Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 2, 2008

Chúng ta có thể rút ra được bài học gì từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975

 

Báo Việt Luận, Úc châu,  phỏng vấn Ls Trần Thanh Hiệp, nguyên Luật sư các Toà Thượng Thẩm Saigon và Paris, cựu Giáo sư trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Hiện định cư tại Pháp và là đương kim Chủ Tịch Trung Tâm Việt Nam về nhân quyền, trụ sở đặt tại Paris.

VL :Thưa, chúng ta ngày nay có thể rút ra đưọc bài học gì từ biến cố 30/04/75  .

TTH. :Hơn ba mươi năm đã trôi qua. Chúng ta đã rút ra nhiều bài học về biến cố 1975 sau khi miền Nam bị miền Bắc đánh chiếm rồi. Tuy vậy theo tôi mỗi năm vẫn học hỏi thêm được những bài học mới, nhờ những nguồn thông tin mới và nhất là những suy nghĩ, những phán đoán mới.

Tôi xin bàn về hai trong những bài học mới này

Thứ nhất là bài học về quá khứ. Thật ra bài học này không còn mới nữa vì năm nào vào ngày 30 tháng Tư chúng ta cũng lục lọi trong trí nhớ, trong tình cảm và nhất là trong sử liệu mong tìm cho ra được sự thật. Nhiều câu hỏi vẫn còn đè nặng trên lương tâm chúng ta. Đó là tại sao miền Nam thất thủ? Lỗi tại ai? Liệu với thời gian biến cố này có bị xóa nhòa đi không? Hay nếu còn ai nhắc nhở đến nó thì cũng chỉ như là một chi tiết nhỏ của lịch sử? Nhưng vì sao phải nhớ? Phải chăng ôm hận để phục hận, bên này bên kia, người ta đã chẳng ồn ào kêu gọi xóa bỏ hận thù đó sao? Đã có nhiều giải đáp rồi nhưng biến cố 30/04/1945 dường như vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Vì còn những vùng tối đang che phủ sự thật. Cần làm mới lại bài học cũ về quá khứ để có thể đi gần hơn nữa tới sự thật. Bằng cách thay đổi góc độ nhìn vấn đề, mở ra những chân trời mới.

Trước hết để nhận định lại cho chính xác chuyện thắng bại. Trong biến cố “Tháng Tư đen” ai thắng, ai thua? Dĩ nhiên bề ngoài thì quả thật hai nhân vật cầm quyền lúc đó, Tướng Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu có những ứng xử của kẻ bại trận đã đầu hàng. Nhưng trong trường hợp nào Tướng Minh đã trở thành Tổng Thống? Phiên họp chợ chiều của cái gọi là Quốc hội miền Nam trao quyền Tổng thống cho tướng Minh đã chẳng ra thể thống gì cả vì nó bị nhiều hà tì cả về pháp lý lẫn chính trị. Đó là chưa kể sự lật lọng của phe miền Bắc đang trong vòng thương lượng với miền Nam, lại trở mặt để chuyển sang đánh chiếm bằng vũ lực. Dĩ nhiên, xét bề ngoài thì miền Nam đã thua. Theo lô gích cũ thời quân chủ thì “đuợc làm vua thua làm giặc”. Nhưng bề trong thì không thể hoàn toàn theo lô gích cũ này được. Kể từ năm 1945, phải theo lô gích mới là lô gích dân chủ. Quân và dân miền Nam không thua hay cũng có thể nói “chưa thua” vì đã được đánh đâu mà khẳng định ai thắng ai thua! Quân và dân miền Nam đã chỉ bị bố trí để “thua”. Cộng sản Bắc Việt huyênh hoang đã đánh cho Mỹ cút, cho Ngụy nhào. Phe quốc gia cũng có người nói “Đồng minh tháo chạy”. Sự thật, Đồng minh không chạy vì thua mà chỉ “chạy làng” trong cuộc chơi với miền Nam thôi. Ông Kissinger trong cuộc mật đàm với Hà Nội đã thỏa thuận với Hà Nội nhiều điều khoản không cho Saigon biết trong đó có việc bộ đội cộng sản miền Bắc không buộc phải rút khỏi miền Nam, còn người Mỹ thì nhất định sẽ rút hết ra khỏi miền này. Mới đây người ta tìm ra được những yếu tố để, qua Kissinger, kết luận về lập trường của Mỹ là từ năm 1972, Hoa Kỳ đã âm thầm xác nhận chuyện sẵn sàng chấp nhận cho quân đội Cộng Sản Bắc Việt chiến thắng, nếu điều này xảy ra sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam. Kissinger có mói với Chu Ân Lai rằng “Chúng tôi không tính đến chuyện tiêu diệt Hà Nội, và ngay cả chuyện thắng Hà Nội cũng không được chúng tôi tính đến nữa. Nếu có thể sống với một Chính Phủ Cộng Sản ở Trung Quốc, thì chúng tôi cũng có thể chấp nhận Chính Phủ Cộng Sản ở Ðông Dương”. Nhiều người vẫn hay tưởng rằng đó là đường lối riêng của Kissinger. Kỳ thực từ đầu thế kỷ trước, nhiều nhà ngoại giao Mỹ cùng thời với Lenin, Stalin như Bullit, Kennan, Bohlen đều có những lúc chủ trương sống chung với cộng sản. Nhưng người đã để lại dấu ấn đậm nhất về đường lối sống chung này là Tổng thống Frankling Roosevelt. Cựu Thủ tướng Anh, Anthony Eden, năm 1943 sau một buổi tối làm việc với Tổng thổng F.Roosevelt đã nói đại ý rằng mối quan tâm lớn đang ám ảnh Tổng thống Mỹ là tìm hiểu xem có thể làm việc với Nga ngay trong lúc này và cả sau chiến tranh nữa. Hội nghị Yalta gồm Nga, Anh và Mỹ chia đôi thiên hạ đã không thể chào đời nếu không có Tổng Thống F. Roosevelt bởi lẽ Tổngt Thống Roosevelt mơ ước một trật tự hậu chiến do 4 cường quốc Anh, Mỹ, Nga và Trung Hoa thiết lập và bảo vệ….Những dân tộc nạn nhân của độc tài cộng sản bản địa cứ tưởng rằng tư bản Mỹ không bao giờ tính chuyện sống chung với cộng sản.

Người ta tự hỏi những nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 khi hợp tác, đúng hơn, khi dựa vào Mỹ để theo đuổi cuộc chiến tranh chống cộng sản, có tưởng lầm như vậy về đường lối chống cộng của Mỹ hay không. Nếu thấu triệt được tiền lệ lịch sử về chống cộng của Mỹ thì lỗi để mất miền Nam không phải chỉ do Đồng minh đã bỏ rơi mà là do  miền Nam không nêu lên một cách nghiêm chỉnh câu hỏi mình có gì để Mỹ tính chuyện “cùng làm việc” như Mỹ đã tính với cộng sản. Ôn lại bài học 1975 không phải để oán Mỹ, thậm chí để chống Mỹ, mà là để hiểu rõ người Mỹ hơn nữa và nếu muốn có Mỹ làm chỗ dựa để đánh bại độc tài, xây dựng dân chủ.

Sau nữa, cũng phải nói rằng chẳng có gì bắt buộc cộng sản miền Bắc phải cưỡng chiến miền Nam nếu họ thực tâm muốn dân chủ hóa đất nước. Hiệp định Paris 1973 đã trù liệu một giải pháp lập lại hòa bình mở đường cho dân chủ với những bảo đảm quốc tế chưa từng thấy. Sử liệu cũng như tình hình chính trị thực tế trên 30 năm qua đã chứng tỏ rằng Hà Nội đã không quan tâm gì tới dân chủ đích thực mà chỉ nuôi ý đồ thôn tính miền Nam để thực hiện giấc mộng tiểu bá quyền bằng chuyên chính trong vùng Đông Dương cũ. Đó là lý do nòng cốt của biến cố 1975 chôn vùi chế độ chính trị dân chủ non trẻ ở miền Nam. Ghi nhớ biến cố ấy không phải để ôm ấp thù hận mà để quyết tâm đưa dân chủ thay thế độc tài.

Bài học thứ hai là bài học về tương lai. Cuộc xung đột với độc tài miền Bắc năm 1975 đã chấm dứt với ưu thế tuyệt đối nghiêng về phía Hà Nội. Chế độ VNCH vì vậy đã tiêu vong. Cũng là điều tất nhiên nếu cứ mỗi năm khi nhắc tới biến cố 30/04/1975 thì người ta lại nói miền Nam là nước bại trận. Nhưng lịch sử ngày càng cho thấy rõ là thế bại trận này đang có cơ chuyển thành thế thắng. Cứu cánh chính trị của cuộc xung đột võ trang được gọi là “chống Mỹ cứu nước” nay đã phơi bày thực chất của nó đó là cả một mưu kế đoạt quyền, cướp của phục vụ cho tham vọng đảng tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Xương máu, tiền bạc, của cải đồng bào đã đổ ra không phải để giải phóng cho dân tộc mà để cho những lãnh tụ cộng sản tự phong lên ngôi vua tập thể. Trước hiện tình đất nước, chuyển bại thành thắng là điều khả thi. Thắng hay bại là do con người tự tạo ra cho mình. Biến cố 30/04/1975 không phải là một bản án chiến bại chung thân đối với nhân dân miền Nam Việt Nam cũng như đối với tât cả những người dân chủ trong cả nước. Chế độ độc tài sẽ phải bị thay thế nếu tất cả những người dân chủ nhất tề đứng lên bắt tay vào chuyện thay thế đó. Tương lai trước mắt của Việt Nam đang và sẽ là Dân Chủ đích thực chứ không phải là độc tại giả dạng dân chủ.   

Bên cạnh câu hỏi chánh về “Bài học 30/4/75” chúng tôi còn có một câu hỏi khác dành cho LS Trần Thanh Hiệp:

Luật sư là một thành viên của Phái đoàn VNCH tham dự Hòa đàm Paris . Xin Luật sư vui lòng cho biết ý kiến của Luật sư về Hiệp định Paris.

TTH. : Mỗi khi nhắc tới Hiệp định Paris 1973 tôi đều thấy không được thoải mái. Tuyệt đại đa số thành viên của Phái đoàn đều là luật gia. Khởi đầu hai thế hệ luật gia chúng tôi rất tin tưởng vào hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc trù liệu một giải pháp lập lại cho đất nước một trật tự dân chủ, hòa bình có bảo đảm quốc tế vững chắc. Nhưng một thời gian sau, chúng tôi đã nhận thấy được rằng việc này không tùy thuộc vào kiến thức chuyên môn cũng như lương tâm của chúng tôi, những phiên họp hàng tuần ở Trung tâm Kléber chỉ là những màn kịch làm phông cảnh trang trí cho một cuộc sắp xếp bí mật ở bên trong giữa Mỹ và Hà Nội. Cho nên anh em chúng tôi, những người đã khuất cũng như những người còn sống đều không hay nói, không muốn nói về Hiệp định Paris.

Trong tâm trạng đó, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh trên mấy điểm:

Thứ nhất, Hiệp định Paris không hề phản ánh những thương thuyết tại phòng hòa đàm ở Trung Tâm Kléber, Paris. Nó là con đẻ của Kissinger và Hà Nội.

Thứ hai, tuy về mặt chính trị đã có nhiều điều khuất tất tôi không bàn tới ở đây vả lại cũng còn chưa được đưa đủ ra ánh sáng, nhưng về mặt pháp lý thì đó là một văn bản có một nội dung nghiêm túc. Nó đã bày tỏ sự tôn trọng những quyền cơ bản của một dân tộc, đặc biệt nó còn minh thị công nhận cho nhân dân miền Nam Việt Nam có quyền tự quyết và đảm bảo cho nhân dân miền Nam được hành sử quyền này một cách dân chủ. Để ôn hòa chấm dứt xung đột, một thủ tục hòa giải giữa các bên đã tham gia chiến tranh đã được trù liệu và một cơ cấu tập hợp đủ các bên này sẽ đứng ra áp dụng thủ tục ấy. Sau hết, hơn mười quốc gia trong đó có đủ 5 thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An đã ký vào một Định Ước Quốc Tế để bảo đảm cho việc thi hành Hiệp Định Paris được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh.

Như vậy, nếu các bên hữu quan muốn tìm một gỉai pháp vừa chính trị vừa pháp lý để chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam thì phải nói khó kiếm được một văn bản nào lý tưởng hơn Hiệp định Paris 1973. Nhưng các thế lực chính trị và nhất là CSVN đã chỉ muốn áp đặt giải pháp chuyên chính của mình, Vì vậy, sau cùng Hiệp định Paris 1973 vẫn còn đó nhưng không hơn gì một mảnh giấy lộn.

Lời cám ơn của Việt Luận

Sau bài trả lời của LS Trần Thanh Hiệp, chúng tôi xin chấm dứt loạt bài “Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ biến cố 30/4/1075”.

Chúng tôi xin thành thật cám ơn LM Nguyễn Hữu Lễ, các ông Stephen Young, Phan Văn Song, Vũ Ngọc Tấn, Hồ Văn Kỳ Thoại, Nguyễn Gia Kiểng, Bùi Tín, Nguyễn Huy Hùng, Vũ Quốc Thúc và Trần Thanh Hiệp. Hai cụ Trần Thanh Hiệp và Vũ Quốc Thúc mặc dầu đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn sẵn sàng nhận ngay lời mời đóng góp, Việt Luận xin ghi nhận tất cả những tấm lòng của quý vị và chúng tôi nghĩ rằng những kinh nghiệm và kiến thức của quý vị trình bày trong cuộc phỏng vấn này sẽ hữu ích cho độc giả của Việt Luận và sẽ là một tài liệu cần thiết cho những nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam sau nay.

(DT)

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: