Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 30, 2008

Một sức mạnh mới , một thế lực mới trên thế giới

Filed under: Chính trị, xã hội, Hướng đi, thế giới — tudo @ 12:17 pm

Global power shift

Michael T. Klane , Foreign Policy in Focus , May 8, 2008

Người dịch : Trương Đăng Đệ

http://www.fpif.org/fpiftxt/5199

Trước kia đây là điều mà người ta coi không thể xảy ra được .

Khi chiến tranh lạnh chấm dứt năm 1990, các nhà đặt chính sách Hoa kỳ thường cho rằng từ nay HK sẽ chiếm địa vị tối ưu không ai có thể phủ nhận . HK sẽ đứng vững trong vị thế ‘’ siêu cường quốc duy nhất ‘’ do sức mạnh quân sự vượt trội rõ ràng , không có một địch thủ nào đáng giá . Từ xưa ,sức mạnh nổi bật về quân sự đã từng được chứng tỏ là nhân tố quyết định để tưởng thưởng những nhà vô địch hoàn cầu , và ai cũng nghĩ là điều ấy sẽ tiếp tục cho tương lai .

‘’ Với nước Mỹ , đây là một thời của sức mạnh quân sự vô song , đầy hứa hẹn về kinh tế , và ảnh hưởng về văn hóa ,’’ George. W. Bush lúc đó là thống đốc Texas tuyên bố vào tháng 9/1999 . Vì sức mạnh áp đảo của chúng ta , ông khẳng định , HK có một cơ hội đặc biệt để mở rộng vị thế nổi bật của mình ‘’cho tới một tương lai lâu dài .‘’

Nhưng khi ông đảm nhận trách nhiệm là một tổng thống và tìm cách dùng sức mạnh lớn đó để mở rộng thế lực HK trên thế giới , ông mới nhận thấy rằng sự hơn trội về quân sự không phải là nhân tố quyết định hay tất yếu cho quyền tối thượng trên thế giới trong thời đại nhiễu loạn mới ngày nay . Những nhân tố khác đã hiện ra để cạnh tranh về tầm quan trọng với sức mạnh quân sự , và một nhân tố đã bất ngờ có một ý nghĩa lớn : đó là năng lượng .

Trong tình hình đầy thách đố về chính trị ngày nay , việc sở hữu những kho vũ khí mạnh có thể bị mờ đi trước sự sở hữu những kho dự trữ khổng lồ về dầu lửa, khí đốt, và những nguồn năng lượng quan trọng khác. Do đó, nước Nga thoát khỏi chiến tranh lạnh trong tình trạng tan vỡ , mất tinh thần , đã xuất hiện trở lại như một diễn viên chính trong bàn cờ quốc tế nhờ những tài nguyên khổng lồ về năng lượng . HK , ngược lại , mặc dù có sức mạnh về quân sự , đôi khi phải xuống nước phỉnh phờ những nước cung cấp dầu lửa , kể cả các đồng minh lâu đời như Ả Rập Saudi , để họ sản xuất thêm dầu , hòng làm chậm lại sự tăng giá vùn vụt của năng lượng . Tóm lại, ‘’ siêu cường duy nhất ‘’ buộc phải khó nhọc lăn mình trên chiến trường , trên thương trường thế giới, và trong các sân sau ngoại giao , để bằng cách này hay cách khác , đạt tới một thỏa thuận với điều mà thượng nghị sĩ Richard Lugar (Đảng CH- Indiana ) gọi là ‘’ những siêu cường về dầu hỏa ‘’ – những nước nắm trong tay sức mạnh bất cân xứng trong hệ thống quốc tế do những mỏ năng lượng dự trữ lớn của họ mang lại .

Những nước tiêu thụ chính khác về năng lượng cũng buộc phải thích nghi với hoàn cảnh , Trung Hoa , nước có quyền lực lớn về kinh tế nhờ có cán cân thanh toán tốt ( cuối năm 2007, số dự trữ ngoại tệ của họ lên tới con số kinh khủng là $1.4 ngàn tỉ ) tuy nhiên cũng đang trở thành phụ thuộc vào dầu nhập cảng và như vậy phải sục sọi khắp thế giới để kiếm nguồn cung cấp có thể có .Nhật bản với nền kinh tế lớn hạng nhì thế giới , nhưng lại phụ thuộc vào năng lượng nhập cảng hơn cả TQ , thấy tự bị kẹt cứng trong việc cạnh tranh với Bắc kinh để gia nhập vào một số trong cùng những mỏ dự trữ ở hải ngoại .

Về phía cung , các quốc gia giàu năng lượng như Kazakhtan và Nigeria đã có ảnh hưởng lớn hơn trong giao dịch thế giới , thu hút một luồng không ngớt khách ngoại quốc cao cấp đến từ các nước tiêu thụ năng lượng – thường mang theo những hứa hẹn tài trợ đầu tư , giúp đỡ quân sự, và những tặng phẩm dưới nhiều hình thức khác .Nursultan Nazarbajev, tổng thống độc tài của Kazakhtan, đã từng được ca ngợi khi thăm Bắc Kinh , Moscow , và Washington, trong khi vũ khí và đồ trang bị quân sự được cả ba quốc gia trên tuôn vào nước ông – , một việc quả hiếm thấy trong biên niên sử ngoại giao về quân sự . Tương tự như vậy , tổng thống Hugo Chávez của Venezuela , hình như được miễn trả đũa từ phía HK vì những lời phê phán thẳng thừng về chính phủ Bush và sự liên kết chặt chẽ của ông với các nhà lãnh đạo những quốc gia ‘’ bị ruồng bỏ ‘’ như Cuba , Iran , và Syria ( Mặc dù những lời công kích qua lại ồn ào giữa hai nước với nhau , Venezuela vẫn tiếp tục cung cấp cho HK khoảng 10% số dầu nhập cảng , chừng 1.4 triệu thùng mỗi ngày .)

Tại sao năng lượng lại đóng một vai trò then chốt như vậy trong giao dịch quốc tế ?

Trước hết , tình trạng ( năng lượng ) luôn luôn có sẵn , với số lượng dồi dào , chưa bao giờ bị khủng hoảng làm ảnh hưởng đến sự hoạt động suông sẻ của nền kinh tế thế giới như bây giờ. Năng lượng cần để giữ cho các xưởng máy chạy điều hòa , để đem sức mạnh cho các thành phố và các vùng ngoại ô , nơi cung cấp chỗ ở cho dân cư đang gia tăng của thế giới , để sản xuất mùa màng nuôi sống hành tinh .

Quan trọng hơn hết là các sản phẩm của dầu lửa tối cần thiết để duy trì động lực cho việc toàn cầu hóa thế giới – máy bay , xe lửa , xe vận tải , tàu bè chuyên chở hành khách và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác . Theo Bộ Năng lượng HK , năng lượng sản xuất ra phải tăng 57% trong 25 năm tới – từ 450 đến 700 triệu tỉ BTU – để có thể đáp ứng cho nhu cầu được dự tính trên thế giới . Nếu không có năng lượng phụ thêm này , nền kinh tế thế giới sẽ suy thoái, kế hoạch toàn cầu hóa sẽ thất bại , và thế giới sẽ rơi vào hỗn loạn .

Nhưng không phải chỉ guồng máy kỹ nghệ mới chậm lại nếu không có một nguồn tiếp tế phong phú về năng lượng ; các sức mạnh về quân sự cũng tùy thuộc không kém vào một sự tiếp nhận dồi dào nhiên liệu tối cần thiết . Với những cường quốc chính như HK dựa vào không lực và những lực lượng cơ giới hóa trên bộ để chiến thắng , sự đòi hỏi các sản phẩm về dầu lửa tăng thêm với mỗi tiến bộ về kỹ thuật quân sự . Trong Thế chiên 2 , mỗi người lính HK tiêu thụ 1 gallon dầu lửa trong một ngày ; trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990-91, tỉ lệ đó tăng lên 4 gallons ; trong các cuộc chiến ở Irak và Afghanistan dưới chính phủ Bush , tỉ lệ đó nhảy lên 16 gallons cho 1 người lính một ngày . Vì HK nhất thiết phải dựa vào khí giới cao kỹ , và vì các cường quốc chính khác , gồm TQ , Nhật , Nga , và Ấn độ tìm cách đua theo, sự đòi hỏi năng lượng của thế giới về quân sự vốn đã mãnh liệt chỉ có thể tăng thêm mà thôi .

Cùng lúc đó , sự tranh đua tìm kiếm năng lượng chưa bao giờ gay gắt như bây giờ . Từ Thế chiến 2 , những cuờng quốc kỹ nghệ chính – HK , Nhật , và những nước Tây Âu – đã cùng nhau tiêu thụ phần lớn nguồn cung cấp năng lượng thế giới . Vì kỹ nghệ năng lượng thường thành công trong việc tăng sản xuất để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn , thế giới đã tránh được sự cạnh tranh khốc liệt đặc biệt của việc chạy đua về năng lượng ở châu Âu và châu Á trước Thế chiến 2 và giúp mở cuộc chiến Thái Bình Dương năm 1941 . Tuy nhiên , trong mấy thập kỷ qua , một loại đối thủ mới đã nhập cuộc – các quốc gia với nền kinh tế mạnh đang trỗi dậy như TQ , Ấn độ, và Brazil – , và khi nhìn về tương lai , không có gì cho thấy kỹ nghệ năng lượng có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của cả những nước tiêu thụ mới này lẫn những cường quốc kỹ nghệ đã trưởng thành . ‘’Những phát triển về năng lượng ở TQ và Ấn độ đã làm thay đổi hệ thống năng lượng toàn cầu , chỉ do kích thước to lớn và trọng lượng ngày càng tăng của họ trong thương trường quốc tế về nhiên liệu hóa thạch , ’’ theo tường trình của Cơ quan Năng lượng Quốc tế trong World Energy Outlook ( Dự báo về Năng lượng Quốc tế ) cho năm 2007 . Mặc dù những đầu tư lớn lao đưa vào để sản xuất dầu lửa cần thêm , ‘’ không có gì bảo đảm là chúng có thể đủ để bù vào sự suy thoái trong việc sàn xuất của những giếng dầu hiện hữu và theo kịp đòi hỏi gia tăng dự kiến .’’ Do đó , một sự cạnh tranh gay gắt và đôi khi tàn khốc để tìm những nguồn tiếp tế chưa khai thác đã bùng nổ .

Mỗi quốc gia có nhu cầu đáng kể về năng lượng nhập cảng đều góp phần làm cuộc tranh đấu này gay gắt hơn , nhưng ta không thể làm ngơ tác động lớn lao về phần đóng góp ngày càng gia tăng của TQ . Mới gần đây vào 1990, TQ chỉ tiêu thụ 8% năng lượng thế giới trong khi mức tiêu thụ của HK là 24% , của các quốc gia Tây Âu là 20% . Nhưng sự tăng trưởng của TQ trong 15 năm qua mạnh đến nỗi , vào năm 2006 , số năng lương thực thụ đã dùng nhảy lên tới 16% số tiêu thụ trên thế giới . Nếu sự gia tăng tiếp tục nhanh như vậy , TQ sẽ tiến tới 21% vào khoảng 2030 – vượt qua tất cả các quốc gia khác , kể cả HK. Tất nhiên thách đố của TQ sẽ là phải sản xuất ra tất cả số năng lượng cộng thêm trên . Để thành công , giới lãnh đạo TQ sẽ phải làm thế nào để tăng đáng kể việc sản xuất năng lượng trong nước , trong lúc đạt được việc nhập cảng số lượng kinh khủng nhiên liệu , nhất là dầu lửa . Theo lẽ tự nhiên , điều này chỉ có thể xảy ra với sự bất lợi đem lại cho những nước thiếu năng lượng khác . Thảo nào sự trỗi dậy của TQ đã gây báo động cho những cường quồc kỹ nghệ lâu đời .

Một nhân tố phiền phức khác trong phương trình đã làm cho tất cả những điều trên gây thêm lo sợ : đó là việc tiên báo sự khan hiếm tương lai của những nhiên liệu tối cần , đặc biệt là dầu lửa . Một loạt bằng chứng ngày càng nhiều cho ta biết rằng thời đại ‘’ dầu dễ có ‘’ đã chấm dứt và chúng ta đã tiến vào thời kỳ mới của ‘’ dầu khó kiếm . ‘’ Mỗi thùng dầu mới thêm vào kho dự trữ của thế giới , các chuyên gia gợi ý , sẽ cho thấy là khó hơn , đắt tiền hơn một thùng cũ trong việc khai thác ; dầu đó sẽ ở duới đất sâu hơn , xa bờ biển hơn , trong môi trường nguy hiểm hơn , hay ở trong những vùng dễ gây xung đột hơn , kém thuận lợi hơn . Một bối cảnh tương tự có thể cũng sẽ xẩy ra khi đứng trước phần lớn những nhiên liệu khác hiện có , gồm than đá , hơi đốt thiên nhiên , và uranium . Vì thế , rất khó đạt được những dự trữ năng lượng tương lai đầy đủ .

Từ khi bắt đầu cuộc Cách mạng công nghệ , con người đã thành công trong việc phát triển những nguồn năng lượng mới để bổ sung các năng lượng đã được dùng – trước tiên là than đá , rồi dầu lửa, và sau là khi thiên nhiên và nhiên liệu hạch nhân . Sự phát triển các nhiên liệu ấy đã giúp nền kinh tế hoàn cầu phát triển một cách lạ lùng trong một thế kỷ rưỡi , cũng như làm tăng nhân số thế giới lên bốn lần . Nhưng tất cả các nguyên liệu trên đều có hạn về số lượng , và nguồn cung cấp của phần lớn , nếu không phải là tất cả , có thể sẽ cạn kiệt vào cuối thế kỷ này . Nhiều chuyên gia tin rằng về dầu lửa thì quá trình cạn kiệt đã đang xảy ra .

Các khoa học gia đang khao khát tìm cách phát triển một loạt nhiên liệu để thay thế những thứ hiện có cơ nguy sắp cạn , cùng lúc phát ra rất ít hay không phát chút nào những ‘’ khí có tác dụng nhà kính ’’ làm thay đổi khí hậu . Nhưng các quốc gia tiêu thụ năng lưọng chính vãn chưa dành ra đủ tài nguyên cho vấn đề này để bảo đảm rằng sẽ có khá đủ những nhiên liệu thay thế trên trong một tương lai gần . Kết quả là các viên chức chính phủ và công ty vẫn coi nhiên liệu hóa thạch ( dầu lửa , than đá , hơi đốt thiên nhiên ) là những nguồn năng lượng chính trong một khoảng thời gian sắp đến .Theo ước tính của Bộ Năng Lượng , các nhiên lìệu này vẫn còn có thể cung cấp chừng 87% cho nhu cầu năng lượng thế giới vào năm 2030 . Với các nước tiêu thụ cả cũ lẫn mới dựa vào những nhiên liệu truyền thống trên – và không có nhiều những nhiên liệu thay thế thích hợp – cuộc tranh đấu về nhiên liệu chắc chắn sẽ dữ dội .

Trong tình huống đó , sự lo sợ lan tới các nguồn cung cấp thực thụ về năng lượng cơ bản nói chung : tổng số tất cả các nhiên liệu căn bản , gồm dẩu lửa , hơi đốt thiên nhiên , than đá , năng lượng hạch nhân , năng lượng thủy điện , năng lượng có thể phục hồi như gió và năng lượng mặt trời , và nhiên liệu truyền thống như củi , than củi . Tuy nhiên , khi cân nhắc về sự đầy đủ của những dự trữ tương lai, mối lo sợ lớn nhất thường đưọc dành cho dầu lửa , nhiên lệu này trong nửa thế kỷ cuối , đã , và vẫn còn là nguồn năng lượng quan trọng nhất trên thế giới . Trong khi dầu chiếm khoảng 40% năng lượng được thế giới dùng vào 2006 ( hơi đốt thiên nhiên , nhiên liệu đứng hàng thứ nhì chỉ cung cấp 25% ) và được tin vẫn còn là số 1 vào 2030 , nó là nguồn năng lượng có thể bị cạn nhất trong những thập niên trước mắt . Tuy có nhiều tranh luận về số dự trữ dầu còn lại , người ta đã có khá nhiều dũ kiện để kết luận là số dầu sản xuất của thế giới chẳng bao lâu sẽ tới mức tối đa , hay tột đỉnh rồi sẽ bắt đầu sút giảm , đó là điều không thể tránh được . Sự biến mất từ từ của dầu lỏng thông thường có thể được bù đắp trong một thời gian bởi việc phát triển các nhiên liệu tổng hợp từ những chất đặc biệt có dầu ( nonconventional petroleum substances ) – cát có nhựa than ở Canada , dầu thô cực đặc ở Venezuela , dầu shale (đá do các lớp phù sa đất sét bị nén tạo thành – ND ) ở Rocky Mountains ( Tây Bắc Mỹ ) – nhưng phí tổn để sản xuất và giá phải trả cho môi trường rất lớn khi dùng chúng , cho nên chúng không chắc có thể đỡ cho chúng ta , cả trong ngắn hạn , chống lại sự giảm bớt đầy tác hại của các nguồn cung cấp năng lượng căn bản .

Kết quả là vấn đề ‘’an toàn về năng lượng ‘’ đã leo lên nấc cao nhất của thang bậc quốc tế về bất ổn và lo ngại . Chẳng có gì ngạc nhiên điều này đã làm thay đổi tận gốc quan niệm về cái tạo thành ‘’ sức mạnh ‘’ và ‘’ ảnh hưởng ‘’ trong một hệ thống quốc tế đã bị biến đổi nghiêm trọng , buộc các nhà vạch ra chính sách phải nhìn tương quan sức mạnh thế giới trong một nhãn quan hoàn toàn mới mẻ .

Mikhael T. Klare là một giáo sư ngành Nghiên cứu về hòa bình và an ninh quốc tế tại Đại học Hampshire , một bình luận gia của Foreign Policy in Focus , và tác giả cuốn Rising Powers, Shrinking Planet : The New Geographics of Energy ( Metropolitan Books , 2008 )

Ngày 27 tháng 5 , 2008

Trương Đăng Đệ

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: