Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 4, 2008

Luật sư biện hộ gửi kháng thư và đơn yêu cầu giám đốc thẩm bản án của hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân

Filed under: Luật pháp, Tự do Dân chủ, Công lý — tudo @ 1:09 pm

LTS .- Luật sư Lê Công Định, một trong ba luật sư biện hộ cho hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị công Nhân, vừa gửi cho Tòa án Tối Cao CSVN văn thư phản bác về việc ông khiếu nại sự vi phạm thủ tục và luật lệ xét xử tại tòa án của viên chức tòa án CSVN nhưng lại được trả lời một chuyện khác hẳn. Đồng thời ông cũng gửi đơn yêu cầu giám đốc thẩm cho bản án phúc thẩm của hai luật sư Đài và Nhân ngày 27-11-2007 mà ông cho là đã vi phạm nghiêm tọng luật lệ tố tụng và cả hiến pháp CSVN.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

___________________

Kính gửi:

Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Trích yếu:

Đề nghị hủy bỏ Văn bản số 286/TA-HS ngày 8/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao và xem xét lại hành vi tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong vụ án Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân.

Kính thưa ông Chánh án,

Tôi là luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân trong vụ án hình sự “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã được xét xử phúc thẩm theo Bản án phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 27/11/2007. 

Ngày 8/4/2008, chúng tôi nhận được Văn bản số 286/TA-HS do Phó Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao Trần Quốc Tú ký tên thừa ủy quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, trong đó nêu rằng “không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự phúc thẩm nêu trên” mà quý Tòa cho rằng chúng tôi đã đề nghị trong Đơn khiếu nại ngày 7/12/2007.

Thật ra, trong Đơn Khiếu Nại ngày 7/12/2007 gửi đến ông Chánh án, chúng tôi tuyệt nhiên không viết bất kỳ câu, đoạn, dòng hay từ nào có nội dung đề nghị xem xét lại bản án hình sự phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 7/12/2007 theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong Đơn Khiếu Nại nói trên, chúng tôi chỉ khiếu nại hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, cụ thể không triệu tập nhân chứng, không xem xét tài liệu mới và cản trở luật sư tranh luận. Khiếu nại của chúng tôi căn cứ vào quy định tại Chương 35 của Bộ Luật tố tụng hình sự, chứ không phải Chương 30 về xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.

Chúng tôi rất bất ngờ khi nhận được văn bản trả lời của ông Trần Quốc Tú bác khiếu nại của chúng tôi vì cho rằng chúng tôi đã đề nghị xem xét lại bản án hình sự phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 27/11/2007 theo thủ tục giám đốc thẩm.  Chúng tôi nhận định rằng quý Tòa, thông qua ông Trần Quốc Tú, đã nhầm lẫn nghiêm trọng khi giải quyết Đơn Khiếu Nại ngày 7/12/2007, theo đó điều chúng tôi yêu cầu xem xét thì không trả lời, trong khi điều chúng tôi chưa yêu cầu thì đã vội vã bác bỏ. Lý do nào lại có sự nhầm lẫn như vậy?

Do đó, bằng văn bản này, chúng tôi đề nghị ông Chánh án xem xét những việc sau đây:

1. Hủy bỏ Văn bản số 286/TA-HS ngày 8/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao do ông Trần Quốc Tú ký tên thừa ủy quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; và

2. Xem xét và giải quyết nội dung nêu trong Đơn Khiếu Nại ngày 7/12/2007 của chúng tôi trên co sở luật pháp Việt Nam hiện hành.

Chúng tôi rất mong nhận sự quan tâm của ông Chánh án.  Xin chân thành cảm on và trân trọng kính chào.

Ngày 28 tháng 5 năm 2008

Đại diện các Luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân

Kính đơn,

Luật sư Lê Công Định

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU GIÁM ĐỐC THẨM

Kính gửi:

Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Trích yếu:

Xem xét lại và Kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2007/HSST ngày 11/5/2007 và Bản án hình sự phúc thẩm ngày 27/11/2007 trong vụ án “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghia Việt Nam” theo thủ tục giám đốc thẩm.

Kính thưa ông Chánh án,

Tôi, đồng ký tên dưới đây, là Lê Công Định, đại diện các luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân trong vụ án hình sự “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghia Việt Nam” đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm theo hai Bản án nêu trên. 

A. Tóm tắt hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm

Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2007/HSST ngày 11/5/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên xử hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tội “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên cơ sở áp dụng Điểm a và c Khoản 1 của Điều 88 Bộ luật hình sự, theo đó xử phạt:

Luật sư Nguyễn Văn Đài, năm (5) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế bốn (4) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; và

Luật sư Lê Thị Công Nhân, bốn (4) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế ba (3) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Tòa so thẩm còn tuyên tịch thu một số tài sản cá nhân của các hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.

Bản án hình sự phúc thẩm số 1037/2007/HSPT ngày 27/11/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tuyên xử hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tội “tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên cơ sở áp dụng Điểm a và c Khoản 1 của Điều 88 Bộ luật hình sự, theo đó xử phạt:

Luật sư Nguyễn Văn Đài, bốn (4) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế bốn (4) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; và

Luật sư Lê Thị Công Nhân, ba (3) năm tù, tính từ ngày 6/3/2007, và quản chế ba (3) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

B. Thỉnh cầu

Bằng văn thư này, chúng tôi đề nghị Ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại và kháng nghị hai Bản án sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm, bởi những lý do nhu sau:

1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện, không đầy đủ;

2. Kết luận trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; và

3. Thủ tục tố tụng vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến việc điều tra, truy tố và xét xử.

Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm được tuyên trên cơ sở các chứng cứ như sau: (a) tài liệu thu thập tại Văn phòng luật sư Thiên Ân và nhà riêng của hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, và (b) việc tổ chức những buổi thảo luận tại Văn phòng luật sư Thiên Ân.

Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đã nhận định nội dung các chứng cứ nêu trên là “chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nội dung các chứng cứ mà Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã nêu được liệt kê như sau:

(a) Hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bôi nhọ Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản và nhà nước;

(b) Xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc duới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

(c) Xuyên tạc tình hình thực tế tại Việt Nam;

(d) Tiếp xúc và trao đổi thông tin về dân chủ và nhân quyền;

(e) Ủng hộ đa nguyên, đa đảng, kêu gọi thay thế Đảng Cộng sản;

(f) Tham gia và ủng hộ tích cực các tổ chức hoạt động bất hợp pháp, bao gồm “Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam”, “Khối 8406”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”, “Hội dân oan” và “Công đoàn độc lập”; và

(g) Có ý thức muốn thành lập một số tổ chức, đảng phái chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam.

C. Nhận định về chứng cứ và nhân chứng

1. Các chứng cứ nêu tại Bản án sơ thẩm và phúc thẩm không xác định được hành vi phạm tội dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm như quy định tại Điều 88 của Bộ luật hình sự.

2. Vì chứng cứ không rõ ràng nên lập luận của Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm chủ yếu dựa trên sự sưy đoán và áp đặt, nhưng lại là sưy đoán theo hướng có tội.  Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam và nền tảng của tất cả luật hình sự trên thế giới, theo đó nếu phải sử dụng chứng cứ gián tiếp nhằm sưy đoán hành vi thì chỉ có thể là sưy đoán theo hướng vô tội.

3. Ngày 19/11/2007 các luật sư biện hộ đã gửi đơn thỉnh cầu triệu tập mười bảy (17) nhân chứng dự phiên tòa phúc thẩm, nhưng Tòa thông báo chỉ gửi giấy triệu tập chín (9) nhân chứng, và thực tế chỉ năm (5) nhân chứng dự phiên tòa sơ và phúc thẩm. Lưu ý, 17 nhân chứng mà các luật sư biện hộ thỉnh cầu triệu tập bao gồm:

(1) Phạm Sỹ Nguyên (vắng mặt)

(2) Nguyễn Xuân Đệ (vắng mặt)

(3) Trần Thanh (có mặt)

(4) Nguyễn Thị Hương Lan (vắng mặt)

(5) Trần Văn Hòa (vắng mặt)

(6) Đồng Thị Giang (có mặt)

(7) Khổng Văn Thành (có mặt)

(8) Nguyễn Bá Trực (có mặt)

(9) Giáp Văn Hiếu (có mặt)

(10) Nguyễn Thanh Giang (vắng mặt)

(11) Dương Thu Hương (vắng mặt)

(12) Vũ Quốc Dụng (vắng mặt)

(13) Nguyễn Đinh Thắng (vắng mặt)

(14) Trần Ngọc Thành (vắng mặt)

(15) Nguyễn Văn Lý (vắng mặt)

(16) Đỗ Nam Hải (vắng mặt)

(17) Hoàng Minh Chính (vắng mặt)

Đối với những nhân chứng không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, các luật sư biện hộ không thể trực tiếp lắng nghe lời khai của họ để đánh giá các chứng cứ khác.

Do vậy chúng tôi đã đề nghị Hội đồng xét xử không được sử dụng các tài liệu mà họ là tác giả hoặc các công việc mà họ làm như những chứng cứ để buộc tội hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, theo nguyên tắc, không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do nhân chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao mình biết được tình tiết đó, theo Điều 67 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; nếu không thì phải hoãn phiên tòa để ra quyết định dẫn giải người làm chứng khi họ vắng mặt theo Điều 192 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. 

Tuy nhiên bản án phúc thẩm vẫn được tuyên bất chấp những kiến nghị này của các Luật sư biện hộ.

D. Kết luận và đề nghị

Thưa ông Chánh án, vì những lý lẽ nêu trên, chúng tôi với tư cách là luật sư biện hộ cho hai đồng nghiệp của tôi là Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, kết luận rằng không một điều luật hiện hành nào của Việt Nam tạo ra hoặc hội đủ cơ sở pháp lý để kết tội và kết án họ. Họ vô tội một cách đương nhiên.

Do vậy, tôi đề nghị ông Chánh án với quyền hạn của mình xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án mà không chỉ giới hạn trong bản đề nghị này:

1. Đưa ra quyết định kháng nghị Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật nêu trên, theo thẩm quyền được trao tại Điều 275 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, theo hướng như sau:

(a) Hủy toàn bộ Bản án so thẩm và Bản án phúc thẩm;

(b) Đình chỉ vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm theo Điều 88 của Bộ Luật Hình sự; và

(c) Đề nghị cấp giám đốc thẩm tuyên trả tự do cho hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, đồng thời trả lại tài sản của họ.

2. Đưa ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án hình sự phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật nêu trên cho đến khi có kết quả giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, theo thẩm quyền được trao tại Điều 276 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự.

Rất mong sự xem xét và kháng nghị của ông Chánh án trong thời gian sớm nhất.

Trong truờng hợp ông Chánh án không ra quyết định kháng nghị thì trong văn bản trả lời cho chúng tôi đề nghị giải quyết thỏa đáng những kiến nghị nêu trên của chúng tôi.

Ngày 28 tháng 5 năm 2008

Đại diện các Luật sư biện hộ cho Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân

Kính đơn,

Luật sư Lê Công Định

ĐƠN KIẾN NGHỊ

v/v: mở phiên toà giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn Đài

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT

Chồng tôi bị kết án oan vì các toà sơ thẩm vào ngày 11/05/2007 và toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không có đủ cơ sở lý luận để kết tội chồng tôi tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Các phiên toà đã vi phạm nghiêm trọng các thủ tục tố tụng khiến cho việc xử án thiếu công bằng.

@@@@@@

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

ĐƠN KIẾN NGHỊ

v/v: mở phiên toà giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn Đài

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT

Kính gửi:        – Ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao

– Ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tôi là: Vũ Minh Khánh, sinh năm 1974.

Nơi thường trú: P302, Z8, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Chồng tôi là luật sư Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1969, bị bắt ngày 06/03/2007, đã qua 2 phiên toà xét xử cấp sơ thẩm và phúc thẩm với lời buộc tội theo điều 88 BLHS là  “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN VN”. Chồng tôi bị tuyên án 4 năm tù giam và 4 năm quản chế sau thời gian bị tù. Hiện nay chồng tôi đang bị giam giữ tại trại giam Nam Hà.

Chồng tôi bị kết án oan vì các toà sơ thẩm vào ngày 11/05/2007 và toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không có đủ cơ sở lý luận để kết tội chồng tôi tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Các phiên toà đã vi phạm nghiêm trọng các thủ tục tố tụng khiến cho việc xử án thiếu công bằng.

1) Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật Hình sự

Như tôi trình bày trong bài bênh vực cho chồng tôi mang tựa đề “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội”được tôi đã gửi đến các cơ quan thẩm quyền nhà nước trước phiên toà phúc thẩm hồi giữa tháng 11/2007, những lý lẽ mà toà sơ thẩm dùng để buộc tội chồng tôi đã không đủ vững. Đối với cá nhân chồng tôi, phiên toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không xem xét đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể của hành vi phạm tội khi kết tội chồng tôi theo điểm a, c khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự. Cách kết tội gộp chung cho “các bị cáo” rất tai hại khi các bị cáo không có hành vi giống nhau. Toà phúc thẩm đã không giải quyết được những vấn đề quan trọng sau đây:

a)      Chồng tôi có hoạt động nhằm mục đích chống Nhà nước XHCNVN không?

Như thế nào là chống? Chồng tôi đã hoạt động chống cơ quan nhà nước hiến định nào? Giống như toà sơ thẩm, mặc dù không đưa ra được chứng cứ nhưng toà phúc thẩm vẫn tiếp tục kết luận sai lầm rằng chồng tôi “tẩy chay cuộc bầu cử đại biểu quốc hội năm 2007 và trực tiếp chống lại Nhà nước ta tổ chức bầu cử theo quy định của Hiến pháp”. Trên thực tế, ai cũng biết chồng tôi là người công khai tuyên bố không tẩy chay bầu cử và còn khuyến khích công dân ra ứng cử độc lập nữa. Tương tự, lời buộc tội chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ, đòi xóa bỏ vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt nam” (BAPT, tr. 6) để cho rằng như thế là vi phạm hiến pháp đã là những suy diễn hoàn toàn chủ quan và không có cơ sở vật chứng vững chắc. Cần khẳng định rằng toà phúc thẩm đã không nêu ra được bất cứ tương quan nào giữa những điều chồng tôi viết trong 2 bài “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” với cáo buộc vừa nêu.

b)      Chồng tôi có “tuyên truyền xuyên tạc”, có “làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước” không?

Trong phiên xử phúc thẩm toà đã không cho tranh luận về khái niệm tuyên truyền. Toà đã không chịu xét rằng một hành vi phải có một số đặc điểm về nội dung, hình thức, qui mô và ảnh hưởng nhất định nào đó thì mới được gọi là tuyên truyền. Toà đã không đưa ra được chứng cứ cụ thể cho lời cáo buộc rằng “nội dung mà các bị cáo tuyên truyền tại lớp học, nội dung các bị cáo trả lời phỏng vấn về vấn đề dân chủ, nhân quyền… đều là các vấn đề đã bị bóp méo, bôi nhọ, xuyên tạc, không đúng với thực tế tại Việt Nam” (BAPT, tr. 6).  Thế nào là dân chủ, nhân quyền? Dùng tiêu chuẩn nào để đánh giá thực tế? Nội dung nào bị xem là không đúng với thực tế Việt nam? Nói chuyện về dân chủ và nhân quyền có phạm tội không? Đã không cho tranh luận về những chứng cứ thì không thể xác định được rằng thực tế Việt Nam đã có bị bóp méo, xuyên tạc hay bôi nhọ hay không và nếu có, thì ở mức độ nào. Việc áp dụng luật hình sự ở đây đã hoàn toàn bị sai lệch.

2) Kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT đã tiếp tục chấp nhận những sơ xuất nghiêm trọng của công an điều tra mặc dù tôi đã phê bình điều này trong bài bênh vực cho chồng tôi (tài liệu đã dẫn). Những kết luận điều tra cẩu thả được thấy ghi trong phần “Nhận thấy” của bản án phúc thẩm đã tạo cảm tưởng sai lầm về hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngoài ra bản án phúc thẩm cũng ghi sai cả những diễn biến xảy ra tại phiên toà.

a)      Sai sự thật một cách vô lý

Như tôi đã trình bày trước đây, vào sáng ngày 03/02/2007, luật sư Lê Thị Công Nhân mới chỉ tiếp xúc chào hỏi 3 sinh viên được 5 phút thì công an đã ập vào bắt. Tất cả các nhân chứng đều xác nhận việc này. Bất cứ người nào có chút đầu óc suy luận cũng nhận ra rằng thời gian 5 phút không đủ để luật sư Công Nhân làm công việc “tuyên truyền xuyên tạc chủ trương chính sách cùa Nhà nước” như cáo trạng và các bản án đã ghi một cách sai lầm. Cả tài liệu “Nhân phẩm, nền tảng của nhân quyền” bắt được hôm ấy cũng không có có tính chất “tuyên truyền xuyên tạc”.

b)      Sai với thực tế khách quan

Bản án phúc thẩm viết rằng: “các nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân là: Phạm Văn Trội, Phạm Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ, Trần Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan cũng khai nhận Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Ở đoạn này bản án phúc thẩm đã phạm sai sót hơn bản án sơ thẩm nữa. Trước hết ông Phạm Văn Trội không phải là nhân viên của chồng tôi, và 4 nhân viên nói trên đã làm việc trong 2 cơ sở khác nhau chứ không phải đều làm trong văn phòng luật sư của chồng tôi.


Nghiêm trọng hơn nữa bản án phúc thẩm đã thay đổi chứng cứ.  Nếu bản án sơ thẩm chỉ mới ghi lại ý kiến chủ quan của cơ quan an ninh (“cơ quan an ninh điều tra xác định … Trội và 4 nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân … do bị Nguyễn Văn Đài … tuyên truyền lôi kéo nên đã tham gia vào cáo hoạt động tuyền truyền xuyên tạc…” , BAST, tr. 3) thì bản án phúc thẩm đã biến ý kiến này thành lời khai của nhân chứng. Ở đây, bản án phúc thẩm đã bịa đặt ra việc 5 người nói trên cáo buộc chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng”, và cường điệu rằng họ đã khai nhận rằng chồng tôi “thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Luật sư của chúng tôi đã có lời khai của ông Trội và các nhân viên của chồng tôi. Những người này đồng loạt khai rằng họ không có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống Nhà nước và do đó cũng không bị ai lôi kéo cả.

c)      Sai với lời khai bị cáo ở toà

Nhiều lời khai được ghi trong bản án phúc thẩm hoàn toàn sai sự thực vì đã ghi lại không đúng lời khai của nhân chứng tại phiên xử phúc thẩm.

Tại toà chồng tôi chỉ thừa nhận viết duy nhất 2 bài là “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” là 2 bài mà toà không chứng minh được tính chất vi phạm luật pháp Việt nam.

Việc bản án phúc thẩm ghi rằng chồng tôi “thừa nhận đã tự soạn thảo một số tài liệu trong số tài liệu bị thu giữ”(BAPT, tr. 5) là không chính xác. Đáng lẽ phải ghi là chỉ có 2 tài liệu đó mà thôi.

Tại toà, chồng tôi có thừa nhận đã đọc MỘT tài liệu tên “Vu cáo là nghề cộng sản” chứ không hề thừa nhận có đọc các tài liệu nào khác hoặc có hành vi “phát tán và tuyên truyền nhiều tài liệu và thông tin nêu trên” như được ghi trong bản án phúc thẩm (BAPT, tr. 5).

Tương tự, chồng tôi chỉ thừa nhận trả lời phỏng vấn của 3 đài BBC, VOA và RFA chứ không hề “thừa nhận trả lời trực tuyền với các tổ chức phản động” (BAPT, tr. 5).
Tại toà, cô Lê Thị Công Nhân không hề khai là “hoạt động dưới sự chỉ đạo, ủng hộ tích cực của Nguyễn Văn Đài” như trong bản án phúc thẩm đã ghi ở trang 5.

Tại toà, cô Trần Thanh khai rằng cô làm việc cho công ty Việt Luật trong giờ hành chính với công việc chính là trực văn phòng và tư vấn khách hàng và không biết cũng như không tham gia lớp học nào cả. Luật sư Bùi Quang Nghiêm đã nhấn mạnh đến điều này trong bài bào chữa của ông. Vậy mà bản án phúc thẩm vẫn ghi rằng cô Thanh là nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và chính cô đã khai nhận rằng chồng tôi có hành vi tuyên truyền xuyên tạc chính quyền và thậm chí còn lôi kéo cô vào các hành động này nữa.


Những sai sót như vậy được tìm thấy rất nhiều trong bản án phúc thẩm và tạo nên một ấn tượng hoàn toàn sai lạc về các hành vi của chồng tôi.

3) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Tôi không nhắc lại những vi phạm nghiêm trọng xảy ra trong thời gian điều tra, truy tố và trong phiên xử sơ thẩm như tôi đã ghi trong tài liệu đính kèm. Ở đây tôi chỉ trình bày những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong phiên xử phúc thẩm.

a)      Không mời đủ nhân chứng và cản trở nhân chứng

Luật sư của chồng tôi có đề nghị toà mời tổng cộng 17 nhân chứng, trong đó có những người bị cáo buộc nhiều lần trong bản án sơ thẩm như các ông Trần Văn Hoà, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Đình Thắng, Trần Ngọc Thành, Nguyễn Văn Lý. Nhưng tại phiên toà chỉ có mặt khoảng 1/3 các nhân chứng. Toà không cho biết lý do tại sao Toà không mời những người còn lại. Một số nhân chứng cho chúng tôi biết rằng họ đã bị đe doạ nên sợ không dám đến toà nữa.

Một nhân chứng quan trọng là ông Phạm Văn Trội đã bị công an bắt giữ ngay khi ông vừa đến cổng toà án tối cao Hà Nội vào sáng ngày xử phúc thẩm 27/11/2007. Đây là hành vi vi phạm pháp luật của công an. Ông Trội đã bị bắt về đồn công an phường Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Trên đường đi và tại trụ sở công an, ông đã bị công an hành hung dã man. Sau 3 tiếng câu lưu, ông Trội bị đưa về quản chế tại địa phương cư trú. Ông Trội cho biết trong những ngày trước đó công an tỉnh Hà Tây đã liên tiếp đến nhà đe doạ để ông bỏ ý định đi lên Hà Nội làm nhân chứng. Ở đây rõ ràng công an đã ngăn trở một nhân chứng có giấy mời của toà án. Nghiêm trọng hơn nữa, trong phiên xử, thẩm phán chủ toạ Nguyễn Minh Mắn đã có hành vi ứng xử không thích hợp. Khi luật sư Lê Công Định xin đọc đơn tố cáo của nhân chứng Trội, thẩm phán Mắn đã không cho đọc với lý do là toà đã có nhận được đơn của nhân chứng Phạm Văn Trội xin vắng mặt với cam kết là lời khai tại cơ quan an ninh điều tra là đúng. Điều này mâu thuẫn với lời báo cáo của thư ký toà án Nguyễn Hải Bằng vào ngay 5 phút trước đó rằng „Ông Phạm Văn Trội vắng mặt không lý do“. Ông Trội là một nhân chứng vô cùng quan trọng vì ông là người chứng kiến từ đầu những giao tiếp của chồng tôi với các sinh viên Hà Nam và có thể đối chứng với họ ngõ hầu tìm ra sự thật trước toà.

b)      Không xem xét đầy đủ những chứng cứ và tài liệu mới

Một trong những tài liệu mới được các luật sư đệ nạp vào hồ sơ vụ án là bài viết “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội” trong đó tôi đã thu thập rất nhiều chứng cứ để chứng minh sự vô tội của chồng tôi. Như đã nêu trên, việc bản án phúc thẩm tiếp tục sử dụng những kết luận sai lầm của bản án Sơ Thẩm cho thấy toà phúc thẩm đã không xem xét chứng cứ mới này theo qui định tại điểm 2, Điều 246 BLTTHS.

Chồng tôi là một luật sư có ý thức nên đã có hành động dựa trên pháp luật hiện hành. Cũng như các luật sư, tôi cho rằng Toà phúc thẩm phải xử chồng tôi chiếu theo tất cả những luật pháp hiện hành ở Việt nam, chứ không thể chỉ xử chồng tôi riêng theo bộ luật hình sự được. Tôi cho rằng rằng bên cạnh Điều 88 của Bộ luật Hình sự, toà cần phải xem xét đến những điều luật quốc tế và Việt Nam sau đây:

·        Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà  Việt nam đã gia nhập vào năm 1982, cụ thể là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận được  hướng dẫn thêm bởi văn bản mang số CCPR/C/21/Rev. 1 (19.05.1989) của Uỷ ban Nhân quyền LHQ (Human Rights Committee);

·        Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước Quốc tế (2005), cụ thể là Điều 6 của luật này qui định về việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp luật Việt nam mâu thuẫn với điều ước quốc tế mà Việt nam gia nhập;

·        Luật Luật sư (2006), cụ thể là Điều 3 của luật này về chức năng xã hội của luật sư là “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


Đây là những chứng cứ hoàn toàn mới vì chưa được sử dụng trong phiên xử Sơ thẩm và đã được các luật sư nộp bổ sung vào hồ sơ phúc thẩm. Tuy nhiên toà phúc thẩm đã không cho luật sư trình bày về những điều luật này. Các thẩm phán Nguyễn Minh Mắn và Cù Đình Thắng đã nhiều lần ngăn cản không cho luật sư của chồng tôi nói về các điều ước quốc tế và thẩm phán Thắng đã tuyên bố rằng toà chỉ xét hành vi bị cáo theo luật hình sự Việt nam mà thôi. Toà đã không xem xét đến các chứng cứ mới vì cuối cùng bản án phúc thẩm cũng không đề cập đến chúng.

4) Điều tra và xét hỏi phiến diện 

Như tôi đã trình bày ở phần 1 và 2 ở trên, các cơ quan công an và viện kiểm sát đã dựa trên những điều tra cẩu thả để đưa ra những kết luận hàm hồ. Trong bài bênh vực cho chồng, tôi đã ghi ra những sai phạm điều tra này. Theo dõi phiên xử phúc thẩm, tôi có cảm tưởng rằng bản án đã được định sẵn và việc cho phép tranh luận chỉ mang tính hình thức. Có những lúc công tố viên đã lấn quyền chủ toạ để giành quyền điều khiển phiên xử hoặc để ngăn cản luật sư xét hỏi nhân chứng.

Tất cả luật sư của chồng tôi đã bị các thẩm phán cản trở phát biểu. Khi đọc bản luận cứ, cá nhân luật sư Đặng Trọng Dũng đã bị các thẩm phán cắt lời tổng cộng 15 lần. Nhiều lần luật sư Dũng đã không thể trình bày hết một ý của bài luận cứ khiến cho ý tưởng bào chữa không còn mạch lạc nữa. Đặc biệt một nhóm cử toạ đông đảo đã la ó ồn ào để uy hiếp tinh thần của luật sư – có lúc còn la ó đòi đuổi luật sư ra ngoài – mà thẩm phán chủ toạ không có hành động nào để can thiệp.

Một vụ án với nhiều tình tiết phức tạp mà toà phúc thẩm chỉ cho tranh luận trong hơn 30 phút nên không thể tránh khỏi các kết luận sai lầm. Toà và các công tố viên đã không cho luật sư tranh luận về từng nội dung. Kiểm sát viên đã không trả lời những câu hỏi cụ thể của luật sư mà không bị chủ toạ nhắc nhở. Việc chồng tôi yêu cầu toà cho tranh luận về bài “Quyền tự do thành lập đảng” để xem nội dung nào mang tính chống lại nhà nước XHCNVN đã không được toà đáp ứng. Tóm lại chồng tôi và các luật sư đã không thể tranh luận với công tố viên để tìm ra rằng chồng tôi (chủ thể) đã có hành vi phạm tội cụ thể nào (mặt khách quan của tội phạm), với động cơ nào (mặt chủ quan) để chống nhà nước Việt nam (khách thể) trong tương quan với quyền dân sự chiếu theo Hiến pháp 1992, điều ước quốc tế và các luật khác của Việt nam.

Vào ngày 07/12/2007 ba luật sư Lê Công Định, Đặng Trọng Dũng và Bùi Quang Nghiêm đã gửi đơn khiếu nại về những vi phạm luật pháp trong phiên xử phúc thẩm đến Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao. Tuy nhiên đến nay các luật sư cho biết rằng họ chưa nhận được bất cứ sự trả lời nào của toà án nhân dân tối cao.

Bởi các lẽ trên, theo điều 273 BLTTHS thì những sai phạm nghiêm trọng trên thừa đủ căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

ĐIỀU 273: Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

Bản án hoặc quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:

a.      Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;

b.      Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

c.       Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;

d.      Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.

Xin lưu ý rằng chỉ cần sai phạm 1 trong 4 yếu tố trên là đủ căn cứ để kháng nghị Giám đốc thẩm. NHƯNG vụ án của chồng tôi bị sai phạm cả 4 yếu tố trong điều luật này là điều tra và xét hỏi phiến diện; kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật Hình sự.

VÌ VẬY, theo điều 274 BLTTHS, bằng đơn thư này, tôi kiến nghị tới ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao và ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp chồng tôi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Với tính chất sai phạm nghiêm trọng nêu trên nên chồng tôi đã bị kết án oan và đã bị giam hơn 14 tháng , cho nên tôi kiến nghị phải mở phiên toà giám đốc thẩm thật sớm và  đồng thời, tôi cũng đề nghị Toà giám đốc thẩm ghi rõ trong bản án những chứng cứ và lý luận cụ thể đối với trường hợp của chồng tôi để tránh những kết tội mơ hồ như đã xảy ra trong những lần xử trước.

Trân trọng cảm ơn.

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2008.

Vợ luật sư Nguyễn Văn Đài

Vũ Minh Khánh.

Đính kèm: “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội” (bài bênh vực cho chồng nhân phiên xử phúc thẩm)


———— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ———

Socialist Republic of Vietnam

Independence – Freedom – Happiness

PETITION LETTER

To

– Chief Justice, Supreme People’s Court

– Procurator-General, Supreme People’s Procuracy

Re. Petitioning to the Court of Cassation for a Cassation of Nguyen Van Dai’s Case

(Appellate sentence, No. 1037/2007/HSPT)

My name is Vu Minh Khanh, born 1974; my permanent home residence is P302, Z8, Bach Khoa, Hai Ba Trung, Hanoi. My husband is lawyer Nguyen Van Dai, born 1969, arrested March 6, 2007, and has been tried by the Court of First Instance and the Court of Appeal for the charges of

“spreading propaganda against the Socialist Republic of Vietnam” (Article 88, Criminal Code). He was sentenced to 4 years of imprisonment to be followed by four years of house arrest. He is currently held at the Nam Ha prison.

He has been unjustly sentenced because both the preliminary trial of May 11, 2007 and the appel-late trial of November 27, 2007 failed to present conclusive evidences that support the charges of

“spreading propaganda against the Socialist Republic of Vietnam”. The fact that both courts gravely violated the Code of Criminal Procedure has resulted in such unjust decisions.

1) Grave mistakes in the application of the Criminal Code

As argued in my plea titled “My husband is a patriot. My husband is innocent” that had been submitted to various levels of authority prior to the appellate trial in mid November 2007, the reasons the Court of First Instance cited for my husband’s sentence were groundless. As far as the sentencing of my husband is concerned, the appellate trial of November 27, 2007 did not consider such factors as the subject and object, as well as the subjectivity and objectivity of criminal acts, according to Paragraphs 1.a and 1.c of Article 88, Criminal Code. The wholesale sentencing of defendants was unjustly detrimental whereas they did not commit the same acts. The Court of Appeal has failed to make a satisfactory resolution of the following matters:

a) Has my husband acted with the intent of being opposed to the Socialist Republic of Viet-nam?

What defines “opposition” ? Which constitutional institutions did he act in opposition to? The Court of Appeal has reached the same erroneous judgments as the Court of First Instance did, that my husband

“boycotted the National Assembly Election of 2007 and is directly opposed to the State that is charged with holding elections as stipulated by the Constitution. ” In actu-ality, it is widely known that my husband publicly advocated not to boycott the elections and encouraged the running of independent candidates. By the same token, the accusations that my husband has “spread propaganda, distortions and slanders aimed at removing the Com-

munist Party of Vietnam from the role of leading the State and society,”

(Appellate Sentence, p. 6) and has, therefore, acted in violation of the Constitution, are merely subjective and groundless speculations. It’s worth emphasizing that the Court of Appeal could not link these accusations with any of my husband’s assertions in his two articles titled “The Right to Form Political Parties” and “Vietnamese People Are Able to Build a Multi-Party System.”

b) Has my husband “spread propaganda and distortions of the truth” and “produced, illegally stored, and circulated anti-State materials”?

During the appellate trial no defense was allowed to discuss the concepts of “propaganda” . The Court of Appeal did not consider the characteristics of a criminal act that constitute a “propaganda, ” e.g. the content and form, as well as the scope and impact. The Court failed to present concrete evidences that support its charges that

“the information that the defendants provided in the [democracy and human rights] course, and the statements they made during their interviews on democracy and human rights are slanders, smears, misinformations and distortions of the realities in Vietnam.” (Appellate Sentence, p. 6). But what is democracy and human rights? What standards are to apply in the evaluation of the realities? Does it con-stitute a criminal act by simply discussing democracy and human rights? Unless a debate was allowed in respect of admissible evidences no assertion could be made whether or not the re-alities in Vietnam were slandered, misinformed, and distorted. If they were, to what extent were they? The application of criminal procedures has been totally skewed.

2) The appellate sentence is not consistent with the objectivity of circumstances

The appellate sentence, No. 1037/2007/HSPT nevertheless accepts the Investigative Police’s se-rious mistakes which I took issue with, as a matter-of-fact, in my above-referenced plea.

The discoveries of their investigation, inserted in the “Observations” section of the appellate sen-tence have created a wrong impression of the defendants’ acts. In addition, the sentence has in-correctly recorded the proceedings of the trial.

a

) Illogical account of the truth

As I have presented before, on the morning of February 3, 2007 as soon as attorney Le Thi Cong Nhan greeted three of her students, roughly for five minutes, the police raided my hus-band’s law office. All the witnesses confirmed this very fact. Anyone with common sense must realize that it’s impossible for her, within five minutes, to

“spread propaganda that dis-torts State positions and policies,” recorded as such in the Indictment and the resultant Sen-tences. Even the document titled “Human Dignity: A Foundation for Human Rights,” confis-cated during the raid, is not at all “slanderous propaganda”.

b) Wrong account of the facts

The appellate sentence states:

“the staffers of the Thien An Law Office, including Pham Van Troi, Pham Sy Nguyen, Nguyen Xuan De, Tran Thanh, Nguyen Thi Huong Lan, all testified that both Nguyen Van Dai and Le Thi Cong Nhan not only spread propaganda, distortions, and slanders against the government, but also incited them to spread slanderous anti-State propaganda.” (Appellate Sentence, p. 3). This paragraph contains a much more serious mis-take, compared with the preliminary sentence, in that Mr. Pham Van Troi is not my husband’s staff and that the above-mentioned four witnesses worked in two different offices –not all in

my husband’s law office.

More seriously,

the appellate sentence has doctored admissible evidences. Whereas the preliminary sentence has gone as far as recording the subjective opinions of investigative agencies (“Troi and four other staffers of the Thien An Law Office were determined by inves-tigative agencies to be instigated by Nguyen Van Dai to engage in slanderous anti-State propaganda activities … ” (Preliminary Sentence, p. 3) the appellate sentence obviously con-verted these admissions into testimonies. The appellate sentence even includes fabrications that the above-referenced five witnesses had accused my husband of committing “acts of propaganda, misinformation and slander” with a pitch that my husband “had incited them to engage in anti-State propaganda activities.” (Appellate Sentence, p. 3). My husband’s de-fense lawyers have secured the statements from Mr. Troi and my husband’s staffers, who have unanimously declared that they were not engaged in slanderous anti-State propaganda nor they were instigated by anyone.

c) Contradictions with defendants’ statements at the trial

Many statements recorded in the appellate sentence are entirely contrary to the truth as it in-correctly records the declarations of the witnesses during the appellate trial. Before the Court of Appeal my husband admitted to penning only two articles titled “The Right to Form Politi-cal Parties” and “Vietnamese People Are Able to Build a Multi-Party System” –these two documents being proven not in violation of Vietnamese laws before the court. The recorded paragraph that my husband has

“admitted to authoring a number of articles among confis-cated materials” (Appellate Sentence, p. 5) is absolutely inaccurate. Only these two articles should have been recorded.

Before the court my husband admitted to having read only ONE document titled “Slandering Is Communists’ Occupation”. Also, he did not admit to reading other documents or commit-ting the act of “

disseminating propaganda and above-cited materials,” as indicated in the ap-pellate sentence (Appellate Sentence, p.5).

In the same manner, he confirmed his interviews with the three radio broadcasting stations BBC, VOA and RFA, but he had never

“admitted to responding online to reactionary or-ganizations” (Appellate Sentence, p. 5) .

Before the court of law Ms. Le Thi Cong Nhan did not state that she

“acted under the guid-ance and with the active support of Nguyen Van Dai,” as recorded on page 5 of the appellate sentence.

Also, before the court Ms. Tran Thanh testified that she worked regular office hours at the Viet Luat Company as an on-duty office assistant and consultant and that she did not know of nor participate in any courses. Defense lawyer Bui Quang Nghiem emphasized this point in his defense whereas in the appellate sentence Ms. Thanh is recorded to be the Thien An Law Office staff and to have confirmed my husband’s acts of spreading slanderous anti-State propaganda, as well as inciting her to engage in these propaganda activities.

Such errors exist in many sections of the appellate sentence, creating an absolutely false por-trayal of my husband’s behaviors.

3) Serious violations of criminal procedures

I am not repeating the serious violations that took place during the police investigation and the prosecution, as well as the preliminary court trial that I have already referred to in the attached plea. I will only present serious violations of the Code of Criminal Procedure during the Court of Appeal trial.

a)

Lack of witnesses and obstruction of witnesses

My husband’s lawyers suggested that the Court of Appeal summon a total of 17 witnesses, among whom there were the people who had been accused many times in the preliminary sentence such as Tran Van Hoa, Vu Quoc Dung, Nguyen Dinh Thang, Tran Ngoc Thanh, and Nguyen Van Ly. Only one third of the suggested witness list was summoned to testify. The court gave no reasons as to why the remaining list was not called forth. Some witnesses on the suggested list informed us that they dared not, having been intimidated, go to the court.

One important witness, Mr. Pham Van Troi, was arrested by the police immediately after he arrived at the gate of the Hanoi Supreme People’s Court for the appellate trial in the morning of November 27, 2007. This was a violation of the law on the part of the police. Mr. Troi was taken to the police station of Tran Hung Dao ward, Hanoi, and both on the way to and at the police station, he was brutally beaten up. After a 3-hour detention he was brought back to his residence and placed under local administrative supervision. Mr. Troi reported that prior to the appellate trial the Ha Tay province police had repeatedly visited his residence, threatening him out of his plan to go to Hanoi to serve as a witness. Obviously, the police obstructed a court-summoned witness. More seriously, judge Nguyen Minh Man did not act appropriately while presiding over the trial. He did not allow defense lawyer Le Cong Dinh to read witness Troi’s charge. [Troi filed a charge against the police’s harassment intended to prevent him from testifying before the Court of Appeal.] Judge Man claimed that the court had already re-ceived Troi’s request for absence with the assurances that his declarations with the investiga-tive police were still holding true. This clearly contradicted with the fact that just five minutes earlier court clerk Nguyen Hai Bang had reported that Mr. Troi was a “No Show”. As an ex-tremely important witness, Mr. Troi is the one who has witnessed, from start to finish, the re-lationships between my husband and college students from Ha Nam, and will be able to con-front, if need be, the students in search of the truth before the court of law.

b) Lack of consideration of evidences and new documents

One of the new documents my husband’s defense lawyers submitted to his dossier is my plea titled “My husband is a patriot. My husband is innocent,” in which I have presented many evidences to support my husband’s innocence. As mentioned above, the fact that the appellate sentence retains wrong decisions of the preliminary sentence shows the Court of Appeal dis-regarded the responsibility to examine new evidences, as provided for in Paragraph 2, Article 246, Code of Criminal Procedure.

My husband is a judicious lawyer who acts only on the basis of current laws. I share the views of my husband’s lawyers that the Court of Appeal should have applied all current laws, not just the Criminal Code, with respect to the trial of my husband’s case. It is my belief that in addition to Article 88 of the Criminal Code, the court should have applied the following Vietnamese and international laws:

• The International Covenant on Civil and Political Rights that Vietnam accessed in 1982, specifically Article 19 regarding the right to freedom of speech, which is further

interpreted in the General Comments of the United Nations Human Rights Committee, No. CCPR/C/21/Rev 1, issued May 19, 1989.

• The 2005 Law on the Signing, Accession, and Implementation of International Trea-ties, specifically Article 6 stipulating the precedence of international treaties over Vietnamese laws in the event of the latter contradicting with Vietnam-accessed inter-national treaties.

• The 2006 Law on Lawyers, specifically Article 3 regulating that the lawyer’s social responsibilities are to

“contribute to the protection of justice and development of eco-nomic issues, as well as to build a just, advanced, and democratic society.”

The above are totally new evidences as they were not provided at the preliminary court trial but later submitted as supplementary evidences by my husband’s defense lawyers to the Court of Appeal. During the appellate trial, both Judges Nguyen Minh Man and Cu Dinh Thang re-peatedly prohibited my husband’s defense lawyers from arguing the merits of international treaties. Judge Thang even declared that defendants’ acts would be judged guilty according to Vietnam’s Criminal Code only. No reference was made in the appellate to these new evi-dences and documents.

4) Shallow inquiries and interrogations

As discussed in Parts 1 and 2 above, the police and the People’s Procuracy have reached ambigu-ous judgments based on their sloppy investigations. My plea has pointed to these investigative mistakes. Judging from the developments of the appellate trial, I had an impression that my hus-band’s appellate sentence had been predetermined and that allowed debates were simply a for-mality. Many times, the prosecutor overrode the presiding judge when directing the course of the trial or preventing defense lawyers from questioning the witnesses.

The judges obstructed all my husband’s lawyers from defending his case. Lawyer Dang Trong Dung was interrupted for a total of 15 times while reading his defense. Many times, his argu-ments sounded fragmentary as he was not allowed to finish his points of defense. Most noticea-bly, a rowdy audience was allowed to intimidate the defending lawyers, even shouting for kick-ing them out, in which the presiding judge showed no interest to intervene.

The Court of Appeal allowed only over 30 minutes to argue for such a complicated case, thus making unavoidably erroneous judgments. The presiding judge and the prosecutor did not let the lawyers argue for the contents of the case while the presiding judge did not caution the procurator to respond directly to the lawyers’ questions. During the trial my husband appealed, to no avail, for an argument over his article titled “The Right to Form Political Parties” to determine which part of the article is of anti-State content. In brief, considering the civil rights provided for under the [Vietnamese] Constitution of 1992 and Vietnamese laws, as well as international treaties. My husband and his lawyers were not able to argue with the prosecutor for whether or not my hus-band (the subject) has committed a specific act (the objectivity of criminal acts), for a specific motive (the subjectivity) , against the State (the object),

On December 7, 2007, defense lawyers Le Cong Dinh, Dang Trong Dung and Bui Quang Nghiem submitted an appeal to the Chief Justice of the Supreme People’s Court with regard to violations of the law during the Court of Appeal trial, but they have yet received any responses.

For the above reasons, as well as according to Article 273, Code of Criminal Procedure, these grave violations are solid grounds for me to lodge a protest according to cassation procedures.

ARTICLE 273

: Grounds for lodging a protest according to cassation procedures:

Legally valid judgments or decisions shall be protested according to cassation procedures if one of the following grounds exists:

a Inquiries and interrogations at the court trial are shallow or insufficient.

b Court judgments or decisions are not consistent with the objectivity of circum-        stances.

c Grave violations of criminal procedures are committed during the investiga-tion, persecution, and trial.

d Grave mistakes are made in the application of the Criminal Code.

It’s worth noting that only ONE of the four grounds is required for cassation whereas all FOUR grounds of this article are violated in my husband’s case. They are: shallow inquiries and interro-gations; inconsistency of court decisions with the objectivity of circumstances; grave violations of criminal procedures; grave mistakes in the application of the Criminal Code.

It is, THEREFORE, by virtue of Article 274, Code of Criminal Procedure, that I am petitioning to the Chief Justice of the Supreme People’s Court and the Procurator-General of the Supreme People’s Procuracy for a protest according to cassation procedures. Considering the above grave violations,

my husband has been unjustly sentenced. In view of the fact that my husband has been imprisoned for more than 14 months, I hereby petition to the Court of Cassation for a speedy review of my husband’s case. I also suggest that the Court of Cassation record in my hus-band’s sentences specific evidences and arguments to avoid ambiguous decisions that had been reached at previous trials.

Respectfully yours,

Hanoi, May 12, 2008

Wife of Lawyer Nguyen Van Dai

Vũ Minh Khánh

Attachment: “My husband is a patriot. My husband is innocent” (My plea submitted to the Court of Appeal)
(ĐT)

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: