Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 28, 2008

Song tịch

Từ mấy tháng nay, khởi đầu với vụ Ðặng-Vũ Chính, nhà cầm quyền cộng sản tung ra một đòn mới đối với “Việt kiều » : coi họ như người song tịch, có quốc tịch nước gî không cần biết, ở trên đất Việt lâ công dân Việt tức thuộc quyền thống trị độc đoán của nhà nước như các công dân Việt Nam khác. Mục đích của biện pháp này chẳng có chi lạ : kiềm chế và tóm giữ “những phần tử phản động thừa cơ chính sách đổi mới trở về nước phá hoại chủ nghĩa xã hội », Ðồng thời thả dàn cho đàn em làm tiền lũ phản nghịch trốn nước (từ chỉ Việt kiều sau lưng). Với quyết định mới, cộng sản tin có quyền câu lưu hành hạ bất cứ “Việt kiều » nào cứng đầu bất chấp sự phản đối của các chính phủ liên can.

Như hầu hết các thủ đọan của cộng sản, biện pháp trên được đưa ra áp dụng một cách mờ ám, không kèn không trống, kèm với những tin đồn trái ngược (kiểu như :“Việt kiều lâ người nước ngoài mà, có công văn nhà nước công nhận rõ ràng như vậy, vả lại bao nhiêu người về Việt Nam có bị phiền gì đâu ?“ hoặc nếu ai giơ trường hợp Ðặng-Vũ Chính ra :  “Ðâu có chuyện đó, chắc tại ông Chính làm bậy gì đó hay thích ở lại rồi phao như vậy ! », cốt gây hoang mang trong cộng đồng Việt Nam và ngăn sự giảm món bở ngoại tệ do du khách gốc Việt mang về. Ðược nhà báo Thời Báo (số ra ngày 19/6/1997) hỏi tại sao sứ quán Viềt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn lại đóng chiếu khán trên một tờ giấy riêng mà không đóng thẳng trên thông hành của người Mỹ gốc Viềt, tòa Ðại sứ làm thinh, không dám nói ra dụng ý không muốn công nhận chính thức quốc tịch Mỹ của người xin chiếu khán.

Thật ra, ngoài thỏa ước song phương ký giữa chính quyền Ngô Ðình Diệm và chính phủ Pháp năm 1956 (bị Hà Nội bãi bỏ nhưng không thay thế, theo đó hễ ai vào dân Pháp thì bị tước quyền công dân Việt Nam), không có công văn chính thức nào ấn định quy chế của người Việt đã nhập quốc tịch khác đối với nhà cầm quyền Việt Nam. Vả lại trước 1975, ngoại trừ thiểu số dân tây, chẳng mấy ai xin làm dân nước ngoài, thành thử vấn đề không được đặt ra. Với tinh thần bài ngoại rất mạnh trong nước từ xưa tới nay, những người xin vào dân nước khác bị khinh khi nghi kỵ và bị coi như mất gốc. Thời quân chủ và thực dân họ bị chém giết tàn nhẫn ; về sau, họ chỉ bị coi là người nước ngoài, không đáng được hưởng quyền lợi của công dân Việt Nam, muốn lấy lại dân Việt họ phải chính thức từ bỏ ngoại tịch. Song tịch hoàn toàn không được chấp nhận.

Kể từ 1975, sự kiện đổi hẳn với vụ đại di tản của người Việt. Nhu cầu sinh sống bắt buộc cả triệu dân tị nạn hội nhập, trở thành dân của nước đón tiếp họ, và theo đó thành kiến coi sự vào dân nước ngoài là một hành động xấu xa lu mờ dần. Muốn mở mang đất nước, Hà Nội không thể ngơ lờ ảnh hưởng kinh tế chính trị của gần hai triệu người Việt hải ngoại mà phần lớn đã thành dân nước khác, mặc dầu đại đa số ra đi vì ghét sợ cộng sản. “Việt kiều”, từ mới có nghĩa mập mờ để chỉ họ, đâm được ve vãn, yêu cầu trở về nước đầu tư, du lịch. Nhưng dù bị kiểm soát chặt chẽ, sự có mặt trong nước của hàng vạn dân di tản trở về làm ăn hay thăm nhà không thể không có tác động ngoài ý muốn của nhà cầm quyền cộng sản. Họ có thể trừng trị các “Việt kiều » phạm pháp nhưng đối với những phần tử không có tội gì ngoài tính bất phục tùng họ khó ra tay vì vấp phải sự phản đối của quốc gia đã nhận đương sự làm dân. Lá bài song tịch được chìa ra trong bối cảnh này, bất chấp các nguyên tắc pháp lý.

Nhưng nếu song tịch là một mánh khóe để ngăn chặn sự che chở của nước ngoài đối với “Việt kiều » nhẹ dạ về nước, khí giới này cũng là một thứ dao hai lưỡi. Chẳng những nó có hiệu quả khiến người Việt di tản e bị phiền phức câu lưu sẽ ngại về Việt Nam tức sẽ không mang ngoại tệ về nữa, nếu được thực sự thi hành, nó còn cho phép những người dám về có quyền sinh hoạt hệt như công dân Việt Nam khác, kể cả sinh hoạt chính trị, một điều mà cộng sản vẫn biết là bất lợi cho Ðảng. Bởi thế nên dù tung đòn mới, Hà Nội không dám tung thẳng, chỉ muốn dùng song tịch làm dây thòng lọng bắt mấy con mồi ngang ngạnh, không muốn những con mồi khác trốn chạy hay rút kinh nghiệm đương đầu chống lại.

Song tịch hay ngoại tịch, quy chế nào cũng có cái hay cái dở, cái lợi cái hại của nó. Vấn đề quan trọng là nó phải được ấn định rõ ràng, nhà nước cộng sản không thể úp mở, nay thế này mai thế khác, coi thường quyền công dân của người Việt hải ngoại, nếu vẫn muốn có một chính sách “Việt kiều » được “Việt kiều » ủng hộ. Nếu Hà Nội tiếp tục trò nhì nhằng, nói là song tịch nhưng coi họ chẳng ra dân ngoại quốc mà cũng chẳng ra dân Việt, không ai, dù thuộc thành phần “Việt kiều yêu nước » còn muốn về chơi hoặc giúp Việt Nam để bị đối xử như người dân thứ hạng, không được chính phủ nào bảo vệ, quyền đã bấp bênh lại thêm ít hơn người quốc nội (không được tự do hành nghề, mua bán…). Không hiểu nhà cầm quyền cộng sản có ý thức điều này không hay chỉ có phản ứng thiển cận của kẻ cù nhày bất nhất, sẵn sàng làm nhục quốc thể để che chở vài tên can bộ lạm quyền tham nhũng.

Paris, 27/9/1997
Retour à DPN
——————————————————–
Liên quan:

Một người am hiểu chuyện song tịch và từng phân tích về vấn đề này trên báo chí ở Hoa Kỳ, ông Nguyễn Cần, cựu chánh án Toà Thượng Thẩm Saigon trước 1975, giải thích:
“Luật Quốc Tịch Việt Nam ngày 28 tháng Sáu 1988, tức luật cũ, và Luật Quốc Tịch Việt Nam ngày 20 tháng Năm 1998, tức luật mới, qui định người đã nhập một quốc tịch khác nhưng chưa được chủ tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cho thôi hay tước đi quốc tịch Việt Nam thì vẫn là công dân Việt Nam. Con cái của những người chưa thôi quốc tịch Việt Nam được coi là công dân Việt Nam dù sinh ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam”.
Tình Trạng Song Tịch, Một Vấn Ðề Cần Quan Tâm
Về quyền ấn định quốc tịch, ông Nguyễn Cần cho biết các quốc gia thường ấn định quốc tịch dựa vào các yếu tố sau đây: “Hoặc căn cứ vào yếu tố nơi sinh, hoặc căn cứ vào yếu tố huyết thống, hoặc cả hai yếu tố vừa nói. Có quốc gia cho thụ đắc quốc tịch do hôn thứ như Italia hay Việt Nam trước 1975 chẳng hạn”.

Vì mỗi quốc gia đều có quyền chọn lựa yếu tố để ấn định quốc tịch nên Luật Quốc Tịch của mỗi nước khác nhau, dẫn đến tình trạng một cá nhân có hai quốc tịch hoặc thậm chí có nhiều quốc tịch một lúc. Cũng có khi Luật Quốc Tịch tạo tình trạng một các nhân không có quốc tịch nào, gọi là vô quốc tịch.

Từ một thập niên trở lại đây, vì người Việt ở hải ngoại về hay trở về nước thăm gia đình, nên các cơ quan chức năng của Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại đã lưu ý công dân Mỹ gốc Việt hay công dân Gia Nã Ðại gốc Việt về vấn đề song tịch của họ.

Luật hình sự

Năm 2004, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ công bố Tờ Thông Tin Lãnh Sự, nói rõ là công dân Mỹ gốc Việt sinh ở Việt Nam, các cựu công dân Việt Nam và con cái của họ phải có chiếu khán (visa) mới được vào Việt Nam. Ðiểm quan trọng mà ông Nguyễn Cần cho biết thêm: “Ðây là trên những vấn đề hình sự, chính quyền Việt Nam đối xử với Việt Kiều như người có quốc tịch Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài cũng bị chi phối bởi các luật thiết định những nghĩa vụ đặc biệt như người trong nước, thí dụ như quân sự hay thuế khoá. Ngoài ra, công dân Mỹ gốc Việt có thể bị truy tố vì những tội đã phạm trước khi rời Việt Nam.
Mới đây Bộ Ngoại Giao Và Thương Mại Quốc Tế Gia Nã Ðại ra thông cáo cho biết Việt Nam vẫn coi người ở nước ngoài dù đã nhập quốc tịch nước đó vẫn là người Việt Nam. Thông cáo còn lưu ý là khả năng can thiệp của Toà Lãnh Sự Gia Nã Ðại đối với người Gia Nã Ðại gốc Việt về Việt Nam rất giới hạn nên họ phải thận trọng”.

Thực tế cho thấy khi áp dụng Luật Quốc Tịch Việt Nam với người nước ngoài thì đã có nhiều trường hợp rắc rối xảy ra và cái tội khiến người Mỹ gốc Việt dể bị bắt và bị giam giữ là tội tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, qui định trong điều 88 của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam. Tội gián điệp, qui định trong điều 80 của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam.

Trở lại trường hợp người Mỹ gốc Việt, cô Lisa Phạm, bị công an thành Hồ bắt vì tham gia nói chuyện trên Diễn Ðàn Paltalk, ông chánh án Nguyễn Cần vạch ra những điểm cần được nghiên cứu để có thể đối phó trong những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Theo ông Nguyễn Cần, ký vào thoả ước này không có nghĩa là Việt Nam công nhận quốc tịch Hoa Kỳ của người Mỹ gốc Việt mang hộ chiếu Hoa Kỳ. Thỏa ước này chỉ thiết lập một nghĩa vụ là thông báo cho Toà Lãnh Sự Hoa Kỳ biết khi bắt giữ một công dân Mỹ gốc Việt, cho phép người bên lãnh sự quan thăm viếng người bị bắt.

Trường hợp cô Lisa Phạm bị bắt ở Saigon mà Toà Lãnh Sự Hoa Kỳ không được thông báo là vi phạm Thỏa Ứơc Việt Mỹ Về Quan Hệ Lãnh Sự.

Quý độc giả quan tâm đến việc bảo lãnh thân nhân muốn có thêm tin tức cập nhật, xin liên lạc với văn phòng Robert Mullins International San Jose (408 ) 294-3888

———–
Mâu thuẫn: ” vẫn là người VN”, thế tại sao lại phải trả tiền và xin visa về VN, và vẫn bị phân biệt đối xử tùy tiện ?? 

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: