Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

May 31, 2008

Sụp Đổ Chế Độ Từ Khủng Hoảng Tài Chánh

Filed under: Chính trị, xã hội, Chứng khoán, Kinh tế, Quan điểm — tudo @ 7:15 am

11/2007

Chủ Đề: Sụp Đổ Chế Độ T Khủng Hoảng Tài Chánh

 Bài 3: Chấp Nhận Điều Kiện Cải Cách Để Có Yểm Tr Tài Chánh Của IMF

Giáo Sý Tiến Sỹ Kinh Tế Nguyễn Phúc Liên
MỞ ĐẦU:
TẤT YẾU VÀ HỮU LÝ CỦA MẶT TRẬN KT/TC
Đây là MỞ ĐẦU cho một loạt bài mà chúng tôi cắt nghĩa về con đường đi của Mặt Trận Kinh tế/ Tài chánh. Trong nhiều bài trước đây, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng DÂN CHỦ chỉ là Hệ Luận tất nhiên của cuộc đấu tranh Kinh tế khi mà đại đa số Dân chúng đã đạt được mức độ bảo đảm cho cuộc sống với sự tôn trọng quyền tư hữu từ những phương tiện sản xuất tới những sản phẩm sản xuất. Đó là con đường đạt lấy quyền DÂN CHỦ qua ngả Kinh tế. Trong bài Mở Đầu này, chúng tôi nói vắn gọn đến những điểm sau đây làm nền tảng cho cái lý cho con đường tranh đấu của Mặt Trận Kinh tế/ Tài chánh:
=>               Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế
=>               Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
=>               Thực trạnh mất quân bình hiện nay về Kinh tế tại Việt Nam
Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế
Đây là chính nguyên tắc mà Triết gia Karl MARX đã nhấn mạnh và Chính trị gia LENINE đã áp dụng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh giai cấp. Triết gia Karl MARX gọi đó là hiện tượng Vong thân Kinh tế trong xã hội. Tất cả sự giầu có đều đến từ sức Lao động. Tư bản cũng chỉ là việc tích lũy sức Lao động. Triết gia đã lấy lại chính quan điểm của Kinh tế gia tư bản cổ điển Anh David RICARDO. Giới Lao động đã đem những thành quả làm việc của mình trao vào tay một thiểu số người nắm quyền cai trị để rồi phải chịu luỵ. Giới Lao động bị vong thân về Kinh tế vậy. Cuộc đấu tranh tất nhiên tự phát sinh để giới Lao động dành lại những thành quả Kinh tế do chính mình làm ra. Nói theo cách nói thông thường hàng ngày thì khi mà đại đa số Dân chúng làm việc mà bị một thiểu số cầm quyền bóc lột đến nỗi phải thiếu ăn, thì tất nhiên cuộc đấu tranh của giới bị bóc lột phải bùng lên để dành lại quyền sống. Đây không phải là nguyên tắc do Karl MARX khám phá, mà là cái lý thường ngày của mọi xã hội khi nói về Kinh tế.
Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
Một xã hội có sự quân bình, nghĩa là trước hết xã hội ấy không có sự bóc lột của một thiểu số về mặt Kinh tế ở mức độ tối thiểu là có đủ miếng ăn nuôi sống thân xác. Đi sâu vào nền tảng để tiến tới sự quân bình này, đó là việc tôn trọng quyền TƯ HỮU những phương tiện kiếm ăn và những kết quả sản xuất từ sức lực mỗi người. Sức Lao động của mỗi người là quyền tư hữu tuyệt đối mà ngay cả chính cá nhân không thể bán nó được. Khi mà người nắm quyền bóc lột, bán cái sức lao động của người khác, đó là vi phạm vào quyền tư hữu tối thượng. Xã hội ấy không thể có quân bình. Đối với những tư hữu khác, khi mà một thiểu số cầm quyền dùng đàn áp để tước đoạt những tư hữu ấy, xã hội sẽ mất quân bình. Để có thể giữ quân bình xã hội về mặt Kinh tế, trước hết là tôn trọng quyền Tư Hữu và sau đó tái phân phát sự giầu có để xã hội giảm sự chênh lệc về Kinh tế. Đây là nguyên tắc giữ xã hội thăng tiến bền vững và đều đặc.

Thực trạng mất quân bình hiện nay về Kinh tế tại Việt Nam
Nhìn tình trạng và những biến chuyển Kinh tế hiện nay tại Việt Nam qua hai nguyên tắc vừa nêu trên đây, chúng ta thấy rằng xã hội Việt Nam càng ngày càng mất quân bình về Kinh tế. Sư bóc lột Kinh tế, lợi dụng nhân lực Lao động mỗi ngày mỗi tăng.
=>               Dân Oan nổi dậy, Nông dân kéo về thành thị, Công nhân đình công.
Cuộc đấu tranh này là tất yếu. CSVN không thể vu khống đây là sự xúi dục từ ngoại lai, mà chính là hậu quả tất yếu của tình trạng đại đa số dân chúng bị bóc lột bởi một thiểu số nắm quyền hành. Một quyền hành độc đoán xử dụng đàn áp để dẹp việc nổi dậy, đó là điều không thể đi đến kết quả được bởi vì sự nổi dậy đến từ tình trạng mất quân bình xã hội về Kinh tế. Chỉ có thể tạo được quân bình, nghĩa là yên ổn, khi mà việc bóc lột Kinh tế bởi thiểu số người nắm quyền hành phải chấm dứt để tiến dần đến quân bình bằng tôn trọng triệt để quyền Tư hữu và quyền Tự do xử dụng tư hữu để làm ăn đồng đều. Khi nói đến làm ăn đồng đều, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc phế bỏ những đặc quyền làm ăn của những giới quốc doanh hoặc thân cận đảng độc tài.
=>               Tình Trạng tổng quát Kinh tế đang tiến dần đến đột biến chính trị
Cách dây hơn một tháng, chúng tôi đã có dịp nói qua Đài Á châu Tự do về tình trạng đột biến vật giá ở Việt Nam do lạm phát và do việc thất thoát ngoại tệ. Chúng tôi nghĩ đến cuộc Khủng hoảng Tài chánh tại Á châu năm 1997.  Tuần vừa rồi, Đài RFI (Radio France Internationale) cũng phỏng vấn chúng tôi về việc Phân tích dài của Bà Francoise NICOLAS với nhan đề là DIX ANS APRES LA CRISE FINANCIERE:LE RETOUR DU MIRACLE ASIATIQUE (Mười năm sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh: Việc tái hồi của Phép lạ Á châu). Theo phân tích này, thì vùng Á châu có những nguy hiểm một Khủng hoảng Tài chánh nữa. Đài RFI yêu cầu chúng tôi nhìn kỹ về những nguy hiểm biến động Kinh tế/ Tài chánh của hai nước Trung Quốc, Việt Nam và những khủng hoảng liên hệ giữa hai nước. Hôm nay 31.10.2007, Đài RFI gọi cho tôi từ sáng sớm báo cho tôi biết hai bài đăng trên Nhật Báo LE MONDE số 19523/ 31.10.2007: L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển) và LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh vì vật giá tăng), trong đó Trung quốc và Việt Nam được nhắc ra rõ rệt. Qua tài liệu của Bà Francoise NICOLAS và hai bài báo của LE MONDE hôm nay, người ta thấy tình trạng đột biến Chính trị phải xẩy ra

 

KHAI TRIỂN CHỦ ĐỀ:
SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH
Loạt bài chủ đề mà chúng tôi sẽ viết về những nguy hiểm đang dẫn đến Khủng hoảng Kinh tế/ Tài chánh tại Việt Nam dựa trên một số dữ kiện nghiên cứu bởi Bà Francoise NICOLAS, của tác giả những bài trên LE MONDE và được phân tích qua hai nguyên tác vừa được đưa ra trên đây: (i) Nguyên tắc phát động đấu tranh xã hội về mặt Kinh tế; (ii) Nguyên tắc quân bình xã hội về mặt Kinh tế
Chúng tôi xin tóm tắt những bài sẽ được khai triển như sau:
Bài 1:
NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤP BÊNH KINH TẾ CHUNG 
CỦA NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Những hiện tượng bấp bênh chung là: (i) thái độ chi tiêu của những người mới giầu lên; (ii) nhà nước chủ trương lạm phát tiền tệ; (iii) sản xuất tùy thuộc thị trường nước ngoài; (iv) thất thoát ngoại tệ.
Bài 2:
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH Á CHÂU 1997:
NHỮNG LÝ DO GIỐNG NHỮNG NƯỚC BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN NGÀY NAY
Bốn nước: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Nam Hàn. Sản xuất chính yếu những hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn và những linh kiện. Lệ thuộc Thị trường nước ngoài. Bắt đầu cuộc cạnh tranh của những nước Đông Aâu. Hệ thống Ngân Hàng cẩu thả trong việc tài trợ các Công ty. Lạm phát tiền tệ và Thị trường Tài chánh thiếu trong sáng.
Bài 3:
CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH
ĐỂ CÓ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF
Thái Lan, Mã Lai, Nam Hàn chấp nhận những điều kiện đòi buộc cải cách do IMF (International Monetary Funds) ấn định để được nhận hỗ trợ Tài chánh. Mã Lai từ chối. Việc cải cách nhằm chính yếu vào hệ thống Ngân Hàng, vào Thị trường Tài chánh và vào việc Quản trị Xí nghiệp.
Bài 4:
KINH TẾ PHỤC HỒI TRONG TÌNH TRẠNG
CẢI CÁCH CHƯA TOÀN VẸN CHO ĐẾN NAY
 
Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương phục hồi Kinh tế, nhưng vẫn ở mức sản xuất những hàng hóa tiêu thụ ngắn hạn và những linh kiện. Nam Hàn đi vào những hàng hóa dài hạn và kỹ thuật cao. Tuy nhiên trên Thị trường quốc tế, những cạnh tranh mới xuất hiện: Đông Aâu, Nam Mỹ và Phi châu. Đầu tư nội địa còn yếu kém cho những nước bắt đầu phát triển này.
Bài 5:
NHỮNG YẾU TỐ BẤP BÊNH
CÓ THỂ DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG
Yếu tố Kinh tế Trung quốc tạo những bấp bênh Kinh tế trong vùng. Đạo quân Thương gia gốc Hoa trong vùng: Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương khiến những nước này có sự lệ thuộc vào Trung quốc. Bà Francoise NICOLAS nhấn mạnh đến những nguy hiểm: căng thẳng xã hội, căng thẳng Thị trường Tài chánh và vấn đề bề bộn môi trường.
Bài 6:
VIỆT NAM TRƯỚC
KẺ THÙ KINH TẾ TRUNG CỘNG
Hữu nghị Trung quốc—Việt Nam chỉ là bề mặt. Kinh tế Trung quốc là kẻ thù của Kinh tế Việt Nam. Những biến động Kinh tế Trung cộng trực tiếp ảnh hưởng đến Kinh tế Việt Nam. Đối với Trung quốc, Việt Nam chỉ là một Tỉnh về cả Chính trị lẫn Kinh tế. Trên thương trường quốc tế, hàng hóa Trung cộng cạnh tranh hơn cả đối với hàng hóa Việt Nam. Những biện pháp chế tài của Mỹ hoặc Liên Aâu áp dụng cho Trung cộng, đều cũng áp dụng cho Việt Nam vì họ ngại sợ sự tráo trở giữa hai nước.
Bài 7:
VẬT GIÁ TĂNG VÀ LẠM PHÁT TIỀN TỆ
TẠI NHỮNG QUỐC GIA BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN
Ký giả Alain FAUJAS, trong bài báo trên LE MONDE, đã kể ra những nước sau đây: Nam Phi, Nga, Trung quốc và Việt Nam. Tình trạng vật giá tăng và lạm phát tiền tệ có thể phương hại đến đà phát triển Kinh tế hiện nay. Tình trạng này đang làm cho Thế giới lo ngại một cuộc khủng hoảng Thị trường Tài chánh và Tiền tệ. Cuộc họp tiền tệ Dollars (Mỹ) và Euro (Liên Aâu) mới đây đã tỏ ra lo sợ mà chưa có những biện cụ thể nào.
Bài 8:
LÝ DO ĐẦU TIÊN CỦA TĂNG VẬT GIÁ VÀ LẠM PHÁT:
ĐẦU TƯ HIỆN TẠI BẰNG TIỀN TƯƠNG LAI
(VIRTUAL MONEY/ MONNAIE VIRTUELLE)
Đây là quyết định quá dễ dãi của quyền lực Chính trị vào phạm vi tiền tệ. Kinh tế gia Florin AFTALION, chuyên gia nghiên cứu những liên hệ giữa thời kỳ lạm phát và những phong trào cách mạng, đã viết: “L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécíee par les hommes politiques, dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder des hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.“(Lạm phát là một cách tài trợ rất htuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn chấp nhận cho tăng lương và trợ cấp các xí nghiệp, cho thêm dầu vào guồng máy)
Bài 9:
VIỆC PHÂN PHỐI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU
VỀ MỨC TĂNG KINH TẾ
Kinh tế tăng trưởng với mức độ cao: Nam Phi 7.2%, Nga 9.4%, Trung quốc 6.2%, Việt Nam 8.8%. Nhưng sự phân phối độ tăng này không đồng đều trong xã hội. Một thiểu số dành lấy hầu hết độ tăng ấy, còn đại đa số quần chúng nhận được phần phân phối rất nhỏ. Giầu nghèo trong xã hội càng ngày càng chênh lệch.
Bài 10:
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH VÀ TIỀN TỆ
RẤT DỄ XẨY RA
Đầu tư  bằng tiền tương lai (virtual money/ monnaie virtuelle) vào những công trình xây cất hạ tầng có tính cách dài hạn càng làm cho sự bấp bênh thu hồi tài chánh. Những hàng hoá ngắn hạn, như Trung quốc, Việt Nam chẳng hạn, lại tùy thuộc Thị trường nước ngoài. Một biến động Thị trường ngoại quốc có thể châm ngòi cho khủng hoảng tài chánh. Khủng hoảng tài chánh làm lụn bại Kinh tế.
Bài 11:
HẬU QUẢ:
DÂN CHÚNG NỔI DẬY LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN
Sự phân phối không đồng đều độ tăng trưởng Kinh tế làm cho giới nghèo càng nghèo thêm, nhất nữa họ phải chịu cảnh vật giá tăng vọt, đồng thời phải lãnh đồng lương với tiền đã mất giá. Cuộc khủng hoảng Tài chánh làm những Công ty sạt nghiệp. Số người thất nghiệp tăng vọt. Đây là những yếu tố Kinh tế/ Tài chánh buộc Dân chúng phải nổi dậy chống lại Chính quyền. Oâng Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố với báo Financial Times:“Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“ (Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói)
Bài 12:
KẾT LUẬN:
TƯ HỮU LA NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VŨNG
VỚI THỂ CHẾ DÂN CHỦ LÀ HẬU QUẢ
Bài học Tài chánh trước hết là căn cơ chi tiêu. Tư hữu là động lực làm việc và cũng là mệnh lệnh cho căn cơ chi tiêu tần tiệm tích lũy. Đó là những yếu tố tăng năng suất sản xuất và tích lũy tiết kiệm làm nền tảng vững chắc cho nền kinh tế. Từ tôn trọng tư hữu, cá nhân có tự do. Cá nhân chủ được tôn trọng, thì nguyên tắc Dân chủ chỉ là hậu quả giải quyết giữa những cá nhân chủ.Đây là bài thứ ba trong loạt 12 bài chủ đề SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÁNH. Bài thứ hai này mang đầu đề là CHẤP NHẬN ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH ĐỂ CÓ SỰ YỂM TRỢ TÀI CHÁNH CỦA IMF (International Monetary Fund). Trong bài thứ hai tuần vừa rồi, chúng tôi đã cho thấy rằng cuộc Khủng hoảng Tài chánh Á châu tàn phá rất nhanh chóng nền Kinh tế của 4 nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn. Những nước như Tân Gia Ba, Đài Loan và Nhật Bản không bị ảnh hưởng hay nói đúng hơn họ có khối dự trữ Tài chánh vững chắc để chống đỡ cơn Khủng hoảng. Nói như vậy cũng có nghĩa rằng những nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn không đủ phương tiện tài chánh dự trữ để có thể chống được cơn lốc Khủng hoảng.Nơi cầu cứu phương tiện Tài chánh để chống đỡ và phục hồi nền Kinh tế, đó là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). IMF đồng ý cho vay Tài chánh, nhưng với điều kiện là những nước này phải chấp nhận cải cách những điểm yếu làm lý do chính sụp đổ nền Kinh tế. Trong bài tuần trước, chúng tôi đã nêu hai phương diện yếu kém, đó là hệ thống quản trị Xí nghiệp và hệ thống Ngân Hàng điều hành Tài chánh. Theo Bà Francoise NICOLAS, Mã Lai đã không vay Tài chánh của Quỹ Tiền tệ Quốc tế vì không muốn những can thiệp động chạm đến việc liên hệ trực tiếp của quyền lực Chính trị vào Kinh tế và trong sự can thiệp này có nhiều tham nhũng cấu kết giữa Chính trị và những Gia đình giữ Kinh tế. Bà Francoise NICOLAS viết:“En Malaisie,…., les connections étroites entre les pouvoirs politique et économique sont toujours à l’ordre du jour,… Selon Transparency International,…, le niveau de corruption  est comparable  en Malaisie en 2005 à ce qu’il était en 1995“ (Tại Mã Lai,…, những liên hệ chặt chẽ giữa quyền lực chính trị và kinh luôn luôn hiện diện,… Theo Tổ chức Trong suốt Quốc tế,…, mức độ tham nhũng tại Mã Lai có thể so sánh năm 2005 vẫn còn giống như năm 1995). Đó là những lý do khiến Mã Lai không muốn nhận Tài chánh của IMF với những điều kiện can thiệp trực tiếp vào Kinh tế của mình.

Chúng tôi sẽ bàn những điểm sau đây trong bài này:

=>          Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund)
=>          Anh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF
=>          Những cải tổ về Quan trị Xí nghiệp đề nghị từ IMF
=>          Những cải tổ hệ thống Ngân Hàng đề nghị từ IMF

Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF
(International Monetary Fund)

 

Thế Chiến thứ II đã làm kiệt quệ Kinh tế Aâu châu. Tiền tệ thời ấy được quy định theo lượng vàng (Régime Etalon-Or). Nhưng các nước Aâu châu, trừ Thụy sĩ, đã không còn vàng làm bảo chứng cho Tiền tệ nữa. Hội Nghị Bretton Woods, New Hampshire (USA) tháng Bảy 1944 lấy hai quyết định quan trọng:
*            Chuyển Chế độ Tiền tệ từ Etalon-Or sang Etalon-Devise-Or. Thực ra Tiền tệ vẫn định nghĩa trên bảo chứng của vàng. Nhưng thời ấy chỉ có đồng Đo-la mới có đủ lượng vàng bảo chứng, nên Tiền của những nước khác phải nhận Đo-la (Devise) làm bảo chứng.
*            Lập một Quỹ chung với sự đóng góp từ những nước có khả năng. Lúc đầu, Quỹ này chính yếu nhằm mục đích tương trợ Tiền tệ. Những nước có Tiền tệ yếu có thể vay Quỹ tương trợ để nâng đỡ đồng tiền của mình. Thêm vào đó, ác mộng của cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 vẫn còn làm cho các nước sợ hãi, nên 45 nước tham dự Hội Nghị muốn Quỹ tương trợ còn có mục đích hợp tác Kinh tế giữa các nước mong tránh những nguồn khủng hoảng lan tràn như năm 1930. Tổ chức QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ IMF (International Monetary Fund) chính thức thành hình năm 1945.

Từ 45 nước Hội viên ban đầu, số Hội viên ngày nay tăng lên 185 nước. Số quỹ đóng vào hiện nay là 338 tỉ Đo-la (tài liệu 30.09.2007). Ngoài ra IMF có số dự trữ Vàng tính theo thời giá cuối tháng 9/2007 là 77 tỉ Đo-la. Điều khoản I của Quy chế xác định những mục đích hoạt động sau đây:

=>          Hợp tác Tiền tệ quốc tế
=>          Khuếc trương phát triển Thương mại quốc tế
=>          Giữ thăng bằng về Hối suất Tiền tệ
=>          Tương trợ hệ thống Thanh toán đa phương quốc tế
=>          Tương trợ những nước Hội viên khi gặp những khó khăn Thanh toán quốc tế
=>          Cho vay vốn để bảo đảm phát triển Kinh tế bền vững và đề phòng Khủng hoảng
=>          Tự mình hoặc hợp tác với Ngân Hàng Thế Giới trong việc làm giảm nghèo đói

Hiện nay Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế khai triển những biện pháp chi tiết cho những vấn chính yếu sau đây:

*            Làm thế  nào IMF giúp những nước nghèo để cứu đói giảm nghèo ?
*            Làm thế nào IMF canh chừng việc bền vững phát triển Kinh tế chung ?
*            Làm thế nào IMF giúp đỡ để giải quyết những Khủng hoảng Kinh tế ?

Vấn đề cuối cùng này liên quan đến chủ đề chúng tôi đang viết. IMF viết: “Balance of payments difficulties can arise—and, in the worse case, build into crises—even in the face of strong prevention efforts. The IMF assists countries in restoring economic stability by helping to devise programs of corrective policies and providing loans to support them. Since unsustainable debt burdens are sometimes part of the problem, the IMF has also been encouraging actions by debtor countries and their creditors to faciliate a more orderly process for debt restructuring.“ (Tài liệu IMF, 30.09.2007) (Những khó khăn thuộc bảng cân bằng thanh toán quốc tế có thể làm tăng—và, trong trường hợp tệ hại nhất, chất chồng thành những khủng hoảng—ngay cả trước những cố gắng đề phòng vững mạnh. IMF trợ lực những quốc gia trong việc tái lập sự thăng bằng kinh tế bằng cách giúp đỡ hoạch định những chương trình gồm những biện pháp sửa sai và cung cấp vốn để nâng đỡ. Vì những gánh nặng nợ nần không thể trụ nổi trở nên thành phần của vấn đề, nên IMF cũng cổ võ việc dàn xếp giữa những nước mang nợ và những chủ nợ làm dễ dãi tiến trình thanh toán có trật tự về việc tái tổ chức nợ nần.)

Việc cho những nước Á đông trong cuộc Khủng hoảng 1997 vay vốn là một trong những mục đích đã được quy định theo Quy chế của IMF. Tuy nhiên, khi cho vay vốn, IMF cũng có quyền kiểm soát việc xử dụng vốn ấy.

Anh hưởng Kinh tế trực tiếp
từ việc chêm vốn của IMF
Trong phần này, chúng tôi chỉ muốn nói đến ảnh hưởng Kinh tế trực tiếp từ việc chêm vốn của IMF vào những nước Thái Lan, Nam Dương và Nam Hàn. Nghĩa là trong phần nay, chúng tôi chưa nói đến việc cải tổ theo đòi hỏi của IMF, mà chỉ nguyên việc chêm vốn (Injection du Capital) cũng đã mang lại một hậu quả Kinh tế trực tiếp rồi.

Nói về điểm này, tất cả những Sinh viên học Kinh tế Chính trị không thể quên Kinh tế gia Anh quốc KEYNES. Những Giáo sư Kinh tế thời danh như SAMUELSON, FRIEDMANN đều là những người thuộc trường phái của KEYNES. Thực vậy, Keynes, gốc Toán học, đã chú tâm nghiên cứu cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30: Xí nghiệp đóng cửa, Thất nghiệp lan tràn. Dân chúng không còn khả năng tiêu thụ nữa. Keynes đã chủ trương phải tìm mọi cách nâng đỡ tiêu thụ (consommation), nghĩa là phải làm thế nào cho phía Cầu tăng lên để khởi công phía Cung. Việc làm cho Cầu tăng có thể trực tiếp bằng trợ cấp xã hội (hệ thống Welfare) hoặc là Nhà nước chủ trương những Công trình lớn xây dựng hạ tầng cơ sở (Grands Travaux). Hoa kỳ đã áp dụng chủ trương Keynes vào những xây dựng những Tòa Nhà Hành chánh, Đường sá, Cầu Cống, Đập nước. Qua những công trình xây cất này, Thợ thuyền có đồng lương và từ đó Cầu tăng lên. Khi Cầu tăng lên thì giới Xí nghiệp tư nhân bắt đầu sản xuất và lần lượt vận hành như vậy thì số thất nghiệp giảm, nghĩa là Cầu càng tăng. Nên Kinh tế lấy lại phát triển.

Gốc là nhà Toán học, Keynes đã đưa ra công thức tính toán tầm ảnh hưởng tăng Kinh tế từ việc chêm một số vốn từ ngoài ( Injection exogène) làm những ảnh hưởng tăng nội tại của hệ thống Kinh tế (Effets endogènes). Công thức tính toán ấy được gọi là Nhân cấp số Keynes (Multiplicateur kéneysien).

Tỉ dụ khi nhận thu nhập là 100, người nhận dành cho tiêu thụ là 75% (0.75/1) số thu nhập. Nếu chêm vào nền Kinh tế 100’000.- phụ thêm, thì hậu quả tăng lên của nền Kinh tế sẽ là:

              tR  =  k. tI,       

tR: tăng thu nhập; tI: tăng chêm vố đầu tư ; k : Nhân cấp số Keynes được tính như sau:

              k  =  1/ (1-0.75) =  4

Như vậy, nếu tăng tI = 100’000.-, thì số thu nhập của Kinh tế tăng lên 4 lần:

              tR = (1/ (1-0.75)) . 100’000.-  =   4 x 100’000  =  400’000.-

Tiền vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là việc Chêm vốn vào một nước sẽ làm tăng số thu nhập cho nền Kinh tế gấp nhiều lần hơn qua Nhân cấp số Keynes (Multiplicateur Kenésien). Chúng tôi gọi đây là hậu quả Kinh tế trực tiếp từ việc Chêm vốn vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Những cải tổ về Quan trị
Xí nghiệp đề nghị từ IMF
Trong bài thứ hai của loạt bài chủ đề này, chúng tôi đã nói đến những yếu kém của việc Quản trị Xí nghiệp dẫn đến Khủng hoảng. Đó là:

=>          Nền Kinh tế quy tụ chính yếu vào những Nhóm Gia đình. Việc quản trị mang nặng yếu tố tình cảm gia đình.

=>          Những quyết định Kinh tế thiếu tính cách Hữu lý theo những nguyên tắc thuần túy Kinh tế.

Bà Francoise NICOLAS đã viết về việc đòi hỏi cải tổ Xí nhiệp như sau:“Le volet de la réforme post-crise a consisté à résoudre les problèmes des entreprises en faillite ou en difficulté financìere, à renforcer le système légal des faillites, à restructurer les grands groupes familiaux et à améliorer la méthode de gouvernance des entreprises“ (Phương diện cải cách hậu khủng hoảng gồm việc giải quyết những vấn đề của các Công ty phá sản hoặc khó khăn tài chánh, gồm việc tăng cường hệ thống luật lệ về phá sản, gồm việc tái tổ chức những nhóm lớn gia đình và gồm việc cải thiện quản trị những xí nghiệp.)

Như vậy:

*            Việc đầu tiên xử dụng vốn vay là giải quyết những trường hợp phá sản hoặc đang gặp khó khăn về tài chánh. Đây là việc ổn định những Công ty (Assainissement des Entreprises). Việc ổn định này có thể là việc nhập lại những Công ty.

*            IMF nhấn mạnh đến hệ thống luật pháp kỹ lưỡng về những trường hợp phá sản. Thực vậy có những trường hợp phá sản giả tạo, thiếu trong sáng về trách nhiệm, thiếu kiểm soát của Luật pháp chặt chẽ. Thái Lan và Nam Dương đã ra những Luật mới về phương diện này.

*            Về đòi hỏi tái tổ chức những nhóm lớn gia đình gặp những khó khăn vì sự liên hệ giữa những nhóm gia đình lớn và quyền lực chính trị. Tuy vậy IMF cổ võ việc tư nhân hoá những Công ty lớn có liên hệ với quyền lực chính trị. IMF nhấn mạnh đến việc quản trị lành mạnh những nhóm lớn này.

*            Việc quản trị lành mạnh và Hữu lý đòi hỏi tính cách căn cơ của Chi tiêu, nhất là về phương diện những Chi tiêu cố định. Một số Công ty chi tiêu cố định quá đáng trong mục đích tăng cường cái danh “hão“ của Công ty mà không nhằm mục đích chính yếu của hoạt động Kinh tế là Lợi nhuận tối đa. Trong việc quản trị Chi tiêu Xí nghiệp, những Chi tiêu cố định là những Chi tiêu dễ làm phá sản. Câu nói “Làm tiền đã khó, mà tiêu tiền còn khó hơn“ có lẽ làm cho một số người không tin. Thực ra câu nói này, nếu áp dụng vào lãnh vực làm Kinh tế thì rất đúng. Tiêu tiền không phải là vất tiền qua cửa sổ. Tiêu tiền theo ý nghĩa Kinh tế là khi tiêu một món tiền ra, thì đã phải tính toán số Lợi nhuận thu vào từ món tiền ấy: thu lại chính món tiền đã tiêu cộng thêm số lợi nhuận thu vào. Như vậy mới là Chi tiêu Kinh tế. Làm Kinh tế là nhằm thu Lợi nhuận tiền bạc tối đa chứ không nhằm thu tình cảm, thu luân lý, thu đạo đức… Lợi nhuận là điểm quy chiếu để lấy những quyết định Kinh tế. Đó là điều mà người ta gọi là Hữu lý trong việc quản trị Kinh tế.

Những cải tổ hệ thống
Ngân Hàng đề nghị từ IMF
Đây là phương diện yếu kém làm nguyên cớ chính cho Khủng hoảng Tài chánh năm 1997.
Về Ngân Hàng và Tài chánh, người ta nhấn mạnh đến những điểm yếu kém sau đây:

*            Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng từ những quyết định có tính cách Gia đình. Trước Khủng hoảng, Ngân Hàng cho vay vốn với những trường hợp nghi ngờ. Đây là khía cách nguy hiểm Tiền bạc và thiếu kiểm soát tài chánh, một yếu tố gây lỏng lẻo sự hữu lý kiểm tra ngân khoản các xí nghiệp. So sánh một vài con số theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới về sự bấp bênh cho vay nghi ngờ: những năm 1997-98, những món nợ nghi ngờ (créances douteuses) chiếm tới 30% tổng số cho vay và năm 2006 những món nợ ấy chỉ còn chiếm 6% của tổng số.

*            Điểm đáng lưu ý nữa là Ngân Hàng cho vay nợ, rất ít cho việc sản xuất, nhưng chú trọng cho tiêu thụ, nhất là cho việc xây cất nhà cửa. Một nền Kinh tế thu nhập ngắn hạn mà tiêu thụ địa ốc dài hạn cho thấy sự bấp bênh của những món nợ.

*            Việc mở cửa của lãnh vực Ngân Hàng cho đến năm 1997 đối với những nhà đầu tư quốc tế đã bị giới hạn. Theo yêu cầu của IMF, Thái Lan, Nam Dương, Nam Hàn đã hủy bỏ những giới hạn này ngay sau năm 1997, trừ Mã Lai vẫn còn giữ.

*            Người ta cũng ghi nhận sự yếu kém của Thị trường Trái khoán. Nên lưu ý rằng những Trái khoán tượng trưng tính cách chắc chắn của Tài chánh. Những con số sau đây tính theo % của thu nhập hàng năm theo đầu người cho thấy sự yếu kém của Thị trường này năm 1997: Nam Dương 0.4% (Trái khoán Nhà nước) và 0.8% (Trái khoán Xí nghiệp); Nam Hàn 4.9% (Nhà nước) và 10.3% (Xí nghiệp); Mã Lai 19.4% (Nhà nước) và 20.8% (Xí nghiệp); Thái Lan 0.2% (Nhà nước) và 6.0% (Xí nghiệp) (Nguồn tài liệu: East Asian Finance (2006).

Ghi nhận những yếu kém như vậy, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đòi hỏi những thực hiện cải tổ. Trước klhi nói về những thực hiện cải tổ và những hiệu quả về phương diện Ngân Hàng và Thị trường Tài chánh, chúng tôi ghi nhận ngay cái hiệu quả trực tiếp từ số vốn vay bằng ngoại tệ trên Thị trường Tiền tệ. Đồng tiền của mỗi nước  liên hệ một là được bảo đảm giá bằng sức mạnh sản xuất Kinh tế (Régime du Pouvoir d’Achat), hai là bằng số lượng Ngoại tệ mạnh làm bảo chứng. Số ngoại tệ vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho vào có thể ví như cho Nước Biển vào cho đồng tiền đang bị bệnh nặng. Nước biển cho trực tiếp vào con bệnh làm ngưng đà hấp hối của đồng tiền của những nước liên hệ. Đó là hiệu quả tức khắc và trực tiếp cho Thị trường Tiền tệ cũng như hiệu quả trực tiếp từ việc Chêm vốn vào nền Kinh tế như chúng tôi đã phân tích ở trên qua hiệu quả của Số nhân cấp của Keynes (Multiplicateur Keynésien).

Trở lại những điều kiện đòi cải tổ về lãnh vực Tài chánh (Ngân Hàng/ Tiền tệ). Bà Francoise NICOLAS viết: “La nature essentiellement financìere de la crise (tout au moins dans ses causes) explique que l’essentiel des réformes mises en oeuvre aient porté sur ce secteur. Après des mesures d’urgence, dont l’objectif était d’arrêter l’hémorragie financìere, c’est à une réorganisation  en profondeur de ce secteur que les autorités ont du s’atteler avec pour l’objectif de mettre en place un système financier compétitif, internationalement ouvert et fonctionnant selon les règles du marché.“ (Bản chất chính yếu tài chánh của khủng hoảng ( hay tối thiểu trong những nguyên do) cắt nghĩa cái cốt yếu của những cải cách phải thực hiện  liên quan đến lãnh vực này. Sau những biện pháp cấp cứu, mà mục đích là chận đứng ngay tình trạng băng huyết tài chánh, đó là phải tổ chức lại vào chiều sâu của lãnh vực này mà các quyền lực  phải để hết sức vào việc được coi là mục đích là thực hiện một hệ thống tài chánh cạnh tranh, mở rộng ra quốc tế và hoạt động theo những quy luật thị trường).

Trong phạm vi bài này, chúng tôi mới chỉ nêu ra những điểm đòi hỏi thực hiện cải cách cụ thể về lãnh vực tài chánh, còn việc các nước liên hệ đã thực hiện như thế nào cho tới nay, đó là nội dung trong những bài kế tiếp.

=>          Về lãnh vực Ngân Hàng, IMF nhấn mạnh đến những cải cách cụ thể sau đây:

*            Chấm dứt tình trạng Ngân Hàng cho vay vốn dựa theo tính cách tình cảm gia đình không trong sáng.
*            Chấm dứt tình trạng cho vay vốn cho những con nợ đáng nghi ngờ (créances douteuses), nhất là trong lãnh vực xây cất nhà cửa có tính cách dài hạn. Đây là cái nguồn bấp bênh tài chánh cho một nền kinh tế hiện thời vận hành với chu kỳ ngắn hạn và tốc độ càng ngày càng nhanh. (Tỉ dụ sub-prime tại Hoa kỳ là hình ảnh mới đây nhất để hiểu sự bấp bênh).
*            Ngân Hàng khi cho vay, phải theo dõi kiểm soát việc xử dụng đồng tiền. Không thể cho vay như thả cọp vào rừng mà không chút giây buộc để kiểm soát. Phải đòi buộc việc cho vay và việc xử dụng có sự trong sáng.
*            Phải mở rộng lãnh vực Ngân Hàng đối với quốc tế.

“Cette réforme s’est notamment appuyée sur la consolidation et la rationalisation  du secteur bancaire, l’ouverture aux opérateurs étrangers, l’amélioration de la surveillance et de la transparence du système financier.“(Francoise NICOLAS) (Việc cải cách này dựa chính yếu trên sự củng cố lại và việc hữu lý hóa của lãnh vực Ngân Hàng, dựa trên việc mở rộng cho những người làm việc ngoại quốc trong lãnh vực này, dựa trên việc kiểm soát và sự trong sáng của hệ thống tài chánh).

=>          Về lãnh vực Tài chánh và đầu tư, IMF nhấn mạnh:

*            Đầu tư vào lãnh vực xí nghiệp sản xuất chứ đừng vào tiêu thụ như trước đây
*            Cổ võ việc tăng cường Thị trường Trái khoán, nhất là từ những Công ty lớn hơn là từ nhà nước mang nặng yếu tố Chính trị.
*            Mở rộng Thị trường cho việc đầu tư từ nước ngoài.

Bài này mới nêu ra những đòi hỏi cải cách của IMF. Nhưng trong bài tới, chúng tôi sẽ phân tích xem những nước liên hệ, dù lấy lại được đà phát triển, nhưng trong mức độ nào những cải cách chưa toàn vẹn để cho thấy những nguy hiểm có thể xẩy ra khủng hoảng nữa.

 

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

 

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: