Diễn đàn Paltalk TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam

June 5, 2008

Sóng Gió Á Châu

Filed under: Chính trị, xã hội, Kinh tế — tudo @ 5:41 am

 

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long, RFA
2008-06-04

Trong khi nhóm tư vấn các nhà viện trợ cho Việt Nam đang họp hội nghị giữa năm tại Sapa ở miền Bắc thì hàng loạt tin xấu cho kinh tế Á châu đã được loan truyền, trong đó có nhiều tin đáng gây quan ngại cho Việt Nam.

 Liệu một cuộc khủng hoảng kinh tế Á châu có thể khởi sự từ Việt Nam như một đồng đôminô đầu tiên bị lật hay không? Diễn đàn Kinh tế s ẽ tìm hiểu vấn đề này qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hiện tình kinh tế

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong tuần này, nhóm tư vấn các nhà tài trợ có hội nghị giữa kỳ tại Hà Nội hầu kiểm điểm về việc thực hiện viện trợ cho Việt Nam. Người ta chú ý thấy là những phát biểu đầu tiên của các giới chức hữu trách có nội dung tương đối lạc quan hơn sự thẩm định của các tập đoàn đầu tư hay lượng giá trái phiếu mà thị trường đã được biết vào tuần trước. Câu hỏi đầu tiên là có thể nào giải thích được sự khác biệt đó không, và tình hình kinh tế Việt Nam có thật sự đen tối như vậy không?

Nguyễn Xuân Nghĩa:  Hàng năm vào giữa tháng 12 thì các nhà cấp viện, gồm các nước và các tổ chức quốc tế, thường có hội nghị quyết định về ngân khoản và mục tiêu viện trợ. Vào dịp này, Ngân hàng Thế giới công bố một báo cáo thường niên của mình về quốc gia được cấp viện.

Qua tháng Sáu, các công chức ngoại giao và viên chức kinh tế lại họp hội nghị lần nữa – thường là ở một trung tâm du lịch thoải mái – để rà soát lại việc tiếp nhận viện trợ, và cũng nhân dịp này nhắc lại một số khuyến cáo chung chung đã được nêu lên từ sáu tháng trước. Đây là thủ tục đã quá quen thuộc và không còn gây hứng khởi cho dư luận ở trong nước. Đó là về bối cảnh. Lý do vì sao lại có sự khác biệt trong cách lượng định thì có nhiều lắm, không biết là ta có nên nói hết hay chăng.

Việt Long: Xin ông cứ tự nhiên trình bày cho rõ vì thính giả cần biết là các thầy thuốc quốc tế chẩn đoán tình hình sức khoẻ của kinh tế Việt Nam ra sao để còn liệu bề mà nghe, mà tính.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thứ nhất, các tổ chức viện trợ quốc tế thường là bộ máy thư lại khổng lồ và có quán tính nặng. Những lượng định của họ xuất phát từ các dự kiện của quá khứ, sớm lắm là sáu tháng trước. Cho nên tình hình kinh tế Việt Nam cho năm 2008 mà họ dự báo tại hội nghị tài trợ triệu tập cuối năm 2007 thật ra là bức tranh đã lỗi thời của sáu tháng hay cả năm trước.

Thứ hai, đa số viên chức trong sứ quán ngoại quốc liên hệ đến viện trợ kinh tế cho Việt Nam cũng lệ thuộc nhiều vào các báo cáo quốc tế đã lỗi thời đó. Thứ ba, các chuyên gia quốc tế hay nhà ngoại giao của quốc gia cấp viện đều phải duy trì tinh thần hữu nghị với quốc gia thụ hưởng nên lời phê phán của họ đều có bọc đường cho dễ nuốt. Báo chí tại Việt Nam chỉ được phép nói đến lớp đường ấy, nên dân chúng không rõ là quốc tế đang khuyến cáo chính quyền như thế nào.

Sau cùng, đây là chuyện tế nhị mà cũng quan trọng, ta có nạn “cha chung không ai khóc”. Các viên chức quốc tế phụ trách về viện trợ được trả lương rất cao trong một nhiệm kỳ nhất định để cấp phát tiền viện trợ vốn không phải là của họ. Họ chẳng cần chặt chẽ kiểm soát việc sử dụng hoặc nêu ra phán đoán nghiêm khắc mà mất hòa khí trong khi đang phục vụ tại chỗ.

Thí dụ nổi bật là ít ai nhắc đến nạn tham nhũng tại Việt Nam hay vụ tai tiếng của cơ quan quản lý PMU-18 mà ai ai trong nước cũng nghe nói tới. Vì vậy, không nên ngạc nhiên vì sao bức tranh của các nhà cấp viện thường có nhiều màu hồng hơn hẳn thực tế đen tối ở tại chỗ.

Hỏi: Ông có quan điểm dường như hơi khe khắt chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta cứ đọc lại báo cáo của Ngân hàng Thế giới về kinh tế Đông Á hay Việt Nam được họ công bố hồi cuối năm ngoái và so sánh với những gì đang xảy ra thì biết. Thí dụ là Ngân hàng Thế giới còn dự báo là kinh tế Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng hơn 8% vào năm nay trong khi Việt Nam đã điều chỉnh lại chỉ tiêu tăng trưởng là 7% mà chưa biết có nổi hay không.

Cuối năm ngoái, ta đã thấy nạn lạm phát xuất hiện tại châu Á, giá thương phẩm, kể cả lương thực, đã tăng vọt trên thế giới hoặc thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu tuột đáy. Những vấn đề ấy không được các báo cáo này quan tâm đúng mức với những lời tiên báo cần thiết cho Hà Nội. Ta cũng không quên rằng mới tháng Tám vừa qua mà thôi, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick còn hết lời ngợi ca thành tích xoá đói giảm nghèo của Việt Nam.

Cũng thế, 10 năm về trước, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF ca tụng phép lạ kinh tế Đông Á chỉ có năm tháng trước khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ tại Thái vào tháng Bảy rồi lây lan khắp Đông Á. Khi biến động đã lan rộng, IMF mới yêu cầu Indonesia áp dụng giải pháp kinh điển là bỏ trợ giá năng lượng khiến xăng dầu tăng giá đột ngột và động loạn xảy ra, chính quyền Suharto bị lật đổ trong một vụ khủng hoảng chính trị. Loại trường hợp chẩn đoán chậm lụt và kê toa tai hại như vậy của các công chức quốc tế đã gây tranh luận khá nhiều nhưng không là mục tiêu tìm hiểu của chương trình kỳ này.

Nguy cơ khủng hoảng

Việt Long: Trong khi ấy, sự thẩm định của các tập đoàn đầu tư như Morgan Stanley, hay các công ty lượng giá như Standard & Poor’s hay Fitch lại có vẻ bi quan hơn, nhưng liệu có chính xác hơn chăng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Là nhà đầu tư hoặc công ty kinh doanh thông tin thị trường, các cơ sở ấy phải chịu trách nhiệm và khá sớm về giá trị thẩm định của họ. Nếu thẩm định sai là mất khách, mất tiền hoặc mất việc, theo quy luật ta gọi là “của đau con xót”. Và vì là tư doanh, họ phải nhặm lẹ theo dõi tình hình cập nhật hơn, cho nên sự phán đoán của họ tất nhiên đi sát hơn với các biến động của thị trường.

Một thí dụ là tuần qua, Tổng quản trị Kennedy Thompson của ngân hàng Wachovia tại Hoa Kỳ vừa bị mất chức. Trước đó, hai chủ tịch ngân hàng đầu tư lớn tại Mỹ cũng mất việc vì cơ sở bị mất vốn trong vụ khủng hoảng tín dụng gia cư. Ta cũng không quên là Standard & Poor’s vừa đánh sụt giá ba tổ hợp đầu tư lớn nhất của Mỹ là Merrill Lynch, Morgan Stanley và Lehman Brothers, và cũng điều chỉnh dự đoán về kinh doanh của hai ngân hàng Bank of America và JP Mogan Chase theo hướng tiêu cực hơn. Thông tin ấy khiến thị trường cổ phiếu Mỹ tuột giá mạnh ngày thứ Hai và làm suy yếu thị trường chứng khoán Âu châu rồi Á châu trong ngày thứ Ba.

Cho nên, sự phán xét của thị trường thường cập nhật và tàn khốc hơn là của các tổ chức quốc tế vốn dĩ cũng chỉ quy tụ các công chức có nếp sinh hoạt thư lại, chậm lụt. Đây là vì sao có sự khác biệt giữa tư doanh và công chức trong cách lượng giá hay chẩn bệnh cùng một đối tượng.

Việt Long: Bây giờ, chúng ta bước qua câu hỏi chính là liệu Á châu có thể bị khủng hoảng hay không? Khi theo dõi tin tức thị trường châu Á, ông thấy ra những gì là đáng chú ý vì có thể tiên báo một cuộc khủng hoảng như nhiều công ty đầu tư đã dự đoán vào tuần trước?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Có một hồi chuông cảnh báo từ Á châu là hôm Thứ Ba 27 vừa qua, các ngân hàng trung ương của Nam Hàn, Đài Loan, Indonesia và Philippines đã đồng loạt bán ra Mỹ kim để nâng giá đồng bạc của họ. Mục tiêu của biện pháp là để ngăn chặn lạm phát dù biện pháp ấy có gây hệ quả là khiến hàng xuất khẩu của họ trở thành đắt giá hơn.

Trong chương trình kỳ trước, khi nói đến nạn lạm phátnhập siêu của Việt Nam, chúng ta cũng đã đề cập đến việc điều chỉnh ưu tiên, rằng then chốt là ngừa lạm phát hơn là cố xuất khẩu. Các vụ đình công biểu tình đang lan rộng trong nước là dấu hiệu của nạn tức nước vỡ bờ khi chiến lược xuất khẩu tối đa bằng cách ép lương ép giá cho rẻ đã hết công hiệu trong bối cảnh Mỹ kim mất giá, và thương phẩm cùng lương thực tăng giá.

Bốn nước Đông Á kể trên vốn cũng theo đuổi chiến lược xuất khẩu tối đa nay đang chuyển hướng và đó là biến cố tiên báo cho nhiều chuyển động lớn vì các nước này hết chịu đựng nổi đà tăng giá thương phẩm và phải điều chỉnh lại ưu tiên để tránh khủng hoảng.

 

Lối thoát cho Việt Nam?

Việt Long: Việc các quốc gia đó muốn nâng giá đồng bạc của họ có ảnh hưởng gì đến Việt Nam? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Biến cố ấy khiến ta chú ý đến Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, ba nước có khu vực chế biến chiếm một tỷ trọng lớn của sản xuất và bị hiệu ứng giá cả nguyên nhiên vật liệu trầm trọng hơn cả. Trong cái thế liên hợp vì đã hội nhập kinh tế và giao dịch với nhau, khi bốn xứ Đông Á kia phải can thiệp vào thị trường ngoại hối thì ba xứ này sẽ bị sức ép nặng hơn và dễ bị khủng hoảng hơn.

 

Thí dụ như Trung Quốc có thấy trước nên chậm rãi nâng giá đồng nhân dân tệ từ hai năm nay mà giờ đây còn chưa biết xoay trở ra sao trong cảnh đói ăn khát dầu mà còn phải tổ chức Thế vận hội như một đám cưới chạy tang, là điều chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong một kỳ khác.

 

Việt Nam thì vẫn muốn hạ giá đồng bạc để bán rẻ và năm ngoái lại còn chê Mỹ kim, không thèm mua vào, rồi giờ đây đang bị ba vòng xoáy cùng đẩy xuống đáy là lạm phát, nhập siêu và cả nạn bội chi ngân sách.

 

Nhìn về dài thì dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện không đủ dày để có thể can thiệp như Thái Lan đã cố làm trước khi bị tuột tay và mất toi 30 tỷ Mỹ kim vào tháng Bảy năm 1997. Vì bị nhập siêu quá nặng, cán cân chi phó hay vãng lai Việt Nam có thể hụt tới gần 8% tổng sản lượng GDP, còn cao hơn Thái Lan trước khi Thái bị khủng hoảng, nên rủi ro của Việt Nam là có thật nếu dầu thô không giảm giá trong mấy tháng tới để giải tỏa bớt một phần sức ép trên giá cả trong nước.

Việt Long: Lần trước ông có nói phải cầu Trời khấn Phật cho dầu thô giảm giá thì kinh tế Việt Nam may ra thoát nạn, vậy lại hỏi lại ông một câu hỏi cũ là theo những diễn biến tuần qua thì liệu sự cầu khấn có ứng nghịêm không, dầu có thể giảm chăng? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Ta khó dự đoán một cách chính xác vì cả hai loại yếu tố khiến giá lên hay xuống đều đang tác động.

Nếu dầu thô tiếp tục lên giá và vượt qua ngưỡng 150 một thùng, nhiều nền kinh tế sẽ bị suy trầm, thậm chí suy thoái, và số cầu về nhiên liệu cho sản xuất sẽ giảm. Khi số cầu giảm, giá dầu có thể hạ theo một tỷ lệ còn mạnh hơn sự sút giảm của số cầu như ta có thấy sau vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á 10 năm trước.

Nhưng trong giả thuyết suy trầm ấy, phải xét lại khả năng chịu đựng của Việt Nam. Và trong hoàn cảnh ấy, người ta mới chú ý đến tiền đầu tư nước ngoài và nhất là lượng kiều hối, là tiền người Việt tại hải ngoại gửi về, có thể đã lên tới 10 tỷ trong thực tế.

Đây là một nguồn tiếp trợ đáng kể để Việt Nam có thể cầm cự được trong cơn sóng gió. Chúng ta sẽ còn phải trở lại vấn đề này trong nhiều chương trình tới.

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: