Ngược lại khi muốn tăng lượng tiền, mua lại công khố phiếu từ dân chúng và đây là cách tăng thêm lượng tiền vào nền kinh tế. Thực tế khi CSVN phát hành công khố phiếu rất ít người mua nên không thể kiểm soát được số lượng tiền lưu hành trong nước.

 Đo lường số lượng tiền

 Dù cho các nước văn minh với hệ thống thống kê hoàn hảo cũng không thể đo lường số lượng tiền tệ chính xác nhưng rất tương đối bằng cách lấy tổng số tiền lưu hành trong ngày cộng (+) với tổng số tiền gởi vào các ngân hàng, cộng (+) giá trị cổ phần và các quỹ hưu bổng. Ngoài ra số tiền mặt trong túi không thể ước lượng được. Xã hội Việt Nam ngày nay hầu hết dân chúng giữ vàng, các ngoại tệ giá trị và tiền mặt trong túi. Các ngân hàng, siêu thị, bán sỉ, lẻ đều chưa có hệ thống Internet nối kết với sở Thống Kê Trung Ương nên không thể đo lường được số lượng tiền tệ trong ngày. Như đã không thể kiểm soát và đo lường được số lượng tiền lưu hành trong ngày thì không thể hạn chế số lượng tiền lưu hành trong nước.

 Ảnh hưởng của đồng tiền

 Phần trên chúng ta đã có khái niện về cách thức kiểm soát và đo lường số lượng tiền, có lẽ CSVN còn lâu lắm mới có thể hiểu các khái niệm nầy. Lạm phát trong bất kỳ quốc gia nào đều bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố chính: khả năng sản xuất quyết định tổng sản lượng đích thực quốc nội (Real GDP), số lượng tiền tệ cung cấp trong nền kinh tế quyết định giá cả thị trường tổng sản lượng quốc nội, và lạm phát là tỷ số giá trị thị trường và gía trị đích thực tổng sản lượng quốc nội.

 Từ những yếu tố trên chúng ta có thể kết luận: nếu giữ quân bình và ổn định số lượng tiền tệ cung cấp, vật giá thị trường sẽ ổn định. Nếu cung cấp số lượng tiền lớn vào nền kinh tế, vật giá sẽ nhảy vọt nhanh, hay nói cách khác là lạm phát. Việt Nam là một quốc gia độc đảng nên Ngân Hàng Trung Ương cũng do đảng CSVN lãnh đạo. Dù cho Ngân Hàng Trung Ương độc lập với chính phủ, nhưng dưới sự lãnh đạo của bọn thất học cũng sẽ không khá hơn.

 Chính sách tài chánh

 Bất cứ quốc gia nào cũng có 3 nguồn lợi tức chính: các loại thuế gồm thuế cá nhân và công ty, bán công khố phiếu cho dân chúng, và sau cùng là in tiền. Công nhân bị bốc lột với đồng lương chết đói không thuế, giới tư bản hối lộ trốn thuế, quan chức CSVN bản chất tham nhũng, gian lận thu thuế bỏ túi gây lũng đoạn ngân sách quốc gia. Công khố phiếu không hấp dẫn dân chúng nên đành dồn cho các ngân hàng quốc doanh. Sau cùng phải in tiền để bù vào ngân sách chi tiêu.  Thực tế bất kỳ quốc gia nào cũng in tiền, trung bình Hoa Kỳ chỉ in một số lượng nhỏ chỉ bằng 3% lợi tức quốc gia trong khi Ý, Hy Lạp in trên 10%. Các quốc gia có mức lạm phát nhanh như Việt Nam thường lấy việc in tiền làm nguồn lợi tức chính như hiện nay.

 Theo sở Thống Kê, kinh tế Việt Nam tăng trưởng ngoài mức dự trù gây thâm hụt cán cân mậu dịch vì số lượng hàng hóa nhập cảng gia tăng. Chỉ trong 2 tháng đầu năm 2008 ngân sách thâm hụt $4.2 tỷ USD, so với $12.4 tỷ USD cho trọn năm 2007. Thêm vào đó số vốn đầu tư ngoại quốc ồ ạt đổ vào Việt Nam và hậu quả là làm tăng thêm số lượng tiền cung cấp. Cho dù Việt Nam đang được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF hường dẫn cũng không có khả năng để có thể đương đầu với những thử thách kinh tế có tính chất chuyên môn nầy.

 Cơn bệnh lạm phát trầm kha của CSVN khởi đầu từ việc thu thuế. Ngân sách thuế nói chung không đủ cung ứng cho nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Trường hợp nầy CSVN đành phải chấp nhận một ngân sách thâm hụt (Deficit) bằng cách phát hành công khố phiếu (Bonds), một hình thức vay nợ từ dân chúng. Tháng 3/2008 ngân hàng Trung Ương đã phát hành 20,300 tỷ ĐVN công khố phiếu (VNEconomy 3/08 ) dĩ nhiên dân chúng sẽ không mấy người mua và số công khố phiều nầy đang nằm tại các ngân hàng quốc doanh. Lý do là vì lạm phát đang tăng nhanh, 15.72% so với cùng thời gian năm rồi trong khi tiền lời công khố phiếu chỉ từ 9% – 10%. Chỉ số lạm phát cao, mức lời đầu tư thấp rất có cơ may thua lỗ. Hơn nữa theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế Giới, CSVN được liệt kê vào loại trì hoãn, khất nợ tồi tệ mất uy tín.

 Phát hành công khố phiếu (Bonds), thử tính lời lỗ

 Công khố phiếu do nhà cầm quyền CSVN phát hành tương tự như các quốc gia phát triển trên thế giới, là một hình thức vay nợ từ dân chúng. Có 2 loại công khố phiếu: tiền lời trả 6 tháng 1 lần, 2 lần trong năm (Coupon paying bonds) hoặc tiền lời và vốn chỉ trả khi đáo hạn (Zero coupon bonds). Công khố phiếu có thể ngắn hạn từ 90 ngày và dài hạn từ 5 đến 10 hoặc có thể dài hạn hơn.

 Thí dụ đơn giản

 Đầu tư 10,000,000 ĐVN cho 5 năm, lãi suất chưa trừ lạm phát (Nominal rate) 10% hàng năm, tiền lời trả 6 tháng 1 lần, 2 lần trong năm chúng ta có:

 Lãi suất 6 tháng = 10%: 2 = 5%

Lời 6 tháng = $10,000,000 x 5% = 500,000

Đến lúc đáo hạn sẽ là $10,000,000 + (500,000 x 10) = 15,000,000 chưa tính đến lạm phát.

 Bất kỳ kế hoạch đầu tư nào cũng không thể tuyệt đối an toàn, có lời hay lỗ, dù là công khố phiếu do nhà nước CSVN phát hành cũng không ngoại lệ. Thứ nhất về lãi suất, nếu cần phải bán ra trước khi đáo hạn lúc lãi suất thị trường tiền tệ lên cao sẽ bị lỗ vốn và nếu lãi suất hạ thấp sẽ có lời. Thứ nhì CSVN có thể tham nhũng, dùng tiền vốn đầu tư thất bại, thua lỗ đưa đến trì hoãn hay quỵt nợ. Thứ ba là ảnh hưởng của lạm phát, và đây là điều quan trọng cần đề cập tới. Lãi suất đầu tư hiện tại 10% chưa nói đến lạm phát 15.72% như hiện nay. Giả sử mức lạm phát trung bình cho 5 năm tới là 12%, thử tính nếu mua công khố phiếu có lời hay lỗ?

 Khi đầu tư cần phải nghĩ đến lãi suất thật (Real rate of return) có nghĩa là lấy lãi suất đầu tư trừ (-) cho chỉ số lạm phát. Hãy áp dụng phương trình “Fisher effect” như sau:

 (1+y) = (1+p) (1+ r)

 Cho y = Lãi suất đầu tư 10%

Cho p = Mức lạm phát trong tương lai, và

Cho  r = Mức lời % thực sự sau lạm phát

 Chuyển vế tìm (r) chúng ta có: r =  … hay r = -1.7857% hàng năm.

Theo phương trình trên khi mua công khố phiếu với điều kiện hiện tại sẽ bị lỗ vốn 1.7857% hàng năm, như vậy không có lợi.

Kết thúc lạm phát

 Kết thúc của vấn nạn lạm phát Viêt Nam sẽ là một hậu quả mất mát đau thương vì sẽ luôn song hành với sự cải cách chính sách tài chánh là in tiền mới và đổi tiền cũ. Một khi hậu quả của lạm phát trở nên hiển nhiên không thể chống chế, vì bản năng tồn tại và áp lực chính trị quốc tế CSVN sẽ phải giảm thiểu mức chi tiêu nhưng mặt khác lại gia tăng thu thuế để bù lại. Mặc cho dân chúng khốn cùng, những biện pháp cải tổ chính sách tài chánh sẽ làm giảm đi việc in tiền, từ đó đồng tiền lưu hành trong nền kinh tế cũng đồng thời giảm theo.

 Lạm phát luôn là một hiện tượng tiền tệ có thể xẩy ra trên mọi quốc gia và trong mọi thời điểm, và sự kết thúc của lạm phát cũng sẽ là một hiện tượng của chính sách tài chánh. Đối với CSVN không có chính sách nào ích nước lợi dân mà chỉ nhằm vào việc phục vụ đảng và cá nhân, đất nước nghèo vẫn nghèo và dân chúng đã khổ lại càng khổ hơn.

 Những dẫn chứng thay đổi trong chính sách tiền tệ và tài chánh của CSVN

 Đa số những bậc cao niên có lẽ vẫn chưa quên CSVN đã từng in tiền và đổi tiền nhiều lần. Từ khi đất nước chia đôi năm 1954 CSVN in loại tiền riêng cho miền Bắc, cứ mỗi 32 Đồng tương đương với 1 Đồng Đông Dương mà trước kia lưu hành cả hai miền Nam Bắc. Cũng vào thời điểm đó mỗi 1,120 Đồng CSVN bằng 1 Dollar Mỹ. Cho đến tháng 4/1958 Đồng CSVN bị phá giá vì kinh tế suy sụp tồi tệ, biện pháp nguy hiểm nhất về kinh tế được mang ra áp dụng; in thêm tiền để chi tiêu, gần giống như tình trang hiện nay. Khủng hoãng kinh tế trở nên trầm trọng, lạm phát gia tăng nhanh, vào thời điểm đó cứ 3,591 Đồng CSVN bằng 1 Dollar Mỹ tính theo hối suất trao đổi quốc tế.

 Chỉ trong 3 năm 9 tháng từ khi đất nước chia đôi, đồng CSVN mất giá đến 320%. Kinh tế kiệt quệ CSVN phải đi nước cờ liều, chính phủ ra sắc lệnh đổi tiền, ngày 28/2/1959 dân chúng miền Bắc đã khổ vì nghèo đói lại phải đổi 1,000 Đồng cũ đế lấy 1 Đồng mới, đã khổ lại càng khổ hơn. CSVN luôn âm mưu xâm chiếm miền Nam bất chấp hiệp định Geneve; xâm lược miền Nam, chiếm đoạt tài sản và dùng kinh tế miền Nam để ổn định miền Bắc, đó là một trong những tham vọng chính do Hồ Chí Minh và đảng CSVN mưu toan xâm chiếm miền Nam.

 Cho đến 30/4/1975 với một quân đội bạo tàn và viện trợ quận sự dồi dào của khối CS quốc tế, CSVN đã trọn vẹn cưỡng chiếm miền Nam. Trong thời gian nầy Đồng bạc của miền Nam vẫn còn lưu hành trong lãnh thổ miền Nam, song song với Đồng miền Bắc lưu hành phía bên kia vĩ tuyến 17.

 Đổi tiền lần thứ nhất ở miền Nam, ngày 22/9/75 CSVN ra sắc lệnh đổi tiền, 500 Đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy 1 Đồng miền Nam VN mới do ngân hàng CSVN phát hành. Mãi cho đến 2/7/76 hai miền Nam-Bắc VN chính thức thống nhất cùng một danh xưng “Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam”. Vào thời gian nầy Đồng miền Bắc và Nam vẫn còn song song lưu hành, tiền miền Nam và Bắc lấy thành phố Huế và Đà Nẵng làm biên giới, và 80 xu miền Nam trị giá bằng 1 Đồng miền Bắc.

 Ngày 3/5/1978 CSVN cho phát hành một loại tiền mới để thống nhất tiền tệ giữa Nam  Bắc và đồng tiền nầy được lưu hành cho đến tháng 9/1985. Lần phát hành loại tiền mới nầy, đồng tiền cũ không bị mất giá như lần đổi tiền ngày 22/9/1975 (500 đồng VNCH đổi lấy 1 đồng mới). CSVN áp dụng chính sách hối suất thả nổi theo đồng Dollar Mỹ vì đồng Dollar Mỹ là một trong ba loại tiền căn bản gồm đồng Yen của Nhật và Euro của khối liên hiệp Âu Châu, được hầu hết các quốc gia trên thế giới chấp nhận.

 Ngày 15/9/1985 CSVN cho phát hành loại tiền mới và ra lệnh đổi tiền, cứ 10 Đồng CSVN cũ đổi lấy 1 Đồng CSVN mới. Tính ra 10 năm sau khi CS cưỡng chiếm miền Nam, đồng tiền VNCH bị mất giá 5,000 lần. Phần trên là những dẫn chứng về chính sách tài chánh vừa nguy hiểm vừa tồi tệ của CSVN; việc gì chúng cũng có thể làm bất chấp an nguy hay phúc lợi của dân chúng. Có bao giờ CSVN sẽ đổi tiền một lần nữa?

 CSVN không thể học đòi chính sách kinh tế các cường quốc

 Chính sách kinh tế CSVN đang áp dụng do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB hướng dẫn theo mô hình kinh tế Hoa Kỳ, một nền kinh tế hùng mạnh và thành công. Dĩ nhiên người thi ân hay chủ nợ luôn muốn kẻ thừa hưởng hay con nợ vâng theo lệnh mình. Đó cũng là lẽ công bằng theo suy nghĩ của kẻ mạnh. Tuy nhiên CSVN không thể áp dụng thành công chính sách kinh tế của Hoa Kỳ như cộng đồng quốc tế kỳ vọng.

 Trước nhất chúng ta hãy so sánh kinh tế CSVN với Mỹ, Úc, Nhật, Nam Hàn và Cuba để có khái niệm về vị thế kinh tế CSVN trong năm qua.

 

GDP

Mỹ

Úc

Nhật

Nam Hàn

    Cuba

Việtnam

PPP

13.86 Tril

766.8 Bil

3.346 Tril

1,206 Tril

51.11 Bil

222.5 Bil

PC

46,000

37,500

33,800

24,600

4,500

2,600

RGR

2.2%

4%

1.9%

4.9%

7%

8.5%

UR

4.6%

4.4%

4%

3.2%

1.9%

5.1%

 

GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản lượng quốc nội)

PPP: Purchasing Power Parity (Mãi lực tương đương)

PC: Per Capita (Lợi tức tính trên đầu người)

RGR: Real growth rate (Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực sự)

UR: Unemployment rate (Tỷ lệ thất nghiệp)

 Lạm phát ở các cường quốc là do nền kinh tế thịnh vượng, tỷ lệ thất nghiệp thấp, người đi làm có đồng lương vừa phải so với mức sinh hoạt và nhất là ngân sách xã hội dồi dào, từ đó việc chi xài rộng rãi nên đồng tiền dư thừa trong nền kinh tế  gây ra lạm phát. Khác với thiên đường CSVN, lạm phát là do khả năng sản xuất yếu kém đưa đến tổng sản lượng quốc nội GDP nghèo nàn và cán cân mậu dịch thâm hụt, ngược lại lấy việc in tiền để chi tiêu vì lợi tức của quốc gia bị đảng nhũng loạn biển thủ. Các nhu yếu phẩm nhất là thực phẩm không đủ cung cấp cho dân vì xuất cảng để lấy ngoại tệ. Năm qua ngân hàng Thế Giới WB đã cảnh cáo CSVN nếu không cơ giới hóa kỹ nghệ để nâng cao mức sản xuất, sẽ không thể nuôi một dân số 100 triệu trong 10 năm tới.

 Sai lầm trầm trọng của CSVN khi áp dụng biện pháp chống lạm phát bằng cách kiểm soát giá sinh hoạt và ổn định hối suất do Thủ Tướng Chính Phủ chỉ thị. Thứ nhất giá sinh hoạt không thể kiểm soát được vì tùy thuộc vào hai yếu tố chính là cung cấp và nhu cầu tiêu thụ hàng hóa. Thứ hai, với hệ thống hối suất thả nổi có kiểm soát (Managed Floating Exchange Rates) theo đó giá trị tiền tệ hoàn toàn do thị trường quyết định dựa trên hai yếu tố cung và cầu trên thị trường hối đoái. Trao đổi hàng hóa và số vốn xuất, nhập cảng là những yếu tố chính làm thay đổi hối suất. Ngược lại, hầu hết các ngân hàng Trung Ương thế giới, điển hình là Hoa Kỳ cho rằng giá sinh hoạt tự nó điều chỉnh sẽ an toàn hơn. Bản chất của lạm phát là  làm cho các nhu cầu sinh hoạt kinh tế yếu dần, và từ đó mức lạm phát cũng sẽ tự giảm theo mức sản xuất của nền kinh tế.

 Về phương diện tích cực dù không thành công nhưng ngân hàng Trung Ương CSVN cũng đã phát hành công khố phiếu nhằm giảm bớt số lượng tiền tệ lưu hành trong nước nhưng không thấy nói đến việc tăng lãi suất, một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm mức lạm phát. Mặt khác ngân hàng thương mại (Vietcombank) lại giảm lãi suất với mục đích tăng thêm số nợ cho vay, một cách gián tiếp là bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Đây là một nghịch lý về chính sách tiền tệ nhằm giảm thiểu mức lạm phát. Trong phiên họp quốc hội vừa qua, một số câu hỏi được nêu ra liên quan đến vấn đề lạm phát, Ủy ban kinh tế và ngân sách có đề nghị là không cần phải kiềm chế lạm phát. Đây là chính sách kinh tế của CSVN đã áp dụng trong nhiều năm qua.

 Các chuyên viên kinh tế ngân hàng ngoại quốc có văn phòng  ở Việt Nam trong đó có ANZ Hà Nội, đã hầu như tuyệt vọng vì cho rằng CSVN không thể giữ mức lạm phát thấp hơn mức phát triển kinh tế vào quý 4, tháng 12/07. Nếu tình trạng nầy kéo dài dân chúng và công việc làm ăn sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất.

 Mai Vĩnh Thăng

MCom  FAIBF, F Fin

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: